Tổng quan về hoạt động tổ chức sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình với nước ngoài tại đài PT-TH Quảng Ninh...45 2.2.. Phân tích hoạt động tổ chức sản xuất chương trình phát tha
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-VŨ THỊ MINH THẢO
TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH VỚI NƯỚC NGOÀI TẠI ĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH QUẢNG
NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH BÁO CHÍ HỌC
Hà Nội-2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-VŨ THỊ MINH THẢO
TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH VỚI NƯỚC NGOÀI TẠI ĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH QUẢNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thành Lợi Các kết quả trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực.
NGƯỜI CAM ĐOAN
Vũ Thị Minh Thảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Tổ chức sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình với nước ngoài tại đài PT-TH Quảng Ninh” được hoàn thành bên cạnh sự nỗ lực của bản thân tác giả còn có sự giúp đỡ từ các thầy, cô giáo, các anh, chị đồng nghiệp.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Phó Giáo sư -Tiến sĩ Nguyễn Thành Lợi, người đã tận tình truyền dạy kinh nghiệm, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện để tôi thực hiện luận văn này.
Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo là giảng viên Khoa Báo chí truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội, đặc biệt là những thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy, truyền đạt cho tôi vốn kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Ninh và các anh chị đồng nghiệp đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi trong việc cung cấp một số tài liệu liên quan đến luận văn.
Tác giả luận văn
Vũ Thị Minh Thảo
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH VỚI NƯỚC NGOÀI 18
1.1 Một số khái niệm 18
1.2 Quan niệm về sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình với nước ngoài 28
1.3.Quy trình tổ chức sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình với nước ngoài 42
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH VỚI NƯỚC NGOÀI TẠI ĐÀI PT-TH QUẢNG NINH 45
2.1 Tổng quan về hoạt động tổ chức sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình với nước ngoài tại đài PT-TH Quảng Ninh 45
2.2 Phân tích hoạt động tổ chức sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình với nước ngoài tại đài PT-TH Quảng Ninh 54
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH VỚI NƯỚC NGOÀI TẠI ĐÀI PT-TH QUẢNG NINH 83
3.1 Một số vấn đề đặt ra đối với hoạt động tổ chức sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình với nước ngoài 83
3.2 Một số giải pháp 87
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, thế giới chứng kiến sự phát triển như vũ bãocủa khoa học công nghệ, đặc biệt là sự phát triển của mạng viễn thông, củaInternet, nhiều loại hình truyền thông mới đã xuất hiện, cạnh tranh gay gắt vớinhững loại hình truyền thông truyền thống trong đó có phát thanh và truyềnhình
Có thể thấy, chưa lúc nào công chúng lại có nhiều sự lựa chọn về kênhthông tin và giải trí như hiện nay Điều này có nghĩa, càng có nhiều sự lựachọn thì yêu cầu của công chúng đối với các chương trình truyền thông càngcao Các loại hình truyền thông truyền thống như phát thanh và truyền hìnhmuốn giữ được công chúng thì phải không ngừng đổi mới nội dung chươngtrình, hình thức thể hiện, mở rộng kênh, tăng thời lượng phát sóng, để manglại thật nhiều sự lựa chọn cho công chúng Điều này đòi hỏi các Đài PT-THphải đầu tư không ít tiền của, vì hiện nay, để sản xuất các chương trình PT-
TH hay rất tốn kém, đặc biệt là chương trình truyền hình Trong khi đó, xuhướng hiện nay tại Việt Nam đó là các Đài PT-TH phải dần tự chủ về tàichính
Làm thế nào để vừa có thể sản xuất được nhiều chương trình hay, lấp
đủ sóng các kênh lại tiết kiệm chi phí là bài toán mà bất cứ nhà Đài nào cũngcần phải giải quyết Để giải quyết một loạt vấn đề như vậy, nếu chỉ dựa vàolực lượng củaNhà đài thì không đủ mà phải có sự tham gia của nhiều lựclượng trong xã hội Một xu hướng được coi là tất yếu trong quá trình này đó
là xã hội hóa sản xuất các chương trình PT-TH Ngày nay, công chúng có thểbắt gặp vô số các chương trình PT-TH có sự tham gia sản xuất của lực lượngbên ngoài đài
Trang 7Thực tiễn cho thấy, việc xã hội hóa sản xuất các chương trình phátthanh truyền hình tại các Đài PT-TH từ trung ương cho đến địa phương đãgiúp cho những cơ quan này cắt giảm được giá thành chi phí sản xuất và chia
sẻ được rủi ro về mặt kinh tế Bên cạnh đó, việc xã hội hóa sản xuất cácchương trình PT-TH còn góp phần làm phong phú thêm diện mạo của cácchương trìnhnày, giúp cho chất lượng chương trình được nâng cao, hoạt độngsản xuất chương trình chuyên nghiệp hơn Từ đó, các cơ quan báo chí có thểcho ra những sản phẩm hấp dẫn công chúng, không ít chương trình hợp tácsản xuất với đối tác bên ngoài đã góp phần xây dựng lên thương hiệu cho cơquan báo chí đó
Theo xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, bên cạnh việc cho các đối tác là
tổ chức, đơn vị, cá nhân là người Việt Nam tham gia vào hoạt động sản xuấtchương trình PT-TH thì các Đài còn hợp tác cả với các đối tác nước ngoài
Ngày 18/2/2004, Tổng giám đốc Đài THVN ký quyết định số THVN thành lập Ban hợp tác Quốc tế Đây là cơ sở quan trọng giúp đài pháttriển quan hệ nhiều mặt với các nước khác, mặt khác mở rộng hợp tác cùngsản xuất, trao đổi, khai thác chương trình Những năm qua đài đã duy trì, pháthuy các mối quan hệ và trao đổi chương trình truyền hình với gần 30 kênhtruyền hình quốc tế và các đối tác quốc tế Năm 2013, Đài THVN và Công tyGiải trí truyền thông CJ (CJ E&M), Hàn Quốc đã ký kết thỏa thuận hợp tácsản xuất một bộ phim truyền hình dài tập về chủ đề các du học sinh Việt Namtại Hàn Quốc Mới đây nhất, Đài THVN còn hợp tác với đài TBS của NhậtBản với các chương trình như : “Sắc màu Nhật Bản”, Bộ phim Người cộng sự,
190/QĐ-dự án phim “Khúc hát mặt trời” và trò chơi truyền hình “Không giới hạn” –Sasuke Việt Nam
Cùng với đài THVN các đài địa phương cũng mở rộng hợp tác sản xuấtvới các đối tác trong và ngoài nước để chương trình ngày càng phong phú Là
Trang 8một đài Phát thanh Truyền hình địa phương, đài PT-TH Quảng Ninh trongnhững năm qua đã tích cực tạo lập và mở rộng mối quan hệ hợp tác với cácđài PT-TH, các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước Ngoài 8 đài trongcụm thi đua các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc, đài PT-TH Quảng Ninh còn
có mối quan hệ hợp tác, phối hợp sản xuất, trao đổi chương trình thườngxuyên với hầu hết các đài truyền hình, đài phát thanh, đài phát thanh truyềnhình và các cơ quan truyền thông lớn trong nước Bên cạnhđó, đài còn mởrộng hợp tác thường xuyên với các đài và hãng thông tấn quốc tế và cá nhânnước ngoài như: đài Phát thanh Nhân dân Quảng Tây, đài Truyền hình QuảngTây, đài Phát thanh quốc tế Trung Quốc, đài Truyền hình GangWon HànQuốc và đài Phát thanh làn sóng Đức, người nước ngoài làm việc tại ViệtNam Hoạt động này không những góp phần tăng thêm tiềm lực sản xuấtchương trình, nâng cao trình độ nghiệp vụ của đội ngũ nhân lực mà còn tạo ra
sự ảnh hưởng rộng rãi hơn, góp phần tạo ra bản sắc riêng và nâng cao vị thếcủa đài
Một trong những hoạt động mang lại thế mạnh cho đài Quảng Ninh sovới các đài địa phương khác đó là phối hợp với nước ngoài sản xuất chươngtrình.Sự phối hợp này thực hiện trên cả phát thanh và truyền hình với các sảnphẩm như: Nụ cười Hạ Long (chương trình truyền hình thực tế có sự phối hợpcủa người nước ngoài làm việc tại Việt Nam); Cuộc thi tiếng hát hữu nghịViệtTrung; Loạt chương trình phát thanh trên kênh Giai điệu Hạ Long QNR2;Đặc san song ngữ Việt Trung Hoa Sen (phối hợp sản xuất cùng với đài Phátthanh Nhân dân Quảng Tây Trung Quốc)
Những sản phẩm báo chí truyền thông này đã mang lại cho đài QuảngNinh những dấu ấn riêng, và đây cũng là điểm cạnh tranh của đài PT-THQuảng Ninh đối với các đài địa phương khác Các sản phẩm báo chí cũng thuhút được sự quan tâm, đón nhận của đông đảo công chúng Từ đó có thể thấy
Trang 9việc phối hợp sản xuất với nước ngoài cho ra các sản phẩm báo chí truyềnthông tại đài Quảng Ninh đã mang lại nhiều hiệu quả.
