Là nhà thơ dân tộc Tày thuộc thế hệ thứ ba, trong hành trình gần 20 nămsáng tác từ năm 2003 đến nay, Dương Khâu Luông đã từng bước khẳng địnhđược vị trí của mình ở lĩnh vực thơ Tày nói r
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn khoa học: “Thơ viết bằng tiếng Tày của Dương Khâu Luông” dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Dương Thu Hằng là kết
quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trungthực và chưa được công bố trong bất cứ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2020
Tác giả luận văn
Nông Thị Thiềm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tôi xin chân thành cảm ơnPGS.TS Dương Thu Hằng, người đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tôivới những chỉ dẫn khoa học quý báu trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn “Thơ viết bằng tiếng Tày của Dương Khâu Luông”.
Tôi xin chân thành cảm ơn khoa Ngữ văn, Khoa Sau đại học Trường Đạihọc Sư phạm Thái Nguyên, nhà thơ Dương Khâu Luông đã tạo điều kiện vàgiúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã độngviên, giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện luận văn
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2020
Tác giả luận văn
Nông Thị Thiềm
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Bố cục của luận văn 9
NỘI DUNG 10
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NGÔN NGỮ TÀY, THƠ VIẾT BẰNG TIẾNG TÀY VÀ NHÀ THƠ DƯƠNG KHÂU LUÔNG 10
1.1 Khái quát về ngôn ngữ Tày 10
1.2 Khái quát về thơ viết bằng tiếng Tày 14
1.3 Dương Khâu Luông - Nhà thơ Tày Bắc Kạn 17
1.3.1 Tiểu sử 17
1.3.2 Sự nghiệp sáng tác 18
Tiểu kết chương 1 20
Chương 2: NHỮNG MẠCH NGUỒN CẢM HỨNG MANG ĐẬM BẢN SẮC VĂN HÓA TÀY 22
2.1 Cảm hứng yêu mến, tự hào về thiên nhiên, danh lam thắng cảnh của quê hương 22
2.1.1 Thiên nhiên mang đậm dấu ấn vùng miền 22
Trang 62.1.2 Thiên nhiên gắn bó với cuộc sống của người Tày 32
2.2 Cảm hứng trân trọng tâm hồn, tình cảm của người Tày 35
2.2.1 Con người thủy chung nhiều khát vọng đẹp trong tình yêu 35
2.2.2 Con người trọng tình nghĩa 39
2.2.3 Con người thẳng thắn, nhiều suy tư trước những vấn đề thời sự của xã hội hiện đại 44
2.3 Cảm hứng trân trọng, tự hào về các giá trị văn hóa truyền thống của người Tày 49
2.3.1 Tự hào về tiếng Tày 49
2.3.2 Tự hào về quê hương, làng bản 53
2.3.3 Tự hào về các phong tục tập quán 56
Tiểu kết chương 2 60
Chương 3: NHỮNG PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN BẢN SẮC VĂN HÓA TÀY 61
3.1 Ngôn ngữ 61
3.1.1 Sử dụng từ ngữ mộc mạc, giản dị 61
3.1.2 Cách diễn đạt ngắn gọn, cụ thể 65
3.2 Hình ảnh và thể thơ 69
3.2.1 Hình ảnh thơ giản dị, gần gũi với người Tày 69
3.2.2 Thể thơ mang dấu ấn văn hóa dân gian Tày 72
3.3 Giọng điệu 76
3.3.1 Giọng điệu thẳng thắn, rõ ràng 76
3.3.2 Giọng điệu chiêm nghiệm, triết lí 79
Tiểu kết chương 3 83
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài
Thơ ca các dân tộc thiểu số là một bộ phận không thể tách rời của nềnvăn học Việt Nam, góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng, giàu bản sắc củanền văn học nước nhà Hòa chung vào dòng chảy của thơ ca dân tộc thiểu số có
nguồn mạch không ngừng nghỉ của thơ ca dân tộc Tày - một “dòng riêng giữa
nguồn chung” Cùng với sự vận động của thời gian, thơ dân tộc Tày càng ngày
càng sung sức, phát triển cả về lực lượng sáng tác, số lượng và chất lượng tácphẩm, hình thành nên những phong cách và giọng điệu nghệ thuật độc đáo Ởnhiều địa phương, đặc biệt là khu vực miền núi phía Bắc, các nhà thơ dân tộcTày vẫn đang hòa nhịp cùng cuộc sống, say sưa tìm nguồn cảm hứng sáng tác.Trong nhịp sống hiện đại hôm nay, “vườn thơ” dân tộc Tày vẫn tiếp tục “ đâmchồi nảy lộc”, “đơm hoa kết trái” làm nên những hương sắc mới, diện mạo mới
Tiếp nối các nhà thơ dân tộc Tày đã “thành danh” trong nền thơ hiện đạiViệt Nam như: Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại, Triều Ân,
Ma Trường Nguyên và gần đây là Y Phương, Dương Thuấn Còn có sự gópmặt của các nhà thơ trẻ mới xuất hiện như: Đinh Thị Mai Lan, Hoàng ChiếnThắng, Dương Khâu Luông Tuy số lượng tác phẩm chưa nhiều nhưng nhữngcây bút mới này cũng đã đạt được một số thành công ban đầu, góp phần làmnên sự tươi mới và phong phú cho diện mạo của thơ Tày thời kì hiện đại
Là nhà thơ dân tộc Tày thuộc thế hệ thứ ba, trong hành trình gần 20 nămsáng tác (từ năm 2003 đến nay), Dương Khâu Luông đã từng bước khẳng địnhđược vị trí của mình ở lĩnh vực thơ Tày nói riêng và trong nền văn học địaphương Bắc Kạn nói chung Trong số các tập thơ đã xuất bản của ông có nhữngtập đạt giải thưởng cao của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số ViệtNam Thơ Dương Khâu Luông đã góp phần làm phong phú thêm đời sống tinhthần của người dân quê hương, góp phần lưu giữ những giá trị văn hóa truyền
Trang 8thống của đồng bào Tày Bắc Kạn, thúc đẩy sự phát triển của văn học địa
phương Bắc Kạn - một vùng quê giàu truyền thống văn hóa và cách mạng.
Trong những năm gần đây, tình hình nghiên cứu về thơ ca các dân tộcthiểu số ngày càng phát triển Thơ Dương Khâu Luông cũng là một đề tài đangđược khai thác, soi chiếu dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, việc tìmhiểu giá trị thơ viết bằng tiếng Tày của Dương Khâu Luông đã được bàn đếnnhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu cụ thể, có hệ thống Việc tìmhiểu, phân tích, hệ thống các giá trị trong thơ viết bằng tiếng Tày của DươngKhâu Luông là vấn đề cần thiết Điều này sẽ góp phần khẳng định những đónggóp của Dương Khâu Luông cho văn học địa phương nói riêng và cho văn họcdân tộc thiểu số nói chung Đồng thời giúp cho người đọc hiểu biết thêm về đờisống văn hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao nói chung
và dân tộc Tày nói riêng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Thơ viết bằng tiếng Tày của Dương Khâu Luông” với hi vọng giới thiệu cho đông
đảo bạn đọc biết thơ Tày của Dương Khâu Luông, góp phần giữ gìn và pháthuy những giá trị của văn học dân tộc thiểu số Đồng thời luận văn có thể trởthành một tư liệu tham khảo hữu ích phục vụ cho việc học tập, giảng dạy phầnvăn học địa phương của tỉnh Bắc Kạn thêm phong phú và thiết thực
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Những nghiên cứu về thơ Dương Khâu Luông
Theo khảo sát của chúng tôi, cho tới thời điểm hiện tại mới chỉ có trên 10bài viết nghiên cứu trực tiếp về tác giả Dương Khâu Luông, cùng một số côngtrình nghiên cứu chung về văn học dân tộc thiểu số trong đó có nhắc tới như làmột đại diện cho thơ dân tộc thiểu số ở thế hệ thứ ba của bộ phận văn học đặcbiệt này
Trong hành trình sáng tác gần 20 năm của mình, nhà thơ Dương KhâuLuông đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Các sáng tác của Dương
Trang 9Khâu Luông dù chưa được giới thiệu nhiều đến bạn đọc song các tác phẩm củaông cũng nhận được sự quan tâm của một số nhà nghiên cứu phê bình trongnước Bước đầu các bài viết đã có sự đi sâu vào khám phá nội dung, khai thác
vẻ đẹp hình thức nghệ thuật trong các tác phẩm thơ của ông
Trong một lần tham dự trại sáng tác của Hội Liên hiệp các Dân tộc thiểu
số Việt Nam năm 2001, nhà thơ Lò Ngân Sủn đã nhận xét về thơ của Dương
Khâu Luông: “Nhìn chung đang ở dạng khao khát, như hoa chớm nở, như mưa khẽ rơi, như lửa mới bén, như máng nước ngày đêm nhỏ nhẹ chảy vào chum vại nhà sàn…” tuy nhiên tiếng thơ còn “thiếu sức nặng, sức bật” (Vài nét về thơ Bắc Kạn qua trại sáng tác năm 2001) [48, tr.17] Đây là một nhận xét có
tính khách quan và chứa nhiều khích lệ với nhà thơ Dương Khâu Luông, ở thời
kì đầu khi mới bắt đầu sáng tác, thể hiện sự quan tâm của nhà thơ đến tài năngthơ trẻ như Dương Khâu Luông
Trong cuốn Nhà văn các Dân tộc thiểu số Việt Nam - Đời và văn (2003),
Hoàng Quảng Uyên cũng đã nhận xét: “Đọc thơ Dương Khâu Luông ta cảm được vị ngọt của niềm vui trong khóe mắt, vị đắng của nước mắt ở đầu môi Đó
là kết quả của sự quan sát, chắt lọc, chiêm nghiệm và cao cả hơn là sự hòa đồng của một tấm lòng trong vạn tấm lòng Đây là mặt mạnh trong thơ của Dương Khâu Luông Nói ít gợi nhiều” [66, tr.435] Nhận xét này chỉ ra “mặt
mạnh” trong sáng tác của Dương Khâu Luông, khích lệ nhà thơ tiếp tục pháthuy những ưu điểm để sáng tác
Một bài viết khác của tác giả Tạ Văn Sỹ là Dương Khâu Luông - tiếng thơ trong trẻo cũng đã nhận xét: “Cảm nhận đầu tiên và rõ nhất khi đọc tập thơ Bắt cá ở sông quê của Dương Khâu Luông là gặp một giọng thơ tự nhiên hồn nhiên đến trong trẻo, trong veo như nước suối đầu nguồn! Có phải từ cái Bản Hon cheo leo nơi đầu nguồn sông Cầu sông Năng nơi đầu nguồn hồ Ba Bể muôn đời trong xanh văn vắt của chốn quê nhà đã sinh ra và nuôi dưỡng nên hồn thơ ấy?” và có những so sánh về hai anh em nhà thơ họ Dương như sau:
Trang 10thơ của ông anh Dương Thuấn nhiều chất trăn trở lý sự bao nhiêu thì trong thơ ông em Dương Khâu Luông lại cứ “vô tư” trong trẻo bấy nhiêu!” [52].
Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, gần đây các sáng tác của DươngKhâu Luông đã bắt đầu nhận được sự chú ý của các độc giả, đặc biệt là với hai
tập thơ “Bắt cá ở sông quê”,“Gọi bò về chuồng” Hoàng Chiến Thắng khẳng định: “Với tập thơ Bắt cá ở sông quê, Dương Khâu Luông đã thật sự ghi dấu
ấn trong lòng người đọc bằng những vần thơ giàu xúc cảm mà chân chất đồng rừng Anh đã lựa chọn hướng đi về cội nguồn, về với con người miền núi, với thiên nhiên ”(Tư duy miền núi trong thơ Dương Khâu Luông - 2008) [53].
Bên cạnh đó, thơ Dương Khâu Luông còn trở thành đề tài nghiên cứutrong một số luận văn Thạc sĩ và khóa luận tốt nghiệp Đại học Tiêu biểu như
luận văn Thạc sĩ của Lý Thị Vương với đề tài Thơ Dương Khâu Luông (2013).
Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu chung, khái quát về thơ Dương Khâu
Luông với các nội dung cụ thể như: Dương Khâu Luông – nhà thơ dân tộc Tày gắn bó với quê hương Bắc Kạn; Cảm hứng chủ đạo và một số đặc điểm nghệ thuật trong thơ Dương Khâu Luông Khóa luận tốt nghiệp của Hoàng Thị Huế (Trường Đại học sư phạm – Đại học Thái Nguyên) với đề tài Bản sắc văn hóa Tày trong thơ Dương Khâu Luông Tác giả đã tập trung nghiên cứu những nét
đẹp của bản sắc văn hóa Tày trong thơ Dương Khâu Luông từ nội dung đếnnghệ thuật Năm 2018 Vũ Thị Huyền Trang thực hiện luận văn Thạc sĩ với đề
tài Thơ thiếu nhi của Dương Khâu Luông Đây là công trình nghiên cứu sâu về
mảng thơ thiếu nhi của Dương Khâu Luông góp phần khẳng định những đónggóp của nhà thơ đối với bộ phận thơ ca thiếu nhi dân tộc thiểu số nói chung vàthơ ca tỉnh Bắc Kạn nói riêng
Qua những nhận xét, những bài nghiên cứu đó, người đọc nhận thấy cáctác giả dành sự quan tâm đặc biệt đến các sáng tác của Dương Khâu Luông.Những lời động viên, khích lệ, những góp ý chân thành, thẳng thắn sẽ là “độnglực”, là định hướng để Dương Khâu Luông có những bước đi vững chắc trongtương lai
Trang 112.2 Những nghiên cứu về thơ viết bằng tiếng Tày của Dương Khâu Luông
Thơ viết bằng tiếng Tày của Dương Khâu Luông được chú ý ngay từnhững bài đầu tiên đăng báo địa phương Từ năm 2001 đến nay, có khá nhiềubài viết về thơ ông Đó không chỉ là các bài nghiên cứu, bài viết của các đồngnghiệp và độc giả miền núi mà còn có cả những cây bút nghiên cứu phê bìnhvăn học chuyên nghiệp và độc giả miền xuôi
Nhà thơ Hữu Tiến (Hội VHNT tỉnh Cao Bằng) đã có những chia sẻ khi
đọc tập thơ song ngữ Tày - Việt Phác noọng dú tin phạ quây - Gửi em ở
phương trời xa như sau: “Thơ Dương Khâu Luông không hoa mỹ trong từ ngữ, điệu đàng trong cách diễn tả, nhưng lại lôi cuốn người đọc bằng những tình cảm chân chất, mộc mạc, bằng những chân lý được rút ra từ trải nghiệm của chính mình và từ hiện thực cuộc sống đang vận động không ngừng Bởi thế ai đọc thơ Dương Khâu Luông đều dàng đồng cảm với những nhận định, những phát hiện của anh từ muôn màu sự sống hôm nay Thơ ông không rườm lời Tình cảm của ông luôn được nén chặt và giấu kín trong từng câu chữ Thưởng thức trọn bài thơ người đọc mới vỡ òa cảm xúc Với tập thơ này, Dương Khâu Luông đã thết đãi bạn đọc bằng một bữa tiệc ngôn từ mang đậm chất miền núi; giản dị nhưng sang trọng, đặc biệt là phần tiếng Tày” [ 56, tr.33].
Cùng chung cảm xúc đó trong bài viết Cảm nghĩ về một tập thơ độc đáo
(tập Phác noọng dú tin phạ quây - Gửi em ở phương trời xa), nhà thơ Đặng
Hiển đã viết: Tôi nói tập thơ “độc đáo” vì đây là tập thơ song ngữ Tày - Việt của chính tác giả, nhà thơ dân tộc Tày, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Tôi không hiểu tiếng Tày nên không thể nói gì về thể thơ, cách gieo vần, nhưng là một nhà thơ người Kinh, tôi chỉ cảm nhận được chất Tày, chất thơ qua phân tích tiếng Việt mà tôi biết rằng với Dương Khâu Luông, thày giáo dạy Văn tốt nghiệp Đại học Sư phạm, tiếng Việt cũng giỏi như tiếng Tày và thơ viết bằng tiếng Việt cũng hay như thơ viết bằng tiếng mẹ đẻ - tiếng Tày [17,tr 31].
Còn tác giả Hoàng Thị Điềm trong bài viết “Tư duy độc đáo và bản sắc
văn hóa Tày qua tập thơ song ngữ Tày Việt “Phác noọng dú tin phạ quây
Trang 12Gửi em ở phương trời xa” đã có những chia sẻ: Khi đọc tập thơ song ngữ Tày
-Việt: Phác noọng dú tin phạ quây (Gửi em ở phương trời xa) của Dương Khâu Luông tôi không khỏi ngỡ ngàng trước những lời thơ tưởng như đơn giản nhưng càng đọc tôi càng phải suy ngẫm về thái độ đặt bút của nhà thơ, thận trọng trong cách sử dụng ngôn từ và ý tứ, đa mảng đề tài, đa cảm xúc vừa trữ tình, vừa mộc mạc, vừa gần gũi thân thương Câu thơ không hề to tát về chữ nghĩa nhưng cứ thấm vào lòng người đọc Tôi yêu phong cách thơ Dương Khâu
Luông - một nhà thơ Tày nặng tình, nặng nghĩa với quê hương, với dân tộc
mình Bản sắc văn hóa bản địa có lẽ đã trỗi dậy trong lòng nhà thơ kể từ khi cầm bút Từng cái cây, ngọn cỏ, dòng suối, con sông; từng con vật thân thuộc
và cả những con đường, những kỷ niệm tuổi thơ êm đềm hay dữ dội cứ lặng lẽ hiện lên trong thơ Dương Khâu Luông”[11].
Nguyễn Đức Thiện khi đọc tập thơ song ngữ Tày -Việt “Co nghịu hưa cần - Cây gạo giúp người”(2006) có nhận xét: “Đây là tập thơ viết cho thiếu
nhi, Dương Khâu Luông đã miêu tả thế giới loài vật, cảnh vật thiên nhiên như vốn có của nó Cuộc sống bản làng bây giờ cũng hiện ra trong thơ anh thanh bình, êm ả như một bức tranh thủy mặc” Để cuối cùng ông phải thốt lên: “Thơ Dương Khâu Luông hồn nhiên như cây, như lá của núi rừng Việt Bắc”[54].
Cũng nhân đọc “Co nghịu hưa cần - Cây gạo giúp người”, Lê Thùy
Dương có nhận xét: “Nét nổi bật nhất của thơ Dương Khâu Luông là giọng điệu hồn nhiên dễ thương, dễ hiểu, có gì nói nấy, phù hợp với đối tượngmà anh
đã chọn để gửi gắm niềm yêu mến là thiếu nhi…Người lớn viết cho người lớn
đã khó, một người lớn viết cho thiếu nhi không dễ chút nào Dương Khâu Luông đã làm được điều “không dễ” đó” [9].
Tác giả Mai Trúc trong bài viết Những bài thơ ngắn và hương xa khi
nghiên cứu, tìm hiểu về tập thơ song ngữ Tày Việt (Cỏi dằng slì bjoóc mạ
-Lặng lẽ mùa hoa mạ) đã viết: “Những bài thơ Bjoóc mạ của tác giả Dương Khâu Luông là những thể nghiệm mới của thơ tiếng Tày ở nước ta đã được nhiều bạn đọc quan tâm, hưởng ứng, nhất là những người đọc quan tâm đến
Trang 13bản sắc văn hóa và thơ văn của dân tộc Tày Tập thơ ghi nhận một sự tìm tòi của tác giả trong việc đổi mới và làm phong phú thêm thêm cho thơ ca hiện nay” [62,tr.21].
Trong bài viết Tư duy miền núi trong thơ Dương Khâu Luông, tác giả Hoàng Chiến Thắng có những phát hiện: “Điều trước nay chưa một nhà thơ người dân tộc thiểu số nào làm đó chính là một tập thơ viết cho thiếu nhi bằng tiếng dân tộc, Dương Khâu Luông đã mạnh dạn lựa chọn đối tượng cho thơ mình, bằng sự trong trẻo từ tâm hồn của một người nghệ sĩ hòa trộn với tình yêu thương cùng sự khát khao trong việc nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ, anh đã hướng ngòi bút đến mảng đề tài văn học thiếu nhi mà theo như nhận định của các nhà phê bình lý luận thì đang rơi vào tình trạng “càng gỡ càng rối””[53].
