Những linh kiện điện tử được xuất khẩu tới các cơ sở lắp ráp trong khu vực cho các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm điện tử hoàn chỉnh.. Nhu cầu về phụ kiện nhựa Ngành nhựa của Việt Na
Trang 1: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ
THUỘC NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ VN
******************
3.1 Dự báo nhu cầu về ngành công nghiệp phụ trợ thuộc công nghiệp điện
tử Việt Nam
3.1.1 Nhu cầu về máy nguyên chiếc
Hiện nay máy vi tính là một công cụ không thể thiếu trong công việc của mỗi người, số lượng tiêu thụ máy vi tính tại thị trường nội địa ngày một gia tăng Gần đây, nhu cầu về máy vi tính xách tay tại thị trường Việt Nam bùng nổ với sự tham gia của hầu hết các nhãn hiệu lớn trên thế giới như HP, Apple, IBM, Sony, Acer, Toshiba, Ben Q, Dell Các hãng này đã dưa vào Việt Nam một dải rộng các sản phẩm máy tính xách tay, tù các loại cấp thấp, trung bình đến các loại tiên tiến nhất như Centrino, Sonoma, Core 2 Duo với mức giá sản phẩm từ 700USD đến vài nghìn USD Do đó mà khách hàng có nhiều điều kiện
để lựa chọn theo nhu cầu và khả năng của mình
Các mặt hàng như ti vi, đầu đọc đĩa do liên doanh được với những hãng điện tử nổi tiếng trên thế giới như Sony, Toshiba, Samsung, JVC nên đã sản xuất được dư thừa so với nhu cầu của thị trường Sự ra đời của công nghệ tivi LCD và Plasma đang dần thay thế công nghệ CRT cung làm cho cầu về sản phẩm ti vi giảm
Sản phẩm điện tử sẽ mở rộng cả về số lượng và chất lượng với sản lượng
ti vi sản xuất, lắp ráp khoảng 3 triệu chiếc năm 2010, trong đó nhu cầu nội địa là 1,5 triệu Nhu cầu máy tính khoảng 2000 triệu chiếc trong đó lắp ráp trong nước chiếm khoảng 50% - 60% Trong vài năm tới nhu cầu về máy tính xách tay cũng sẽ tăng mạnh hơn nữa
Trang 23.1.2 Nhu cầu về linh kiện
Nền tảng của công nghiệp điện tử là các linh kiện bán dẫn, chúng có tỷ trọng ngày tăng trong tổng giá trị thiết bị điện tử , chiếm khoảng 50% giá trị linh kiện nói chung Nhật Bản và Mỹ là những nước đứng đầu thế giới về lĩnh vực cung cấp các sản phẩm bán dẫn
Việt Nam hiện chủ yếu nhập khẩu linh kiện rồi tổ chức lắp ráp và gia công thành phẩm hoặc bán thành phẩm Một phần cung cấp cho các nhà sản xuất trong nước và một phần để xuất khẩu Những linh kiện điện tử được xuất khẩu tới các cơ sở lắp ráp trong khu vực cho các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm điện tử hoàn chỉnh
Mục tiêu đến năm 2010 tốc độ tăng trưởng bình quân vào khoảng 20%/năm, dưới đây là nhưng con số dự báo:
Đơn vị tính: triệu USD
Bảng 3.1: Dự báo nhu cầu về linh kiện
(nguồn: Viện nghiên cứu chiến lược chính sách công nghiệp)
3.1.3 Nhu cầu về phụ kiện nhựa
Ngành nhựa của Việt Nam hiện nay có thể đáp ứng được nhu cầu sản xuất các linh kiện, phụ kiện bằng nhựa phục vụ cho sản xuất các sản phẩm điện tử, tuy nhiên chi phí để làm khuôn mẫu lại khá lớn, thường tốn gấp 2
Trang 3đến 3 lần so với chi phí làm ở nước ngoài Dự báo về nhu cầu phụ kiện nhựa như sau:
(tấn/năm)
2010 (tấn/năm)
2020 (tấn/năm)
-Điện tử gia dụng: vỏ ti
vi, điều hòa, máy giặt,
nồi cơm điện