Tuy nhiên, việc phối hợp sản xuất giữa các cơ quan báo chí với các đốitác bên ngoài có nhiều khó khăn và phức tạp hơn so với việc chỉ một mình cơquan đó tự tổ chức sản xuất Điều này còn khó khăn và phức tạp hơn khi hợptác sản xuất chương trình với nước ngoài Một loạt các vấn đề đặt ra khi tiếnhành hợp tác sản xuất như: vấn đề chính trị, văn hóa, ngôn ngữ, nhân lực, bảnquyền, quy trình tổ chức sản xuất…
Hoạt động hợp tác sản xuất với đối tác nước ngoài tại đài PT-THQuảng Ninh có từ năm 2007, duy trì và liên tục phát triển cho đến nay Đâycũng là một khoảng thời gian đủ dài để đài cần đánh giá lại hiệu quả của hoạtđộng này Hiện tại chưa có một nghiên cứu chính thức nào về việc hợp tác sảnxuất với nước ngoài tại đài PT-TH Quảng Ninh Điều này đặt ra yêu cầu cần
có một công trình nghiên cứu về vấn đề này để đánh giá thực trạng, chỉ ranhững ưu nhược điểm của hoạt động hợp tác sản xuất với nước ngoài tại đàiPT-TH Quảng Ninh, từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục những vấn đềtồn tại, nâng cao hiệu quả của hoạt động hợp tác sản xuất Chính vì vậy,tác
giả chọn đề tài “ Tổ chức sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình với nước ngoài tại đài PT-TH Quảng Ninh” làm công trình nghiên cứu tốt
nghiệp khóa Đào tạo Thạc sĩ Báo chí của mình với mong muốn phần nào giảiđáp được những câu hỏi và những vấn đề đặt ra ở trên
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Về chương trình phát thanh, truyền hình và tổ chức sản xuất
chương trình phát thanh,truyền hình
Báo phát thanh ra đời nhờ phát minh sóng điện từ với sự đóng góp củacác nhà bác học Maxwell, Faraday, Hertz…vào cuối thế kỷ XIX Năm 1895, nhà bác học Nga Alexandre S.Poppov đã công bố phát minh ra ăng ten vô
Trang 10tuyến điện và máy thu sóng điện tử đầu tiên Cùng thời gian đó, nhà bác học
Ý Gughielmo Marconi thí nghiệm thành công việc truyền tín hiệu vô tuyếnđầu tiên trên khoảng cách 400m rồi 2000m và tiến tới những khoảng cách xahơn Những phát minh này đã tạo ra sự bùng nổ về kỹ thuật truyền thông đạichúng Vào đầu thế kỷ XX, con người đã chứng kiến những tín hiệu phátthanh, những chương trình, buổi truyền thanh đầu tiên
Trải qua một thế kỷ phát triển, báo phát thanh đã chứng kiến những thayđổi to lớn cả về kỹ thuật, phương thức sản xuất, nội dung chương trình…và làmột lĩnh vực được nghiên cứu rộng rãi Nghiên cứu về phát thanh, chươngtrình phát thanh và tổ chức sản xuất chương trình phát thanh phải kể đến cáccuốn sách sau:
- Nhiều tác giả (2002), Báo Phát thanh, NXB Văn hóa Thông tin.
Nội dung cuốn sách gồm 20 chương trình bày về các vấn đề về sự hìnhthành, phát triển; chức năng xã hội, đặc trưng, công chúng, phương pháp viếtcho báo phát thanh; ngôn ngữ; kỹ thuật trình bày, âm nhạc; kỹ năng viết báophát thanh,
- Đức Dũng (2003), Lý luận Báo phát thanh, NXB Văn hóa Thông tin
Nội dung cuốn sách gồm hai phần Phần thứ nhất gồm 6 chương, trình bày
vị trí, vai trò của báo phát thanh trong hệ thống các loại hình thông tin đạichúng; đặc trưng báo phát thanh; viết cho phát thanh; kỹ năng nhà báo phátthanh; chương trình phát thanh và phát thanh trực tiếp Phần thứ hai gồm 9chương, trình bày các thể loại phát thanh như: tin, tường thuật, bình luận,phóng sự, ghi nhanh, phỏng vấn, tọa đàm, bài phản ánh,
- Vũ Văn Hiền, Đức Dũng (2007), Phát thanh trực tiếp, NXB Lý luận
Chính trị
Trên cơ sở kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, các tác giả đã đánh giá một cách toàn diện về tình hình phát thanh trực tiếp ở Việt Nam, từ đó rút ra
Trang 11những kết luận khoa học để định hướng thực tiễn và đáp ứng được những yêucầu bức xúc của công tác nghiên cứu, giảng dạy, bồi dưỡng về phương thứcsản xuất các chương trình phát thanh trực tiếp ở nước ta hiện nay.
- Đinh Thị Thu Hằng (2013), Báo Phát thanh, Lý thuyết và kỹ năng cơ bản, NXB Chính trị - Hành chính.
Cuốn sách gồm 7 chương, trình bày các nội dung đặc trưng, thể loại vàcông chúng của báo phát thanh, cách viết và biên tập cho báo phát thanh, tổchức sản xuất chương trình phát thanh Đây là cuốn sách mà học viên có thểtham khảo phục vụ cho luận văn về quy trình tổ chức sản xuất chương trìnhphát thanh
- Trần Bảo Khánh (2003), Sản xuất chương trình truyền hình, NXB Văn
hóa Thông tin
Cuốn sách này đề cập chủ yếu đến phương pháp sản xuất chương trìnhtruyền hình, các yếu tố cấu thành một sản phẩm truyền hình Đặc biệt cuốnsách trình bày tương đối kỹ lưỡng tới quy trình sản xuất các thể loại trongtruyền hình như: ký sự, phóng sự, cầu truyền hình, tin truyền hình…
- Phạm Thị Sao Băng (2005), Giáo trình Công nghệ sản xuất chương trình truyền hình, NXB Khoa học và Kỹ thuật.
Giáo trình này trình bày về các nội dung: giới thiệu chung về chương trìnhtruyền hình, quy trình sản xuất một chương trình truyền hình, công nghệ sảnxuất các chương trình truyền hình, công nghệ phân phối các chương trìnhtruyền hình, một số thiết bị tiền kỳ và hậu kỳ trong công nghệ sản xuấtchương trình truyền hình
- Dương Xuân Sơn (2009),Giáo trình Báo chí truyền hình, NXB Đại học
Quốc gia Hà Nội
Giáo trình tập trung trình bày các vấn đề của báo chí truyền hình như: vị trí,vai trò, lịch sử ra đời phát triển của truyền hình; khái niệm, đặc trưng; nguyên
Trang 12lý của truyền hình; chức năng xã hội của truyền hình; kịch bản và kịch bảntruyền hình; quy trình sản xuất chương trình truyền hình; các thể loại báo chítruyền hình; các thuật ngữ truyền hình; phần phụ lục kèm theo các dạng kịchbản theo thể loại và chương trình truyền hình Đây là tài liệu khá đầy đủ vềcác vấn đề cơ bản liên quan đến truyền hình.
- Dương Xuân Sơn (2014), Các loại hình báo chí truyền thông,NXB
Thông tin và Truyền thông
Trong cuốn sách này, tác giả đề cập đến nhiều loại hình báo chí truyềnthông Ở phần viết về truyền hình, tác giả đã trình bày khái niệm về truyềnhình, chương trình truyền hình, các đặc trưng của truyền hình, ngôn ngữtruyền hình, phương thức sản xuất chương trình truyền hình, đi sâu phân tíchcác thể loại truyền hình và chỉ ra xu hướng phát triển của truyền hình
Nội dung những cuốn sách trên sẽ giúp tác giả làm cơ sở để xây dựngkhung lý thuyết về chương trình phát thanh, truyền hình trong luận văn củamình
2.2 Về tổ chức sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình với nước ngoài
Hiện tại, chưa có một công trình nghiên cứu, sách hay luận án, luận văn,khóa luận nào liên quan tới hoạt động Tổ chức sản xuất chương trình phát
thanh, truyền hình với nước ngoài Tuy nhiên, có thể hiểu hoạt động “Tổ chức sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình với nước ngoài” là một hình
thức của hoạt động xã hội hóa sản xuất sản phẩm báo chí Liên quan tới hoạtđộng này, có thể kể tới một số tài liệu sau:
- Đinh Thị Xuân Hòa (2014), Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay, NXB Thông tin và Truyền thông.
Trang 13Đây là cuốn sách đầu tiên viết về hoạt động xã hội hóa hoạt độngtruyền hình tại Việt Nam Cuốn sách đã triển khai các mục tiêu nghiên cứumột cách khoa học, bài bản với 3 nhiệm vụ cụ thể:
Thứ nhất, nghiên cứu hệ thống và khái quát hóa khung lý thuyết về hoạt động
xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình: (1) Làm rõ khái niệm về xã hộihóa sản xuất chương trình truyền hình và một số khái niệm liên quan để sosánh (2) Tính tất yếu của hoạt động xã hội hóa (3)Các hình thức xã hội hóasản xuất chủ yếu (4)Những nguyên tắc để đảm bảo tính định hướng nhưngvẫn khai thác, khuyến khích được các nguồn lực xã hội tham gia vào hoạtđộng sản xuất chương trình truyền hình…
Thứ hai, điều tra, phân tích các hoạt động xã hội hóa ở một số đài truyền hình
ở Việt Nam hiện nay một cách toàn diện, chi tiết qua các yếu tố cơ bản: đốitượng hợp tác, hình thức, nội dung xã hội hóa, các phương thức tổ chức, quản lýhoạt động xã hội hóa, từ đó nhận định về thực trạng của hoạt động này trên thực tế.Cuốn sách khẳng định tính tích cực của hoạt động xã hội hóa, đồng thời chú trọngchỉ rõ những hạn chế cần sớm khắc phục đặc biệt là về nhận thức cũng như quátrình quản lý của hoạt động này
Thứ ba, trên cơ sở các kết luận khái quát đó, kết hợp với kinh nghiệm phát
triển lĩnh vực này của một số nước trên thế giới, cuốn sách dự báo một số vấn
đề đặt ra trong thời gian tới và đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy hiệuquả hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình tại Việt Nam
Do đối tượng khảo sát rộng nên cuốn sách không đề cập cụ thể về thực
trạng xã hội hóa chương trình truyền hình ở một đài nào Tại mục 2.2 “Đối tượng tham gia hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam” tác giả có đề cập tới đối tượng tham gia xã hội hóa sản xuất
chương trình truyền hình là các đối tác nước ngoài Tại mục này, tác giả đãnói tới hoạt động trao đổi chương trình giữa đài PTTH Quảng Ninh với các
Trang 14đài nước ngoài như đài Truyền hình Quảng Tây Trung Quốc và đài GangWon Hàn Quốc Tuy nhiên, nội dung đề cập mới mới dừng lại ở mức giớithiệu khái quát chứchưa đi sâu phân tích.
