Phần 1 cuốn sách sẽ giới thiệu tới người đọc các kiến thức tổng quan việc áp dụng kép các biện pháp phòng vệ thương mại đối với các quốc gia có nền kinh tế phi thị trường. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.
Trang 11
NGUY CƠ ĐÁNH TRÙNG THUẾ
CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG TRỢ CẤP ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG - BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Trang 22
Trang 33
BỘ CÔNG THƯƠNG CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH
NGUY CƠ ĐÁNH TRÙNG THUẾ
CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG TRỢ CẤP ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG - BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
NHÀ XUẤT BẢN CÔNG THƯƠNG
Hà Nội – 2013
Trang 44
Mã Số: VB02ĐH13
Trang 55
MỤC LỤC
trang
Chương I TỔNG QUAN VIỆC ÁP DỤNG KÉP CÁC
BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI CÁC
QUỐC GIA CÓ NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG
11
1 Khái niệm về nền kinh tế phi thị trường 11
2 Khái niệm về áp dụng kép các biện pháp phòng vệ thương
1.2 Cơ sở pháp lý áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với
quốc gia có nền kinh tế phi thị trường
19
2 Áp dụng biện pháp chống trợ cấp 23
2.2 Cơ sở pháp lý áp dụng biện pháp chống đối kháng đối với
quốc gia có nền kinh tế phi thị trường
25
3 Áp dụng kép các biện pháp phòng vệ thương mại đối với các
nước có nền kinh tế phi thị trường
pháp phòng vệ thương mại đối với các nước có nền kinh tế
phi thị trường
32
III Thực tiễn áp dụng kép các biện pháp phòng vệ thương mại
của các nước đối với các quốc gia có nền kinh tế phi thị trường
– Một số bài học rút ra từ các vụ việc với Trung Quốc
62
2 Phân tích các vụ việc điển hình 63
3.1 Tham gia tích cực vào các vụ điều tra chống trợ cấp 72 3.2 Tham gia tích cực vào cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế 73
Trang 66
Chương II: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG KÉP CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HÀNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ
75
I Tổng quan về các vụ áp dụng kép các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam
75
2 Khả năng áp dụng kép các biện pháp phòng vệ thương mại
đối với hàng xuất khẩu củaViệt Nam trong thời gian tới
77
II Ðánh giá những tác động của các vụ việc áp dụng kép biện pháp phòng vệ thương mại (AD và CVD đối với Việt Nam
80
1 Nguy cơ áp dụng trùng thuế AD và CVD khi áp dụng kép các
biện pháp phòng vệ thương mại
Hiệp định thực thi điều VI của Hiệp định chung về thuế
quan và thương mại – GATT(1994) Hiệp định chống bán
phá giá(ADA)
92
phụ lục 1: Thủ tục điều tra tại chỗ theo khoản 7 điều 6 136 Phụ lục 2:các thông tin tốt nhất có được theo các điều kiện của khoản 8 điều 6
137
Phụ lục 1 Mức thuế và các ngành mục tiêu trong các vụ việc điều tra chống trợ cấp của Hoa Kỳ nhằm vào hàng xuất khẩu của Trung Quốc
152
Trang 77
DANH MỤC VIẾT TẮT
ADA Hiệp định Chống bán phá giá (CBPG)
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
AD Chống bán phá giá (CBPG)
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CBSA Cơ quan dịch vụ biên giới Canada
CVD Thuế chống trợ cấp
CIT Tòa Thương mại quốc tế Hoa Kỳ
CAFC Tòa Phúc thẩm Liên bang Hoa Kỳ
CFSB Giấy tráng cao cấp
DOC Bộ Thương mại Hoa Kỳ
EP Giá xuất khẩu
EU Liên minh Châu Âu
FIEs Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
FDI Đầu tư nước ngoài
GATT Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
GDP Tổng sản lượng quốc nội
HS Danh mục hài hòa thuế quan
ITC Ủy ban thương mại quốc tế Hoa Kỳ
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
IFC Tổ chức tài chính quốc tế
IT Đối xử riêng rẽ
KTTT Kinh tế thị trường
Trang 88
MỤC LỤC HÌNH VÀ BẢNG
MD Biên độ phá giá
MET Đối xử kinh tế thị trường
MFN Đối xử tối huệ quốc
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTMNN Ngân hàng thương mại Nhà nước
NME Nền kinh tế phi thị trường
NT Đối xử quốc gia
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
UNDP Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc
SCM Hiệp định về Trợ cấp và thuế đối kháng
SIMA Đạo luật về các biện pháp nhập khẩu đặc biệt
của Canada
SIMR Quy định về các biện pháp nhập khẩu đặc biệt
của Canada
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
Bảng 1 Các biện pháp chống trợ cấp đối với Trung Quốc từ các thành viên WTO
27
Hình 1 Cấu trúc bù đắp thuế đối kháng trong việc tính toán
biên độ phá giá
29 Bảng 2: Các vụ việc điều tra đồng thời AD và CVD 63 Bảng 3: Thông tin cơ bản về các vụ việc của Việt Nam 76
Trang 99
LỜI NÓI ĐẦU
Thời gian vừa qua, do khủng hoảng của nền kinh
tế thế giới, sức mua giảm, doanh nghiệp và các ngành công nghiệp trong nước gặp khó khăn là một trong nhiều nguyên nhân mà các biện pháp phòng vệ thương mại bao gồm: chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ được các nước trên thế giới áp dụng ngày càng nhiều nhằm bảo hộ ngành sản xuất nội địa trước sự cạnh tranh gay gắt của hàng nhập khẩu
Tính đến hết năm 2012, các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam đã phải đối mặt với 65 vụ kiện phòng vệ thương mại do các nước khởi xướng điều tra Riêng trong năm 2012, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã phải đối mặt tới 10 vụ việc, trong đó có 8 vụ điều tra chống bán phá giá,
01 vụ điều tra chống lẩn tránh thuế và 01 vụ điều tra chống trợ cấp
