1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa ứng xử trong một số truyện thơ nôm tày và vấn đề giáo dục học sinh ở trường THCS hoàng văn thụ huyện chợ đồn, tỉnh bắc kạn

111 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan đề tài luận văn khoa học “Văn hóa ứng xử trong một số truyện thơ Nôm Tày và vấn đề giáo dục học sinh ở Trường THCS Hoàng Văn Thụ, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-HOÀNG THỊ MAI

VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG MỘT SỐ TRUYỆN THƠ NÔM TÀY

VÀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC HỌC SINH Ở TRƯỜNG THCS HOÀNG

VĂN THỤ HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-HOÀNG THỊ MAI

VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG MỘT SỐ TRUYỆN THƠ NÔM TÀY

VÀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC HỌC SINH Ở TRƯỜNG THCS HOÀNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn khoa học “Văn hóa ứng xử trong một số truyện thơ Nôm Tày và vấn đề giáo dục học sinh ở Trường THCS Hoàng Văn Thụ, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn” dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Ngô Thị

Thu Trang là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nêu trongluận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình nào khác

Thái nguyên, tháng 9 năm 2020

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Mai

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn là một phần kết quả nghiên cứu của dự án:“Những vấn đề cấp bách về bảo tồn và phát huy các giá trị văn học cổ truyền dân tộc thiểu số Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và phát triển” (Ủy ban dân tộc là cơ quan chủ

quản, Viện NCXH và NVNM là cơ quan chủ trì, TS Trần Thị Ngọc Anh chủnhiệm), mã số CTDT.30.17/16-20

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến TS Ngô Thị Thu Trang – người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi về tri thức, phương

pháp và kinh nghiệm nghiên cứu suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Sư phạm - Đại học TháiNguyên, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, Phòng Đào tạo - Trường Đại học Sưphạm - Đại học Thái Nguyên, Trung tâm học liệu - Đại học Thái Nguyên, Thưviện Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôitrong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường

Tôi cũng xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới người thân, đồngnghiệp, bạn bè đã động viên, quan tâm chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôihoàn thành tốt khóa học này

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2020

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Mai

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp mới của luận văn 10

7 Cấu trúc của luận văn 11

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÓ LIÊN QUAN 12

1.1 Khái niệm văn hóa và văn hóa ứng xử 12

1.1.1 Văn hóa 12

1.1.2 Văn hóa ứng xử 13

1.2 Vài nét về văn hóa ứng xử trong văn học trung đại Việt Nam 14

1.3 Khái quát về truyện thơ Nôm Tày 21

1.3.1 Khái niệm 21

1.3.2 Nội dung và nghệ thuật 23

1.4 Vài nét về Trường THCS Hoàng Văn Thụ, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 24

Tiểu kết chương 1 26

Chương 2: NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG MỘT SỐ TRUYỆN THƠ NÔM TÀY 28

2.1 Văn hóa ứng xử trong gia đình 28

2.1.1 Văn hóa ứng xử trong mối quan hệ cha mẹ - con cái 28

2.1.2 Văn hóa ứng xử trong mối quan hệ vợ chồng 42

Trang 6

2.1.3 Văn hóa ứng xử trong mối quan hệ anh chị em 55

2.2 Văn hóa ứng xử ngoài xã hội 59

2.2.1 Văn hóa ứng xử trong mối quan hệ giữa bề dưới với bề trên 59

2.2.2 Văn hóa ứng xử trong mối quan hệ bạn bè 64

2.2.3 Văn hóa ứng xử trong mối quan hệ giữa người chịu ơn và người làm ơn

70 Tiểu kết chương 2 73

Chương 3: TÍCH HỢP GIÁO DỤC VĂN HÓA ỨNG XỬ TỪ TRUYỆN THƠ NÔM TÀY CHO HỌC SINH TRƯỜNG THCS HOÀNG VĂN THỤ, HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN 75

3.1 Một số nguyên tắc tích hợp giáo dục văn hóa ứng xử từ truyện thơ Nôm Tày cho học sinh 75

3.2 Đề xuất các biện pháp tích hợp giáo dục văn hóa ứng xử từ truyện thơ Nôm Tày cho học sinh Trường THCS Hoàng Văn Thụ, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 77

3.2.1 Xây dựng hệ thống bài tập 77

3.2.2 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa 82

3.2.3 Thực hiện chuyên đề học tập 84

3.3 Thiết kế thể nghiệm một chuyên đề học tập tích hợp giáo dục văn hóa ứng xử từ truyện thơ Nôm Tày cho học sinh Trường THCS Hoàng Văn Thụ

86 Tiểu kết chương 3 93

KẾT LUẬN 95

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Truyện thơ Nôm Tày là một bộ phận đặc biệt của văn học dân tộc thiểu sốnói riêng, của văn học Việt Nam nói chung Có thể nói, truyện thơ Nôm Tày làmột trong những thể loại văn học tiêu biểu với số lượng tác phẩm khá phongphú và nội dung phản ánh muôn mặt đời sống xã hội của đồng bào dân tộc Tày.Trong các tác phẩm truyện thơ Nôm Tày, giá trị văn học và văn hóa hòa quyệnđan xen vào nhau Những giá trị văn học,văn hóa đó cần được bảo tồn và pháthuy trong đời sống hiện nay

Bắc Kạn là một tỉnh miền núi, vùng cao, nơi quần tụ nhiều dân tộc anh emcùng sinh sống, trong đó dân tộc Tày chiếm 53% dân số toàn tỉnh Văn hóa củamỗi tộc người bao hàm nhiều yếu tố và chứa đựng những giá trị riêng Ngoàinhững nét đặc trưng tiêu biểu về phong tục tập quán, một số tộc người ở BắcKạn còn có chữ viết riêng, trong đó có chữ Nôm của dân tộc Tày Trong đờisống hàng ngày, họ sử dụng tiếng Tày là chủ yếu, còn chữ Nôm rất ít khi sửdụng mà chỉ dùng trong các buổi lễ cúng bái hay ghi chép các truyện thơ Nôm,

ca dao, tục ngữ… Trong đời sống văn hóa người dân Tày tỉnh Bắc Kạn, truyệnthơ Nôm có ý nghĩa to lớn, là niềm tự hào vì đó là thứ chữ viết riêng, ngôn ngữriêng của dân tộc Các sáng tác truyện thơ Nôm Tày góp phần làm phong phúthêm nền văn học dân tộc Ngoài ra qua các truyện thơ Nôm Tày con người họcđược những giá trị chân thiện mĩ được gửi gắm qua tác phẩm, hướng con ngườiđến lối sống tích cực, nhân văn Truyện thơ Nôm có ý nghĩa giáo dục to lớn đốivới các thế hệ người dân Tày, trong đó có giá trị giáo dục về văn hóa ứng xử.Văn hóa ứng xử được tập hợp, kết tinh từ đời sống, từ những phong tục, tậpquán truyền thống, được tích lũy, trao truyền từ đời trước cho đời sau.Vì vậy nó

có giá trị nhân văn sâu sắc và đặc biệt quan trọng trong đời sống thường nhậtcủa người dân Tày Với người dân tộc Tày tỉnh Bắc Kạn, văn hóa ứng xử của

họ mang đặc tính của cư dân miền núi, phản ánh đặc trưng văn hoá tộc người

Trang 8

trên mọi phương diện của cuộc sống Không chỉ có ý nghĩa khẳng định sự riêngbiệt về tư duy, quan điểm, chữ viết của người dân tộc Tày, truyện thơ Nôm Tàycòn có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với lứa tuổi học sinh trên địa bàn tỉnh BắcKạn Truyện thơ Nôm Tày làm phong phú thêm đời sống tinh thần của họcsinh, giáo dục ý thức tự hào về truyền thống dân tộc, tự giác nâng cao ý thứcbảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc Bên cạnh đó, truyện thơ NômTày còn giáo dục học sinh văn hóa ứng xử với thiên nhiên, văn hóa ứng xửtrong cộng đồng làng bản và xã hội, văn hóa ứng xử trong mỗi gia đình…

Với mong muốn khẳng định ý nghĩa giáo dục văn hóa ứng xử của truyệnthơ Nôm Tày đồng thời vận dụng những nét đẹp văn hóa ứng xử đó trong công

tác giáo dục học sinh, chúng tôi lựa chọn đề tài “Văn hóa ứng xử trong một số truyện thơ Nôm Tày và vấn đề giáo dục học sinh ở trường THCS Hoàng Văn Thụ huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn” để nghiên cứu.

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Hiện nay văn học các dân tộc thiểu số nói chung, văn học dân tộc Tày nóiriêng luôn thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Đặcbiệt, truyện thơ Nôm Tày với sự phong phú về số lượng tác phẩm và giá trị vềnhiều mặt đã trở thành đối tượng quan tâm không chỉ của các trí thức bản tộc

mà còn của nhiều nhà nghiên cứu trên cả nước Đến nay đã có rất nhiều côngtrình nghiên cứu về bộ phận văn học này

2.1 Các công trình sưu tầm, giới thiệu và chuyển dịch truyện thơ Nôm Tày sang tiếng Việt

Từ trước đến nay đã có nhiều tác phẩm truyện thơ Nôm Tày được sưutầm, giới thiệu và chuyển dịch sang tiếng Việt Chúng ta có thể kể đến các công

trình như: Truyện thơ Tày - Nùng (Nông Quốc Chấn giới thiệu, Nxb Văn học, 1961-1963); Nam Kim - Thị Đan (Vũ Khoanh sưu tầm, Hoàng Hưng hiệu đính;

Ty văn hóa Cao Bằng xuất bản, 1961); Hợp tuyển thơ văn Việt Nam Tập 6: Văn học dân tộc thiểu số, Quyển 1 (Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu,

Trang 9

Mạc Phi biên soạn, Nxb Văn hóa, 1962); Đính Quân Truyện thơ Tày - Nùng (Nxb Dân tộc Việt Bắc, 1963); Truyện thơ Tày - Nùng, tập 1, Hoàng An Định dịch, Hoàng Quyết hiệu đính và giới thiệu, Nxb Văn học, 1964); Tần Chu: Truyện thơ Tày, Nùng (Cần Slao Slec chú thích, Nông Phúc Tước giới thiệu, Nxb Văn hóa dân tộc, 1978); Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, Tập 6 Quyển 2: Văn học dân tộc ít người (in lần 2) ( Nông Quốc Chấn, Hoàng Thao, Hà Văn Thơ biên soạn, Nxb Văn học, 1981); Tam Mậu Ngọ: Truyện thơ Tày