- Vũ Thị Thu Hà, Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình hiện nay, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn việc xã hội hoá truyềnhình, hệ thống một số tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, chínhsách pháp luật của nhà nước liên quan đến vấn đề phát triển báo chí, sự thamgia của xã hội trong việc phát triển xã hội hoá truyền hình Khảo sát, phân tíchđánh giá những chương trình truyền hình của đài PT-TH Hà Tây từ năm2004-2006 có sự hợp tác của các nguồn lực bên ngoài ngành truyền hình,khẳng định những mặt tích cực, ưu điểm, những vướng mắc cần giải quyếttheo quan điểm xã hội hoá truyền hình Đưa ra các kiến nghị đổi mới nhậnthức và quan niệm về xã hội hoá truyền hình trong đời sống xã hội Đề xuấtmột số giải pháp về nguồn vốn, nguồn nhân lực, tăng cường mối quan hệ giữacác đài truyền hình với nhau và đài truyền hình với nguồn lực bên ngoài, lộtrình thực hiện xã hội hoá truyền hình nói chung và đài PT-TH Hà Tây tronggiai đoạn đổi mới đất nước
- Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Hiệu quả kinh tế và xã hội của hoạt động
xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở đài Truyền hình Việt Nam hiện nay (Khảo sát ba chương trình truyền hình “Năng lượng cho phát triển
đất nước”, “S Việt Nam – Hương vị và cuộc sống và “ 7 ngày vui sống” trênkênh VTV1 từ 05/2010 – 05/2011, Luận văn thạc sĩ, Đại học Khoa học xã hội
và nhân văn
Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận và diện mạo của hoạt động xã hộihóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam tại thời điểm nghiên cứu.Nghiên cứu thực trạng của việc xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình
Trang 15tại đài Truyền hình Việt Nam thông qua kênh truyền hình VTV1 Phân tíchthành công và hạn chế của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyềnhình dưới các bình diện: về kinh tế báo chí, về chất lượng chương trình, vềviệc đa dạng hóa sản phẩm truyền thông đáp ứng nhu cầu của công chúngthông qua ba chương trình truyền hình “Năng lượng cho Phát triển đất nước”,
“S Việt Nam-Hương vị cuộc sống” và “7 ngày vui sống” trên kênh VTV1 Đềxuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng việc xã hội hóa sản xuấtchương trình truyền hình ở đài truyền hình Việt Nam
- Trần Thị Hồng Vân, Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình qua sản phẩm của các công ty truyền thông: Cát Tiên Sa, Lasta, Hoa Hồng Vàng
từ năm 2008 đến năm 2010 trên sóng Đài truyền hình Thành phố Hồ
Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn
Luận văn làm rõ vấn đề xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hìnhvới sự tham gia của các công ty truyền thông Trong đó, làm nổi bật mối quan
hệ giữa đài truyền hình TPHCM và các công ty truyền thông tham gia sản xuấtchương trình truyền hình Phân tích các chương trình do công ty truyền thôngsản xuất trên đài truyền hình TPHCM từ năm 2008 đến 2010 Đồng thời, tiếnhành khảo sát thực tế các chương trình đang phát sóng trên đài truyền hìnhTPHCM của các công ty Cát Tiên Sa, Lasta, Hoa Hồng Vàng Trình bàynhững giải pháp hữu dụng cho việc cải tiến và nâng cao chất lượng chươngtrình liên kết sản xuất trên đài truyền hình TPHCM trong thời gian tới
- Trần Việt Hùng, Xã hội hóa chương trình truyền hình trên VTV4, Luận
văn thạc sĩ, Học viện báo chí tuyên truyền
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động xã hội hóa chươngtrình truyền hình trong mối quan hệ với các công ty truyền thông tại VTV4,luận văn đề xuất giải pháp để hoạt động xã hội hóa chương trình truyền hìnhtrên VTV4 đi vào chuyên nghiệp, quy củ, có hiệu quả cao, phù hợp với định
Trang 16hướng phát triển báo chí theo quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng vàNhà nước đồng thời đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng cao của khángiả.Luận văn không chỉ phân tích, đánh giá thực trạng xã hội hóa chươngtrình truyền hình của VTV4 mà còn góp phần làm rõ những vấn đề mới làmphát sinh, đề xuất giải pháp, mô hình, những vấn đề cần giải quyết nhằm giúpcác nhà quản lý có thêm dữ liệu, cơ sở tham khảo cho việc hoàn thiện các vănbản qui phạm pháp luật, tăng cường trách nhiệm quản lý nội dung chươngtrình và định hướng mô hình xã hội hóa thích hợp.
- Trần Thị Mỹ Hạnh, Liên kết sản xuất chương trình truyền hình giữa các đài PT-TH khu vực Tây Nam Bộ hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí
Tuyên truyền
Luận văn đi sâu phân tích hiện trạng liên kết chương trình truyền hình tạicác đài PT-TH địa phương khu vực Tây Nam Bộ từ đó đưa ra giải pháp khắcphục Tuy rằng, luận văn nghiên cứu về mô hình liên kết sản xuất ở cấp đài địaphương cũng có nhiều điểm tương đồng có thể liên hệ với đài Quảng Ninh,nhưng đối tượng nghiên cứu là chương trình liên kết với đối tác trong nước vàcũng chỉ ở lĩnh vực truyền hình
Bên cạnh các luận án luận văn nghiên cứu về vấn đề liên kết, xã hộihóa chương trình truyền hình thì còn rất nhiều bài viết ngắn về một khía cạnh
về hoạt động liên kết sản xuất chương trình truyền hình đã được đăng trên cácbáo, website Dưới đây là một số bài viết tiêu biểu:
+ Xu hướng xã hội hóa truyền hình ở Việt Nam hiện nay, tác giả Đinh
Thị Xuân Hòa, Khoa Phát thanh – Truyền hình, Học viện Báo chí và Tuyên truyền,đăng trên trang Hội nhà báo Việt Nam, ngày 5/12/2011
+ Xã hội hóa truyền hình: Chưa được như mong đợi, tác giả Lan Anh,
đăng trên TuanVietnam.net (Báo Vietnamnet điện tử) ngày 31/12/2013
Trang 17+ Liên kết truyền hình : Đừng đánh mất khán giả, tác giả Lê Quốc Vinh,
đăng trên báo Tuổi trẻ online, ngày 21/5/2015
+ Kênh truyền hình xã hội hóa: Vất vả tồn tại, tác giả Như Hoa, đăng
trên báo Sài Gòn online, ngày 30/8/2015
+ Về những sai sót trong các chương trình truyền hình liên kết, tác giả
Chi Anh, đăng trên báo Nhân dân điện tử ngày 18/6/2015
+ Liên kết nhưng không thương mại hóa, tư nhân hóa báo chí, tác giả
Khánh Minh, đăng trên báo Nhân dân điện tử ngày 11/8/2016
+ Hàn Quốc, Nhật Bản, Hong Kong…ào ạt đầu tư vào truyền hình Việt,
đăng trên Báo điện tử Tuổi trẻ ngày 6/1/2017
Những bài viết trên đều khẳng định quá trình xã hội hóa truyền hìnhcũng góp phần làm khởi sắc đời sống truyền hình, thỏa mãn nhu cầu thông tin,giáo dục, giải trí ngày càng phong phú của người dân, góp phần tăng cườngnguồn lực (tài chính, kỹ thuật, nhân lực ) cho ngành truyền hình Bên cạnh đónhững bài viết cũng chỉ ra những mặt bất cập của hoạt động xã hội hóa sảnxuất chương trình truyền hình lâu nay: từ xu thế thương mại hóa, câu chuyện
“bán sóng”, cạnh tranh không lành mạnh, nhập siêu sản phẩm truyền hình đến những sơ sót, sai sót về nội dung, sai phạm những quy định (quảng cáo
dư thời lượng, quảng cáo không phù hợp ), bội thực các chương trình truyềnhình thực tế dạng giải trí
Tất cả các luận văn và các bài viết trên chủ yếu tập trung nghiên cứuhoạt động xã hội hóa, liên kết sản xuất chương trình truyền hình tại Việt Namnói chung và tại các đài, các kênh riêng biệt Mặc dù các công trình nghiêncứu này đã tập trung nghiên cứu về nhiều vấn đề khía cạnh liên quan tới hoạtđộng xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình từ cơ sở lý luận cho đếnthực tiễn và đã đưa ra nhiều giải pháp hữu ích nhằm nâng cao hiệu quả hoạtđộng xã hội hóa nhưng chưa có công trình nào đề cập đến hoạt động xã hội
Trang 18hóa sản xuất chương trình phát thanh Đặc biệt, là chưa có công trình nghiêncứu nào về hoạt động tổ chức sản xuất chương trình phát thanh và truyền hìnhtại một cơ quan báo chí đối với nước ngoài Đây chính là khoảng trống nghiêncứu cần được lấp đầy để bổ sung thêm vào các công trình nghiên cứu về vấn
