Quan điểm của các ông về lịch sử triết học có ý nghĩaphương pháp luận quan trọng cho việc nghiên cứu phép biện chứng Hy Lạp cổ đại, đặc biệt là quan điểm sau đây của V.I.Lênin trong Bút
Trang 1ĐINH THANH XUÂN
TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT
Trang 2ĐINH THANH XUÂN
TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG
TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
1.1 Các điều kiện và tiền đề cho sự hình thành nền triết học và phép Biện
chứng Hy Lạp cổ đại
1.1.1 Các nền văn minh có giai cấp đầu tiên ở miền Đông Địa Trung Hải.
Thần thoại, khoa học và tiền triết học
1.1.2 Tính đặc thù của chế độ kinh tế - xã hội và đời sống tư tưởng - văn
hóa ở Hy Lạp cổ đại
1.1.3 Sự phân rã của thần thoại Hy Lạp cổ đại Sự xuất hiện của triết học
với tư cách một hình thái đặc thù của ý thức xã hội
Chương 2
MỘT SỐ TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC
HY LẠP CỔ ĐẠI
2.1 Tư tưởng về tính thống nhất vật chất của vũ trụ, về sự vận động, biến đổi
vĩnh viễn của thế giới.
2.1.1 Tư tưởng về sự thống nhất thế giới ở cái đơn nhất.
2.1.2 Tư tưởng về sự thống nhất thế giới ở cái đặc thù.
2.1.3 Tư tưởng về sự thống nhất của thế giới ở cái phổ biến.
2.2.1 Tư tưởng về sự hài hòa của các mặt đối lập.
2.2.2 Tư tưởng về sự đấu tranh của các mặt đối lập.
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 82
ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, việc chú trọng hơn nữađến công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử triết học luôn có một ý nghĩarất quan trọng đối với sự đổi mới tư duy lý luận nói chung và sự phát triểncác khoa học triết học nói riêng Ở nước ta, trong suốt một thời gian dài,
do nhiều nguyên nhân khác nhau, công việc này dường như chưa đượcquan tâm đúng mức Có thể nói, chúng ta chủ yếu mới chỉ biết đến triếthọc mácxít, mới chỉ nghiên cứu được phần nào lịch sử tư tưởng dân tộc
và còn ít nghiên cứu về triết học ngoài mácxít, ít quan tâm tới lịch sử triếthọc, đặc biệt là triết học thời cổ đại- cội nguồn của triết học hiện đại, nhưPh.Ăngghen đã viết: “Từ các hình thức muôn hình muôn vẻ của triết học
Hy Lạp, đã có mầm mống và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giớiquan sau này”[24, tr 491](*) Tình hình đó hiện nay đã được cải thiện phầnnào, nhưng so với nhu cầu phát triển của tư duy lý luận thì điều này vẫnchưa đáng là bao
Ph.Ăngghen đã từng nói: “Một dân tộc đứng vững trên đỉnh cao củakhoa học thì không thể không có tư duy lý luận”, nhưng tư duy lý luận ấy
“cần phải được phát triển hoàn thiện, và muốn hoàn thiện nó thì cho tớinay, không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thờitrước”[24, tr 487-489], vì “triết học là sự tổng kết tư duy” (Hêghen) Mặtkhác, vì lịch sử phát triển của tư duy được tổng kết trong lịch sử triết học,nên chính lịch sử triết học là cơ sở để hình thành phép biện chứng
Phép biện chứng là một khoa học triết học và nếu xét trên nhiềuphương diện, nó là hiện tượng có ý nghĩa thế giới quan rộng lớn như bảnthân triết học Lịch sử phép biện chứng hình thành, phát triển từ khi triếthọc ra đời, mà đỉnh cao là phép biện chứng mácxít Phép biện chứng
( Từ đây: - Số đầu là số thứ tự tài liệu tham khảo.
- Số sau là số trang của tài liệu tham khảo.
Trang 5mácxít dựa trên truyền thống tư tưởng biện chứng của nhiều thế kỷ, vạch
ra những đặc trưng chung nhất của biện chứng khách quan, nghiên cứunhững quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xãhội loài người và của tư duy Nó là chìa khóa để con người nhận thức vàchinh phục thế giới Nắm vững những nguyên tắc phương pháp luận củaphép biện chứng duy vật không những là một nhân tố cơ bản để hình thànhthế giới quan khoa học, mà còn là điều kiện tiên quyết cho sự sáng tạo củacác chính đảng cách mạng
Lịch sử tư tưởng và thực tiễn cách mạng cho thấy, khi nào chúng tanắm vững lý luận phép biện chứng, biết vận dụng các nguyên tắc phươngpháp luận của nó một cách sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, biết lấy
“cái bất biến” ứng vào “cái vạn biến” - như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói - thìvai trò và hiệu lực cải tạo tự nhiên, biến đổi xã hội càng được tăng cường.Ngược lại, cách nghĩ, cách làm chủ quan duy ý chí, siêu hình sẽ dẫn đếnsai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng, gây tổn thất cho cách mạng và quátrình phát triển xã hội nói chung Thắng lợi của cách mạng Việt nam tronggiai đoạn đấu tranh bảo vệ Tổ quốc là một minh chứng cho điều đó Hiệnnay, nước ta đang trong giai đoạn tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới,tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc nắm vững bản chấtphép biện chứng duy vật càng là một nhu cầu bức thiết để đổi mới tư duy.Tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, quan điểm, đường lối của Đảng là biện chứng chủ quan phản ánhbiện chứng khách quan của thực tiễn cách mạng Việt nam Nó đang là địnhhướng tư tưởng và là công cụ tư duy sắc bén để đưa cách mạng nước tatiến lên giành thắng lợi trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Tuy nhiên, để nắm vững phép biện chứng mácxít, không thể khôngnghiên cứu sự hình thành và phát triển phép biện chứng trong lịch sử, đặcbiệt là phép biện chứng Hy Lạp cổ đại - một trong những thời kỳ dài nhất,
Trang 6chói lọi nhất trong sự phát triển tư tưởng biện chứng của nhân loại Việcnghiên cứu phép biện chứng Hy Lạp cổ đại còn cho phép tái hiện quá trìnhxuất hiện và “vượt bỏ” hợp quy luật của phép biện chứng duy vật mácxítnhư là một giai đoạn cao về chất của các hình thái của phép biện chứng.
Từ những điều trình bày trên, có thể nói, việc nghiên cứu triết học Hy Lạp
cổ đại nói chung, những tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cổđại nói riêng là một công việc hết sức quan trọng và cần thiết, vừa mang ýnghĩa lý luận, vừa mang ý nghĩa thực tiễn Chính từ những suy nghĩ như
vậy, chúng tôi chọn vấn đề “Tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp
cổ đại” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn này.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài.
Triết học Hy Lạp cổ đại nói chung và phép biện chứng Hy Lạp cổ đạinói riêng luôn nhận nhận được sự quan tâm từ phía các nhà triết học, đặcbiệt là các nhà triết học mácxít Có thể nói, tất cả các nhà triết học trướckhi xây dựng học thuyết của mình, họ đều phải nghiên cứu lịch sử triết họctrước đó Ngay từ thời cổ đại, Platôn, Arixtôt đều là những nhà lịch sử triếthọc Đặc biệt, trong thời kỳ cổ đại, phải kể đến Điôgien Laécxơ - nhà triếthọc Hy Lạp cổ đại sống vào nửa đầu thế kỷ thứ III trước công nguyên,người duy nhất đã để lại cho chúng ta một tác phẩm đồ sộ gồm 10 tập cógiá trị như một công trình về lịch sử triết học, trong đó trình bày tiểu sử vàhọc thuyết của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, từ các nhà duy vật đầu tiênthuộc trường phái Milê đến Xếchtút Empiriquýt Gần đây, trong nhiều bộlịch sử triết học phương Tây đồ sộ, bao giờ cũng có phần dành riêng chotriết học Hy Lạp cổ đại Tuy nhiên, đối với họ, vấn đề phép biện chứngkhông phải là vấn đề được quan tâm đặc biệt Có thể kể ra đây một số tác
phẩm có trong thư viện của Viện triết học, chẳng hạn như: Sources of the Western tradition - Boston: Houghton mifflin Company, 1987; A history of phylosophy, Vo1 Greece & Rome/ S.J Frederik Copleston - New York: Image books, 1962; A history of Western Philosophy Vo1 Beginnings to
Trang 7plotinus, Ralph M.McInerny - Chicago: Henry regnery company, 1963;
Doing philosophy historically, Peter H.Hare - New York
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin là những người rấtquan tâm tới triết học Hy Lạp cổ đại nói chung và phép biện chứng Hy Lạp
cổ đại nói riêng Quan điểm của các ông về lịch sử triết học có ý nghĩaphương pháp luận quan trọng cho việc nghiên cứu phép biện chứng Hy
Lạp cổ đại, đặc biệt là quan điểm sau đây của V.I.Lênin trong Bút ký triết học : “Ủng hộ tính lịch sử nghiêm khắc trong lịch sử triết học để khỏi gán
cho những người thời cổ một sự “phát triển” nào đó của các ý niệm của
họ, dễ hiểu đối với chúng ta, nhưng trên thực tế chưa thể có ở họ”[18, tr.262]
Ở Liên Xô, từ những năm 20 của thế kỷ XX, vấn đề phép biện chứng
Hy Lạp cổ đại đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà triết học Xôviết:
M.A.Đưnnhíc (Phép biện chứng của Hêraclit Ephedơ), B.X.Chanưsép (Phái ngụy biện) và V.K.Xêrêgiơnicốp (Khảo luận về lịch sử triết học) Bút ký triết học của V.I.Lênin lần đầu tiên đã được M.A.Đưnnic sử dụng như một hệ thống phương pháp luận để phân tích lịch sử triết học và lịch sử phép biện chứng trong Khảo luận về lịch sử triết học ở Hy Lạp thời cổ điển.
