LỜI CẢM ƠNQua thời gian học tập và nghiên cứu tại Khoa Báo chí và Truyền thôngtrường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đến nay tôi đã hoàn thành luậnvăn thạc sỹ Báo chí học với đề tài
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ QUYÊN
TRUYỀN THÔNG VỀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
TRÊN ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
(KHẢO SÁT CHƯƠNG TRÌNH CÔNG NGHỆ - ĐỜI SỐNG TRÊN VTV1 VÀ BẢY NGÀY CÔNG NGHỆ TRÊN VTV2 NĂM 2014)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ QUYÊN
TRUYỀN THÔNG VỀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
TRÊN ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
(KHẢO SÁT CHƯƠNG TRÌNH CÔNG NGHỆ - ĐỜI SỐNG TRÊN VTV1 VÀ BẢY NGÀY CÔNG NGHỆ TRÊN VTV2 NĂM 2014)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
MÃ SỐ: 60320101
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Huyền
Hà Nội – 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tập và nghiên cứu tại Khoa Báo chí và Truyền thôngtrường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đến nay tôi đã hoàn thành luậnvăn thạc sỹ Báo chí học với đề tài “Truyền thông về khoa học công nghệ trênĐài Truyền hình Việt Nam (Khảo sát chương trình Công nghệ - Đời sống trênVTV1, và Bảy ngày Công nghệ trên VTV2)”
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS TS Nguyễn Thị ThanhHuyền, giảng viên hướng dẫn đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôitrong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Đặng Thị Thu Hương, các thầy, côgiảng viên trong khoa Báo chí và Truyền thông và các thầy, cô giảng dạy các
bộ môn đã cung cấp cho tôi nhiều kiến thức và kỹ năng cần thiết ở bậc đào tạosau đại học
Luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi rất mongnhận được sự thông cảm và góp ý của các thầy cô giáo, của các anh chị và cácbạn đồng môn
Trân trọng cảm ơn!
Học viên
Trần Thị Quyên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoàn đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; Toàn bộcác số liệu nêu trong luận văn là trung thực, các trích dẫn đều được dẫn nguồnđầy đủ Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trongbất cứ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Thị Quyên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 10
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 12
7 Kết cấu của luận văn 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN THÔNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 15
1.1 Khái niệm cơ bản về truyền thông khoa học và công nghệ 15
1.1.1 Khái niệm về khoa học và công nghệ 15
1.1.2 Khái niệm truyền thông và truyền thông về khoa học và công nghệ 18
1.2 Chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về Phát triển khoa học và công nghệ và vai trò của báo chí và truyền thông hiện nay 21
1.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước 21
1.2.2 Vai trò của báo chí và truyền thông trong hoạt động khoa học và công nghệ 29
1.3 Thế mạnh và hạn chế truyền hình trong việc truyền thông về khoa học và công nghệ 38
1.3.1 Thế mạnh của truyền hình về truyền thông khoa học và công nghệ 38
1.3.2 Hạn chế của truyền hình về truyền thông khoa học và công nghệ 40
Tiểu kết chương 1 42
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRÊN ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM 43
2.1 Quy trình tổ chức sản xuất và phát sóng các chương trình Công nghệ và Đời sống (VTV1) và chương trình Bảy ngày Công nghệ (VTV2) 43
Trang 62.1.1 Xác định đề tài và phân công thực hiện 43
2.1.2 Lập đề cương và kế hoạch sản xuất tiền kỳ 45
2.1.3 Thực hiện các khâu hậu kỳ, hoàn thành sản phẩm 46
2.1.4 Nghiệm thu và phát sóng 47
2.2 Nội dung các chương trình Công nghệ và Đời sống (VTV1) và chương trình Bảy ngày Công nghệ (VTV2) 47
2.2.1 Kết cấu chương trình 48
2.2.2 Nội dung các chương trình về khoa học và công nghệ 54
2.3 Hình thức thể hiện của các chương trình Công nghệ - Đời sống (VTV1), và chương trình Bảy ngày Công nghệ (VTV2) 65
2.3.1 Tin truyền hình 67
2.3.2 Thể loại phóng sự truyền hình 72
2.3.3 Thể loại phỏng vấn, tọa đàm truyền hình 76
2.4 Các ý kiến đánh giá về các chương trình khoa học và công nghệ 82
2.4.1 Ý kiến của khán giả 84
