1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trợ từ nhấn mạnh trong tiếng anh (có liên hệ với tiếng việt)

108 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 246,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý thuyết về cấu trúc thông tin khơi dậy một vấn đề quan trọng có tính độtphá trong nghiên cứu các hiện tượng giao tiếp ngôn ngữ: đó là người nói muốn lưu ý đến điều gì và người nghe muố

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐÀO HẢI VÂN

TRỢ TỪ NHẤN MẠNH TRONG TIẾNG ANH

(CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG VIỆT)

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐÀO HẢI VÂN

TRỢ TỪ NHẤN MẠNH TRONG TIẾNG ANH

(CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG VIỆT)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60 22 01

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN VĂN HIỆP

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Văn Hiệp, đã luôn

tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong khoa Ngôn ngữ học - TrườngĐại học Khoa học xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo môi trườngthuận lợi để tôi học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn khoa CN Điện tử - Viễn thông, Viện Đại học Mở

Hà Nội, đã giúp đỡ trong quá trình khảo sát, điều tra thực tế

Cuối cùng, xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệpluôn động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày 09 tháng 10 năm 2014

Tác giả

Đào Hải Vân

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

2 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

3 Phạm vi nghiên cứu và tư liệu nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Mục đích nghiên cứu

6 Ý nghĩa của luận văn

7 Bố cục luận văn

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Dẫn nhập

1.2 Cấu trúc thông tin và nhấn mạnh (hay tiêu điểm thông báo): .

1.2.1 Phân biệt cấu trúc cú pháp với cấu trúc thông tin:

1.2.2 Phân biệt cấu trúc nghĩa biểu hiện và cấu trúc thông tin :

1.2.3.Cấu trúc thông tin

1.2.4 Nhấn mạnh (hay tiêu điểm thông báo)

1.3 Các phương thức biểu đạt nhấn mạnh .

1.3.1 Nhấn mạnh bằng trọng âm

1.3.2 Nhấn mạnh qua mô hình cú pháp đảo ngữ

1.3.3 Nhấn mạnh qua phương tiện từ vựng: sử dụng trợ từ

1.3.4 Kết hợp phương thức nhấn mạnh: sử dụng trợ từ trong cấu trúc đảo ngữ

1.4 Tiểu kết

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA TRỢ TỪ TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆ T

2.1 Một s đặc điểm của tr từ tiếng 2.1.1 Tiêu điểm thông báo là chủ ngữ đảo

2.1.2.Tiêu điểm thông báo là bổ ngữ đảo .

2.1.3.Tiêu điểm thông báo là trạng ngữ đảo

2.2 Nhận diện và phân loại tr từ trong tiếng Việt .

2.2.1 Trợ từ dưới g c nhìn của một s

Trang 5

2.2.2 S lượng trợ từ 46

2.3 Nghĩa ngữ dụng của tr từ tiếng Việt 47

2.3.1 Nghĩa ngữ dụng với tư cách l một chiều kích nghĩa (tức phân biệt với nghĩa biểu vật v nghĩa biểu niệm) 47

2.3.2 Ý nghĩa tình thái của trợ từ với mục đích nhấn mạnh, tăng cường 50

2.4 Ý nghĩa của tr từ nhấn mạnh trong tiếng Anh qua cấu trúc đảo ngữ 56

2.4.1 Mô hình Under no circumstances On no account ảo ngữ 56

2.4.2 Mô hình Nowhere ảo ngữ 56

2.4.3 Mô hình No sooner …than… v Hardly Scarcely…when… 57

2.4.4 Mô hình Seldom Never Rarely Not only ảo ngữ 58

2.5 Tiểu kết 60

CHƯƠNG 3: CHỨC NĂNG CỦA TRỢ TỪ NHẤN MẠNH GẮN VỚI THÀNH TỐ CỦ CÂU TRONG TIẾNG VIỆT I N HỆ VỚI TIẾNG NH 62 3.1 Chức năng cơ bản của tr từ gắn với thành t c u trong tiếng Việt 62

3.1.1 Chức năng biểu cảm 62

3.1.2 Chức năng đánh giá 62

3.1.3 Chức năng nhấn mạnh 62

3.1.4 Chức năng tham gia biểu thị mục đích phát ngôn 63

3.2 Ý nghĩa của các tr từ thành t câu 63

3.2.1 Ý nghĩa đánh giá 67

3.2.2.Ý nghĩa biểu cảm 73

3.2.3 Ý nghĩa nhấn mạnh 79

3.3 Phân tích quan hệ tương ứng giữa cấu trúc tiếng Anh và tiếng Việt có sử dụng tr từ qua các câu dịch tương đương nh - Việt .

3.3.1 Trường hợp có sự tương ứng

3.3.2 Trường hợp không có sự tương ứng

3.4 Tiểu kết

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

2

Trang 6

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài.

Việc mở rộng và tăng cường quan hệ Việt Nam với các nước trong cộngđồng quốc tế đã thúc đẩy phong trào người Việt Nam học ngoại ngữ và ngược lại,người nước ngoài học tiếng Việt ngày càng phát triển Việc học tiếng Anh đối vớingười Việt Nam được mở rộng cho mọi người, mọi ngành nghề

Đi đôi với việc học ngoại ngữ nói chung cũng như tiếng Anh nói riêng, việctìm chọn đến phương pháp dạy nào thích hợp nhất đối với học viên người Việt Namnhằm nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ đặc biệt tiếng Anh, một trong thứtiếng được coi là ngôn ngữ thứ hai sau tiếng mẹ đẻ trên toàn thế giới, là vô cùngquan trọng Tuy nhiên, cũng cần có những nghiên cứu cơ bản, với những cách tiếpcận mới, nhằm chỉ ra những đặc trưng về cấu trúc, ngữ nghĩa, chức năng của cáchiện tượng ngôn ngữ, đặc biệt ở bối cảnh so sánh (comparative perspective), để giúpngười học thấy được những tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, nâng caohiệu quả của việc học

Lý thuyết về cấu trúc thông tin khơi dậy một vấn đề quan trọng có tính độtphá trong nghiên cứu các hiện tượng giao tiếp ngôn ngữ: đó là người nói muốn lưu

ý đến điều gì và người nghe muốn tiếp nhận điều gì Vấn đề về cấu trúc thông tincũng đã gợi mở cho chúng tôi một đề tài nghiên cứu hấp dẫn, đó là người Anh vàngười Việt đã sử dụng các cách thức sẵn có như thế nào để truyền đạt thông tin vànhấn mạnh thông tin?

Nhấn mạnh có thể chia làm ba loại: nhấn mạnh thông tin, nhấn mạnh tươngphản, nhấn mạnh biểu cảm Có nhiều loại phương tiện để nhấn mạnh như hậu đảo,tiền đảo, nhấn mạnh ngữ điệu, nhấn mạnh trợ từ Trong luận văn này, chúng tôi

chọn đề tài “Tr từ nhấn mạnh trong tiếng Anh (có liên hệ với tiếng Việt) Một

mặt xuất phát từ lý thuyết về phân đoạn câu theo trật tự thông tin, dùng tri thức vềcấu trúc thông báo của câu để làm cơ sở lý giải cho những phương tiện của trợ từthể hiện sự nhấn mạnh của câu trong hai ngôn ngữ Anh và Việt Đây vốn là điều màgiáo viên dạy tiếng Anh luôn luôn cảm thấy lúng túng Mặt khác, xuất phát từ thực

tế trợ từ trong tiếng Anh là một phạm trù ngữ pháp rất quan trọng Có thể nói, đặc

3

Trang 7

trưng loại hình phân tích tính của tiếng Anh và tiếng Việt được thể hiện rất rõ bằngchính sự có mặt của trợ từ và hoạt động tích cực của chúng trong câu Qua nhữngnét tương đồng và khác biệt trong các phương tiện nhấn mạnh trong hai ngôn ngữnày, chúng tôi hy vọng những kết quả và đề xuất của luận văn sẽ có đóng góp hữuích cho việc dạy và học ngoại ngữ liên quan đến việc sử dụng các phương tiện nhấnmạnh trong tiếng Anh và tiếng Việt.

2 Đ i tư ng và nhiệm vụ nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là trợ từ nhấn mạnh trong tiếng Anh vàcác tương đương của các phương tiện này trong tiếng Việt

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là xác lập một cơ sở lí thuyết để phân tích

và chỉ ra được các đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa và chức năng của các trợ từ nhấnmạnh trong tiếng Anh, so sánh với các tương đương trong tiếng Việt Từ đó, luậnvăn hướng tới xây dựng những nguyên tắc và chỉ dẫn cho người Việt học tiếng Anh

và người dịch thuật hai ngôn ngữ này cần lưu ý có liên quan đến hiện tượng nhấnmạnh bằng trợ từ

3 Phạm vi nghiên cứu và tư liệu nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn mà chúng tôi muốn bàn đến là chỉ giới hạn

ở phần nhấn mạnh về mặt thông tin

Để tìm ra các phương tiện nhấn mạnh thông qua cách dùng trợ từ trong tiếngAnh và tiếng Việt, chúng tôi đã tiến hành khảo sát trong ba loại văn bản chính: khoahọc, báo chí, và văn học Trong lúc khảo sát các nguồn văn bản khác nhau chúng tôilấy số liệu thống kê chỉ là tương đối nhưng phản ánh được cốt lõi của vấn đề, đó lànhững tương đồng và khác biệt trong cách dùng phương tiện nhấn mạnh trong cảtiếng Anh và tiếng Việt Bên cạnh đó, chúng tôi cũng dùng những bản dịch màchúng tôi có thể tìm thấy được của một số tác phẩm để có thể đưa lại một bức tranhchân xác về trợ từ nhấn mạnh và các tương đương trong tiếng Việt

4 Phương pháp nghiên cứu.

4.1.Phương pháp quy nạp

Phương pháp chủ yếu và bao quát của chúng tôi là phương pháp quy nạp.Nghĩa là, chúng tôi đi từ phân tích các trường hợp cụ thể để rút ra những nét cơ bản

4

Trang 8

chung của phạm trù ngữ pháp trợ từ nhấn mạnh trong tiếng Anh Và sau cùng chúngtôi cố gắng mô hình hóa chúng Nói một cách cụ thể, phương pháp này là đi từ cáiriêng đến cái chung, từ những trường hợp cụ thể đến phân loại khái quát Cái riêng

ở trong luận văn của chúng tôi là các phát ngôn cụ thể có liên quan đến hiện tượngtrợ từ dùng để nhấn mạnh trong tiếng Anh Còn cái chung là các quy luật về hànhchức của các phát ngôn đó trong mối quan hệ ngữ pháp – ngữ nghĩa và giao tiếp.4.2 Phương pháp so sánh đối chiếu

Như trên đã nói, để thể hiện thống nhất nguyên tắc này từ đầu chí cuối,chúng tôi sẽ áp dụng phương pháp so sánh đối chiếu giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt.Việc so sánh cần được hiểu như là một thao tác phân tích mặt biểu hiện phạm trùngữ pháp cụ thể trên các phát ngôn cụ thể, chứ không phải là đi từ chính các phạmtrù ngữ pháp này, càng không phải chỉ đi từ mặt lý luận