Sau đó các vấn đề của phép biện chứng cổ đại đã được các nhà triếthọc Nga nghiên cứu trong rất nhiều ấn phẩm đa dạng, trong số đó có ba tác
phẩm mang tính tổng kết của tập thể tác giả: Lịch sử triết học (t.1, M.,1940), Lịch sử triết học (t.1, M.,1957) và Từ điển bách khoa triết học
(t.I-V, M.,1960 -1970), cũng như tác phẩm chuyên về triết học cổ đại của
các nhà lịch sử triết học lớn của Nga: Lịch sử triết học cổ đại của V.Ph.Asmuxơ (M.,1965), Lịch sử lôgic học của A.O.Macôvenxki (M.,1967), Lịch sử mỹ học cổ đại (t.I, M., 1963; t.II, M., 1969) của
A.Ph.Lôxép
Trang 8Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về lịch sử triết học Hy Lạp cổ
đại không nhiều, có thể kể ra đây một số công trình tiêu biểu, như Triết học Hy Lạp cổ đại của Thái Ninh (Nhà xuất bản sách giáo khoa Mác - Lênin, 1987); Triết học cổ đại Hy Lạp - La mã của Phó giáo sư Hà thúc Minh (Tài liệu lưu hành nội
bộ của Viện khoa học xã hội Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh; 1993); Triết học Hy Lạp cổ đại của Tiến sĩ Đinh Ngọc Thạch (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia;
Nguyễn Hữu Vui làm chủ biên Cuốn sách đã được tái bản nhiều lần và lần
gần đây nhất là vào năm 1998; Lịch sử triết học của Phó giáo sư Bùi Thanh Quất (Nhà xuất bản giáo dục, 2000); Lịch sử triết học Tây phương của Lê Tôn Nghiêm (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2000); Triết học Tây Âu
trước Mác của Tiến sĩ Lê Thanh Sinh (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh,
2001); Lịch sử triết học - t.1: Triết học cổ đại do tiến sĩ Nguyễn Thế Nghĩa và Tiến sĩ Doãn Chính làm chủ biên (Nhà xuất bản khoa học xã hội, 2002) Tuy
nhiên, còn phải kể đến những tác phẩm dịch, đặc biệt là từ tiếng Nga, như
Lịch sử triết học phương Tây do Đặng Thai Mai dịch, xuất bản năm 1956; Lịch sử triết học: triết học của xã hội chiếm hữu nô lệ (Nxb Sự thật, Hà nội,
1958); Trong các công trình này, khi trình bày học thuyết của các nhà triết
học tiêu biểu trong lịch sử triết học cổ đại, tư tưởng biện chứng của họ cũng
được đề cập tới Đặc biệt là cuốn Lô gích học biện chứng của E.V.Ilencôp do
Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn dịch (Nxb Văn hóa thông tin, 2003) Trong cuốnsách này, Ilencôp đã đưa ra những suy ngẫm sâu sắc về con đường giải quyếtnhiệm vụ tạo lập Lôgic học với chữ L viết hoa mà V.I.Lênin đã nói Đó làviệc phải làm thế nào, dựa trên những nguyên tắc nào và cần tính đến nhữngmối liên hệ
Trang 9lôgic và lịch sử nào để xây dựng, phát triển học thuyết biện chứng duy vậtnhư là khoa học triết học chỉnh thể Điều đó cũng có ý nghĩa định hướngđối với chúng tôi khi nghiên cứu đề tài này.
Ngoài ra, còn những bài viết đăng trên Tạp chí Triết học của Phó giáo
sư, Tiến sĩ Đặng Hữu Toàn, chẳng hạn như: Học thuyết về “dòng chảy” trong triết học Hêraclít (số 7 năm 2001); Quan niệm của Hêraclít về sự hài hòa và đấu tranh của các mặt đối lập, về tính thống nhất của Vũ trụ (số 1năm 2002); Bức tranh nguyên tử về thế giới trong triết học Đêmôcrít (số
8 năm 2002); Khái niệm Logos trong triết học Hêraclit (số 4 năm 2004)
Cũng đã có một số công trình chuyên bàn về một vấn đề nào đó của một
tác gia nào đó trong triết học Hy Lạp cổ đại, như: Arixtôt với học thuyết phạm trù của Tiến sĩ Nguyễn Văn Dũng.
Đương nhiên, triết học Hy Lạp cổ đại nói chung, phép biện chứng HyLạp cổ đại nói riêng còn được trình bày trong những tác phẩm bàn về các
nhà tư tưởng lớn thời cổ đại với cách tiếp cận khác như: Câu chuyện triết học của Will Durant do Trí Thảo và Bửu Đính dịch (Nxb Đà nẵng, 2000); Mười nhà tư tưởng lớn của thế giới của Vương Đức Phong và Ngô Hiểu
Minh do Phong Đảo dịch (Nhà xuất bản Văn hóa - thông tin, Hà nội,
2003); Triết học Đông - Tây (Viện Thông tin khoa học xã hội, 1996)
Như vậy, có thể nói, ở Việt Nam ta đã có một số công trình nghiêncứu về triết học Hy Lạp cổ đại, song trong số các công trình đó, chưa cómột công trình nào chuyên sâu về vấn đề tư tưởng biện chứng trong triết
học Hy Lạp cổ đại, trừ tập 1 Phép biện chứng cổ đại nằm trong bộ bốn tập Lịch sử phép biện chứng của các nhà triết học Nga do Viện triết học thuộc
Viện Hàn lâm khoa học Liên xô cũ xuất bản Tập sách này đã được Tiến sĩ
Đỗ Minh Hợp dịch sang tiếng Việt, Phó giáo sư Tiến sĩ Đặng hữu Toànhiệu đính Đây là bộ sách có tầm quan trọng bậc nhất của bộ môn lịch sửtriết học mà lần đầu tiên đã được dịch trọn bộ ra tiếng Việt Nó cung cấpnhiều thông tin hữu ích cho việc nghiên cứu lịch sử phép biện chứng nói
Trang 10chung, lịch sử phép biện chứng Hy Lạp cổ đại nói riêng Tuy nhiên, ở đócách tiếp cận của các nhà triết học Nga là theo từng trường phái, từng triếtgia Khác với cách tiếp cận đó, chúng tôi muốn đưa ra một cách nhìn mới,cách nhìn theo tiến trình phát triển những tư tưởng biện chứng xuyên suốttriết học Hy Lạp cổ đại.
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn.
Mục đích của luận văn này là tái hiện một cách có hệ thống một số tư
tưởng biện chứng cơ bản trong triết học Hy Lạp cổ đại để trên cơ sở đó,chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế của những tư tưởng biện chứng sơkhai này
Để đạt được mục đích nêu trên, nhiệm vụ mà luận văn này phải giải
- Đưa ra một số đánh giá về những tư tưởng này
4 Giới hạn nghiên cứu của luận văn.
Căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ của luận văn, chúng tôi chỉ tậptrung vào các vấn đề về phép biện chứng được đặt ra ở giai đoạn cổ điển,hay còn gọi là giai đoạn Hy Lạp hóa - La mã trong lịch sử Hy Lạp cổ đại.Bởi vì, chính giai đoạn này, bắt đầu từ Talét và kết thúc ở Arixtốt (khoảng
từ đầu thế kỷ thứ VI đến cuối thế kỷ IV tr.CN), triết học Hy Lạp cổ đại đãđưa ra các tư tưởng biện chứng sâu sắc nhất trong suốt toàn bộ lịch sửtriết học cổ đại Mặc dù, tư tưởng biện chứng vẫn được tiếp nối trongnhiều thế kỷ cho tới tận thế kỷ V-VI
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Trang 11Luận văn được thực hiện dựa trên nền tảng lý luận là quan điểm của các nhà sáng lập triết học Mác - Lênin về lịch sử triết học nói chung, triết học Hy Lạp cổ đại nói riêng, đồng thời kế thừa, tham khảo có chọn lọc cáccông trình của những nhà khoa học có liên quan đến đề tài.
Phương pháp nghiên cứu mà chúng tôi sử dụng là những phương
pháp nghiên cứu của lịch sử triết học, cụ thể là: phương pháp lôgic kết hợpvới phương pháp lịch sử, phân tích và tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh
6 Cái mới của luận văn.
Đây là luận văn đầu tiên ở Việt nam tập trung phân tích và luận giảimột số tư tưởng cơ bản trong phép biện chứng Hy Lạp cổ đại Trên cơ sở
đó, sơ bộ đánh giá những mặt tích cực cũng như những hạn chế trong các
tư tưởng biện chứng này
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.
Về mặt lý luận, luận văn góp phần vào việc nghiên cứu tư tưởng triết
học Hy Lạp cổ đại nói chung, phép biện chứng Hy Lạp cổ đại nói riêng
Về mặt thực tiễn, luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo
phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy triết học nói chung, lịch sử triếthọc nói riêng
8 Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình khoa học đãcông bố của tác giả liên quan đến đề tài luận văn và danh mục tài liệu thamkhảo, nội dung cơ bản của luận văn được kết cấu thành 2 chương, 4 tiết
Trang 121.1.1 Các nền văn minh có giai cấp đầu tiên ở miền Đông Địa Trung
Hải Thần thoại, khoa học và tiền triết học
Lịch sử Hy Lạp cổ đại và nền văn hóa của nó là một bộ phận khôngthể tách rời với lịch sử các nước Cận Đông Địa Trung Hải Không nhữngnguồn gốc, mà cả sự phát triển tiếp theo của văn hóa vật chất, đặc biệt làvăn hóa tinh thần của nó chỉ được nhận thức đúng đắn khi tính đến nhưngảnh hưởng to lớn và sự giao lưu với các nền văn hóa Ai Cập, Babilon,Phini và các nền văn hóa Cận Đông khác
Trong các nguồn tài liệu sử học mácxít, người ta thường gọi hình thái
có giai cấp đầu tiên đã xuất hiện ở đây là hình thái chiếm hữu nô lệ Thuộc
về hình thái này, trước hết C.Mác kể đến “chế độ nô lệ kiểu gia trưởnghướng vào việc sản xuất ra tư liệu sinh hoạt trực tiếp” Chế độ xã hội cógiai cấp ít bị phân hóa, sơ khai này đã tồn tại ở Sumerơ và Akađơ ở AiCập, Babilon và các nước Cận Đông khác Ở các nước này, việc mở manglãnh thổ và phát triển sản xuất đều nhằm phục vụ cho các giai cấp thốngtrị Mọi liên minh nhà nước đều được kích thích bởi nhu cầu tưới tiêu đểcanh tác nằm ở các lưu vực sông Tigơrơ, Eprtơ, Nin