2.4.2 Ý kiến của người tổ chức sản xuất và phóng viên phụ trách các chương trình khoa học và công nghệ trên Đài Truyền hình Việt Nam 85
2.4.3 Ý kiến của chuyên gia về khoa học và công nghệ 88
Tiểu kết chương 2 90
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRÊN ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP 91
3.1 Ưu, nhược điểm của hoạt động truyền thông về khoa học và công nghệ trên Đài truyền hình Việt Nam 91
3.1.1 Ưu điểm của hoạt động truyền thông về khoa học và công nghệ trên Đài Truyền hình Việt Nam 91
3.1.2 Nhược điểm của hoạt động truyền thông về khoa học và công nghệ trên Đài Truyền hình Việt Nam 92
Trang 73.2 Nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế của các chương
trình truyền thông về khoa học và công nghệ trên đài truyền hình
Việt Nam 98
3.3 Giải pháp 98
3.3.1 Về cơ chế chính sách 99
3.3.2 Về quản lý 100
3.3.3 Về đào tạo và nhân lực 101
3.3.4 Về nội dung 103
3.3.5 Về hình thức 103
3.3.6 Cơ sở vật chất 104
Tiểu kết chương 3 107
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC
Trang 8: Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
Trang 9DANH MỤC BẢNG - BIỂU ĐỒ - HÌNH ẢNH Danh mục bảng
Bảng 2.1: Kết cấu của hai chương trình Bảy ngày công nghệ và Công nghệ vàĐời sống 48Bảng 2.2 Ví dụ minh họa hai chương trình Bảy ngày công nghệ và Côngnghệ và Đời sống 50Bảng 2.3 Ví dụ tin truyền hình trong chương trình Bảy ngày công nghệ 67
Danh mục biểu đồ
Biểu đồ 2.1 Nội dung các tác phẩm về khoa học và công nghệ trên chươngtrình Công nghệ và Đời sống VTV1 Biểu đồ 2.2: Nội dung các tác phẩm về khoa học và công nghệ trên chươngtrình Bảy ngày công nghệ VTV2 Biểu đồ 2.3 Thể loại báo chí về khoa học và công nghệ trên chương trìnhCông nghệ và Đời sống VTV1 Biểu đồ 2.4 Thể loại báo chí về khoa học và công nghệ trên chương trình Bảyngày công nghệ VTV2 Biểu đồ 2.5 Số liệu tần suất xem chương trình khoa học và công nghệ theokhảo sát từ phiếu điều tra xã hội học online Biểu đồ 2.6 Số liệu khảo sát nội dung được công chúng quan tâm khi xemcác chương trình khoa học và công nghệ
Danh mục hình ảnh
Hình ảnh 2.1 Minh họa thiết bị lọc bụi trong chương trình Bảy ngày côngnghệ 8/9/2014 Hình ảnh 2.2 Minh họa chương trình Công nghệ và Đời sống ngày28/12/2014 60
Trang 10Hình ảnh 2.3 Tin ngắn về Lễ trao giải Sao Khuê trên chuyên mục Bảy ngày côngnghệ 71Hình ảnh 2.4 Phóng sự Cảnh báo tình trạng lừa đảo qua facebook 74Hình ảnh 2.5 Phóng sự chân dung vợ chồng giáo sư Trần Thanh Vân, Lê KimNgọc ở Làng trẻ em SOS Đà Lạt 75Hình ảnh 2.6 Biên tập viên Hà Bình thực hiện phỏng vấn khách mời tại
trường quay 78
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, khoa học và công nghệ đang phát triển trong thời kỳ quá trìnhtoàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, tác động đến mọi quốc gia, dân tộc Trên thếgiới, tốc độ phát minh khoa học ngày càng gia tăng Khoảng cách từ phátminh đến ứng dụng đang ngày càng được rút ngắn
Đối với Việt Nam, đẩy mạnh sự phát triển khoa học và công nghệkhông chỉ bắt nguồn từ đòi hỏi bức xúc của quá trình công nghiệp hoá, hiệnđại hoá mà còn bắt nguồn từ yêu cầu phát triển đất nước theo định hướng xãhội chủ nghĩa Phát triển khoa học và công nghệ góp phần tăng nhanh năngsuất, chất lượng, sức cạnh tranh của nền kinh tế, hướng đến xây dựng lộ trìnhphát triển kinh tế tri thức và nền kinh tế xanh, bền vững đến năm 2020 Dovậy, thời gian gần đây, các hoạt động nghiên cứu ứng dụng khoa học và côngnghệ được đẩy mạnh, quản lý khoa học – công nghệ có đổi mới, thị trườngkhoa học và công nghệ được hình thành, đầu tư cho khoa học và công nghệđược nâng lên
Đảng và Nhà nước cũng đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách tạođiều kiện thuận lợi để phát triển khoa học và công nghệ như: Nghị quyết số20-NQ/TW của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XI về Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vàhội nhập quốc tế; Nghị quyết 46/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình hànhđộng thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW; Luật khoa học và công nghệ (năm2013) và Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 – 2020theo quyết định số 418 QĐ/TTG của Thủ tướng Chính phủ năm 2012 Cácchủ trương, chính sách này đều nhấn mạnh vai trò của hoạt động truyền thôngkhoa học và công nghệ