Hướng nghiên cứu của chúng tôi nhìn chung thuộc so sánh đối chiếu, nên đểtiến hành một cách có hiệu quả, chúng tôi đã kết hợp nhiều thao tác đi từ nhiều phía,chẳng hạn như: thống kê, phân tích ngữ cảnh, mô hình hóa kèm với tóm tắt các đặcđiểm của từng đối tượng

Luận văn đi theo hướng này một phần nhằm xác định những khó khăn mà cảngười học lẫn người dịch thường gặp Nhưng đồng thời luận văn cũng hướng đến việctìm ra được các mối quan hệ tương ứng trong hai ngôn ngữ trên cơ sở đối chiếu cấutrúc của ngôn ngữ gốc với cấu trúc của các phát ngôn tương ứng Anh – Việt, Việt –Anh Vì thế, chúng tôi sử dụng thuật ngữ so sánh đối chiếu để dễ dàng phân biệt

4.3 Phương pháp thống kê

Phương pháp thống kê sẽ cung cấp số liệu, giúp lập các bảng phân bố, chophép xếp loại một cách tương đối khách quan các hiện tượng, cho phép phát hiệncác đặc điểm trong các cấu trúc ngôn ngữ, nói được về mức độ gần gũi tương đốicủa đối tượng đang khảo sát

5 Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi cố gắng xác lập một số hình thức biểu đạt các ý nghĩa có thể tươngứng trong cả hai ngôn ngữ, xuất phát từ việc dùng trợ từ nhấn mạnh trong tiếng

5

Trang 9

Anh, so sánh với các tương đương trong tiếng Việt Trong chừng mực cho phép,chúng tôi sẽ cố gắng mô hình hóa các công thức biểu đạt bằng trợ từ, giúp chongười học có thể bảo toàn được nghĩa nhấn mạnh khi muốn chuyển một phát ngôntiếng Anh sang tiếng Việt hoặc theo chiều ngược lại, từ tiếng Việt sang tiếng Anh.Trên cơ sở so sánh đối chiếu như thế chúng tôi cũng hy vọng chỉ ra và phân tích cáclỗi sai của người Việt học tiếng Anh có liên quan đến phương tiện nhấn mạnh vềmặt thông tin.

6 Ý nghĩa của luận văn

Luận văn của chúng tôi nhằm khảo sát các phương tiện nhấn mạnh về mặtthông tin trong tiếng Anh và tiếng Việt thông qua trợ từ Qua việc mô tả và phântích các phương tiện nhấn mạnh trong tiếng Anh và tiếng Việt, những nét tươngđồng và khác biệt giữa các phương tiện nhấn mạnh thể hiện qua cách sử dụng trợ từcủa hai ngôn ngữ sẽ được chỉ ra Những điểm giống nhau và khác nhau đó cho thấyđặc trưng của loại hình ngôn ngữ đã ảnh hưởng như thế nào trong việc sử dụng, qua

đó làm nổi bật mối quan hệ giữa hình thức với nội dung của các hiện tượng ngônngữ Với kết quả đó, luận văn hy vọng sẽ phần nào đóng góp vào việc nâng cao chấtlượng dạy tiếng Anh cho người Việt, tránh được những lỗi sai trong việc sử dụngngôn ngữ và dịch thuật

7 B cục luận văn.

Luận văn sẽ được cấu trúc thành ba chương với nội dung cơ bản như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Đặc điểm của trợ từ tiếng Anh và tiếng Việt

Chương 3: Chức năng của trợ từ nhấn mạnh gắn với thành tố của câu trong tiếngViệt liên hệ với tiếng Anh

Ngoài ba chương chính, luận văn còn có phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo chính

6

Trang 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Dẫn nhập

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp bằng lời quan trọng nhất của loài người.Bắt đầu từ ngữ pháp phổ quát của Chomsky, hầu hết các nhà ngôn ngữ học tin rằngtất cả các ngôn ngữ riêng biệt nhất thiết phải có những đặc điểm chung và mỗi ngônngữ riêng biệt kết hợp của những đặc điểm phổ quát đó với một số đặc trưng phụ,thường là đặc trưng diễn đạt riêng Cũng như các phạm trù nội dùng khác, nhấnmạnh cũng được biểu thị qua các phương tiện nhấn mạnh đa dạng và phong phú,bao gồm nhiều loại phương tiện khác nhau Cụ thể là nhấn mạnh được thể hiện sinhđộng trong lời nói với các phương tiện từ vựng, phương tiện cú pháp cụ thể, có thểkèm theo các biểu hiện phi lời như cử chỉ điệu bộ hoặc các phương tiện ngôn điệu(điệu tính là sự biến đổi về cao độ, cường độ, vần và nhịp điệu, tốc độ nói trong lờinói) Các phương tiện này cùng nằm trong một hệ thống các phương tiện nhấn mạnh

mà việc tìm hiểu phương tiện này không thể tách rời khỏi các phương tiện kia, xét

về mặt phương pháp luận Tuy nhiên để dễ dàng quan sát các đặc tính của một loạiphương tiện cụ thể, chúng tôi nghiên cứu tách rời một loại phương tiện trong tínhđộc lập tương đối với các loại phương tiện còn lại Nói như vậy, có nghĩa là khichúng tôi bàn đến phương tiện dùng trợ từ nhấn mạnh trong tiếng Anh (có liên hệvới tiếng Việt) lúc cần thiết chúng tôi vẫn cần phải vận dụng, tham chiếu linh hoạtcác phương tiện khác để làm sáng tỏ cho vấn đề chúng tôi đang đề cập đến

Để giải quyết vấn đề về phương tiện dùng trợ từ nhấn mạnh về mặt thông tin

và tiêu điểm thông báo, những lý thuyết về cấu trúc thông tin và tiêu điểm thôngbáo của một phát ngôn hay một câu cần phải được tìm hiểu như là nền tảng cho toàn

bộ luận văn Như vậy, cấu trúc thông tin và tiêu điểm thông báo của một câu haymột phát ngôn được nhấn mạnh ở vị trí nào để chuyển tải được hết ý nghĩa tình tháinhấn mạnh của nó chính là những điều chúng tôi sẽ trình bày trong chương này

7

Trang 11

1.2 Cấu trúc thông tin và nhấn mạnh (hay tiêu điểm thông báo):

1.2.1 Phân biệt cấu trúc cú pháp với cấu trúc thông tin:

Vấn đề phân biệt cấu trúc cú pháp với cấu trúc thông tin có thể được nhìnnhận và miêu tả với nhiều thuật ngữ khác nhau Trong luận văn này, chúng tôi chọnquan điểm của Nguyễn Hồng Cổn (2008), theo đó cú là đơn vị trừu tượng, câu làđơn vị có chức năng thông báo, tức là biểu hiện một thông điệp (chứ không phảibiểu hiện một phán đoán), do đó cấu trúc cú pháp của câu cũng được xác lập phùhợp với chức năng này Chúng tôi tán thành quan điểm cho rằng cấu trúc đề - thuyết

là cấu trúc cú pháp của câu có chức năng tổ chức và truyền đạt một thông điệp,

trong đó đề là bộ phận biểu thị “cái được nói đến” hay là “xuất phát điểm” của thông điệp (chứ không phải chỉ sở đề của phán đoán/mệnh đề lôgich) và thuyết là bộ

phận mang nội dung mà người nói muốn nói về đề (chứ không chỉ là sở thuyết củaphán đoán/mệnh đề lôgich) Các định nghĩa sau đây về Đề và Thuyết là phù hợp vớiquan niệm của chúng tôi „„Khi ta nói một câu người ta đưa ra một cái đề, rồi nóimột điều gì về cái đề đó hoặc trong khuôn khổ cái đề đó‟‟ (Cao Xuân Hạo1991/2004:151); „„Đề là thành tố trực tiếp của câu nêu rõ cái phạm vi ứng dụng củađiều được nói đến bằng thành tố trực tiếp thứ hai‟‟ (Chafe 1976:50) Cách phân tích

đề - thuyết như vậy áp dụng cho tất cả các kiểu câu (tường thuật, nghi vấn, cầukhiến, cảm thán) chứ không phải chỉ cho riêng cho câu tường thuật như nhiều nhànghiên cứu vẫn mặc định Ví dụ :

1)Trời // mưa

2)Hôm qua // (trời) mưa

3)Nam // (là) người Huế

4)Ai // làm việc này?

5) Anh // đi đi!

6) Ở đây // nhiều muỗi quá!

Cấu trúc đề - thuyết có thể được nhận diện và phân tích trên nhiều khía cạnh khác nhau như: đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp của đề, đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ

8

Trang 12

pháp của thuyết, các phương tiện đánh dấu quan hệ đề - thuyết trong câu, các kiểucấu trúc đề - thuyết của câu Những vấn đề này, về cơ bản chúng tôi tán thành cáckiến giải của Cao Xuân Hạo trong công trình Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chứcnăng (1991/2004) nên xin phép không nhắc lại ở đây.

Có một câu hỏi đặt ra ở đây là câu có quan hệ như thế nào với cú? Ở trên chúngtôi đã nói rằng cú có chức năng biểu hiện sự tình và có cấu trúc cú pháp tương ứngvới chức năng đó là cấu trúc chủ - vị Đó là chúng ta xem xét cú như một ngữ đoạntĩnh trong sự độc lập tương đối với câu Tuy nhiên trong thực tế giao tiếp, khi ngườinói sử dụng các câu có nội dung thông báo liên quan đến một sự tình nhất định do

cú biểu thị (chẳng hạn đưa ra một nhận định hay một câu hỏi về một sự tình), các cúđiển mẫu có thể được tổ chức lại theo mục đích phát ngôn của người nói Chẳnghạn, một cú điển mẫu CN – VN – BN như „Tôi uống cà phê” mô tả một sự tình

“Tôi (Tác thể) uống (Vị từ tác động), cà phê (Bị thể), tùy theo điểm nhìn để lựachọn điểm xuất phát của người nói, có thể được tổ chức thành các câu có cấu trúc đềthuyết khác nhau “Tôi//uống cà phê rồi”, “Tôi//thì uống cà phê rồi” hoặc “Cà phê//(thì) tôi uống rồi”, hoặc thêm vào một đề ngữ để biến cả cú thành một thuyết ngữ

“Sáng nay//, tôi uống cà phê rồi” Như vậy cấu trúc chủ vị và cấu trúc đề- thuyết làkhác nhau: cấu trúc chủ - vị là của cú gắn với chức năng biểu hiện, còn cấu trúc đề -thuyết là của câu, gắn với chức năng thông báo Cũng cần nói thêm rằng ngay cả khi

cú chưa được phát triển thành một câu độc lập nhưng đã tham gia vào câu như mộtthành tố cú pháp (làm thành phần câu đơn hay bộ phận của câu ghép) thì cấu trúc cúpháp của cú cũng đã bắt đầu chuyển hóa từ quan hệ chủ -vị sang quan hệ đề

- thuyết bởi vì lúc đó cú không phải được dùng với chức năng biểu hiện nữa mà bắt

đầu được dùng với chức năng thông báo (ví dụ: Trời mưa (cú điển mẫu) Trời thì

mưa mà vẫn phải đi làm Trời m mưa thì tôi không đi làm) Lúc đó cú có tính chất

nửa cú, nửa câu nên có thể gọi là tiểu cú hoặc bán cú

Như đã nói ở trên, quá trình chuyển từ cú sang câu là quá trình chuyển hoá từmột đơn vị ngữ pháp có chức năng biểu hiện sự tình với cấu trúc cú pháp dựa trên quan hệ chủ - vị sang một đơn vị ngữ pháp có chức năng thông báo (truyền tải một