đề này Từ thực thế trên, học viên đã lựa chọn đề tài “Tổ chức sản xuấtchương trình phát thanh truyền hình với nước ngoài tại đài PT-TH QuảngNinh” với mong muốn đưa ra những khuyến nghị về một quy trình tổ chứcsản xuất chương trình phát thanh,truyền hình với đối tượng là nước ngoài hiệuquả không chỉ đối với đài PT-TH Quảng Ninh nói riêng mà còn cho các đàiPT-TH địa phương trên cả nước nói chung
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát và nghiên cứu thực trạng tổ chức sản xuất các
chương trình phát thanh truyền hình của đài PT-TH Quảng Ninh đối với cácđối tác nước ngoài, luận văn làm rõ những thành công và hạn chế từ đó đưa ranhững giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tổ chức sảnxuất chương trình phát thanh truyền hình với nước ngoài tại đài PT-TH QuảngNinh trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung vào 3 nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm sau đây:
Một là, làm rõ vấn đề lý luận liên quan tới hoạt động tổ chức sản xuất
chương trình PT-TH với đối tác nước ngoài tại đài PT-TH Quảng Ninh, từ đóxây dựng khung lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu
Hai là, khảo sát thực trạng của hoạt động tổ chức sản xuất chương trình
PT-TH với đối tác nước ngoài tại đài PT-TH Quảng Ninh Chỉ ra những thànhcông, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế, từ đó đánh giá hiệu quả của hoạtđộng này
Trang 19Ba là, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động tổ
chức sản xuất chương trình phát thanh truyền hình với nước ngoài tại ĐàiQuảng Ninh trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên của đề tài là hoạt động tổ chức sản xuất chương trìnhphát thanh truyền hình với nước ngoài tại đài PT-TH Quảng Ninh
Các chương trình phát thanh truyền hình phối hợp sản xuất với đối tácnước ngoài tại đài PT-TH Quảng Ninh bao gồm: Chương trình truyền hìnhthực tế Nụ cười Hạ Long, chương trình phát thanh trên kênh QNR2 Thời giankhảo sát từ năm tháng 6/2016 đến 6/2017
5. Phương pháp nghiên cứu 5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên quan điểm, đường lối chính sách củaĐảng, Nhà nước về báo chí, một số lý thuyết báo chí nói chung và lý thuyết
về phát thanh, truyền hình nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu công cụ
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Bao gồm phân tích, tổng hợp nội dung các báo cáo, tài liệu, giáo trình,các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến hoạt động tổ chức sản xuấtchương trình phát thanh, truyền hình với đối tác nước ngoài tại đài PT-THQuảng Ninh, từ đó rút ra những số liệu, kinh nghiệm để học viên triển khainghiên cứu đề tài
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Trang 20Tác giả thực hiện phỏng vấn sâu khoảng 10 người bao gồm lãnh đạođài và lãnh đạo, phóng viên, biên dịch, biên tập viên có kinh nghiệm ở cácphòng Quốc tế, phòng Biên tập Phát thanh đài PT-TH Quảng Ninh, qua đónhằm thu thập ý kiến và đánh giá chính xác và khách quan về hoạt động tổchức sản xuất chương trình phát thanh truyền hình với nước ngoài tại đàiQuảng Ninh để làm cơ sở đánh giá thực trạng và xây dựng giải pháp.
- Phương pháp thống kê
Phương pháp này được sử dụng nhằm xác định tần suất xuất hiện, mức
độ phát triển, chất lượng, hiệu quả những chương trình PT-TH được tổ chứcsản xuất với đối tác nước ngoài tại đài PT-TH Quảng Ninh
- Phương pháp phân tích nội dung
Phương pháp này dùng để phân tích thực trạng hoạt động sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình với nước ngoài tại đài PT-TH Quảng Ninh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn làm rõ và bổ sung những vấn đề lý luận về tổ chức sản xuấtchương trình PT-TH, đặc biệt là về tổ chức sản xuất chương trình PT-TH giữamột đài PT-TH địa phương với nước ngoài
Trang 21trình phát thanh, truyền hình được tổ chức sản xuất với nước ngoài nói riêng
và chương trình của đài nói chung
- Việc nghiên cứu đề tài này cũng là nhằm góp phần bổ sung xây dựngnhững vấn đề lý luận mới về tổ chức sản xuất chương trình phát thanh, truyềnhình với nước ngoài tại Việt Nam nói chung và tại đài Quảng Ninh nói riêng
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương Cụ thể:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức sản xuất chương trình phát thanh,
truyền hình với nước ngoài
Chương 2: Thực trạng tổ chức sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình với nước ngoài tại đài PT-TH Quảng Ninh
Chương 3:Giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức sản xuất chương trình
phát thanh, truyền hình với nước ngoài tại đài PT-TH Quảng Ninh
Trang 22- Tiến hành một công việc theo cách thức, trình tự nào đó.
Tổ chức là liên kết nhiều người lại để thực hiện một công việc nhất định
Tổ chức đặt ra để thực hiện nhiệm vụ Mỗi tổ chức đều có mục đích, nhiệm vụriêng
Cũng theo Từ điển Tiếng Việt, “sản xuất là tạo ra vật phẩm cho xã hội bằng cách dùng tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động” [25,
tr.342], là hoạt động bằng sức lao động của con người hoặc bằng máy móc,chế biến các nguyên liệu thành của cải vật chất cần thiết
Như vậy, tổ chức sản xuất là làm những gì cần thiết để liên kết nhữngngười lao động, các quy trình lao động tạo ra vật phẩm, đáp ứng nhu cầu thiếtthực cho xã hội, bằng cách dùng tư liệu lao động tác động vào đối tượng laođộng, trên cơ sở các quy tắc nghề nghiệp và theo quy trình nhất định Thựcchất của quá trình tổ chức sản xuất là việc phân chia quá trình sản xuất phứctạp thành các quá trình thành phần (tức là các bước công việc), trên cơ sở đó
áp dụng những hình thức công nghệ, các biện pháp tổ chức phân công lao
Trang 23động và các phương tiện, công cụ lao động thích hợp Trong quá trình đó tìmbiện pháp phối hợp hài hòa giữa các bộ phận tham gia vào quá trình sản xuấtnhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất Tổ chức sản xuất có vai trò quyết địnhđối với hiệu quả của quá trình sản xuất.
1.1.2 Chương trình phát thanh
Phát thanh là kênh truyền thông đại chúng sử dụng kỹ thuật sóng điện từ
và hệ thống truyền dẫn truyền đi âm thanh tác động trực tiếp vào thính giác người tiếp nhận Chất liệu chính của phát thanh là nghệ thuật sử dụng lời nói, tiếng động và âm nhạc trong việc phản ánh cuộc sống [6, tr.160]
Có hai loại hình phát thanh chính là :
- Phát thanh qua làn sóng điện (vô tuyến)
- Truyền thanh qua hệ thống dây dẫn (hữu tuyến)
Tùy theo mục đích, người ta chia phát thanh thành các loại: phát thanhthương mại, phát thanh quảng cáo, phát thanh giáo dục, phát thanh chính trị -
xã hội
Về phương diện kỹ thuật, phát thanh được chia làm hai loại: AM và FM
AM (Amplitude Modulation) là kỹ thuật điều biên được áp dụng trong phátthanh sóng dài, sóng trung và sóng ngắn FM (Frequence Modulation) là kỹthuật điều tần được áp dụng trong phát thanh sóng cực ngắn
Phát thanh là loại hình truyền sóng tức thì vì vậy trở thành một loại hìnhbáo chí thông tin nhanh nhất Cũng do cách thức truyền sóng đơn giản nênphát thanh có khả năng phủ sóng rộng, vì vậy thông tin của phát thanh đến vớicông chúng rộng rãi Do chi phí thấp từ khâu sản xuất, phát sóng đến thiết bịnghe nên phát thanh là loại hình báo chí rẻ tiền nhất nhưng lại tiện lợi nhất bởingười nghe có thể nghe đài ở bất cứ đâu và ở bất cứ thời gian nào Phát thanh
là một loại hình báo chí hấp dẫn, nó tạo ra hình ảnh thông qua ngôn ngữ nói,gợi cảm xúc cho người nghe và đặc biệt phát thanh có khả năng tương tác
Trang 24giữa người nghe và người làm chương trình phát thanh thông qua các chươngtrình phát thanh trực tiếp.
Vậy như thế nào là chương trình phát thanh?