2100 - 2500 2500 - 3000 4000 - 4200
-Điện tử tin học: vỏ máy
tính, vỏ bàn phím, chuột
máy tính, máy điện thoại,
máy in
300 - 400 1000 - 1200 2000 – 2500
-Linh kiện, phụ kiện bằng
nhựa khác
Bảng 3.2 : Dự báo nhu cầu về phụ kiện nhựa
(nguồn: Viện nghiên cứu chiến lược chính sách công nghiệp)
3.1.4 Nhu cầu về khuôn mẫu và các chi tiết sắt thép, cơ khí
Khuôn mẫu được sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm bằng nhựa cho các nhà lắp ráp, nhu cầu đối với khuôn mẫu cho việc tạo hình các sản phẩm điện tử
là khá lớn và được dự báo đến năm 2020 như sau:
Khuôn sử dụng cho đúc
các linh kiện nhựa
Trang 4Vỏ, khung sắt (tấn/năm) 1600 2000 2500
Bảng 3.3 : Dự báo nhu cầu về khuôn mẫu
(nguồn: Viện nghiên cứu chiến lược chính sách công nghiệp)
3.1.5 Nhu cầu phát triển công nghiệp phụ trợ trong thời gian tới
Với tốc độ phát triển nhanh của ngành công nghiệp điện tử thì khó có thể
dự báo được chính xác về chủng loại nguyên liệu, linh kiện hỗ trợ cần thiết, do vậy chỉ có thể dự báo được thông qua nhu cầu thực tế của các công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp sản phẩm điện
tử trong nước Các công ty này đều muốn mua nguyên liệu và phụ tùng trên thị trường nội địa với giá cả tương xứng với giá trị thực của chúng, mặt khác, các phụ tùng đặc biệt hoặc thường xuyên phải cải tiến đương nhiên phải được mua trên thị trường nội địa thay vì phải nhập khẩu Cụ thể những linh kiện, phụ kiện cần sớm được sản xuất trong nước bao gồm: phụ tùng chi tiết nhựa và kim loại, công cụ đúc, nén, xử lý nhiệt các loại nguyên liệu bao gói
3.2 Đề xuất các giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp điện tử
3.2.1 Xây dựng cơ sở dữ liệu(CSDL) công nghiệp phụ trợ
Một trong những nguyên nhân làm cho công nghiệp phụ trợ của Việt Nam không phát triển được đó là do khoảng cách về thông tin, bởi vậy thiết lập một cơ sở dữ liệu về công nghiệp phụ trợ là một giải pháp quan trọng giúp giải quyết vấn đề trên, giúp cho giao dịch giữa các nhà lắp ráp FDI và các nhà cung cấp được mở rộng, đồng thời khi có một cơ sở dữ liệu tốt sẽ giúp cho cả hai đối
Trang 5tác tiết kiệm được thời gian và chi phí giao dịch Sơ đồ 3.1 sau sẽ chỉ rõ sự tiết kiệm về mặt thời gian khi có một cơ sở dữ liệu tốt cho công nghiệp phụ trợ
Tìm kiếm ban đầu
Kiểm tra
cơ sở sx
Đánh giá mẫu Đặt hàng
lần đầu
Đặt hàng hàng loạt
Tìm kiếm ban đầu
Kiểm tra cơ
sở sx
Đánh giá mẫu
Đặt hàng lần đầu
Sơ đồ 3.1 : CSDL CNPT giúp giảm thời gian dao dịch tiếp xúc
Tạo lập được một cơ sở dữ liệu hữu ích về công nghiệp phụ trợ là một giải pháp giúp đẩy nhanh quá trình phát triển công nghiệp phụ trợ ở mỗi ngành
và mỗi địa phương Khi đó ngành công nghiệp phụ trợ của công nghiệp điện tử cũng sẽ nhận được sự chia sẻ của các ngành khác như xe máy, cơ khí Việc thiết lập cơ sở dữ liệu cần phải học tập từ các quốc gia đã có kinh nghiệm, đồng thời phải khuyến khích các công ty tích cực tham gia vào quá trình thiết kế này
Cơ sở dữ liệu không đơn giản là một danh bạ các công ty trong lĩnh vực phụ trợ