(Bế Sĩ Uông và Ma Trường Nguyên sưu tầm, phiên âm và dịch chú, Sở Văn

hóa thông tin Bắc Thái xuất bản, 1983); Tuyển tập văn học các dân tộc ít người ở Việt Nam (Đặng Nghiêm Vạn chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, 1992); Nam Kim - Thị Đan: Truyện thơ Nôm dân tộc Tày (Hoàng Quyết sưu tầm, dịch và chú thích, Nxb Văn hóa dân tộc, 1994); Truyện thơ Nôm Tày (Hoàng

Quyết, Hoàng Triều Ân sưu tầm, dịch, chú thích, giới thiệu, Nxb Văn hóa

dân tộc, 2004); Hợp tuyển văn học dân gian các dân tộc Tập 1: Tày Nùng Sán Cháy (Đặng Văn Lung, Trần Thị An biên soạn, Nxb Văn hóa dân tộc, 1995); Tổng tập văn học Việt Nam (Tập 39, 40 do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên giới thiệu truyện thơ Tày, Nxb Khoa học xã hội, 2000); Chữ Nôm Tày và truyện thơ (Triều Ân chủ biên, Trung tâm nghiên cứu Quốc học xuất bản, 2003); Tử thư - Văn Thậy (Hà Thị Bình dịch và giới thiệu, Nxb Khoa học xã hội, 2005); Ba áng thơ Nôm Tày và thể loại (Triều Ân dịch và giới thiệu,

-Trung tâm nghiên cứu Quốc học xuất bản,

2004); Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, Tập 21, 22; Truyện thơ (Viện Nghiên cứu văn hóa, Nxb Khoa học xã hội, 2008)…

Các công trình này đã dịch và giới thiệu được một số truyện thơ Tày như:

Đính Quân (Hán Đính), Quảng Tân - Ngọc Lương, Trần Châu (Tần Chu), Nam Kim - Thị Đan, Truyện Chim Sáo, Lưu Đài - Hán Xuân, Tam Mậu Ngọ, Lương Nhân, Nhân Lăng, Bjoóc Lả, Chiêu Đức, Lý Thế Khanh, Nho Hương, Quảng Tân - Ngọc Lương, Truyện Nàng Kim, Truyện Nàng Hán,

Trang 10

Truyện Nàng Quyển, Truyện Nàng Ngọc Long, Truyện Nàng Ngọc Dong…

Các nhà nghiên

Trang 11

cứu cũng nhận thấy hạn chế của những bộ sách xuất bản trước là chỉ có phầnbản dịch tiếng Việt mà chưa xuất bản được bằng song ngữ (tiếng mẹ đẻ vàtiếng Việt) Hạn chế này đã dần được các bộ sách xuất bản sau khắc phục Đặc

biệt phải kể đến một bộ sách khá đồ sộ là sản phẩm của Chương trình sưu tầm, bảo quản, số hóa, nghiên cứu khai thác chữ viết cổ truyền các dân tộc thiểu số

ở Việt Nam do Viện nghiên cứu Hán Nôm chủ trì, phối hợp với Viện Dân tộc

học và Viện Từ điển học và Bách khoa thư thực hiện Chương trình đã tiến

hành sưu tầm, dịch chú, giới thiệu và xuất bản bộ Tổng tập truyện thơ Nôm các dân tộc thiểu số Việt Nam gồm 19 tập truyện thơ Nôm Tày với gần 40 tác

phẩm Trong công trình này, các tác phẩm đã được giới thiệu bằng chữ viết cổtruyền (Nôm Tày), phiên âm tiếng dân tộc và bản dịch tiếng Việt

2.2 Các công trình nghiên cứu, phê bình truyện thơ Nôm Tày

Năm 2003, Hoàng Triều Ân trong cuốn Chữ Nôm Tày và thể loại truyện thơ đã nhận định về thời điểm ra đời truyện thơ Tày: “Suy nghĩ tìm tòi truyện thơ Tày xuất hiện từ bao giờ, ta thấy có nét chung là xuất hiện từ sau khi có văn tự Nôm Tày (là thế kỉ thứ V); đi vào cụ thể từng pho truyện ta sẽ thấy sự xuất hiện khác nhau về thời điểm, ta cần đọc xem xét nội dung truyện cũng như bối cảnh lịch sử, tương quan lịch sử của truyện đó” [2; 32-33] Luận án PTS Khoa học Ngữ văn của Lê Trường Phát Đặc điểm thi pháp truyện thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam (1997) được coi là một trong số những công trình quan

trọng làm nền tảng lí luận nghiên cứu truyện thơ Nôm Tày Luận án đã đi sâutìm hiểu kết cấu cốt truyện, nhân vật và một số phương diện ngôn ngữ trongtruyện thơ các dân tộc thiểu số Nhà nghiên cứu Hoàng Triều Ân đã thể hiện sự

quan tâm đặc biệt đến truyện thơ Tày qua hai công trình Ba áng thơ Nôm Tày

và thể loại và Chữ Nôm Tày và thể loại truyện thơ (Nxb Văn học - Trung tâm

nghiên cứu Quốc học, 2003) Bằng sự am hiểu về ngôn ngữ và văn hóa Tày,

Hoàng Triều Ân đã đưa ra những nhận định mang tính khái quát: “Truyện phải

có tình tiết, có những mối quan hệ giữa các nhân vật trong truyện; thường chia

Trang 12

hai tuyến nhân vật Truyện thường dùng tự sự, có vận dụng thêm lời đối thoại, miêu tả nội tâm nhân vật, ngoại cảnh, có cả hình ảnh (nếu cần)… tập trung lại

để miêu tả được tính cách nhân vật trong truyện của hai tuyến đối lập” [3; 35] Năm 2007, tác giả Kiều Thu Hoạch trong công trình nghiên cứu Truyện Nôm lịch sử phát triển và thi pháp thể loại (Nxb Giáo dục, Hà Nội) đã chỉ ra mối

quan hệ giữa truyện thơ Nôm Kinh với truyện thơ Tày với biểu hiện là sự tươngđồng ở câu mở đầu, câu kết thúc truyện, ở phong cách ngôn ngữ thơ pha tạpkhông thuần nhất

Phan Đăng Nhật trong Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam xếp truyện

thơ vào loại hình văn học hát Ông chia truyện thơ các dân tộc ít người thành baloại đề tài: truyện thơ về tình yêu, về sự nghèo khổ và về chính nghĩa Tác giả

cũng đưa ra nhận định về truyện thơ: “Truyện thơ bắt nguồn từ dân ca và truyện kể, đã phát huy những đặc điểm về nghệ thuật của các loại hình này, do

đó vừa có khả năng diễn tả mọi tình cảm tinh vi, phức tạp, lại vừa hấp dẫn người nghe bằng phương pháp kể truyện lý thú Giữa truyện thơ miền núi và truyện thơ Nôm miền xuôi có những nét tương đồng về các mặt: tư tưởng chủ đạo, xây dựng nhân vật, kết cấu tác phẩm và các thủ pháp nghệ thuật thường dùng Truyện thơ đánh dấu một bước phát triển cao của văn học cổ truyền các dân tộc thiểu số Ở loại hình này các dân tộc đã đạt được những thành tựu xuất sắc về chất lượng cũng như về số lượng Truyện thơ đã tập hợp tinh hoa các loại, thể văn học, đồng thời cũng ảnh hưởng sâu sắc đến các loại, thể phát triển sau nó” [21; 209].

Võ Quang Nhơn thì quan niệm truyện thơ là cầu nối giữa văn học dân gian

và văn học thành văn Trong cuốn Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam tác giả đã chia truyện thơ thành 4 nhóm sau: nhóm truyện thơ gắn với sinh hoạt nghi lễ dân gian, tiêu biểu như: Khảm hải (Vượt biển); nhóm truyện thơ kế thừa truyền thống tự sự của truyện cổ dân gian các dân tộc như: Chim sáo, Kim Quế; nhóm truyện thơ kế thừa truyền thống trữ tình của thơ ca dân gian các dân

Trang 13

tộc như: Nam Kim - Thị Đan; nhóm truyện thơ thiên về thuyết giáo đạo đức của truyện thơ Nôm Kinh như: Lưu Đài - Hán Xuân, Trần Châu - Quyển Vương, Quảng Tân - Ngọc Lương Sau khi phân tích các đặc điểm thể loại, tác giả đưa

ra nhận định chung: “Truyện thơ một mặt kế thừa và phát triển truyền thống tự

sự và trữ tình của truyện cổ và thơ ca dân gian, một mặt tiếp thu ảnh hưởng của nền văn hóa bác học và đặc biệt là của văn học bác học Việt Từ những sự

kế thừa và chịu ảnh hưởng về nhiều mặt đó, các nghệ nhân dân gian và các trí thức dân tộc đã sáng tạo nên một thể loại văn học dân gian mới, với nội dung

bề thế hơn về dung lượng, với nghệ thuật được trau chuốt và hoàn thiện hơn Ở một số dân tộc ít người, thể loại truyện thơ đánh dấu bước phát triển mới của văn học dân gian Nó phản ảnh quá trình vận động, biến chuyển của văn học dân gian các dân tộc ít người, tiến tới tiếp cận và đi dần vào quỹ đạo của nền văn học thành văn của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam” [25; 393].Võ Quang Nhơn cũng cho rằng một trong những tiền đề để truyện thơ ra đời là “sự phân biệt giàu nghèo và theo đó là sự xuất hiện giai cấp và đấu tranh giai cấp” [25; 393] Đề tài của truyện thơ “đề cập đến nhiều mặt trong hiện thực xã hội của các dân tộc anh em: hoặc thân phận những đứa trẻ mồ côi; hoặc cuộc sống cực nhục của những người lao động nghèo khổ; hoặc khát vọng lập công cứu nước trả thù nhà của các chàng trai; hoặc các mốc lịch sử lớn trong đời sống các dân tộc Đặc biệt là đề tài về cuộc đấu tranh cho tự do yêu đương, cho quyền sống của người phụ nữ trong lòng xã hội cũ là một đề tài khá phổ biến.

Đó là khát vọng dân chủ thiết tha, mãnh liệt của quần chúng trong lòng xã hội phong kiến mà quyền sống con người bị chà đạp, bóp nghẹt nặng nề, được phản ánh vào trong nền văn học truyền thống các dân tộc anh em” [25; 395-

Trang 14

đánh giá cao về những đóng góp đối với việc nghiên cứu văn học các dân tộcthiểu số Việt Nam.