Theo định nghĩa của các tác giả trong cuốn “Báo phát thanh”thì:
“Chương trình phát thanh là sự liên kết, sắp xếp hợp lý tin, bài, băng tư liệu,
âm nhạc trong một thời lượng nhất định được mở đầu bằng nhạc hiệu và kết thúc bằng lời chào tạm biệt nhằm đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo phát thanh, đồng thời mang lại hiệu quả cao nhất đối với người nghe”
[23, tr.216]
Trong cuốn “Truyền thông đại chúng” của tác giả Tạ Ngọc Tấn có viết:
“Chương trình phát thanh là sự tổ chức các tin tức, bài vở, tài liệu cùng các chất liệu khác trong phát thanh theo thời lượng nhất định, mục đích nhất quán và nhằm vào đối tượng công chúng cụ thể.”[29, tr.117]
Trong cuốn “Lý luận Báo phát thanh” của tác giả Đức Dũng có viết:
“Chương trình phát thanh là sự sắp xếp một cách hợp lý các thành phần tin, bài, băng âm thanh trong một chỉnh thể với khoảng thời gian xác định nhằm đáp ứng nhiệm vụ tuyên truyền của cơ quan phát thanh và mang lại hiệu quả cao nhất đối với người nghe.” [6, tr.103]
Còn tác giả Đinh Thị Thu Hằng trong cuốn “Báo Phát thanh Lý thuyết và
kỹ năng cơ bản” lại định nghĩa chương trình phát thanh như sau: “Chương trình phát thanh là một chỉnh thể, trong đó các thành phần tin bài, âm nhạc, lời dẫn được bố trí, sắp xếp một cách hợp lý trong một khoảng thời gian xác định nhằm đáp ứng nhiệm vụ của cơ quan truyền thông và mang lại hiểu quả cao nhất đối với người nghe.”[14, tr.103]
Có thể thấy mỗi tác giả có những cách định nghĩa khác nhau về chươngtrình phát thanh, nhưng các định nghĩa trên đều có những điểm chung đó là:Một chương trình phát thanh cần tới nhiều thành phần cấu thành Đó là tin,
Trang 25bài, âm nhạc, lời dẫn, nhạc hiệu, Những thành phần này không thể để mộtcách rời rạc mà cần được liên kết, sắp xếp, tổ chức sao cho hợp lý Sự sắp xếphợp lý được hiểu là giữa các thành phần này phải có sự kết nối cả nội dung vàhình thức thể hiện Nội dung cũng như thời lượng của mỗi chương trình phátthanh được quyết định bởi kế hoạch tuyên truyền của cơ quan truyền thông.
Từ những định nghĩa trên tác giả luận văn xin đưa ra định nghĩa vềchương trình phát thanh như sau:
Chương trình phát thanh là một sản phẩm hoàn chỉnh trong đó các thành phần như tin, bài, âm nhạc, lời dẫn được kết nối sắp xếp hợp lý theo thời lượng nhất định, mục đích nhất quán, phục vụ đối tượng công chúng cụ thể nhằm đáp ứng nhiệm vụ tuyên truyền của cơ quan truyền thông.
1.1.3 Chương trình truyền hình
Truyền hình là loại hình phương tiện thông tin đại chúng mới xuất hiện
từ khoảng giữa thế kỷ XX, nhưng đã phát triển rất nhanh chóng, mạnh mẽ vàđược phổ biến hết sức rộng rãi trong vòng vài ba thập niên trở lại đây
Trong cuốn “Truyền thông đại chúng” của GS.TS Tạ Ngọc Tấn có viết:“ Truyền hình là một loại phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh Nguyên nghĩa của thuật ngữ vô tuyến truyền hình (television) bắt nguồn từ hai từ tele có nghĩa là “ở xa” và
“vision” là “thấy được”, tức là “thấy được ở xa.” [29, tr.127]
Trên phương diện kỹ thuật thì truyền hình là quá trình biến đổi nănglượng ánh sáng thông qua ống kính máy thu hình thành năng lượng điện,nguồn tín hiệu điện tử được phát sóng truyền đến máy thu hình và lại biến đổithành năng lượng ánh sáng tác động vào thị giác, người xem nhận được hìnhảnh thông qua màn hình
Trang 26Về mặt nội dung, truyền hình là loại hình truyền thông mà thông điệpđược truyền trong không gian tích hợp cả hình ảnh và âm thanh tạo cho ngườixem cảm giác sống động của hiện thực cuộc sống.
Xét theo góc độ kỹ thuật truyền tải có truyền hình sóng (wireless TV) vàtruyền hình cáp (CATV) Xét dưới góc độ thương mại có truyền hình côngcộng (public TV) và truyền hình thương mại(commercial TV) Xét theo tiêuchí mục đích nội dung, người ta chia truyền hình thành truyền hình giáo dục,truyền hình giải trí Xét theo góc độ kỹ thuật có truyền hình tương tự (AnalogTV), truyền hình (Digital TV) và truyền hình Internet
Sự xuất hiện của truyền hình như một điều thần kỳ trong sáng tạo củacon người Với sự kết hợp giữa hình ảnh động và âm thanh, truyền hình manglại cho con người cảm giác về một cuộc sống rất thật đang hiện diện trướcmắt Ngày nay, chương trình truyền hình là “món ăn tinh thần” không thểthiếu trong cuộc sống của mỗi gia đình Vậy thế nào là chương trình truyềnhình?
Theo GS.TS Tạ Ngọc Tấn trong cuốn “Truyền thông đại chúng”:
“Chương trình truyền hình dùng để chỉ một hay nhiều tác phẩm hoàn chỉnh hoặc kết hợp với một số thông tin tài liệu khác được tổ chức theo một chủ đề
cụ thể với hình thức tương đối nhất quán, thời lượng tương đối ổn định và được phát đi theo định kỳ” [29, tr.142] Trên thực tế, ngoài những tin, bài
phóng sự, phỏng vấn , để có thể tồn tại được, các chương trình truyền hìnhcòn có hình hiệu, nhạc hiệu, lời dẫn đầu, cuối, kỹ sảo kết nối Chính nhờ cóhình thức và cấu trúc như vậy nên thời lượng chương trình thường lớn, tínhchất, nội dung của chương trình phong phú và chi phí cho một chương trìnhtruyền hình cũng rất tốn kém
Trong cuốn “Sản xuất chương trình truyền hình”, TS Trần Bảo Khánh
viết: “Chương trình là kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với công
Trang 27chúng”[22, tr.30] Với khái niệm này người ta có thể thấy rằng, từ phương tiện
kỹ thuật truyền bá thông tin, nhiệm vụ của chương trình là làm sao để có thểđưa ra được lời giải đáp, hướng dẫn cho thực tế khi xây dựng chương trìnhtruyền hình Mặt khác, cũng có thể thấy rằng, chương trình - đó chính là hìnhthức thực tế hóa, vật chất hóa sự tồn tại của truyền hình trong đời sống xã hội
để chuyển tải thông tin đối với công chúng Nếu không có chương trình thìkhông có truyền hình Nhưng cũng cần hiểu, chương trình truyền hình là kếtquả hoạt động, là sản phẩm lao động của một tập thể bao gồm các bộ phận: kỹthuật - tài chính - nội dung
Trong cuốn “Giáo trình báo chí truyền hình”, tác giả Dương Xuân Sơn
định nghĩa chương trình truyền hình như sau: “Chương trình truyền hình là
sự liên kết, sắp xếp, bố trí hợp lý các tin bài, bảng biểu, tư liệu bằng hình ảnh
và âm thanh được mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả” [27, tr.113]
Từ các khái niệm trên, tác giả luận văn đưa ra định nghĩa về chươngtrình truyền hình như sau:
“Chương trình truyền hình là một sản phẩm hoàn chỉnh trong đó các thành phần như tin bài, bảng biểu, tư liệu bằng hình ảnh và âm thanh được liên kết, sắp xếp, bố trí hợp lý trong một khoảng thời gian xác định, nhất quán
về nội dung và hình thức Chương trình truyền hình được mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả”.
1.1.4 Tổ chức sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình
Từ các khái niệm về tổ chức sản xuất, chương trình phát thanh, chươngtrình truyền hình đã được nêu ở trên, có thể hiểu tổ chức sản xuất chương
Trang 28trình phát thanh, truyền hình là sự chia nhỏ rồi liên kết một cách hợp lý độingũ nhân sự cùng các trang thiết bị phát thanh, truyền hình đi kèm và nộidung thông tin, trên cơ sở quy tắc nghề nghiệp và theo quy trình nhất định, đểtạo ra sản phẩm là chương trình phát sóng Hiệu quả của quá trình sản xuấtcác chương trình phát thanh, truyền hình được quyết định bởi hoạt động tổchức sản xuất.