mà nó phải chính xác, đầy đủ các thông tin cần thiết, phải có sự cam kết của các doanh nghiệp đăng ký Nên thiết lập một cơ sở dữ liệu về công nghiệp phụ trợ với các tiêu chí như sơ đồ sau:
2 đến 3 năm Không có
CSDL
CNPT
Có CSDL
CNPT
Trang 6Các tiêu chí lựa chọn
nhà cung cấp
Thông tin muốn có trong CSDL CNPT
Sơ đồ 3.2 : Đảm bảo đầy đủ các thông tin trong CSDL về CNPT
(nguồn: Mori 2005)
3.2.2 Thu hút vốn đầu tư
Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là nguồn lực quan trọng nhất hiện nay để phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ điện tử qua đó phát triển công nghiệp điện tử của quốc gia
Đẩy mạnh mối liên kết giữa các công ty đa quốc gia nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước cần được ưu tiên hàng đầu Các doanh nghiệp của Việt Nam cần phải nỗ lực hết mình trong việc cải thiện năng lực để trở thành nhà cung cấp cho các nhà sản xuất FDI hoặc cho các khách hàng nước ngoài Chính phủ cũng cần có những chính sách để hỗ trợ cho những nỗ lực đó Để mất niềm
Số lao động
Độ chính xác chế tạo Thiết bị sản xuất
Các kỹ năng dặc biệt
Tự giới thiệu
Chính sách của
công ty
ISO 9000 ISO 14000
Chất lượng
Chi phí
Kinh nghiệm
Các chứng chỉ liên quan Phạm vi giao hàng
Khách hàng hiện nay
Đơn vị milimet
Năng lực sản xuất
Danh mục máy móc, tên nhà sx
Trang 7tin với các nhà đầu tư nước ngoài mặc dù vẫn đang có lợi thế cạnh tranh thì cũng không thể tránh được sự dịch chuyển của dòng vốn đầu tư sang các nước mới nổi lên trong khu vực Cần phải rút kinh nghiệm từ các nước đi trước để tiết kiệm thời gian và tập trung vào cơ chế thực hiện chính sách
Đối với một số ngành công nghiệp, nhất là các ngành đòi hỏi công nghệ
và thâm dụng vốn thì việc xem xét để nhìn nhận và lựa chọn cách thức sản xuất modul hay tích hợp cho Việt Nam là rất cần thiết Để trở thành một đối tác trong sản xuất tích hợp cần có khả năng thiết kế và vận hành nhà máy đạt hiệu quả, phải biết điều chỉnh, bảo dưỡng, sửa chữa máy móc, thiết kế linh phụ kiện, đào tạo nhân công có trình độ cao, sản xuất khuôn mẫu chính xác Điều này sẽ giúp cho nền công nghiệp trưởng thành từ nền sản xuất lắp ráp đơn giản theo đơn đặt hàng của nước ngoài thành một đối tác khó có thể thay thế trong mạng lưới sản xuất toàn cầu Nó cũng giải quyết được mối quan hệ phụ thuộc giữa các quốc gia kém phát triển với các quốc gia đi trước, sẽ không còn là mối quan hệ một chiều mà trở thành quan hệ song phương bình đẳng vì chính các quốc gia đó cũng sẽ phụ thuộc vào các quốc gia đang sản xuất tích hợp cho mình Nếu Việt Nam thực hiện được điều này thì quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản sẽ được nâng lên một tầm cao hơn
Trong số các nước ASEAN thì Thái Lan và Việt Nam được Nhật bản coi
là ứng cử viên hàng đầu cho cách thức sản xuất tích hợp này Đã đến lúc chính phủ cần đưa ra được những mục tiêu rõ ràng liên quan đến cách thức sản xuất cùng với những kế hoạch hành động thích hợp nhất là đối với một số ngành công nghiệp thâm dụng vốn và công nghệ cao mà chưa thể tự mình đứng vững Chính phủ Nhật Bản và cộng đồng khối doanh nghiệp cũng phối hợp chủ động