Trang 12Để hiện thực hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, ngànhkhoa học và công nghệ Việt Nam cũng có nhiều đột phá lớn trong nghiên cứu,phát minh, chuyển giao và ứng dụng khoa học và công nghệ Nếu như năm
2013 được đánh giá là một năm sôi động của ngành khoa học và công nghệthì năm 2014 là một năm đánh dấu những bước tiến lớn của ngành với nhiềuthành tựu nghiên cứu nổi bật như: Nghiên cứu thành công vắc xin Rotavin –M1 phòng bệnh tiêu chảy; Ghép thành công tụy thận từ người cho chết não;Làm chủ công nghệ trong công tác đóng tàu quân sự; Chế tạo và thương mạihóa sản phẩm vi mạch đầu tiên; Hạ thủy thành công giàn trung tâm HRD sửdụng để khai thác dầu mỏ xuất khẩu cho Tập đoàn Dầu khí Quốc gia ViệtNam; …Cùng với những thành quả mang tính đột phá của ngành khoa học vàcông nghệ, lực lượng báo chí và đội ngũ phóng viên, biên tập viên, nhà báokhắp cả nước đã liên tục sát cánh cùng ngành khoa học và công nghệ, tích cựctham gia truyền thông về khoa học và công nghệ Như vậy, để khoa học vàcông nghệ đạt được các mục tiêu đề ra và ngày càng phát triển thì vai trò củahoạt động truyền thông về khoa học và công nghệ được ghi nhận và đánh giácao Truyền thông khoa học và công nghệ là một quá trình tác động qua lạiliên tục giữa hai hay nhiều đối tượng để cùng nhau chia sẻ các thông tin, kiếnthức, thái độ, kinh nghiệm và kỹ năng về khoa học và công nghệ, nhằm nângcao nhận thức và thay đổi hành vi của đối tượng được tác động Có thể nói,trong kỷ nguyên khoa học và công nghệ, truyền thông khoa học và công nghệgóp phần tạo ra một xã hội đổi mới sáng tạo, một thế hệ nhà khoa học, doanhnhân kiểu mới, tận tụy nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ, gắnvới nhu cầu của đất nước, gắn với hoàn cảnh, môi trường hội nhập hiệnnay.Quyết định số 418/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiếnlược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 – 2020, có 6 giải phápthì giải pháp thứ 6 chính là thông tin, truyền thông khoa học và công nghệ.Theo đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức xã hội về vai trò của
Trang 13khoa học và công nghệ Tăng cường hoạt động truyền thông và tuyên truyềnsâu rộng trong xã hội, đặc biệt là trong các doanh nghiệp về chủ trương, chínhsách, pháp luật về khoa học và công nghệ, về vai trò động lực then chốt củakhoa học và công nghệ đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.Qua đây, có thể điểm qua những vai trò chính của báo chí, truyền thông trongphát triển khoa học và công nghệ như sau:
Trước hết, báo chí, truyền thông luôn đi đầu trong tuyên truyền chủtrương, đường lối, chính sách về khoa học và công nghệ Có vai trò đặc biệtquan trọng trong việc tác động vào việc vận động chính sách, tạo dư luận xãhội hướng tới hoàn thiện các cơ sở pháp lý, thể chế, chính sách cho phát triểnkhoa học và công nghệ Điển hình là khoa học và công nghệ đã được thôngqua với tỉ lệ phiếu rất cao, các chủ trương, chính sách do Bộ khoa học và côngnghệ xin ý kiến của các Bộ, ngành, cũng nhận được sự đồng thuận cao
Phản ánh thực trạng và phản biện xã hội trong lĩnh vực khoa học vàcông nghệ: Báo chí truyền thông chính là cầu nối 4 nhà: Nhà nước – Nhàkhoa học - Doanh nghiệp – Nhà nông, tham gia tích cực vào thúc đẩy ứngdụng khoa học và công nghệ mới
Bên cạnh đó, báo chí, truyền thông cũng thường xuyên nêu gương cácđiển hình tiên tiến, mô hình, cách làm mới trong hoạt động khoa học và côngnghệ, nhằm nhân rộng kết quả nghiên cứu, đưa những hiệu quả thiết thực nhấtvào đời sống
Truyền thông về khoa học và công nghệ còn đóng vai trò làm diễn đàn
xã hội, đăng tải các luồng ý kiến khác nhau về vấn đề khoa học và công nghệcủa đất nước, các địa phương, các ngành Đặc biệt là đăng tải ý kiến củachuyên gia, nhà quản lý về một vấn đề khoa học và công nghệ đang tranh cãi,
ý kiến người dân được thụ hưởng hoặc chịu tác động hoạt động khoa học vàcông nghệ đó Đồng thời, tổng kết các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn để
Trang 14điều chỉnh chủ trương, chính sách cho phù hợp, nhất là những lĩnh vực có ảnhhưởng rộng rãi đến đời sống nhân dân.