Nhận xét trên cho người đọc thấy được những nỗ lực tìm tòi, sức sáng tạokhông ngơi nghỉ của nhà thơ trong sáng tạo nghệ thuật
Qua các bài viết, bài nghiên cứu chúng ta có thể hình dung được nhữngnét phác thảo về thơ viết bằng tiếng Tày của Dương Khâu Luông: Một nhà thơgắn bó với cuộc sống và con người miền núi; Một giọng thơ hồn nhiên, trongtrẻo, chiếm được nhiều thiện cảm của người đọc Tuy nhiên, những điểm đặcsắc nhất về nội dung và nghệ thuật thơ trong các sáng tác viết bằng tiếng Tàycủa ông chưa được đề cập một cách sắc nét, đầy đủ Bởi vậy, cần có một sựnghiên cứu toàn diện hơn, đi sâu vào các tác phẩm cụ thể của nhà thơ, để thấyđược bức chân dung văn học, mạch ngầm văn hóa Tày đang chảy trong từngcâu chữ của nhà thơ Từ đó, nhận rõ diện mạo thơ ông trong nền thơ Tày hiệnđại, làm cơ sở đánh giá những đóng góp của Dương Khâu Luông đối với thơ cacác dân tộc thiểu số ở miền núi
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ đặc điểm nội dung và nghệ thuật của những sáng tác thơ viếtbằng tiếng Tày của Dương Khâu Luông
Trang 14- Đánh giá được những đóng góp của nhà thơ đối với sự phát triển củathơ Tày nói riêng và thơ các dân tộc thiểu số nói chung.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan, trong đó chú ý đếnyếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến sáng tác thơ viết bằng tiếng Tày của DươngKhâu Luông: Gia đình, quê hương, quá trình học tập, sự nghiệp sáng tác
- Nghiên cứu, tìm hiểu về cảm hứng chủ đạo, giọng điệu, ngôn ngữ, thểthơ, các hình ảnh trong thơ viết bằng tiếng Tày của Dương Khâu Luông
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là những sáng tác thơ viết bằngtiếng Tày của Dương Khâu Luông, trong đó chú trọng tới đặc điểm nội dung vàđặc điểm nghệ thuật
- Co nghịu hưa cần (Cây gạo giúp người), Nxb Hội nhà văn (2008)
- Phác noọng dú tin phạ quây (Gửi em ở phương trời xa), NxbVăn hóa
dân tộc (2016)
- Cỏi dằng slì bjoóc mạ ( Lặng lẽ mùa hoa mạ), Nxb Văn hóa Dân tộc
(2017)
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện luận văn, chúng tôi vận dụng đồng bộ các phương phápnghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê: Phương pháp này được sử dụng vớimục đích thống kê các tác phẩm thơ viết bằng tiếng Tày của Dương KhâuLuông
Trang 15- Phương pháp phân tích: Đây là phương pháp đi vào tiếp cận tác phẩm ởphương diện nội dung và nghệ thuật.
Trang 16- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Phương pháp này thực hiện khi đốichiếu, so sánh giữa bản tiếng Tày với bản dịch tiếng Việt để thấy được bảndịch đã dịch sát ý chưa Từ đó có thể làm rõ hơn về nội dung và nghệ thuậtcủa tác phẩm.
- Phương pháp tổng hợp: Đây là phương pháp cơ bản giúp người viết đưa
ra được những nhận định khái quát, khoa học Sử dụng phương pháp này khi
xử lí kết quả thống kê, phân tích để đi đến những đánh giá toàn diện, tạo chiềusâu cho luận văn
Ngoài ra, luận văn của chúng tôi còn sử dụng các phương pháp nghiêncứu khác như: hệ thống, thống kê, liên ngành…
6 Đóng góp của luận văn
- Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống vềnhững đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong các sáng tác thơ viết bằng tiếngTày của Dương Khâu Luông, giúp đánh giá một cách sâu sắc, toàn diện hơn vềnhững đóng góp của nhà thơ trong nền văn học dân tộc thiểu số nói chung vàthơ Tày nói riêng
- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp thêm một tiếng nói nhằm bảotồn và phát huy giá trị thơ Tày Dương Khâu Luông tại tỉnh Bắc Kạn nói riêngtrong nền văn học dân tộc thiểu số nói chung; góp thêm một tài liệu tham khảohữu ích cho việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu về văn học các dân tộc thiểu số
và văn học địa phương
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung được
triển khai gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về ngôn ngữ Tày, thơ viết bằng tiếng Tày và nhà thơ Dương Khâu Luông.
Chương 2: Những mạch nguồn cảm hứng mang đậm bản sắc văn hóa Tày Chương 3: Những phương diện nghệ thuật thể hiện bản sắc văn hóa Tày.
Trang 17NỘI DUNG
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGÔN NGỮ TÀY, THƠ VIẾT BẰNG TIẾNG TÀY VÀ
NHÀ THƠ DƯƠNG KHÂU LUÔNG
1.1 Khái quát về ngôn ngữ Tày
Ngôn ngữ luôn là vấn đề đặc biệt quan tâm của những người sáng tác vănhọc, đặc biệt là đối với các nhà thơ, bởi ngôn ngữ là phương tiện chuyển tảiquan trọng nhất về tình cảm, tâm hồn, tư tưởng, tình cảm đến với độc giả.Không chỉ thế, ngôn ngữ còn góp phần cho việc thể hiện bản sắc của dân tộc tốtnhất
Ngôn ngữ Tày là tiếng nói của người Tày Tiếng Tày là một ngôn ngữthuộc nhóm Tày Thái, có địa bàn phân bổ từ đảo Hải Nam miền nam Hoa lục,bắc Đông Dương, Thái Lan và Đông Bắc Miến Điện Ở Việt Nam, tiếng Tày làngôn ngữ của gần hai triệu người Tày, ngoài ra còn là ngôn ngữ giao tiếp chungcủa nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống trên địa bàn Việt Bắc và Tây Bắc
Dân tộc Tày là dân tộc thiểu số đông dân nhất Việt Nam Theo kết quảđiều tra dân số năm 2009, dân tộc Tày có 1.626.329 người Địa bàn cư trú củađồng bào dân tộc Tày thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam như: CaoBằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái…và một sốtỉnh ở phía Nam như: Đắc Lắc, Lâm Đồng, Gia Lai… cũng có người Tày cưtrú, nhưng họ là cư dân mới chuyển vào trong thời gian gần đây Như vậy, cóthể nói khu vực Đông Bắc Bộ được coi là nơi sinh tụ lâu đời của người Tàytrong đó Lạng Sơn (có 259.496 người) và Cao Bằng (có 207.805 người) Đây làhai tỉnh có số người Tày cư trú đông đúc nhất
Tiếng Tày là ngôn ngữ có chữ viết cổ dựa trên cơ sở chữ Hán (chữ NômTày) Hình thái văn tự này đã để lại cho thế hệ hôm nay một kho tàng thư tịch
cổ rất đồ sộ Từ những năm đầu thế kỷ 20, nhất là những năm kháng chiến
Trang 18tinh hoá bằng cách dùng chữ quốc ngữ ghi âm tiếng Tày Năm 1961, Chính phủ
đã phê chuẩn phương án tiếng Tày - Nùng (La tinh hoá), loại chữ viết ghi âmtrên cơ sở chữ viết Quốc ngữ
Về mặt ngữ âm, hệ thống nguyên âm tiếng Tày gồm 11 nguyên âm đơn,
3 nguyên âm đôi, âm đầu chỉ do phụ âm đảm nhiệm có tất cả 20 âm đầu Về hệthống ngữ âm tiếng Tày, tiếng Tày phát âm rời theo âm tiết (tiếng) Cấu tạo âmtiết tiếng Tày gồm năm thành tố, đó là: Phụ âm đầu, âm đệm, nguyên âm, âmcuối và thanh điệu
Về thanh điệu tiếng Tày có 5 thanh điệu: thanh huyền, thanh sắc, thanhhỏi, thanh nặng, thanh lửng riêng thanh ngã là không có Từ thanh 1 đến thanh
5 nói chung đều có độ cao và tính chất gần như những thanh có tên gọi tươngứng với tiếng Việt Riêng có thanh lửng tương đối đặc biệt (thanh này là thanhthấp hơn thanh huyền, có chiều thoai thoải đi xuống), thanh lửng tồn tại ở nhiềuđịa phương tiếng Tày - Nùng có những vùng không có thanh lửng thường đượcthay thế bằng những âm tiết mang thanh hỏi và gây ra hiện tượng đồng âm Vídụ: po (bố, đực); pỏ (một nắm lúa) ở những vùng không có thanh lửng thì đềuphát âm là pỏ
Về mặt từ vựng tiếng Tày gồm hai bộ phận, đó là bộ phận từ vựng chiếm
vị trí chủ đạo được dùng nhiều trong lĩnh vực đời sống hàng ngày của đông đảo
nhân dân Ví dụ: những từ chỉ tự nhiên như tha vằn (mặt trời), đin (đá), phân (mưa)…, hay những từ chỉ thời gian, không gian như pi (năm), khuôp nưa (cả năm, đầy năm), bươn (tháng), vằn (ngày), nưa (trên), tển (ngắn), quây (xa)… đến các từ chỉ động vật mò (bò), vài (trâu), mu (lợn), ma (chó), nộc (chim), lình (khỉ)…bộ phận thứ hai là lớp từ vay mượn Tiếng Hán là một trong những ngôn
ngữ có quan hệ lâu đời nhất với tiếng Tày - Nùng, cùng với địa vực cư trú
liền kề, do những nhu cầu lịch sử xã hội, do suốt mấy trăm năm nhà nướcphong kiến chủ trương học chữ Hán để phát triển dân trí cho nên tiếng Tày
đã thu hút một số lượng lớn tiếng Hán và từ Hán -Việt Lớp từ này thường
Trang 19để diễn đạt những khái niệm trừu tượng chẳng hạn như chiềng mừa (kính thưa), sleng (sinh đẻ), xạ hội chủ ngịa (xã hội chủ nghĩa), hay các thuật ngữ: khoa
học, văn hóa, đất nước, đảng ủy…đều được vay mượn từ lớp từ Hán Việt củangôn ngữ Việt Điều đó cũng dễ hiểu bởi hai tộc người Tày và Kinh có hàngtrăm năm giao lưu văn hóa, và sự hòa hợp nhân chủng khiến tiếng Việt có ảnhhưởng ngày càng sâu sắc đến tiếng Tày Tuy nhiên sống trong một môi trường
về điều kiện, về vị trí địa lí khá đặc biệt nên ngôn ngữ tiếng Tày mang nhữngsắc thái riêng, sự giàu có riêng không thể hòa lẫn với ngôn ngữ của các dân tộckhác
Về mặt chữ viết, các nhà nghiên cứu Tày - Nùng cho thấy, giai đoạn cổđại người Tày có thể đã có chữ viết riêng của mình, nhưng cùng với thời giancùng với sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau chữ viết cổ đã bị thất truyền.Đến giai đoạn cận đại có sự xuất hiện của chữ Nôm Tày Đây là loại chữ ghi
âm tiếng Tày dựa vào Hán tự Sự ra đời của chữ Nôm Tày đã góp phần bảo lưu
và giữ gìn một kho tàng tri thức rất quan trọng của người Tày Nhờ có chữNôm mà người Tày có cả một kho tàng thư tịch Nôm phong phú về số lượng vàthể loại: ghi chép gia phả, điền sản, những bài thuốc gia truyền, lịch sử Đặcbiệt là người Tày có cả một nền văn học Nôm, sli, lượn, phong slư Và nhất làtruyện thơ Đến thời hiện đại khi chữ Nôm Tày vẫn còn phát triển thì có thêm
sự xuất hiện kiểu chữ Tày dạng La tinh Đó là năm 1961, nhà nước Việt Nam đãxây dựng hệ thống chữ viết cho dân tộc Tày trên cơ sở của chữ Quốc ngữ bằngcác con chữ của chữ cái La tinh Từ đó đến nay, kiểu chữ này được sử dụngrộng rãi trong các văn bản phát thanh, tài liệu tuyên truyền, văn học nghệthuật…
Ngôn ngữ là tiền đề cho đối tượng văn hoá phát triển Và sự phát triểncủa văn hoá tạo tiền đề trở lại cho ngôn ngữ phát triển Chính vì vậy, người Tày
đã sử dụng ngôn ngữ để ghi chép và gìn giữ những giá trị văn hoá vật chất cũngnhư văn hoá tinh thần của dân tộc mình
Trang 20ngữ, động từ, tính từ…); Về thanh điệu cũng tương đối giống tiếng Việt (tiếngTày có 5 thanh điệu, riêng thanh ngã là không có); Về chữ viết, tiếng Tày dùngcác chữ cái và cách ghép vần của chữ quốc ngữ, về cơ bản quy tắc chính tảgiống với chữ Quốc ngữ, tiếng Tày có bổ sung thêm một số âm mà chữ quốc
ngữ không có như bj, pj, mj, phj, sl.