Cơ sở kinh tế của các nhà nước có giai cấp đầu tiên đó là nền nôngnghiệp sử dụng công cụ bằng bạc Mặc dù chúng ta gọi các nhà nước đó làcác nhà nước chiếm hữu nô lệ, song lao động của người nô lệ ở đây vẫnchưa phải là hình thức lao động cơ bản, mà lao động giữ vai trò cơ bản ởđây là lao động của các thành viên tự do về mặt hình thức sống trong nhiềucông xã nông thôn Còn các tầng lớp thượng lưu tập hợp xung quanh ngai
Trang 13vàng nhà vua chủ yếu sống nhờ sự bóc lột một cách trực tiếp và phi kinh tếđối với các thành viên có tự do hình thức trong những công xã nông thôn.Nền kinh tế của các nhà nước phương Đông cổ đại đầu tiên chủ yếumang tính chất tự nhiên, vai trò của buôn bán là không đáng kể Vai trò đóhoàn toàn phù hợp với tính chất bảo thủ của quan hệ kinh tế - xã hội, vớitình trạng thủ công nghiệp mới bắt đầu tách ra khỏi nông nghiệp, với sựphát triển chưa đáng kể của đời sống thị thành Tính chất bảo thủ đó thểhiện rõ nhất ở tính ổn định của công xã nông thôn tại các nước phươngĐông cổ đại, nơi mà các công xã kiểu đó tạo thành những đơn vị sản xuất,canh tác lúa nước và gắn liền với thủ công nghiệp, đã tồn tại hàng thế kỷ
và thậm chí hàng nghìn năm dưới một hình thức ít nhiều không thay đổi.Cho nên, sở hữu cá nhân ở các nước này cũng kém phát triển
Trong điều kiện chế độ nhà nước về cơ bản vẫn mang tính chất công
xã, buôn bán chưa phát triển, nền kinh tế tự nhiên ổn định, phương thứccưỡng bức và bóc lột mang tính chất phi kinh tế, thì quan hệ giữa ngườivới người, theo C.Mác, chưa được vật hóa ở mức độ đáng kể, nó cònmang tính chất trực tiếp, tự nhiên, không phải vật chất, mà dường như làmang tính chất cá nhân
Phù hợp với cơ cấu kinh tế - xã hội của các nhà nước phương Đông
cổ đại đó là đời sống tinh thần của họ, mà trước hết là các quan niệm vềthần thoại Đó là hình thái đầu tiên, chưa có sự phân hóa, hình thái thốngnhất của ý thức xã hội, và trong điều kiện tan rã của chế độ bộ tộc nguyênthủy và sự chuyển hóa của nó thành chế độ nhà nước có giai cấp Dựa trên
cơ sở của hình thái đó, ở nó đã xuất hiện hình thái phân hóa hơn của ý thức
xã hội, như trường ca, sử thi
Thần thoại xuất hiện với tư cách là sự phản ánh giới tự nhiên và đờisống xã hội vào ý thức của con người nguyên thủy Nhưng đó không phải là
sự phản ánh trực tiếp về giới tự nhiên và đời sống xã hội của con ngườinguyên thủy, mà là sự nhận thức được đặc trưng bởi các mối quan hệ mang
Trang 14tính chất liên tưởng - cảm tính Sự nhận thức đó trước hết được thực hiệnbằng con đường so sánh giữa môi trường xã hội mà trực tiếp và chủ yếu làquan hệ huyết thống với các hiện tượng tự nhiên đầy bí ẩn Cần phải nhấnmạnh rằng, sự nhận biết và quan sát trực tiếp về giới tự nhiên và quan hệhuyết thống như vậy đã diễn ra không phải với một ý thức bất biến nào đó,
mà với một ý thức đang biến đổi, dù là rất chậm chạp của con người cổđại Qua đó, lịch sử thần thoại không những phản ánh quan hệ luôn biếnđổi giữa con người với tự nhiên, mà nó còn phản ánh cả những sự biến đổimang tính tiến bộ trong bản thân ý thức của “con người có lý tính”, trong
tư duy mà nội dung biểu cảm của nó ngày một tích tụ thêm các yếu tốlôgíc - khái niệm ở “con người có lý tính” đó
Tuy nhiên, trong nền văn hóa cổ đại của các nước Cận Đông, bộ phậnquan trọng cấu thành nền văn hóa đó là tri thức khoa học mà lần đầu tiên,
đã xuất hiên ở chính nơi đây Đương nhiên, tri thức mà nhân loại đạt đượcqua thưc tiễn nhiều nghìn năm cũng đã tham dự vào thế giới quan thầnthoại, vì thiếu tri thức thì về thực chất, không thể có một thế giới quan nào
cả Song, việc tích lũy kinh nghiệm thực tế ở Sumerơ, Babilon và Ai Cậpgắn liền với việc canh tác lúa nước, với các công trình xây dựng trên hầukhắp lãnh thổ, như các đền đài lớn, các kim tự tháp khổng lồ và cùng vớiviệc đáp ứng các nhu cầu khác, đã làm cho một số môn khoa học xuất hiện
và phát triển Một tiền đề quan trọng của quá trình đó là sự xuất hiện chữviết Chữ viết xuất hiện đã góp phần duy trì kinh nghiệm cộng đồng và duytrì tri thức của con người một cách có hiệu quả hơn nhiều so với trí nhớ và
Trang 15nhiên, ở đó cũng đã có mầm mống của môn toán học chứng minh, suy diễn
- lý luận
Như vậy, có thể nói, trong nền văn hóa tinh thần của Babilon và AiCập đã có sự phát triển đáng kể của tư duy trừu tượng, khi mà thế giớiquan thần thoại cụ thể vẫn là thế giới quan phổ biến nhất, chung nhất củacác nền văn hóa đó Nhưng điều đó không có nghĩa là thế giới quan triếthọc đã xuất hiện ở đây, mặc dù theo một số tài liệu được ghi bằng chữphương Đông cổ đại đã cho thấy có những chuyển biến đáng kể trong thếgiới quan thần thoại truyền thống
Giống như toàn bộ nền văn hóa tinh thần Cận Đông cổ đại, nền vănhóa Sumerơ - Babilon và nền văn hóa Ai Cập rút cục vẫn chưa chín muồicho sự xuất hiện triết học với tư cách một hình thái ý thức xã hội đặc biệt,đặc thù Chính các nguyên nhân mang tính ý thức hệ - xã hội đã cản trở sựxuất hiện đó
Sự xuất hiện khoa học ở các nước Cận Đông đã dẫn tới việc tách laođộng trí óc ra khỏi lao động chân tay và hình thành nên một lớp người đặcbiệt với tư cách là các đại biểu của lao động trí óc Đó là những người xuấtthân từ tầng lớp tăng lữ và sau khi trở thành những người lao động trí óc, họ
đã dần dần hình thành một đẳng cấp đặc biệt Tuy nhiên, sự nghiên cứu khoahọc và việc điều hành công việc sản xuất chỉ là một dạng hoạt động, hơn nữakhông phải là dạng hoạt động quan trọng nhất trong những dạng hoạt độngcủa giới tăng lữ Dạng hoạt động quan trọng nhất trong giới tăng lữ là thựchiện các chức năng ý thức hệ - tôn giáo, thờ cúng - các chức năng được thiếtđịnh bởi tính tất yếu phải duy trì và củng cố xã hội có giai cấp bóc lột Trongđiều kiện chế độ nhà nước ngày một trở nên cồng kềnh thì lĩnh vực cái siêunhiên, yếu tố sùng bái tôn giáo trong thế giới quan thần thoại cũng tăng lên.Việc xây dựng các kim tự tháp Ai Cập cổ đại nổi tiếng và các đền thờ ởSumerơ - Babilon khổng lồ, vươn lên tận trời xanh dưới dạng những cái tháp
có thang bậc, là những minh chứng cho điều đó
Trang 16Việc xây dựng các đền thờ thần thánh đó đã cho thấy, khi đó khoa họcphải phục vụ tôn giáo Trong các nhà nước thần quyền ở phương Đông cổđại, cùng với sự ổn định đặc biệt của công xã nông thôn và các hình thức
xã hội khác, cùng với sự thần thánh hóa các vị Hoàng đế và các lãnh chúakhác - những người tượng trưng cho chính quyền nhà nước một cách vôđiều kiện, thì truyền thống có hàng nghìn năm tồn tại đã thể hiện ra nhưmột lưc lượng có quyền sai khiến và ban phát Nó loại trừ việc hợp lý hóathế giới quan - là cái đưa tới chỗ làm cho triết học xuất hiện
Tuy nhiên, nội dung tiến bộ của nền văn hóa cổ đại ở các nước CậnĐông đã không hoàn toàn biến mất khỏi kho báu tinh thần của nhân loại.Nền văn hóa Hy Lạp cổ đại đã không thể có được nếu không khai thác nó
1.1.2 Tính đặc thù của chế độ kinh tế - xã hội và đời sống tư
tưởng - văn hóa ở Hy Lạp cổ đại
Lịch sử nhà nước có giai cấp ở Hy Lạp cổ đại bắt đầu từ thời đạiKritô - Miken - thời đại có lẽ đã xuất hiện vào cuối thiên niên kỷ thứ ba -
là nền văn hóa thuộc kỷ nguyên bạc Các tài liệu khảo cổ học đã cho thấymối quan hệ giữa nền văn minh này với dân tộc Ai Cập và các dân tộc CậnĐông khác đã xuất hiện ngay từ thiên niên kỷ thứ hai Vào cuối thiên niên
kỷ này, nhiều bộ lạc ở Bắc Hy Lạp đã di chuyển xuống miền Nam và hìnhthành nên cái gọi là cuộc chinh phạt của người Đôriên Nó đã tiêu diệt cácnhà nước Kritô - Akhây và mở ra một thời đại mới trong lịch sử Hy Lạp
cổ đại mà người ta quen gọi là thời đại Hôme, với các tác phẩm sử thi nổi
tiếng của ông là Iliát và Ôđixê.
Tính phát triển không đồng đều của lịch sử đã tăng lên ở thời đại này,
xã hội chiếm hữu nô lệ được định hình ở Hy Lạp cổ đại lúc đó bắt đầu sảnxuất và sử dụng các công cụ bằng sắt - thứ công cụ có hiệu quả hơn nhiều
so với công cụ bằng bạc - đã mở ra khả năng to lớn để phát triển nôngnghiệp Đây là điều hết sức quan trọng đối với cư dân Hy Lạp cổ đại, nơi
mà đất đai khô cằn và không thuận tiện đối với việc tưới tiêu Các công cụ
Trang 17bằng sắt đã đem lại cho người Hy Lạp cổ đại một uy quyền đối với tựnhiên lớn hơn một cách đáng kể so với người Ai Cập và người Sumerơ -Babilon.