9

Trang 13

thông điệp) có cấu trúc cú pháp được tổ chức dựa trên quan hệ đề - thuyết Theo đó,khác với cú có cấu trúc S-V hoặc S-V-O, một câu đơn hoàn chỉnh thường có cấutrúc lưỡng phân gồm hai thành tố cú pháp trực tiếp là đề và thuyết, trong đó đề làxuất phát điểm hay phạm vi ứng dụng của thông điệp, còn thuyết biểu hiện nội dungcủa thông điệp Để nhận diện và phân tích cấu trúc cú pháp của câu có thể dựa vàonhiều tiêu chí khác nhau, trong đó quan trọng nhất là các tiêu chí: (a) Đặc điểm của

đề, (b) Đặc điểm của thuyết, (c) Các phương tiện đánh dấu quan hệ đề - thuyết Cứliệu cho thấy, cùng một cú nhưng tuỳ theo ngữ cảnh, người nói sẽ lựa chọn cácthành tố khác nhau làm đề, từ đó sẽ tạo ra các câu có cấu trúc đề - thuyết khác nhau.Chẳng hạn từ cú điển mẫu (7) “Anh Nam đi Hải Phòng hôm qua‟‟, có thể hìnhthành các câu (8), (9), (10) :

7) Anh Nam đi Hải Phòng hôm qua

- C1 (là danh ngữ) đứng trước C2 (là động ngữ hoặc bán cú)

- Có thể thêm „thì‟ (tác tử phân giới đề - thuyết) vào giữa C1 và C2

Từ đó, có thể kết luận quan hệ giữa C1 và C2 là quan hệ giữa hai thành tố trựctiếp của câu có chức năng đề và thuyết, và tất cả các câu trên đều có cấu trúc cúpháp đề - thuyết

Câu hỏi đặt ra ở đây là phải chăng cấu trúc đề - thuyết đó không phải là cấutrúc cú pháp mà chính là cấu trúc thông tin của câu? Để trả lời câu hỏi này chúng ta

10

Trang 14

thử phân tích mối quan hệ về giá trị thông tin của các cấu trúc đề thuyết đã cho Lấy

câu (8) ở trên làm ví dụ Ở câu này, chủ ngữ biểu thị hành thể của cú (anh Nam) được chọn làm đề và bộ phận còn lại là thuyết (đi Hải Phòng hôm qua) Nếu thực sự

cấu trúc đề - thuyết là cấu trúc thông tin thì câu này chỉ có thể xuất hiện trong mộtngữ cảnh duy nhất Điều này trái với thực tế là câu (8) có thể xuất hiện ít nhất trongbốn ngữ cảnh khác nhau về giá trị thông tin (được phân biệt bằng các câu hỏi) nhưsau:

8a) Anh Nam đi Hải Phòng hôm qua (Ai đi Hải Phòng hôm qua ?)

8b) Anh Nam đi Hải Phòng hôm qua (Anh Nam đi Hải Phòng bao giờ?)

8c) Anh Nam đi Hải Phòng hôm qua (Anh Nam đ u rồi?)

8d) Anh Nam đi Hải Phòng hôm qua (Anh Nam đi đ u rồi)

Như vậy là cùng một cấu trúc đề - thuyết nhưng các phát ngôn trên đây khácnhau về giá trị thông tin tương ứng với các ngữ cảnh ngữ cảnh được sử dụng, thểhiện qua các câu hỏi kiểm chứng Xét tiếp một ví dụ khác là câu (9) Khác với câu

(7), ở câu này trạng ngữ thời gian (hôm qua) được chọn làm đề, còn kết cấu chủ - vị (anh Nam đi Hải Phòng) là thuyết Thoạt nhìn, có vẻ như câu này chỉ được dùng hạn chế cho ngữ cảnh trong đó trạng ngữ (hôm qua) biểu hiện thông tin cũ (Hôm qua, ai đi Hải Phòng ? - Hôm qua, anh Nam đi Hải Phòng), chứ không được dùng trong ngữ cảnh trạng ngữ này biểu hiện thông tin mới (Anh Nam đi Hải Phòng bao

giờ ? - Anh Nam đi Hải Phòng hôm qua.// Hôm qua anh Nam đi Hải Phòng) Và

nếu điều này là đúng thì cấu trúc đề - thuyết của câu trên chỉ có một cấu trúc thôngtin duy nhất, hay nói cách khác đó chỉ là một biến thể của câu có cấu trúc đề - thuyết

„Anh Nam// đi Hải Phòng hôm qua‟) trong đó hôm qua được đảo lên trước để biểu

hiện thông tin cũ

Thực tế không phải như vậy Phân tích kĩ có thể thấy câu (9) ít nhất có thểxuất hiện trong bốn ngữ cảnh sau đây :

9a) Hôm qua, anh Nam đi Hải Phòng (Hôm qua, ai đi Hải Phòng)

9b) Hôm qua, anh Nam đi Hải Phòng (Hôm qua làm sao/có chuyện gì?)

9c) Hôm qua, anh Nam đi Hải Phòng (Hôm qua, anh Nam làm gì ?)

11

Trang 15

9d) Hôm qua, anh Nam đi Hải Phòng (Hôm qua, anh Nam đi đ u ?)

Như vậy, tương tự câu (8), câu (9) cũng có nhiều biến thể xuất hiện trong cácngữ cảnh khác nhau, mặc dù có chung một cấu trúc đề - thuyết nhưng khác nhau vềgiá trị thông tin của các thành tố, tức là có cấu trúc thông tin khác nhau

Kết quả phân tích trên cho thấy, cấu trúc đề - thuyết không phải là cấu trúcthông tin mà là cấu trúc cú pháp của câu, được xác lập chung cho tập hợp các cácngữ cảnh đồng nhất về thành tố được chọn làm đề (chủ ngữ, bổ ngữ, hay trạngngữ ) và sử dụng các thành tố còn lại làm thuyết Còn cấu trúc thông tin của câuphản ánh sự khác biệt về vị thế thông tin giữa các thành tố cú pháp của câu trongnhững ngữ cảnh cụ thể theo ý định chủ quan của người nói Tất cả các phát ngônxuất hiện một trong những ngữ cảnh đồng nhất về thành tố được chọn làm đề đều cóchung một cấu trúc đề - thuyết về mặt cú pháp Nguyên nhân khiến cho các phátngôn này khác biệt nhau và trở thành các biến thể của một câu là do sự khác biệt vềcấu trúc thông tin Như vậy, một câu với một cấu trúc đề - thuyết xác định có thể cónhiều biến thể (phát ngôn) có cấu trúc thông tin khác nhau tuỳ theo ngữ cảnh Tínhđồng nhất về cấu trúc đề - thuyết và tính khác biệt về cấu trúc thông tin là cơ sở đểphân biệt câu với các phát ngôn là biến thể của câu

1.2.2 Phân biệt cấu trúc nghĩa biểu hiện v cấu trúc thông tin :

Theo tác giả Nguyễn Văn Hiệp (2008, 36) cấu trúc nghĩa biểu hiện (còn đượcgọi là nghĩa trình bày, nghĩa kinh nghiệm, nghĩa miêu tả) phản ánh sự tri nhận vàkinh nghiệm của chúng ta về thế giới, theo đó mỗi câu nói có một vị từ làm cốt lõi

và quây quần xung quanh là những tham thể, biểu thị những vai nghĩa nào đó Cónhững vai nghĩa mang tính bắt buộc, bị quy định bởi bản chất từ vựng – ngữ phápcủa vị từ trung tâm, theo cái nghĩa là những vị từ có bản chất từ vựng – ngữ phápkhác nhau sẽ quy định một bộ sậu các vai nghĩa bắt buộc khác nhau Nhưng cũng cónhững vai nghĩa mang tính tùy nghi, tức không chịu sự bắt buộc như vậy Trong ngữpháp của Tesnière, những vai nghĩa bắt buộc sẽ được hiện thực hóa thông quanhững ngữ đoạn được gọi là diễn tố (actant), còn những vai nghĩa tùy nghi thì đượchiện thực hóa thông qua những ngữ đoạn được gọi là chu tố

12

Trang 16

(circonstant) Việc đánh giá một vai nghĩa là bắt buộc hay tùy nghi phải đặt trongquan hệ với vị từ trung tâm: một vai nghĩa có thể là tùy nghi đối với vị từ này,nhưng lại là bắt buộc đối với một vị từ khác Chẳng hạn, vai nghĩa là “nơi chốn”(location) có thể mang tính tùy nghi khi trung tâm là một vị từ “hành động” (“Tôi

gặp nó ở Hà Nội”) nhưng lại mang tính bắt buộc nếu trung tâm là một vị từ “tồn tại” (“Nó sống ở Hà Nội”).

Với lý thuyết của mình, Tesnière được xem là người đã đặt nền móng cho nghĩa họccủa cú pháp (Cao Xuân Hạo 1991, 42) Quan điểm của Tesnière thực sự là một bướctiến đáng kể trong cố gắng tách ngôn ngữ học ra khỏi ảnh hưởng của logíc học

Tuy nhiên, như Nguyễn Văn Hiệp đã lưu ý, lý thuyết của Tesnière là lý thuyết ngữpháp chứ không phải là lý thuyết ngữ nghĩa, cho dù, lý thuyết ngữ pháp này đã dựa trên

cơ sở ngữ nghĩa Cụ thể là, thay vì dùng bộ khái niệm chủ - vị và các thành phần câukhác (như bổ ngữ, trạng ngữ, ) để miêu tả cấu trúc cú pháp của câu, Tesnière đã dùng

bộ khái niệm vị từ và các tham tố (arguments) Như mọi người đều biết, các tham tốnày được phân chia làm hai loại: những tham tố bắt buộc phải có (tức để cùng với vị từlàm thành một câu trọn vẹn về nghĩa) sẽ được gọi là các diễn tố Còn những tham tốkhông mang tính bắt buộc như vậy sẽ được gọi là các chu tố

Khác với cấu trúc nghĩa biểu hiện, cấu trúc thông tin được nhìn nhận và phân

tích dưới nhiều góc độ khác nhau ề được dùng theo một mục đích khác với chủ

ngữ: Chủ ngữ đóng vai trò là chủ thể ngữ pháp trong câu, còn đề đóng vai trò là

phần khởi đầu cho một phát ngôn, nó không đòi hỏi những ràng buộc của các quytắc cú pháp, mà đòi hỏi những ràng buộc bởi những mối quan hệ nghĩa học, với sựchọn lựa của người nói Xét cấu trúc thông tin về mặt cú pháp của một câu, chúngtôi muốn lưu ý đến vị trí của đề, chiếm vị trí khởi đầu của phát ngôn Tuy nhiên, đãxét đến cấu trúc thông tin là xét đến quan hệ của phần thông tin được đề cập đến vàphần thông tin nói về nó Cấu trúc thông tin của một phát ngôn chịu sự quyết địnhcủa người nói, ảnh hưởng của người nghe và có thể cả hoàn cảnh giao tiếp Nói cáchkhác, cấu trúc thông tin cần được nhìn rõ dưới góc độ nghĩa học và dụng học Trongmột ngôn ngữ có thể có những câu mà trong đó cùng một biểu thức ngôn ngữ