Thông tin về khoa học và công nghệ đang xuất hiện hàng ngày, hànggiờ trên các tờ báo, trang báo, các đài phát thanh, truyền hình Đặc biệt, trêncác đài truyền hình còn có nhiều chuyên đề, chuyên mục riêng về khoa học vàcông nghệ như: Tuần công nghệ (VTC2), Xã hội thông tin (VTC1), Bảy ngàycông nghệ (VTV2) và Công nghệ - Đời sống (VTV1) Có thể nói, truyềnhình vẫn đã và đang là kênh truyền thông hấp dẫn và phổ biến ở Việt Nam
Song thực trạng chung của truyền thông về khoa học và công nghệ ởViệt Nam hiện nay như thế nào? Hiện nay, công tác truyền thông trên truyềnhình đang được thực hiện ra sao? Hoạt động này mang lại những hiệu quảthực tế như thế nào phục vụ cho chiến lược phát triển khoa học và côngnghệcủa Chính phủ? Đây là câu hỏi đang được đặt ra cho các nhà quản lý, nhàkhoa học, chuyên gia và những người làm truyền thông về khoa học côngnghệ
Qua nghiên cứu, thì hiện mới chỉ có một vài hội thảo và một vài côngtrình lẻ tẻ bàn về truyền thông khoa học và công nghệ nói chung và truyềnthông về khoa học và công nghệ trên truyền hình nói riêng Đặc biệt là vớiĐài Truyền hình Việt Nam - một trong những cơ quan báo chí đi đầu trongtruyền thông khoa học và công nghệ, trong đó, hai chương trình điển hình là:Công nghệ và Đời sống – chương trình khoa học và công nghệ ra đời từ nửađầu những năm 2000, một trong các chương trình truyền thông về khoa học
và công nghệ sớm nhất và chương trình Bảy ngày Công nghệ - là chươngtrình được coi là đại diện tiêu biểu cho lĩnh vực truyền thông về khoa học vàcông nghệ trên Đài Truyền hình Việt Nam, thì thực sự chưa có công trìnhkhoa học nào nghiên cứu cụ thể về vấn đề này
Đây chính là lý do mà tác giả lựa chọn đề tài "Truyền thông về khoa học công nghệ trên Đài Truyền hình Việt Nam" (Khảo sát chương trình
Trang 15Công nghệ - Đời sống trên VTV1, và Bảy ngày Công nghệ trên VTV2 năm 2014) để nghiên cứu.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu trên thế giới
Khoa học và công nghệ có mặt ở tất cả các khía cạnh của đời sống kinh
tế - xã hội Khoa học và công nghệ tạo nên sự sáng tạo, sự đổi mới, thậm chítạo nên một sự thay đổi lớn đến không ngờ Hiểu rõ khoa học và công nghệ sẽlàm cho chất lượng cuộc sống (vật chất và tinh thần) được nâng cao, sức khỏetốt hơn, tuổi thọ con người được nâng lên rất nhiều Ham mê tìm tòi, nghiêncứu, sáng tạo đã trở thành nét văn hóa của mỗi người dân, đặc biệt là giới trẻ
Do vậy, hoạt động truyền thông khoa học và công nghệ đã được triển khai hếtsức sâu rộng và mạnh mẽ Bên cạnh đó, chuyên gia nhiều nước đã có nhữngnghiên cứu khoa học rất sâu sắc về sự phát triển của khoa học và công nghệnhư: Cuốn “White Paper”(Sách Trắng) của Cục Khoa học và Công Nghệ NhậtBản xuất bản từ năm 1958 về thực trạng phát triển khoa học và công nghệ củaNhật Bản
Song, trong luận văn này, tác giả chủ yếu đi sâu vàocông trình nghiêncứu về vấn đề truyền thông về khoa học công nghệ Điển hình cho nghiên cứu
về chủ đề này là cuốn “Journalism, Science and Society: ScienceCommunication between News and Public Relations”của Martin W Bauer vàMassimiano Bucchi – hai giáo sư tại trường Kinh tế London, xuất bản năm
2007 Martin W Bauer và Massimiano Bucchi là các nhà khoa học chuyênnghiên cứu về sự tương tác giữa khoa học và công nghệ với truyền thông vàthái độ của công chúng với khoa học và công nghệ Cuốn sách có 286 trang,tập trung vào hai mục đích chính:
Thứ nhất, chỉ ra sự gia tăng của các bảo trợ cá nhân với các nghiên cứukhoa học làm thay đổi bản chất của quá trình truyền thông khoa học bằngcách dùng tư duy xúc tiến thương mại thay vì tư duy báo cáo khoa học
Trang 16Thứ hai, các tổ chức khoa học đang ngày càng áp dụng nhiều chiếnlược và chiến thuật truyền thông độc đáo để quảng bá hình ảnh, uy tín và điềuhành sản phẩm.