Quá trình tan rã của chế độ bộ lạc nguyên thủy, quá trình hình thành
xã hội có giai cấp và đời sống nhà nước ở Hy Lạp cổ đại kéo dài vài thế kỷ(vào khoảng từ thế kỷ XI-VIII tr.CN) Song dẫu sao thì quá trình đó vẫndiễn ra ở đây nhanh hơn so với ở các nước phương Đông cổ đại Và, điềuquan trọng là ở đây, những quá trình đó đã dẫn tới các hậu quả kinh tế - xãhội khác Một trong những hậu quả đó là việc giảm đang kể vai trò tính ổnđịnh của công xã nông thôn Vai trò của sở hữu tư nhân, trước hết là sởhữu của giới qúy tộc nông nghiệp và của giới qúy tộc dòng dõi ở Hy Lạp
cổ đại là lớn hơn nhiều so với ở các nước phương Đông cổ đại Tươngứng với hậu quả đó là sự tan rã nhanh chóng của công xã nông thôn ở HyLạp cổ đại Gắn liền với quá trình đó là quá trình hình thành nên vô số nhànước - thị thành ở Hy Lạp cổ đại Vai trò của thành thị trong đời sống kinh
tế - xã hội, trong quá trình hình thành và phát triển chế độ nhà nước ở HyLạp cổ đại là lớn hơn và mang tính quyết định hơn nhiều so với các nướcphương Đông cổ đại Lý do cơ bản của nó là việc sử dụng các công cụbằng sắt trong sản xuất thủ công nghiệp đã khiến cho thủ công nghiệpthoát khỏi hoạt động sản xuất nông nghiệp trên một quy mô rộng lớn màcác nước phương Đông cổ đại không hề biết đến
Các thị thành Hy Lạp cổ đại đã đi đến chỗ đối lập với nông thôn mộtcách gay gắt hơn nhiều so với các thị thành phương Đông cổ đại Buôn bántrở nên sôi động ở trong lòng nhà nước - thị thành, giữa các công xã cũngnhư trên quy mô cả nước và giữa các nhà nước thị thành với nhau Các nhànước - thị thành Hy Lạp cổ đại vào thế kỷ VIII-VI tr.CN trải rộng khắp miềnĐông Địa Trung Hải (một phần miền Tây, Nam Italia và Xixin) đã duy trìquan hệ buôn bán, văn hóa, với các thị thành - mẫu quốc ở chính Hy Lạp, ởquần đảo Êgin và ven biển phía Tây bán đảo Tiểu á (Iôni) Bản
Trang 18thân vị trí địa lý của thế giới Hy Lạp - Êgin, thế giới nằm giữa các nướcCận Đông cùng với chế độ nhà nước và nền văn hóa nhiều thế kỷ của nó,
đã khiến cho nó cùng với các nước phương Tây bừng tỉnh và hòa nhậpvào cuộc sống lịch sử, đồng thời biến các thị thành Hy Lạp cổ đại thànhtrung tâm buôn bán và sản xuất hàng hóa hết sức sôi động vào thời kỳ đó.Mức độ buôn bán và sản xuất hàng hóa sôi động đó có tầm quan trọngrất lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và sự xuất hiện đồng tiền vàothế kỷ VII tr.CN Quá trình phát triển việc trao đổi hàng hóa ở một sốnước phương Đông cổ đại cũng đã dẫn tới việc sử dụng các thỏi hợp kimlàm đơn vị chung để đo giá trị Nhưng đó là một hiện tượng còn ít nhiềumang tính ngẫu nhiên, và không dẫn đến sự tan dã đáng kể của nền kinh tế
tự nhiên Sự xuất hiện đồng tiền có quốc huy đã thể hiện rõ các thành tựu
to lớn về sự phân công lao động, cường độ sản xuất hàng hóa trong xã hội
Hy Lạp cổ đại
Tất cả những điều đó cho thấy sự khác biệt về nguyên tắc của nền vănminh Hy Lạp cổ đại so với nền văn minh ở các nước phương Đông cổ đại.Cùng với quá trình phát triển kéo dài vài thế kỷ (vào khoảng thế kỷ VIII-
VI tr.CN) cái có ý nghĩa ngày một gia tăng ở nhà nước - thị thành Hy Lạp
cổ đại là quan hệ trao đổi và như C.Mác đã nói, quan hệ vật chất - giữa các
cá nhân mà địa vị xã hội được xác định bởi giá trị tài sản của họ
Bước tiến lớn trong quá trình phát triển của cá nhân con người cũng
đã được thực hiện ở chính thế giới Hy Lạp cổ đại, và hơn nữa, trước hết lànhờ sự tiến bộ của quan hệ vật chất “Càng đi ngược lại dòng lịch sử,chúng ta càng thấy cá nhân - và do đó cá nhân sản xuất cũng vậy - thể hiện
ra là bị lệ thuộc, là một thành viên của một tổng thể lớn hơn: lúc đầu cánhân đó gắn liền một cách hoàn toàn tự nhiên với gia đình và với gia đình
đã phát triển thành thị tộc; sau đó thì gắn liền với công xã dưới những hìnhthái khác nhau, sản sinh ra do sự đụng độ và hợp nhất giữa các thị tộc”[23,
tr 855]
Trang 19Đương nhiên, tính chỉnh thể của cộng đồng vẫn được duy trì ở mọithời đại trong quá trình phát triển lịch sử tiếp theo và ngày một phức tạphơn theo tiến trình lịch sử nhân lọai Nhưng bản chất của tính chỉnh thể đó
đã thay đổi đáng kể Nó đem lại sự tự do ngày một lớn hơn cho sáng kiến
cá nhân (đương nhiên, trước hết là cho các cá nhân thuộc giai cấp thốngtrị về mặt kinh tế và chính trị) Thậm chí ở giai đoạn sơ khai của nó, giai
đoạn được ghi lại trong Iliát và Ôđixê, chúng ta còn bắt gặp một sự phát
triển hết sức đa dạng của cá nhân Ở đây có thể thấy không những cá tínhmạnh mẽ của tầng lớp qúy tộc, vua chúa và tướng lĩnh, mà cả những hìnhảnh giàu sắc thái của những người tự do bình thường, thậm chí của cảnhững người nô lệ So với xã hội phương Đông cổ đại, xã hội Hy Lạp cổđại bị phân hóa một cách đáng kể Thời đại Hôme đã để lại một tầng lớpđông đảo, bao gồm những người tiểu nông, các thành viên tự do của công
xã nông thôn, và đối đầu với họ là tầng lớp qúy tộc dòng dõi bao gồm cácchủ điền lớn, các nhà qúy tộc - những người cố gia tăng sở hữu của mìnhnhờ các chủ điền nhỏ và công xã của họ Cơ cấu xã hội đó trở nên phức tạphơn nhiều trong điều kiện nhà nước - thị thành Sản xuất thủ công nghiệp,buôn bán, cuộc sống đô thị đã có ảnh hưởng mang tính phá hủy đối vớicông xã nông thôn, và những người nông dân bị phá sản đã trở thànhnguồn bổ sung cho thành phố Tầng lớp thợ thủ công đông đảo được hìnhthành ở đây, tầng lớp thủy thủ và những người có nghề nghiệp khác tạothành các nhóm thị dân đông đảo Lớp thị dân giàu có, chủ nhân cácxưởng thủ công nghiệp, thương nhân, v.v bắt đầu giữ một vai trò to lớn.Đấu tranh giai cấp khốc liệt là nét đặc trưng cho nhà nước - thị thành HyLạp cổ đại và xét về phương diện này thì nó khác xa với các nước phươngĐông cổ đại
Vào khoảng thế kỷ VIII tr.CN, tầng lớp dân tự do dưới sự lãnh đạocủa bộ phận giàu có nhất và được những người nông dân ủng hộ đã tiếnhành các cuộc đấu tranh chống lại các nhà nước - thị thành ở Hy Lạp cổđại Vào thế kỷ V tr.CN, Aten đã trở thành trung tâm kinh tế, đặc biệt là
Trang 20trung tâm văn hóa - tinh thần dường như của toàn thế giới Hy Lạp cổ đại.Ngay từ cuối thế kỷ VII tr.CN, ở đây, người ta đã ghi chép và mã hóa cáigọi là “tập quán pháp” mà dân cư của Nhà nước thị thành Aten đã chấpnhận và đưa vào các mối quan hệ về tài sản cũng như các mối quan hệkhác của họ Khi đó, trong quá trinh mã hóa, người ta đã áp dụng một sốđạo luật cần thiết để điều tiết các mối quan hệ xã hội mới, trước hết làquan hệ sở hữu.
Việc mã hóa luật pháp và sự kiện xuất hiện bộ luật thành văn có một
ý nghĩa xã hội to lớn mà nhờ đó, sự chuyên quyền của tầng lớp qúy tộc đốivới tầng lớp dân tự do của nhà nước (đặc biệt là đối với nông dân) bị hạn chế đáng
kể Vào đầu thế kỷ tiếp theo (thế kỷ VI tr.CN), các cải cách của Sôlông đã gópphần hoàn thiện quá trình đó Nhờ có những cải cách này mà địa vị nô lệ do vay nợ
đã bị thủ tiêu, đất đai bị bọn qúy tộc chiếm đoạt đã được hoàn trả lại cho chủ nhântrước đó của nó, việc sử dụng những công dân Aten làm nô lệ cũng bị cấm Cáccải cách của Sôlông cũng như các cải cách sau đó của Klixphen vào cuối thế kỷ VI
đã có một ý nghĩa mang tính nguyên tắc không chỉ đối với Aten, mà còn đối vớinhiều nhà nước - thị thành Hy Lạp cổ đại khác
Các cải cách đó đã biến Aten thành nhà nước thị thành tiêu biểu ở HyLạp cổ đại Vốn là một dạng xã hội thu nhỏ của Hy Lạp cổ đại, trong toàn
bộ lịch sử của mình, Aten dường như đã trải qua mọi hình thức tổ chứcchính trị vốn đặc trưng cho nhà nước - thị thành Hy Lạp cổ đại Khác vớicác nước Cận Đông thời đó, nét đặc trưng nhất cho cả Aten lẫn nhiều nhànước - thị thành Hy Lạp cổ đại khác là sự thống trị của tầng lớp dân tự do -
đó là đại bộ phận nhân dân (trừ những người nô lệ), những người luôn thểhiện ở mức độ cao tính tích cực chính trị của mình Cho nên, nó được gọi
là chế độ dân chủ
Sức mạnh và thế mạnh của các nhà nước - thị thành Hy Lạp cổ đại đãthể hiện rõ trong giai đoạn diễn ra cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư vào
Trang 21thế kỷ V tr.CN khi mà Aten, Spác và các nhà nước thị thành Hy Lạp cổ đạikhác đã giáng cho nền quân chủ Ba Tư hùng mạnh - một trong các “siêucường” của thế giới cổ đại - những đòn thất bại nặng nề Thắng lợi trongcuộc chiến tranh đó không những đã bảo đảm cho sự độc lập chính trị chocác nhà nước - thị thành Hy Lạp cổ đại, mà nó còn góp phần tiếp tục làmtăng thêm sức mạnh về kinh tế của chúng Nhờ đó, chế độ dân chủ đãđược hoàn thiện ở Aten và nhiều nhà nước thị thành khác.
Một điểm khác biệt cơ bản trong cơ cấu kinh xã hội của nhà nước thị thành Hy Lạp cổ đại so với các nhà nước phương Đông cổ đại là laođộng cưỡng bức của người nô lệ gữi vai trò to lớn hơn nhiều Nghiên cứuđặc điểm này, Ph.Ăngghen đã dưa ra một đánh giá nổi tiếng về ý nghĩalịch sử của hình thái chiếm hữu nô lệ ở đây: “Chỉ có chế độ nô lệ mới làmcho sự phân công lao động có thể thực hiện được trên một quy mô rộnglớn giữa nông nghiệp và công nghiệp, và do đó, mới có thể có thời kỳhưng thịnh nhất của thế giới cổ đại, tức là nền văn minh Hy Lạp Không cóchế độ nô lệ thì không có quốc gia Hy Lạp, không có nghệ thuật và khoahọc Hy Lạp; không có chế độ nô lệ thì không có Đế chế La Mã Mà không
-có cái cơ sở của nền văn minh Hy Lạp và Đế chế La Mã thì không -có Châu
Âu hiện đại Chúng ta không bao giờ được quên rằng tiền đề của toàn bộ
sự phát triển kinh tế, chính trị và trí tuệ của chúng ta là một trạng thái trong
đó chế độ nô lệ cũng hoàn toàn cần thiết giống như nó được tất cả mọingười thừa nhận Theo ý nghĩa đó chúng ta có quyền nói rằng: không cóchế độ nô lệ cổ đại, thì không có chủ nghĩa xã hội hiện đại”[24, tr 254].Tuy nhiên, ở giai đoạn sơ khai trong lịch sử Hy Lạp cổ đại, khôngphải mọi người dân đều trở thành nô lệ Nô lệ hoàn toàn bị loại ra khỏi đờisống chính trị của nhà nước - thị thành Trong giai đoạn này, cái có tínhquyết định ở đây là cuộc đấu tranh giữa các nhà nước - thị thành và giữaliên minh các nhà nước đó Trong vài chục năm cuối thế kỷ V tr.CN, giữaliên minh các nhà nước - thị thành Aten và liên minh các nhà nước - thị
Trang 22thành Spác đã diễn ra cuộc chiến tranh được biết đến với tên gọi là cuộcchiến tranh Pôlôpône Sự thất bại của Aten trong cuộc chiến tranh này đãdẫn tới chỗ liên minh của nó bị tan rã Sau đó các liên minh tương tự nhưvậy đã nhiều lần xuất hiện Cuộc chiến tranh liên miên giữa các liên minhnày rút cục đã làm cho các nhà nước - thị thành đều bị suy yếu Quá trìnhphân hóa dân cư thành đa số người nghèo khổ và thiểu số người giàu cóngày một tăng lên trong các nhà nước - thị thành đó Sự phân hóa này đãgây nên những tổn thất hết sức nặng nề, tạo nên sự khủng hoảng ngày mộttrầm trọng hơn vào khoảng thế kỷ IVtr.CN, khi mà một lực lượng mới -chế độ quân chủ Maxêđônia (Mecédoine) giành chiến thắng trước một liênminh mới giữa các nhà nước - thị thành Hy Lạp cổ đại - còn chưa bướclên vũ đài lịch sử Nhưng các sự kiện đó đã đã dẫn tới sự xuất hiện củaliên minh Hy Lạp- Maxêđônia và chiến dịch xâm lược các nước CậnĐông của Alếchxanđrơ Maxêđônia.