13

Trang 17

có chức năng của cả đề, chủ đề và chủ ngữ Khi đề hay chủ đề trùng với chủ ngữ, ta

có đề hay chủ đề không đánh dấu (unmarked theme và unmarked topic) Tuy nhiêncũng có rất nhiều trường hợp đề hay chủ đề không làm chức năng của chủ ngữ Đốivới những trường hợp đề không làm chức năng của chủ ngữ, ta có thể có đề đượcđánh dấu (marked theme) hay đề nhấn mạnh Đối với chủ đề, có những trường hợpchủ đề được đưa lên đầu câu (vị trí của đề) tuy không làm chức năng của chủ ngữnhưng nhằm mục đích nhấn mạnh, hoặc có những trường hợp một thành phần được

đề bạt lên làm chủ ngữ trong vị trí đề hóa để làm chủ đề đánh dấu Chủ đề, với tưcách là đối tượng của thông báo, có thể trở thành phần thông tin đáng chú ý nếuđược đề bạt ở một vị trí đánh dấu Phần thuyết minh cho đề cũng có thể trở thànhtiêu điểm thông báo trong trường hợp cần thiết

Từ những điều trình bày trên, chúng tôi nhận thấy rằng cấu trúc thông tin cóthể được phân tích theo nhiều hướng khác nhau Đó là cấu trúc đề - thuyết, cấu trúcthông tin cũ – mới, và quan điểm về thông tin chủ đề và thông tin tiêu điểm Cácthành tố thông tin mà chúng tôi muốn vận dụng trong luận văn này là thông tin vềchủ đề và thông tin tiêu điểm Chúng tôi cũng có quan điểm rằng chủ đề cũng có thể

là tiêu điểm và tiêu điểm thông báo cũng có thể mang tính tương phản

1.2.3.Cấu trúc thông tin

1.2.3.1.Các th nh t của cấu trúc thông tin

Cấu trúc thông tin có thể được phân chia và gọi tên theo nhiều cách khácnhau: đó là cấu trúc đề - thuyết, cấu trúc thông tin cũ - mới, hay thông tin về chủ đề

và thông tin tiêu điểm

a Cấu trúc đề - thuyết:

Theo Halliday [64], đề (theme) là yếu tố được dùng như là điểm khởi đầu củamột thông điệp, nó là yếu tố mà mệnh đề nói về nó và thuyết (rheme) là phần còn lại

của thông điệp, chính là phần mà trong đó đề được phát triển.

Với định nghĩa này thì bất kỳ thành phần nào mở đầu cho một câu hay một

phát ngôn đều được gọi là đề Điều đó đã dẫn đến nhiều luận chứng cho rằng trong một số ngôn ngữ nào đó cấu trúc đề - thuyết là cấu trúc cú pháp cơ bản của câu thay cho cấu trúc chủ - vị Đi đầu cho quan điểm này ở Việt Nam là học giả Cao Xuân

14

Trang 18

Hạo Cao Xuân Hạo [13] đã chứng minh rằng tiếng Việt là ngôn ngữ thiên về cấu

trúc đề - thuyết hơn là cấu trúc chủ - vị và điều này có thể giúp lý giải cho một số

mô hình cấu trúc trong tiếng Việt Đặc biệt, Cao Xuân Hạo đã bước đầu tìm ra

những dấu hiệu hình thức để nhận diện đề và thuyết như sử dụng các tác tử phân giới thì, là, hay nhận diện đề thông qua thuyết, nhận diện đề và thuyết qua các thuộc

tính ngữ pháp của đề

Theo chúng tôi, việc xác định và phân tích cấu trúc câu theo cấu trúc đề

-thuyết, tuy không thể thay thế cho cấu trúc cú pháp chủ ngữ - vị ngữ, nhưng cũng

mang lại nhiều tiện lợi

* ề luôn xác định được vì nó luôn nằm ở vị trí đầu câu, còn chủ ngữ thì

không phải lúc nào cũng có một vị trí xác định Đặc biệt với những ngôn ngữ

không biến hình như tiếng Việt, rất khó xác định được chủ ngữ nhưng ta luôn

có thể xác định được đề.

* ề không đòi hỏi sự hợp dạng hay tuân theo các quy tắc ngữ pháp nào với

cấu trúc câu và các thành phần còn lại trong câu tùy theo mục đích giao tiếp

mà bất kỳ thành phần nào trong câu cũng có thể được đề bạt lên vị trí của đề.

Theo thực tế của tiếng Việt, cái gọi là chủ ngữ trong tiếng Việt không đòi hỏi

một sự phù ứng nào về mặt ngữ pháp đối với động từ và bổ ngữ trong tiếng Việt ề, trong vai trò là thành phần mở đầu của phát ngôn, được đánh dấu bởi vị trí đầu câu, tương đương với vị trí thông thường của chủ ngữ Chính vị trí này đã góp phần làm cho cấu trúc đề - thuyết có thể được nhận vai trò cấu trúc cú pháp của câu trong

một số ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ không biến hình

Khác với quan niệm của một số nhà Việt ngữ coi cấu trúc đề - thuyết là cấu

trúc cú pháp, Halliday [63], [64] quan niệm đề và thuyết là các thành phần của một

cú với tư cách là một thông điệp Tuy nhiên Halliday cũng lưu ý rằng khi coi đề là

điểm khởi đầu của thông điệp mà người nói lựa chọn, ta không thể được phép nhầm

lẫn với thông tin cũ, thông tin mà người nói cho là người nghe đã biết và cấu trúc đề

- thuyết không thể nhầm lẫn với cấu trúc thông tin cũ - mới mà chúng tôi sẽ trình

bày sau đây

15

Trang 19

b Cấu trúc thông tin cũ - mới:

Theo Halliday cấu trúc đề - thuyết là sự lựa chọn theo người nói và cấu trúc thông tin cũ - mới là sự lựa chọn để phù hợp với người nghe Có thể có những

trường hợp hai sự phân chia này trùng nhau bởi vì thông thường thông tin mà người

nói chọn để khởi đầu là thông tin cũ - thông tin mà người nghe đã biết – như trong

ví dụ sau:

(11) A: Cậu có thích ăn kem không?

(12) B: Kem thì lúc nào mình cũng thích

Thông tin về “kem” trong câu trả lời là thông tin đã được nhắc đến trong câu hỏi

- tức là thông tin cũ - và cũng là thông tin mà người nói chọn làm điểm khởi đầu cho câu trả lời của mình, tuy rằng người nói cũng có thể chọn lựa một cách trả lời khác:

(13) A: Mình thì lúc nào cũng thích ăn kem

(14) B: Lúc nào mình cũng thích ăn kem

Trong (12) người nói chọn cá nhân mình làm điểm xuất phát, và trong (13)thìngười nói muốn chọn điểm xuất phát chính là thông tin mà người nghe chưa biết,

nhằm nhấn mạnh phần đề, cũng chính là phần thông tin mới Như vậy, trong (13) đề

và thông tin cũ không trùng nhau.

Cũng theo Halliday, có những trường hợp câu không có thông tin cũ nhưng bất

kỳ phát ngôn nào cũng có điểm xuất phát, hay nói cách khác, câu luôn có đề Đây làkiểu câu mà truyền thống gọi là “câu tồn tại”, mà chức năng là giới thiệu một thựcthể xuất hiện lần đầu trong diễn ngôn, ví dụ:

(14) Ngày xửa ngày xưa, ở một làng nọ có một gia đình nghèo….Trong ví dụ trên, câu chứa toàn thông tin mới với điểm xuất phát là “ngày xửangày xưa, ở một làng nọ” và từ điểm xuất phát đó, giới thiệu sự tồn tại của một giađình nghèo

Cách phân chia cấu trúc thông tin cũ - mới là cách phân chia theo trường phái

Praha Cách phân chia này phải được xét đến mối quan hệ với bối cảnh và người sử

dụng Tuy nhiên, nói về thông tin cũ và thông tin mới, quan điểm của học giả khác

nhau về nhận thức thế nào là mới, thế nào là cũ vẫn có chỗ khác nhau

16

Trang 20

Halliday [63] mô tả thông tin cũ như là phần thông tin được người nói cho là

có thể phục hồi được từ văn bản hay ngữ cảnh và một thông tin được gọi là mới thì

là không phải vì nó không thể được đề cập đến trước đó, mặc dù thông thường thì

nó chưa được đề cập đến, mà vì người nói trình bày nó như là không thể phục hồiđược từ phần văn bản đi trước

Ủng hộ ý kiến này, Chafe [46] cho rằng vị thế cũ phải được giới hạn trongphạm vi kiến thức mà người nói cho là ở trong trạng thái nhận thức của người nghetại thời điểm phát ngôn, ví dụ:

(15) A: Anh gặp ai ngày hôm qua?

B: Tôi gặp em gái anh ngày hôm qua.

Theo quan điểm của Chafe và Halliday, có thể được xem là thông tin mới nếungười nói cho rằng em gái của người nghe không ở trong trạng thái nhận thức củangười nghe vào thời điểm phát ngôn

Mối quan hệ giữa tính chất thông tin cũ hay mới đối với người nghe hay đốivới văn bản có thể được trình bày như sau:

(i) Cũ với người nghe và cũ với văn bản: Đó là thông tin đã được gợi lên trong văn bản hiện dùng và do đó người nói tin là người nghe đã biết

(ii) Cũ với người nghe, nhưng mới với văn bản: Đó là thông tin chưađược gợi lên trong văn bản hiện dùng, nhưng người nói tin là người nghe

17

Trang 21

Khái niệm cũ / mới được Gundel [61] xác định theo hai lĩnh vực khác nhau:một thuộc lĩnh vực ngữ pháp và một thuộc lĩnh vực ngữ dụng và ngữ nghĩa tri nhận.

Về mặt ngữ pháp, khái niệm cũ / mới gắn liền với tính quy chiếu trong ngôn bảnhay trong suy nghĩ của người nói / người nghe Về ngữ dụng, khái niệm cũ / mớigắn liền với tính quan hệ, theo đó ví dụ như khi có hai phần X và Y, thì X được cho

là cũ, trong mối quan hệ với Y và Y được cho là mới trong mối quan hệ với X Vớiquan niệm này thì “she” trong ví dụ dưới đây được coi là cũ vì đã có quy chiếutrong văn bản nhưng là mới trong mối quan hệ với thông tin về “called”

(16) Who called? (Ai gọi thế ?)

Pat said she called.