Đặc biệt, trong hai năm gần đây, một số nước có xu hướng kiện kép gồm chống bán phá giá và trợ cấp đối với các quốc gia bị coi là nước có nền kinh tế phi thị trường như Việt Nam, Trung Quốc (cả 04 vụ kiện gần đây do Hoa Kỳ khởi xướng điều tra đối với Việt Nam đều là điều tra kép cả chống bán phá giá và chống trợ cấp) Đặc điểm của các vụ kiện kép
là mức thuế bị đẩy lên rất cao do sản phẩm bị áp đồng thời cả thuế CBPG và thuế chống trợ cấp (Ví dụ trong vụ mắc áo, mức thuế suất chống bán phá giá toàn quốc là 187% và thuế chống trợ cấp là 16% dẫn đến tổng mức thuế là 203%)
Để cập nhật, phân tích đồng thời đưa ra các giải pháp, khuyến nghị cho doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam chủ động có những ứng phó phù hợp trước các thay đổi nói trên,
Trang 1010
Cục Quản lý cạnh tranh (QLCT) - Bộ Công Thương phối hợp
với Nhà xuất bản Công Thương biên soạn cuốn sách “Nguy
cơ đánh trùng thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với nền kinh tế phi thị trường - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” Nội dung cuốn sách phân tích cơ sở pháp lý cũng
như tiền lệ những vụ kiện kép mà các nước đã khởi xướng điều tra để từ đó rút ra một số kiến nghị đối với cơ quan quản
lý Nhà nước và các doanh nghiệp xuất khẩu nhằm hạn chế tối
đa những vụ việc tương tự có thể xảy ra trong tương lai
Trong quá trình biên soạn khó tránh khỏi những sơ suất, Ban biên tập rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để hoàn thiện hơn trong lần xuất bản tiếp theo
CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH
Trang 1111
Chương I
TỔNG QUAN VIỆC ÁP DỤNG KÉP CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI CÁC QUỐC GIA CÓ NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG
I Những khái niệm cơ bản
1 Khái niệm về nền kinh tế phi thị trường
Nền kinh tế phi thị trường (NME) – hay còn được gọi
là nền kinh tế kế hoạch tập trung – là tên gọi được dùng đến cuối những năm 1980, đầu những năm 1990 cho nền kinh tế các nước Trung và Đông Âu, Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam và một số nước khác, trong đó, các hoạt động kinh tế được dựa trên kế hoạch hàng năm thông thường do một cơ quan giống như ủy ban kế hoạch Nhà nước soạn thảo Đa số các nước có nền kinh tế kế hoạch tập trung nay đã chuyển thành nền kinh tế thị trường hoặc đang trong quá trình hướng tới mục tiêu đó (còn gọi là thời kỳ quá độ)
Trong khuôn khổ WTO, khái niệm NME được đề cập
trong khoản 1 điều VI của GATT 1994 “Thừa nhận rằng
trong trường hợp nhập khẩu từ một nước mà thương mại hoàn toàn mang tính chất độc quyền hoặc hầu như độc quyền hoặc toàn bộ giá trong nước do nhà nước định đoạt, việc xác định tính so sánh của giá cả nhằm mục đích nêu tại khoản 1
có thể có những khó khăn đặc biệt và trong những trường hợp đó, các bên ký kết là bên nhập khẩu có thể thấy cần tính đến khả năng rằng việc so sánh chính xác với giá cả trong nước của nước đó không phải lúc nào cũng thích đáng”
Trang 1212
Thông qua quy định này, các thành viên của WTO nhận thấy một cách rõ ràng rằng, các quốc gia NME có thể cần phải đối xử một cách khác biệt hơn các quốc gia có nền kinh tế thị trường (Market Economy-ME) trong vụ kiện chống bán phá giá
Theo đó, nhiều nước thành viên của WTO đã không chấp nhận các thông tin về giá cả hay chi phí sản xuất được cung cấp bởi các quốc gia được xem là NME Các quốc gia này cho rằng giá cả và chi phí do các quốc gia NME được điều chỉnh và can thiệp bởi Chính phủ và không theo quy luật của thị trường Do đó, Cơ quan điều tra sẽ sử dụng giá và chi phí sản xuất của hàng hóa tại một nước thứ ba có nền kinh tế thị trường để thay thế, làm cơ sở tính toán cho giá thông thường Trong mỗi vụ kiện, các quốc gia ME được lựa chọn
để thay thế phải ở một mức phát triển cùng với quốc gia NME bị điều tra chống bán phá giá
Để có cơ sở xem xét một quốc gia có được coi là nền kinh tế thị trường hay không, một số quốc gia đã nội luật hóa quy định về các tiêu chí xác định quốc gia có nền kinh tế thị trường:
Một số tiêu chí xác định quốc gia có nền kinh tế thị trường
a Tiêu chí của Hoa Kỳ
Từ khi áp dụng Luật chống bán phá giá 1921 cho đến khi thông qua Luật Thương mại 1974, việc áp dụng thuế chống bán phá giá đối với các nền kinh tế NME đã được Hoa Kỳ đưa ra và áp dụng duy nhất thông qua hoạt động của cơ quan quản lý Trong thập kỷ 1960, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (US DOC) đã sử dụng thuật ngữ “quốc gia thay thế” để áp
Trang 13và xem xét khi nào thì một quốc gia cụ thể được xem là NME Theo đó, một quốc gia được coi là NME khi “không hoạt động theo nguyên tắc thị trường của cơ cấu giá và chi phí, vì thế doanh số bán hàng của hàng hóa trong quốc gia
đó không phản ánh được giá trị thông thường của hàng hóa” Đạo luật quy định US DOC sẽ xem xét đưa ra sáu tiêu chí trước khi quyết định, bao gồm:
1) Mức độ chuyển đổi của đồng nội tệ;
2) Mức độ theo đó mức lương được xác định thông qua đàm phán tự do giữa người lao động và đơn vị sử dụng lao động;
3) Mức độ theo đó việc liên doanh hoặc các dự án đầu tư nước ngoài được phép thực hiện;
4) Mức độ kiểm soát của chính phủ đối với phương tiện sản xuất;
5) Mức độ kiểm soát của chính phủ về việc phân bổ các nguồn lực, giá cả và sản lượng của doanh nghiệp;
6) Các tiêu chí khác do DOC đưa ra;
b Tiêu chí của EU
Tương tự như Hoa Kỳ, để được EU công nhận là quốc gia có nền kinh tế thị trường, quốc gia đó phải đáp ứng được những tiêu chí theo luật định của EU, các tiêu chí
đó như sau:
Trang 14có sự can thiệp đáng kể nào của Nhà nước, và chi phí của những đầu vào chính về cơ bản phản ánh giá thị trường;
- Các doanh nghiệp có một loạt các sổ sách kế toán cơ bản