Bên cạnh đó còn có những công trình bước đầu nghiên cứu và đưa ra

những nhận định về thời điểm xuất hiện truyện thơ Nôm Tày như Chữ Nôm Tày và thể loại truyện thơ (Triều Ân chủ biên, Nxb Văn học, 2003); phân tích một số vấn đề về nội dung và một số yếu tố nghệ thuật như Tử Thư - Văn Thậy

(Hà Thị Bình dịch và giới thiệu, Nxb Khoa học xã hội, 2005); đưa ra nhận xét

về kết cấu truyện thơ như Truyện thơ Tày - Nùng (Nông Quốc Chấn, Nxb Văn

học, 1964)… Nhận định về giá trị truyện thơ Nôm Tày, nhà nghiên cứu Lục

Văn Pảo cho rằng: “Truyện thơ Tày Nùng là tấm gương phản ánh cuộc sống hiện thực và tâm tư nguyện vọng của dân tộc… Có thể nói truyện thơ Tày Nùng

là cái khung của văn học thành văn nơi đây Chính nó mới là những tác phẩm văn học với đúng nghĩa thực của nó” [26; 293].

Công trình Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam (gồm

23 tập), của Viện Nghiên cứu Văn hóa phối hợp với Nhà xuất bản Khoa học xãhội tổ chức biên soạn và xuất bản trong 4 năm 2007 - 2010 được đánh giá làquy mô, toàn diện và khoa học Công trình này cung cấp cho người đọc cáinhìn tổng thể nhất về khái niệm truyện thơ, những nét chung về truyện thơ, nộidung và nghệ thuật của các truyện thơ cụ thể từ những đánh giá của các nhànghiên cứu có uy tín như Nguyễn Lộc, Võ Quang Nhơn, Kiều Thu Hoạch,Phan Đăng Nhật, Lục Văn Pảo, Nông Quốc Chấn

Truyện thơ Nôm Tày còn là đối tượng nghiên cứu của một số luận văn,luận án thuộc các trường Đại học trong nước Có thể kể đến những công trình

như: Truyện thơ Nôm Tày - Điểm nối giữa văn học dân gian và văn học Tày

(Hà Thị Bích Hiền, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2000);

Nghiên cứu so sánh các truyện thơ Nôm Tày cùng cốt truyện với truyện thơ Nôm Kinh (Phạm Quốc Tuấn, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2014); Truyện thơ Lương Nhân trong đời sống văn hóa dân gian của

Trang 15

người Tày Bắc Kạn (Lương Thị Duyên, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, 2006); Sự tương đồng và khác biệt về nội dung giữa truyện thơ Tày và truyện thơ Thái (Triệu Thị Phượng, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, 2009); Không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện thơ Tày (Mông Thị Bạch Vân, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, 2011); Nghiên cứu truyện thơ Nôm Tày Lưu Tương (Triệu

Thị Thanh Hương, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên,

2018); Hình tượng người phụ nữ trong một số truyện thơ Nôm Tày (Nguyễn

Thị Hồng Hảo, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên,2019)… Nhìn chung các luận văn, luận án đã đi vào nghiên cứu các khía cạnhnội dung, nghệ thuật của truyện thơ Nôm Tày hoặc đặt truyện thơ Nôm Tàytrong cái nhìn so sánh với truyện thơ Nôm Kinh … Tất cả những nghiên cứunày ở mức độ khác nhau đã góp phần cung cấp thêm các góc nhìn đa dạng vềtruyện thơ Nôm Tày

Mặc dù trong thời gian qua, truyện thơ Nôm Tày đã được chú ý và thu hútđược sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhiều trí thức bản tộcnhưng đúng như nhận xét của tác giả Vũ Anh Tuấn, để có một công trình

“nghiên cứu chỉnh thể, hệ thống về truyện thơ Nôm Tày thì vẫn còn là một thách thức” [39, 18].

Qua khảo sát, tiếp cận với các tài liệu có liên quan, chúng tôi nhận thấyrằng truyện thơ Nôm Tày đã được nhiều học giả quan tâm, đầu tư nghiên cứu.Những phát hiện sáng tạo và quan điểm được đề cập trong các công trình thật

sự là đóng góp lớn về mặt lí luận và thực tiễn trong công tác nghiên cứu truyệnthơ Nôm Tày Tuy nhiên cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào chọn

vấn đề văn hóa ứng xử trong truyện thơ Nôm Tày trong việc giáo dục học sinh

ở trường THCS làm đối tượng nghiên cứu chính Do vậy đề tài này là một vấn

đề đáng được quan tâm và nghiên cứu

Trang 16

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ những biểu hiện của văn hóa ứng xử trong một số truyện thơNôm Tày Từ đó góp phần khẳng định giá trị của truyện thơ Nôm Tày trongnền văn học các dân tộc thiểu số nói riêng và trong văn học Việt Nam nóichung

- Làm rõ những giá trị văn hóa (văn hóa ứng xử) cần được bảo tồn, pháthuy trong đời sống xã hội của người Tày hiện nay

- Đề xuất một số biện pháp tích hợp giáo dục văn hóa ứng xử từ cáctruyện thơ Nôm Tày cho học sinh Trường THCS Hoàng Văn Thụ, huyện ChợĐồn, tỉnh Bắc Kạn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn tập trung thực hiện nhữngnhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu những vấn đề lí luận và thực tiễn có liên quan

- Khảo sát, thống kê những biểu hiện của văn hóa ứng xử trong truyệnthơ Nôm Tày

- Phân tích, đánh giá văn hóa ứng xử trong truyện thơ Nôm Tày

- Thực trạng trong giáo dục văn hóa ứng xử từ các truyện thơ Nôm Tàycho học sinh ở Trường THCS Hoàng Văn Thu, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là Văn hóa ứng xử trong một số truyện thơ Nôm Tày; chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu những nét đẹp trong văn

hóa ứng xử của con người trong các mối quan hệ gia đình và xã hội

- Vấn đề giáo dục văn hóa ứng xử từ các truyện thơ Nôm Tày cho học

Trang 17

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về phạm vi đối tượng nghiên cứu:

Truyện thơ Nôm Tày có số lượng tác phẩm rất nhiều, với thời gian vàkhuôn khổ có hạn của một luận văn thạc sĩ chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu

vấn đề văn hóa ứng xử trong một số truyện như: Nhân Lăng, Lưu Đài - Hán Xuân, Lưu Tương, Nàng Ngọc Long, Lý Lan - Thị Dung, Trương Hán - Mẫu Đơn, Lưu Bình - Dương Lễ, Nàng Quyển, Truyện Thị Đan, Nàng Ngọc Dong, Nàng Kim, Tống Trân - Cúc Hoa, Phạm Tử - Ngọc Hoa.

- Về phạm vi tư liệu nghiên cứu:

Văn bản các tác phẩm trong bộ Tổng tập truyện thơ Nôm các dân tộc thiểu số Việt Nam gồm 19 tập do Viện Khoa học xã hội Việt Nam - Viện

nghiên cứu Hán Nôm tổ chức sưu tầm, biên dịch, giới thiệu từ năm 2008 đếnnăm 2018, Nxb Khoa học xã hội xuất bản

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương phápnghiên cứu sau:

- Phương pháp tiếp cận liên ngành: đối tượng nghiên cứu của chúng tôikhông chỉ thuộc lĩnh vực văn học mà còn cần được tiếp cận từ những lĩnh vựckhác như văn hóa học, dân tộc học, xã hội học, giáo dục học Vì vậy chúng tôicần đến phương pháp tiếp cận liên ngành để đáp ứng được mục đích của đề tài

- Phương pháp khảo sát, thống kê: chúng tôi sử dụng phương pháp này

để khảo sát, thống kê những biểu hiện của văn hóa ứng xử trong các truyện thơNôm Tày

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: trên cơ sở những biểu hiện của vănhóa ứng xử, chúng tôi sẽ đi sâu phân tích để có những nhận xét, bình luận, đánhgiá phù hợp

6 Đóng góp mới của luận văn

- Đề tài góp phần làm rõ những biểu hiện của văn hóa ứng xử trongtruyện thơ Nôm Tày, từ đó thấy được thực trạng và ý nghĩa giáo dục đạo đức,giá trị văn hóa, văn học của bộ phận văn học này

Trang 18

- Đề xuất được một số biện pháp tích hợp giáo dục văn hóa ứng xử từtruyện thơ Nôm Tày trong giáo dục học sinh ở Trường THCS Hoàng Văn Thụ -huyện Chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn, từ đó góp phần nâng cao chất lượng trong côngtác giáo dục học sinh và hiệu quả dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường.

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của

luận văn được triển khai qua 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lí luận và thực tiễn có liên quan.

Chương 2: Những biểu hiện của văn hóa ứng xử trong một số truyện thơ

Nôm Tày

Chương 3: Tích hợp giáo dục văn hóa ứng xử từ truyện thơ Nôm Tày

cho học sinh trường THCS Hoàng Văn Thụ, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

Trang 19

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÓ LIÊN QUAN

1.1 Khái niệm văn hóa và văn hóa ứng xử

1.1.1 Văn hóa

Thuật ngữ “văn hóa” không còn quá xa lạ trong đời sống của con người.Trong nghiên cứu khoa học nhân văn, khái niệm văn hóa trở thành một nộidung được các học giả trao đổi, tranh luận khá sôi nổi Có nhiều quan điểmđược đưa ra tạo nên cái nhìn đa chiều về văn hóa Tùy theo lĩnh vực tiếp cận

mà người nghiên cứu sẽ đưa ra cách hiểu khác nhau về văn hóa Cho đến nay,vẫn chưa thể khẳng định khái niệm văn hóa nào là đúng nhất, chuẩn nhất vàđược sử dụng thống nhất trong tất cả các lĩnh vực Có những khái niệm mô tảbản chất, nhưng cũng có khái niệm diễn giải tính chất lịch sử, có khi khái niệmlại chỉ về cách ứng xử hay nếp sống của con người… Theo số liệu năm 1952được hai nhà văn hóa Mỹ A.L Kroeber và K Klaxon công bố thì có tới 164định nghĩa về văn hóa Theo Phan Ngọc thống kê thì có hơn 400 định nghĩa vềvăn hóa

Ở Việt Nam, văn hóa trở thành đối tượng được nghiên cứu một cách bàibản, khoa học và hệ thống bắt đầu từ nửa đầu thế kỷ XX Những nhà khoa học

mở đầu cho việc nghiên cứu văn hóa là Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên,Trần Quốc Vượng, Chu Xuân Diên Nhiều khái niệm được đưa ra có tínhthuyết phục Trong đó phải kể đến khái niệm của nhà nghiên cứu Trần Ngọc

Thêm Trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam, ông cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [33, 10] Cách hiểu này cho thấy văn hóa là sản

phẩm do con người sáng tạo ra và có mối quan hệ chặt chẽ với con người Cóthể hiểu một cách khái quát như sau: Văn hóa là hoạt động của con người cảibiến thế giới tự nhiên theo hướng tích cực, làm ra các giá trị vật chất và tinh

Trang 20

thần, thể hiện tài năng, sự sáng tạo của con người Văn hóa phản ánh cuộc sốngcủa con người và sự phát triển của xã hội.