Tùy vào từng thể loại chương trình mà có các cách tổ chức sản xuất khácnhau Nhưng hiện nay cả chương trình phát thanh và chương trình truyền hìnhđều được sản xuất bằng hai hình thức: thu ghi và phát trực tiếp
Chương trình phát thanh, truyền hình trực tiếp thực hiện ở các sự kiện vàongay thời điểm mà nó diễn ra Nhưng không phải sự kiện nào cũng được phátthanh hay truyền hình trực tiếp, bởi không phải sự kiện nào xảy ra mà các nhàbáo cũng có mặt ngay tại hiện trường, khả năng kỹ thuật không phải lúc nàocũng cho phép thực hiện các chương trình phát thanh, truyền hình trực tiếp Điềunày là vì để sản xuất các chương trình phát thanh, truyền hình trực tiếp có giáthành sản xuất cao, đòi hỏi sự chuẩn xác lớn, nhân sự chuyên nghiệp Chính vìthế, chỉ có những sự kiện nào thật sự lớn, tiêu biểu, có ý nghĩa, có ảnh hưởng chiphối nhiều tới hoạt động khác nhau trong đời sống xã hội mới được lựa chọn làmtrực tiếp Còn phần lớn các chương trình phát thanh, truyền hình đều được tổchức sản xuất theo hình thức thu ghi qua băng từ hay file trên máy tính Cách sảnxuất này tuy mất thời gian, đưa tin chậm hơn song kíp sản xuất lại có nhiều thờigian để trau chuốt sửa chữa chương trình
Mặc dù đặc trưng loại hình và kỹ thuật - công nghệ sản xuất không giốngnhau, nhưng quy trình sản xuất các chương trình phát thanh, truyền hình đều
có những điểm chung Việc tổ chức sản xuất các chương trình phát thanh,truyền hình đòi hỏi thực hiện ở ba yếu tố: Tổ chức nhân sự; Tổ chức hệ thốngmáy móc, trang thiết bị; Tổ chức sản xuất nội dung
Trang 29- Tổ chức nhân sự:
Tổ chức nhân sự được hiểu là việc sắp xếp nhân sự vào vị trí công việcnào đó Mỗi hình thái kinh tế xã hội đều gắn liền với một phương thức sảnxuất nhất định Dù ở bất cứ xã hội nào thì vấn đề mấu chốt của quá trình sảnxuất cũng là tổ chức nhân sự Một doanh nghiệp dù có nguồn tài chính dồidào, nguồn tài nguyên phong phú, hệ thống máy móc thiết bị hiện đại như thếnào đi chăng nữa cũng sẽ trở nên vô ích, nếu không biết sử dụng nguồn nhân
sự một cách hiệu quả
Nhân sự trong một kíp sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình cónhiều bộ phận như: bộ phận sản xuất (nhà sản xuất, quản lý sản xuất, đạo diễn,phóng viên, biên tập viên, biên kịch…); bộ phận kỹ thuật (âm thanh, ánh sáng,thiết kế, kỹ thuật dựng…)
Một chương trình phát thanh hay truyền hình không phải là sản phẩmcủa một cá nhân mà là sản phẩm của tập thể Chính vì vậy, để sản xuất đượcmột tác phẩm phát thanh hay truyền hình đòi hỏi phải có sự phân công sắpxếp công việc một cách hợp lý cho từng khâu, vị trí công việc để tạo nên sựphối hợp nhịp nhàng trôi chảy trong quy trình sản xuất
- Tổ chức hệ thống máy móc, trang thiết bị
Phát thanh và truyền hình ra đời là nhờ vào sự phát triển của khoa học
kỹ thuật Tổ chức hệ thống máy móc, trang thiết bị là khâu không thể thiếutrong việc sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình, đặc biệt là chươngtrình truyền hình Ngay từ khâu chuẩn bị sản xuất, người tổ chức phải có kếhoạch cụ thể về kỹ thuật, công nghệ, tổ chức thực hiện, nguồn kinh phí, tínhkhả thi trong việc sử dụng máy móc, trang thiết bị
Việc sử dụng máy móc, trang thiết bị thực chất là sự áp dụng kỹ thuật
và công nghệ trong quá trình sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình.Sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình có đặc thù vừa mang tính nghệ
Trang 30thuật, vừa mang tính kỹ thuật Sự kết hợp hài hòa, hợp lý giữa hai yếu tố này
sẽ mang lại thành công cho chương trình
Lĩnh vực phát thanh, truyền hình đòi hỏi rất nhiều trang thiết bị, máy móc
có chức năng khác nhau như tạo tín hiệu hình, gia công xử lý tín hiệu, tạo các kỹxảo truyền hình, phát sóng, máy quay, máy thu âm, phòng thu âm, trườngquay…ngoài ra, còn các các thiết bị âm thanh, ánh sáng…Các thiết bị thu pháttín hiệu hiện nay như vệ tinh, mạng internet giúp việc truyền tải thông tin đượcnhanh chóng, dễ dàng hơn Hay đơn giản việc chuyển đổi từ bàn dựng analogsang bàn dựng phi tuyến tính cũng giúp người làm chương trình lựa chọn đượcnhững kỹ xảo đẹp, quy trình dựng cũng đơn giản hơn nhiều
- Tổ chức sản xuất nội dung
Tổ chức sản xuất nội dung là khâu quan trọng nhất trong việc sản xuấtchương trình phát thanh, truyền hình, vì nó quyết định đến chất lượng của sảnphẩm Để xây dựng nội dung một chương trình phát thanh hay truyền hìnhcần trải qua các bước sau:
+ Xác định mục tiêu chương trình và xây dựng nội dung chương trình
Một chương trình được bắt đầu bằng việc xác định mục tiêu Mục tiêu làđiều mà chương trình dự định đạt tới Mục tiêu, ý tưởng thường được tiếpnhận từ trưởng, phó ban biên tập Các thành viên trong ban biên tập có thểtham gia đề xuất nhưng người cuối cùng quyết định chính là trưởng, phó banhoặc chủ nhiệm chương trình
Sau khi hình thành ý tưởng, xác định mục tiêu thì những người sản xuấtchương trình cũng đồng thời phải tiến hành xây dựng nội dung chương trình
Đó là chọn lựa các sự kiện, vấn đề sẽ được thông tin trong chương trình
+ Xác định thể loại nội dung và phân công công việc
Ở bước này, những người làm chương trình sẽ lập một kế hoạch, trướchết là việc xác định các hình thức thể loại sẽ được sử dụng sao cho hợp lý và
Trang 31mang lại hiệu quả cao nhất Trong một chương trình phát thanh,truyền hìnhthì nên kết hợp các thể loại khác nhau để phối hợp đưa tin.
Sau khi lựa chọn các hình thức thể loại để chuyển tải thông tin, những người làm chương trình tiến hành việc phân công từng tin bài cho từng người phụ trách Sau khi đã nhận được công việc, mỗi thành viên trong nhóm phải lên kế hoạch để thực hiện tốt phần việc của mình theo đúng khoảng thời gian quy định.
+ Xây dựng kết cấu chương trình
Đây là sự sắp xếp và phân bổ tin bài vào các vị trí xác định, trình bàynhư thế nào để khán thính giả theo dõi một cách thuận lợi, nhanh nhất và rõnét trong việc tiếp cập nội dung chương trình
+ Chuẩn bị nội dung
Để chuẩn bị nội dung cho chương trình, kíp sản xuất phải thực hiện cáccông việc như: đi thực tế để thực hiện các tác phẩm sẽ được sử dụng trongchương trình, viết kịch bản (kịch bản sơ bộ và kịch bản chi tiết), chuẩn bịnhạc hiệu, nhạc nền, nhạc xen, nhạc cắt, các ca khúc, kỹ xảo…, chuẩn bịkhách mời nếu có, biên tập nội dung
+ Tiến hành sản xuất
Tại bước này có hai khâu đó là tiền kỳ và hậu kỳ Tại khâu tiền kỳ, cácchương trình phát thanh hay truyền hình sẽ tiến hành thuâm hoặc ghi hìnhtheo nội dung trong kịch bản Saukhi đã thu thập đủ nguyên liệu đầu vào ởkhâu tiền kỳ, nhà sản xuất chương trình sẽ thực hiện khâu hậu kỳ, gồm cácviệc như xem lại hình quay, dựng viết chương trình, nghe lại file âm thanh,lồng nhạc, thêm kỹ xảo…và dựng thành tác phẩm hoàn chỉnh chuẩn bị lênchương trình Đây là khâu hoàn thiện tác phẩm đơn lẻ, chuẩn bị cho việc thiết
kế sản phẩm tổng hợp
+ Biên tập chương trình:
Trang 32Khâu biên tập chương trình được thể hiện ở hai cấp độ: cấp độ biên tập cáctác phẩm đơn lẻ trong chương trình và cấp độ biên tập chương trình trên phạm vitổng thể Đây là công việc chính của biên tập viên, thư ký chương trình.
+ Duyệt chương trình
+ Nghiên cứu phản hồi
Đây là bước theo dõi phản ứng của dư luận xã hội về chương trình phátthanh truyền hình, hoặc tự tòa soạn phát hiện những lỗi do sơ suất trong quátrình sản xuất để rút kinh nghiệm ngay trong ngày, trong tuần
Mọi hoạt động trên đây đều do ban biên tập, đứng đầu là tổng biên tậpchỉ đạo, điều hành thống nhất Cho nên, sản phẩm phát thanh truyền hình làsản phẩm lao động tập thể Tính tập thể thể hiện ở nhiều khía cạnh và ý nghĩakhác nhau, từ tư tưởng, tổ chức, quá trình lao động…
1.2 Quan niệm về sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình với
nước ngoài
Có thể hiểu rằng, hoạt động sản xuất chương trình phát thanh, truyềnhình với nước ngoài chính là một hoạt động nằm trong xu hướng toàn cầu hóabáo chí - truyền thông và cũng là một hình thức của hoạt động xã hội hóa sảnxuất sản phẩm báo chí truyền thông, mà cụ thể ở đây là phối hợp với các đốitác nước ngoài để sản xuất chương trình phát thanh truyền hình Để hiểu thếnào là sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình với nước ngoài, trướctiên cần hiểu thêm về khái niệm toàn cầu hóa báo chí truyền thông và xã hộihóa sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình
1.2.1 Toàn cầu hoá
Thuật ngữ Toàn cầu hoá (globalization) xuất hiện lần đầu tiên trong Từđiển của Anh năm 1961 và được sử dụng rộng rãi từ khoảng cuối thập niên 80của thế kỷ trước Hiện nay, thuật ngữ này đang ngày càng phổ biến trên báo
Trang 33chí, cũng như trong các công trình nghiên cứu về quan hệ quốc tế và về kinh
tế Một trong những lý do dẫn đến điều này là do sự ảnh hưởng và tác độngmạnh mẽ của toàn cầu hoá đến mọi mặt của đời sống, từ kinh tế, chính trị đếnvăn hoá, trong đó rõ nhất là đối với các phương tiện truyền thông đại chúng
Toàn cầu hoá, theo nghĩa rộng được hiểu là một hiện tượng trongquan hệ quốc tế làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau về nhiều mặt của đời sống xãhội (kinh tế, chính trị, an ninh, thể dục thể thể thao, văn hoá, môi trường ).Hiểu theo nghĩa hẹp, toàn cầu hoá là hiện tượng hình thành thị trường toàncầu làm gia tăng sự tương tác và tuỳ thuộc của các quốc gia về kinh tế Vậytoàn cầu hóa là gì?