rõ ràng, được kiểm toán độc lập theo các chuẩn mực kế toán quốc tế và được áp dụng cho tất cả các mục đích;
- Chi phí sản xuất và tình hình tài chính của doanh nghiệp không chịu sự bóp méo đáng kể dưới tác động của hệ thống kinh tế phi thị trường, nhất là liên quan tới khấu hao tài sản, các dạng xóa nợ và các dạng thanh toán bù nợ khác;
- Các doanh nghiệp liên quan chịu sự điều chỉnh của các luật về phá sản và tài sản đảm bảo sự chắc chắn và ổn định
về pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động
2 Khái niệm về áp dụng kép các biện pháp phòng
vệ thương mại (chống bán phá giá và chống trợ cấp)
Việc cơ quan điều tra của một nước thành viên WTO đồng thời áp dụng hai biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp nhằm đền bù cho cùng một hành vi thương mại không công bằng được xem là “áp dụng kép” hay còn gọi là đánh trùng thuế (double counting) Trong trường hợp này, các nhà xuất khẩu cùng lúc phải đối mặt với cả vụ kiện điều tra chống
bán phá giá lẫn điều tra chống trợ cấp
Trang 1515
Trong trường hợp cùng áp dụng biện pháp chống bán phá giá và biện pháp chống trợ cấp đối với một mặt hàng cụ thể từ nước có nền kinh tế thị trường, cơ quan điều tra của nước nhập khẩu sẽ tiến hành cộng thêm mức thuế đối kháng
để loại bỏ trợ cấp xuất khẩu trên giá xuất khẩu của sản phẩm trước khi tiến hành tính toán thuế chống bán phá giá Lý do cho sự điều chỉnh này là trợ cấp xuất khẩu có tác động làm
giảm giá của hàng hóa xuất khẩu
Đối với nước có nền kinh tế phi thị trường, các cơ quan điều tra như Bộ Thương mại Hoa Kỳ hay Ủy ban Châu
Âu đã không sử dụng chi phí thực của nhà sản xuất của các nước có nền kinh tế phi thị trường và giá bán của sản phẩm nội địa Thay vào đó, cơ quan điều tra dựa vào thông tin của
Trang 16Hiệp định về thi hành Điều VI của Hiệp định khung
về thuế quan và thương mại 1994 (“Hiệp định chống bán phá giá - CBPG”) điều chỉnh việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá của các Thành viên WTO Các biện pháp chống bán phá giá là các biện pháp phòng vệ thương mại đơn phương mà một Thành viên có thể áp dụng sau khi thực hiện một cuộc điều tra và xác định rằng, phù hợp với quy định của Hiệp định CBPG, hàng hóa nhập khẩu là “bán phá giá” (hàng hóa được đưa vào nước nhập khẩu với mục đích thương mại với mức giá thấp hơn giá trị thông thường), và việc bán phá giá đó gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu sản xuất sản phẩm tương tự
Không như Hiệp định về trợ cấp và thuế đối kháng (“SCM Agreement”), Hiệp định CBPG không thiết lập bất kỳ quy tắc nào về phá giá, chủ yếu do việc phá giá là hành vi định giá do các doanh nghiệp thực hiện và do đó không nằm trong phạm vi điều chỉnh trực tiếp của các quy tắc đa phương Hiệp định CBPG tập trung vào các quy tắc về nội dung và thủ tục của việc điều tra, áp dụng, và khoảng thời gian áp dụng các biện pháp chống bán phá giá Các nguyên tắc này được
áp dụng cho tất cả các thành viên WTO Phạm vi của Hiệp định CBPG rộng hơn và khả năng các quy tắc của Hiệp định CBPG sẽ có hiệu lực là lớn hơn
Trang 1717
Điều 1 của Hiệp định CBPG đưa ra nguyên tắc cơ bản
là một thành viên sẽ không được áp dụng biện pháp CPBG trừ khi, căn cứ theo một cuộc điều tra được thực hiện đúng theo những quy định của Hiệp định CBPG, thành viên đó xác định được rằng tồn tại hàng hóa nhập khẩu bán phá giá, có thiệt hại đối với ngành sản xuất nội địa và có mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu bán phá giá và thiệt hại
Điều 2 quy định những quy tắc quan trọng trong việc xác định phá giá trong đó gồm những quy tắc cụ thể quy định việc tính toán giá trị thông thường (giá của sản phẩm tại quốc gia xuất khẩu hay có xuất xứ sản phẩm) và giá xuất khẩu (giá của sản phẩm đó tại quốc gia nhập khẩu), và việc “so sánh công bằng” giữa giá trị thông thường và giá xuất khẩu Những quy tắc này rất kĩ thuật và chi tiết đồng thời đề cập đến một số vấn đề liên quan đến phương pháp luận quan trọng không được xử lý trong Đạo luật về CPBG của vòng đàm phán Tokyo Nói chung, các quy tắc này có thể coi là rất chặt chẽ trong một nỗ lực để chấm dứt hoặc tối thiểu hóa khả năng mà các biện pháp hành chính trong các vụ việc điều tra
và tính toán sẽ dẫn đến biên độ phá giá bị đẩy cao một cách giả tạo
Những thay đổi quan trọng nhất của Đạo luật về CPBG của vòng đàm phán Tokyo theo Điều 2 đó là việc đưa
ra quy định về tình trạng mà giá bán nội địa của nước xuất khẩu còn thấp hơn chi phí sản xuất (xác định theo chi phí cố định, chi phí khả biến của từng đơn vị sản phẩm cộng thêm chi phí hành chính, chi phí bán hàng, chi phí chung) có thể được coi là không phải “trong điều kiện thương mại thông
Trang 1818
thường”, thêm một số quy tắc cụ thể về xác định giá trị thông thường tính toán và những quy định cụ thể về làm thế nào để đảm bảo sự so sánh công bằng giữa giá trị thông thường và giá xuất khẩu
Giá cả không phải “trong điều kiện thương mại thông thường” có thể bị loại ra khi tính toán giá trị thông thường Điều 2.2.1 của Hiệp định CBPG yêu cầu rằng các giao dịch bán hàng không phải trong điều kiện thương mại thông thường phải được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định, với một số lượng hàng đáng kể và tại các mức giá mà không thể trang trải được toàn bộ chí phí trong một khoảng thời gian hợp lý, trước khi sử dụng biện pháp thay thế trong việc tính toán giá trị thông thường Hiệp định CBPG đã có cả hướng dẫn về các khái niệm “kéo dài trong một khoảng thời gian” (thông thường là một năm, nhưng không được thấp hơn