1.1.2 Văn hóa ứng xử

Trong cuốn Văn hoá giao tiếp, nhà nghiên cứu Phạm Vũ Dũng viết: “Văn hoá ứng xử là hệ thống tinh tuyển những nếp ứng xử, khuôn mẫu ứng xử, chuẩn mực ứng xử, trong mối quan hệ ứng xử giữa con người và các đối tượng khác nhau, thể hiện qua ngôn ngữ, hành vi, nếp sống, tâm sinh lý… trong quá trình phát triển và hoàn thiện đời sống, đã được tiêu chuẩn hoá, trở thành chuẩn mực của cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng, toàn bộ xã hội, thừa nhận và làm theo” [10, 27] Cũng nói về văn hóa ứng xử nhưng nghiên cứu dưới góc độ tâm

lí học, tác giả Đỗ Long nêu quan điểm“Văn hóa ứng xử là một hệ thống thái

độ, hành vi được xác định để xử lý các mối quan hệ giữa người với người trên các căn cứ pháp luật, đạo lý nhằm thúc đẩy nhanh sự phát triển của cộng đồng người của xã hội” [20, 73] Trong đời sống, văn hóa ứng xử thể hiện ở hai hình

thức cụ thể: một là cách xử sự của con người thông qua hành vi, thái độ đối vớingười khác, đối với xã hội và môi trường xung quanh (hình thức trực tiếp); hai

là thông qua các ngành khoa học như triết học, văn học, nghệ thuật nội dungvăn hóa ứng xử của con người được phản ánh lại (hình thức gián tiếp) Dù đượcthể hiện dưới hình thức nào thì văn hoá ứng xử cũng phản ánh cách xử sự củacon người đối với con người và môi trường sống xung quanh mình Nó mangtính dân tộc, tính kế thừa, được bổ sung tạo nên sự phong phú và đa dạng

Tóm lại, văn hóa ứng xử là là một hệ thống các quy tắc ứng xử chuẩn mực

về hành vi, thái độ của con người đối với môi trường tự nhiên và xã hội Thôngqua văn hóa ứng xử có thể biết được sự phát triển của một quốc gia, một xã hộihay một tộc người Văn hóa ứng xử là thước đo phản ánh tư duy, trình độ nhậnthức, cách xử thế của con người

Vấn đề giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh ở trường THCS

Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới

chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nêu rõ: “Đổi mới chương

Trang 21

trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người

và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng nề về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh”.

Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đối với môn Ngữ Văn cũng xác định

mục tiêu giáo dục học sinh là có ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc, góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị văn hoá Việt Nam; có tinh thần tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và khả năng hội nhập quốc tế Mục tiêu chương

trình được xây dựng trên những cơ sở rất khoa học phù hợp đặc điểm tâm lí lứatuổi Học sinh cấp THCS có độ tuổi từ 11 – 14 tuổi, lứa tuổi này còn gọi là tuổithiếu niên – độ tuổi có vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành vàphát triển nhân cách của con người Đây là thời kì chuyển giao từ tuổi thơ sangtuổi trưởng thành, các em có nhiều sự thay đổi về thể chất, tâm lí, sinh lí…Được giáo dục, định hướng tích cực trong giai đoạn này, học sinh sẽ trưởngthành về mọi mặt, góp phần hoàn thiện nhân cách của con người Như vậy, vấn

đề giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh ở trường THCS phải dựa vào mục tiêucủa chương trình giáo dục phổ thông và đặc điểm tâm lí lứa tuổi của học sinh

1.2 Vài nét về văn hóa ứng xử trong văn học trung đại Việt Nam

Đối với mỗi quốc gia, giá trị của nền văn học chính là việc phản ánh đầy

đủ lịch sử tinh thần, lịch sử tâm hồn của dân tộc, của đất nước Đối với nền vănhọc Việt Nam điều này càng thể hiện một cách rõ nét Trải qua bốn nghìn nămvăn hiến, văn học Việt Nam thể hiện phong phú đời sống vật chất, tinh thần vàvăn hóa ứng xử của người Việt Nền văn học đó đậm đà bản sắc dân tộc, nóđược hình thành từ đời sống của nhân dân, từ quá trình dựng và giữ nước củadân tộc Nó ghi lại những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, được truyền

từ thế hệ này sang thế hệ khác và ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ, nhận thức củangười dân Việt Nam

Trang 22

Song hành cùng sự phát triển của nền văn học, văn hóa ứng xử của conngười đối với tự nhiên, ứng xử giữa người với người, ứng xử của con người với

xã hội đã được văn học ghi lại dưới nhiều hình thức phong phú bắt đầu từ vănhọc dân gian nối tiếp với văn học trung đại cho đến văn học hiện đại Văn hóaứng xử của con người trong văn học đặc biệt được chú ý để lại cho hậu thếnhững bài học về cách đối nhân xử thế, cách sống đẹp, hài hòa trong mối quan

hệ với tự nhiên và xã hội

Trong văn học trung đại, văn hóa ứng xử với thiên nhiên, con người, xãhội được thể hiện phong phú dưới ngòi bút của các tác giả Đặc biệt là văn hóaứng xử giữa người với người đã được thể hiện sâu sắc, trở thành những tấmgương, những bài học có ý nghĩa giáo dục lớn Văn học trung đại Việt Nam rất

đề cao nét đẹp văn hóa ứng xử giữa con người với con người Rõ nét nhất làvăn học phản ánh văn hóa ứng xử trong mối quan hệ gia đình và văn hóa ứng

xử với các mối quan hệ xã hội

Gia đình là cội nguồn vun đắp tâm hồn mỗi con người Gia đình chính làtrường học lớn nhất của mỗi con người vì luôn dạy chúng ta những phẩm chấttốt đẹp và cách ứng xử đúng mực với những người xung quanh Trong mốiquan hệ gia đình con người luôn cảm nhận được giá trị của tình yêu thương, sựgắn bó giữa các thành viên trong các mối quan hệ vợ - chồng, cha mẹ - con cái,

bề dưới với bề trên… Văn học trung đại Việt Nam phản ánh văn hóa ứng xửtrong tình cảm vợ chồng rất giản dị mà cảm động Đó là những người vợ hếtlòng vun vén cho hạnh phúc gia đình, chịu nhận về mình bao nỗi thiệt thòi để

chồng có thể yên tâm hoàn thành công việc Nhân vật Vũ Nương trong Chuyện Người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ để lại trong lòng người đọc sự cảm

thương cho số phận oan khuất của nàng nhưng đồng thời lại làm sáng ngời lên

vẻ đẹp phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là nét đẹp văn hóa ứng

xử trong cuộc sống vợ chồng Vũ Nương “tính tình đã thùy mị, nết na lại thêm

tư dung tốt đẹp” khi được Trương Sinh cưới về làm vợ, biết chồng mình “có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức” nàng đã “luôn giữ gìn khuôn

Trang 23

phép, không từng để vợ chồng phải đến thất hòa” Cách mà Vũ Nương xây

dựng gia đình trong ấm ngoài êm đó thật đáng được người ta nể phục, cách ứng

xử của nàng luôn nhẫn nhịn, biết giữ mình, giữ gìn vun vén cuộc sống gia đìnhhạnh phúc Khi tiễn chồng đi lính lời dặn dò của nàng vô cùng xót thương, tìnhnghĩa, ân cần, chu đáo Nàng không mong vinh hiển mà chỉ mong chồng trở vềbình an Nàng cảm thông những vất vả, gian lao của chồng nơi biên ải xa xôi.Những lời dặn dò, đưa tiễn khi chia tay chồng ngọt ngào xúc động lòng ngườicủa nàng thể hiện sự khéo léo trong ứng xử, làm vững lòng người đi Phẩm chấttốt đẹp của Vũ Nương còn được Nguyễn Dữ tái hiện trong hình ảnh người vợthủy chung, luôn thương nhớ chồng Khi bị chồng vì hiểu lầm mà ruồng rẫy,mắng chửi, đánh đập, đuổi đi, Vũ Nương vẫn cư xử phải phép Nàng chỉ biếtkhóc, phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình, nàng hết lòng tìm cách hàngắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ.Nàng đau đớn tuyệt vọng, đànhcam chịu số phận khi giải thích mà Trương Sinh không lắng nghe Đến cùngcực nỗi đau nàng than oán, phẫn uất, xin thần sông chứng giám nỗi oan khuất

và sự trong sạch vô tội của mình để tìm đến cái chết Nguyễn Dữ cũng nhưngười đọc luôn dành cho Vũ Nương một sự trân trọng, cảm thông và đề caophẩm giá của người phụ nữ trong xã hội phong kiến Hình ảnh người vợ thủychung, yêu thương chồng, hy sinh vì chồng trong văn học trung đại không quá

xa lạ Đó là một đề tài mà các tác giả trung đại dành nhiều tình cảm Trong xãhội phong kiến thân phận người phụ nữ nhỏ bé, thấp hèn, chỉ biết hy sinh mà ítđược chồng mình sẻ chia, ghi nhận những công lao Nhưng Tú Xương dườngnhư là một người chồng mang một tư tưởng mới, khác hẳn với những quanniệm phụ nữ nhất nhất phải nghe chồng “xuất giá tòng phu” đã ăn sâu bám rễvào suy nghĩ của nam nhân xưa Tú Xương mạnh dạn thể hiện tình cảm yêuthương, trân trọng người vợ của mình, điều này xưa nay hiếm gặp trong vănhọc trung đại Dưới cái nhìn của người chồng, công việc lao động của vợ thậtvất vả, cực nhọc:

Trang 24

“Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

(Thương vợ - Tú Xương)