Với các mục đích này, cuốn sách bao gồm bốn phần:
Chương 1: Các tác giả giới thiệu chung về những thay đổi của bối cảnhtruyền thông khoa học trong nửa sau thế kỷ XX
Chương 2: Đánh giá của các chuyên gia về quá trình truyền thông khoahọc và đề nghị một số giải pháp dựa trên những lĩnh vực mà họ đang theo đuổi
Chương 3: Phân tích các trường hợp nghiên cứu cụ thể để đưa ra những
xu thế mới nổi trong lĩnh vực truyền thông khoa học
Chương 4: Khái quát chung của các chuyên gia trong lĩnh vực truyềnthông khoa học trên toàn cầu Các chuyên gia truyền thông khoa học đến từcác nước Nhật, Hàn Quốc, Australia, Nam Phi, Mỹ cùng bình luận về nhữngtrường hợp nghiên cứu cụ thể và đặt ra câu hỏi: Liệu các vấn đề này nổi lêntrên toàn cầu hay chỉ thuộc cấp độ khu vực, địa phương? Và trong mỗi trườnghợp cụ thể thì vai trò của các nhà báo, cũng như vai trò của truyền thông sẽthể hiện như thế nào để mang lại hiệu quả tốt nhất?
Như vậy, các tài liệu về truyền thông khoa học và công nghệ ở ngoàinước cũng tương đối đa dạng, nhưng vẫn chưa có một công trình cụ thể nàonghiên cứu về hiệu quả truyền thông khoa học và công nghệ trên truyền hình
2.2 Lịch sử nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, trong 5 năm trở lại đây, Bộ Khoa học và Công nghệ đãphối hợp chặt chẽ với các quan báo chí nhằm đẩy mạnh hoạt động truyềnthông khoa học và công nghệ Đã có nhiều chương trình, chuyên trang khoahọc và công nghệ ra đời với sự hợp tác của Bộ với các cơ quan thông tấn, báochí như trên Đài Truyền hình Việt Nam (VTV1, VTV2), Đài Tiếng nói ViệtNam, Thông tấn xã Việt Nam, báo Nhân Dân Đồng thời các Bộ, ngành, Ủyban nhân dân các tỉnh và thành phố, Sở khoa học và công nghệ địa phương, 6
Trang 17trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức khoa học và công nghệ cũng đãxây dựng nhiều chuyên trang hoặc chuyên mục về khoa học và công nghệ Các hoạt động truyền thông này không chỉ là cầu nối gắn kết 4 nhà: Nhà nước– nhà khoa học – doanh nghiệp và nhà nông, mà còn góp phần tạo những chuyển biến lớn, thúc đẩy khoa học và công nghệ phát triển.
Song về các công trình nghiên cứu thì hiện nay có rất ít các đề tài tiếp cận dưới góc độ báo chí về công tác truyền thông khoa học và công nghệ:
Đề tài “Tác động của khoa học và công nghệ hiện đại đến con ngườiViệt Nam hiện nay”, luận văn Thạc sỹ ngành Báo chí năm 2005 của tác giả LêThị Thắm, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận văn khái quáttình hình phát triểnkhoa học và công nghệ ỏ Việt Nam Đồng thời phân tích sựtác động của khoa học hiện đại đến con người Việt Nam Từ đó đưa ra cácdạng phác thảo xây dựng con người Việt Nam phù hợp với thời đại khoa học
và công nghệ, đáp ứng yêu cầu công cuộc Công nghiệp hóa – Hiện đại
hóa ở nước ta Tuy vậy, luận văn chưa đề cập đến vấn đề truyền thông về khoahọc và công nghệ trên truyền hình
Luận văn thạc sĩ “Thông tin Khoa học Công nghệ trên sóng VTV2 ĐàiTruyền hình Việt Nam” năm 2013 của tác giả Nguyễn Thu Quyên bảo vệ tạiHọc viện Báo chí và Tuyên truyền, đã cơ bản khái quát được những thông tinkhoa học và công nghệ trên truyền hình, song đề tài tập trung chính vàochương trình “Nhà sáng chế” - một chương trình được mua lại bản quyền củanước ngoài, được phát sóng trên kênh VTV2 Chương trình này nhằm tônvinh những phát minh mới của con người Tuy nhiên, luận văn mới chỉ khảosát được trên một kênh và chủ yếu đi vào một chương trình, nên chưa phântích sâu được bức tranh toàn cảnh về các chương trình truyền hình khoa học
và công nghệ trên Đài Truyền hình Việt Nam
Bên cạnh các công trình nghiên cứu trên, trong các hội thảo về khoahọc và công nghệ được tổ chức cũng có một số báo cáo khoa học của các
Trang 18chuyên gia có đề cập đến truyền thông về khoa học và công nghệ Đặc biệt,trong Hội nghị khoa học và công nghệ (2013) đã bàn khá toàn diện về các vấn
đề xoay quanh truyền thông vềkhoa học và công nghệ dưới nhiều góc độ như:
“Vai trò của công tác truyền thông với hoạt động khoa học và công nghệ vàmột số định hướng truyền thông khoa học và công nghệ” của TSKH Nghiêm