Bên cạnh đó cũng có một số điểm khác biệt giữa tiếng Tày và tiếng Việt
mà chúng ta cần lưu ý trong quá trình học tiếng Tày, đọc và cảm nhận thơ viếtbằng tiếng Tày Tiếng Việt có thanh “ngã”, tiếng Tày không có thanh điệu này.Những từ tiếng Việt có thanh “ngã” được tiếng Tày vay mượn sẽ được phát âmthành thanh “nặng” hoặc thanh “sắc” Tiếng Tày có thanh “lửng”, tiếng Việtkhông có thanh này Về phẩm chất ngữ âm của thanh “lửng” có thể nêu mấynét cơ bản sau: Thanh có âm vực thấp, đường nét biến đổi không bằng phẳng:xuất phát điểm dưới mức trung bình, độ cao thấp dần, cực thấp ở khoảng giữa,sau đó cao độ nâng dần và kết thúc ở dưới mức trung bình Đây là thanh điệu
có đặc trưng biến đổi âm vực nằm ở khoảng trung gian giữa thanh hỏi và thanhhuyền Cho nên những người quen nói tiếng Việt khi nói hoặc học tiếng Tàythường tri nhận và thể hiện thanh lửng thành thanh hỏi hoặc thanh huyền Một
số chữ cái mà tiếng Kinh ít dùng thì tiếng Tày lại hay dùng như f (fầy, fạ…); j(phja Boóc, pja, phjắc…)…hoặc một số chữ cái đi liền nhau tạo thành âm tiếtkép như oo (boóc, loỏng, noọng…); oô (lồng toồng); âư (nâư, tẩư…) thì ngônngữ Tày lại hay dùng một cách phổ biến
Tiếng Tày tuy là một ngôn ngữ tương đối phát triển nhưng hiện nay vẫntồn tại nhiều phương ngữ khác nhau Đầu những năm 70 của thế kỷ 20, tổ ngônngữ của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã chủ trì đề tài nghiên cứu xác địnhvùng chuẩn của tiếng Tày - Nùng Kết quả nghiên cứu này đã chỉ ra một khuvực tiếng Tày - Nùng có tính chất phổ biến nhất được coi là vùng chuẩn củatiếng Tày - Nùng gồm các vùng: Bảo Lạc, Na Hang, Chiêm hoá, Vị Xuyên,Bắc Quang, Bắc Mê còn giữ được nhiều nguyên bản Hệ thống ngữ âm tiếng
Trang 21Tày - Nùng tồn tại ở địa bàn trong vùng tam giác Ba Bể - Hoà An - Đông Khê,Thất Khê Hình thức phát âm này đã được Đài phát Thanh khu Tự trị Việt Bắc
cũ sử dụng trên làn sóng phát thanh Sự khác biệt giữa các phương ngữ là điềutất nhiên, song sự khác biệt của tiếng Tày chủ yếu là về mặt ngữ âm Cũng nhưtiếng Kinh trong Nam, ngoài Bắc, tiếng Tày ở Bắc Kạn cũng có 3 vùng nóigiọng khác nhau, bản thân người Tày gọi là giọng nói mềm (ón), cứng (kheng)
và nặng (nắc) Ví dụ: Khi phát âm hai từ thon thư (học chữ), vùng Bắc Bạch Thông và Ngân Sơn, Chợ Rã: slon slư; vùng thị xã Bắc Kạn, Na Rỳ, Chợ Đồn: thon thư; vùng Đông Nam Chợ Mới: ton tư Mặc dù vậy tiếng Tày ở các vùng
đều căn bản đều có mối quan hệ gần gũi
Như vậy, trong quá trình phát triển người Tày đã và đang được bổ sung,
sử dụng nhiều từ vựng thuộc nhóm Hán Việt và từ thuần Việt Nhóm từ vựngtrong hệ thống tiếng nói thống nhất của cả nước đã tạo thuận lợi cho người Tàyphát triển ngôn ngữ
1.2 Khái quát về thơ viết bằng tiếng Tày
Ngôn ngữ của người Tày rất giàu và đẹp, điều đó đã khiến cho lời ăntiếng nói của người Tày trở nên hết sức phong phú, uyển chuyển, tinh tế vàkhái quát Với số đơn vị ngữ âm phong phú đã tạo ra các từ ngữ diễn đạt mọikhía cạnh của đời sống vật chất và tinh thần bên cạnh vốn từ vay mượn từ tiếngHán và tiếng Việt Bởi thế, tiếng Tày đã trở thành phương tiện lưu truyền mộtkho tàng văn học dân gian phong phú bao gồm: truyện cổ tích, thần thoại vàvốn thi ca cổ truyền gồm: dân ca trữ tình, thơ ca đám cưới, hát ru, văn cúng bái,văn than không biết được sáng tác từ bao giờ Nội dung chủ yếu của nhữngcâu chuyện đó nhằm giải thích vũ trụ, nguồn gốc loài người, nguồn gốc các dântộc, nêu lên lòng chính nghĩa, ghét gian tà, tinh thần đấu tranh chống lực lượngsiêu nhiên thần kỳ, chống cường quyền ác bá, đấu tranh để giữ trọn vẹn mốitình chung thuỷ lứa đôi, bạn bè, đấu tranh chống ngoại xâm, truyền thống đoànkết dân tộc…chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều dẫn chứng nói lên điều đó Ví
Trang 22dụ như nói về tình cảm giữa con người với con người, đồng bào dân tộc Tày
thường truyền nhau câu: "Lảc mạy tẩn, lạc cần rì" (Rễ cây ngắn, rễ người dài) Hay ca ngợi giá trị của con người quý hơn mọi giá trị tiền bạc được các thế hệ ông cha đúc kết lại: "Ngần chèn tang tôm nhả/ Tha nả tảy xiên kim" (Tiền bạc như đất cỏ/ Danh dự tựa ngàn vàng) Những lời thơ, câu văn
hàm súc, triết lý và vô cùng ý nghĩa ấy, lúc đầu được lưu truyền từ người nàysang người khác bằng phương thức truyền miệng, về sau được ghi chép bằngchữ Nôm Tày và chữ Tày theo phiên âm La tinh
Chữ Nôm Tày xuất hiện và được dùng để sáng tác, ghi chép văn chương,còn trong đời sống hàng ngày, tiếng Tày giữ địa vị là phương tiện giao tiếp phổbiến Đó là lời cha ông nói với con cháu, là hàng xóm nói với láng giềng, là lờinam thanh hát đối với nữ tú qua những câu sli tiếng lượn (làn điệu dân ca của
người Tày) như: "Tính vuồn tính khát sai tả coóc/ Mèng vuồn mèng hăn bioóc dạn tom/ Cáy vuồn cáy hăn non dạn khuế/ Lủc vuồn lủc hăn mẻ dạn giăng/ Nghĩa vuồn nghĩa hăn căn dạn phuối " (Dịch thơ: Đàn tính buồn, đàn tính đứt dây/ Ong buồn hoa nở ong bay chẳng vờn/ Gà buồn lười bới sâu ăn/ Con buồn thấy mẹ ngại ngần dạ thưa/ Người buồn gặp nghĩa thờ ơ/ Lời sao ngại nói biết chờ đợi chi?)
Trong cuốn Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, Lâm Tiến viết:
“Nhìn chung văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại ra đời từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 Nhưng mầm mống đã có từ dưới thời Pháp thuộc Các tác giả là người dân tộc Tày tiêu biểu là Hoàng Đức Hậu, Hoàng Văn Thụ, trong đó Hoàng Đức Hậu với những bài thơ hiện thực phê phán, trào lộng
và trữ tình xứng đáng là nhà thơ hiện thực của Văn học Việt Nam giai đoạn
1930 – 1945 Hoàng Đức Hậu (1890 - 1945) là cháu của Hoàng Ích Thặng và con của Hoàng Ích Tám, một dòng họ nổi tiếng hay chữ của dân tộc Tày lúc bấy giờ (Xem “Thơ Hoàng Đức Hậu, NXB Việt Bắc 1974) Thân thế và sự nghiệp thơ văn Hoàng Đức Hậu đã được nhiều người giới thiệu Nhưng cho tới
Trang 23nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về nhà thơ này Có thể nói nếu không đánh giá đúng đắn Hoàng Đức Hậu thì cũng không thể hiểu đầy đủ văn học Tày, sẽ không lý giải được văn học Tày hiện đại là một nền văn học phát triển bậc nhất trong văn học các dân tộc thiểu số, có được những tác phẩm đạt tới tầm cao của cả nước” [58, Tr 83].