Bà Tú đã thay chồng cáng đáng công việc nuôi sống gia đình bằng “buôn bán ở mom sông” để chồng có thể yên tâm việc đèn sách, thi cử “Thân cò” lặn lội khi ở mom sông lúc nơi quãng vắng gợi hình ảnh người vợ, người mẹ ấy đã

phải vất vả ngược xuôi lo lắng cơm áo gạo tiền cho gia đình Tú Xương không

đề cao cái “tôi” của nam nhân, ông tự nhận mình là ông chồng không giúp đỡđược cho vợ về kinh tế trong gia đình Lòng thương, sự cảm kích của ông dànhcho vợ chính là sự ghi nhận công lao, vai trò của vợ trong gia đình

Cách ứng xử trong mối quan hệ gia đình giữa cha mẹ và con cái, anh chị

em cũng là một nét văn hóa Từ xa xưa ông cha đã đúc rút hàng ngàn câu nóihay về cách ứng xử trong gia đình để răn dạy con cháu như:

Trang 25

nước mắt nhìn Thúy Kiều bán thân mình chuộc cha và em Nỗi đau ấy như xétâm can người làm cha làm mẹ:

“Thương tình con trẻ cha già Nhìn nàng ông những máu sa ruột dàu”

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Còn Thúy Kiều, nàng cho rằng là con luôn phải giữ đạo hiếu, nên khi giađình gặp nạn nàng đã quyết bán mình, dù không biết sau này cuộc đời mình sẽtrôi nổi ra sao:

“Để lời thệ hải minh sơn Làm con trước phải đền ơn sinh thành Quyết tình nàng mới hạ tình

Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha”

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Trong mười lăm năm lưu lạc dặm trường lúc nào nàng cũng canh cánhtrong lòng nỗi lo về cha mẹ, ai sẽ thay nàng chăm sóc mẹ cha, ai quạt cho cha

mẹ những ngày hè oi nóng, ai ủ ấm cho cha mẹ những ngày đông giá Quênthân phận mình bị vùi dập, nổi trôi Thúy Kiều chỉ nghĩ đến gia đình, cha mẹ:

“Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?

Sân Lai cách mấy nắng mưa,

Có khi gốc tử đã vừa người ôm”

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Mối quan hệ giữa anh chị em trong gia đình được văn học trung đại đề cậpkhá nhiều Đó là tình cảm yêu thương, gắn bó, quan tâm, chia sẻ của anh chị

em dành cho nhau Truyện Kiều của Nguyễn Du nói về sự hy sinh của Thúy

Kiều - người chị cả trong gia đình, khi nhà Kiều gặp tai biến Kiều sẵn sàngđứng ra nhận trách nhiệm cáng đáng gia đình, bán mình chuộc cha và em, hy

Trang 26

sinh mối tình trong sáng, đẹp đẽ với Kim Trọng, hy sinh tuổi thanh xuân đểThúy Vân tiếp tục được sống một cuộc sống không vướng bụi trần, để VươngQuan được trở về cùng cha mẹ Nhận lấy thiệt thòi về mình vì cha mẹ, vì các

em, “sao cho cốt nhục vẹn tuyền”có người con nào, người chị nào làm tốt được

hơn Kiều? Cũng là một sự hy sinh, Thúy Vân nhận lời với chị nối duyên cùngKim Trọng để yên lòng chị dù biết rằng Kim Trọng và Thúy Kiều có lời thềnon hẹn biển

Trong truyện Nôm Song Tinh, nhân vật Thể Vân là em nuôi của Nhụy

Châu đã dành cho chị tình cảm kính trọng, yêu mến, hy sinh vì chị Biết NhụyChâu bị ép vào kinh thành không hẹn ngày trở lại, Thể Vân gánh vác việc giađình cho Nhụy Châu, nàng hết lòng chăm sóc cha mẹ già, nối duyên với SongTinh, xót xa cho cuộc đời hồng nhan bạc mệnh của Nhụy Châu khi bỏ thân xácnơi xa xôi Có thể thấy nét chung trong văn hóa ứng xử giữa anh chị em tronggia đình đó là tình thương yêu, kính trọng, đoàn kết, hy sinh Là em thì nghe lờidạy bảo của anh chị, là anh chị thì yêu thương em, nhường nhịn và hy sinh vì

em Đó cũng là nét văn hóa đẹp của dân tộc Việt Nam

Sống trong xã hội con người cần phải dung hòa trong các mối quan hệ.Bởi chẳng ai có thể tồn tại mà không có sự liên quan gì với xã hội, cộng đồng.Người Việt Nam xưa nay rất coi trọng tập thể, coi trọng cộng đồng và luôn xâydựng mối quan hệ tốt đẹp với hàng xóm láng giềng, bạn bè, thầy trò, chủ tớ

Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu gửi gắm những triết lí về

đạo đức của con người, cùng với đó có bao bài học được rút ra về cách ứng xửtrong mối quan hệ bạn bè Nhân vật chính của truyện là Lục Vân Tiên, mộtchàng trai trẻ văn võ song toàn, chính trực, trọng nghĩa khinh tài Trên đườngđến kinh thành dự thi Vân Tiên có gặp những người bạn đồng hành là Vương

Tử Trực và Hớn Minh Đây là những người có chung chí hướng với Vân Tiên,đều hăm hở muốn lập công giúp đời Thế nhưng cuộc sống không thuận theo ýngười, khoa thi năm đó Lục Vân Tiên nhận được tin mẹ mất nên bỏ thi về quê

Trang 27

Võ Công lừa bỏ vào hang sâu May mắn thay Vân Tiên gặp lại người bạn cũHớn Minh cũng đang phải trốn lẩn lút trong rừng Hớn Minh đón bạn về chămsóc, không nề hà sự phiền phức cho bản thân Còn Vương Tử Trực khi đỗ trạngnguyên vẫn không quên những người bạn xưa Tử Trực tìm cách hỏi han thôngtin về Lục Vân Tiên, khi Võ Công ngỏ ý muốn gả con gái cho Tử Trực, chànggiận giữ, vừa thương bạn mình, vừa hận lối ăn ở bạc của cha con Võ Công nênkhông tiếc lời chửi mắng

“ Vợ Tiên là Trực chị dâu Chị dâu em bạn dám dâu lỗi nghì Chẳng hay người đọc sách chi Nói sao những tiếng dị kì khó nghe”

(Truyện Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu)

Tình bạn của họ không bị ngăn cách bởi vai vế xã hội, dù Tử Trực đã làmệnh quan triều đình còn Vân Tiên và Hớn Minh chỉ là thứ dân nhưng khi gặplại nhau cả ba người vẫn thân thiết bên nhau:

“Hai người gặp lại hai người Đều vào một quán vui cười ngả nghiêng”

(Truyện Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu)

Tình bạn ấy vì xuất phát từ tấm chân tình nên tồn tại bền vững Cách ứng

xử của những người bạn đó thể hiện văn hóa, sự hiểu biết, tôn trọng, yêu quý

Vì vậy tình bạn bè của họ được nhiều người ngưỡng mộ và ngợi ca

Nguyễn Khuyến cũng có một tình bạn trong sáng, chân thành với bạn

mình Trong Bạn đến chơi nhà mọi cung bậc cảm xúc của những người bạn lâu

ngày mới được gặp nhau, thể hiện mộc mạc mà chân thành từ sự mừng rỡ khibất ngờ gặp bạn đến lúng túng, ngại ngùng khi thiếu đồ tiếp bạn và cuối cùng là

vỡ òa trong niềm vui tái ngộ:

“Đầu trò tiếp khách, trầu không có Bác đến chơi đây ta với ta”

(Bạn đến chơi nhà - Nguyễn Khuyến)

Trang 28

Cách tiếp bạn quá đỗi thật thà, chân chất, có chút hài hước, dí dỏm: Nhà

cái gì cũng có từ gà, cá, cải, bầu, mướp chỉ là mọi thứ nó còn đang độ lớn, dang dở chưa thể đem ra mời khách được Ngay cả miếng trầu để mở đầu cho

câu chuyện cũng không có Nhưng cái có ở đây mới thật đặc biệt, đó là có tình

bạn tấm, có tấm chân tình của bác và tôi, của chúng ta: “Bác đến chơi đây ta với ta” Lúc này không còn phân biệt chủ - khách nữa, ta với ta là sự hòa hợp

làm thành tình bạn thâm giao Một cách ứng xử khiến chúng ta ngộ ra nhiềuđiều trong tình bạn, rằng vật chất đôi khi chỉ là những vật ngoài thân, phùphiếm, cái đẹp nhất của tình bạn là ở sự thấu hiểu, cảm thông, trân quý

Nhìn chung, văn học trung đại đã phản ánh một cách phong phú văn hóaứng xử giữa con người với con người trong các mối quan hệ xã hội Đọc, họcnhững nét đẹp trong văn hóa ứng xử của tiền nhân sẽ luôn là bài học quý đểmỗi con người tự hoàn thiện hơn phẩm chất của mình

1.3 Khái quát về truyện thơ Nôm Tày

1.3.1 Khái niệm

Theo khảo sát của các nhà nghiên cứu thì chữ Nôm Tày xuất hiện từ rấtsớm (khoảng thế kỉ V), phổ biến vào khoảng thế kỉ X và trở nên hoàn thiện vàokhoảng thế kỉ XVI - XVII Sự ra đời của chữ Nôm Tày đánh một dấu mốc quantrọng cho sự xuất hiện của truyện thơ Nôm Tày

Về khái niệm truyện thơ, các nhà nhiên cứu cũng đã đưa ra nhiều quan

điểm khác nhau Lại Nguyên Ân cho rằng truyện Nôm Tày là “một thể loại truyện thơ của văn học tiếng dân tộc Tày, được viết bằng chữ Nôm Tày Các truyện này đều dùng thơ tiếng Tày, thường là thể câu thơ bảy chữ, vần lưng”

[1, 662] Theo quan niệm của Phan Đăng Nhật thì truyện thơ của dân tộc thiểu

số tương đương với khái niệm truyện Nôm của người Kinh: “Nếu ở người Kinh

có truyện thơ Nôm thì ở các dân tộc thiểu số (DTTS) có một loại hìnth tương đương: truyện thơ Đó là những tác phẩm tự sự dưới hình thức thơ ca Ở các DTTS không cần phải phân biệt với tính bác học và hình thái ghi chép bằng