6 tháng), “số lượng đáng kể”, và bù đắp các chi phí “trong một khoảng thời gian hợp lý”
Các giá trị thông thường được tính toán (constructed normal values) là một trong hai cách cụ thể để xác định giá trị thông thường khi không tồn tại đủ sản lượng bán hàng trong điều kiện thương mại thông thường ở nước xuất khẩu để cho phép tính toán giá trị thông thường dựa trên cơ sở về giá, hoặc tình trạng thị trường đặc biệt, hoặc lượng hàng sản xuất thấp khiến không thể tính toán giá trị thông thường Thay vào
đó, Hiệp định CBPG cho phép so sánh giá xuất khẩu với giá của sản phẩm khi xuất khẩu sang một nước thứ ba, với điều kiện giá đó có tính đại diện Điều 2.2.2 quy định chi tiết rằng
Trang 1919
khi tính toán giá trị thông thường, cơ quan điều tra cần xác định các khoản chi phí hành chính, chi phí bán hàng, chi phí chung và lợi nhuận, trên cơ sở số liệu thực tế và mức phân bổ sản phẩm và sản lượng bán của nhà sản xuất trong điều kiện thương mại thông thường Trong trường hợp số liệu thực tế không sử dụng được, tiểu đoạn (i) – (iii) của Điều 2.2.2 quy định các phương pháp thay thế cho việc xác định những chi phí và lợi nhuận đó
Điều 2.4 đã quy định một quy tắc chung rằng việc “so sánh công bằng” phải được thực hiện khi so sánh giá trị thông thường và giá xuất khẩu Nó cũng chỉ rõ rằng “các khoản giảm trừ” phải được tính đến đối với những sự khác biệt mà ảnh hưởng tới khả năng so sánh giá đồng thời quy định một danh sách không đầy đủ những yếu tố để cấu thành khoản được giảm trừ đó Điều 2.4 cũng bao gồm những quy định trong việc quy đổi tỷ giá khi so sánh giữa giá xuất khẩu và giá trị thông thường và cũng chỉ ra rằng biên độ phá giá thường phải dựa trên cơ sở so sánh giá trị thông thường bình quân gia quyền với giá xuất khẩu bình quân gia quyền hoặc trên cơ sở so sánh giá của từng giao dịch Việc so sánh giá của từng giao dịch thể hiện một sự thay đổi đáng kể trong thông lệ của một số Thành viên đối với Đạo luật vòng đàm phán Tokyo, mà so sánh bình quân gia quyền của giá trị thông thường với giá xuất khẩu của từng giao dịch, phương pháp này được biết đến là phương pháp “quy về không” với kết quả là làm tăng biên độ phá giá Phương pháp tính này hiện nay đã bị cấm một cách rộng rãi từ một số phán quyết của Cơ quan Phúc thẩm của WTO (Appellate Body)
Trang 2020
1.2 Cơ sở pháp lý áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với quốc gia có nền kinh tế phi thị trường
Điều 2.7 của Hiệp định CBPG quy định rằng:
“2 Thừa nhận rằng trong trường hợp nhập khẩu từ một nước mà thương mại hoàn toàn mang tính chất độc quyền hay hầu như độc quyền và toàn bộ giá trong nước do Nhà nước định đoạt, việc xác định khả năng so sánh giá cả nhằm mục đích nêu tại Đoạn 1 có thể có những khó khăn đặc biệt và trong những trường hợp đó, các bên ký kết là bên nhập khẩu có thể nhận thấy cần thiết phải xem xét đến khả năng việc so sánh chính xác với giá cả trong nước của nước
đó không phải lúc nào cũng thích đáng”
Quy định này đã được rất nhiều các cơ quan điều tra
sử dụng để bỏ qua thông tin về giá cả và chi phí của quốc gia
có nền kinh tế phi thị trường với lý do những thông tin này không đáng tin cậy vì chúng không được xác định dựa trên các điều kiện thị trường mà do nhà nước chỉ định Tuy nhiên, cách mà những cơ quan điều tra khác nhau sử dụng điều khoản về NME cũng rất khác nhau
Một nền kinh tế phi thị trường tồn tại trong một quốc gia mà không vận hành theo nguyên tắc thị trường về cấu trúc giá hoặc chi phí vì vậy giao dịch bán hàng hóa ở quốc gia đó không phản ánh được giá trị hợp lý của hàng hóa Điều này có tác động hiển nhiên đến phương pháp xác định bán phá giá bởi vì toàn bộ cơ chế của việc phân tích bán phá giá đều dựa trên việc so sánh giá trị thông thường và giá xuất khẩu Thêm vào đó, nền kinh tế phi thị trường còn gây
Trang 2121
ra một số vấn đề nữa trong việc điều tra chống bán phá giá
do tiền tệ của các quốc gia có nền kinh tế phi thị trường thường không dễ dàng được chuyển đổi sang nội tệ của quốc gia điều tra Mặc dù một số quốc gia có nền kinh tế phi thị trường như Trung Quốc và Việt Nam đã áp dụng các nguyên tắc mang tính thị trường nhiều hơn trên nhiều khía cạnh của nền kinh tế nhưng hiện các Thành viên của WTO vẫn coi những quốc gia này là có nền kinh tế phi thị trường
để sử dụng các phương pháp tính toán khác trong các cuộc điều tra CBPG
Bên cạnh đó, Trung Quốc và Việt Nam đã chấp nhận trong Nghị định thư gia nhập WTO của mình là sẽ bị coi là nền kinh tế phi thị trường cho đến năm 2016 đối với Trung Quốc và 2018 đối với Việt Nam
Cụ thể đối với trường hợp của Việt Nam được nêu trong đoạn 254 và 255 của Báo cáo Ban công tác về gia nhập WTO của Việt Nam: Việt Nam đã đưa ra một cam kết liên quan đến quy chế nền kinh tế phi thị trường của Việt Nam Cam kết này không khác so với cam kết mà Trung Quốc đã đưa ra trong Nghị định thư gia nhập WTO của họ trước đấy 5 năm, theo đó quy định cụ thể về trường hợp của Việt Nam như sau:
“254 Một số Thành viên lưu ý rằng Việt Nam đang tiếp tục quá trình chuyển đổi thành một nền kinh tế thị trường đầy đủ Các Thành viên này lưu ý rằng trong quá trình đó, khi hàng nhập khẩu có xuất xứ từ Việt Nam vào một Thành viên WTO có thể có những khó khăn đặc biệt trong việc xác định chi phí và so sánh giá cả trong các vụ điều tra chống
Trang 2222
bán phá giá và chống trợ cấp Các Thành viên này cho biết trong các trường hợp đó, nước nhập khẩu là Thành viên WTO có thể nhận thấy sẽ cần phải tính đến khả năng việc so sánh chặt chẽ với chi phí và giá trong nước ở Việt Nam có thể không phải lúc nào cũng thích hợp.”