(Pat bảo rằng cô ấy gọi) [74,tr.1]

Tóm lại, các nhà ngôn ngữ học đã có những cách tiếp cận khác nhau về sựphân đoạn thông tin cũ / mới: Thông tin cũ chúng tôi dùng trong luận văn này sẽđược hiểu theo nghĩa là thông tin cũ với người nghe và với văn bản (trường hợp (i)của Prince) và thông tin mới được hiểu là phần thông tin chưa được “gợi lên” trongvăn bản (như của Halliday) hay có thể có quy chiếu trong văn bản nhưng không thểsuy diễn được vì nó là phần thông tin mới trong mối quan hệ với thông tin cũ (nhưcách hiểu của Gundel) Do đó, theo chúng tôi, tính xác định của biểu thức không điđôi với khái niệm cũ / mới về mặt thông tin

Để đạt được mục đích giao tiếp, phát ngôn thông thường phải chứa đựngthông tin mới Có những phát ngôn chỉ chứa thông tin mới mà không có thông tin

cũ Ví dụ: khi trả lời cho câu hỏi: “Có chuyện gì vậy?” câu trả lời: “Có hai thằng béđánh nhau!” chỉ chứa đựng thông tin mới

Cấu trúc thông tin của một phát ngôn theo mô hình cũ - mới được coi là cấutrúc thông tin dưới góc độ dụng học vì nó cho biết thông tin về mối quan hệ củangười nói và người nghe Người nói phải tính đến người nghe trong một hoàn cảnhnào đó đã biết gì và muốn biết gì

Ngoài các quan niệm về cấu trúc thông tin phân chia thành cấu trúc đề - thuyếthay thông tin cũ và thông tin mới, một phát ngôn còn cho biết về đối tượng của

18

Trang 22

thông báo và thông báo về đối tượng đó Thông tin nêu ra trong trường hợp này là

thông tin chủ đề và cũng sẽ là trọng tâm của luận văn chúng tôi về các phương tiện

nhấn mạnh về mặt thông tin

c Thông tin chủ đề

Theo Dik [49, tr.92], thành tố có chức năng là chủ đề (topic) chỉ một thực thể

mà người nói cho là người nghe đã biết, và là cái mà phần vị ngữ xác nhận về nó

Quan điểm về chủ đề cũng được Lambrecht [73, tr.131] tán thành khi ông cho rằng cái được gọi là chủ đề (topic) của một mệnh đề (proposition) là “cái” mà khi trong

một tình huống đã cho mệnh đề đó được giải thích là nói về sở chỉ đó tức là mệnh

đề đó diễn đạt thông tin thỏa đáng để tăng kiến thức của người nghe về sở chỉ này

Ví dụ hai câu sau:

(17a) Nhà gần hồ.

(17b) Hồ gần nhà.

Trong (17a), người nói / viết chọn “nhà” làm chủ đề và cung cấp thông tin về nó

Trong (17b), người nói / viết chọn “hồ” làm đối tượng của thông báo và thông báo vềđối tượng đó (ở gần nhà) Vậy, hai câu tuy có cùng một nội dung mệnh đề nhưng khácnhau về thông tin chủ đề, vì hai câu chọn lựa hai đối tượng thông báo khác nhau

Theo định nghĩa của Lambrecht thì chủ đề là sở chỉ đã được đề cập đến mà người nói sẽ làm sáng tỏ thêm ở trong mệnh đề Theo định nghĩa trên, thì đề (theme)

và chủ đề (topic) rất có khả năng trùng nhau bởi vì khi chủ đề - cái đã được đề cập

đến - nay lại được nhắc lại với những thông tin thỏa đáng thì thông thường được đặt

ở vị trí đầu câu, và đó cũng là vị trí mà người nói lựa chọn để khởi đầu cho phát

ngôn của mình Dik [49] đưa ra một cách phân biệt về mặt hình thức giữa đề (theme) và chủ đề (topic): đó là đề (theme) thì phải tách ra về mặt cấu trúc với cú, còn chủ đề (topic) thì nhất thiết phải là một thành phần trong cấu trúc Ông cũng chỉ

ra rằng đề (theme) và chủ đề (topic) có thể khác biệt nhau trong cùng một câu như

ví dụ ông dẫn ra:

19

Trang 23

(18) As for Paris, the Eiffel Tower is really spectacular.

(Nói đến Paris thì phải nói tháp Eiffel thực sự ngoạn mục.)

Trong ví dụ trên, theo Dik, “Paris” là đề (theme) và “the Eiffel Tower” là chủ

đề (topic) Tuy nhiên ở đây chúng tôi nhận thấy rằng “the Eiffel Tower” chỉ có thể

được coi là chủ đề khi trả lời cho câu hỏi: “The Eiffel is considered one of the seven

wonders of the world, how is it regarded in Paris?” (Tháp Eiffe được coi là mộttrong bảy kỳ quan của thế giới, nó có giá trị thế nào ở Paris?) chứ không trả lời chocâu hỏi: “What is the most distinguished in Paris?” (Biểu tượng gì gây ấn tượngnhất ở Paris?)

Một ví dụ khác mà Dik dẫn ra sự khác biệt giữa đề và chủ đề:

(19) That man, I hate him (Người đàn ông đó, tôi ghét anh ta)

Trong ví dụ trên, Dik cho rằng đề là “That man” (Người đàn ông đó) và chủ

đề là “him” (anh ta), trong trường hợp này, đề và chủ đề tuy không trùng nhau

nhưng có cùng sở chỉ

Không chỉ chủ đề cần phải được phân biệt với đề mà chủ đề và chủ ngữ, hai

khái niệm một thuộc về cú pháp, một thuộc về ngữ nghĩa, nhưng cũng có thể gâynhầm lẫn và cần được phân biệt rạch ròi như chủ ngữ trùng với chủ đề, chủ ngữkhông trùng với chủ đề

Lambrecht còn lý giải rằng những câu có hai hoặc hơn hai chủ đề, thì ngoàinhiệm vụ chuyển đạt thông tin về chúng ta, câu còn có nhiệm vụ chuyển đạt thôngtin về mối quan hệ giữa chúng Mối quan hệ này tồn tại trước khi phát ngôn đượcđưa ra Nhiệm vụ của những câu thuộc loại này chỉ là để khẳng định bản chất củamối quan hệ

Tóm lại, được người nói lựa chọn để khởi đầu thông điệp, với vị trí luôn xác

định vì luôn đứng ở đầu câu, đề (theme) là công cụ của cấu trúc thông tin được đánh dấu về mặt hình thức Chủ đề (topic) là đối tượng của thông báo, là cái sẽ được khai

triển và làm sáng tỏ thêm ở trong phát ngôn (bởi phần thuyết), do đó đóng vai trò là

20

Trang 24

thành phần của cấu trúc thông tin về mặt nghĩa học Thông thường đề cũng chính là chủ đề vì chủ đề, với khái niệm trên, thường được đặt ở vị trí khởi đầu của phát ngôn,

tuy người nói có thể chọn một điểm xuất phát hoàn toàn khác Với tư cách là đối tượng

của thông báo, chủ đề là công cụ của cấu trúc thông tin xét về mặt nghĩa học Phần

thông tin chủ đề là phần thông tin đánh dấu nhận thức của người nói / viết đối với một

sự kiện Sự chọn lựa khác nhau của những người nói khác nhau hay trong những hoàncảnh nhận thức khác nhau có thể làm cho một sự kiện diễn đạt bởi cùng một nội dungmệnh đề được thông báo bằng những cấu trúc thông tin khác nhau

Những điều trình bày ở trên lý giải cho việc chúng tôi chọn thông tin về chủ đề

và tiêu điểm thông báo là cấu trúc nền tảng cho những khảo sát của chúng tôi đểnhấn mạnh về mặt thông tin

d Tiêu điểm thông báo:

Dik [49], định nghĩa tiêu điểm thông báo như là một thông tin quan trọngnhất, hay nổi bật nhất về phương diện thông tin về mặt dụng học đối với người nói

và người nghe, theo ước tính của người nói Do đó, phần thông tin tiêu điểm sẽ liênquan đến những thay đổi mà người nói muốn mang lại về mặt thông tin dụng học.Những thay đổi này có thể có những hình thức khác nhau Người nói có thể muốn

bổ sung một thông tin nào đó vào thông tin dụng học của người nghe, hay người nóimuốn thay thế một thông tin X nào đó mà người nói cho là người nghe có bằng mộtthông tin Y mà người nói có Cả hai trường hợp trên đều chứa những điểm khác biệtgiữa thông tin dụng học của người nói và của người nghe (hiểu theo góc độ củangười nói) Do đó, thông tin tiêu điểm thông thường được người nói trình bày như

là phần thông tin mới đối với người nghe Dik cũng lưu ý rằng không phải lúc nàophần thông tin tiêu điểm cũng là phần thông tin hoàn toàn mới Phần thông tin tiêuđiểm có thể đã được người nghe biết đến nhưng vẫn được đặt ở vị trí tiêu điểm domột sự tương phản nào đó như trong ví dụ sau:

(20) John and Bill came to see me John was nice but Bill was rather boring

[50, tr.278]

21

Trang 25

(John và Bill đến thăm tôi, John thật dễ thương nhưng Bill lại nhạt nhẽo quá.)

Nguyễn Hồng Cổn [9] cho rằng tiêu điểm thông báo chỉ trùng với thông tin mới theo quan điểm thông tin mới là thông tin mà “người nói cho là không có trong

ý thức của người nghe hay người nghe chưa biết” Trường hợp này, theo tác giả

Nguyễn Hồng Cổn, chỉ đúng với trường hợp câu tường thuật Còn trong trường hợpcâu hỏi, thì cái mới không phải là cái người nghe chưa biết mà chính là cái ngườinói chưa biết hay đang muốn biết” Trong ví dụ dưới đây, tiêu điểm thông báo là

“gì” (được gọi là tiêu điểm hỏi) là điều người nói muốn biết

(21) A: Hôm qua anh xem phim gì?

B: Hôm qua tôi xem phim “Cu n theo chiều gió”

Theo chúng tôi, đối với người nghe, một câu hỏi vẫn có thể chứa “cái mới”.Cái mới trong câu hỏi như đã nêu ở trên chính là thông tin rằng người nói muốn biết

về “phim gì”, cũng chính là thông tin chưa có trong ý thức người nghe Hay nóicách khác, trước khi A phát ngôn ra câu hỏi, thì B chưa có ý thức là A đang thiếuthông tin gì Vậy “phim gì” chứa đựng thông tin mới Cái khác về cách hiểu thôngtin mới và tiêu điểm thông báo ở trong hai phát ngôn của A và B ở trên là ở chỗ:Trước phát ngôn A, nội dung chứa trong tiêu điểm thông báo chưa có ý thức củangười nghe; còn trước phát ngôn B, người nghe đã có nhận thức về trọng tâm củaphát ngôn (vì người nghe A mong đợi B sẽ trả lời câu hỏi của mình) mặc dù thôngtin người nói B đưa ra là hoàn toàn mới đối với người nghe A

Ta có thể vận dụng cách hiểu tiêu điểm như trên trong hai kiểu trường hợp:

1- Phần thông tin chứa trong tiêu điểm là phần thông tin mới (theo nghĩathông tin mới là phần thông tin không thể tiên đoán được hay không thể phục hồi được)

2- Phần thông tin chứa trong tiêu điểm là phần thông tin trái với tiền giảđịnh (gọi là tiêu điểm tương phản) Tiêu điểm là cái làm cho một phát ngôn trởthành một khẳng định, giống như định nghĩa của Halliday [64] về tiêu điểm

22

Trang 26

Tiêu điểm thông báo là một loại nhấn mạnh m theo đ người n i đánh dấu ra một phần (cũng c thể là toàn bộ) của một kh i thông tin m người nói mong mu n phải cắt nghĩa l c tính thông báo Thông tin “mới” l tiêu điểm; không phải theo nghĩa l n không thể được nhắc đến trước đ , mặc dù thông thường đúng l n chưa được nhắc đến, m theo nghĩa rằng người n i trình b y n như l không thể được phục hồi từ văn bản đi trước Ta có thể gợi ý rằng tiêu điểm của thông điệp là cái được người n i trình b y như l thông tin mới, không thể rút ra được về mặt văn bản (và về mặt văn cảnh).