Nhóm tác giả “Tập bài giảng Quan hệ quốc tế và đường lối đối ngoạicủa Đảng và nhà nước ta” của Khoa Quan hệ Quốc tế, Học viện Chính trị khu
vực 1, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã định nghĩa: “Toàn cầu hoá là quá trình phổ biến trên phạm vi toàn cầu những giá trị hoạt động, mô hình kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội….Nó là xu hướng vận động tất yếu khách quan”
Có thể nói, mặc dù có nhiều cách tiếp cận về toàn cầu hoá và chưa cócách hiểu chung về khái niệm toàn cầu hoá, nhưng đa số các chuyên gianghiên cứu, phân tích đều có nhiều điểm thông nhất với nhau về toàn cầu hoá.Trước toàn cầu hoá là một tiến trình lịch sử có quá trình phát triển lâu dài vàtrải qua nhiều giai đoạn Trong đó, giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất bắt đầu
từ những năm 80 của thế kỷ XX, đến nay đã đạt được cường độ, phạm vi lớnnhất Toàn cầu hoá là quá trình phức tạp và luôn có tác động ảnh hưởng haimặt, vừa tích cực, vừa tiêu cực, vừa cơ hội, vừa là thách thức Tính tích cựccủa toàn cầu hoá chủ yếu mang tính chủ quan, phụ thuộc vào góc độ, lĩnh vực,nội dung xem xét, vào chủ thể đối tượng của toàn cầu hoá, vào thời gian vàkhông gian diễn biến…Toàn cầu hoá bắt đầu từ kinh tế và hiện đang diễn ra
Trang 34mạnh mẽ nhất trong lĩnh vực này Nhưng toàn cầu hoá cũng đang lan rộng racác lĩnh vực khác như chính trị, xã hội, văn hoá, môi trường,…
1.2.2 Toàn cầu hoá báo chí - truyền thông
Sự bùng nổ và phát triển của các cơ quan truyền thông, hay nói một cáchkhác toàn cầu hoá các phương tiện truyền thông đại chúng đã là một hiện thựckhông thể tránh khỏi Tác động của nó đã làm cho công chúng mất đi ý niệm vềkhông gian và thời gian trong truyền thông, cho phép thoả mãn nhu cầu giao lưu,trao đổi thông tin trên phạm vi toàn thế giới Các không gian địa phương, khônggian quốc gia, không gian khu vực khép kín - những chiếc áo chật hẹp của truyềnthông trước đây đã bị xé toang bởi một cơ thể cường tráng của các tập đoàntruyền thông khổng lồ đang lớn nhanh từng ngày, tạo nên một không gian truyềnthông thống nhất trên cả địa cầu Sự lớn mạnh của các phương tiện truyền thôngđại chúng đang mang lại những tác động hiệu quả tích cực không thể phủ nhận
Nó đang tạo ra môi trường giao lưu toàn thế giới, thúc đẩy chuyển giao thông tin
và những giá trị tích cực tạo ra môi trường sống thuận lợi hơn cho con người
Theo PGS, TS Tạ Ngọc Tấn, “Toàn cầu hoá truyền thông đại chúng là một hiện tượng khách quan, nằm trong xu thế vận động chung cũng như sự tác động lẫn nhau của nhiều lĩnh vực như kinh tế, môi trường, khoa học và công nghệ, v.v…Đó chính là quá trình quy chuẩn và mở rộng qui mô ra toàn cầu về phạm vi ảnh hưởng, nguồn tin, công chúng phương tiện kỹ thuật, cách thức thông tin và tiếp nhận thông tin cuả các loại hình hoạt động truyền thông đại chúng.”[29, tr.214]
Biểu hiện đầu tiên và nổi bật nhất của quá trình này là sự mở rộng quy
mô ảnh hưởng, thu hẹp không gian và thời gian giao tiếp Những tiến bộ củakhoa học công nghệ trong thế kỷ XX và thế kỷ XXI đã tạo ra tất cả điều kiệncần thiết cho việc mở rộng phạm vi ảnh hưởng của các phương tiện truyềnthông đại chúng Máy tính và các siêu xa lộ thông tin, vệ tinh địa tĩnh, mạng
Trang 35cáp quang nối liền các quốc gia và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới… tạo ra cơhội cho các dân tộc, các cộng đồng có thể tiếp cận với các phương tiện truyềnthông đại chúng Nhờ đó, nguồn thông tin dữ liệu lưu chuyển trong xã hội vàtác động vào dân cư của các quốc gia ngày càng nhiều hơn, càng phong phúhơn Thời gian truyền tin từ nguồn phát đến đối tượng nhận rút lại bằng 0.Ngày nay, hàng tỷ người có thể trực tiếp theo dõi và tham gia vào các sự kiệnchính trị, xã hội, kinh tế, văn hoá tại một địa điểm nào đó trên thế giới Toàn
bộ các thông tin bao gồm các thông tin dữ liệu và “các thông tin sống” là cácvấn đề, sự kiện đang nảy sinh và vận động trở thành mối quan tâm chung củacác quốc gia dân tộc, của mọi cơ quan truyền thông đại chúng trên thể giới.Người ta thấy các nhà báo hầu như có mặt khắp nơi, sẵn sàng thông tin trênmặt báo, trên sóng phát thanh, truyền hình bất cứ sự kiện nào trong đời sốngtrên hành tinh Công chúng tiếp nhận thông tin từ hệ thống các phương tiệntruyền thông đại chúng ngày càng dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn…
1.2.3 Xã hội hóa sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình
●Quan niệm về xã hội hóa:
- Cuốn Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa - Thông tin, 1998 định nghĩa:
“ Xã hội hóa nghĩa là làm cho trở thành của chung của xã hội”[36, trg 1848].
- Nhìn từ góc độ xã hội học thì: “ xã hội hóa” được hiểu là quá trình mỗicon người thu nhận những kiến thức, kỹ năng, địa vị, lề thói, quy tắc, giá trị…của xã hội và hình thành nhân cách của mình
- Trong cuốn “Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Namhiện nay”, tác giả Đinh Thị Xuân Hòa có đưa ra định nghĩa về “xã hội hóa” như
sau: “Xã hội hóa là quá trình mở rộng sự tham gia, chia sẻ của xã hội với một hoạt động, một dịch vụ hay một tri thức vốn là độc quyền của một tổ
chức hay cá nhân nhằm để hoạt động hay sản phẩm đó được nhiều người biết tới, sử dụng hay thưởng thức” [18, tr.11]
Trang 36Đây là định nghĩa khá đầy đủ, bao quát được mọi khía cạnh ý nghĩa của
“xã hội hóa” Tác giả xin được sử dụng định nghĩa này để phục vụ nhữngnghiên cứu tiếp theo trong luận văn của mình
● Xã hội hóa chương trình phát thanh, truyền hình:
Như đã nói ở trên mỗi một chương trình phát thanh hay chương trìnhtruyền hình đều là sản phẩm của một tập thể chứ không phải là của cá nhân.Chính vì thế, quy trình sản xuất một chương trình phát thanh hay truyền hìnhđòi hỏi phải có một êkip, trong đó, mỗi người được phân công phụ trách mộtkhâu của chương trình
Trước kia, ở Việt Nam, các chương trình phát thanh, truyền hình lênsóng đều là sản phẩm trí tuệ của các cán bộ, viên chức thuộc đài Phát thanhhay đài Truyền hình, được sản xuất với vốn, thiết bị kỹ thuật và các điều kiệnkhác của nhà đài Nhưng hiện nay, với nhiều lý do như giảm chi phí sản xuất,tiết kiệm nhân lực, tăng thời lượng phát sóng, mở rộng kênh, nâng cao chấtlượng chương trình, tăng sức cạnh tranh việc sản xuất các chương trình phátthanh và truyền hình không còn là “độc quyền” của những phóng viên -những thành viên của Đài nữa mà giờ đây đã được mở rộng về đối tượng.Nhiều đơn vị bên ngoài kể cả Nhà nước và tư nhân, thậm chí nước ngoài đãcùng phối hợp với nhà Đài để làm nên sản phẩm phát thanh truyền hình Việctham gia này rất đa dạng, cá nhân, tập thể bên ngoài Đài có thể đảm nhiệmmột phần hoặc toàn phần của quá trình tổ chức sản xuất các chương trìnhtruyền hình Việc hợp tác sản xuất chương trình truyền hình như vậy ở ViệtNam trong thời gian qua đã đem lại những hiệu quả tích cực
Tuy nhiên, để hiểu thế nào về xã hội hóa chương trình phát thanh truyềnhình thì đến nay mới có các định nghĩa về xã hội hóa sản xuất chương trìnhtruyền hình Trong cuốn “Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở ViệtNam hiện nay”, tác giả Đinh Thị Xuân Hòa có định nghĩa:
Trang 37“Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình là quá trình mở rộng sự tham gia và thu hút nguồn lực của các cá nhân, tổ chức hay doanh nghiệp vào một hay nhiều khâu trong quy trình sản xuất các chương trình truyền hình – đây vốn là công việc của một tổ chức chuyên trách vễ lĩnh vực truyền hình của nhà nước Việt Nam” [18, tr.17].
Sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình là một hoạt động rất tốnkém Bởi tác phẩm phát thanh truyền hình là sản phẩm của tập thể Nó baogồm nhiều thành phần: nhân lực, phương tiện kỹ thuật, cùng tham gia vào
Để có một chương trình truyền hình hay chương trình phát thanh chất lượngcần đầu tư về thời gian, bố trí nguồn lực, kinh phí Hiện nay, nhằm đáp ứngnhu cầu của công chúng về các chương trình phát thanh, truyền hình phảiphong phú, đa dạng, thiết thực đòi hỏi các đài mở thêm kênh phát sóng Bảnthân mỗi đài bên cạnh nhiệm vụ chủ yếu là tuyên truyền và quảng bá còn phảisản xuất các chương trình mang tính thương mại để nuôi sống bộ máy của đài.Nguyên Phó Tổng giám đốc đài Truyền hình Việt Nam, ông Trần Đăng
Tuấn từng khẳng định: “Bản chất của xã hội hóa truyền hình không phải là vì tiền mà là việc lôi kéo nhiều đơn vị, tổ chức, cá nhân không thuộc đài truyền hình tham gia vào quá trình sản xuất chương trình truyền hình nhằm giảm bớt áp lực cho Nhà đài cũng như tạo hiệu quả tốt cho các chương trình truyền hình”
Từ những phân tích về sản xuất chương trình phát thanh truyền hình vànhững định nghĩa về “Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình” trên, cóthể hiểu xã hội hóa chương trình phát thanh, truyền hình như sau:
“Xã hội hóa chương trình phát thanh, truyền hình là huy động các nguồn lực (nguồn lực sáng tạo và nguồn lực vật chất) từ các tổ chức, đơn vị,
cá nhân ngoài đài Phát thanh Truyền hình cùng tham gia một hay nhiều khâu trong quy trình sản xuất các chương trình phát thanh hay truyền hình nhằm
Trang 38giảm bớt áp lực cho Nhà đài cũng như tạo hiệu quả tốt cho các chương trình phát thanh, truyền hình, đáp ứng nhu cầu đa dạng của công chúng”.
Như vậy, với nghĩa này, xã hội hóa chương trình phát thanh, truyền hìnhđược hiểu là các đơn vị, tổ chức, cá nhân thuộc nhiều thành phần kinh tế xãhội khác nhau ở Đài có thể tham gia một phần của quá trình sản xuất hoặccung cấp trọn vẹn một sản phẩm theo yêu cầu của Đài để phát sóng, nhưngviệc kiểm soát nội dung phát sóng thì thuộc quyền quản lý của các Đài
1.2.3 Vai trò của toàn cầu hóa báo chí - truyền thông và xã hội hóa sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình 1.2.3.1 Vai trò của toàn cầu
hóa báo chí – truyền thông
Truyền thông đại chúng toàn cầu có vai trò quan trọng trong sự pháttriển của các quốc gia, các khu vực Nó cho phép trao đổi, lưu chuyển nhanhcác giá trị văn hoá tinh thần, tạo điều kiện cho mỗi dân tộc có thể tiếp nhậnchọn lọc và làm phong phú đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc mình Mặtkhác, truyền thông đại chúng với qui mô toàn cầu là phương tiện tạo thànhmôi trường để nhanh chóng quốc tế hoá các thành tựu, tiến bộ trong khoa học,
kỹ thuật và công nghệ, các kinh nghiệm trong lao động và sản xuất…Cụ thể:
Một là, toàn cầu hóa thông tin giúp mở ra môi trường thông tin rộnglớn, thuận tiện, giúp cho các quốc gia và cư dân toàn cầu tăng cường khả nănggiao lưu, hiểu biết lẫn nhau Điều này góp phần quan trọng cho chúng ta giatăng sức mạnh của mình trong việc thống nhất nhận thức, hành động, tạo ra áplực mạnh mẽ cho việc giải quyết các vấn đề mà cuộc sống đặt ra, từ mối quan
hệ giữa con người với thiên nhiên đến các vấn đề quan hệ con người với conngười ở nhiều quy mô khác nhau
Hai là, toàn cầu hóa thông tin đã tạo ra môi trường cung cấp thôngtin phong phú, đa dạng, mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực Điều này tạo nên mộtmôi trường học tập toàn cầu, mở ra nhiều cơ hội thuận lợi cho chúng ta có thể
Trang 39tiếp thu tri thức nhận loại, nâng cao trình độ hiểu biết cho mình Có thể nói,chưa bao giờ chúng ta có môi trường học tập thuận lợi như ngày nay, chỉ một
cú click chuột là chúng ta đã có thể tiếp cận đến một kho tàng tri thức phongphú, đó là một trường thông tin mở cho tất cả những ai muốn học tập và nângcao trình độ hiểu biết
Ba là, toàn cầu hóa thông tin là nhân tố quan trọng trong việc thúc đẩyquá trình phát triển, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vàotrong đời sống Nhờ quá toàn cầu hóa thông tin, chúng ta có thể nhanh chóngtiếp cận với những thông tin về tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới nhất,tạo điều kiện cho mọi cá nhân, tổ chức có thể tiếp cận, nâng cao hiểu biết, thúcđẩy quá trình ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào đời sống
Bốn là, toàn cầu hóa thông tin đã tạo một môi trường thông tin sinhđộng, phong phú, toàn diện và có tính thời sự cao cho các nhà hoạch địnhchính sách của mọi quốc gia Truyền thông đại chúng toàn cầu phản ánh sinhđộng nhất, đầy đủ nhất bức tranh hiện thực của đời sống xã hội Ngoài ra đócũng là cứ liệu thông tin được tích lũy với khối lượng, dung lượng khổng lồ,không chỉ có ý nghĩa quan trọng với các nha hoạch định chính sách mà cònrất thiết yếu đối với những người làm công tác nghiên cứu khoa học, cũngnhư tất cả những ai ham hiểu biết, có mong muốn nâng cao trình độ của mình
1.2.3.2 Vai trò của xã hội hóa sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình
Một là, góp phần giảm bớt gánh nặng trong sản xuất cho các Đài.Sảnxuất chương trình phát thanh, truyền hình là một hoạt động rất tốn kém Bởitác phẩm phát thanh truyền hình là sản phẩm của tập thể Nó bao gồm nhiềuthành phần: nhân lực, phương tiện kỹ thuật, cùng tham gia vào Để có mộtchương trình truyền hình, chương trình phát thanh chất lượng cần đầu tư vềthời gian, bố trí nguồn lực, kinh phí Hiện nay, nhằm đáp ứng nhu cầu củacông chúng về các chương trình phát thanh, truyền hình phải phong phú, đa
Trang 40dạng, thiết thực đòi hỏi các đài mở thêm kênh phát sóng Bản thân mỗi đàibên cạnh nhiệm vụ chủ yếu là tuyên truyền và quảng bá còn phải sản xuất cácchương trình mang tính thương mại để nuôi sống bộ máy của đài Tuy nhiên,không phải bất cứ đài nào cũng đáp ứng đủ về nguồn nhân lực, trình độchuyên môn nghiệp vụ, trang thiết bị kỹ thuật và điều kiện tài chính, đặc biệt
là các đài địa phương Do đó, để cùng lúc sản xuất thật nhiều chương trình vớichất lượng cao là việc không thể đối với các đài Vì vậy, việc huy động cácnguồn lực từ bên ngoài tham gia vào hoạt động sản xuất chương trình là điềucần thiết đối với mỗi đài hiện nay Điều này sẽ giúp các đài giảm bớt gánhnặng về nguồn nhân lực, trang thiết bị kỹ thuật và tài chính
Hai là, đáp ứng nhu cầu đa dạng của công chúng, mở rộng phạm vi tiếp nhận thông tin Nhờvào công tác xã hội hóa sản xuất nôịdung chương trinh̀phát thanh, truyền hinh̀ mà đông đảo các tầng lớp công chúng được bổ sung ,
câp ̣ nhâṭkiến thức khoa hoc ̣, vốn tri thức văn hóa thông qua các chương trinh̀giải trí , khoa giáo do các đơn v ị bên ngoài đài cung cấp với chất lượng tiêu chuẩn để phát sóng Xã hội hóa nội dung truyền hình còn làm gia tăng các thiết bị hỗ trợ như điêṇ thoaị, qua e-mail hoăc ̣ tin nhắn thông qua vi ệc ký kết hợp đồng cùng khai thác các dịch vụ trên truyền hình với các đơn vị truyền thông bên ngoài đài Bằng hình thức trao đổi phim, các chương trình giải trí, những Game show hấp dẫn, hay liên kết, hợp tác, phối hợp sản xuất chương trình giữa các đài phát thanh, truyền hình địa phương với nhau mà các nhà đài
có cơ hội khai thác thêm được đề tài, nội dung mới thu hút người xem nhưng lại tiết kiệm được chi phí trong quá trình sản xuất chương trình
Ba là, nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình.Đểthực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục, quảng bá, ngành PT-TH phải đặc biệtchú trọng đến nội dung, chất lượng các chương trình Vì chỉ khi nào tác phẩm cóchất lượng thì mới thu hút sự chú ý theo dõi của công chúng, từ đó Nhà đài mới