“255 Đại diện của Việt Nam xác nhận rằng ngay sau khi gia nhập WTO, Điều VI của GATT 1994, Hiệp định Thực hiện Điều VI của GATT 1994 (Hiệp định chống bán phá giá)
và Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp Chống trợ cấp (SCM) sẽ được áp dụng trong các vụ kiện liên quan đến xuất khẩu hàng hoá từ Việt Nam sang một Thành viên WTO phù hợp với các điểm sau:
(a) Khi tiến hành so sánh giá theo Điều VI của GATT
1994 và Hiệp định chống bán phá giá, Thành viên WTO là nước nhập khẩu phải sử dụng hoặc là giá hoặc chi phí ở Việt Nam đối với ngành hàng đang được điều tra hoặc là một phương pháp không dựa trên sự so sánh chặt chẽ với chi phí hoặc giá cả ở Việt Nam Quy tắc để lựa chọn phương pháp phù hợp là:
(i) Nếu các nhà sản xuất trong diện điều tra có thể chỉ
ra rõ ràng rằng các điều kiện của nền kinh tế thị trường đang tồn tại trong ngành sản xuất mặt hàng tương tự liên quan đến sản xuất và bán mặt hàng đó, nước nhập khẩu là Thành viên WTO khi xác định tương quan giá cả phải sử dụng giá và chi phí ở Việt Nam cho ngành sản xuất trong diện điều tra
(ii) Nước nhập khẩu là Thành viên WTO có thể sử dụng một phương pháp không dựa trên sự so sánh chặt chẽ
Trang 2323
với giá cả và chi phí ở Việt Nam nếu các nhà sản xuất trong diện điều tra không thể chỉ ra rõ ràng rằng các điều kiện của nền kinh tế thị trường đang tồn tại trong ngành sản xuất mặt hàng tương tự liên quan đến sản xuất và bán mặt hàng đó
(d) Một khi Việt Nam khẳng định được rằng nền kinh
tế nước mình là kinh tế thị trường chiểu theo luật quốc gia của nước nhập khẩu là Thành viên WTO, các quy định tại tiểu mục (a) sẽ hết hiệu lực với điều kiện luật quốc gia của nước Thành viên có quy định các tiêu chí về kinh tế thị trường tại thời điểm gia nhập Trong mọi trường hợp, các quy định trong tiểu mục (a) (ii) sẽ hết hiệu lực vào ngày 31/12/2018 Ngoài ra, nếu Việt Nam khẳng định được rằng các điều kiện của kinh tế thị trường đã tồn tại tại một ngành
cụ thể chiểu theo luật quốc gia của nước nhập khẩu là Thành viên WTO, các quy định trong tiểu mục (a) liên quan tới kinh
tế phi thị trường sẽ không còn được áp dụng cho ngành đó
Ban công tác ghi nhận các cam kết này
Một phương pháp tiếp cận thông thường trong việc giải quyết vấn đề quốc gia có nền kinh tế phi thị trường trong
vụ việc CBPG là tìm ra giá trị thay thế từ các quốc gia có nền kinh tế thị trường mà có thể so sánh được và áp dụng mức chung cho tất cả các nhà sản xuất của nước có nền kinh tế phi thị trường, dựa trên giả định rằng tất cả những nhà sản xuất
đó đều nằm dưới sự điều hành của nhà nước Tuy nhiên, nhà sản xuất thuộc nền kinh tế phi thị trường có thể yêu cầu một mức thuế suất riêng rẽ trong việc xác định giá xuất khẩu mà
có thể được cơ quan điều tra áp dụng nếu họ kết luận rằng có thông tin tin đầy đủ đảm bảo cho yêu cầu này
Trang 24Một Thành viên không thể áp dụng biện pháp chống trợ cấp trừ khi họ xác định được rằng hàng hóa nhập khẩu vào nước đó được trợ cấp, gây thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước và có mối quan hệ nhân quả giữa hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp và thiệt hại Sự tồn tại một khoản trợ cấp cụ thể phải được xác định theo các tiêu chí trong Phần I của Hiệp định SCM Tuy nhiên, những tiêu chí liên quan đến thiệt hại và mối quan hệ nhân quả lại được quy định cụ thể tại Phần V Hiệp định này Hiệp định SCM cũng cho phép cộng gộp những tác động từ hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp từ hơn một nước thành viên khi những yêu cầu cụ thể đối với việc xác định này được đáp ứng đầy đủ
Phần V của Hiệp định chống trợ cấp cũng bao gồm quy định chi tiết liên quan đến việc khởi xướng và thực hiện cuộc điều tra chống trợ cấp, việc áp thuế sơ bộ và biện pháp cuối cùng, việc sử dụng các cam kết và thời gian áp dụng biện pháp chống trợ cấp Mục tiêu chính của những quy định này là để đảm bảo cuộc điều tra được thực hiện một cách minh bạch, tất cả các bên liên quan đều có cơ hội đầy đủ để
Trang 25để tránh việc tiếp tục hoặc tái diễn trợ cấp và thiệt hại Hiệp định này cũng yêu cầu các Thành viên WTO phải có tòa án độc lập để xem xét sự phù hợp của các quyết định của cơ quan điều tra với pháp luật trong nước Những quy định về thủ tục này hầu như là giống hệt với quy định trong Hiệp định CBPG
2.2 Cơ sở pháp lý áp dụng biện pháp chống đối kháng đối với quốc gia có nền kinh tế phi thị trường
Thuế chống trợ cấp (CVD) được áp dụng để đối kháng lại những lợi ích phát sinh từ việc trợ cấp chứ không nhất thiết phải là ảnh hưởng về giá Điều đó đã được nêu rõ ở câu mở đầu của Điều 14 trong Hiệp định SCM, “Tính toán tổng lượng trợ cấp xét về mặt lợi ích đối với người nhận” Do
đó, không giống như hệ thống chống bán phá giá khi vấn đề kinh tế phi thị trường tạo nên những khó khăn trong việc so sánh giá, việc áp thuế đối kháng dựa trên cơ sở lợi ích từ việc trợ cấp có thể không thể tính toán được do về mặt định nghĩa, các nền kinh tế phi thị trường không cho phép xác định những lợi ích đó Vì vậy, khi GATT lần đầu được quy định vào những năm 1940, vấn đề kinh tế phi thị trường không được đề cập chi tiết trong bối cảnh vụ việc chống trợ cấp so với vụ việc chống bán phá giá
Trang 2626
Điều này giải thích tại sao một số nước hay sử dụng biện pháp chống bán phá giá như Hoa Kỳ, EU và Canada đã không sử dụng biện pháp chống trợ cấp đối với quốc gia có nền kinh tế phi thị trường Tuy nhiên, luật pháp những quốc gia này cũng không quy định một cách rõ ràng việc cấm sử dụng thuế chống trợ cấp với quốc gia có nền kinh tế phi thị trường Kể cả Hiệp định SCM và GATT của WTO cũng không cấm việc áp dụng CVD đối với quốc gia có nền kinh tế phi thị trường Do đó, việc liệu có thể áp dụng CVD đối với quốc gia có nền kinh tế phi thị trường hay không phụ thuộc hoàn toàn vào quyết định của Thành viên WTO