Nói về mục đích giao tiếp, tiêu điểm thông báo cũng có thể mang tính tươngphản Khái niệm “tương phản” (contrastive) được Halliday [64, tr.206] định nghĩa là

“trái nghịch với một sự lựa chọn nào đó đã được đoán trước hay được khẳng địnhtrước” Phần thông tin được đưa ra trái nghịch với phần thông tin mà người nghe đãmong đợi hay đã khẳng định có thể chứa một sở chỉ cũ nhưng về thực chất vẫnmang tính thông tin vì đó là điều chưa có trong nhận thức của người nghe (ngườinghe có nhận thức một điều hoàn toàn khác)

Khác với Halliday, Chafe [46] thiết lập khái niệm về sự tương phản bao gồm

ba yếu tố Đó là: 1- Một kiến thức nền tối thiểu 2- Một số các ứng cử viên có thể cócho vai trò mà yếu tố bị tương phản đang đảm nhận 3- Một khẳng định ứng cử viênnào trong số đó là nhân vật cần chọn Theo quan điểm này, Chafe phân biệt phần trảlời cho câu hỏi sau có thể được cắt nghĩa là tương phản hoặc không tương phản:

(22) A: Ai làm cái bánh?

B: Cho mình cà phê.

Chafe cho rằng khi người nói giả sử rằng trong đầu người nghe đã có mộtloạt có hạn định các ứng cử viên cho câu trả lời thì phần trả lời trên có thể được coi

là tương phản, nó là không tương phản khi người nghe không có một giả thiết nào

về các ứng cử viên được lựa chọn Tuy nhiên cách cắt nghĩa của Chafe rắc rối ở chỗbản thân câu hỏi không hề để lộ ra là nó đòi hỏi được cắt nghĩa tương phản haykhông tương phản

23

Trang 27

Với quan điểm về tiêu điểm thông báo bao gồm tiêu điểm tương phản như đãtrình bày ở trên, chúng tôi có nhận xét rằng chủ đề cũng có thể chứa thông tin tiêuđiểm, như ví dụ dẫn ra dưới đây của Lambrecht [73]:

(23)Tôi gặp Mary và John hôm qua Cô ấy thì ch o nhưng anh ấy thì vẫn còn giận lắm.

Hai sở chỉ “Mary”, “John” đã được đề cập đến như là chủ đề của cuộc thoại vàchúng lần lượt là chủ đề của phát ngôn “Cô ấy thì chào nhưng anh ấy thì vẫn còngiận lắm” Ở đây có sự tương phản giữa hai chủ đề (“cô ấy” và “anh ấy”) với haiphần thuyết đối nghịch đi kèm (“chào” và “giận”) Do đó theo Lambrecht phát ngônnhư trong (23) chứa hai tiêu điểm: một là ở đầu câu và một ở cuối câu, và bản thânchủ đề cũng mang tính tương phản

1.2.3.2.Trật tự từ của cấu trúc thông tin

Trật tự từ cũng là một phương tiện được dùng để đánh dấu tiêu điểm thông tincủa câu tiếng Việt Một cấu trúc bị đánh dấu về mặt trật tự từ nếu sự phân đoạn vềcấu trúc thông tin làm thay đổi trật tự các thành tố cú pháp của nó Dựa vào khảnăng thay đổi trật tự từ để đánh dấu tiêu điểm thông tin, có thể phân biệt hai loạiđảo trật tự khác nhau là: tiền đảo và hậu đảo

- Tiền đảo là phép chuyển đổi trật tự bằng cách đảo thành tố có chức năng tiêu điểm từ vị trí cuối câu (không đánh dấu) lên vị trí đầu câu (đánh dấu), ví dụ:

(24) a Ông Tư mắng ai vậy?

b Ông ấy mắng tất cả mọi người Ông ấy mắng cả tôi.

c Ông ấy mắng tất cả mọi người Cả tôi ông ấy cũng mắng.

(25) a Dạo này công việc thế nào?

b Bận quá Tớ phải làm việc cả chủ nhật.

c Bận quá ( Cả ) chủ nhật tớ cũng phải làm việc.

- Hậu đảo là phép chuyển đổi trật tự bằng cách chuyển thành tố chức năng tiêu điểm từ vị trí đầu câu (không đánh dấu) xuống vị trí cuối câu (đánh dấu):

(26) a Ai phải chịu trách nhiệm về việc này?

b Anh phải chịu trách nhiệm về việc này.

24

Trang 28

c.Người phải chịu trách nhiệm về việc này là anh.

(27) a Trong lớp này ai học giỏi nhất?

b Trong lớp này anh Bình học giỏi nhất

c Trong lớp này, học giỏi nhất là anh Bình.

Ở đây có một vấn đề đặt ra là sự thay đổi trật tự các thành tố cú pháp chỉ tác độngđến cấu trúc thông tin của câu (làm thay đổi trật tự của tiêu điểm thông tin), hay cònlàm thay đổi cấu trúc cú pháp của câu, tạo ra một câu có cấu trúc cú pháp mới (đềcủa câu cũ thành thuyết của câu mới và ngược lại)? Đây là một vấn đề phức tạp liênquan đến việc phân biệt cấu trúc cú pháp và cấu trúc thông tin và mối quan hệ qualại giữa hai kiểu cấu trúc này trong câu, cũng như liên quan đến quan điểm lí thuyếtđược lựa chọn, vượt ra khỏi khuôn khổ của luận văn chúng tôi, vì vậy chúng tôi xinphép không bàn đến

1.2.4 Nhấn mạnh (hay tiêu điểm thông báo)

1.2.4.1 Các loại nhấn mạnh

Nhấn mạnh được định nghĩa là “việc sử dụng ngôn ngữ để đánh dấu tầm quantrọng thông qua cường độ của cách diễn tả hay những nét đặc trưng của ngôn ngữ

như dấu nhấn và ngữ điệu” (The Oxford Companion to the English Language)

Nhiều tác giả Biber [40]; Eastwood [54]; Swan [101] phân chia nhấn mạnh thành ba loại:

Trang 29

Nhấn mạnh tương phản là nhấn mạnh điều đã được mong đợi nay đã thành hiện thực hay điều không được mong đợi vẫn cứ diễn ra.

(28) “Why, Mary Austin! You bad girl, why didn‟t you come to Sunday school ?”

“ I did come – didn‟t you see me ? ”

(Mary Austin, sao cậu lại hư thế? Sao cậu không đến trường học chủ nhật ? _ Tớ cóđến đấy chứ Cậu không thấy tớ à ?)

Trong đoạn đối thoại trên, người hỏi (Becky Thatcher) cho rằng Mary Austinkhông đến trường học chủ nhật Phát ngôn của Mary nhấn mạnh vào thông tintương phản: Cô bé thực sự có đi học, khác với suy nghĩ của Becky

Nhấn mạnh tương phản cũng có nghĩa là nhấn mạnh hai ý kiến, hai chủ đềhay hai sự kiện tương phản hay trái ngược nhau như trong các ví dụ dưới đây:

(29) Talent Mr Micawber has, capital Mr Micawber has not (Thiên tài thì ông Micawber có, còn vốn liếng thì

không )(30) Con thì hơi một tý đã nhè mồm ra khóc Vợ thì động thấy con khóc

đã quát tháo, rủa con và rủa luôn kiếp mình.

Tuy rằng nhấn mạnh thông tin và nhấn mạnh tương phản là hai khái niệm độclập, chúng tôi nhận thấy rằng nhấn mạnh thông tin cũng có thể mang tính tươngphản vì phần thông tin trái ngược với phần thông tin người nghe mong đợi cũng cóthể là phần thông tin đang không hiện diện trong đầu người nghe Trong luận vănnày, khi dùng từ “nhấn mạnh” chúng tôi muốn ám chỉ đến nhấn mạnh thông tin baogồm cả một phần nhấn mạnh tương phản

c Nhấn mạnh biểu cảm:

Nhấn mạnh có thể được dùng để làm nổi bật lên, để gây sự chú ý đến, sắc tháibiểu cảm Những phát ngôn cảm thán thường được dùng với mục đích nhấn mạnhtính biểu cảm:

(31) Mặc cha công việc (Nam Cao)

Trang 30

26

Trang 31

Nó trốn đằng mẹ nào mất rồi, còn gì? (Nguyễn Công Hoan)

Những công cụ từ vựng trong tiếng Việt với tính chất phóng đại cũng thườngđược dùng để phục vụ mục đích này như Đinh Trọng Lạc [18] liệt kê trong các biện

pháp tu từ của ông: cực điểm, cực độ, cùng cực, tuyệt vời, tuyệt diệu, tuyệt trần,v.v

Theo Biber và cộng sự [40, tr.897] “trong bất kỳ một câu nào thường có ítnhất một tiêu điểm Trong ngôn bản, dấu nhấn trọng tâm sẽ rơi vào điểm này, theo

đó bất kỳ thành phần nào của câu bao gồm điểm này đều được nhấn mạnh.” Trongkhi Biber đồng nhất tiêu điểm với phần được nhấn mạnh thì Chafe (xem Givón:[58] cho rằng thuật ngữ nhấn mạnh (emphasis) có thể được dùng để chỉ tiêu điểm,nhưng có thể phần đề, không phải là tiêu điểm cũng được nhấn mạnh

Halliday [64] thì cho rằng tiêu điểm là một loại nhấn mạnh nhưng không hoàntoàn là nhấn mạnh Khi nói về tiêu điểm ta nói về phần thông tin quan trọng cầnđược lưu ý, còn khi nói về nhấn mạnh, phần được nhấn mạnh có thể là mẩu thôngtin nhưng cũng có thể là một cảm xúc của người nói, người viết muốn diễn đạt Tiêuđiểm chỉ tập trung vào phần thông tin mới, do đó, theo Halliday, chỉ có thể đặt tiêuđiểm vào phần thuyết, nhưng nhấn mạnh có thể tập trung vào phần thuyết cũng nhưphần đề, vào phần thông tin mới cũng như là phần thông tin tương phản

1.2.4.2 Quan hệ giữa cấu trúc thông tin v nhấn mạnh

Nhấn mạnh là một khái niệm khá trừu tượng và có nội hàm quá rộng Kháiniệm về nhấn mạnh mà chúng tôi muốn bàn đến trong luận văn này chỉ giới hạn ởphần nhấn mạnh về mặt thông tin Theo chúng tôi phần thông tin được nhấn mạnhtrùng với tiêu điểm thông báo của câu/ phát ngôn với quan điểm về tiêu điểm thôngbáo của Halliday [63] Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng tiêu điểm thông báo khôngnhất thiết là phần luôn có vị trí đứng ở cuối câu, hay luôn ở vị trí của phần thuyếtnhư Halliday đã nói ở trên Vị trí của tiêu điểm thông báo chính là nơi thể hiệnphương tiện nhấn mạnh trong cấu trúc câu và sẽ là phần được bàn đến dưới đây vềphương tiện nhấn mạnh Theo Quirk, R [97, tr.938], một cú là truyền đạt thông quacấu trúc cú pháp của câu, Quirk cho rằng cách tốt nhất để khảo sát vị trí của tiêu

27

Trang 32

điểm thông tin là liên hệ nó với cấu trúc câu Nói cách khác, cấu trúc câu là sự hiệnthực hóa cấu trúc thông tin và là đơn vị cú pháp cụ thể để khảo sát các phương tiệnnhấn mạnh Cụ thể hơn nữa, với cả hai ngôn ngữ Anh và Việt, chúng tôi thấy vai tròcủa trợ từ trong câu là đối tượng cho chúng tôi nghiên cứu trong những phần sau khibàn về phương tiện nhấn mạnh.