Vào khoảng những năm 1936 - 1945 cùng với thơ ca cách mạng của cảnước, một mảng thơ cách mạng của các dân tộc thiểu số ra đời Tác giả củamảng thơ này là những chiến sĩ hoạt động cách mạng như Hoàng Văn Thụ, LêQuảng Ba, Hoàng Công Hoạt, Chu Văn Tấn… trong đó tiêu biểu nhất là nhàthơ Hoàng Văn Thụ Hoàng Văn Thụ vừa là nhà hoạt động cách mạng vừa sángtác thơ ca để phục vụ cho phong trào cách mạng Những bài thơ, bài ca của ông
đã có tác dụng cổ vũ nhân dân và chiến sĩ cách mạng vùng Đình Cả, Tràng Xá,Đại Từ và được truyền đi khắp các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên (cũ), Bắc Cạn(cũ) Hoàng Văn Thụ đã kết hợp một cách tài tình những giá trị của thơ catruyền thống với những yêu cầu của cách mạng Do đó thơ của ông cũng nhưcác chiến sĩ cộng sản khác trong thời kì này như Hoàng Đình Dong, Chu VănTấn…đã đặt nền móng cho thơ ca cách mạng và kháng chiến của các dân tộc,
mở đường cho các nhà thơ dân tộc thiểu số anh em từ sau cách mạng thángTám như Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn…
Bắc Kạn là mảnh đất hội tụ, gắn bó nhiều thế hệ nhà thơ, nhà văn dân tộcthiểu số: Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại, Triệu Kim Văn,
Dương Thuấn Trong đó, Nông Quốc Chấn - người mở đầu cho nền thơ Tày
hiện đại đã có những sáng tác bằng tiếng Tày đáng tự hào: Việt Bắc đánh giặc, Dọn về làng, Đi Berlin về, Tiếng lượn cần Việt Bắc, Cần Phja Bjoóc, Dám kha Pác Bó (Bước chân Pác Bó) Thơ Nông Quốc Chấn đặt một dấu mốc lịch sử
quan trọng đưa thơ ca dân tộc Tày sang một giai đoạn mới, bước vào quỹ đạohiện đại của nền thơ Việt Nam Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 2 năm 2000) làmột ghi nhận xứng đáng cho những đóng góp của nhà thơ
Trang 24Dương Thuấn cũng là một người con của quê hương Bắc Kạn có nhiềuđóng góp cho thơ ca dân tộc Tày Bên cạnh những tập thơ bằng tiếng Việt, ông
có 03 tập thơ tiếng Tày: Lục pjạ hết lùa (2005), Chia trứng công (2006), Shíp nhỉ tua khoăn (2002) Trong những sáng tác đó nhà thơ thể hiện ý thức nâng
niu, trân trọng, bảo tồn văn hóa truyền thống Thơ Dương Thuấn mang đậm
“chất Tày” từ khung cảnh thiên nhiên, đời sống sinh hoạt của con người đến
tâm hồn, cảm xúc và cách biểu đạt hình tượng, giọng điệu, ngôn ngữ thơ Tuyển tập Dương Thuấn gồm ba tập, dày hai ngàn trang, được nhà thơ viết bằng hai
thứ tiếng Tày - Việt đã đưa tên tuổi của nhà thơ vào Kỷ lục Guiness Việt Nam (2013) với hai hạng mục: Bộ sách song ngữ Tày - Việt đầu tiên và Bộ Tuyển
tập thơ dày nhất Việt Nam Kế tiếp những thế hệ đi trước, Dương Thuấn tiếptục “vinh danh” thơ Tày trong nền thơ dân tộc và đưa thơ Tày đến với ngườiđọc gần xa
Hiện nay, ở nhiều địa phương thuộc khu vực miền núi phía Bắc, các nhàthơ dân tộc Tày vẫn đang nỗ lực, say sưa tìm nguồn cảm hứng sáng tác Nhữngsáng tác của các nhà thơ góp phần làm nên sự tươi mới và phong phú cho diệnmạo thơ Tày thời kỳ hiện đại Góp phần khẳng định sự phát triển của văn họcmỗi địa phương ngày càng lớn mạnh, hòa nhịp cùng dòng chảy chung của cảnước.Trong đó, Dương Khâu Luông là nhà thơ Tày Bắc Kạn thuộc thế hệ thứ
ba của bộ phận văn học đặc biệt này
1.3 Dương Khâu Luông - Nhà thơ Tày Bắc Kạn
1.3.1 Tiểu sử
Nhà thơ dân tộc Tày Dương Khâu Luông tên thật là Dương Văn Phong,sinh ngày 12 tháng 3 năm 1964, quê ở Bản Hon, xã Bành Trạch, huyện Ba Bể,tỉnh Bắc Kạn Nơi Dương Khâu Luông sinh ra là một bản nhỏ xa xôi, cách thịtrấn huyện hơn mười cây số đường rừng Đây là nơi đầu nguồn hồ Ba Bể, nơi
có sông Năng, thác Đầu Đẳng, động Puông, núi Phja Bjoóc…chính mảnh đấtgió núi, trăng ngàn đã nuôi dưỡng tâm hồn yêu văn chương trong ông Từ khi
Trang 25học cấp 2, Dương Khâu Luông đã tìm đọc khá nhiều sách của các nhà văn nổitiếng trong và ngoài nước, như: Ngô Tất Tố, Thế Lữ, Huy Cận, Xuân Diệu, TốHữu, Chế Lan Viên, Nam Cao, Nông Quốc Chấn, Nguyễn Đình Thi,Leptônxtôi, Macxim Gorky, Mopatxang, Vichto Huygô, Aragong Cứ thế, tìnhyêu văn chương lớn dần lên cùng với niềm mơ ước được đứng trong giảngđường trường đại học nào đó có môn Văn Niềm mơ ước đã trở thành hiện thựckhi tốt nghiệp cấp III, chàng trai Bản Hon yêu văn chương đã thi đỗ đại học vàtrở thành sinh viên khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Việt Bắc (nay là
Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên) khóa 18 (khóa học 1983-1987).
Sau khi tốt nghiệp Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Thái Nguyên năm
1987 Dương Khâu Luông trở thành thầy giáo dạy Văn tại trường Trung họcphổ thông Pò Tấu (huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) Sau 4 năm gắn bó vớimảnh đất Pò Tấu xa xôi, năm 1992, ông được tổ chức điều chuyển về TrườngTrung học phổ thông Ba Bể huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Hơn 10 năm (1992 –2005), thầy giáo Dương Khâu Luông gắn bó với nghề dạy học và chính từ máitrường này, thầy tiếp tục thổi niềm đam mê văn chương cho các thế hệ họcsinh Văn chương là cầu nối chàng trai Bản Hon năm xưa đến với nhiều vùngmiền đất nước Văn chương đã làm thay đổi công việc, cuộc sống của DươngKhâu Luông Nhận thấy tố chất thi ca và năng lực quản lý ở một lĩnh vựckhông ít khó khăn, năm 2006 lãnh đạo tỉnh Bắc Kạn đã giao Dương KhâuLuông đảm nhiệm công tác mới tại Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bắc Kạn.Hiện ông là Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bắc Kạn, Hội viên Hội Nhàvăn Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Hội VHNT các DTTS Việt Nam, HộiVHNT tỉnh Bắc Kạn
1.3.2 Sự nghiệp sáng tác
Từ một thầy giáo dạy văn, Dương Khâu Luông đã trở thành hội viên HộiVăn học nghệ thuật tỉnh Bắc Kạn, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu sốViệt Nam Năm 2008, chàng trai Bản Hon năm nào đã thỏa nguyện niềm mơ
Trang 26ước của mình trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Ông không quên được
nơi đã khởi nguồn, bồi dưỡng, nâng đỡ, chắp cánh thơ cho mình: “Năm 2001, lần đầu tiên mình được đi dự trại sáng tác do Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tổ chức tại trường Đảng Lê Hồng Phong (Hà Nội) Rất may mắn, mình được các nhà thơ, nhà văn nổi tiếng như Nguyễn Đình Thi, Huy Cận… lên lớp Lần đầu đi dự trại thấy các anh chị đều đã có sách được in nên
cứ thấy lo lo Sau khi kết thúc trại, mình đã in tập thơ đầu tay Gọi bò về chuồng (thơ thiếu nhi) Cám ơn trại sáng tác này đã đưa mình thực sự đến với văn chương…”.
Kể từ khi tập thơ Gọi bò về chuồng (Nxb Hội Nhà văn - 2003) xuất bản
cho đến nay, hành trình sáng tác của Dương Khâu Luông đã gần 20 năm Tronghành trình phấn đấu không ngừng, nỗ lực hết mình của bản thân cùng với sựgiúp đỡ của gia đình, thầy cô và bạn bè, Dương Khâu Luông đã trở thành ngườitrí thức vùng cao góp phần xây dựng nền văn học tỉnh Bắc Kạn ngày càng pháttriển
Đến nay, Dương Khâu Luông đã có 10 tập thơ được xuất bản để gửi đến
với bạn đọc: Gọi bò về chuồng (tập thơ thiếu nhi), Nxb Hội Nhà văn, 2003; Dám kha cần ngám điếp (tập thơ tiếng Tày), Nxb Văn hóa Dân tộc, 2005; Bản mùa cốm (tập thơ thiếu nhi ), Nxb Hội Nhà văn, 2005; Bắt cá ở sông quê (tập thơ), Nxb Hội Nhà văn, 2006; Co nghịu hưa cần (tập thơ song ngữ thiếu nhi Tày - Việt ), Nxb Văn hóa Dân tộc, 2008; Lửa ấm Bản Hon (tập thơ), Nxb Hội Nhà văn, 2012; Khi con đi hái quả (tập thơ thiếu nhi ), Nxb Hội Nhà văn, 2013; Núi chơi bóng (tập thơ thiếu nhi, Nxb Kim Đồng, 2013; Phác noọng dú tin phạ
quây - Gửi em ở phương trời xa (tập thơ Song ngữ Tày - Việt), Nxb Văn hóa Dân tộc, 2016; Cỏi dằng slì bjoóc mạ - Lặng lẽ mùa hoa mạ (tập thơ song ngữ
Tày - Việt), Nxb Văn hóa Dân tộc, 2017.
Nhà thơ Dương Khâu Luông đã vinh dự nhận được nhiều giải thưởng
trong sự nghiệp sáng tác của mình: Giải Nhì thơ - Báo Thiếu niên Tiền phong
và Hội Nhà văn Việt Nam (2001); Giải B (không có giải A) - Hội VHNT các
Trang 27DTTS Việt Nam cho Tập thơ thiếu nhi Gọi bò về chuồng (2003); Giải C - Hội VHNT các DTTS Việt Nam cho tập thơ tiếng Tày Dám kha cần ngám điếp
(2006); Giải B ( không có giải A) - Hội VHNT các DTTS Việt Nam cho tập thơ
Bắt cá ở sông quê (2006); Giải Khuyến khích - Hội VHNT các DTTS Việt Nam cho tập thơ song ngữ thiếu nhi Tày - Việt Co nghịu hưa cần - Cây gạo giúp người - 2008; Giải Khuyến khích - Hội VHNT các DTTS Việt Nam cho tập thơ Lửa ấm Bản Hon (2012); Giải B (không có giải A) - Hội VHNT các
DTTS Việt Nam cho tập thơ song ngữ Phác noọng dú tin phá quây - Gửi em ở
phương trời xa (2016); Giải C - Hội VHNT các DTTS Việt Nam cho tập thơ song ngữ Cỏi dằng slì bjoóc mạ - Lặng lẽ mùa hoa mạ (2017).
Trong 10 tập thơ đã xuất bản, có 04 tập thơ viết bằng tiếng Tày vô cùngđặc sắc, phản ánh một cách chân thực, sinh động bản sắc văn hóa Tày Suy
nghĩ về nghề văn, nhà thơ Dương Khâu Luông từng chia sẻ: “Tôi thường tâm niệm thơ phải được viết từ tiếng lòng cảm xúc của mình, từ những gì mình trải nghiệm và mỗi bài thơ luôn là một sự khám phá, đem lại một điều gì đó mới hơn cho người đọc” (Nông Thị Thiềm ghi trực tiếp) Là người con ưu tú của bản Tày “sinh ra bên bếp lửa nhà sàn”, Dương Khâu Luông đã mang theo
“Lửa ấm bản Hon” trên hành trình cuộc đời và hành trình lao động nghệ thuật
của mình, góp phần làm giàu đẹp cho quê hương
Tiểu kết chương 1
Tiếng Tày đã có một lịch sử lâu đời, đồng bào Tày đã gìn giữ và pháttriển thứ tiếng đó, làm cho nó trở nên giàu đẹp có khả năng biểu đạt tinh tế vàmiêu tả dồi dào Nhìn chung cách miêu tả của tiếng Tày rất phong phú, nhiềucung bậc, màu vẻ Bởi thế nhiều nhà thơ người Tày đã dùng ngôn ngữ Tày đểsáng tạo nên nhiều tác phẩm thơ văn có giá trị được lưu truyền đến ngày nay.Những sáng tác đó góp phần không nhỏ vào việc giữ gìn ngôn ngữ dân tộc vàlàm phong phú thêm nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại Qua
Trang 28cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Dương Khâu Luông giúp chúng tanhận thấy quê hương, gia đình và sự phát triển của văn học địa phương có ảnhhưởng lớn đến cách lựa chọn ngôn ngữ trong sáng tác, cách cảm, cách nghĩ củanhà thơ về thiên nhiên, cuộc sống và con người Với tình yêu thiên nhiên sâusắc và tình cảm gắn bó sâu nặng với quê hương, làng bản; niềm tự hào vềnhững nét đẹp truyền thống của dân tộc Tày nhà thơ Dương Khâu Luông đã cóđóng góp không nhỏ trong việc giới thiệu, quảng bá những nét đẹp của quêhương đến với bạn bè trong nước Hành trình sáng tạo nghệ thuật là con đườnggiúp người con của bản Hon thực hiện khát khao giữ gìn và phát huy tiếng nóicủa dân tộc mình trong xu thế hội nhập quốc tế và đưa thơ viết bằng tiếng Tàybắt nhịp với thơ ca hiện đại Những vấn đề nêu trên là cơ sở quan trọng đểchúng tôi tiến hành nghiên cứu chương 2, chương 3 của đề tài.
Trang 29Chương 2 NHỮNG MẠCH NGUỒN CẢM HỨNG MANG ĐẬM
BẢN SẮC VĂN HÓA TÀY
2.1 Cảm hứng yêu mến, tự hào về thiên nhiên, danh lam thắng cảnh của quê hương
2.1.1 Thiên nhiên mang đậm dấu ấn vùng miền
Mỗi con người sinh ra đều thuộc về một vùng đất, một nền văn hóa, mộtđất nước nhất định và họ có quyền tự hào về vùng đất đó Là một người concủa núi, lại có chặng đường dài gắn bó với với quê hương Việt Bắc, với vùng
hồ Ba Bể, với bản Hon nên Dương Khâu Luông đã viết về thiên nhiên miền núivới tất cả tấm lòng yêu mến và sự hiểu biết sâu sắc về phong cảnh quê hươngmình Vì vậy, thiên nhiên trong những sáng tác bằng tiếng Tày của nhà thơ
mang đậm dấu ấn vùng miền là điều dễ hiểu Người Bắc Kạn luôn tự hào: “Bắc Kạn có suối đãi vàng/ Có Hồ Ba Bể có nàng áo xanh” và càng tự hào hơn nữa
nhận là một trong 20 hồ nước ngọt đặc biệt của thế giới cần được bảo vệ vàonăm 1995 Năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định xếp hạng Danhlam thắng cảnh Hồ Ba Bể là “Di tích quốc gia đặc biệt” Đó quả là một mónquà vô giá mà tạo hóa đã ban tặng cho quê hương Bắc Kạn
Tự hào về cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp cùng phong cảnh thiên nhiên kì
thú được mệnh danh là “hồ trên núi” - hồ Ba Bể Nhà thơ Dương Khâu Luông
đã nhiều lần nhắc tới địa danh này như muốn giới thiệu với bạn bè gần xa về vẻ
đẹp của quê hương qua các sáng tác: Mừa chồm Nặm Pé (Đến thăm Ba Bể), Pò
Dả Mải (Gò Bà góa), Chứ hội xuân Nặm Pé (Nhớ hội xuân Ba Bể), Dú slam pé chứ noọng (Trên hồ Ba Bể nhớ em), Slim chứ dú slam pé (Cảm xúc hồ Ba Bể),
Ăn còn (Quả còn)…
Chắc hẳn mỗi người khi đến thăm hồ Ba Bể đều có những cảm nhậnkhác nhau về phong cảnh nơi đây Nhưng có lẽ ấn tượng nhất đó là một hồ
Trang 30nước xanh rộng lớn được tạo nên bởi ba hồ Pé Lầm, Pé Lù, Pé Lèng, với nhữngđịa điểm tham quan du lịch nổi tiếng như Ao Tiên, thác Đầu Đẳng, độngPuông Mặc dù đã nhiều lần đến với hồ Ba Bể nhưng mỗi lần đến đây lại gợicho nhà thơ những cảm xúc khác nhau:
Mừa chồm hăn nặm pé đây lai
Nặm kheo dú nưa pài pền pé
Khúy lừa kếp bjoóc mjạc cằn phja
Tiểng nộc roọng coỏng mà slí slướng
Cần quá lưa ái slưởng hết then
Tỉ nảy chử bưởng tiên lụ bấu!
Lẹo pé nhằng ái đảy pây them
Cảnh đẹp Hồ Ba Bể vang xa
Có nước xanh trên non thành biển Cưỡi thuyền theo sườn núi hái hoa Nghe reo ca bốn bề chim hót
Đi qua hồ muốn cất tiếng then Đây là cảnh thực hay cõi tiên?
Hết hồ rồi vẫn muốn đi thêm.
( Dương Khâu Luông dịch)
Cảm xúc đắm say trước vẻ đẹp của quê hương đã giúp nhà thơ viết nênnhững vần thơ đẹp về thiên nhiên miền núi Bốn mùa xuân, hạ, thu, đông cứvần xoay trong những tập thơ của Dương Khâu Luông Mùa nào cũng đẹp,cũng xinh tươi, cũng đầy sức hấp dẫn Mỗi mùa đều mang những vẻ đẹp riêng,những sắc màu riêng trong trạng thái vận động riêng vốn có của nó
Mùa xuân - mùa khởi đầu của một năm, mùa của yêu thương và đoàn tụ,
mùa của cảm hứng bất tận cho thi ca Trong thơ Dương Khâu Luông, cảm hứng
đạt đến độ say đắm, dạt dào nhất là những bài thơ viết về mùa xuân: Lẳp Chiêng (Đón tết), Nộc fầy fạ mà cạ bươn chiêng (Chim lửa trời về báo tết), Vằn chiêng (Ngày Tết) Qua những sáng của ông mùa xuân trên vùng núi cao Việt
Bắc hiện lên thật tươi đẹp, thơ mộng, mang đậm hương vị, sắc màu miền núi
Cứ mỗi độ tết đến, xuân về thiên nhiên được khoác lên mình chiếc áomới Với bản làng vùng núi cao, những tín hiệu đầu tiên của mùa xuân đượcngười dân cảm nhận qua sắc đào hồng thắm, sắc trắng của hoa mận, hoa mơ:
Trang 31“Boóc mặn phung nả táng/ Boóc tào đáo nả chàn/ Nộc fầy fạ bên mà chắp
chang sluôn/ Bươn chiêng tẻo mà thâng mấư dá! - Hoa mận nở trước sân nhà/
Hoa đào tươi trước sàn trăng/ Chim lửa trời bay đến đậu trong vườn/ Ồ mùa xuân đã đến!” (Lẳp Chiêng- Đón tết).
Mùa xuân đến không chỉ được cảm nhận bằng màu sắc mà còn có cảnhững âm thanh rộn ràng, vui tươi của tiếng chim lửa rực trời về báo tết Chimlửa trời thường báo tin vui, hình ảnh đàn chim bay lượn trên bầu trời mang lại
màu sắc và âm thanh tươi mới cho bản làng (Nộc fầy fạ mà cạ bươn chiêng Chim lửa trời về báo tết).
-Tết về với bản vùng cao khiến cho lòng người vui tươi, hứng khởi, náonức Mỗi người trong bản từ già đến trẻ đều có những chuẩn bị riêng cho mình
để chào đón ngày tết, chờ được đi hội xuân Vì vậy, tết mang màu sắc đặc
trưng văn hóa các dân tộc Việt Bắc: “Mẻ á nhọm may sle nhẳp còn/ Lục eng phẳn lền sle tức sáng/ Nhình slao xa khôn cáy hết diến/ Lẳp chiêng mà cần tầư củng dung - Chị tìm lông gà làm yến/ Mẹ nhuộm chỉ khâu còn/ Em bện dây
đánh quay/ Ai cũng vui đón ngày tết đến (Lẳp Chiêng - Đón tết).
Cảnh sắc thiên nhiên và con người Việt Bắc còn có cái xôn xao, náo nứcrất riêng Quanh năm, bà con vất vả làm lụng họ mong đến ngày tết để đượctham gia các lễ hội và niềm vui đón khách đến chơi nhà :
Mừng có khách đến nhà xông tết
(Dương Khâu Luông dịch)
Trang 32Bên cạnh đó, Dương Khâu Luông cũng có những vần thơ giản dị, trongtrẻo viết về mùa hè Với ông những lúc bình yên, thư thái thả mình trong giấcngủ sâu và tỉnh dậy, nhà thơ lại cảm nhận những sắc màu thiên nhiên tươi tắn,cảnh vật thơ mộng, cả những âm thanh tiếng chim ríu ran Và tuổi thơ lại ùa vềtrong bước chân tung tăng đến trường của đàn em nhỏ Sự bình yên thơ mộng
mà cuộc sống nào cũng phải ao ước Cảnh vật mùa hè trong thơ ông cũng tinhtúy và chan chứa đầy màu sắc:
Chẳng ỏn đua nòn lậc đây
Boỏng sloai chang sluôn nộc
lỏn Chẳng ỏn phấu noọng pây
Bình yên lời mẹ ru con Đồng xanh
Cò bay Trắng muốt
Nhà thơ cũng hết sức nhạy cảm với thiên nhiên mùa thu Cảnh vật mùathu trong thơ ông không phủ màu lá úa và nhuốm màu sắc u buồn thường thấynhư trong thơ Đường cổ xưa, không óng lên với màu “áo mơ phai” đài các nhưtrong Thơ mới, cũng không “chùng chình hương ổi” như trong thơ Hữu Thỉnh
Mà cảnh vật mùa thu nơi vùng núi cao xanh thẳm này rất tươi tắn, trong trẻo
được tác giả so sánh như dòng suối nhẹ êm trôi Cách tác giả cảm nhận tín hiệu
mùa thu đến cũng thật đặc biệt đó là qua ánh mắt duyên dáng của người con
gái: “Kha khuổi cỏi dằng luây/ Slâư bặng vằn slao ón/ Tha cần hâư mjạc pện/ Slì thu đạ mà thâng - Dòng suối nhẹ êm trôi/ Trong như thời con gái/ Mắt ai duyên đến vậy/ Mùa thu đến thật rồi”(Slì thu - Mùa thu).
Mùa đông vốn dĩ là lạnh, nhưng mùa đông ở vùng núi cao bao giờ cũnglạnh hơn những vùng khác bởi sương giăng trắng cả ngọn cây, đỉnh núi, sương
Trang 33che lấp cả lối đi làm cho mọi hoạt động của con người trở nên khó khăn hơn.Thơ Dương Khâu Luông viết về mùa đông cũng thật dễ thương, xúc động
giống như một lời tâm tình trò chuyện của con người với thiên nhiên: “Moóc khao ơi!/ Moóc khao à!/ Ăn nâư tứn chạu/ Mầư diền lồng kha tàng liểu/ Hết hẩư lục eng pây slon slư khỏ/ Cần cải pây tôổng hất fiểc khỏ/ Phấu pết xa tàng oóc khuổi khỏ - Sương trắng à!/ Sương trắng ơi!/ Sáng sớm thức dậy mày đã xuống đường chơi/ Làm cho trẻ con đi học khó/ Người lớn ra đồng làm việc khó/ Đàn vịt tìm đường ra suối khó” (Moóc khao - Sương trắng).
Có lẽ vì thiên nhiên bốn mùa ở Việt Bắc đa sắc màu như vậy nên “bà mẹthiên nhiên” đã ban tặng cho mảnh đất nơi đây một hệ sinh thái vô cùng phongphú, đa dạng và trao cho nó những nhiệm vụ, trọng trách nặng nề nhưng cũnghết sức thiêng liêng Trong kháng chiến chống thực dân Pháp chiến khu ViệtBắc trở thành căn cứ địa cách mạng, góp phần vào chiến thắng chung của cả
nước: “Núi giăng thành lũy sắt dày/ Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” (Việt Bắc - Tố Hữu) Trong hòa bình núi rừng, cây cối vừa là “lá phổi xanh” là tấm
lá chắn che trở, bảo vệ cho cuộc sống con người vừa là “ người bạn”, gắn bóvới người dân nơi đây
Nhắc tới thiên nhiên núi rừng Việt Bắc không thể không nhắc tới các loàicây, loài hoa Trong ấn tượng của nhiều người cây cối, thiên nhiên ở đây rấthùng vĩ, tráng lệ với cây cối um tùm, rậm rạp giống như “rừng thiêng, nướcđộc” Khác với suy nghĩ của nhiều người, thiên nhiên trong thơ Dương KhâuLuông tuy rộng lớn, mênh mông nhưng không hoang vu, độc dữ mà rất gầngũi, thân thương gắn bó với đời sống đồng bào Tày quê hương Ông thường
viết về những loại cây quen thuộc như: Co mác fầy (Cây dâu da), Co mạy nghịu (Cây gạo), Co mác chủ (Cây sấu), Co mác khuông (Cây móc), Mác vi (Mác vi) Mỗi loại cây đều có những đặc điểm, vẻ đẹp và vai trò riêng góp phần
làm cho bức tranh thiên nhiên trở nên tươi đẹp, tràn đầy sức sống Hơn nữa
Trang 34bằng việc sử dụng biện pháp nhân hóa, ẩn dụ cây cối trở nên có hồn và hết sứcgần gũi với con người.
Trước hết nhà thơ nhấn mạnh đến vai trò của các loại cây trong việc tạo
ra môi trường sinh thái, cảnh quan cho khu rừng Đến thăm quan hồ Ba Bể, dukhách rất thích thú bởi hồ được bao bọc bởi vườn Quốc gia Ba Bể với một hệthực vật đa dạng, phong phú Đặc biệt nơi đây còn lưu giữ được những cây cổthụ hàng trăm năm tuổi như nghiến, đinh, lim, sến, táu…và nhờ có những loại
cây này mà “Cánh rừng thêm sức sống”:
Chang đông mì lai dưởng mạy
Tọ cẩn mì bại co mạy cải
Pjai slung, cáng lì
Chỏa ngàu khăm
Sle búng đông đảy them lèng, mắn
Trong rừng có nhiều loại cây Nhưng rất cần có những cây cổ thụ Thân khỏe, cành vươn
Tỏa bóng mát Cánh rừng thêm sức sống
Tiếp đến nhà thơ ca ngợi sức sống mãnh liệt, dáng vẻ khỏe khoắn, hiênngang, vững trãi của cây rừng nơi đây trước nắng, mưa, gió, bão Cây mạnh mẽvươn lên “chiến thắng” thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại, để giữ đất, giữ rừng,giữ môi trường sống cho con người Đó là hình ảnh Co mạy nghịu (Cây gạo):
“Co mạy nghịu/ Dặng slung phiêng nhọt pù/ Tọ fẻ mạy nghịu tẻo eng cặn mặt
thúa kheo/ Buốt khửn mại pền co mạy cải/ Dặng chang fạ cáng păc vạ lồm
-Cây gạo/ Đứng cao bằng ngọn núi/ Nhưng hạt cây gạo lại bé bằng hạt đỗ xanh/ Nảy mầm mọc lên mãi thành cây gạo lớn/ Đứng ngang trời vẫy gió”, là
Co mác khuông (Cây móc): “Bâư cải xù xòa/ Pện cạ bâư cuổi/ Buốt nẳn bấư
cáng/ Pẳt pẻo vạ lồm - Lá xanh xùm xòa/ Như là lá chuối/ Mọc thẳng không
cành/ Reo cùng gió núi” Hay đơn giản là “bản năng sống”, khả năng thích
ứng tuyệt vời với điều kiện, hoàn cảnh sống của những cây mọc trên bức tườnghoang:
Trang 35Vạ co mạy tềnh pướng pha loảng
Với cây mọc trên bức tường hoang
Trên bức tường hoang Không đất màu
Không người chăm Cây vẫn sống Những búp xanh vươn lên trời Kiêu hãnh.
Tìm hiểu về các loài cây, các loài hoa trong thơ Dương Khâu Luôngngười đọc dễ dàng nhận thấy chúng là hiện thân cho thiên nhiên tươi đẹp, giàu
có, bất tận và rất gắn bó với con người Thiên nhiên núi rừng thật giàu có và đãtặng cho con người biết bao hoa thơm, quả ngọt Đó là quả dâu da sai từ gốc
đến ngọn “Hương thơm bay tỏa khắp núi rừng”(Co mắc fầy - Cây dâu da).
Hay đơn giản là những phát hiện lí thú của nhà thơ về những loại cây cóquả sai quanh gốc cho thấy sự giàu có của thiên nhiên đã ban tặng cho conngười Đồng thời chúng ta thấy được những quan sát tinh tế, những hiểu biếtphong phú của nhà thơ về thế giới thực vật xung quanh chúng ta:
Co tầư mác pền dú cốc Cây nào quả sai quanh gốc
Dú chang đông mì kí lai co mác pền dú
Noọng ỷ tặp nịu mừng án ngói.
Ở trong rừng có quả nào sai quanh gốc?
Này nhé!
Cây “Ưởng” quả sai quanh gốc Cây “ Choọng” quả sai quanh gốc Cây “ Ngỏa” quả sai quanh gốc Cây “Tém” quả sai quanh gốc… Còn bao nhiêu cây nữa
Bấm ngón tay bé thử đếm xem.
Bài thơ giống một kiểu đố vui dân gian, tác giả liệt kê các thứ quả cùng
chung một đặc điểm kỳ lạ Phép liệt kê kết hợp với điệp ngữ quả sai quanh gốc
nhấn mạnh sự bất tận của rừng vàng, bao nhiêu hoa trái là bấy nhiêu điều kì
Trang 36Hoa là biểu tượng cho cái đẹp Từ lâu, hoa được dân gian xem như làtiêu chuẩn thẩm mĩ của con người Chính vì vậy, bên cạnh việc miêu tả các loạicây nhà thơ cũng có những khám phá rất riêng, rất độc đáo về các loài hoa tiêu
biểu của núi rừng Việt Bắc như: Hoa chuối (Pi cuổi), hoa gạo (Co nghịu hưa
cần - Cây gạo giúp người), hoa mạ (Cỏi dằng slì bjoóc mạ - Lặng lẽ mùa hoa
mạ), Hoa phù dung (Bjoóc Phù dung).
Nếu như nhà thơ Tố Hữu miêu tả vẻ đẹp của hoa chuối ở thời điểm nở rộnhất màu đỏ của hoa chuối trên bức phông nền màu xanh làm bừng sáng lên cả
cánh rừng Việt Bắc: “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi/ Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng” (Việt Bắc) thì nhà thơ Dương Khâu Luông miêu tả quá trình tạo ra bông hoa chuối thật tinh tế và cũng hết sức gian nan: “Nó ón/ Buốt khửn chang
đi co cuổi/ Chắng pền bâư pền cáp/ Bấu chắc kí lai pày pện nảy/ Đi chắng buốt oóc va - Nõn chuối/ Mọc ra từ ruột cây chuối/ Rồi thành lá, thành bẹ/ Chẳng biết bao nhiêu lần như thế/ Ruột mới nở ra hoa (Pi cuổi - Hoa chuối).