3 Áp dụng kép các biện pháp phòng vệ thương mại đối với các nước có nền kinh tế phi thị trường
3.1 Thực tiễn áp dụng
Ngoài 03 quốc gia (Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu và Canada) là các nước thường xuyên sử dụng các biện pháp chống trợ cấp trên, nhiều nước gần đây cũng tham gia vào nhóm sử dụng các biện pháp chống trợ cấp đối với các nước NME như Ấn Độ, Nam Phi, Mexico Trung Quốc đã trở thành mục tiêu trong các cuộc điều tra chống trợ cấp mới bắt đầu từ năm 2004 và bị áp dụng các biện pháp đối kháng từ năm 2005.19
19 Xem WTO, Khởi xướng điều tra chống trợ cấp: Từ các nước xuất khẩu
từ 01/01/95 tới 30/06/09, tại
<http:wto.org/English/tratop_e/scm/cvd_init_exp_country_e.pdf> và các biện pháp đối kháng từ các nước xuất khẩu từ ngày 1 tháng 1 năm 1995 đến ngày 30 tháng 6 năm 2009 tại
http://www.org/english/tratop_e/cvd_exp_country_e.pdf Như trong Phụ
Trang 27Canada(3) Hoa Kỳ(7)
2009
Úc(1) Canada(1)
Ấn độ(1) Hoa Kỳ(10)
Canada(1) Hoa Kỳ(5)
2010 Canada(1)
EU(2) Hoa Kỳ(2)
Úc(1) Canada(1) Hoa Kỳ(6)
2011
Úc(2) Canada(2) Mexico(1) Hoa Kỳ(5)
Canada(1) EU(1) Hoa Kỳ(7)
20 Số liệu thu thập từ trang tin điện tử của WTO và các cơ quan điều tra
Do có sự không đồng nhất về số liệu, ví dụ, giữa thông báo của WTO và
hồ sơ của các thành viên nên chúng tôi tập trung vào hồ sơ gốc của các thành viên WTO
Trang 28và chống trợ cấp đối với nền kinh tế phi thị trường là chưa từng có tiền lệ trong hệ thống của GATT/WTO cho đến những năm gần đây Tuy nhiên, như đã phân tích ở phần trên những quy tắc ban đầu của GATT lại không quy định một cách rõ ràng về việc vi phạm vấn đề áp dụng kép biện pháp phòng vệ trên thực tế, không phân biệt đối với nền kinh tế thị trường hay phi thị trường Thay vào đó, Điều VI:5 của GATT quy định:
“5 Không một sản phẩm nào trong lãnh thổ của một bên nhập khẩu vào lãnh thổ của một bên khác sẽ cùng lúc phải chịu cả thuế bán phá giá và thuế đối kháng để bù đắp cho cùng một khoản bán phá giá hay trợ cấp xuất khẩu”
Nói cách khác là không được phép áp dụng đồng thời
cả thuế CBPG và chống trợ cấp đối với các khoản trợ cấp xuất khẩu, nhưng không phải với các trợ cấp khác Vì vậy, ví dụ khi Hoa Kỳ đồng thời áp thuế CBPG và chống trợ cấp đối với những khoản trợ cấp xuất khẩu thì Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) phải bù trừ phần thuế đối kháng trong việc tính toán phá giá để tránh vi phạm quy định trên – nghĩa là việc áp dụng kép biện pháp phòng vệ cho khoản trợ cấp xuất khẩu Cụ thể hơn, giá xuất khẩu được tăng lên bằng với mức trợ cấp được
áp đối với sản phẩm để bù đắp trợ cấp xuất khẩu Cơ chế đơn giản hóa của phương pháp này được nêu trong Hình 1 Giả sử
Trang 2929
rằng nước A trợ cấp 20$ trên mỗi đơn vị hàng hóa xuất khẩu cho nhà xuất khẩu của họ, Công ty a, bán mặt hàng đó với giá 100$ tại thị trường nội địa và xuất khẩu vào Hoa Kỳ với giá 70$ Khi DOC áp thuế đối kháng là 20$ đối với khoản trợ cấp thì khoản thuế này phải được cộng vào giá xuất khẩu thực tế là 70$ vì vậy biên độ bán phá giá hay sự khác biệt giữa giá xuất khẩu và giá trị thông thường chỉ là 10$
Hình 1 Cấu trúc bù đắp thuế đối kháng trong việc tính toán biên độ phá giá:
Nền kinh tế thị trường
Trợ cấp xuất khẩu: 20$ Giá xuất khẩu (EP) = 70$
Giá xuất khẩu điều chỉnh = EP + CVD = 90$
DOC giải thích rằng phương pháp này tránh được việc áp dụng kép các biện pháp phòng vệ (tính trùng thuế) trong các vụ điều tra phòng vệ thương mại kép đối với hàng nhập khẩu từ Thành viên WTO được coi là có nền kinh tế thị trường Ngược lại, khi có những trợ cấp nội địa ảnh hưởng tới cả giá xuất khẩu và giá trị thông thường thì DOC sẽ không
Trang 3030
thực hiện việc điều chỉnh đối với giá xuất khẩu Ví dụ, nếu giá trị thông thường cũng giảm xuống mức 80$ bởi ảnh hưởng của trợ cấp như trong hình 1, thì biên độ phá giá sẽ được xác định đơn giản bằng cách so sánh giữa giá trị thông thường (80$) với giá xuất khẩu (70$)
Mặt khác, sự phát triển quan trọng trong lịch sử soạn thảo luật liên quan đến vấn đề áp dụng kép các biện pháp phòng vệ là vấn đề loại trừ trong Điều 15 của Đạo luật vòng đàm phán Tokyo trong đó yêu cầu một cách rõ ràng sự lựa chọn giữa CBPG và chống trợ cấp trong việc xử lý thiệt hại gây ra bởi hàng hóa nhập khẩu từ một quốc gia có nền kinh tế phi thị trường Trên thực tế, điều luật này không thu hút được
sự quan tâm giữa các bên tham gia GATT bởi vì không có bên nào tại thời điểm đó đã từng sử dụng hay bị ảnh hưởng bởi nó Kết quả là, Điều 15 của Đạo luật của vòng đàm phán Tokyo không xuất hiện trong chương trình đàm phán và được loại bỏ ngay tại bản dự thảo đầu tiên của Hiệp định Chống trợ cấp vào tháng 9 năm 1990
Trong vụ việc Hoa Kỳ điều tra AD/CVD đối với Trung Quốc, Ban Hội thẩm đã xem xét tới sự tồn tại của Điều
15 của Đạo luật về CPBG của vòng đàm phán Tokyo là rất
“quan trọng” Trung Quốc đã lập luận rằng “Những tình tiết xung quanh vòng đàm phán Uruguay cho thấy rõ ràng rằng những vấn đề liên quan đến vấn đề áp dụng kép biện pháp phòng vệ đã không còn được xem xét là phù hợp tại thời điểm đó” bởi vì không có bên tham gia nào áp dụng thực tế
cả thuế CBPG đồng thời với biện pháp chống trợ cấp đối với quốc gia có nền kinh tế phi thị trường và thậm chí là Hoa Kỳ
- nước sử dụng thuế đối kháng nhiều nhất – đã có quan điểm
Trang 3131
rõ ràng là không áp dụng biện pháp chống trợ cấp đối với quốc gia có nền kinh tế phi thị trường Hoa Kỳ đã phủ định điều đó bằng cách lập luận rằng Đạo luật về CPBG của vòng đàm phán Tokyo đã bao gồm những quy định gần như giống với quy định tại Điều 19.3 và 19.4 của Hiệp định SCM Nói cách khác, Hoa Kỳ lập luận rằng “nếu có những quy định cấm việc áp dụng kép các biện pháp phòng vệ, như Trung Quốc đã lập luận, thì không cần thiết phải đưa vào - một quy định rõ ràng cấm việc điều tra đồng thời AD/CVD trong Đạo luật.”