Các đặc điểm nêu trên của chế độ kinh tế - xã hội ở nhà nước - thịthành Hy Lạp cổ đại đã đem lại một tính chất rất độc đáo cho một nền vănhóa phong phú, nền văn hóa đã trở thành một trang quan trọng trong lịch
sử phát triển tinh thần của nhân loại
Một trong các nguyên nhân quyết định sự hưng thịnh của nền văn hóanày là mức độ tách biệt cao của lao động trí óc khỏi lao động chân tay.Điều này có liên quan mật thiết với sự tiến bộ chung đã đạt được trong sựphân công lao động Vai trò ngày một tăng của lao động nô lệ - nhữngngười phải gánh vác một khối lượng lao động cơ bắp nặng nề nhất - cũng
đã góp phần tách lao động trí óc khỏi lao động chân tay và góp phần thúcđẩy quá trình phân chia đó phát triển So với các nước Cận Đông, ở HyLạp cổ đại tầng lớp trí thức không còn bị ràng buộc với hoạt động phụng
sự tôn giáo, còn tầng lớp tăng lữ thì không có một vị trí quan trọng trongđời sống xã hội Điều đó chủ yếu là do họ thường không hoàn thành cácchức năng của nhà khoa học Các nhà khoa học đã xuất hiện từ tầng lớp thị
Trang 23dân khá giả, từ tầng lớp thương gia, chính khách v.v Thực ra, điều nàygắn liền với sự xuất hiện của triết học với tư cách một hình thái đặc biệtcủa ý thức xã hội, nhưng bản thân sự xuất hiện đó đã không thể có đượcnếu như không có sự phát triển cao mà lao động trí óc đã đạt tới ở các nhànước - thị thành Hy Lạp cổ đại.
Vai trò của lao động trí óc cũng tăng lên nhờ quá trình phổ biến chữviết ở người Hy Lạp cổ đại mà xét về phương diện này hơn hẳn các dântộc phương Đông cổ đại Việc phổ biến chữ viết sở dĩ diễn ra ở Hy Lạp cổđại là do bảng chữ cái đã xuất hiện ở đây vào đầu thiên niên kỷ thứ nhấttr.CN Sự phát triển chữ viết ở các nước Cận Đông đã xuất hiện bảng chữcái ở Phiniki Bảng chữ cái Phiniki đã được sửa đổi chút ít và được hoànthiện ở Hy Lạp cổ đại: bên cạnh các phụ âm cấu thành toàn bộ bảng chữcái Phiniki, người Hy Lạp đã bổ xung các chữ cái tạo thành các nguyên âm
và nhờ đó, bảng chữ cái trở nên linh hoạt hơn
Đương nhiên, bảng chữ cái tự nó không thể sáng tạo ra các áng thi ca,
sử thi và các tác phẩm triết học, khoa học ở Hy Lạp cổ đại, song bản thânkhả năng ghi chép lại các tác phẩm đó đã kích thích sự sáng tạo của trí tuệ
và biến các kết quả sáng tạo đó thành một hiện tượng ít nhiều mang tínhđại chúng
Ý nghĩa của hoạt động trí tuệ đặc biệt tăng lên cùng với sự phát triểnnhân cách của cá nhân trong nền văn hóa tinh thần của người Hy Lạp cổ đại, nềnvăn hóa đã phản ánh các đặc điểm của đời sống kinh tế - xã hội của người Hy Lạp
cổ đại Ảnh hưởng của yếu tố truyền thống trong đời sống tinh thần con người ởcác nhà nước- thị thành Hy Lạp cổ đại so với các nước phương Đông cổ đại ngàycàng giảm cùng với quá trình gia tăng mức độ cải biến các mối quan hệ xã hội Vaitrò của quan hệ buôn bán và các quan hệ khác giữa người Hy Lạp cổ đại với chínhcác dân tộc Cận Đông và các nước khác là rất lớn trong quá trình tăng độ cải biếncác mối quan hệ xã hội đó Mặt khác, truyền thống bao giờ cũng là yếu tố vững
Trang 24vàng hơn khi mà con người chưa biết đến các trật tự xã hội, các phong tục
Cái có ý nghĩa đặc biệt đối với sự xuất hiện của triết học ở Hy Lạp cổđại là ở chỗ, nó không những bị quy định bởi tính đặc thù của của thầnthoại Hy Lạp so với thần thoại phương Đông, mà chủ yếu là ở “tính chínmuồi” của thần thoại Trong các tác phẩm của Hôme và Hêxiốt, đặc biệt là
ở Iliát và Ôđixê - những tác phẩm sử thi lớn nhất ở Hy Lạp cổ đại, hành độngcủa Thượng đế, của các vị anh hùng và của con người đan xen lẫn nhau trong vô sốtình huống được mô tả Cả hai sử thi này không những là những di tích cổ xưa nhấtcủa thần thoại Hy Lạp cổ đại, mà còn là sản phẩm sáng tạo nghệ thuật rất xa lạ vớiniềm tin tuyệt đối vào các nhân vật thần thoại Hôme đã tỏ rõ thái độ phê phán đối vớicác vị thần trên đỉnh Ôlimpia truyền thống Khi người hóa các nhân vật thần thoại củamình và gán cho các nhân vật đó nhiều khiếm khuyết của con người, ông đã làmgiảm bớt tính không thể vươn tới của các vị thần trên đỉnh Ôlimpia của chúng và làmcho chúng trở nên gần gũi với con người Bên cạnh sự người hóa đó, một số vị thần
mà Hôme miêu tả giống như là những nhân vật
Trang 25không phải là đại diện cho một cái gì đó, đã càng trở nên giống như cáchình tượng tự nhiên.
Hình tượng quan trọng nhất trong số đó là thần Đại dương - một dòngsông nước ngọt khổng lồ, bao quanh toàn bộ trái đất, không những nuôidưỡng các dòng sông khác, các mạch nước ngầm, các giếng nước, mà cả cácbiển nước mặn Mọi thứ hiện hữu trên trái đất đều sinh ra từ chính thần Đạidương và vị hôn thê của ngài là thần Têphia Tại sao chính nước ngọt
ở Hy Lạp, nơi mà biển bao bọc xung quanh lại được coi là cơ sở đầu tiênsinh ra cả nước mặn ở các biển lớn? Theo các nhà nghiên cứu thần thoại và triếthọc thì quan niệm này được người Hy Lạp cổ đại tiếp thu từ thần thoại Sumerơ -Babilon, nơi mà vai trò của cơ sở đó hoàn toàn được giải thích qua điều kiện tựnhiên của dải đất nằm giữa hai con sông Tigơrơ và Epratơ, điều kiện có ý nghĩaquyết định đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp của cư dân ở đó
Mặc dù cái ẩn náu đằng sau vô số hiện tượng tự nhiên và hoạt độngcủa con người là hoạt động có mục đích của thần Dớt và các vị thần khácvới tư cách là những cá nhân siêu tự nhiên, nhưng ở Hôme, các sự kiệnvẫn diễn ra theo con đường tự nhiên Biểu tượng về tính tất yếu đã đượcphác họa một cách mờ nhạt dưới dạng số phận mà thường là do hình ảnh
về thần Moira thể hiện Vị thần này không phải bao giờ cũng phục tùngthần Dớt, và có sức mạnh thậm chí còn đứng trên thần Dớt Điều được coi
là hết sức quan trọng đối với sự xuất hiện sau này của triết học là việc trítuệ (noas, noys trong thổ ngữ Atti) được liệt kê vào số ba năng lực của ýthức con người bên cạnh tâm hồn (psychê) và tinh thần (thymos)
Nét đặc trưng rõ ràng hơn cho tính chín muồi của thần thoại Hy Lạp
cổ đại là hai sử thi của Hêxiốt, đặc biệt là Teôgônia (Gia phả hay nguồngốc các thần) Khác với các tác phẩm thi ca có tính nghệ thuật cao củaHôme, sử thi của Hêxiốt thấm nhuần tinh thần lý trí Nó đã cố gắng trìnhbày và hệ thống hóa các quan niệm thần thoại đã trở nên phổ biến ở người
Trang 26Hy Lạp cổ đại dưới vô số biến thể Việc giải quyết vấn đề này chứng tỏ quátrình phân rã đã bắt đầu diễn ra trong các quan niệm mà từ chỗ, các khách thểtrong niềm tin cộng đồng chưa có được sự phản tư đã biến thành khách thểcủa sự suy tư ban đầu Khi phác họa sự xuất hiện tuần tự của các nhân vậtthần thoại, Hêxiốt đã chú ý đặt ra cho mình nhiệm vụ giải thích, trình bày mộtcách tỷ mỷ cái đã tồn tại, cái đang tồn tại và cái sẽ tồn tại.
Ở Hêxiốt, Têôgônia đã biến thành nguồn gốc vũ trụ luận Hêxiốt đãtuyên bố cơ sở cho quá trình nảy sinh vũ trụ là trạng thái hỗn mang mà thực chất làkhông gian, là diễn đàn cho vở kịch vũ trụ tiếp theo Một trong các vấn đề cơ bản và
về thực chất, là vấn đề biện chứng của thế giới quan thần thoại - đó là vấn đề về sựphát sinh Vấn đề này đã được diễn đạt qua chính tên gọi của sử thi Sự quan tâm củaHêxiốt chủ yếu hướng vào việc làm sáng tỏ “trái đất của chúng ta đã ra đời như thếnào, tiếng rì rầm của biển cả vô bờ là do đâu, sông ngòi, các thiên thể mang ánh sáng
và bầu trời mênh mông trên đầu chúng ta đã ra đời như thế nào, ai đã sinh ra từ nhữngngười quan sát nguồn của cải bất tận đó” Song điều hết sức quan trọng đối với sựxuất hiện sau này của triết học- đó là “vực thẳm vĩ đại”(chasma), tức là chính cáitrạng thái hỗn mang đó “Vực thẳm vĩ đại” hay cái trạng thái hỗn mang đó đã được
mô tả như cơ sở mang tính thực thể vì “ mọi thứ
ở đó cả đầu lẫn đuôi, cả cái khủng khiếp lẫn cái tăm tối đều nằm cạnhnhau, đều được sinh ra từ trái đất tối tăm, từ thần Táctarơ khuất chìm trong bóngtối, từ đáy biển sâu thẳm, từ bầu trời đầy sao”[Dẫn theo: 51, tr 38-39] Ở đây, mộtlần nữa lại hiện ra hình ảnh về tính tất yếu tự nhiên trong tương lai
Đương nhiên, sự xuất hiện của triết học không phải nảy sinh ra một cách
tự phát từ thần thoại, mà triết học với tư cách một hình thái đặc biệt của ýthức xã hội, một biến thể đặc thù của hoạt động tinh thần của con người, chỉxuất hiện sau khi hoạt động đó dựa vào các khái niệm được hình thành trên
cơ sở tích lũy kinh nghiệm sản xuất, hoạt động xã hội và đạo
Trang 27đức phong phú của người Hy Lạp cổ đại Không phải ngẫu nhiên màngười Hy Lạp cổ đại gọi các nhà hiền triết (sophos) là các nhà hoạt độnglỗi lạc của họ, những người mà họ coi là tác giả của nhiều châm ngôn - cáiđược coi là kết quả tổng hợp sự thông thái, sự anh minh sáng suốt củanhân dân (chẳng hạn, “ hãy đừng làm gì quá mức”, “hãy tự hiểu chínhmình”, v.v ) Trong số “7 nhà hiền triết” thì bao giờ họ cũng kể đến nhàtriết học, nhà khoa học Hy Lạp cổ đại đầu tiên - Talét, nhà hoạt động chínhtrị, nhà thơ người Aten - Sôlông.