1.3 Các phương thức biểu đạt nhấn mạnh

1.3.1 Nhấn mạnh bằng trọng âm

* Các phương tiện trọng âm trong tiếng Anh

Có thể nói rằng đây là phương tiện rất phổ biến trong tiếng Anh được sử dụng đểbiểu hiện các ý nghĩa tình thái tinh tế Có thể ghi nhận hai chức năng biểu hiện tìnhthái của ngữ điệu tiếng Anh

i) Ngữ điệu được sử dụng để phân biệt các kiểu câu khác nhau theo mục đích giao tiếp, chẳng hạn, cùng một chuỗi từ có thể với ngữ điệu xuống, được thuyết giải như một câu trần thuật hay với ngữ điệu lên, như một câu hỏi

(32) You‟re a new cleaner (Phát ngôn trần thuật, xác nhận)

(33) You‟re a cleaner (Phát ngôn hỏi, đoán định)

ii) Người nghe có thể suy ra từ thông tin ngữ điệu người nói sựliên hệ với các thái độ (đối với người nghe hay đối với chủ đề của

cuộc đối thoại)

Halliday đã nhận định khái quát: Về cơ bản, ngữ điệu đi xuống có nghĩa là chắcchắn và ngữ điệu đi lên có nghĩa là không chắc chắn [92, 23]

Theo nguyên tắc này, ngữ điệu đi xuống có nghĩa là đối cực của điều đoan chắc

và ngữ điệu đi lên có nghĩa là đối cực của điều không đoan chắc Ngữ điệu xuốngrồi lên chỉ một điều dường như đã rõ rồi, nhưng kỳ thực cần phải xét lại Ngữ điệunày dùng để tạo ra những phát ngôn tường thuật có ý nghĩa dè dặt, hàm ẩn ý đối lập,

và cũng để diễn tả những điều không thực

Bản thân Holmes [98] cũng cho rằng ngữ điệu tiếng Anh, công cụ diễn đạt cácmức độ chắc chắn là rất khó tiếp nhận đối với người nước ngoài học tiếng Anh Ví

dụ phát ngôn với kiểu ngữ điệu dưới đây

Trang 33

28

Trang 34

(34) I believe they are very much involved.

sẽ truyền đạt thái độ chắc chắn của người nói đối với thành phần ngôn liệu

Còn phát ngôn với ngữ điệu như dưới đây sẽ thể hiện thái độ dè dặt của người nói,

và được hiểu đây chỉ là điều đồn đại

(35) I believe they are very much involved

Bản thân người Việt học tiếng Anh cần phải thận trọng trong giao tiếp vớingười bản ngữ khi phải thuyết giải những hồi đáp đầy tính chiến thuật như:

(36) Would you like to come to dinner tonight?

I‟d love to… (Em thích lắm nhưng… (em rất tiếc phải từ ch i))

*Các phương tiện ngữ điệu trong tiếng Việt

Rất hiếm công trình nghiên cứu phương tiện ngữ điệu trong tiếng Việt.Hoàng Trọng Phiến [44] có trình bày những đặc điểm của ngôn ngữ nói tiếng Việtvới các kiểu ngữ điệu như ngữ điệu ngữ pháp, ngữ điệu logic và ngữ điệu cảm xúc,nhưng không đi vào miêu tả cặn kẽ các phương tiện Gần đây có công trình về ngữđiệu của Đỗ Tiến Thắng (2009) nhưng cũng chủ yếu tập trung vào quan hệ giữa ngữđiệu và kiểu câu, ngữ điệu và hàm ý v.v.Tình hình này có lẽ là do đặc điểm khó nắmbắt của ngữ điệu tiếng Việt, vốn không tổ chức thành các kiểu loại với những biếnđiệu lên giọng xuống giọng như ở tiếng Anh Vì các biến điệu ở một âm vực rộng cóthể dẫn đến việc phá vỡ sự đối lập cao độ của các thanh điệu gắn chặt vào từ tiếngViệt trong câu nói Thay vào đó, người Việt thường nhấn giọng hay dài giọng để bày

tỏ thái độ trong giao tiếp Ví dụ phát ngôn “Giỏi nhỉ” với sự kéo dài giọng ở âm tiết

giỏi hoặc ở âm tiết nhỉ có thể được hiểu là “không giỏi” với sắc thái chế nhạo.

Phạm Hùng Việt nhận định rằng phương tiện ngữ âm biểu hiện ý nghĩa tìnhthái là “cách dùng ngữ điệu, trọng âm để thể hiện thái độ, tình cảm hoặc để nhấnmạnh vào điểm mà người nói cho là cần chú ý” [63, 21]

29

Trang 35

Theo cách hiểu này, điểm nhấn thường rơi vào các trợ từ nhấn mạnh như

cũng, chính, cả, ngay hoặc các tiểu từ, trợ từ cuối câu nói, nơi mà giọng điệu

thường tự động thể hiện Ví dụ:

Các vị trí đặc ứng của các tiểu từ, trợ từ trong câu nói cùng các đặc thù thanhđiệu của chúng đã tạo nên một kiểu ngữ điệu đặc trưng của tiếng Việt giúp ngườibản ngữ hay người nói sõi tiếng Việt tự động nắm bắt và giải mã các thông tin tình

thái Quá trình tiếp nhận và sử dụng các kiểu câu X nhé, X nhỉ, X ư … thường gắn

chúng với một kiểu ngữ điệu nhất định phù hợp với cao độ vốn có của chúng

1.3.2 Nhấn mạnh qua mô hình cú pháp đảo ngữ

Trong các tài liệu ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu đều trực tiếp hay giántiếp cho rằng nhấn mạnh là một phạm trù đa dạng, phức tạp không chỉ về mặt hìnhthức mà còn về mặt nội dung, về chức năng của nó trong hoạt động giao tiếp vàtrong tổ chức văn bản

Theo Mildred L Larson [1984, tr 405], nhấn mạnh là một đặc điểm của cấutrúc diễn ngôn làm cho một bộ phận thông tin trở nên quan trọng hơn, tức là có ýnghĩa hơn hoặc nổi bật hơn so với một bộ phận thông tin khác Có nhiều phươngtiện bề mặt (surface structure devices) để đánh dấu tính nhấn mạnh và các phươngtiện này cũng rất đa dạng về mặt hình thức

Theo Lê Đông - Hùng Việt [1995, tr.11], nhấn mạnh là một hiện tượng kháphổ biến và có vai trò không nhỏ trong thực tế giao tiếp hàng ngày cũng như trongviệc miêu tả ngữ nghĩa-ngữ dụng nhiều hiện tượng ngôn ngữ Hai tác giả này đã nêu

ra định nghĩa về khái niệm nhấn mạnh như sau:

“Nhấn mạnh l một hiện tượng thuộc phạm vi ngữ dụng học, một dạng cụ

thể của phạm trù ngữ dụng rộng lớn hơn - phạm trù tác động lời n i.

l kiểu h nh vi c chủ đích của người n i sử dụng các phương tiện khác nhau để nêu bật những phân đoạn thông tin quan trọng, đáng lưu ý trong văn bản, nhờ đ hướng dẫn người nhận đánh giá đúng vai trò của

30

Trang 36

những thông tin đ , phân b sự chú ý của mình một cách thích hợp v xử lí chúng một cách chính xác.” [tr 13]

Như vậy, nhấn mạnh là một phạm trù thuộc về dụng học Nó được thể hiệnthông qua các phương tiện ngôn ngữ khác nhau nhằm giúp cho người nói hay ngườiviết đặt trọng tâm vào những phần thông tin quan trọng, trong đó có cả phương tiện

cú pháp Nhấn mạnh liên quan đến sự tác động của người nói/người viết đối vớingười nghe/người đọc Trong luận văn này, đảo ngữ được chúng tôi nhìn nhậnkhông chỉ là một hiện tượng thuộc về địa hạt cú pháp mà còn là một hiện tượngthuộc về diễn ngôn Do đó, chúng tôi xem xét chức năng nhấn mạnh của đảo ngữ từgóc độ diễn ngôn

Nhìn ra thế giới, một số nhà Anh ngữ học như Quirk [1985], Drubig [1988] đãcăn cứ vào các yếu tố ngôn điệu là trọng âm, ngữ điệu để nhận diện tính nhấn mạnh củacác yếu tố ngôn ngữ Bên cạnh đó, các tác giả như Green [1980], Biber [1999], Mildred

L Larson [1984] đã nhận thấy rằng sự thay đổi trật tự từ, trong đó có hiện tượng đảongữ, cũng là một phương tiện phổ biến để biểu thị tính nhấn mạnh

Khi bàn về đảo ngữ tiếng Anh, các nhà nghiên cứu đều cho rằng một trongnhững đặc điểm đáng lưu ý của hiện tượng này là hiệu quả hay tác dụng nhấn mạnh.D.Biber và các cộng sự [1999, tr.911] đã nhận xét rằng các cấu trúc đảo ngữ giúpcho người nói/người viết khai thác được tiềm năng của hai vị trí nổi bật nhất trongcâu: đó là vị trí đầu câu và vị trí cuối câu; ở các vị trí này, các thành phần bị đảo sẽđược nhấn mạnh hơn (assigned greater prominence) so với vị trí thông thường củachúng trong câu có trật tự thuận, và như vậy tạo ra hiệu quả nhấn mạnh (emphasis)cho toàn bộ câu đảo ngữ Tuy nhiên, theo những tài liệu mà chúng tôi có được,trong khi nghiên cứu về đảo ngữ tiếng Anh, các tác giả đã không nêu ra một địnhnghĩa về nhấn mạnh cũng như không đi sâu phân tích tác dụng hay hiệu quả nhấnmạnh của các cấu trúc đảo ngữ Riêng về sự phân loại đối với nhấn mạnh thì chúngtôi nhận thấy rằng tác giả K.Callow [1974, tr.49-69] (dẫn theo Mildred L.Larson, tr

406-407) đã tỏ ra có sức thuyết phục khi phân biệt ba loại nhấn mạnh: thematic

prominence (nhấn mạnh chủ đề), focus (nhấn mạnh tiêu điểm) và emphasis (nhấn

mạnh biểu cảm)