Trang 29

chữ Hán Các dân tộc thiểu số nước ta có một kho tàng truyện thơ phong phú ” [39, 399] Nhà nghiên cứu Vũ Anh Tuấn thì cho rằng truyện thơ là “một loại văn học dân gian đã thành văn và mới chỉ đặc biệt phát triển trong vài ba thế kỉ trở lại đây” [39, 12] Bên cạnh đó có thể kể đến quan niệm về truyện thơ của các tác giả Bế Sĩ Uông, Ma Trường Nguyên như: “Truyện thơ là thể loại phát triển cuối cùng và cũng là đỉnh cao của dân ca Tày Truyện thơ là thể thơ đã có sự chặt chẽ về vần điệu, và với nghệ thuật của thể này, đó là một thể thơ độc đáo của dân tộc Tày Về cách gieo vần chữ thứ bảy câu trên vần với chữ thứ năm câu dưới và cứ tiếp tục như thế với số chữ ổn định là bảy chữ, thích hợp với giọng kể chuyện, dễ nhớ cho người nghe, dễ đọc cho người kể”

[39, 16] Nhà nghiên cứu Phan Đăng Nhật thì cho rằng truyện thơ là một lời hát

dài và “Truyện Nôm miền xuôi cũng như truyện thơ miền núi, đều là bước nối giữa văn học dân gian và văn học thành văn, đều mang tính chất của cả hai loại hình nói trên” [39, 20] Nhà nghiên cứu Võ Quang Nhơn cũng coi truyện thơ là “một dấu nối giữa văn học truyền miệng và văn học thành văn” và khẳng định truyện thơ ở nhóm truyện thiên về khuynh hướng thuyết giáo đạo đức “đã thể hiện khá rõ tính chất thành văn, tiếp cận với đặc điểm thi pháp của văn học bác học và đánh dấu một bước phát triển mới của văn học dân gian” [39, 20] Trong công trìnhTruyện thơ Tày - Nguồn gốc, quá trình phát triển và thi pháp thể loại tác giả Vũ Anh Tuấn cho rằng có thể chia quá trình phát triển của truyện thơ Tày thành ba thời kì cụ thể: thời kì đầu tiên (khoảng trước thế kỉ

XVII) là những sáng tác về chủ đề tình yêu có chi tiết, mô típ của thơ ca nghi lễ

Tày; thời kì thứ hai (khoảng từ thế kỉ XVII đến nửa đầu thế kỉ XVIII) chủ yếu viết về đề tài nghèo khổ, ý thức cá nhân về quyền sống được nâng cao hơn, thời

kì thứ ba (khoảng từ giữa thế kỉ XVIII trở đi) chủ yếu viết về đề tài chính nghĩa

có tính giáo thuyết về đạo lí

Qua tổng hợp ý kiến của các nhà nghiên cứu như trên, chúng ta có thểthấy rằng truyện thơ Nôm Tày là một thể loại đặc sắc của văn học dân tộc

Trang 30

Tày, được ghi chép bằng chữ Nôm Tày, là những tác phẩm tự sự được diễnđạt bằng hình thức thơ Sự phong phú của truyện thơ Nôm Tày đã góp phầntạo nên diện mạo truyện thơ của các dân tộc thiểu số nói riêng và nền vănhọc Việt Nam nói chung.

1.3.2 Nội dung và nghệ thuật

Truyện thơ Nôm Tày là một trong những thành tựu văn học nổi bật củadân tộc Tày Truyện thơ Nôm Tày có số lượng tác phẩm khá phong phú, nộidung phản ánh muôn mặt đời sống xã hội của đồng bào dân tộc Tày Truyệnthơ Nôm Tày thể hiện chân thực cuộc sống vật chất và tinh thần của người Tày.Các tác phẩm có nội dung phản ánh cuộc sống sinh hoạt và tâm tư tìnhcảm của người dân Tày và được viết bằng thơ bảy chữ, chữ thứ bày cuối câutrước vẫn với chữ thứ năm của câu sau

Truyện thơ Nôm Tày phản ánh chân thực xã hội người Tày với văn hóabản tộc, thế giới quan, nhân sinh quan, phong tục tập quán… của đồng bào dântộc Tày Truyện thơ Nôm Tày đề cập đến những vấn đề gắn liền với đời sốngcủa con người trong xã hội Thường là sự đấu tranh chống lại cường quyền, thểhiện thái độ lên án, tố cáo chế độ xã hội phong kiến đồng thời thể hiện khátvọng bảo vệ lẽ phải, bảo vệ công lí Truyện thơ Nôm Tày còn phản ánh ước mơ

về quyền sống, về việc bảo vệ nhân phẩm và giá trị của con người Mong muốnđược sống trong một xã hội bình an, được tự quyết định hạnh phúc lứa đôi, bảo

vệ được tình yêu của mình là một nội dung quan trọng được thể hiện trong cáctruyện thơ Nôm Tày Đó là những khát vọng hoàn toàn chính đáng của conngười Các tác giả người Tày đã gửi gắm tư tưởng của dân tộc qua những sángtác truyện thơ Nôm Hầu hết trong các tác phẩm đều thể hiện quan niệm công

lý phải được thực thi, chính nghĩa thắng gian tà, ở hiền gặp lành, cái thiện thắngcái ác, cái ác luôn bị trừng trị

Về nghệ thuật, truyện thơ Nôm Tày mặc dù tiếp nhận thành tựu của truyệnthơ Nôm Kinh nhưng vẫn mang tính sáng tạo Ngay cả ở những tác phẩm mượn

Trang 31

cốt truyện, nhân vật của truyện thơ Nôm Kinh nhưng nhiều tình tiết trongtruyện được thay đổi, đặc biệt là kết cấu có sự cải biến khác biệt Nghệ thuậtmiêu tả nhân vật trong truyện thơ Nôm Tày cũng thật sáng tạo Đó là nghệthuật miêu tả ngoại hình nhân vật và nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm trạngnhân vật Sự sáng tạo trong nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm trạng nhân vật của

truyện thơ Nôm Tày được tác giả Vũ Anh Tuấn nhận xét như sau: “Thậm chí,

do ý thức tự giác tộc người trong quá trình sáng tạo các giá trị văn hóa dân gian các nghệ nhân (và sau này là các nho sĩ bình dân bản tộc), ở một mức độ nhất định, họ còn tỏ ra vượt trội các tác giả truyện Nôm bình dân của tộc người Kinh trong việc miêu tả, khắc họa tính cách, tâm trạng nhân vật chính trong thế giới nhân vật truyện thơ Tày Không những thế, họ còn sáng tạo lại các nhân vật chính trong truyện Nôm Kinh (Phạm Tải - Ngọc Hoa, Tống Trân - Cúc Hoa, Hoàng Trừu, Lý Công, Phương Hoa,…) trở thành những nhân vật có thể tính cách và điệu tâm hồn Tày rất tự nhiên” [39,180].

Một thành công trên phương diện nghệ thuật của truyện Thơ Nôm Tày làngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật Ngôn ngữ người kể chuyện trongcác truyện thơ Nôm Tày có tính đa giọng điệu Có lúc người kể chỉ đứng ngoàicâu chuyện để kể lại, nhưng có khi lời của người kể và nhân vật là một Cònngôn ngữ nhân vật thể hiện sự mộc mạc, bình dị, thẳng thắn, đúng tính cáchngười miền núi nhưng đôi chỗ còn thô ráp, không gọt rũa, thiếu văn chương,hình ảnh

Về thể thơ, truyện thơ Nôm Tày viết theo thể thất ngôn trường thiên (chữthứ bảy câu trên vần với chữ thứ 5 câu dưới), cách viết này phù hợp với giọngđiệu tâm tình sâu lắng đồng thời nó giúp tác giả phát triển cốt truyện một cáchnhẹ nhàng, hấp dẫn

1.4 Vài nét về Trường THCS Hoàng Văn Thụ, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

Trường THCS Hoàng Văn Thụ, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn được thànhlập vào ngày 01/9/1987, đầu tiên có tên là Trường chuyên trung tâm, theo QĐ

Trang 32

số 62/QĐ-UBND ngày 7 tháng 4 năm 1988 của UBND huyện Chợ Đồn Đếnngày 29/6/1995 được đổi tên là trường phổ thông THCS Năng khiếu theo QĐ

số 438/TCCB ngày 29 tháng 6 năm 1995 của Giám đốc Sở Giáo dục và Đàotạo Bắc Thái Do yêu cầu đổi mới của toàn ngành giáo dục cấp THCS không cótrường chuyên, nên từ ngày 20/8/1997 đến nay trường mang tên là trườngTHCS Hoàng Văn Thụ theo QĐ số 169/TCĐT ngày 8 tháng 8 năm 1997 củaGiám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Kạn Trải qua quá trình xây dựng vàphát triển, nhà trường thay đổi địa điểm 02 lần từ tổ 3 Đồng Tâm chuyển đến tổ

8 Đồng Ngọc Thị trấn Bằng Lũng Hàng năm nhà trường được UBND huyệncho phép xét chọn đầu vào cho học sinh đầu cấp, nhà trường có đội ngũ giáoviên đạt chuẩn và trên chuẩn, nhiệt tình, yêu nghề đã đào tạo được nhiều thế hệhọc sinh ra trường có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức văn hóa, nhiều họcsinh đã thi đỗ vào trường THPT chuyên của tỉnh, trường THPT Vùng cao ViệtBắc và nhiều trường THPT khác Trường có cơ sở vật chất khang trang với dãylớp học 3 tầng có 12 phòng học, cùng với nhà hiệu bộ 2 tầng, nhà đa năng, nhàcông vụ, nhà Thư viện, phòng học bộ môn, có khuôn viên cây cảnh xanh, sạch,đẹp đáp ứng đủ tiêu chuẩn của trường chuẩn quốc gia Công trình này khởicông ngày 21/12/2012 do Công ty cổ phần Him Lam xây tặng Năm học 2013

- 2014 trường được công nhận là trường THCS đầu tiên đạt chuẩn Quốc giacủa huyện Chợ Đồn Nhiều năm liền trường được công nhận là đơn vị dẫn đầubậc học của huyện, được Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Kạn tặng bằng khen vàđược Bộ Giáo dục tặng cờ thi đua

Năm học 2019 - 2020, trường THCS Hoàng Văn Thụ có 244 học sinhđược chia thành 4 khối lớp từ lớp 6 đến lớp 9, mỗi khối có 2 lớp Đội ngũ cán

bộ giáo viên, nhân viên gồm 21 thầy cô, được chia thành hai tổ Khoa học tựnhiên và Khoa học Xã hội Công tác giảng dạy luôn được nhà trường chú trọngđầu tư Thực hiện tinh thần nghị quyết 29/NQ-TW về đổi mới căn bản, toàndiện giáo dục và đào tạo, nhà trường làm tốt việc đổi mới phương pháp dạyhọc, kĩ thuật dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá Xây dựng các chuyên đề dạy

Trang 33

học tích hợp theo chủ đề, đem lại kết quả khả quan trong công tác nâng caochất lượng giáo dục của nhà trường.