Hoa mạ (Bjoóc mạ) là loại cây thân gỗ mọc hoang ở rừng thấp ven khesuối, cây cao từ 5 đến 10m Hoa nở thành chùm, màu vàng sặc sỡ, nở từ giữacho đến cuối mùa xuân Với vẻ đẹp rực rỡ hoa mạ tượng trưng cho mùa xuân,cho tình yêu và tuổi trẻ Hoa mạ còn trở thành một biểu tượng đẹp thường xuấthiện trong truyện Nôm Tày để mở đầu câu chuyện Chẳng hạn như trong
Truyện Nhân Lăng:Vào tiết xuân hoa Bjoóc mạ nở rực rỡ/ Xin kể câu chuyện chàng Nhân Lăng hay trong truyện Lưu Tương: Kể về truyện hoa mạ
nở vàng/ Nói đến truyện Lưu quan ngày trước.
Hoa mạ còn là biểu tượng của cái đẹp, khát vọng hướng tới cái đẹp thanhcao của cuộc sống Vì thế, hoa mạ còn được gọi là hoa của then trời (bjoóc then
phạ) Đây cũng chính là lí do nhà thơ lấy nhan đề Cỏi dằng slì boóc mạ (Lặng
lẽ mùa hoa mạ) đặt tên cho tập thơ song ngữ Tày - Việt của mình như một cách
để giới thiệu đến đông đảo bạn đọc về loài hoa này Trong thơ Dương Khâu
Trang 37Luông, hoa mạ mang vẻ đẹp khiêm nhường, tinh khiết, lặng lẽ tỏa hương Đặcbiệt hơn, bài thơ được viết theo thể thơ Bjoóc mạ ngắn gọn, hàm súc, tinh tế, ý
Thế giới thực vật sinh động, phong phú là vậy, thế giới động vật cũng
không kém phần sinh động, hấp dẫn với muôn giống nghìn loài Trên trời (chim lửa, chim bói cá, con chuồn chuồn…), dưới nước (con cá, con rùa, con ốc…) ở nhà (con vịt, con chó, con mèo, con gà, con bò…), trong rừng (con sóc, con gà rừng…) hay đến những con vật nhỏ bé như con kiến cũng đi vào thơ Dương
Khâu Luông Mỗi con, mỗi loài đều có những đặc điểm riêng, những “phẩmchất”, “tính cách” riêng Nhưng tất cả những con vật đó đều có điểm chung làrất gắn bó với cuộc sống, con người miền núi
Trong thơ viết cho thiếu nhi của Dương Khâu Luông đầy ắp những hìnhảnh đáng yêu về những con vật quen thuộc với trẻ em vùng cao như con sóc,con bò, con trâu, con ngựa … mỗi con đều có những dáng vẻ, tính cách, nétđáng yêu và cả những tật xấu nho nhỏ mà bạn nào cũng có ít nhiều Đó là hìnhảnh chú sóc nhanh nhẹn, vừa leo lên cây vừa hái quả vừa hát thể hiện sự tinh
nghịch, đáng yêu của mình (Tua chỏn eng vạ co mác chủ - Chú sóc và cây sấu).
Chuyện bạn mèo xuống phố lúc đầu nhìn thấy cái gì cũng thích song đượcmột lúc là nhớ nhà nằng nặc đòi về thật giống với hình ảnh bao cậu bé cô bé
“cả thèm chóng chán”, “giòn cười tươi khóc” Sự ngây ngô, tinh nghịch, háo
hức của chú mèo khi được xuống phố “Thấy cái gì cũng lạ/ Cái gì cũng muốn xem” nhưng vẫn không quên tổ ấm quen thuộc của mình làm cho người đọc
thấy hiện lên bao kí ức tuổi thơ của mình trong đó:
Trang 38Mèo eng pây háng Quén
dú lườn chạn dá Quằng
què sảng pỉng fầy Nâư
nảy noọng mèo eng Lèo
Mèo eng tỏi mẻ á
- Lầu mừa lườn khoái a!
Mèo con xuống phố
Ở nhà sàn quen rồi Loanh quanh bên bếp lửa Hôm nay chú mèo con Theo mẹ đi xuống phố (…)
Mèo con thấy buồn ngủ Vội vàng tìm bếp lửa
Ồ nhưng mà …chợt nhớ Phố chỉ có bếp ga
Bỗng mèo con đòi mẹ
lèng Sle ngỏ pây cón/ Hất tàu tải tàng/ Nhằng kỉ lai cần/ Nèm lăng căm thửa Bỗng ở trong đàn/ Có anh kiến to/ Cất cao giọng nói - Để tôi đi trước/ Hoa tiêu
-dẫn đường/ Còn lại đi sau/ Theo nhau bám áo”.
Dương Khâu Luông còn hóm hỉnh tái hiện những cuộc cãi cọ, tranhgiành giữa con vật này với con vật khác Ấy chính là lời trêu chọc yêu thươngdành cho các bạn nhỏ đành hanh, hiếu thắng qua câu chuyện của hai con vật
Nu quai nhằng thai kho hảng cộp
Chim nói chim giỏi Chuột bảo chuột khôn Chim giỏi còn bị dây bẫy siết cổ Chuột khôn còn chết nằm co sập bẫy
(Dương Khâu Luông dịch)
Trang 39Người ta thường nói: “Con gà tức nhau tiếng gáy” Nhưng đó là quan
niệm của người lớn Còn thơ viết cho các bạn nhỏ của Dương Khâu Luông thìngược lại, chúng sống với nhau rất hòa thuận, không ghen ghét, đố kị nhau:
“Cáy đông khăn henh tển/ Cáy bản khăn henh lì/ Tọ bấu nhoòng tiểng khăn sle
tò tỉnh - Gà rừng tiếng gáy ngắn/ Gà bản tiếng gáy dài/ Nhưng chưa bao giờ tức nhau tiếng gáy” (Cáy đông vạ cáy bản - Gà rừng và gà bản) Bài thơ như
một lời nhắn nhủ: dù sống ở những môi trường khác nhau, dù là miền xuôi haymiền ngược, dù đồng bằng hay miền núi thì chúng ta cũng phải biết tôn trọnglẫn nhau
Điều đặc biệt, trong các sáng tác của nhà thơ viết về thế giới động vật,người đọc dễ dàng nhận thấy mối quan hệ gắn bó giữa con người với nhữngcon vật gần gũi, thân thương bằng tình cảm chân thành như người bạn Đối vớiDương Khâu Luông thương người đồng nghĩa với thương cả những con vật Đó
là giá trị nhân văn sâu sắc trong thơ ông Nhà thơ thương cho những con ngựa
thồ quanh năm, ngày tháng làm lụng vất vả: Bại tua mạ thò (Những con ngựa thồ), Tua mạ (Con ngựa), thương con rái cá ngụp bơi dưới nước trong tiết trời mùa đông lạnh buốt để tìm về với tổ ấm của mình: “Phạ slì dên tót lịu/ Tua nảc
vận đăm quá chang nặm/ Mừa vạ ăn lằng ún dú liểp tả - Trời mùa đông lạnh
buốt/ Con rái cá vẫn ngụp bơi dưới nước/ Về với cái hang ấm ở bờ sông” (Tua
Nảc - Con rái cá) Hay nhà thơ xót thương cho những con chuồn chuồn cả
ngày bay lượn trên bầu trời đến khi đêm tối giá lạnh đậu dưới tàu lá trú thân
“Fạ dên/ Mầư nòn đảy đắc bấu?/ Mèng pị ơi! - Đêm tối/ Trời lạnh/ Mày ngủ có say?/ Chuồn chuồn ơi!” (Tuô mèng pị - Con chuồn chuồn).
2.1.2 Thiên nhiên gắn bó với cuộc sống của người Tày
Từ tập thơ đầu tiên cho đến tập thơ mới nhất, thơ Dương Khâu Luôngvẫn luôn nhất quán bút pháp miêu tả thiên nhiên với một vẻ đẹp hồn nhiên,trong trẻo, tươi tắn… “thiên nhân hợp nhất” hài hòa làm nên vẻ đẹp của tìnhngười miền núi thuần hậu, chất phác.Trong thơ Dương Khâu Luông ông đặc
Trang 40biệt nhấn mạnh đến mối quan hệ gắn bó giữa con người với thiên nhiên vàngược lại: thiên nhiên chính là môi trường sống, là “nguồn sống” vô tận cho
con người Cây dâu da có quả sai từ gốc đến ngọn, Cây “Ưởng”, cây “ Choọng”, cây “Ngỏa”, cây “Tém” có quả sai quanh gốc chính là những “món
quà ” mà thiên nhiên dành tặng cho con người khi vào rừng hái măng, lấy củi
và đem về làm quà cho con trẻ ở nhà
Qua con mắt tinh tường và cách cảm nhận tinh tế, cách miêu tả thú vị củanhà thơ cỏ cây, hoa lá không chỉ là những vật vô tri, vô giác mà nó còn lànhững vật thể có giá trị cao, có sức sống mạnh mẽ, dáng vẻ hiên ngang, giúp
ích cho con người Trong bài Co nghịu hưa cần (Cây gạo giúp người) với sắc
đỏ của hoa, màu trắng của quả đã tạo ra những sợi bông trắng tinh để con ngườihái về làm chăn ấm vượt qua mùa đông giá rét nơi vùng cao
Hay như cái bìu cây tưởng chỉ làm xấu cho cây, tưởng như không có giátrị cần phải cắt bỏ Vậy mà từ cái bìu cây ấy nhờ bàn tay khéo léo của các nghệnhân đã tạo ra những sản phẩm từ gỗ vô cùng có giá trị, làm đẹp cho cuộc sốngcon người:
Nẳm ăn pâu hết lóa hẩư co mạy
Cần hâư nghị ám pâu tẻo đảy pền mạy
quỷ
Ám pâu lẻ cần hâư ái dủng
Tọ vạ co mạy pâu chắng pền mạy quỷ
lài đây
Cái bìu tưởng chỉ làm xấu cho cây
Có ai nghĩ chỗ bìu làm nên gỗ đẹp
Là bìu thì có ai cần đến Nhưng bìu cây cho gỗ quý vân hoa
Bằng lối viết tự nhiên, giản dị, Dương Khâu Luông đã cho người đọcthấy một lối sống gần gũi, hòa hợp với thiên nhiên của người Tày Tất cảnhững gì sẵn có trong tự nhiên đều được con người khéo léo sử dụng vào trongcuộc sống của mình Người Tày biết chọn gỗ lim để làm cột nhà, chọn cây móc
làm máng nước: “Co mạy lềm/ Kén lỏi ón slị/ Au lỏi hết slau lườn mắn đây/ Co mạy khuông/ Kén slị ón lỏi/ Au mà hết lìn nặm bấu lụ vải - Cây lim/ Lõi cứng