31

Trang 37

Theo quan sát của chúng tôi, tính nhấn mạnh của đảo ngữ tiếng Anh chủ yếu

đựơc thể hiện ở hai loại nhấn mạnh focus và emphasis Nghĩa nhấn mạnh được tạo

ra bởi hai loại này có thể xem là thuộc bình diện nghĩa liên nhân vì cả hai loại nhấnmạnh này đều liên quan đến sự tác động của người nói/viết đối với người nghe/đọc.Bên cạnh đó, tính nhấn mạnh của hiện tượng đảo ngữ tiếng Anh còn được thể hiệnqua sự cường điệu (intensification) [D Biber, 1999, tr 911] Chúng tôi nhận thấyrằng sự cường điệu có thể được xem là một dạng của nhấn mạnh biểu cảm vì nó làmột dấu hiệu báo cho người nghe/người đọc biết rằng người nói có những xúc cảmkhá mạnh mẽ

Theo M.L.Larson [1984, tr.408], “Trật tự tự nhiên sẽ có sự nhấn mạnh tựnhiên (natural prominence) đối với một yếu tố nào đó trong cấu trúc, nhưng việcchuyển đổi thành một trật tự không bình thường sẽ tạo ra một sự bổ sung đối vớitính nhấn mạnh” Cũng theo tác giả này, sự di chuyển lên vị trí đầu câu là mộtphương tiện phổ biến để biểu thị tính nhấn mạnh trong nhiều ngôn ngữ và đối vớitiếng Anh, việc đặt một đơn vị ở đầu câu hoặc đầu một đoạn văn thường tạo ra hiệuquả tính nhấn mạnh Quan niệm này đưa đến sự phân biệt giữa tính nhấn mạnh tựnhiên và tính nhấn mạnh có đánh dấu (marked prominence)

Trong luận văn này, việc phân tích chức năng nhấn mạnh của đảo ngữ tậptrung vào tính nhấn mạnh có đánh dấu Bởi vì nhấn mạnh vốn là một phạm trù đadạng và phức tạp về nhiều mặt nên luận văn sẽ không đi sâu vào tất cả các khía cạnhnhấn mạnh của mỗi một câu đảo ngữ mà chúng tôi chỉ đi sâu phân tích chức năngnhấn mạnh nổi bật nhất, mang tính đặc trưng của mỗi một cấu trúc đảo và chứcnăng nhấn mạnh đó chính là kết quả của sự thay đổi trật tự từ do đảo ngữ tạo ra

Căn cứ vào đặc trưng nhấn mạnh nổi bật nhất của các cấu trúc đảo ngữ, chúngtôi cụ thể hoá chức năng nhấn mạnh của đảo ngữ tiếng Anh thành chức năng đánh dấutiêu điểm thông báo, chức năng nhấn mạnh biểu cảm và chức năng nhấn mạnh cườngđiệu Thực ra, nhấn mạnh cường điệu cũng là một loại nhấn mạnh biểu cảm, nhưng ởđây, chúng được tách riêng ra để thuận lợi cho việc phân tích và đối chiếu

32

Trang 38

1.3.3 Nhấn mạnh qua phương tiện từ vựng: sử dụng trợ từ

Nhấn mạnh là một hiện tượng khá phổ biến và có một vai trò đáng kể trongthực tế giao tiếp bằng ngôn ngữ Vì vậy khi miêu tả ngữ nghĩa - ngữ dụng nhiềuhiện tượng ngôn ngữ, nhất là miêu tả các hư từ thường phải chú ý thích đáng đếncác yếu tố nhấn mạnh Hiện tượng nhấn mạnh không chỉ đa dạng, phức tạp về hìnhthức biểu hiện, mà quan trọng hơn, còn đa dạng, phức tạp xét cả ở bình diện nộidung cũng như chức năng trong hoạt động giao tiếp và tổ chức văn bản Mặt nàymới chỉ được quan tâm tới rất ít Vì vậy, cách quan niệm về hiện tượng này nhiềukhi khá mơ hồ, thiếu xác định, hoặc có phần đơn giản hóa Việc giải quyết các hiệntượng ngôn ngữ trực tiếp liên quan thường cũng rất chung chung, chỉ gắn với mộtmặt, một khía cạnh riêng lẻ của vấn đề

Xét trong giả thuyết các trợ từ nhấn mạnh, tình trạng mơ hồ, không rõ ràngcũng bộc lộ khá rõ Không ít tác giả hoặc là không nhắc đến, hoặc là phủ nhận cácđặc trưng ngữ nghĩa - ngữ dụng riêng của từng trợ từ Do vậy, các trợ từ nhấn mạnhkhác nhau sử dụng trong thực tế giao tiếp chỉ phân biệt với nhau hết sức mờ nhạt.Điều này dẫn đến một nhận xét rất đúng là: Những lối nói như trợ từ nhấn mạnh"cấp cho lời nói tính biểu cảm và độ mạnh" là rất mơ hồ; và nếu như các trợ từ nhấnmạnh không có nghĩa riêng thì có thể coi chúng là đồng nghĩa được không? [85,25] Hơn nữa, các phương tiện này có tác dụng nhấn mạnh vào một cái gì khác haynhấn mạnh chính tính biểu cảm, cảm xúc mà chúng ta đưa vào câu? Một số tác giảlại chỉ chú ý đến sắc thái ý nghĩ riêng của trợ từ Chẳng hạn, A.P.Volodin và V.SKhracopxki, khi nghiên cứu, giả thuyết trợ từ nhấn mạnh zhe trong tiếng Nga lại chỉchú ý đến sắc thái nghĩa riêng của từ này, dường như đó là toàn bộ đặc trưng củangữ nghĩa - ngữ dụng của nó và những đặc trưng đó chính là đối tượng được nhấnmạnh (x.85) Mô hình tương tự cũng bộc lộ rất rõ trong cách xử lí các trợ từ có chứcnăng nhấn mạnh của tiếng Việt Hầu như chưa có ai đi sâu nghiên cứu những đặctrưng thuộc về bản chất, chức năng cũng như cơ chế tác động của các trợ từ nàytrong giao tiếp, trong việc tổ chức văn bản Những đặc trưng ngữ nghĩa - ngữ dụngcủa những từ loại này ít được nói đến hoặc có nói đến thì cũng không rõ ràng,không đề cập chi tiết Có lẽ Nguyễn Đức Dân là người đã phân tích chi tiết hơn cả

33

Trang 39

ngữ nghĩa - ngữ dụng của các trợ từ ngay, chính, cả (13, 175 - 181) Tuy nhiên, như

trên đã nói, vẫn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu

Quá trình giao tiếp hàng ngày, như đã biết, rất ít khi chỉ là sự truyền đạtthông tin một cách thuần túy Quá trình truyền đạt thông tin luôn gắn liền với quátrình tác động lẫn nhau thuộc đủ loại, nhằm đạt tới những hiệu quả khác nhau.Trong đó, có những kiểu tác động của người nói nhằm cấu trúc hóa cách tri giác và

xử lý thông tin ở người nghe - một hiện tượng đặc trưng, chỉ có ở hoạt động tín hiệu

mà chủ thể là chủ thể có ý thức, hơn nữa đã đạt tới một trình độ tự giác, làm chủnhất định đối với quá trình giao tiếp và phương tiện giao tiếp Người nói chủ độngchỉ ra cho người nghe những đặc điểm nhất định về chất và lượng của thông tin,định hướng cho anh ta xử lý chúng theo đúng với ý đồ giao tiếp của mình Bởi lẽtrong quá trình giao tiếp, luôn luôn tồn tại những nhân tố tác động đến hướng phân

bố sự chú ý của người ta đối với các yếu tố của hiện thực, đòi hỏi trong lời nói phải

có sự nhấn mạnh nhằm thu hút sự chú ý của người nghe vào những điểm nhất định

Nói khác đi, cách đánh giá tầm quan trọng của thông tin, cũng như cách phân

bố sự chú ý của người ta trong giao tiếp là một yếu tố phụ thuộc nhiều vào hoàncảnh cụ thể, do vậy người nói phải tính đến nó để có ý thức trong chiến lược giaotiếp của mình

Như vậy, nhấn mạnh là một hiện tượng thuộc phạm vi ngữ dụng học, mộtdạng cụ thể của phạm trù ngữ dụng rộng lớn hơn - phạm trù tác động lời nói Đó làkiểu hành vi có chủ đích của người nói sử dụng các phương tiện khác nhau để nêubật những phân đoạn thông tin quan trọng, đáng được lưu ý trong văn bản, nhờ đóhướng dẫn người nghe đánh giá đúng vai trò của những thông tin đó, phân bổ sựchú ý của mình một cách thích hợp và xử lí chúng một cách chính xác

1.3.4 Kết hợp phương thức nhấn mạnh: sử dụng trợ từ trong cấu trúc đảo ngữ

Hiện tượng đảo ngữ được hiểu theo nghĩa rộng, dựa theo định nghĩa của Green(1982, tr.120), đó là “những cấu trúc câu trần thuật mà trong đó chủ ngữ theo saumột phần hay toàn bộ ngữ động từ của nó.” Bởi vì trong tiếng Anh chủ ngữ ngữpháp có thể được xác định một cách rõ ràng nhờ vào sự phù ứng về ngôi và số

34

Trang 40

Đảo ngữ tiếng Anh là một quá trình cú pháp không làm thay đổi các quan hệ cúpháp trong câu Chúng tôi muốn đề cập tới sự kết hợp giữa phương thức nhấn mạnhqua phương tiện ngữ pháp cấu trúc đảo ngữ và phương tiện từ vựng sử dụng trợ từ

để nhấn mạnh cụ thể ở hai dạng như sau:

Đối với hiện tượng đảo ngữ toàn phần, có sự dịch chuyển một yếu tố X về bêntrái, lên vị trí đầu câu, song song với việc di chuyển chủ ngữ ngữ pháp về bên phải,xuống vị trí cuối câu Đối với hiện tượng đảo ngữ kết hợp sử dụng trợ từ thì các môhình cấu trúc đều có một đặc điểm chung là sự xuất hiện của trợ từ trước chủ ngữngữ pháp Tuy nhiên, mỗi một kiểu mô hình cấu trúc của hiện tượng đảo ngữ sửdụng trợ từ đều thể hiện vài nét khác biệt của quá trình cú pháp

Khi chủ ngữ xuất hiện sau động từ thì sẽ có hiện tượng đảo ngữ toàn phần

Mô hình ADVERBIAL + VERB + SUBJECT

a On a hill in front of them stood a great castle (88, tr.281)

Trên một ngọn đồi phía trước mặt mọi người l lâu đ i nguy nga.

b Near the church was an old, ruined cottage (50, tr133)

c On the stair was sitting a small darked – haired

girl (88, tr.277) Trên cầu thang một cô bé t c đen đang

ngồi.

d Under the table was lying a half – conscious young man (88, tr.281)

Nằm dưới gầm b n l một ch ng trai đang nửa tỉnh, nửa mê

Mô hình COMPLEMENT + VERB + SUBJECT

e Just as important is the question of money (17, tr.18)

f More important had been the moral objections (53, tr.454)

Quan trọng hơn nữa l những sự phản đ i về phương diện đạo đức

Mô hình PREDICATION + BE + SUBJECT

i.Enclosed is a card for our permanent signature file which we request you tosign and return to us [50, tr.906]

Kèm theo đây là một tấm thẻ dành cho hồ sơ lưu chữ kí vĩnh viễn để ông kí tên vào rồi gửi lại cho chúng tôi

35

Ngày đăng: 27/10/2020, 22:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w