Vũ Khải (Thứ trưởng Bộ khoa học và công nghệ) đã nêu lên tầm quan trọngcủa khoa học và công nghệ đối với sự phát triển của đất nước Tham luận “Vaitrò của khoa học và công nghệ và thực trạng truyền thông về khoa học vàcông nghệ hiện nay” do Nhà báo Trần Đức Chính (Nguyên TBT báo Nhà báo
và Công luận) đưa ra những đánh giá về tác phong chưa chuyên nghiệp củaphóng viên, biên tập viên khi truyền thông về khoa học và công nghệ trên cácphương tiện truyền thông đại chúng Bên cạnh đó, còn một số báo cáo đề cậpđến vấn đề nâng cao hiệu quả truyền thông khoa học và công nghệ như:
“Nâng cao chất lượng truyền thông phát triển khoa học và công nghệ” củaPGS.TS Đinh Thị Thúy Hằng (Học viện Báo Chí và Tuyên truyền); Báo cáo
về “Vấn đề đào tạo cho truyền thông khoa học và công nghệ – cần tạo bướcđột phá trong chiến lược” của PGS.TS.Nguyễn Văn Dững (Học viện Báo chí
và Tuyên Truyền); “Chương trình khoa học và công nghệ trên Đài Tiếng nóiViệt Nam: Thực trạng và kinh nghiệm xây dựng chương trình phát thanh về
đề tài khoa học” của Nhà báo Nguyễn Mỹ Hà (Đài Tiếng nói Việt Nam); “Một
số hạn chế về thông tin khoa học và công nghệ trên báo chí: hiện trạng và giảipháp” của TS Trần Bá Dung (Hội Nhà báo Việt Nam)
Ngoài ra, tham luận về “Vai trò của Quỹ vì sự phát triển của khoa học vàsáng tạo Hàn Quốc trong hoạt động truyền thông KH&CN” của TS Nguyễn ThịThanh Huyền (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội) đã nêu lên những kinh nghiệm truyền thông về khoa học và công nghệcủa Hàn Quốc Là một trong những biểu tượng xuất sắc về khoa học và côngnghệ trên thế giới, kinh nghiệm của Hàn Quốc cho thấy, truyền thông
Trang 19khoa học là phải được tổ chức mọi nơi, mọi lúc, tác động từ bên trong tổ chức
xã hội nhỏ bé nhất là gia đình, đến cộng đồng và quốc gia
Qua đây có thể thấy, những bài tham luận này có vai trò rất quan trọng,giúp tác giả có thêm những kiến thức về truyền thông khoa học và công nghệtrong quá trình làm luận văn, đồng thời thấy rõ được thực trạng truyền thông vềkhoa học và công nghệ trên các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay Songvẫn chưa có báo cáo nào thực sự đi sâu tìm hiểu về thực trạng và giải pháptruyền thông khoa học và công nghệ trên truyền hình từ góc nhìn báo chí học
Do vậy, luận văn “Truyền thông về Khoa học và Công nghệ trên ĐàiTruyền hình Việt Nam” sẽ làm rõ hơn các vấn đề về vị thế của truyền thôngtrong các chính sách khoa học và công nghệ, thực trạng sản xuất chương trìnhtruyền hình về khoa học và công nghệ thông qua hai trường hợp cụ thể làchương trình Công nghệ và Đời sống (VTV1) và Bảy ngày Công nghệ(VTV2) của Đài Truyền hình Việt Nam Đồng thời chỉ ra những ưu điểm vàhạn chế của các chương trình này, qua đó đề ra giải pháp nâng cao chất lượngthông tin
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về quy trình tổ chức sản xuất, nội dung,hình thức, hiệu quả của hoạt động truyền thông về khoa học và công nghệ trênĐài truyền hình Việt Nam qua khảo sát Chương trình Công nghệ Đời sống(VTV1) và Bảy ngày Công nghệ (VTV2) phát sóng năm 2014
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Ngoài việc cập nhật, hệ thống hóa văn bản về chủ trương chính sách vềtruyền thông khoa học và công nghệ trong thời gian gần đây, luận văn đã khảosát 187 chương trình về khoa học và công nghệ, trong đó có: 52 chương trìnhCông nghệ - Đời sống (VTV1) và 135 chương trình Bảy ngày Công nghệ(VTV2) trong năm 2014
Trang 204 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Đưa ra giải pháp, kiến nghị với ban biên tập các chương trình, cơ quanquản lý và nghiên cứu về khoa học và công nghệ, các chuyên gia, các nhàkhoa học để nâng cao chất lượng chương trình và hiệu quả thông tin về khoahọc và công nghệ
Bên cạnh đó, luận văn cũng bổ sung tài liệu nghiên cứu và giảng dạycho ngành báo chí và truyền thông về các vấn đề liên quan