Việc giáo dục đạo đức học sinh được nhà trường đặc biệt quan tâm Côngtác Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh phát huy hiệu quả, học sinh làm tốt

Năm điều Bác Hồ dạy chính vì vậy hình thành cho học sinh những phẩm chất

đáng quý như yêu nước, nhân ái, đoàn kết, trung thực, trách nhiệm Từ nhữngphẩm chất tốt đẹp trên học sinh ý thức được cách ứng xử với môi trường xungquanh gồm môi trường tự nhiên và con người trong xã hội Giáo viên đã chủđộng lồng ghép, tích hợp những nội dung giáo dục đạo đức, giáo dục văn hóaứng xử vào trong các hoạt động tập thể như sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp,liên hệ trong các bài giảng trên lớp, lồng ghép ở các hoạt động ngoại khóa Tuynhiên tại trường THCS Hoàng Văn Thụ, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn giáoviên chưa xây dựng được những chuyên đề bài bản, khoa học về giáo dục vănhóa ứng xử từ các tác phẩm văn học Việt Nam nói chung và truyện thơ NômTày nói riêng cho học sinh Điều này cũng thôi thúc chúng tôi nghiên cứu mộtcách nghiêm túc về những giá trị tốt đẹp trong văn hóa ứng xử ở truyện thơNôm Tày, từ đó vận dụng để giáo dục học sinh ở trường THCS Hoàng VănThụ, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1 của luận văn, chúng tôi đã đề cập đến một số vấn đề cơbản về khái niệm văn hóa, văn hóa ứng xử, văn hóa ứng xử trong văn học trungđại Việt Nam, khái quát về truyện thơ Nôm Tày và giới thiệu vài nét về TrườngTHCS Hoàng Văn Thụ, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy có nhiều quan điểm khác nhau về văn

hóa nhưng nhìn chung các quan niệm khá đồng nhất ở điểm coi “văn hóa” là

sản phẩm do con người sáng tạo ra Sản phẩm đó là những giá trị về mặt vậtchất và tinh thần Nó được hình thành từ sự lao động sáng tạo của con người

trao đổi với tự nhiên và xã hội “Văn hóa ứng xử” là một phạm trù của văn hóa.

Trang 34

Nó là những quy tắc ứng xử phù hợp với chuẩn mực của xã hội Mỗi quốc gia

có một nét đẹp văn hóa riêng không thể đồng nhất, trộn lẫn Vì vậy văn hóa củaquốc gia, khu vực nào cũng đáng quý, đáng trọng

Nghiên cứu văn hóa ứng xử trong văn học trung đại Việt Nam chúng tôi

có thể khái quát thành những nét ứng xử đẹp trong mối quan hệ giữa con ngườivới con người, được cụ thể qua mối quan hệ giữa mọi người trong gia đình, conngười trong các mối quan hệ xã hội… Đó thực sự là những bài học quý có tínhchất giáo dục và hoàn thiện nhân cách cho con người Việc tìm hiểu những giátrị tốt đẹp về văn hóa ứng xử trong các tác phẩm truyện thơ Nôm Tày sẽ manglại cho người đọc một cái nhìn đầy đủ hơn về đời sống tinh thần của ngườiđồng bào dân tộc miền núi cũng như lan tỏa những giá trị nhân văn đến ngườiđọc Đồng thời cũng giúp cho chúng tôi có cách định hướng phù hợp khi xâydựng kế hoạch tích hợp giáo dục văn hóa ứng xử từ truyện thơ Nôm Tày chohọc sinh trường THCS Hoàng Văn Thụ, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

Trang 35

Chương 2 NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG MỘT SỐ

TRUYỆN THƠ NÔM TÀY

Truyện thơ Nôm Tày là một bộ phận đặc biệt của văn học Việt Nam nóichung và văn học dân tộc thiểu số nói riêng Có thể nói, truyện thơ Nôm Tày làmột trong những mảng thể loại văn học tiêu biểu của đồng bào dân tộc Tày với

số lượng tác phẩm khá phong phú, nội dung phản ánh chân thực và sinh độngđời sống xã hội của đồng bào dân tộc Tày trong lịch sử Những giá trị văn học,văn hóa đó cần được bảo tồn và phát huy trong đời sống hiện nay

Các tác phẩm truyện thơ Nôm Tày góp phần thể hiện những giá trị chânthiện mĩ, hướng con người đến lối sống tích cực, nhân văn Một trong nhữnggiá trị tiêu biểu mà truyện Nôm Tày đem lại có ý nghĩa giáo dục to lớn đối vớicon người đó là văn hóa ứng xử Cụ thể là văn hóa ứng xử trong gia đình (thểhiện trong mối quan hệ cha mẹ - con cái; quan hệ vợ chồng; quan hệ anh chịem) và văn hóa ứng xử ngoài xã hội (thể hiện trong mối quan hệ giữa bề dướivới bề trên; quan hệ bạn bè; quan hệ giữa người chịu ơn và người làm ơn)

2.1 Văn hóa ứng xử trong gia đình

2.1.1 Văn hóa ứng xử trong mối quan hệ cha mẹ - con cái

Việt Nam là một quốc gia chịu ảnh hưởng lớn của nền văn hóa phươngĐông nên lối sống trọng tình là một nét đẹp văn hóa Trọng tình, trọngnghĩa trở thành một nguyên tắc ứng xử trong mọi mối quan hệ của ngườiViệt Nam Trong gia đình, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái luôn đượccoi trọng, chăm chút

Truyện thơ Nôm Tày đề cao chữ “hiếu” trong mối quan hệ giữa con cáivới cha mẹ Quan niệm này có từ rất xa xưa, ngay từ khi còn chưa có chữ viếtthì cha ông ta đã truyền miệng từ đời trước sang đời sau những lời răn dạy vềđạo hiếu:

Trang 36

“Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”

“Tu đâu cho bằng tu nhà, Thờ cha, kính mẹ mới là chân tu.”

Đạo hiếu luôn là một nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam Truyện

thơ Nôm Tày đề cao lòng hiếu thảo của con cái với cha mẹ Khảo sát qua Tổng tập truyện thơ Nôm của các dân tộc thiểu số Việt Nam chúng tôi thấy có rất nhiều truyện nói về lòng hiếu thảo của con cái với đấng sinh thành như Truyện Lương Nhân con côi, Truyện Trương Hán - Mẫu Đơn, Nho Hương, Chiêu Đức, Phạm Tử - Ngọc Hoa, Truyện Tống Trân - Cúc Hoa…

Có thể thấy trong hầu hết các truyện thơ Nôm Tày, lòng hiếu thảo củanhững người con trong gia đình luôn được xem như là một bổn phận, tráchnhiệm đối với cha mẹ Văn hóa ứng xử giữa con cái với cha mẹ thể hiện ở việccon cái luôn luôn vâng lời cha mẹ, yêu thương, kính trọng, biết ơn cha mẹ bởicông sinh thành, dưỡng dục Ở trong hoàn cảnh nào con cái cũng luôn nghĩ cho

cha mẹ, vì cha mẹ Lời tâm sự của Ngọc Hoa trong truyện Phạm Tử - Ngọc Hoa với cha mình rằng nàng chưa muốn yên bề gia thất vì lo cho cha mẹ già cả

mà chỉ có một mụn con, nếu nàng đi lấy chồng ai sẽ là người chăm lo cho cha

mẹ từng bữa ăn, giấc ngủ Đó là ý thức trách nhiệm của một người con tronggia đình, coi trọng nghĩa vụ phụng dưỡng cha mẹ già Cũng trong truyện thơNôm Tày, ta bắt gặp những nhân vật là con mồ côi cha từ nhỏ, sống trong tìnhyêu thương của mẹ, mẹ con dắt díu nhau đi xin ăn khắp bản như chàng TốngTrân, cùng mẹ đi ăn xin, che chở cho mẹ, nhường cơm cho mẹ Khốn khó thếnào chàng cũng luôn luôn bên mẹ của mình Ngay cả khi đã thành danh, trongmười năm đi sứ viễn châu Tống Trân vẫn luôn mong ngóng về mẹ, xót xa khinghĩ về mẹ già không được con trai chăm sóc, trông nom:

Trang 37

“Nhớ mẹ già lệ sa chẳng ráo Nhớ đến mẹ lão mẫu thân sinh

… Lão mẫu sống an ninh hay chẳng?

Ngày đêm những lo lắng buồn thân Mình ta nhận mường Nồng đất Hác

Bỏ mẹ già đói khát cùng dâu”

(Truyện Tống Trân - Cúc Hoa)

Khi hết hạn đi sứ nước Tần, Tống Trân về nước Sau khi đã giải quyết ổnthỏa mọi việc, chàng đích thân rước mẹ về báo hiếu:

“Đón rước mẹ quan nhà thân mẫu Trạng nguyên bèn nói với Cúc Hoa

Đi theo đón mẹ ta bằng được Lệnh vua không châm chước dềnh dàng”

(Truyện Tống Trân - Cúc Hoa)

Quan niệm báo hiếu dường như đã ăn sâu trong nếp nghĩ của người đồngbào, phải biết trả ân, trả nghĩa mới được xem là người có đạo đức Nhân vật

Trần Chu trong truyện Nàng Quyển đã thể hiện rất rõ quan niệm đó Trần Chu

sau bao biến cố đã lên ngôi vua, một trong những điều quan trọng chàng làmsau việc hậu chiến đó là đón mẹ nuôi họ Mã về kinh thành, phong cho bà chứcMẫu vương Thái thái:

“ Liền đón bà mẹ nuôi tức khắc Rước mẹ về cung các với vua Thuyền hai trăm quân về đón rước, Sụp lạy mẹ tươi đẹp Hà Đông

……….