Ban Hội thẩm “[đã] xem xét rằng lý do để đưa vào Điều 15 của Đạo luật của vòng đàm phán Tokyo về trợ cấp tiềm ẩn khả năng áp dụng kép các biện pháp phòng vệ từ kết quả của việc áp đồng thời phương pháp tính toán thuế CBPG
và thuế chống trợ cấp đối với quốc gia có nền kinh tế phi thị trường, hoặc ít nhất nhận thấy rằng việc sử dụng phương pháp đối với nền kinh tế phi thị trường sẽ dẫn tới những sự khác nhau về giá cả do những khoản trợ cấp đối với sản phẩm
là đối tượng của thuế chống bán phá giá.” Tuy nhiên, Ban Hội thẩm không đưa ra phán quyết rõ ràng về việc làm thế nào để giải thích việc loại bỏ Điều 15 của Đạo luật trong Hiệp định SCM Thay vào đó, Ban Hội thẩm đã phán quyết rằng sự tồn tại Điều 15 của Đạo luật mà đã giải quyết một cách rõ ràng việc áp dụng đồng thời thuế chống bán phá giá
và chống trợ cấp đối với quốc gia có nền kinh tế phi thị trường không liên quan tới Điều 19.3 và 19.4 của Hiệp định chống trợ cấp đối với câu hỏi về việc cho phép áp dụng kép các biện pháp phòng vệ
Liên quan đến vấn đề này, Ban Hội thẩm đã phán quyết rằng việc cấm áp dụng kép các biện pháp phòng vệ
Trang 3232
theo Điều VI:5 của GATT được giới hạn chỉ đối với các trợ cấp xuất khẩu Như vậy, quan điểm của Ban Hội thẩm cho rằng trong khi việc áp dụng kép các biện pháp phòng vệ đối với trợ cấp xuất khẩu là bị cấm từ khi có sự ra đời của GATT thì việc quy định rõ ràng liên quan đến vấn đề áp dụng kép các biện pháp phòng vệ đối với quốc gia có nền kinh tế phi thị trường đã thay đổi rõ ràng trong vòng đàm phán Uruguay với ngụ ý rằng những người soạn thảo thực ra đã có ý định
mở rộng phạm vi của vụ việc chống trợ cấp đối với nền kinh
tế phi thị trường Sự sửa đổi này có thể là không cần thiết bởi
vì lý do căn bản là nền kinh tế ngày càng tốt hơn nhưng thay vào đó có thể được kết hợp tốt do những kết quả của thương lượng về chính trị Do những nguyên tắc theo Hiệp định SCM đã được tăng cường đáng kể để điều chỉnh các biện pháp trợ cấp trong vòng đàm phán Uruguay và sau khi Trung Quốc – một nước lớn có nền kinh tế phi thị trường với tiềm năng thương mại khổng lồ - đã cố gắng để tham gia vào GATT thì có vẻ là hợp lý nếu cho rằng việc áp dụng biện pháp đối kháng với quốc gia có nền kinh tế phi thị trường đã được mở rộng mặc dù vấn đều này không thu hút được nhiều
sự quan tâm
3.3 Những thách thức trong vấn đề áp dụng kép các biện pháp phòng vệ thương mại đối với các nước có nền kinh tế phi thị trường
3.3.1 Các thông lệ và quyết định hiện tại của tòa án một
số nước đối với vấn đề “áp dụng kép các biện pháp phòng vệ thương mại” có xu hướng không ủng hộ việc áp dụng kép
Trang 33Tuy nhiên, trước đây
Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã có một chính sách lâu đời quy định không áp dụng các biện pháp đối kháng với các nước có nền kinh tế phi thị trường Chỉ gần đây, Bộ Thương mại Hoa Kỳ mới sửa đổi chính sách này của mình để điều tra
và ra lệnh áp dụng thuế chống trợ cấp đối với các nước có nền kinh tế phi thị trường
a Những vụ kiện điển hình cho việc không áp dụng luật thuế đối kháng đối với các nước có nền kinh tế phi thị trường
- Vụ hàng dệt may, may mặc và các sản phẩm liên quan từ Trung Quốc
Nỗ lực đầu tiên về áp dụng luật thuế chống trợ cấp đối với nước có nền kinh tế phi thị trường được tiến hành
21
Quyền đánh thuế đối kháng được quy định tại Điều 19 USC mục § 1671(a) Theo số liệu của WTO, từ ngày 1 tháng 1 năm 1995 đến 30 tháng 6 năm 2009, Hoa Kỳ đã khởi xướng 94 vụ điều tra chống trợ cấp trong tổng số 226 vụ được thống kê, và trong số các vụ khởi xướng
đó, đã ra lệnh áp dụng biện pháp đối kháng đối với 57 trường hợp trong số 113 vụ việc đang có hiệu lực trên thế giới Số liệu cung cấp tại website WTO, link
http://www.wto.org/english/tratop_e/scm_e/cvd_init_rep_member_e.pdf và
<http://www.wto.org/english/tratop_e/scm_e/cvd_meas_rep_member_e.pdf>
Trang 3434
vào tháng 9 năm 1983 Hiệp hội các nhà sản xuất hàng dệt may Hoa Kỳ, Liên đoàn công nhân dệt may và may mặc hợp nhất (ACTWU) và Hội công nhân nữ ngành dệt may quốc tế (ILGWU), đại diện cho ngành công nghiệp dệt may, may mặc của Hoa Kỳ đã đệ đơn kiện cáo buộc chính phủ Trung
Tuy nhiên, đơn kiện này đã được rút lại vào ngày Bộ Thương mại Hoa Kỳ lên kế hoạch công bố quyết định sơ bộ
về vấn đề này Kết quả là, vấn đề pháp lý về việc liệu luật thuế chống trợ cấp có được áp dụng cho các nước có nền kinh tế phi thị trường hay không vẫn chưa bao giờ được chính thức áp dụng Tuy nhiên, nỗ lực này đã khuyến khích chính phủ Hoa Kỳ có các biện pháp nhằm giảm nhập khẩu hàng dệt may từ Trung Quốc23
22 Xem Khởi xướng các cuộc điều tra đối kháng; Hàng dệt may, may mặc,
và các sản phảm liên quan từ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, 48 Fed Reg 46,600 (Bộ Thương mại Hoa Kỳ, ngày 13 tháng 10 năm 1983)
23
Ngành dệt may của Hoa Kỳ đã rút đơn kiện chỉ sau khi chính phủ Hoa
Kỳ đảm bảo rằng sẽ có những biện pháp được đưa ra nhằm giảm nhập khẩu Trên thực tế, ngành dệt may Hoa Kỳ đã có được những lợi ích đáng
kể từ chỉ riêng việc khởi kiện chống trợ cấp Xem Michael G Egge, “Mối
đe dọa của việc Hoa Kỳ sử dụng thuế đối kháng đối với các nước Đông
Âu có nền kinh thế thị trường mới nổi: Một con rắn trong vườn?” 30 Va
J Int’l L., 953 (1990) và Stanislaw J Soltysinski, “Luật về hỗ trợ nhập khẩu và thương mại của Hoa Kỳ với các nước có nền kinh tế kế hoạch tập trung” Fla Int’l L J 59, 66 (1987) Xem Alan F Holmer và Judith H Bello, “Chính sách và luật thương mại Hoa Kỳ, Phần #7: Việc áp dụng luật thuế đối kháng đối với nền kinh tế phi thị trường” 20 Int’l L 319,
322 (1986)
Trang 35
Do cuộc điều tra chống trợ cấp trước đó đối với hàng dệt may và may mặc từ Trung Quốc đã kết thúc nên đây là cơ hội đầu tiên để DOC ra quyết định sơ bộ xem liệu hành vi của chính phủ một nước được coi là có nền kinh tế phi thị trường
có mang lại những lợi ích có thể đối kháng hay không”25
Hai nghi vấn pháp lý chính trong cuộc điều tra sơ bộ là: (i) Mục
24 Xem vụ kiện dây thép Carbon từ Cộng Hòa Czech, Slovakia; Quyết định sơ bộ không áp thuế đối kháng, 49 Fed Reg 6,773 (Bộ Thương mại Hoa Kỳ, ngày 23 tháng 2 năm 1984); vụ kiện dây thép Carbon từ Cộng Hòa Czechoslovakia; Quyết định cuối cùng không áp Thuế đối kháng, 49 Fed Reg 19,370 (Bộ Thương mại Hoa Kỳ, ngày 7 tháng 5 năm 1984); Dây thép carbon từ Ba Lan; Quyết định sơ bộ không áp thuế đối kháng
49 Fed Reg 6,768 (Bộ Thương mại Hoa Kỳ ngày 23 tháng 2 năm 1984); Dây thép carbon từ Ba Lan; Quyết định cuối cùng không áp thuế đối kháng, 49 Fed Reg 19,374 (Bộ Thương mại Hoa Kỳ, ngày 7 tháng 5 năm 1984); Tất cả có thể tìm thấy tại website <www.westlaw.com>
25
Xem vụ kiện dây thép Carbon từ Cộng Hòa Czech, Slovakia; Quyết định sơ bộ không áp thuế đối kháng, 49 Fed Reg 6,773 (Bộ Thương mại Hoa Kỳ, ngày 23 tháng 2 năm 1984), trang 6,774
Trang 36áp dụng cho “bất cứ nước nào, quốc gia phụ thuộc, thuộc địa, tỉnh hoặc vùng chính trị của chính phủ”26 Về nghi vấn thứ hai, Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã kết luận rằng “sự khuyến khích hay hỗ trợ” theo nghĩa của Mục 303 không thể được tìm thấy trong 2 vụ kiện này27
.Trong khi phán quyết sơ bộ đã hạn chế quyết định đối với 2 vụ kiện thì quyết định cuối cùng
đã xem xét lại vấn đề này trong bối cảnh tổng thể hơn28
Trong quá trình điều tra sơ bộ, Bộ Thương mại Hoa Kỳ
đã phân tích các chương trình của chính phủ nước xuất khẩu theo hai bước: i) Liệu những chương trình này có cấu thành một khoản trợ cấp trong một nền kinh tế thị trường không và ii) Liệu kết luận bước một đó có khác đối với nền kinh tế phi
26
Xem vụ kiện dây thép Carbon từ Cộng Hòa Czech, Slovakia; Quyết định cuối cùng không áp thuế đối kháng, 49 Fed Reg 19,370 (Bộ Thương mại Hoa Kỳ, ngày 7 tháng 5 năm 1984) trang 19,371
27 Như trên
28 Xem ví dụ tại vụ kiện dây thép Carbon từ Ba Lan: Quyết định cuối cùng không áp Thuế đối kháng, 49 Fed Reg 19,370 (Bộ Thương mại Hoa Kỳ, ngày 7 tháng 5 năm 1984) trang 19,375
Trang 3737
thị trường Theo đó, cơ quan này trước tiên lập luận là hệ thống đa tỷ giá hối đoái, cơ chế lưu trữ ngoại hối, hệ số chuyển đổi mậu dịch đối với tỷ giá chính thức, các khoản miễn thuế và cơ chế ngang giá của Cộng Hòa Séc, Slovakia
và Ba Lan không được coi là những khoản khuyến khích hay trợ cấp xét trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hay nền kinh
tế phi thị trường29 Dựa trên cơ sở đó, DOC đã đưa ra quyết định sơ bộ rằng, trong khi Quốc hội thực chất không loại trừ các nước có nền kinh tế phi thị trường ra khỏi luật CVD nhưng những chương trình bị cáo buộc của chính phủ Cộng hòa Séc, Slovakia và Ba Lan không được xem là những khoản khuyến khích và hỗ trợ theo quy định Luật thuế đối kháng của Hoa Kỳ
Trong quá trình đi đến quyết định cuối cùng, DOC đã tìm thêm những cơ sở về mặt kinh tế và định nghĩa về sự tồn tại trợ cấp tại một nền kinh tế phi thị trường thông qua nhiều nguồn bao gồm Hướng dẫn của Quốc hội, nguồn học thuật và
từ nguồn chính phủ Hoa Kỳ DOC dựa trên quan điểm rằng các hoạt động của chính phủ ở một nước có nền kinh tế phi thị trường không thể coi là trợ cấp bởi vì trên định nghĩa trợ cấp là hành động bóp méo hoạt động của thị trường DOC lập luận rằng do trên thực tế và lý thuyết thì không thể xác định được trợ cấp ở một nước có nền kinh tế phi thị trường mà trong đó nền kinh tế phụ thuộc vào kế hoạch hóa tập trung
29 Hệ số chuyển đổi mậu dịch đối với tỷ giá hối đoái chính thức và chương trình miễn thuế cho nguồn thu từ giao dịch nước ngoài là các chương trình của Cộng hòa Czechoslovakia trong khi cơ chế ngang giá được đưa ra bởi chính phủ Ba Lan