Triết học tách ra khỏi thần thoại cùng với quá trình hình thành kháiniệm mà nếu thiếu nó không thể có nguyên tắc luận chứng duy lý, nguyêntắc nhận thức duy lý về thế giới tự nhiên và con người Tuy nhiên, khôngnên coi quá trình này là một hành vi ngắn ngủi nào đó, mà trên thực tế, nóbao trùm toàn bộ giai đoạn phát triển ban đầu của triết học Hy Lạp cổ đại,bắt đầu từ cuối thế kỷ VII tr.CN và kéo dài đến giữa, thậm chí đến nửa sauthế kỷ V tr.CN - thời đại của các nhà triết học lừng danh, như Pácmênít,Dênông, Đêmôcrít và Xôcrát
Các hình tượng - quan niệm thần thoại là đa nghĩa, mơ hồ, không xácđịnh Triết học đã cố gắng biến đổi các hình tượng đó thành các khái niệm.Thế nhưng, một thời gian dài, triết học vẫn chưa có đủ khả năng khắc phụcđược tính đa nghĩa, mơ hồ đó, mặc dù nó đã giảm làm đi một cách đáng kể
tính đa nghĩa, mơ hồ trong các hình tượng thần thoại ấy Đặc trưng vốn có đó
của tư duy triết học là một trong những biểu hiện quan trọng nhất của quá trình duy lý hóa mà nhờ đó, triết học tách ra khỏi thần thoại.
Đương nhiên, quá trình duy lý hóa thế giới quan, quá trình đưa tới sựxuất hiện của triết học mà trong đó, các yếu tố của khái niệm dần dần đãchiếm ưu thế so với hình tượng và biểu tượng thần thoại là quá trình dựavào tri thức khoa học mà Talét, sau đó là nhiều nhà triết học, nhà khoa học
và hiền triết Hy Lạp cổ đại khác đã tiếp thu ở người Ai Cập, Babilon vàcác dân tộc cổ đại khác ở Cận Đông Nhưng ở các nhà hiền triết Hy Lạp cổ
Trang 28đại, các chân lý toán học và thiên văn học đã có được một hình thức khác.Điều này trước hết có liên quan tới vai trò đặc biệt to lớn của toán họctrong quá trình duy lý hóa thế giới quan Công lao lớn nhất ở đây thuộc vềtrường phái Pitago Nhờ hoạt động của trường phái này, toán học đã trởthành lĩnh vực tri thức lý luận, tri thức có sự luận chứng quan trọng nhất.
Cũng chính Pitago là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ triết học, thuật ngữ
mà sau đó xuất hiện ở nhiều nhà hiền triết Hy Lạp cổ đại - những người sử
dụng nó để nhấn mạnh khát vọng về chân lý và mong muốn nghiên cứu chân lý của mình.
Bản thân sự xuất hiện của thuật ngữ đó gắn liền với cả một cuộc cáchmạng trong thế giới quan Người Hy Lạp cổ đại đã sử dụng từ “sự thôngthái” (Xôphia) để chỉ mọi kỹ năng, kỹ xảo thực tế đã đạt tới trình độ nghệthuật Và sự thông thái chính trị - đạo đức mà “7 nhà hiền triết” đã đấutranh đến cùng vì nó cũng là sự thể hiện cao nhất của sự thông thái đượcquan niệm như là nghệ thuật hiện thực Còn sự xuất hiện của thuật ngữ
“triết học” với tư cách “yêu mến sự thông thái” đã đánh dấu của sự xuất
hiện tri thức thuần túy lý luận Đối với các nhà triết học thì công việc suy
xét, tư duy trở thành công việc chủ yếu trong cuộc sống của họ Theo đó,thuật ngữ “triết học” đã mang một sức tải thuần túy thế giới quan
Những tư tưởng triết học được các nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại pháttriển là hết sức phong phú Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin
đã nhiều lần đánh giá cao sự phong phú đó Theo Ph.Ăngghen, chính là “từcác hình thức muôn hình muôn vẻ của triết học Hy Lạp, đã có mầm mống
và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau này”[24, tr 491]
Trong các loại thế giới quan đó, trước hết cần phải lưu ý tới sự hình
thành của chủ nghĩa duy vật Nó được củng cố trong cuộc đấu tranh với thế
giới quan thần thoại, khi hướng tới sự giải thích tự nhiên và các hiện tượngdiễn ra trong tự nhiên Tuy nhiên, với toàn bộ sự tự đối lập mình với thầnthoại, một thời gian dài chủ nghĩa duy vật vẫn còn mang sắc thái lệ thuộc
Trang 29vào thần thoại Tình trạng đó kéo dài tới tận chủ nghĩa duy vật trong họcthuyết của Đêmôcrít, sau đó là Êpiquya và Lucrêxi (thế kỷ I tr.CN ở La Mã
cổ đại), khi mà chủ nghĩa duy vật còn chưa đạt tới sự trưởng thành ở mứctối đa có thể có trong điều kiện cổ đại, cho tới khi nó chưa trở nên mâuthuẫn gay gắt với thế giới quan thần thoại - tôn giáo Mặt khác, chủ nghĩaduy tâm được hình thành tới mức hoàn hảo trong các tác phẩm của Platôn,cũng đã phát triển Mối liên hệ với thế giới quan thần thoại - tôn giáo đãđược duy trì và thậm chí còn được phát triển sâu sắc thêm trong chủ nghĩaPlatôn cũng như trong các hình thức khác của chủ nghĩa duy tâm
1.2 CÁC LOẠI HÌNH CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG HY LẠP
CỔ ĐẠI VÀ CỘI NGUỒN CỦA NÓ
Những quan niệm và tư tưởng biện chứng đã chiếm một vị trí đáng
kể trong thế giới quan triết học của người Hy Lạp cổ đại Về thực chất,những quan niệm và tư tưởng biện chứng đó đã xuất hiện cùng với triếthọc Xét về nhiều phương diện, có thể đánh giá phép biện chứng là mộthiện tượng có ý nghĩa thế giới quan rộng lớn cũng như triết học
Tuy nhiên, nói tới phép biện chứng ở giai đoạn này, cần phải hiểu nó
theo hai nghĩa: Thứ nhất, đó là giai đoạn đầu tiên trong lịch sử nhận thức mang tính biện chứng về sự phát triển của hiện thực; thứ hai, đó là phép
biện chứng theo nghĩa cổ điển của từ này
Theo V.I Lênin, quan điểm biện chứng về sự phát triển dựa trên họcthuyết về mâu thuẫn, về các mặt đối lập, về sự thống nhất và đấu tranh củacác mặt đối lập đó Khi xác định quan điểm phát triển và khi phân biệt cácquan điểm biện chứng và siêu hình về sự phát triển, V.I Lênin đã coi phépbiện chứng của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại là khởi nguyên lịch sử củamột hình thái mới
V.I Lênin đã đánh giá phép biện chứng là “học thuyết về sự pháttriển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện ”[17,
tr 53] Với tư cách là một học thuyết hoàn chỉnh và sâu sắc như vậy, học
Trang 30thuyết này (khác với quan niệm siêu hình về phát triển) xem “sự phát triểncoi như là sự thống nhất của các mặt đối lập (sự phân đôi của cái thốngnhất thành những mặt đối lập bài trừ lẫn nhau và mối quan hệ lẫn nhaugiữa các mặt đối lập ấy)[18, tr 379] “Theo nghĩa đen, phép biện chứng là
sự nghiên cứu mâu thuẫn trong ngay bản chất của các đối tượng” [18, tr.
268] “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thốngnhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biệnchứng”[18, tr 240]
V.I Lênin còn định nghĩa “phép biện chứng là học thuyết vạch ra rằng những mặt đối lập làm thế nào mà có thể và thường là (trở thành) đồng nhất tại sao lý trí con người không nên xem những mặt đối lập ấy là
chết, cứng đờ, mà là sinh động, có điều kiện năng động, chuyển hóa lẫnnhau” [18, tr 116-117]
Như vậy, có thể nói toàn bộ vấn đề của phép biện chứng là vấn đề lýgiải về sự phát triển, về tính mâu thuẫn của tự nhiên và tư duy, về sự đấutranh và đồng nhất (thống nhất ) của các mặt đối lập, về các vấn đề gắnliền với nó (vấn đề về sự thống nhất và về mối quan hệ qua lại, về sự phủđịnh, về tính chất tiệm tiến của sự phát triển, v.v )
Phép biện chứng mácxít, khoa học, hiện đại dựa trên truyền thống tưtưởng biện chứng nhiều thế kỷ, bắt nguồn từ phép biện chứng Hy Lạp cổđại, coi nó với tư cách là khởi nguyên của mình Hêghen đã nhiều lần viết
về ý nghĩa to lớn của truyền thống này C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I Lênincũng đã nhiều lần nói về nó C.Mác đã viết về truyền thống này khi ôngđánh giá tác phẩm viết về Hêraclít của Látxan Ph.Ăngghen cũng đã đề cậpđến vấn đề này trong nhiều tác phẩm của ông, khi xác định phép biệnchứng là khoa học “về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự pháttriển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”[24, tr 201].Ph.Ăngghen đã nhận thấy nguồn gốc lịch sử của nó trong các học thuyếtcủa các nhà triết học Hy Lạp cổ đại và đã khẳng định rằng: “Những nhà
Trang 31triết học Hy Lạp cổ đại đều là những nhà biện chứng tự phát, bẩmsinh ”[24, tr 34].
Dường như phần lớn các định nghĩa mang tính tổng quát nêu trên vềphép biện chứng đều đã được V.I.Lênin đưa ra khi nghiên cứu triết học
Hy Lạp cổ đại Bản thân V.I.Lênin cũng đã chỉ ra nguồn gốc lịch sử đó củacác tư tưởng biện chứng cơ bản Ông đã trích dẫn Hêghen, khảo lược vàtrình bày lại chính những đoạn mà ở đó, phép biện chứng Hy Lạp cổ đạiđược phân tích Khi đánh giá phép biện chứng của Dênông, V.I.Lênin đã
xác định “ bản chất của phép biện chứng được thể hiện trong công thức:
thống nhất, đồng nhất của các mặt đối lập” [18, tr 275] Còn khi xem xétquan điểm của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại về “sự chuyển hóa” (tức là
về sự phát triển ), V.I Lênin đã đem quan niệm của Hêrclít- “sự biến hóa
của cái này sang cái kia” [18, tr 285] đối lập với quan niệm siêu hình về
“sự chuyển hóa”
Như vậy, với nghĩa đầu tiên, phép biện chứng Hy Lạp cổ đại phảiđược coi là một giai đoạn xác định, hơn nữa là giai đoạn mang tính xuấtphát điểm đối với triết học Tây Âu trong quá trình lý giải về sự phát triểnlịch sử của môn khoa học về các quy luật phổ biến, về sự phát triển của tựnhiên, của xã hội và của tư duy con người
Đương nhiên, bản thân giai đoạn đầu tiên đó cũng trải qua quá trình
tiến hóa nhất định Thoạt đầu, các tư tưởng biện chứng chủ yếu được phát triển khi con người khảo cứu tự nhiên, sau đó chúng mới được hình thành trong các học thuyết về xã hội và tư duy Tuy vậy, các yếu tố biện chứng
của sự nhận thức và của đời sống xã hội dưới dạng phôi thai của chúng đã
có trong các hình thức ban đầu của tư duy biện chứng, như ở Hêraclít.Thuật ngữ dùng để chỉ phép biện chứng Hy Lạp cổ đại luôn có trong
nó sự kết hợp giữa thuật ngữ “phép biện chứng khách quan”của Hêghen
mà V.I.Lênin cũng chấp nhận với thuật ngữ “ phép biện chứng tự phát” doPh.Ăngghen đưa ra Thuật ngữ “phép biện chứng khách quan tự phát” có
Trang 32nghĩa rằng, khi phát triển các yếu tố của phép biện chứng trên thực tế, bản thân các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, về mặt chủ quan, đã không ý thức được nó, đã không gọi học thuyết đó là phép biện chứng, đã không tự giác xây dựng nó thành hệ thống.