để hỗ trợ hợp tác kinh doanh và hỗ trợ kỹ thuật cho mục tiêu này Với việc sản xuất tích hợp thì trong thời gian đầu các doanh nghiệp trong nước có thể bị phụ thuộc vào Nhật Bản Ngược lại, với sự liên kết này thì Nhật bản cũng sẽ bị phụ thuộc vào Việt Nam Khi xây dựng quan hệ đối tác chiến lưổctng ngành chế tạo , khi cần mở rộng đầu tư sang nước khác, các nhà lắp ráp Nhật Bản cũng
Trang 8kéo theo các nhà cung cấp Việt Nam, tương tự như một số các nhà cung cấp Thái lan đã đầu tư vào Việt Nam theo như yêu cầu của các nhà lắp ráp Nhật Bản Trong thời gian tới đây có thể là mô hình sản xuất hiệu quả nhất để tiếp nhận vốn và chuyển giao công nghệ nhanh nhất từ các nước sang các doanh nghiệp Việt Nam
3.2.3 Phát huy tối đa lợi thế so sánh quốc gia
Chi phí nhân công: trong ngành công nghiệp điện tử, bên cạnh những
đòi hỏi mới thì lợi thế vốn có vẫn là nhân tố động lực để phát triển Ở Việt Nam chi phí tiền lương nhân công tương đối thấp là một điều kiện tốt để hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các ngành công nghiệp nói chung và ngành công nghiệp điện tử nói riêng, đặc biệt là những ngành sản xuất các linh kiện cồng kềnh, các sản phẩm điện tử gia dụng Giá sức lao động ở Việt Nam đang được đánh giá là chỉ bằng một nửa của Trung Quốc, tuy nhiên, trong quá trình sản xuất của công nghiệp điện tử lại đòi hỏi phải có những kỹ năng và trình độ nhất định do những tiến bộ khoa học kỹ thuật Bởi vậy cần nhanh chóng đào tạo một đội ngũ công nhân lành nghề trong lúc mà chi phí cho việc đào tạo còn thấp
để vẫn duy trì được những lợi thế về tiền lương và có thể khai thác được ngay
Thể chế chính trị: với môi trường chính trị ổn định thì Việt Nam đang có
một lợi thế cạnh tranh quan trọng cho công nghiệp điện tử so với các nước ASEAN khác vốn đang bị đe dọa bởi nhiều vấn đề bất ổn về chính trị, tôn giáo, sắc tộc Mặt khác, Việt Nam cũng là một quốc gia có độ an toàn cao cho đầu tư kinh doanh so với các nước như Indonesia, Philippin môi trường đầu tư cho ngành công nghiệp điện tử Việt Nam cũng có nhiều thuận lợi nhờ hàng loạt các biện pháp kích thích kinh tế và sự thay đổi cơ chế kiểm soát của chính phủ đã đưa ra trong thời gian gần đây
Dân số đông: xu hướng tiêu dùng các sản phẩm điện tử trong các ngành
công nghiệp và trong hộ gia đình ngày càng tăng là nhân tố quan trọng để mở
Trang 9rộng quy mô thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm điện tử Việt Nam Với mức dân số cao thứ 13 trên thế giới cộng với nền kinh tế đang thay đổi từng giờ Việt Nam sẽ là một thị trường nội địa hấp dẫn đối với ngành điện tử gia dụng Mặc
dù thu nhập bình quân đầu người còn thấp về tuyệt đối nhưng tốc độ tăng lại tương đối cao, cơ cấu tiêu dùng thay đổi nhanh chóng sẽ là các nhân tố có sức thu hút đầu tư FDI rất lớn
Vị trí đị lý: Việt Nam nằm ở khu vực Đông Á – giữa ASEAN với Trung