Đề xuất các giải pháp và kiến nghị với Ban biên tập chương trình, cơ quanquản lý và nghiên cứu về khoa học và công nghệ, các chuyên gia, các nhàkhoa học để nâng cao chất lượng chương trình và hiệu quả thông tin về khoahọc và công nghệ ở Đài Truyền hình Việt Nam
Trang 215 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chung: Dựa trên cơ sở nhận thức luận nhữngvấn đề về Lý luận về báo chí – truyền thông; Các vấn đề về truyền thông khoahọc và công nghệ và truyền thông trên truyền hình; Quan điểm chỉ đạo củaĐảng, các chính sách và pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học vàcông nghệ
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứcấp; Phương pháp phân tích nội dung các chương trình truyền hình mà luậnvăn khảo sát; Phương pháp phỏng vấn sâu những người thực hiện chươngtrình, chuyên gia quản lý khoa học và công nghệ ở Bộ, ngành; Phương phápđiều tra xã hội học phỏng vấn anket khán giả về hiệu quả xem các chươngtrình khoa học và công nghệ trên truyền hình Các phương pháp nghiên cứu sẽđược trình bày chi tiết như sau:
-Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Đề tài sưu tầm và hệ thống
hóa các văn bản pháp quy liên quan tới hoạt động truyền thông về khoa học
và công nghệ như Quyết định 418/QĐ-TTg năm 2012 của Thủ tướng chínhphủ về Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020;Luật khoa học và công nghệ năm 2013; Nghị quyết số 20-NQ/TW trong Hộinghị BCH TWĐ khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ, phục vụ sựnghiệp công nghiệp hóa đất nước…Ngoài ra còn nghiên cứu các công trìnhnghiên cứu khoa học, sách, báo tư liệu, tài liệu, các luận văn, khóa luận ởtrường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Học viện Báo chí tuyêntruyền có liên quan tới đề tài Truyền thông về khoa học và công nghệ trên ĐàiTruyền hình Việt Nam
- Phương pháp phân tích nội dung các chương trình truyền hình mà luận văn khảo sát: Đề tài phân tích sâu quy trình sản xuất chương trình, cũng như nội
dung, hình thức thể hiện của 52 chương trình Công nghệ - Đời sống (VTV1) và
… chương trình Bảy ngày Công nghệ (VTV2) Qua đó chỉ rõ ưu, nhược điểm của từng chương trình và đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng chương trình
Trang 22- Phương pháp Phỏng vấn sâu những người thực hiện chương trình, chuyên gia quản lý khoa học và công nghệ ở Bộ, ngành: Người thực hiện đề
tài tiến hành gặp gỡ và phỏng vấn sâu Phó Tổng giám đốc Đài Truyền hìnhViệt Nam phụ trách về khoa học và công nghệ, cùng một lãnh đạo ban Khoagiáo – VTV2 và hai lãnh đạo phòng sản xuất chương trình công nghệ VTV1,VTV2 cùng hai phóng viên, biên tập viên phụ trách các chương trình Côngnghệ - Đời sống (VTV1) và chương trình Bảy ngày Công nghệ (VTV2) Bêncạnh đó, cũng phỏng vấn hai chuyên gia và một nhà quản lý khoa học và côngnghệ ở Bộ Khoa học và Công nghệ về tầm quan trọng của truyền thông khoahọc và công nghệ trên truyền hình Đồng thời đưa ra đánh giá chung về cácchương trình truyền hình khoa học và công nghệ của Đài Truyền hình ViệtNam Bên cạnh đó, đề tài cũng sẽ thực hiện phỏng vấn sâu những người trựctiếp tham gia sản xuất chương trình về những thuận lợi và khó khăn trong quátrình tuyên truyền, những đề xuất để nâng cao chất lượng chương trình
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi với khán giả về hiệu quả xem
chương trình khoa học và công nghệ trên truyền hình: Tác giả sử dụng
phương pháp này để thăm dò ý kiến của các khán giả Mục đích sử dụngphương pháp này cũng để có được kết quả định lượng, mang tính khách quanliên quan đến hiệu quả truyền thông của các chương trình phát sóng mà tácgiả khảo sát Cụ thể, tác giả lập bảng hỏi gồm 19 câu hỏi và 200 phiếu hỏionline được phát cho các đối tượng liên quan Trong đó phát ra 85 phiếu chocông chúng xem truyền hình, 60 phiếu cho các nhà khoa học và 55 phiếu chophóng viên phụ trách khoa học và công nghệ ở các báo, đài