Khi phản ánh tính chất biện chứng của tự nhiên, xã hội và tư duy,phép biện chứng khách quan tự phát đó của các nhà tư tưởng Hy Lạp cổđại luôn tồn tại dưới hai loại hình:
1) Phép biện chứng khẳng định, tức là khẳng định và phân tích các quy
luật biện chứng khác nhau trong lĩnh vực tự nhiên, xã hội hay tư duy;
2) Phép biện chứng phủ định (mang tính chất tiêu cực), tức là phủ định
tính chân lý của cái mà trong đó, tính mâu thuẫn nội tại bộc lộ ra Vốn là bản tính bẩm sinh của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, phép
biện chứng khách quan tự phát xuất hiện ngay từ khi triết học cổ đại ra đời
ở các nhà triết học tự nhiên thuộc trường phái Milê Với tư cách là phépbiện chứng khẳng định, nó được thể hiện rõ nhất ở Hêraclít, còn với tư cách làphép biện chứng phủ định, nó được thể hiện ở trường phái Êlê
Tuy phân biệt phép biện chứng Hy Lạp cổ đại theo hai nghĩa đó,nhưng thực ra hai nghĩa này không tuyệt đối biệt lập Ngay từ khi bắt đầutồn tại, chúng đã liên hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau Hơn nữa,nghệ thuật tiến hành tranh luận nhằm phát hiện và chứng minh chân lýngày càng thể hiện ra là khả năng nhận thức đối tượng trong những tínhquy định đối lập nhau vốn có ở nó, khả năng qui những tính quy định đó vềmột cái thống nhất, khả năng phát hiện ra sự thống nhất của các mặt đốilập, tức là ngày càng trở thành phương pháp nhận thức biện chứng về tựnhiên, xã hội và tư duy Và, đương nhiên, kể từ thời Xôcrát, các nhà triếthọc đều luôn luôn phát triển phép biện chứng theo cả nghĩa này lẫn nghĩakia đại
Trang 33Để hiểu một cách cụ thể tính chất chung của cả hai loại hình đó củaphép biện chứng cổ đại, chúng ta cần phải đặt chúng trong bối cảnh lịch
sử, mà trước hết chúng ta phải trở lại xem xét vấn đề nguồn gốc của nó
Ở trên, chúng tôi đã chỉ ra mối liên hệ mang tính phát sinh của triếthọc Hy Lạp cổ đại đối với thần thoại, thể hiện ở sự thống nhất phương pháp nhìnnhận thế giới, phương pháp mang tính quyết định đối với các quan niệm thần thoại
và đã trở thành một trong những phương pháp cơ bản trong các hệ thống triết học
-vũ trụ luận Phương pháp thần thoại (đương nhiên là không được ý thức) làphương pháp so sánh giữa cộng đồng huyết thống - bộ lạc, thị tộc với con người -với tư cách là một yếu tố dường như hoàn toàn bị hòa tan trong cộng đồng huyếtthống đó và với toàn bộ giới tự nhiên xung quanh con người Phương pháp sosánh đó gắn liền với tri giác mang tính chỉnh thể, không phân hóa về giới tự nhiênxung quanh con người và với sự thống trị của các quan niệm “nhân tính hóa” và
“mô phỏng xã hội” trong thần thoại
Các quan niệm đó đóng vai trò hết sức to lớn trong triết học Hy Lạp
cổ đại, đặc biệt là ở giai đoạn sinh thành của nó Tuy nhiên, trong triết họcnày sự so sánh như vậy lại xuất phát từ việc con người ngày càng ý thứcđược cá tính của mình, ngày càng trở thành cá nhân và từ một xã hội khác
- xã hội đã đổi khác về nguyên tắc so với xã hội bộ lạc - thị tộc Đó là xãhội có giai cấp và hình thức nhà nước - thị thành đã xuất hiện Và, nguyên tắcmang tính xây dựng của xã hội đó là nền pháp trị mà trong đó, các cơ sở đạo đức
và pháp lý đã không còn có sự phân biệt một cách rạch ròi
Vấn đề arkhe, tức là khởi nguyên đã trở thành vấn đề cơ bản trong
triết học tự nhiên của Talét, Anaximanđrơ, Anaximen, Kxênôphan,Hêraclít và các nhà “Phixiôlô” (các nhà triết học sau này đã gọi họ nhưvậy) - những người mà tác phẩm của họ thường có cùng một tên gọi “Về
tự nhiên” Khởi nguyên - đó là cái không những tồn tại trước mọi sự vật vàhiện tượng tự nhiên, xét về mặt phát sinh, mà còn cấu thành cơ sở hiện
Trang 34hữu, mang tính thực thể của chúng Như đã nói ở trên, tư tưởng thần thoạicủa Hôme, đặc biệt là của Hêxiốt, dường như hoàn toàn hướng vào vấn đề
sự sinh thành Tư tưởng về tính thực thể cũng đã thể hiện rõ trong quanniệm về trạng thái Hỗn mang của Hêxiốt và được phát triển thêm ở cácnhà triết học thời đó Họ đã coi khởi nguyên đầu tiên, cơ sở ban đầu lànhững yếu tố tự nhiên cơ bản, như nước, không khí, đất, lửa Từ nhữngyếu tố không những đã sinh ra tất cả mọi hiện tượng tự nhiên, mà cả vô sốcác thần và quỷ dữ trong thần thoại đa thần Hy Lạp cổ đại Việc các nhàtriết học Hy Lạp cổ đại tiếp nhận những khởi nguyên khác nhau khôngnhững là kết quả của việc xem xét nội dung thuần túy vật lý của các yếu tố
tự nhiên, mà còn là kết quả của tín niệm cho rằng, trong tự nhiên cũng nhưtrong nhà nước - thị thành, sự thống trị, quyền lực phải thuộc về một trongcác yếu tố đó
Phương pháp so sánh “nhân hình hóa - mô phỏng xã hội” cũng đãđược các nhà triết học Hy Lạp cổ đại áp dụng khi lý giải tính quy luật
trong tự nhiên Tính quy luật đó thường gọi là Đike mà trong tiếng Hy
Lạp, nó có nghĩa là “chính nghĩa” hay “sự thật”, và thường được thể hiệnqua Nữ thần chính nghĩa Sau khi nội dung đạo đức - pháp lý được đưavào, khái niệm “Đike” đã thay thế cho quan niệm thần thoại mơ hồ về sốphận với tư cách là tính quy luật vũ trụ - xã hội hoàn toàn chưa bị phânhóa và không thể tránh khỏi Hêraclít đã nói: mặt trời không thể vượt quámức độ đã định trước cho nó, nếu không thì cả mặt trời cũng sẽ bị trừngphạt - sự trừng phạt do “trợ thủ” của thần công lý (Đike) tiến hành
Đương nhiên, phương pháp so sánh trong việc xem xét giới tự nhiênkhông thể là phương pháp duy nhất và toàn diện của triết học đang sinhthành Sự xuất hiện của những khái niệm riêng trong triết học, những kháiniệm phản ánh sự định hướng ngày một sâu sắc hơn vào kinh nghiệm vàvào tri thức khoa học đang ngày một phát triển, và tất yếu, nó phải gắn liềnvới sự thâm nhập ngày một tăng vào lĩnh vực triết học của các phương
Trang 35pháp phân tích Tuy nhiên, theo chúng tôi, đối với triết học Hy Lạp cổ đạithì phương pháp so sánh mới chính là phương pháp chủ yếu khi nó đưa ramột quan niệm chỉnh thể về giới tự nhiên mà con người được coi là mộtyếu tố không thể tách rời.