Con trai - Trần Chu quan - điện bệ Người đi vào quỳ lễ giường loan Phong mẹ lên mẫu vương thái thái”

(Nàng Quyển)

Trang 38

Chữ hiếu của những người con đối với cha mẹ được thể hiện dưới nhiềuhình thức, ngoài gần gũi chăm nom, phụng dưỡng mẹ cha thì có lúc chữ hiếucòn được thể hiện trong nỗi nhớ của những đứa con phải lưu lạc nơi xa không

được gần cha mẹ Trong truyện Nôm Tày Nho Hương, nhân vật Mẫu Đan là

công chúa con vua nhưng bị vua cha đuổi ra khỏi cung điện vì cho rằng côngchúa lấy Nho Hương - người ăn mày - là việc rất mất mặt và nhục nhã Côngchúa Mẫu Đan bị đuổi và không được phép mang theo của cải bạc vàng gì.Mẫu Đan cùng Nho Hương lưu lạc khắp nơi xin ăn, trải bao khó khăn, cơ cực.Rất nhiều lần nàng nhớ về mẹ, day dứt trong lòng vì làm cha phiền lòng Saunày, nhờ có phép màu từ cái trống của Quạ vàng, Nho Hương lập ra một đấtnước mới, trở thành vua của Bần quốc, Mẫu Đan được phong làm hoàng hậu.Cuộc sống hạnh phúc, đủ đầy nhưng không lúc nào Mẫu Đan nguôi ngoai nỗinhớ về cố quốc, nhớ cha mẹ Chính vì vậy nàng đã bàn với chồng cho phépmình về thăm cha mẹ Ngày trở về, Mẫu Đan gặp cha mẹ trò chuyện hànhuyên, hạnh phúc khôn tả:

“Công chúa vào cung dinh lạy Quốc mẫu ngồi cung nghỉ mừng vui

Xa mẹ ba xuân rồi hoa nở Bây giờ mới về lọt, ơi thương Ngày đêm nhớ ngô bươn con đẻ Vua cha ngồi ngai đế cũng thương”

(Nho Hương)

Một nét đẹp trong cách ứng xử của những người con trong gia đình khicha mẹ qua đời đó là trọn tình, trọn nghĩa Nàng Mẫu Đan khi biết mẹ quađời đã hết lòng thương xót, tang lễ kéo dài tới ba tháng, nhà táng nguy nga,lộng lẫy:

Trang 39

“Nước mắt rơi chứa chan như bể Nàng khóc than “hỡi mẹ hỡi thương Cung phi thấy Ngô Bươn vào lọt

Mỹ nữ khóc lăn lóc cùng nàng Mọi người mọi khóc than tấm tức”

(Nho Hương)

Trong quan niệm của người Tày, thế giới của người thực như thế nào thìthế giới của người âm cũng như thế Khi người thân chết đi họ sẽ trở về một thếgiới khác, ở đó người đã khuất vẫn cần của cải vật chất để làm ăn sinh sống.Bởi thế việc tế lễ ma chay linh đình, cầu kì không những thể hiện lòng hiếuthảo, tình cảm của người còn sống với người đã khuất mà còn thể hiện mongmuốn người chết sẽ có một cuộc sống đủ đầy Có những người con sẵn sàng bánhết đất đai, của cải để có tiền làm ma thật to trả công lao cho mẹ vợ để rồi sau

đó phải chịu nghèo khổ như Lương Nhân trong truyện Lương Nhân con côi Còn Trương Hán trong truyện Trương Hán - Mẫu Đơn sau khi bán hết của cải

làm phúc cho bố mẹ quy tiên thì trở thành kẻ trắng tay, phải về sống nhờ nhà vợ:

“Bụt đòi hai người về chầu phật Trương Hán lòng lo lắng xót xa Bán hết cả đất đai vườn ruộng Làm phúc cho cha mẹ quy tiên”

(Trương Hán - Mẫu Đơn)

Trong mối quan hệ giữa cha mẹ với con cái thì tình thương luôn được đặtlên hàng đầu Con cái là núm ruột, là máu thịt của cha mẹ nên cha mẹ luôndành cho con những điều tốt đẹp nhất, chỉ có cha mẹ là thương con vô điềukiện Trong truyện thơ Nôm Tày hình ảnh người cha, người mẹ được xây dựng

là những người có tình yêu con vô bờ, thấu hiểu, chia sẻ và luôn mong con cócuộc sống hạnh phúc Chịu ảnh hưởng nhiều của tư tưởng Nho giáo trong mốiquan hệ ứng xử, song cách ứng xử trong mối quan hệ giữa cha mẹ với con cáicủa người Tày có phần dân chủ hơn, gắn với đời sống của người đồng bào

Trang 40

Trong truyện Phạm Tử - Ngọc Hoa, nhân vật Ngọc Hoa được miêu tả là một mĩ

nữ có nhan sắc như sao trời, vóc dáng đẹp tựa ngọc ngà lại là tiểu thư con mộttướng công giàu có Thế nhưng tình cảm của nàng lại chỉ dành riêng cho mộtngười có xuất thân thấp hèn Chàng trai ấy tên là Phạm Tử, một kẻ hành khất,nghèo khổ, không hề môn đăng hộ đối với gia đình Ngọc Hoa Khi biết con gáimình đem lòng yêu mến sâu nặng một kẻ hành khất thì cha mẹ Ngọc Hoa cũngchấp nhận tình cảm ấy của con Đây là một cách ứng xử hiếm thấy trong xã hộiphong kiến vì quan niệm “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” đã ăn sâu trong lối suynghĩ của con người Cha Ngọc Hoa chấp nhận mối nhân duyên của con gái tất

cả cũng xuất phát từ tình yêu thương, muốn con gái sẽ hạnh phúc với lựa chọncủa mình mà không bị ép duyên Cách ứng xử này rất phù hợp với tư tưởng củangười bình dân muốn được tự do yêu đương Mặc dù cũng đắn đo, nhưng tướngcông thấy con ngày càng héo hon nên thương con gái mà hạ cái uy quyền củabậc bề trên, cho người tìm Phạm Tử:

“Tướng công chừng cũng lạ, đắn đo

Sự chắc hẳn trời cho gặp gỡ Tức thời sai đầy tớ trong nhà

“Bay đâu, hãy tìm ra Phạm Tử Đón về hỏi mọi sự cho thông”

(Phạm Tử - Ngọc Hoa)

Và khi gặp chàng Phạm Tử, nhìn dung mạo, thấy nghị lực của chàng,tướng công càng có cơ sở để tin tưởng việc lựa chọn của Ngọc Hoa làđúng.Cho rằng mối lương duyên là duyên trời định, ông ủng hộ con gái và đểcon tự do lựa chọn hạnh phúc của riêng mình:

“Tướng công nói: “Mặc ý con ta Chốn quyền quý hỏi mà từ chối Biết bao nhiêu mối lái đến tìm Con gái ta không ưng lấy một

Ta nay không biết thốt lời nào Mặc con sẽ liệu sao trong dạ”

(Phạm Tử - Ngọc Hoa)

Ngày đăng: 28/10/2020, 01:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường (1999), Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỉ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam từnguồn gốc đến hết thế kỉ XIX
Tác giả: Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
2. Triều Ân (2003), Chữ Nôm Tày và thể loại truyện thơ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ Nôm Tày và thể loại truyện thơ
Tác giả: Triều Ân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2003
3. Triều Ân (2003), Ba áng thơ Nôm Tày và thể loại, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba áng thơ Nôm Tày và thể loại
Tác giả: Triều Ân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2003
4. Hà Thị Bình (2017), Những giá trị tiêu biểu của truyện thơ Tày Lương Nhân, Tam Mậu Ngọ, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giá trị tiêu biểu của truyện thơ Tày LươngNhân, Tam Mậu Ngọ
Tác giả: Hà Thị Bình
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2017
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông,ban hành theo Thông tư 32/2018/TT - BGDĐT, ngày 26 tháng 12 năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2018
8. Nông Quốc Chấn (1964), Truyện thơ Tày Nùng, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện thơ Tày Nùng
Tác giả: Nông Quốc Chấn
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1964
9. Nguyễn Từ Chi (2003),Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: NxbVăn hóa dân tộc
Năm: 2003
10.Phạm Vũ Dũng (1996), Văn hóa giao tiếp, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa giao tiếp
Tác giả: Phạm Vũ Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1996
11.Lương Thị Duyên (2006), Truyện thơ Lương Nhân trong đời sống văn hóa dân gian của người Tày Bắc Kạn, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện thơ Lương Nhân trong đời sống văn hóadân gian của người Tày Bắc Kạn
Tác giả: Lương Thị Duyên
Năm: 2006
12.Triệu Thùy Dương (2019), Văn hóa ứng xử người Việt trong truyện thơ Nôm, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ứng xử người Việt trong truyện thơNôm
Tác giả: Triệu Thùy Dương
Năm: 2019
13.Cao Thị Hảo (2017), “Nét đặc trưng văn hóa trong truyện thơ Nôm Tày”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 394 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nét đặc trưng văn hóa trong truyện thơ Nôm Tày”,"Tạp chí
Tác giả: Cao Thị Hảo
Năm: 2017
14.Dương Thu Hằng, Mai Thúc Hiệp (2019), “Nét đặc sắc của truyện thơ Nôm Tày từ góc nhìn văn hóa tộc người”, Tạp chí Khoa học Đại học Tân Trào, số 11/ tháng 3/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nét đặc sắc của truyện thơ NômTày từ góc nhìn văn hóa tộc người
Tác giả: Dương Thu Hằng, Mai Thúc Hiệp
Năm: 2019
15.Lê Như Hoa (2008), Văn hóa ứng xử các dân tộc Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ứng xử các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Lê Như Hoa
Nhà XB: Nxb Văn hóathông tin
Năm: 2008
16. Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện thơ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện thơ
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 2000
17. Kiều Thu Hoạch (2007), Truyện Nôm lịch sử phát triển và thi pháp thể loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Nôm lịch sử phát triển và thi pháp thể loại
Tác giả: Kiều Thu Hoạch
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
18.Triệu Thị Thanh Hương (2018), Nghiên cứu truyện thơ Nôm Tày Lưu Tương, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu truyện thơ Nôm Tày LưuTương
Tác giả: Triệu Thị Thanh Hương
Năm: 2018
19. Đinh Gia Khánh (1999), Sơ lược truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lược truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu sốViệt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
20. Đỗ Long (2008), Tâm lí học với văn hóa ứng xử, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học với văn hóa ứng xử
Tác giả: Đỗ Long
Nhà XB: Nxb Văn hóa thôngtin
Năm: 2008
21. Phan Đăng Nhật (1997), Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Phan Đăng Nhật
Nhà XB: Nxb Vănhóa Dân tộc
Năm: 1997
22.Nhiều tác giả (1974), Bước đầu tìm hiểu vốn văn nghệ Việt Bắc, Sở Văn hóa Thông tin Việt Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu vốn văn nghệ Việt Bắc
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 1974

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w