Quốc và Nhật Bản, Hàn Quốc, vị trí thuận lợi này cũng cần phải đươc khai thác triệt để trong công nghiệp điện tử Do thuận lợi trong việc vận chuyển các linh kiện và thiết bị từ các quốc gia khác đến nên sự phân công lao động thông thường trong công nghiệp điện tử có thể thực hiện dễ dàng, Việt Nam sẽ là địa điểm thực hiện hoạt động lắp ráp các loại linh kiện từ các quốc gia trong khu vực sau đó xuất khẩu thành phẩm sang các thị trường lân cận Mặt khác, với chi phí vận tải thấp nên các sản phẩm điện tử lắp ráp tại Việt Nam sẽ có lợi thế cạnh tranh về giá, tuy nhiên, phương thức này chỉ thích hợp với giai đoạn đầu của quá trình phát triển Nếu không biết sử dụng lợi thế về sức cạnh tranh và sức lan tỏa trong thu hút FDI thì lợi thế về chi phí thấp sẽ có tác dụng ngược lại, giữ chân Việt Nam nằm trong mắt xích thấp nhất của chuỗi giá trị toàn cầu
Trong những năm tiếp theo, Việt Nam nên khai thác những lợi thế này theo phương thức liên kết ngược lại, cần khuyến khích và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài để xây dựng các cơ sở công nghiệp phụ trợ ngay tại Việt Nam
và cung ứng cho các cơ sở lắp ráp ở các quốc gia lân cận Thông qua liên kết sản xuất các doanh nghiệp điện tử Việt Nam sẽ tiếp nhận được công nghệ mới
và những kỹ năng cần thiết để phát triển công nghiệp điện tử quốc gia ngày một lớn mạnh
3.2.4 Phát triển các ngành công nghiệp chế tạo cơ bản
Trang 10Các chuyên gia của Nhật Bàn đã nhận xét: vì muốn đi tắt đón đầu nên các nước đang phát triển thường có xu hướng bỏ qua ngành công nghiệp chế tạo cơ bản, cho đến khi đứng trước nguy cơ bị mất đi những nhà đầu tư lớn của nước ngoài thì họ mới nhận thức được tầm quan trọng của ngành này Công nghiệp của Trung Quốc hay Việt Nam hiện tại có thể thực hiện được những chi tiết đơn giản trong công nghiệp khuôn mẫu nhưng những chi tiết đòi hỏi có độ chính xác cao chỉ có thể thực hiện được ở Nhật Bản và một số ít ở Thái Lan Ngay cả những nước có trình độ phát triển cao như Hàn Quốc cũng gặp phải khó khăn trong ngành này Inđônexia và Thái Lan đã thức tỉnh được điều này và nhận biết
đó chính là ngành công nghiệp có vai trò then chốt nên đã có nhiều chính sách hợp lý và kịp thời Thái Lan đã xây dựng được một khu công nghiệp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật thuê để sản xuất khuôn mẫu và Indonexia cũng đang cố gắng mời các doanh nghiệp Nhật Bản trong các lĩnh vực này vào đầu tư
Theo điều tra của ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản – JBIC năm 2006 cho thấy: có khoảng 32% số công ty Nhật Bản coi Việt Nam là nước có tiềm năng để phát triển sản xuất và đã tỏ rõ sự quan tâm tới Việt Nam Ngành công nghiệp chế tạo của Nhật Bản xác định Việt Nam được đặt ở vị trí thứ 4 trong số các nước có tiềm năng phát triển sản xuất (sau Trung Quốc, Thái Lan và Mỹ) Nếu Việt Nam chiếm lĩnh được ưu thế ở các ngành chế tạo thì trong mọi hoàn cảnh các công ty đa quốc gia sẽ khó có thể rời khỏi Việt Nam
3.2.5 Đảm bảo nguồn nhân lực
Do có dân số đông nên lực lượng lao động rất lớnnhưng đa số người lao động của Việt Nam chưa được đào tạo về tác phong, kỹ năng và kỉ luật lao động công nghiệp Đối với ngành công nghiệp điện tử luôn đòi hỏi lao động được đào tạo ở trình độ cao bởi vậy cần sớm hình thành các giải pháp đào tạo nguồn nhân lực cho ngành này như: