1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò của chuyên gia kinh tế đối với báo chí kinh tế việt nam

165 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 391,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

còn có rất nhiều chuyên mục, chuyên trang về các lĩnh vực kinh tế được xâydựng trên báo chí.Sự nở rộ của báo chí chuyên sâu về kinh tế là kết quả tất yếu của quátrình phát triển kin

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-ĐỖ MẠNH HƯNG

VAI TRÒ CỦA CHUYÊN GIA KINH TẾ ĐỐI VỚI

BÁO CHÍ KINH TẾ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨChuyên ngành Báo chí học

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-ĐỖ MẠNH HƯNG

VAI TRÒ CỦA CHUYÊN GIA KINH TẾ ĐỐI VỚI

BÁO CHÍ KINH TẾ VIỆT NAM

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học

Mã số: 60 32 01 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Vũ Quang Hào

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân Các kết quả nghiên cứu, khảo sát, số liệu công bố trong luận văn là hoàn toàn chính xác

và trung thực, không trùng lặp với bất kỳ công trình khoa học nào đã công bố trong và ngoài nước, nếu sai phạm, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Hà Nội, ngày 9 tháng 6 năm 2016

Tác giả luận văn

Đỗ Mạnh Hưng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quátrình thực hiện luận văn thạc sĩ báo chí với đề tài “Vai trò của

chuyên gia kinh tế đối với báo chí kinh tế Việt Nam”tôi đã nhận được rất

nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Quang Hào

đã tận tình dìu dắt và có những hướng dẫn, ý kiến góp ý chân thành cho tôitrong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Báo chí vàTruyền thông, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốcgia Hà Nội cùng các thầy cô giáo giảng dạy các bộ môn đã chỉ bảo và tạo điềukiện cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu Đồng thời, tôi cũng xinđược gửi lời cám ơn các anh, chị đồng nghiệp, phóng viên, biên tập viên củacác tòa soạn báo; các bạn học viên, sinh viên báo chí đã cung cấp cho tôinhững thông tin cần thiết phục vụ trong quá trình thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến gia đình,bạn bè, những người luôn ủng hộ, động viên tôi nỗ lực để hoàn thành tốt luậnvăn này

Mặc dù có nhiều cố gắng song luận văn không tránh khỏi còn nhữngthiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ của các thầy cô, bạnbè… để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 9 tháng 6 năm 2016

Tác giả luận văn

Đỗ Mạnh Hưng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do lựa chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 11

7 Kết cấu luận văn 12

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYÊN GIA, CHUYÊN GIA KINH TẾ, BÁO CHÍ KINH TẾ 13

1.1 Chuyên gia, chuyên gia kinh tế 13

1.2 Vai trò của chuyên gia kinh tế 15

1.3 Báo chí, báo chí kinh tế 19

1.3.1 Báo chí 19

1.3.2 Báo chí kinh tế 20

1.4 Các yếu tố cấu thành thông tin kinh tế 23

1.4.1 Thông tin số liệu thống kê 24

1.4.2 Thông tin từ quan sát của phóng viên 25

1.4.3 Thông tin tài liệu văn bản 26

1.4.4 Thông tin từ các chuyên gia kinh tế 27

Tiểu kết chương 1 28

CHƯƠNG 2: SỨC NẶNG CỦA THÔNG TIN KINH TẾ ĐƯỢC CUNG CẤP TỪ CÁC CHUYÊN GIA 29

2.1 Giới thiệu về các ấn phẩm báo chí, bản tin truyền hình được khảo sát 29

2.1.1 Thời báo Kinh tế Sài Gòn 29

Trang 6

2.1.3 Thời báo Kinh tế Việt Nam 30

2.2 Vai trò của chuyên gia kinh tế thể hiện qua các báo được khảo sát 30

2.2.1 Tần suất xuất hiện của các chuyên gia kinh tế 30

2.2.2 Cách thức thể hiện thông tin kinh tế khai thác từ chuyên gia 34

2.2.3 Những vai trò chủ yếu của chuyên gia kinh tế 41

2.3 Đánh giá chung 69

2.3.1 Những mặt tích cực 69

2.3.2 Những điểm còn hạn chế 72

Tiểu kết chương 2 75

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC KHAI THÁC THÔNG TIN TỪ CHUYÊN GIA KINH TẾ 76

3.1 Vấn đề lựa chọn chuyên gia 76

3.2 Bảo đảm tính chân thực, chính xác khi chuyển tải ý kiến chuyên gia đến công chúng 80

3.4 Xây dựng mối quan hệ giữa báo chí và chuyên gia kinh tế 88

3.5 Đổi mới cách thể hiện thông tin do chuyên gia kinh tế cung cấp 90

Tiểu kết chương 3 94

KẾT LUẬN 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.2 Khảo sát ý kiến chuyên gia trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online

32

Biểu đồ 2.5 Cơ cấu bài viết có ý kiến chuyên gia trên Thời báo Kinh tế Việt Nam 35Biểu đồ 2.6 Cơ cấu bài viết có ý kiến chuyên gia trên TB Kinh tế Sài GònOnline 36

Biểu đồ 2.7 Cơ cấu bài có ý kiến chuyên gia trên Bản tin Tài chính kinh doanh 37

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Trong cuộc sống hiện đại, vai trò của các phương tiện truyền thông đạichúng ngày càng quan trọng Nhu cầu được cung cấp thông tin của một bộphận lớn công chúng đang trở nên không thể thiếu Ở nước ta, nền báo chícách mạng đã được nhiều thành tựu, hiện nay, đang có sự phát triển bùng bổ

Số lượng lớn các ấn phẩm báo in, tạp chí, các kênh phát thanh, truyền hình vàtrang báo mạng điện tử đã cung cấp khối lượng tin, bài “khổng lồ” đến côngchúng Sự phát triển của báo chí nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề cho côngtác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, bổ sung cơ sở lý luận Điều đó không chỉgiúp báo chí có định hướng phát triển tốt hơn, hạn chế được những mặt tiêucực, phát huy những xu hướng tích cực mà còn nâng cao hiệu quả của quátrình truyền thông

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của công chúng, độc giả, khánthính giả, xu hướng xuất hiện những sản phẩm báo chí chuyên sâu về một sốlĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội tại Việt Nam ngày càng mở rộng Đặcbiệt, các nội dung về kinh tế luôn dành được sự quan tâm rất lớn của côngchúng Nền kinh tế Việt Nam hiện nay được đánh giá là phát triển năng động

và dự báo sẽ tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao trong thời giantới Nhiều vấn đề của nền kinh tế tác động trực tiếp đến cuộc sống người dân.Chính vì vậy, thông tin kinh tế được công chúng theo dõi sát sao Nắm bắtđược xu thế đó, trong thời gian qua, các cơ quan báo chí dành một thời lượng,diện tích đáng kể để đưa thông tin về các lĩnh vực của nền kinh tế đến côngchúng Đáng chú ý, trên các loại hình báo chí như báo in, báo mạng điện tử đã

có những tờ báo, trang báo thông tin chuyên sâu về kinh tế như Thời báo Kinh

tế Việt Nam, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Đầu tư Kênh truyền hình kinh tếcũng đã ra đời, có thể kể đến như Info TV, InvestTV, VITV Bên cạnh đó,

Trang 9

còn có rất nhiều chuyên mục, chuyên trang về các lĩnh vực kinh tế được xâydựng trên báo chí.

Sự nở rộ của báo chí chuyên sâu về kinh tế là kết quả tất yếu của quátrình phát triển kinh tế đất nước, hình thành nên đối tượng công chúng, độcgiả, khán thính giả có nhu cầu cao đối với nội dung thông tin này Đối vớinhiều người hoạt động trong lĩnh vực kinh tế, nắm được thông tin là một trongnhững yếu tố quyết định đến thành công của công việc kinh doanh Chính vìvậy, bên cạnh yêu cầu cập nhật nhanh chóng, đặc thù của thông tin kinh tế cần

có sự nhìn nhận, phân tích sâu, nguồn cung cấp thông tin đáng tin cậy và đưa

ra được dự báo xu hướng Từ những yêu cầu đó, nhiều báo chí kinh tế đã lựachọn sử dụng thông tin từ các chuyên gia kinh tế Tần suất xuất hiện củachuyên gia kinh tế trên báo chí ngày càng nhiều và họ đã tạo được dấu ấnđáng kể đối với công chúng Chuyên gia có thể xuất hiện với tư cách là ngườicung cấp thông tin, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm của mình; có thể phântích, lý giải những vấn đề còn đang có nhiều cách hiểu khác nhau; bày tỏ quanđiểm cá nhân về một sự kiện, vấn đề đang diễn ra; đưa ra những dự báo về xuhướng phát triển Nội dung chuyển tải từ các chuyên gia rất phong phú,thành phần các chuyên gia kinh tế cũng rất đa dạng Chuyên gia có thể làngười nghiên cứu, am hiểu sâu về một hoặc một số lĩnh vực kinh tế, haynhững người có kinh nghiệm hoặc những nhà quản lý

Từ thực tế của đời sống báo chí, việc tìm hiểu, nghiên cứu về vai tròcủa chuyên gia kinh tế là vấn đề có tính thời sự hiện nay Trong đó, có một sốvấn đề cấp thiết đang được đặt ra đòi hỏi cần có sự tìm hiểu, phân tích, lý giảinhư: Vai trò của chuyên gia đối với báo chí chuyên sâu về kinh tế được thếhiện như thế nào? Thông tin kinh tế được cung cấp bởi chuyên gia có ảnhhưởng ra sao đối với tin, bài trên báo chí kinh tế? Có vấn đề gì đặt ra đối vớiviệc sử dụng ý kiến của chuyên gia kinh tế trên báo chí hiện nay và làm cách

Trang 10

chuyên gia phù hợp với từng nội dung tin bài? Việc đi sâu nghiên cứunhững vấn đề này sẽ góp phần trực tiếp giúp báo chí không ngừng đổi mới,cải tiến để đáp ứng tốt hơn nhu cầu công chúng Điều này càng có ý nghĩa tíchcực trong bối cảnh yêu cầu của độc giả, khán thính giả ngày càng cao, cạnhtranh thông tin ngày càng gay gắt Là người đang công tác trong cơ quan báochí, được phân công theo dõi một số lĩnh vực kinh tế, tôi mong muốn khảosát, tìm hiểu thực tế để giải đáp một phần những vấn đề đang được đặt ra như

đã trình bày ở trên Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài cho luận văn thạc sĩcủa mình là “Vai trò của chuyên gia kinh tế đối với báo chí kinh tế Việt Nam”

2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề vai trò của báo chí đối với kinh tế nhận được sự nhận được sựquan tâm của một số nhà nghiên cứu Có thể kể đến như cuốn chuyên khảo

“Báo chí truyền thông và kinh tế, văn hóa, xã hội” của TS Lê Thanh Bình [1].Trong đó, tác giả nghiên cứu, phân tích ở một số góc độ như báo chí góp phầnthúc đẩy lĩnh vực văn hóa phát triển; đẩy mạnh truyền thông khuyến nông ởnông thôn; truyền thông và hoạt động dân số, kế hoạch hóa gia đình… Tác giảcũng trình bày kinh nghiệp trong công tác truyền thông về các lĩnh vực kinh

tế, văn hóa, xã hội ở một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đan Mạch, Mỹ…Ngoài ra, cuốn “Vai trò của báo chí trong phát triển doanh nghiệp” do TSPhạm Thắng và TS Hoàng Hải (chủ biên) đã trình bày những nội dung đadạng về đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, khẳng định vai trò quan trọng,những tác động của báo chí đối với sự phát triển doanh nghiệp [15]

Hội Nhà báo Việt Nam và một số cơ quan, đơn vị đã tổ chức nhiều hộithảo, diễn đàn về vấn đề nâng cao năng lực, kỹ năng của nhà báo viết về kinh

tế, vai trò của nhà báo đối với doanh nghiệp Năm 2011, Hội Nhà báo ViệtNam phối hợp với Viện KAS (Cộng hòa liên bang Đức) đã tổ chức hội thảokhoa học “Nâng cao năng lực và kỹ năng đội ngũ nhà báo viết về kinh tế” Tại

3

Trang 11

hội thảo này, ông Hà Minh Huệ, lúc đó là Phó chủ tịch thường trực Hội Nhà

báo Việt Nam đã khẳng định: “Viết một bài báo hay đã khó Viết một bài báo

hay trong lĩnh vực kinh tế lại càng khó hơn vì đây là lĩnh vực vốn khô khan và phức tạp, chuyên sâu Vì nó đòi hỏi nhà báo không chỉ có kiến thức hiểu biết

về các chuyên ngành kinh tế, mà còn cần có nghệ thuật viết sao cho công chúng hiểu được, ứng dụng được…” Năm 2015, Hội Nhà báo Việt Nam phối

hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức diễnđàn đối thoại doanh nhân với nhà báo, chủ đề là “Nâng cao năng lực cạnhtranh quốc gia – hợp tác giữa báo chí và doanh nghiệp” Mới đây, vào ngày20/4/2016, Ban thư ký Chương trình thương hiệu quốc gia (Bộ Công thương)

đã tổ chức “Diễn đàn thương hiệu quốc gia với truyền thông và cộng đồng”

Báo chí chuyên sâu về kinh tế mặc dù đã có sự hiện diện khá đậm néttrong đời sống báo chí nhưng đến nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu vềcác vấn đề liên quan đến thông tin kinh tế trên báo chí Một số công trìnhnghiên cứu ở cấp độ luận văn thạc sĩ đã đề cấp đến báo chí kinh tế, chủ yếu ởgóc độ nội dung, hình thức thể hiện của thông tin kinh tế trên báo chí

Luận văn thạc sỹ ngành truyền thông đại chúng của Ngô Bá Thành về

đề tài “Thông tin kinh tế trên Đài truyền hình Kỹ thuật số VTC” [29] đã khảo

sát những chương trình kinh tế được phát sóng trên Đài truyền hình Kỹ thuật

số VTC, nhận xét những ưu, nhược điểm của hoạt động thông tin kinh tế trênđài, từ đó dự thảo kênh truyền hình chuyên biệt về kinh tế đầu tiên của Đàitruyền hình Kỹ thuật số VTC Đây là luận văn có tính thực tiễn khá cao khimạnh dạn đưa ra mô hình kênh chuyên biệt về kinh tế cho Đài truyền hình Kỹthuật số VTC Thông qua việc tìm hiểu đặc thù của một đài truyền hình, tácgiả mong muốn những nghiên cứu, đề xuất của mình sẽ được ứng dụng trongthực tế Tác giả cũng đặt thông tin kinh tế trên Đài truyền hình Kỹ thuật sốVTC trong mối tương quan so sánh với một số đài truyền hình khác Từ đó,

Trang 12

đề xuất trong luận văn Mặc dù vậy, phương án đề xuất của tác giả không cóđiểm nhấn cụ thể cho kênh truyền hình này Nội dung các chuyên mục được

đề xuất không có quá nhiều sự khác biệt so với kênh truyền hình kinh tế đangđược phát sóng Chính vì vậy, có thể đặt nghi ngờ về sức hấp dẫn, từ đó tạonên tính cạnh tranh của kênh truyền hình này

Luận văn thạc sĩ của Hà Khắc Minh nghiên cứu về một nội dung trong

các lĩnh vực kinh tế đó là “Báo chí với quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà

nước” [24] Qua khảo sát một số tờ báo in chuyên sâu về kinh tế (Báo Đầu tư,

Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Tạp chí Kinh tế doanh nghiệp) và báo in có chuyêntrang về kinh tế (báo Tuổi trẻ TP Hồ Chí Minh), tác giả đánh giá thực trạngnội dung thông tin, hình thức, phương pháp thể hiện của vấn đề tái cơ cấudoanh nghiệp Nhà nước trên báo chí Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằmnâng cao hiệu quả thông tin về tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước trên báochí Cách lựa chọn đề tài của tác giả cho phép nghiên cứu sâu về một nội dungcủa lĩnh vực kinh tế, qua đó mang đến kết quả nghiên cứu giá trị Đề tàinghiên cứu đang có tính thời sự, được quan tâm của xã hội Tác giả đặt vấn đề

“Báo chí với quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước” nhưng mới chỉkhảo sát được một số ấn phẩm báo in, chưa đề cập đến truyền hình, báo mạngđiện tử, phát thanh Luận văn sẽ hấp dẫn, thiết thực và có ý nghĩa thực tiễncao hơn nếu tác giả có được thông tin nghiên cứu từ phóng viên theo dõi lĩnhvực này, những người trực tiếp đưa tin, bài về tái cơ cấu doanh nghiệp Nhànước và lãnh đạo một số doanh nghiệp Nhà nước nằm trong diện thực hiện tái

cơ cấu Những thông tin đó có thể bổ sung cho phần nội dung những vấn đềđặt ra đối với việc chuyển tải thông tin về tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nướctrên báo chí cũng như tác động, ảnh hưởng của báo chí lên chính doanhnghiệp, rộng hơn là cái nhìn của công chúng về vấn đề này sau khi tiếp nhậnthông tin từ báo chí

Trang 13

Cũng đề cập đến nội dung tái cơ cấu, luận văn thạc sĩ của Lê Phương

Vân lựa chọn hướng nghiên cứu ở quy mô lớn hơn: “Vấn đề tái cơ cấu nền

kinh tế trên báo chí kinh tế Việt Nam” [32] Luận văn khảo sát 3 ấn phẩm

chuyên sâu về kinh tế là Thời báo Kinh tế Việt Nam, báo Đầu tư và Thời báoTài chính Việt Nam, làm rõ thực trạng thông tin, tuyên truyền về hoạt động tái

cơ cấu nền kinh tế, đánh giá ưu, nhược điểm, chỉ ra nguyên nhân, đưa ranhững khuyến nghị, giải pháp Cách chọn đề tài, đặt vấn đề nghiên cứu củatác giả là một sự dũng cảm Bởi đây là vấn đề rất lớn của nền kinh tế, liênquan đến nhiều lĩnh vực, có sức ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội Trongkhuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, để giải quyết được vấn đề này là nhiệm

vụ không dễ dàng Cũng giống luận văn của tác giả Hà Khắc Minh, tác giả LêPhương Vân mới khảo sát 3 ấn phẩm của một loại hình báo chí Vì vậy, nộidung nghiên cứu có thể mới chỉ được ghi nhận từ một góc độ

Lựa chọn đề tài “Đặc thù của thông tin về thị trường chứng khoán

trên báo in hiện nay”, luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thu Trang đề cập đến một

trong những lĩnh vực kinh tế còn mới mẻ nhưng đã có bước phát triển nhanhchóng ở nước ta [30] Luận văn đã tìm hiểu những nét đặc thù về nội dung(thông tin phân tích, bình luận chuyên sâu, mức độ chính xác và tin cậy cao,tính tự chủ cao) và hình thức của thông tin (thể hiện ở trình bày, dung lượngtin, thể loại và việc sử dụng ngôn ngữ) về thị trường chứng khoán trên báo inhiện nay Tác giả cũng đưa ra những nhận xét khẳng định ưu thế nổi trội củathông tin trên báo in và đề xuất nâng cao chất lượng thông tin thị trườngchứng khoán trên báo in Về nội dung thông tin, luận văn cho rằng cần tăngcường tính thời sự, nâng cao tính chính xác, trung thực, khách quan, tăngcường số lượng và chất lượng thông tin phân tích, bình luận chuyên sâu Vềhình thức thể hiện của thông tin, cần tổ chức các tin bài theo hướng "nhiềucửa", khai thác hiệu quả kênh đồ hình, trau dồi ngôn ngữ, rút ngắn dung lượng

Trang 14

dựng đội ngũ nhà báo chứng khoán chuyên nghiệp, đội ngũ cộng tác viên có

uy tín Nội dung này khẳng định ý nghĩa quan trọng của việc biết cách khaithác thông tin hiệu quả sẽ có tác động tích cực đến chất lượng tin, bài về cácvấn đề kinh tế Trong đội ngũ cộng tác viên có uy tín mà tác giả đề cập, khôngthể thiếu các chuyên gia kinh tế Mặc dù không phải là đối tượng nghiên cứutrực tiếp, nhưng qua luận văn này có thể thấy vai trò của chuyên gia kinh tế đãbắt đầu được nhìn nhận trong đời sống báo chí, dù chỉ mới khía cạnh rất nhỏ

Ngoài ra, có thể kể đến một số luận văn thạc si có vấn đề nghiên cứu

liên quan đến báo chí kinh tế ở Việt Nam như “Thông tin kinh tế trên truyền

hình Thông tấn” của Vương Huyền Linh [26]; “Báo chí với việc thông tin điển hình kinh tế nông nghiệp - nông thôn hiện nay” của Lê Duy Phong [27]

hay “Ứng dụng các tính năng đa phương tiện trong tổ chức sản xuất bản tin

Tài chính Kinh doanh trên kênh VTV 1 - Đài truyền hình Việt Nam” của Chu

Hồng Phương [28], “Việc tiếp cận thông tin tài chính của nhà báo Việt Nam

hiện nay” của Nguyễn Hữu Tuấn [31]

Như đã nói, những công trình này chủ yếu đề cập đến khía cạnh nộidung, hình thức của thông tin kinh tế được thể hiện trên báo chí Việc nghiêncứu chủ thể, nguồn phát của thông tin đó gần như còn bỏ ngõ Đối với báochí, nguồn tin mang ý nghĩa sống còn Hiệu quả trong khai thác nguồn tinđóng vai trò quyết định đối với sức hấp dẫn của từng tin, bài Chuyện gia kinh

tế có thể xem là một trong những nguồn cung cấp thông tin rất quan trọng đốivới báo chí đặc biệt là báo chí kinh tế Hiện nay, chưa có luận án, luận văn,công trình nào nghiên cứu về vấn đề vai trò của chuyên gia kinh tế đối với báochí kinh tế tại Việt Nam Đề tài nghiên cứu tại luận văn thạc sĩ này sẽ không

bị lặp lại với công trình nghiên cứu khác, từ đó, có cơ hội để mang đến nhữngđóng góp mới cả về lý luận và thực tiễn cho sự phát triển của báo chí kinh tếnói riêng và báo chí Việt Nam nói chung

Trang 15

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận văn là từ những vấn đề lý luận và thực tiễn, đi vàokhảo sát vai trò của chuyên gia kinh tế được thể hiện qua các tin, bài trên báo

in và truyền hình; khảo sát ảnh hưởng của chuyên gia đối với chất lượng tin,bài; ghi nhận, phát hiện những ưu điểm và hạn chế; đồng thời đề xuất giảipháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của đội ngũ chuyên gia Những giải phápnày cũng sẽ nhằm nâng cao chất lượng của các tin, bài trên báo chí chuyênsâu về kinh tế, phục vụ tốt hơn nhu cầu độc giả, khán giả

Từ những mục đích đó, luận văn tập trung vào những nhiệm vụ sau:

về

một hoặc một số lĩnh vực của đời sống kinh tế

đất nước đang có sự phát triển không ngừng

mạng

điện tử và truyền hình để thấy được vai trò của đội ngũ chuyên gia kinh tế

phát huy hơn nữa vai trò của chuyên gia kinh tế trên báo chí kinh tế

Trong các nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn chú trọng tìm hiểu, đề xuấtmột số giải pháp cụ thể để tiếp tục nâng cao vai trò của chuyên gia kinh tế đốivới báo chí kinh tế

chân

thực, khách quan, chất lượng thông tin cao, chuyên gia cần được tạo điều kiệntối đa nhất cả về môi trường, hoàn cảnh cũng như cơ sở pháp lý Kiến thức, kỹnăng, kinh nghiệm của chuyên gia cần được khai thác phù hợp với nội dung,lĩnh vực mà nhà báo, cơ quan báo chí đề cập tới

Trang 16

8

Trang 17

kiến chuyên gia Cơ quan báo chí, nhà báo cần không ngừng đổi mới nộidung, cách thức trình bày sản phẩm của mình để tăng thêm tính hấp dẫn đốivới công chúng.

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vai trò của chuyên gia kinh tếđối với báo chí kinh tế Việt Nam thể hiện qua một số tin, bài trên báo in, báomạng điện tử và truyền hình đề cập đến nội dung chuyên sâu về kinh tế

Phạm vi nghiên cứu: Do đặc thù thông tin kinh tế gồm nhiều lĩnh vựckhác nhau với phạm vi rất rộng, luận văn tập trung nghiên cứu lĩnh vực tàichính và lĩnh vực ngân hàng Đây là hai lĩnh vực cốt lõi của nền kinh tế, đồngthời cũng ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống xã hội Trong điều hành kinh tế vĩ

mô của cơ quan quản lý Nhà nước, chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa lànhững công cụ hữu hiệu, tác động nhanh chóng đến các bộ phận của nền kinh

tế, từ đó, trở thành giải pháp có vai trò hàng đầu khi cần sự can thiệp của Nhànước Lĩnh vực này cũng thu hút được sự quan tâm của đông đảo công chúng

và được báo chí dành nhiều diện tích, thời lượng đưa thông tin Do vậy, luậnvăn tập trung nghiên cứu về thông tin tài chính, ngân hàng để có điều kiện tìmhiểu sâu, không quá phân tán, đồng thời, đây cũng là những lĩnh vực có tínhchất đại diện, khái quát cao

Luận văn nghiên cứu trên 3 loại hình báo chí là báo in, báo mạng điện

tử và truyền hình Trong mỗi loại hình báo chí lựa chọn các tin, bài chuyênsâu về kinh tế được nhiều độc giả, khán giả quan tâm, có ảnh hưởng lớn với

dư luận xã hội Báo in là loai hình báo chí truyền thống, ra đời từ lâu và cóquá trình phát triển tương đối dài Tại Việt Nam, báo in hiện nay là một trongnhững loại hình báo chí chủ chốt, có sự hiện diện rộng rãi trong xã hội Báo invừa mang đậm đặc điểm của báo chí vừa có những nét đặc thù riêng Riêngvới báo chí kinh tế, báo in đã xuất hiện những ấn phẩm chuyên sâu, xuất bản

Trang 18

báo đã tạo dựng thương hiệu lớn Bên cạnh báo in, luận văn cũng khảo sát tin,bài về kinh tế trên báo mạng điện tử Đây là loại hình báo chí đang có sự pháttriển nở rộ, đa dạng Thông tin trên báo mạng điện tử được cập nhật nhanhchóng, thu hút ngày càng nhiều độc giả Hiện nay hầu hết các cơ quan báo chítrong đó có báo chí chuyên sâu về kinh tế đã có ấn phẩm điện tử Ngoài ra còn

có những trang tin điện tử chuyên về các lĩnh vực của đời sống kinh tế

Luận văn cũng khảo sát trên truyền hình, loại hình báo chí mang đặctrưng nổi bật là thông tin nhanh chóng, sinh động, có tác động trực tiếp, mạnh

mẽ đến công chúng Thông tin kinh tế trên truyền hình hiện nay cũng rất đượcchú trọng với nhiều chương trình đặc sắc, những bản tin thu hút được sốlượng khán giả đông đảo Trong phạm vi khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, luậnvăn khó có điều kiện khảo sát tất cả các loại hình báo chí mà chỉ tập trung vàobáo in, báo mạng điện tử và truyền hình vì những lý do nêu trên

Lựa chọn khảo sát các loại hình báo chí này, luận văn mong muốn thunhận được những kết quả giá trị Từ đó, có thể đưa ra những nhận định, phântích, đánh giá về vai trò chuyên gia kinh tế đối với báo chí kinh tế Đặt trongmối tương quan so sánh với các tin, bài khác không sử dụng ý kiến chuyêngia, luận văn mong muốn chỉ ra sức nặng thông tin được cung cấp bởi chuyêngia kinh tế so với các thông tin khác như thông tin số liệu, thông tin từ điềutra, khảo sát của phóng viên, thống tin báo cáo, văn bản

năm

(từ tháng 7/2014 đến 6/2015)

trong

thời gian 1 năm (từ tháng 7/2014 đến tháng 6/2015)

Đài

truyền hình Việt Nam), do đặc thù về khả năng theo dõi cũng như lưu trữ nênđối với bản tin này, tiến hành khảo sát trong 6 tháng (từ tháng 6/2015 đến

Trang 19

10

Trang 20

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng chủ yếu hai phương pháp nghiên cứu là phân tích nội dung và phỏng vấn sâu:

số tin, bài trên báo in và truyền hình về lĩnh vực tài chính, ngân hàng có sửdụng ý kiến của chuyên gia kinh tế Cụ thể là tin, bài trên Thời báo Kinh tếViệt Nam, Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online và Bản tin Tài chính Kinh doanh(VTV 1 - Đài Truyền hình Việt Nam) Ngoài ra, còn sử dụng nội dung từ côngtrình nghiên cứu về báo chí, truyền thông, kinh tế vĩ mô Thống kê một vài

số liệu như tần suất xuất hiện, dung lượng, thời lượng các tin, bài có sử dụngthông tin từ chuyên gia kinh tế Từ cứ liệu có được qua việc phân tích nộidung, thống kê, có được cái nhìn bao quát, từ đó có thể rút ra những luận cứ,luận điểm, đưa ra đánh giá, đề xuất

chuyên gia kinh tế thường xuyên xuất hiện trên báo chí và phóng viên theodõi lĩnh vực tài chính, ngân hàng của một số cơ quan báo chí kinh tế nhưThời báo Kinh tế Việt Nam, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Đài Truyền hình

Luận văn đóng góp cho quá trình nghiên cứu vai trò của báo chí nóichung và báo chí kinh tế nói riêng trong việc phản ánh các thông tin kinh tế.Định hướng giải pháp cho những vấn đề của kinh tế nói chung và báo chí nóiriêng, khẳng định mối quan hệ khăng khít và qua lại giữa báo chí và kinh tế

Ý nghĩa thực tiễn:

Trang 21

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp các cơ quan báo chí, nhà báotrong việc nhìn nhận chính xác hơn vài trò của chuyên gia kinh tế đối với báochí nói chung và báo chí chuyên sâu về kinh tế nói riêng Luận văn cũng sẽđánh giá những vấn đề đặt ra và đề xuất giải pháp để nâng cao hơn nữa vai tròcủa chuyên gia kinh tế, từ đó, có thể nâng cao chất lượng của các ấn phẩm báochí, chương trình truyền hình, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của công chúng.

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chuyên gia, chuyên gia kinh tế, báo chí kinh tế

Chương 2 : Sức nặng của thông tin kinh tế được cung cấp từ các chuyên gia

Chương 3: Một số vấn đề đặt ra đối với việc khai thác thông tin kinh

tế từ chuyên gia kinh tế

Trang 22

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYÊN GIA,

CHUYÊN GIA KINH TẾ, BÁO CHÍ KINH TẾ 1.1 Chuyên gia, chuyên gia kinh tế

Từ điển tiếng Việt định nghĩa, chuyên gia là người trực tiếp làm côngviệc chuyên môn, là người có kiến thức chuyên sâu [20]

nghiệm thực hành công việc và có kỹ năng thực tiễn, lý luận chuyên sâu vềmột lĩnh vực cụ thể hoặc có hiểu biết vượt trội so với mặt bằng kiến thức

chung Tài liệu “Điều gì làm nên một chuyên gia” của Trung tâm Đào tạo

phát triển xã hội (Trường Đại học Tôn Đức Thắng) thì cho rằng, các chuyêngia có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua việc cho ý kiến, thamvấn) vào một công việc hay một lĩnh vực cụ thể Một trong những đặc điểmquan trọng để nhận dạng chuyên gia so với các chuyên viên, đồng nghiệpthông thường là: Kỹ năng, nghề nghiệp vượt trội đồng nghiệp; trong công việcluôn cho kết quả chính xác; tinh thông nghiệp vụ, am tường về công việc đanglàm; được tổ chức có thẩm quyền thừa nhận hoặc công nhận bằng văn bản; cókhả năng tư vấn thông thạo trên mọi lĩnh vực

Thạc sĩ Đặng Thanh Vân, sáng lập viên và Giám đốc điều hành Công tyThanhs, người có nhiều nghiên cứu về xây dựng thương hiệu và truyền thông,

đã đưa ra định nghĩa về chuyên gia của riêng mình trong bài viết “Làm gì để

trở thành chuyên gia”: Chuyên gia (từ tiếng Anh là expert) có từ gốc là

experience (kinh nghiệm, trải nghiệm) và bản thân từ này lại xuất phát từ

“experiment” (thí nghiệm, thử nghiệm, thực nghiệm) Vậy điều kiện cần củachuyên gia trước tiên là người có rất nhiều kinh nghiệm rút ra thông qua việcthử nghiệm/thí nghiệm/thực nghiệm nhiều lần trong chuyên môn của họ Điềukiện đủ mới là “có khả năng tham vấn, tư vấn, hướng dẫn cho người khác vềlĩnh vực đó” Cũng theo tác giả Đặng Thanh Vân, trước nay, chúng ta “dị

Trang 23

ứng” với từ chuyên gia, cho rằng chuyên gia là một điều gì đó quá cao siêukhông thể đạt tới Thực tế, một người quản đốc phân xưởng với tay nghề bậc7/7 chính là một “chuyên gia” trong nghề.

Theo TS Cao Sỹ Kiêm, Chuyên gia là một khái niệm chỉ người làmchuyên sâu về một số lĩnh vực nhưng phải có tầm hiểu biết rộng rãi các mặt,

có mối liên hệ các mặt kể cả trong nước và thế giới, tính lịch sử và tính thờiđại Hiểu rồi, có nhận thức toàn diện rồi, có tính chất chuyên sâu một vấn đềnhưng còn có khả năng phán đoán, phân tích, khả năng đề xuất giải pháp màqua thực tế công tác rút ra Từ đó đưa ra kiến nghị cả về đường lối chính sách,

cả giải pháp để giải quyết vấn đề chung đặc biệt là lĩnh vực chuyên sâu mìnhphụ trách Chuyên gia không chỉ là người giỏi về lĩnh vực chuyên môn màcòn có khả năng đóng góp, phân tích, giải quyết vấn đề đặt trong mối quan hệchung [Biên bản phỏng vấn sâu TS Cao Sỹ Kiêm – Phụ lục 1]

Chuyên gia kinh tế PGS.TS Ngô Trí Long thì nhấn mạnh, đã là chuyêngia mỗi người am hiểu một lĩnh vực nhất định, không có ai hiểu biết chuyênsâu về mọi mặt Để phát huy được vai trò của mình thì mỗi chuyên gia phải cómột lĩnh vực sâu, nếu cái gì cũng biết thì chẳng biết cái gì cả [Biên bản phỏngvấn sâu PGS.TS Ngô Trí Long – Phụ lục 1] TS Nguyễn Minh Phong lưu ýđến trách nhiệm của chuyên gia: Chuyên gia hàm ý không chỉ là người amhiểu chuyên môn mà còn dám nói, dám chịu trách nhiệm về lời nói của mìnhcũng như về đa phần ý kiến của chuyên gia khá ngược với phát biểu chínhthống [Biên bản phỏng vấn sâu TS Nguyễn Minh Phong – Phụ lục 1]

Như vậy, có thể hiểu, chuyên gia là người được đào tạo chuyên mônsâu, có kinh nghiệm thực hành, đầy đủ năng lực và kỹ năng Chuyên gia thamgia gián tiếp hay trực tiếp các hoạt động trong một lĩnh vực cụ thể Chuyêngia thường cho ra những lời nhận xét, ý kiến chuyên môn đáng tin tưởng đểngười khác tham khảo khi có những vấn đề liên quan đến lĩnh vực mà họ

Trang 24

Chuyên gia kinh tế là người được đào tạo chuyên sâu, có kinh nghiệm,

kỹ năng, năng lực về một hoặc một số lĩnh vực kinh tế như tài chính, ngânhàng, bất động sản, kinh tế vĩ mô… Tác giả Bùi Bửu Hà trong Luận văn thạc

sĩ “Thông tin chỉ dần đầu tư trên báo chí kinh tế Việt Nam” phân chia chuyên

gia kinh tế thành hai loại là chuyên gia lý thuyết và chuyên gia thực tế

Chuyên gia lý thuyết: Là các chuyên gia nghiên cứu chuyên sâu về cáchọc thuyết đầu tư, kinh tế chuyên ngành, họ chủ yếu đưa ra các nguyên tắchoặc tư vấn chỉ dẫn dựa trên nghiên cứu khảo sát của mình

Chuyên gia thực tế: Bên cạnh các chuyên gia kinh tế, nhà đầu tư-côngchúng cũng rất quan tâm đến những người đầu tư thực tế, những người có thểkhông nắm chắc về lý thuyết nhưng có sự nhạy cảm về kinh tế dựa trên bảnnăng hoặc nghiên cứu quy luật lên xuống của thị trường để đưa ra quyết địnhđầu tư [23, tr 30]

1.2 Vai trò của chuyên gia kinh tế

Theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt, vai trò dùng để nói về vị tríchức năng, nhiệm vụ mục đích của sự vật, sự việc, hiện tượng trong một hoàncảnh, bối cảnh và mối quan hệ nào đó Ví dụ : Vai trò của Đảng đối với sựphát triển đất nước, vai trò của tác phẩm văn học nào đó đối với sự nghiệpsáng tác văn học của tác giả vai trò của từ đối với câu Vai trò cũng là từđược dùng để thể hiện tác dụng, chức năng của ai hoặc cái gì trong sự hoạtđộng, sự phát triển chung của một tập thể, một tổ chức Như vậy, có thể thấy,vai trò được dùng khi muốn nói đến tác động, sức ảnh hưởng, đóng góp của

ai, cái gì đối với sự vận động, phát triển của sự vật, sự việc, hiện tượng, vớitập thể, tổ chức, cá nhân

Vai trò của chuyên gia kinh tế được thể hiện ở nhiều khía cạnh Đối vớiđời sống kinh tế-xã hội nói chung, trước hết, chuyên gia kinh tế có đóng gópnổi bật ở khía cạnh chuyên môn Thông qua nghiên cứu của mình, chuyên gia

bổ sung thêm kiến thức về lĩnh vực mà mình chuyên sâu Nghiên cứu của

Trang 25

chuyên gia là kết tinh công sức, trí tuệ, tâm huyết của người làm khoa học Trithức, kiến thức được chuyên gia chắt lọc, bổ sung, phát triển có ý nghĩa nhiềumặt đối với đời sống kinh tế-xã hội, không chỉ làm giàu thêm nguồn tri thứccủa dân tộc, của nhân loại mà còn có tác động hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triểncủa các lĩnh vực kinh tế.

Chuyên gia kinh tế là người thường xuyên theo dõi, nắm bắt thực tiễn,gắn kiến thức, kinh nghiệm của mình vào các vấn đề đang nảy sinh trong đờisống kinh tế để từ đó đưa ra những nhận định, đánh giá, khuyến nghị Theo

TS Cao Sỹ Kiêm: Chuyên gia thường phát hiện khuynh hướng, quan sát thựctiễn, phân tích gắn vào chính sách, luật lệ, vào hoàn cảnh chung trong nước vàthế giới Thường thường đóng góp của chuyên gia ở khía cạnh đóng góp chínhsách, phân tích những đúng sai của chính sách, tổng kết bài học thực hiện, rút

ra kinh nghiệm và phán đoán tính hình sắp tới Trong đó, có một phần đónggóp vào xây dựng chính sách, giải pháp Đồng thời, cũng giúp cho các ngànhchuyên môn, cơ quan lãnh đạo kể cả Đảng, Chính phủ, Quốc hội có thêmthông tin, tình hình thực tiễn [Biên bản phỏng vấn sâu TS Cao Sỹ Kiêm

– Phụ lục 1]

Chia sẻ về quan điểm này TS Nguyễn Minh Phong nhấn mạnh: Chuyêngia đúng nghĩa phải là người nêu được toàn cảnh thực trạng, lý giải đượcnguyên nhân, phát hiện vấn đề và đồng thời đề xuất giải pháp, như vậy mớithành tổng thể [Biên bản phỏng vấn sâu TS Nguyễn Minh Phong – Phụ lục 1].Chuyên gia kinh tế là người có cái nhìn tương đối toàn diện, nêu được cảmặt tích cực và hạn chế trong mỗi hiện tượng, vấn đề Chuyên gia sẽ tổnghợp, khái quát những yếu tố thành công, chưa thành công, những vấn đề cònđang cản trở để phát hiện, giúp cho cơ quan làm chính sách, cơ quan điềuhành, quản lý có địa chỉ để giải quyết Giúp khơi thông những ách tắc trongsản xuất, kinh doanh, những vấn đề tồn tại, vướng mắc trong các nội dung

Trang 26

sâu, họ đứng bên ngoài nên nhìn sáng hơn, đầy đủ hơn, tham gia chuẩn xác, khách quan hơn” [Biên bản phỏng vấn sâu TS Cao Sỹ Kiêm – Phụ lục 1] Nói

đến vai trò của chuyên gia kinh tế, PGS.TS Ngô Trí Long khẳng định: Vai tròcủa chuyên gia trước một vấn đề phải phân tích mặt được, chưa được, mặt tốt,không tốt và hệ lụy của nó như thế nào Thực tế hiện này trước một cơ chế,chính sách, một hiện tượng, vấn đề trong xã hội đang xảy ra thì chuyên giaphải phân tích tác dụng, những mặt thu được và chưa thu được Ví dụ, một cơchế chính sách ra đời chuyên gia phải cho xã hội biết được kết quả của nó thếnào, tác dụng phụ ra sao Tránh phân tích một chiều, “bám càng”, phục vụ chomột mục đích nào đó, một nhóm lợi ích nào đó Một chiều là cực đoan, chỉnói mặt tốt hoặc xấu chứ không nói tất cả [Biên bản phỏng vấn sâu PGS.TSNgô Trí Long – Phụ lục 1]

Chuyên gia kinh tế với uy tín đã được khẳng định là người có tiếng nóitrước công luận, dám nói và chịu trách nhiệm trước những phát ngôn củamình Việc chia sẻ ý kiến, bày tỏ quan điểm trước báo chí, công luận thể hiệntrách nhiệm của chuyên gia với cộng đồng Khi đã phát ngôn, chuyên gia phảichịu trách nhiệm về lời nói của mình, tính chính xác của những thông tin,nhận định, đánh giá mà mình đưa ra Chuyên gia là những người có uy tíntrong chuyên môn, trong hoạt động thực tiễn Thông qua báo chí, cơ quantruyền thông, uy tín của chuyên gia càng được khẳng định hơn nữa thông quanhững ý kiến của chuyên gia trên báo chí Nếu đó là những ý kiến chuẩn xác,khách quan, giải quyết được những vấn đề thực tiễn đang đặt ra, uy tín củachuyên gia ngày càng được nâng cao, được xã hội và người dân ủng hộ.Ngược lại, nếu ý kiến nêu lên vì dụng ý cá nhân, phục vụ cho một nhóm lợiích nào đó, cố tình làm sai lệch bản chất hoặc hướng dư luận theo thông tinmột chiều, tự bản thân chuyên gia sẽ đánh mất uy tín mà mình đã gây dựng.Đối với báo chí kinh tế, vai trò của chuyên gia kinh tế thể hiện ở một sốđiểm nổi bật như sau:

Trang 27

-Chuyên gia cung cấp tài liệu, tư liệu để báo chí khai thác, sử dụng đăng

tải, phát sóng Trong trường hợp này, chuyên gia là một nguồn tin của báo chí,thông tin của chuyên gia cung cấp bảo đảm độ chân thực, chính xác, thôngqua báo chí để chuyển tải đến công chúng

giá Chuyên gia giải thích các thuật ngữ kinh tế, những nội dung mới cầnđược hiểu một cách thấu đáo Chuyên gia phân tích, đánh giá, đưa ra nhận xéttrước các sự việc, hiện tượng, vấn đề đang xảy ra trong đời sống kinh tế giúpcông chúng có được những hiểu biết một cách sâu sắc, toàn diện hơn

tế Ý kiến của chuyên gia trong trường hợp này giúp công chúng hiểu rõ bảnchất của những vấn đề nóng hổi, có tính thời sự đang nảy sinh trong thực tế.Những vấn đề cần chuyên gia phân tích nguyên nhân thường đang có nhiềucách hiểu khác nhau, không thông nhất Do vậy, ý kiến chuyên gia sẽ có đónggóp quan trọng về chuyên môn, thể hiện trách nhiệm cũng như góp phần nângcao uy tín của chuyên gia

khi ban hành, áp dụng thực tế gặp nhiều vướng mắc, trở thành rào cản, ảnhhưởng không tốt đến các tổ chức, cá nhân khi hoạt động trong các lĩnh vựccủa nền kinh tế Ý kiến của chuyên gia không những nêu lên những vướngmắc này mà còn giúp cơ quan chức năng có hướng khắc phục

chuyên gia có sức ảnh hưởng lớn đến công chúng Ý kiến của chuyên gia cósức nặng riêng, giúp công chúng không quá bi quan, hoang mang trước nhữngtác động tiêu cực của nền kinh tế cũng như không quá kỳ vọng để tránh tạonên hiệu ứng tâm lý đám đông, nhưng “cơn sốt ảo”

Trang 28

trên cơ sở phân tích, đánh giá nguyên nhân, thực trạng kết hợp với chuyên môn, kinh nghiệm của bản thân chuyên gia.

nhận định của chuyên gia dựa trên những cơ sở khoa học nhất định, trở thànhkênh tham khảo cho công chúng trước khi đưa ra quyết định đầu tư hay hoạtđộng sản xuất, kinh doanh

1.3 Báo chí, báo chí kinh tế

1.3.1 Báo chí

Trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” của các tác giả Dương

Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang, định nghĩa: Báo chí là một hình thái

ýthức xã hội, là công cụ, vũ khí quan trọng trên mặt trận tư tưởng văn hóa Báochí luôn lấy hiện thực khách quan làm đối tượng phản ánh Thông tin báo chí là

một quá trình liên tục, xuyên suốt trong mối quan hệ chặt chẽ giữa cuộc sống,nhà báo, tác phẩm, công chúng… Hiện thực tái hiện trên báo chí phải là mộthiện thực sôi động, tiêu biểu và luôn luôn đổi mới [13, tr 20]

Báo chí là hiện tượng xã hội phổ biến, phát triển từng ngày và tác độngchi phối đến mọi lĩnh vực của đời sống Trong các hệ thống quyền lực chínhtrị khác nhau, dù cho quan điểm, chính sách và phương thức khai thác, sửdụng báo chí khác nhau nhưng giữa chúng vẫn có điểm chung Theo PGS.TSNguyễn Văn Dững, báo chí truyền thông là hoạt động thông tin – giao tiếp xãhội trên quy mô rộng lớn nhất, là công cụ và phương thức kết nỗi xã hội hữuhiệu nhất, là công cụ và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mốiquan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân và với các nhóm lợiích, với các nước trong khu vực và quốc tế [4, tr.61]

Tác giả Trần Hữu Quang trong cuốn “Xã hội học truyền thông đại

chúng” cho rằng, báo chí truyền thông là quá trình truyền đạt, tiếp nhận và

trao đổi thông tin nhằm thiết lập mối quan hệ giữa con người với con người.Truyền thông đại chúng là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi

Trang 29

đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúngnhư phát thanh, truyền hình [14, tr 30].

Có thể khẳng định, báo chí là một bộ phận của truyền thông đại chúng,

là bộ phận chiếm vị trí trung tâm, vai trò nền tảng và có khả năng quyết địnhtính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của truyền

thông đại chúng TS Đậu Ngọc Đản trong cuốn “Báo chí với sự nghiệp đổi

mới” nhấn mạnh, những diễn biến kinh tế từ lâu đã trở thành mối quan tâm

hàng đầu của báo chí vì kinh tế là cơ sở của đời sống xã hội, đúng như CácMác nói: Trước hết người ta phải có ăn, mặc, ở… rồi mới có thể bàn đếnchính trị, triết học, văn học, nghệ thuật [8, tr 7]

Số liệu của Bộ Thông tin và Truyền thông tại Hội nghị báo chí toànquốc năm 2015 cho biết, hiện nay, cả nước có 845 cơ quan báo chí, trong đó

có 199 cơ quan báo chí in, 646 tạp chí, 1 hãng thông tấn quốc gia Ngoài racòn có 98 báo, tạp chí điện tử, trong đó có 76 báo, tạp chí điện từ của cơ quanbáo chí in

Trong lịch sử phát triển của báo chí Việt Nam, tờ “Nông cổ mín đàm”

Trang 30

1/8/1901 Một số tài liệu còn cho biết, tại Hà Nội, năm 1883 đã có Bản tin của

Ủy ban nghiên cứu canh nông, kỹ nghệ và thương mại của Trung Kỳ và Bắc

Kỳ “Nông cổ mín đàm” nghĩa là uống trà bàn chuyện làm ruộng, đi buôn Tờ

báo này do Canavagio sáng lập, Lương Khắc Ninh, Trần Chánh Chiếu điều

hành trong giai đoạn 1901-1924 Trong “Nông cổ mín đàm” đáng chú ý nhất

là chuyên mục “Thương cổ luận” chuyên đăng tài các bài viết kinh doanh, buôn bán Mục “Lời rao” lại đăng tải nhưng thông tin mới nhất về thị trường,

qua đó giúp công chúng đặc biệt là giới kinh doanh có cái nhìn đầy đủ về thịtrường, về xu hướng phát triển của thị trường

Sau Cách mạng Tháng Tám (1945) đến trước thời kỳ đổi mới (năm1986), ở nước ta có rất ít tờ báo, tạp chí chuyên về lĩnh vực kinh tế Về tạp chí

có Tạp chí Nghiên cứu kinh tế do Viện Nghiên cứu kinh tế phát hành từ năm

1961, định kỳ mỗi tháng một số Bên cạnh đó, có Tạp chí Kế hoạch thống kê,nhưng tạp chí này chỉ giới hạn nội dung trong lĩnh vực kế hoạch thống kê Vềbáo có những tờ như Thương mại, Thủ công, ngoài ra, các vấn đề kinh tế cũngđược phản ánh trên các báo như Nhân dân, Lao động, Tiền phong…

Từ khi đất nước bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới, đặc biệt từ năm

1990, số lượng báo chí chuyên biệt về kinh tế tăng lên nhanh chóng Hầu hếtcác cơ quan báo chí đều tăng cường phản ánh các vấn đề kinh tế Đối với báo

in, có thể kể đến một số tờ như Thời báo Kinh tế Việt Nam, Diễn đàn doanhnghiệp, Đầu tư, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Thời báo Ngân hàng, Thời báo Tàichính…

Đối với truyền hình, riêng Đài Truyền hình Việt Nam đã có nhiềuchương trình về kinh tế như Tạp chí Kinh tế cuối tuần, Lựa chọn cuối tuần,Bản tin Tài chính kinh doanh Đài Truyền hình kỹ thuật số VTC có Doanhnghiệp 24 giờ, Bản tin Tài chính, Khoảnh khắc vàng… Bên cạnh đó, xuất hiệnmột số kênh truyền hình dành riêng cho kinh tế, tài chính Kênh Infotv, ra đờitháng 3/2007, phát sóng trên hệ thống truyền hình cáp Việt Nam, là

Trang 31

kênh truyền hình chuyên biệt về kinh tế tài chính đầu tiên tại Việt Nam KênhVITV lên sóng ngày 15/3/2009, kênh thị trường, kinh tế - tài chính chuyênsâu, hợp tác giữa VIT media và Đài Truyền hình kỹ thuật số VTC FBNC(financial business news channel) là kênh truyền hình của Đài truyền hình TP

Hồ Chí Minh dành cho giới kinh doanh, nói về thông tin kinh tế, tài chính,ngân hàng Kênh Invest TV, ra mắt ngày 16/6/2009, kênh truyền hình chuyênbiệt về đầu tư, kinh tế, phát trên truyền hình cáp Việt Nam

Với báo điện tử, trước hết là các ấn phẩm điện tử của báo chí kinh tế đã

có ấn phẩm báo in như vneconomy.vn của Thời báo Kinh tế Việt Nam, Thờibáo Kinh tế Sài Gòn Online (thesaigontimes.vn) của Thời báo Kinh tế SàiGòn, baodautu.vn của báo Đầu tư… Ngoài ra, còn có một số trang thông tinkinh tế như CafeF, Bizlive, NDH…

Vai trò của báo chí kinh tế

Báo chí kinh tế trước hết đóng vai trò trong tuyên truyền đường lối, chủtrương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về kinh tế Báo chí kinh tếgiúp cho công chúng hiểu được đường lối chính sách phát triển kinh tế củaquốc gia, hiểu được nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theođịnh hướng XHCN

Các lĩnh vực của đời sống kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến hầu hếtmọi người dân trong xã hội Do vậy, thông tin về kinh tế là một trong nhữngnội dung được công chúng quan tâm nhất hiện nay Việc ra đời và phát triểnbáo chí kinh tế đã góp phần đáp ứng nhu cầu thông tin nhanh chóng, đầy đủcủa công chúng trong bối cảnh nền kinh tế luôn vận động, phát triển Kinh tếnước ta đang hội nhập ngày càng mạnh mẽ, sâu rộng, có mỗi liên hệ chặt chẽcũng như tác động qua lại với các nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới.Thông tin kinh tế được phản ánh trên báo chí hiện nay cũng giành dung lượnglớn cho các hoạt động của kinh tế thế giới

Trang 32

Thông qua phân tích chính sách kinh tế - xã hội, báo chí cũng phản ánhnhững điểm chưa phù hợp giữa chính sách và thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện

các chính sách TS Hoàng Đình Cúc trong cuốn “Những vấn đề của báo chí

hiện đại” đánh giá: “Báo chí góp phần hoàn chỉnh luật pháp, đặc biệt liên quan đến lĩnh vực kinh tế, làm cho các thành phần kinh tế cạnh tranh lành mạnh trên một “sân chơi” là thị trường chung mà trọng tài là hệ thống luật pháp thống nhất, công minh” [2, tr 237]

Báo chí kinh tế góp phần tạo ra diễn đàn để người dân, doanh nghiệp,các tổ chức, cá nhân hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế có thể bày tỏ ý kiếncủa mình Đó có thể là những nhận định, phân tích, đóng góp giải pháp, nêulên những thuận lợi khó khăn trong thực tế… Từ những ý kiến được đăng tảitrên báo chí, nguyện vọng, mong muốn của người dân, cộng đồng được tậphợp gửi đến cơ quan chức năng, giúp công tác chỉ đạo, điều hành, quản lý củaĐảng, Nhà nước được hiệu quả hơn

Báo chí kinh tế cũng đóng vai trò quan trọng để khích lệ, động viên, cổ

vũ đối với doanh nghiệp, doanh nhân Qua báo chí, thương hiệu của doanhnghiệp được quảng bá, được công chúng biết đến nhiều hơn Nhiều mô hình,cách thức sản xuất, kinh doanh sáng tạo, mang lại hiệu quả cao, những doanhnghiệp, doanh nhân điển hình được giới thiệu, nhân rộng, qua đó, có nhữngđóng góp thiết thực cho sự phát triển của nền kinh tế Ngoài ra, những ràocản, trở ngại, gây phiền hà cho doanh nghiệp, doanh nhân cũng được báo chíphê phán, công khai ra công luận, giúp doanh nghiệp, doanh nhân có điềukiện hoạt động thuận lợi hơn

1.4 Các yếu tố cấu thành thông tin kinh tế

Thông tin báo chí chuyển tải đến công chúng gồm nhiều yếu tố cấuthành Các yếu tố thông tin này có được từ các cách thức khai thác, tiếp cậnkhác nhau của người làm báo Có thể chỉ ra như thông tin qua quan sát thực

tế, thông tin khai thác từ phỏng vấn, thông tin từ khai thác tài liệu, thông tin

Trang 33

dưới dạng thức thống kê số liệu Thông tin kinh tế cũng mang các đặc điểmchung của thông tin báo chí Qua khảo sát tin, bài trên một số ấn phẩm báo chíkinh tế có thể thấy, thông tin kinh tế được cấu thành bởi những yếu tố cơ bảnsau:

1.4.1 Thông tin số liệu thống kê

Các số liệu thống kê có ý nghĩa rất quan trọng đối với thông tin kinh tế

Có thể thấy thông tin từ số liệu thống kê xuất hiện dày đặc trên báo chí kinh

tế, trở thành nguồn “nguyên liệu” chính cho các bài viết Trên báo chí kinh tế,không khó bắt gặp những tin, bài chỉ sử dụng hoàn toàn số liệu thống kê Bêncạnh cung cấp thông tin dưới dạng nguyên văn, việc so sánh, đối chiếu các sốliệu thống kê cũng góp phần giúp công chúng hiểu rõ hơn thông điệp ngườilàm báo muốn chuyển tải

Trên Thời báo Kinh tế Việt Nam, mỗi số báo đều có chuyên trangchứng khoán, trong đó “bài đinh” gần như hoàn toàn sử dụng số liệu thống kê

Có thể lấy ví dụ như bài viết “VN-Index vững vàng vượt mốc 605 điểm” trong

chuyên trang Chứng khoán của Thời báo Kinh tế Việt Nam, số 187 ngày6/8/2014, chỉ đăng đơn thuần thông tin số liệu:

“Kết thúc phiên giao dịch ngày 5/8/2014, VN - index tăng 8,69 điểm (+1,45%), đóng cửa tại 607,73 điểm Cổ phiếu GAS tăng giá sang phiên thứ

2 liên tiếp sau khi công bố sơ bộ về kết quả kinh doanh trong 6 tháng đầu năm với lợi nhuận sau thuế đạt 6.427 tỷ đồng, vượt 50% kế hoạch 6 tháng và đạt 75% kế hoạch cả năm Cổ phiếu VCB tăng giá sang phiến thứ 3 liên tiếp sau khi ký hợp tác toàn diện với VNBC và tham gia tái cơ cấu VNBC Tại sàn HOSE, tổng khối lượng giao dịch đạt 86,63 triệu đơn vị, tổng giá trị giao dịch 1.620 tỷ đồng Khối ngoại quay lại bán ròng 455.700 đơn vị, trí giá bán ròng 57,7 tỷ đồng Tại sàn Hà Nội, chỉ số HNX-index cũng tăng nhẹ 0,59 điểm (+0,74%) ”

Trang 34

Tương tự trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, các bài viết về chứngkhoán sử dụng chủ yếu thông tin số liệu Mang tính chất như một bài tườngthuật lại phiên giao dịch chứng khoán trong ngày, những bài viết dạng ngàykhông chỉ cung cấp số liệu thô mà còn có so sánh, đối chứng Ví dự như bài

“Chứng khoán ngày cuối tháng: khối ngoại “độc diễn” đăng trên Thời báo

Kinh tế Sài Gòn Online ngày ngày 30/6/2015:

“Diễn biến thị trường khá tích cực trong buổi sáng khi mức điểm tăng được nới rộng dần theo thời gian giao dịch Áp lực bên bán mạnh lên rõ rệt

từ sau 2 giờ chiều và lấy lại hầu hết điểm tăng có trước đó Hai chỉ số kết phiên trái chiều nhau, VN-Index tăng nhẹ lên 593,05 điểm (+0,22%) trong khi HNX-Index giảm về 84,94 điểm (-0,64%).

Thanh khoản đã sôi động hơn khá nhiều trong hôm nay, do cả hai bên mua bán đều khá quyết liệt Cụ thể HSX có 136 triệu đơn vị khớp lệnh với giá trị đạt 2.241 tỉ đồng (+29,3%) trong khi HNX cũng có 53,4 triệu cổ phiếu được chuyển nhượng với giá trị 643 tỉ đồng (+15,2%)”.

1.4.2 Thông tin từ quan sát của phóng viên

Quan sát, miêu tả là một trong những kỹ năng cơ bản của người làmbáo Người viết bài với tư cách là nhân chứng có mặt tại thời điểm diễn ra sựviệc, hiện tượng, ghi nhận và miêu tả lại bằng ngôn ngữ báo chí để chuyển tảithông tin đến người đọc Đối với các bài viết về kinh tế, thông tin từ quan sátcủa phóng viên tuy không chiếm tỷ lệ lớn và không thường xuyên được sửdụng nhưng luôn mang đến sự sinh động, chân thực cho công chúng Có thể

lấy ví dụ trong bài “TP Hồ Chí Minh: Cung ứng 40.000 tỉ đồng tiền mặt cho

dịp tết” đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online ngày ngày 11/2/2015, có

đoạn miêu tả như sau: “Theo ghi nhận của Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online,

hiện tại, việc tập trung đông người rút tiền ATM vẫn diễn ra cục bộ ở một số khu vực, trong đó, chủ yếu là các khu chế xuất, khu công nghiệp, còn tại các trụ ATM trong khu vực nội thành, việc này hiếm xảy ra Tuy vậy, ở đa phần

Trang 35

các máy ATM được khảo sát, không có hiện tượng thiếu tiền hay máy đang bảo trì”.

Bên cạnh quan sát, miêu tả, báo chí, trong bài viết về kinh tế phóngviên cũng trực tiếp tiến hành khảo sát để thu nhận thông tin, ví dụ như khảosát về số doanh nghiệp phá sản tại một địa phương, khảo sát sức mua trên thịtrường hay diễn biến giá cả Đối với dạng thông tin này, phóng viên tự chịu

trách nhiệm về độ chính xác khi cung cấp cho công chúng Trong bài “Hơn

38.000 tỉ đồng cho vay đầu tư cổ phiếu” đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn

Online ngày 8/2/2015, phóng viên đã thực hiện khảo sát về lượng vốn cho vaykinh doanh cổ phiếu:

“Cuộc khảo sát thực tế do chúng tôi tiến hành với những ngân hàng quốc doanh và nửa quốc doanh cho thấy họ không chú trọng cho vay kinh doanh cổ phiếu Số dư cho vay cổ phiếu tập trung vào các ngân hàng cổ phần trong khi vốn điều lệ của tất cả các ngân hàng cổ phần chưa đầy 200.000 tỉ đồng Nghĩa là các tổ chức tín dụng cổ phần phải điều chỉnh dư nợ cho vay

cổ phiếu rất mạnh để đáp ứng quy định của Thông tư 36”.

1.4.3 Thông tin tài liệu văn bản

Những văn bản thường được sử dụng trên báo chí là những quy địnhmới, có ảnh hưởng đến nhiều đối tượng trong xã hội như văn bản quy phạmpháp luật (luật, nghị định, thông tư, quyết định ) hay các báo cáo của cơ quan

chức năng, hiệp hội, các tổ chức nghiên cứu Trong bài viết “Cải cách thủ

tục thuế và hải quan” đăng trên Thời báo Kinh tế Việt Nam (số 199, ngày

20/8/2014) đã dẫn thông tin văn bản từ 4 thông tư đang được Tổng cục Thuế(Bộ Tài chính) sửa đổi:

“Tổng cục thuế đã đề xuất sửa dổi, bổ sung 4 thông tư liên quan đến thủ tục hành chính thuế gồm thông tư 156, thông tư 219, thông tư 08, thôg tư

85 Theo đó, sẽ lược bỏ một số chỉ tiêu trên bảo kê thuế GTGT đầu vào và

Trang 36

tổng cục thuế cho biết sẽ giảm được số giờ chuẩn bị khai thuế GTGT là 132 giờ/năm.

Việc bỏ quy định phải tổng hợp và khai các hóa đơn hàng hóa dịch vụ không phải tổng hợp trên tờ khai thuế sẽ giảm được số giờ chuẩn bị khai thuế GTGT là 12 giờ/năm Nội dung đáng chú ý thứ 3 là sửa các chỉ tiêu liên quan đến hạch toán thu NSNN trên các giấy nộp tiền vào NSNN của người nộp thuế giúp giảm được 8 giờ/năm Như vậy, sau khi thực hiện các giải pháp tổng thể của Bộ Tài chính, dự kiến số giờ thực hiện khai và nộp thuế của người nộp thuế sẽ giảm được 201,5 giờ”.

1.4.4 Thông tin từ các chuyên gia kinh tế

Hiện nay, phương pháp phỏng vấn được người làm báo sử dụng phổbiến với mục đích khai thác thông tin Đối với báo chí kinh tế, chuyên giakinh tế là đối tượng thường xuyên được tiếp cận để phỏng vấn, tìm kiếmthông tin Chuyên gia kinh tế vừa là nguồn cung cấp tài liệu vừa là nhân vậttrong nhiều bài viết trên báo chí Bên cạnh đó, chuyên gia kinh tế còn đóngvai trò là tác giả, đứng tên trên bài viết hay nói cách khác là các cộng tác viêncủa cơ quan báo chí Thông tin từ chuyên gia kinh tế có thể xem là một nguồnthông tin, kênh thông tin bên cạnh các yếu tố khác cấu thành nên thông tinkinh tế

Trang 37

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, luận văn đã trình bày một số vấn đề lý luận chung liênquan đến kinh tế; chuyên gia và chuyên gia kinh tế; báo chí kinh tế; cách thứckhai thác thông tin từ chuyên gia bằng phương pháp phỏng vấn Luận văn đãđưa ra một số khái niệm cơ bản về chuyên gia, chuyên gia kinh tế, từ nhữngquan niệm đó rút ra cho tác giả luận văn cách hiểu có tính khái quát, tươngđối đẩy đủ về chuyên gia và chuyên gia kinh tế

Luận văn cũng phác thảo một vài nét về lịch sử hình thành và phát triểncủa báo chí kinh tế Việt Nam, khẳng định những đóng góp của báo chí kinh tếđối với sự phát triển của báo chí nói chung cũng như vai trò cung cấp thôngtin, định hướng dư luận xã hội, tạo diễn đàn để những người quan tâm đến cáclĩnh vực của đời sống kinh tế được bày tỏ quan điểm của mình Trong chương

1, luận văn đã phân tích các yếu tố cơ bản của thông tin kinh tế

Những vấn đề lý luận được nêu ra trong chương 1 là cơ sở để địnhhướng quá trình nghiên cứu, khảo sát của tác giả luận văn Các kết quả củaquá trình nghiên cứu, khảo sát được trình bày trong chương 2 của luận văn

Trang 38

CHƯƠNG 2: SỨC NẶNG CỦA THÔNG TIN KINH TẾ ĐƯỢC CUNG

CẤP TỪ CÁC CHUYÊN GIA 2.1 Giới thiệu về các ấn phẩm báo chí, bản tin truyền hình được khảo sát

2.1.1 Thời báo Kinh tế Sài Gòn

Ra đời tháng 1/1991, Thời báo Kinh tế Sài Gòn ban đầu thuộc SởThương mại TP Hồ Chí Minh, hiện nay trực thuộc UBND TP Hồ Chí Minh

Tờ Thời báo Kinh tế Sài Gòn được xem như tuần báo kinh tế đầu tiên của TP

Hồ Chí Minh sau khi đất nước thống nhất năm 1975 Ban đầu tờ báo ra đời 4

ấn phẩm: Thời báo Kinh tế Sài Gòn ra hằng tuần, Saigon times weekly rahằng tuần bằng tiếng Anh, Saigon times daily ra từ thứ hai đến thứ 6 bằngtiếng Anh và Saigon eco ra hằng tuần bằng tiếng Pháp Đầu năm 2001, tờ báotiếng Pháp phải đình bản vì yếu tố tài chính

Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online ra mắt ngày 3/1/2008 tại địa chỉthesaigontimes.vn với định hướng là tờ báo điện tử chính thức của Thời báoKinh tế Sài Gòn, nội dung chuyên sâu về kinh tế

2.1.2 Bản tin Tài chính kinh doanh, phát sóng trên kênh VTV1 - Đài truyền hình Việt Nam (THVN)

Đài THVN là cơ quan trực thuộc Chính phủ, là đài truyền hình quốcgia, thực hiện nhiệm vụ cung cấp thông tin, tuyên truyền chủ trương, đườnglối của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước, là diễn đàn của nhân dân Ngàyphát sóng chương trình truyền hình đầu tiên 7/9/1970 Hiện nay phát sóng 130giờ/ngày, 6 kênh quảng bá, các kênh khu vực, hệ thống truyền hình cáp,truyền hình số vệ tinh

Bản tin Tài chính kinh doanh phát sóng vào các khung giờ: 7 giờ sáng,12h30 trưa, 21h30 tối và 1 bản tin tài chính tiêu dùng lúc 17h40 Thời lượngbản tin trưa và chiều 15-20 phút, bản tin sáng và tối 20-25 phút Trong đó, bảntin 7h bao gồm các tin, bài phóng sự, mục điểm báo Tiêu chí lựa chọn lànhững tin, bài không quá vĩ mô, nặng nề, khó hiểu, xen kẽ thông tin tiêu dùng

Trang 39

hoặc những chuyện gần gũi đời sống Bản tin 12h30 gồm bài và phần tườngthuận thông tin trực tiếp tại sàn chứng khoán Bản tin này luôn cố gắng đẩymạnh phần nội dung chứng khoán, tin nhanh trong ngày Bản tin 17h40 gồmtin bài liên quan đến vấn đề giá cả, thị trường, tiêu dùng Bản tin 21h30 gồmtin bài và bình luận sâu Tùy tưng vấn đề xảy ra trong ngày hoặc trong khoảngthời gian sự kiện diễn ra để tổ chức bình luận trường quay, trao đổi giữa ngườidẫn chương trình với phóng viên theo dõi vấn đề đó hoặc với chuyên gia kinh

tế, người trong cuộc Đây là bản tin tập trung công sức thực hiện, phát sóngvào khung giờ nhiều người xem hơn so với các bản tin trước

2.1.3 Thời báo Kinh tế Việt Nam

Thời báo Kinh tế Việt Nam ra số đầu tiên vào tháng 9/1991 với tên gọi

“Thông tin kinh tế”, xuất bản 1 kỳ/tuần Từ tháng 12/1991 đổi tên thành Thờibáo Kinh tế Việt Nam Hiện nay, Thời báo Kinh tế Việt Nam phát hành 6kỳ/tuần, từ thứ 2 đến thứ 7 Ngoài ấn phẩm báo in tiếng Việt còn xuất bản tạpchí tiếng Anh: Vietnam Economic Times, Tạp chí The Guide; Tạp chí Tư vấntiêu dùng và báo điện tử tại địa chỉ vneconomy.vn

Thời báo Kinh tế Việt Nam có 16 trang mỗi số, gồm các chuyên trang,chuyên mục chính: Thời sự kinh tế (từ trang 2 đến trang 4); Vấn đề thời mởcửa; Hội nhập kinh tế; Chứng khoán; Tài chính – Ngân hàng; Kinh doanh;Kinh tế - xã hội; Công nghệ thông tin; Kinh tế thế giới Trang 16 dành choquảng cáo Riêng số báo ra ngày thứ 7 là số đặc biệt, gộp 2 số cuối tuần, dày

24 trang Số đặc biệt có thêm một số chuyên trang như: Doanh nghiệp –Doanh nhân; Đời sống kinh tế phía Nam; Phát triển thị trường…

2.2 Vai trò của chuyên gia kinh tế thể hiện qua các báo đƣợc khảo sát

2.2.1 Tần suất xuất hiện của các chuyên gia kinh tế

Khảo sát trên Thời báo Kinh tế Việt Nam trong thời gian 1 năm (tháng7/2014 đến 6/2015) với 313 số báo (bao gồm cả số báo gộp) Tổng số bài viết

về lĩnh vực tài chính - ngân hàng là 885 bài Tỷ lệ 2,8 bài về tài chính ngân

Trang 40

báo có 16 trang, trừ trang 1 và trang 16 (dành cho quảng cáo) mỗi trang nộidung có 1-2 bài, như vậy, trung bình mỗi số báo có 15-20 bài Là tờ báochuyên biệt về kinh tế, nội dung của Thời báo Kinh tế Việt Nam đề cập nhiềulĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế như kinh tê vĩ mô, bất động sản, côngnghiệp, thương mại, giao thông vận tải, đầu tư Tỷ lệ gần 1/5 số bài viết trênmỗi số báo đề cập đến lĩnh vực tài chính - ngân hàng có thể thấy đây là lĩnhvực được quan tâm, dành khá nhiều dung lượng.

Số bài viết về tài chính - ngân hàng có ý kiến chuyên gia trong thời giankhảo sát trên Thời báo Kinh tế Việt Nam là 405 bài Đạt tỷ lệ 45,7% tổng sốbài viết về tài chính - ngân hàng Như vậy, gần 2 bài viết về tài chính ngânhàng thì có 1 bài xuất hiện chuyên gia Nhưng bài viết không có ý kiếnchuyên gia đơn thuần đưa thông tin số liệu, văn bản, phân tích, khảo sát củachính phóng viên Tính trung bình, mỗi tháng có hơn 33 bài viết về tài chínhngân hàng xuất hiện chuyên gia Với định kỳ xuất bản 5 số/tuần, một tháng 20

số, có thể thấy, con số trung bình ngày nào cũng có hơn 1 bài viết xuất sự xuấthiện của chuyên gia kinh tế cung cấp thông tin về tài chính - ngân hàng trênThời báo Kinh tế Việt Nam

Biểu đồ 2.1 Khảo sát ý kiến chuyên gia trên Thời báo Kinh tế Việt Nam

(Nguồn: nghiên cứu của luận văn)

Ngày đăng: 27/10/2020, 22:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w