Tri giác mang tính chỉnh thể về giới tự nhiên, trong đó bao hàm cảbản thân chủ thể của sự tri giác đó, về thực chất, là biểu hiện đầu tiên củaquan niệm biện chứng tự phát về thế giới Định hướng biện chứng này cónguồn gốc từ tư duy thần thoại Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa rằng, ýthức nguyên thủy của thời đại thống trị của thần thoại đã mang tính biệnchứng Bởi lẽ, phép biện chứng đó là một biểu hiện của ý thức triết học.Khác với tri giác thần thoại về tự nhiên, phép biện chứng quan niệm bảnthân cái chỉnh thể trong một sự thống nhất nhất định với các bộ phận ngàymột phân hóa của nó
Một đặc điểm khác của sự tri giác mang tính biện chứng tự phát vềthế giới là ở chỗ, nó thừa nhận sự biến đổi không ngừng, có thể thườngxuyên quan sát được trong tự nhiên Tư duy thần thoại cũng ghi nhận tínhchất biến đổi như vậy, song dường như nó lại không nhận thấy một yếu tốthực thể ổn định nào
Khi quan sát bức tranh về những biến đổi đó, tư duy triết học và tưduy biện chứng tự phát trong triết học Hy Lạp cổ đại đã cố xác định trong
tự nhiên một tính ổn định nhất định và cố tìm ra một hình thức thực thểcho nó
Vấn đề cụ thể hóa quan niệm về tính chỉnh thể của tự nhiên và về sựvận động không ngừng của nó là vấn đề xuyên suốt toàn bộ lịch sử triếthọc Hy Lạp cổ đại Sự cụ thể hóa đó dường như là điều quan trọng nhất
trong việc phân tích nguyên lý phát triển, nguyên lý liên kết mọi sự biến
đổi trong tự nhiên thành một quá trình thống nhất và xem xét con ngườicùng với ý thức của nó như một mắt khâu trong quá trình đó
Trang 36Nguyên lý phát triển được các nhà “Phixiôlô”trong nền triết học tựnhiên Hy Lạp cổ đại, bắt đầu từ Anaximanđrơ, xây dựng nên trong các hệthống tinh nguyên học khác nhau, các hệ thống cố làm sáng tỏ nguồn gốccủa các đặc điểm quan trọng nhất (theo quan niệm của người Hy Lạp cổđại) trong vũ trụ Ở các nhà “Phixiôlô”, nguyên lý phát triển không thểtách rời quan niệm mang tính chỉnh thể của họ về tự nhiên, quan niệm vềmọi bộ phận, mọi sinh vật, mọi sự vật và hiện tượng của tự nhiên với tưcách là những cái có mối liên hệ lẫn nhau Vì đại bộ phận các nhà triết học
Hy Lạp cổ đại, trước hết là các nhà triết học duy vật, đều cho rằng conngười cùng với ý thức của nó là biểu hiện cao nhất của tự nhiên, nên họđều khẳng định cần phải chỉ ra cái cơ sở khách quan cho phép lý giải mọiquá trình tự nhiên, kể cả con người cùng với tư duy của nó, đồng thời tìm
ra tất cả các khâu trung gian giữa con người cùng với ý thức vốn có ở nó
và các hiện tượng nguyên sơ nhất, ít hoàn hảo nhất của tự nhiên Các nhàtriết học giải quyết vấn đề này dựa trên thực trạng của tri thức khoa học tựnhiên thời đó
Arixtốt, một trong các nhà triết học tự nhiên vĩ đại nhất thời cổ đại, đãnói tới “cái thang liên tục” nối liền thế giới khoáng vật với thế giới thựcvật, thế giới thực vật với thế giới động vật và thế giới động vật với thế giớiloài người Tuy nhiên, ở Aixtốt, quan niệm về mối liên hệ phổ biến đó,mối liên hệ thống nhất toàn bộ tự nhiên, đã không được biến thành nguyên
lý về sự xuất hiện các hình thức hữu cơ cao hơn từ các hình thức thô sơ, có
tổ chức thấp hơn Nếu Arixtốt, người dao động giữa chủ nghĩa duy tâm vàchủ nghĩa duy vật, đã không thể thực hiện được nguyên lý đó, thì nhà duytâm như Platôn lại càng không thể thực hiên được điều đó
Nhưng nguyên lý phát triển dưới hình thức chung nhất đã đượcHêraclít xây dựng nên, và sau đó là các nhà duy vật cổ đại khác, nhữngngười đã gán cho bản nguyên thực thể đầu tiên của thế giới một đặc điểm
có khả năng lý giải được ý thức của con người Ở Hêrclít, cái giữ vai trò
Trang 37bản nguyên như vậy - đó là “ ngọn lửa bất tử” Hêraclít còn gọi cái bảnnguyên đầu tiên đó là lôgos - cái đã khiến cho quan niệm về số phận đượcduy lý hóa về phương diện triết học Học thuyết về lôgos với tư cách là “lửa có lý tính” hay khí lực đã được phát triển ở thời đại Hy Lạp hóa trongtrường phái Xtôíc - trường phái đã tồn tại đến cuối giai đoạn Hy Lạp hóa -
La Mã trong lịch sử Hy Lạp cổ đại Giống như Hêrclít, họ khẳng địnhrằng, sự phát triển của thế giới diễn ra theo quy luật của logos, trải dài từ
đá đến con người là một chuỗi sự vật khác nhau bởi cường độ khí lựcngày một cao hơn, mà cường độ khí lực cao nhất đã đạt được là ở ý thứccon người
Tuy nhiên, chúng ta chỉ có thể gọi một cách ước lệ quan điểm sinhđộng đó về tự nhiên là nguyên lý phát triển, bởi thiếu các tri thức khoa học
tự nhiên, quan điểm đó không thể trở thành một học thuyết có hệ thống về
sự phát triển đang diễn ra trong hiện thực Hạn chế trong quan niệm về sựphát triển của Hêraclít, của trường phái Xtôíc cũng như hàng loạt nhà triếthọc Hy Lạp cổ đại khác là ở chỗ, theo quan niệm đó, sự phát triển chỉđược thưc hiện dưới một vài dạng thức và, khi các hình thức đó trở nêncạn kiệt, thì giới tự nhiên dường như bị biến mất trong ngọn lửa của “ hỏahoạn vũ trụ”để rồi sau đó, lại lặp lại một cách chính xác các chu kỳ pháttriển trước đây
Có nhiều nguyên nhân đã khiến cho các quan niệm rất có ảnh hưởng
đó ở thời cổ đại trở nên phổ biến và hết sức đa dạng Đương nhiên, mộttrong những nguyên nhân đó là sự ảnh hưởng của thần thoại đối với tưtưởng triết học Còn sức mạnh của ảnh hưởng đó là tính hạn chế của trithức khoa học tự nhiên ở thời kỳ này Ngoài ra, còn có nguyên nhân xãhội, đó là tính trì trệ của các quá trình xã hội ở thời cổ đại và tính tươngđối nghèo nàn trong các hình thức sinh hoạt xã hội của con người so vớithời cận đại và hơn nữa, so với thời hiện đại
Trang 38Định hướng biện chứng tự phát của các nhà triết học Hy Lạp cổ đạicòn thể hiện rõ ở việc lý giải theo lối tự nhiên chủ nghĩa về thế giới conngười với tư cách là sự kết hợp khác nhau giữa các mặt đối lập Mầmmống của những quan niệm như vậy đã có trong tư duy thần thoại Trong
sử thi của Hôme, khởi nguyên đầy sức sống và xán lạn được đối lập vớikhởi nguyên phá huỷ và đen tối Trong “Trôgôni” của Hêxiốt, nguồn gốccủa các vật thể vũ trụ - tự nhiên quan trọng nhất được xem là hậu quả củatình yêu giữa nam và nữ (Hêa - đất và Uran - trời) Sau khi triết học xuấthiện trong điều kiện nhà nước - thị thành và trong cuộc đấu tranh giai cấpvốn có ở nó, thì tư tưởng về sự kết hợp các mặt đối lập được bổ sung thêmbởi tư tưởng về cuộc đấu tranh giữa chúng, bởi tư tưởng về tính kháchquan của các mâu thuẫn trong tự nhiên cũng như trong xã hội Hêraclítchính là người đầu tiên trong số các nhà biện chứng đó Trường pháiPitago, sau đó là Platôn, Arixtốt và các nhà triết học Hy Lạp cổ đại khác đã
có công phát triển học thuyết về các mặt đối lập
Nguồn gốc của phép biện chứng hiểu theo nghĩa thứ hai, nghĩa cổ đạicủa nó, có nguồn gốc từ triết học Hy Lạp cổ đại Song thuật ngữ “biệnchứng”xuất hiện muộn hơn nhiều so với thuật ngữ “triết học” Tư duy củacác nhà triết học Hy Lạp cổ đại đầu tiên đều hướng vào việc lý giải bảnchất của giới tự nhiên xung quanh con người Trong đó, bản thân conngười thể hiện ra như là một yếu tố không thể tách rời của tự nhiên Tuynhiên, cùng với quá trình phát triển ngày một tăng của nền tảng nhân cáchtrong đời sống xã hội của người Hy Lạp cổ đại, bản thân tư duy, nhận thứccủa con người cũng ngày càng trở thành đối tượng của triết học và theo
đó, hệ vấn đề nhận thức luận cũng hiện ra ngày một rõ Về thực chất, ngay
từ đầu, chính các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã gọi đó là hệ tư tưởng biệnchứng
Vấn đề tư duy bằng khái niệm trong triết học Hy Lạp cổ đại sơ kỳ đãđược Pácmênít đặt ra một cách rõ nét và gay gắt nhất Tác giả bài thơ “Về
Trang 39tự nhiên” là người đầu tiên đã đối lập khái niệm với tư cách công cụ duynhất thích hợp của tư duy đang nhận thức chân lý với hình ảnh cảm tính,hình ảnh chỉ đưa chúng ta tới lĩnh vực nhận thức theo dư luận Các tưtưởng của Pácmênít đã được học trò của ông là Dênông phát triển với mộtsức mạnh lôgíc to lớn Trong các nghịch lý nổi tiếng của mình, lần đầutiên, Dênông đã đặt ra các vấn đề triết học sâu sắc về bản chất của vậnđộng, của không gian và thời gian Có lẽ, chính là do các nghịch lý củaDênông được trình bày dưới dạng hỏi đáp mà Arixtốt đã gọi ông là ngườikhởi xướng phép biện chứng.
Tuy nhiên, với các tài liệu còn lưu giữ được, thì Xôcrát mới thực sựdược coi là ông tổ của phép biện chứng theo nghĩa cổ đại của từ đó Hơnbất kỳ bậc tiền bối nào, chính nhà hiền triết Aten này đã cống hiến rấtnhiều cho việc xây dựng một phương pháp có hệ thống nhằm đạt tới chân
lý Bản thân Xôcrát đã thường gọi phương pháp đối thoại này là phươngpháp “bà đỡ”, tức là phương pháp để làm nhẹ bớt sự ra đời của chân lýđang còn yên giấc trong đáy ý thức (“tâm hồn”) con người và không thểtìm thấy ở tự nhiên bên ngoài Arixtốt đã gọi phương pháp đó là phươngpháp suy luận theo lối quy nạp
Tuy nhiên, theo xác nhận của Kxênôphan - học trò của Xôcrát, thìngười thày của ông - Xôcrcát - đã gọi phương pháp suy luận và nhận thứcchân lý của mình là phương pháp biện chứng (từ động từ dialegesthai).Phương pháp đó có mối liên hệ trực tiếp với thực tiễn chính trị của chế độdân chủ trong các nhà nước - thị thành ở thời đại thịnh vượng của nó.Không phải ngẫu nhiên mà hoạt động của Xôcrát đã diễn ra ở giai đoạnkhai sáng ngụy biện, khi mà từ công việc đơn độc ở các nhà triết học HyLạp cổ đại đầu tiên, triết học đã trở thành tài sản của các tầng lớp nhân dânđông đảo
Người đóng vai trò lớn trong quá trình hình thành sau đó của phépbiện chứng là học trò xuất sắc nhất của Xôcrát - Platôn, người sáng lập chủ
Trang 40nghĩa duy tâm cổ đại và cũng là của toàn bộ Tây Âu Chính dựa vào cáccuộc đối thoại của ông, mà trong đó, Xôcrát thể hiện ra là nhân vật chính,chúng ta mới có thể phán xét về phương pháp tìm kiếm chân lý mà Xôcrát
đã bảo vệ Phương pháp biện chứng của Xôcrát được học trò của ông tiếptục phát triển trên các bình diện khác nhau nhất
Tuy nhiên, ở thời đại của các nhà triết học này, cũng như ở các thờiđại sau đó, thuật ngữ “lôgíc” vẫn còn chưa xuất hiện (mặc dù danh từ
“lôgos” mà Hêraclít thường xuyên sử dụng đã trở nên phổ biến) Thực ra,cái mà họ gọi là biện chứng chính là cái đã trở thành yếu tố hàng đầu củakhoa học lôgíc sau này Cả ở Arixtốt - người đã luận chứng một cách toàndiện cho khoa học đó thì danh từ “lôgíc” vẫn chưa được sử dụng, mặc dù
ông đã sử dụng tính từ “lôgíc” Trong Tôpika, Arixtốt - một trong những
học trò của Platôn, đã coi biện chứng chẳng qua chỉ là một dạng suy luận
mà nhờ đó, chúng ta chỉ có thể đi đến các kết luận có thể có và do vậy,thường là mâu thuẫn với nhau (khác với các suy luận tất nhiên là cái đemlại các kết luận xác thực) Mặt khác, cái được gọi là phép biện chứng tiêucực thường bị biến thành thuật ngụy biện Thuật ngụy biện hoàn toànkhông hướng vào việc đạt tới chân lý khách quan Nó thường biến thành
“nghệ thuật” suy diễn và tranh luận vô bổ bằng ngôn từ thuần túy (đôi khicòn là sự lừa phỉnh giản đơn) “Phép biện chứng” kiểu đó không dẫn tớilôgíc, mà dẫn tới cái mà bản thân người Hy Lạp gọi là nghệ thuật hùng
biện Trong tác phẩm Tôpika, Arixtốt cũng gọi dạng suy luận đó là suy
luận theo lối hùng biện hay ngụy biện, suy luận chỉ tạo ra cái vẻ bề ngoàicủa chân lý
Lần đầu tiên - và hơn nữa là rất thường xuyên - trường phái Xtôic đã
sử dụng thuật ngữ “lôgíc” về mặt tri thức luận là thuật ngữ “biệnchứng”(cả hai thuật ngữ đều bắt nguồn từ động từ trong tiếng Hy Lạp -legein (nói)) Thuật ngữ “biện chứng” được các nhà Xtôic lý giải là mộttrong các phương thức biểu hiện của cái mà bản thân họ gọi là lôgíc (về