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Các hoạt động khoa học và công nghệ đang diễn ra ngày càng sôi động,song để công chúng có thể thực sự hiểu và “ngấm” vào đời sống thực tiễn thìcần phải có những chiến lược truyền thông quốc gia mạnh mẽ, xuyên suốt,làm kim chỉ nam định hướng Hiện nay, ngành khoa học và công nghệ đã hợptác với rất nhiều cơ quan báo chí, đặc biệt là truyền hình để tăng cường để
Trang 23tăng cường sức mạnh tuyên truyền khoa học và công nghệ đến toàn dân.Muốn làm được như vậy, thì các chương trình truyền hình về khoa học vàcông nghệ phải thực sự có chất lượng Kết quả nghiên cứu của đề tài hy vọng
sẽ có những đóng góp quan trọng cho:
+ Hoạt động thực tiễn của nhà báo trong tác nghiệp các vấn đề vềKH&CN, đặc biệt là những người trực tiếp sản xuất các chương trình Côngnghệ và Đời sống (VTV1), chương trình Bảy ngày Công nghệ(VTV2), đểnâng cao hiệu quả thông tin khoa học và công nghệ trên truyền hình, làm tốtvai trò là cầu nối cung cầu giữa nghiên cứu khoa học và công nghệ với hoạtđộng sản xuất, kinh doanh Từ đó, đưa kết quả nghiên cứu, chuyển giao khoa học và công nghệ một cách hiệu quả nhất vào thực tiễn đời sống
+ Các nhà quản lý về khoa học và công nghệ từ đây cũng sẽ có cái nhìntoàn diện hơn đối với công tác truyền thông về khoa học và công nghệ, để đưa
ra các chủ trương, chính sách phù hợp, nhằm thúc đẩy hoạt động tuyên truyềncác thông tin về khoa học và công nghệ trên phương tiện thông tin đại chúngnói chung và truyền hình nói riêng
+ Luận văn cũng sẽ giúp các nhà nghiên cứu và cán bộ giảng dạy báochí có thêm cơ sở thực tiễn trong hoạt động đào tạo nhà báo chuyên về khoahọc và công nghệ
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dungcủaluận văn gồm có 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về truyền thông khoa học và công nghệ
1.1.Khái niệm cơ bản về truyền thông khoa học và công nghệ
1.2.Chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về phát triển khoa học và công nghệ và vai trò của báo chí và truyền thông hiện nay
1.3.Thế mạnh và hạn chế truyền hình trong việc truyền thông về khoa học và công nghệ
Trang 24Chương 2: Thực trạng các chương trình truyền hình về khoa học
và công nghệ của Đài Truyền hình Việt Nam
2.1 Quy trình tổ chức sản xuất và phát sóng các chương trình Công nghệ - Đời sống (VTV1) và chương trình Bảy ngày Công nghệ (VTV2)
2.2.Nội dung các chương trình Công nghệ - Đời sống (VTV1) và chương trình Bảy ngày Công nghệ (VTV2)
2.3.Hình thức thể hiện của các chương trình Công nghệ - Đời sống (VTV1), và chương trình Bảy ngày Công nghệ (VTV2)
2.4 Ý kiến khán giả về các chương trình truyền hình khoa học và công nghệ
Chương 3: Đánh giá chung về hoạt động truyền thông khoa học và công nghệ trên đài truyền hình Việt Nam và giải pháp
3.1 Ưu nhược điểm của hoạt động truyền thông về khoa học và công nghệ trên Đài truyền hình Việt Nam
3.2 Nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế của các chương trình truyền thông về khoa học và công nghệ trên đài truyền hình Việt Nam
3.3 Giải pháp
Trang 25CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN
THÔNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.1 Khái niệm cơ bản về truyền thông khoa học và công nghệ
1.1.1 Khái niệm về khoa học và công nghệ
Khái niệm về khoa học
Thuật ngữ “khoa học” xuất hiện từ rất sớm, nó phản ánh một hình thứcsáng tạo đặc biệt, một lĩnh vực hoạt động có vị trí hết sức quan trọng trongđời sống xã hội của con người Từ lâu người ta đã đưa ra nhiều quan niệmkhác nhau về khoa học
Trên thế giới, có một khái niệm về khoa học như sau: Khoa học là toàn
bộ hoạt động có hệ thống nhằm xây dựng và tổ chức kiến thức dưới hình thứcnhững lời giải thích và tiên đoán có thể kiểm tra được về vũ trụ Thông quacác phương pháp kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát các dấu hiệubiểu hiện mang tính vật chất và bất thường của tự nhiên nhằm thu thập thôngtin, rồi sắp xếp các thông tin đó thành dữ liệu để phân tích nhằm giải thíchcách thức hoạt động, tồn tại của sự vật hiện tượng Một trong những cách thức
đó là phương pháp thử nghiệm nhằm mô phỏng hiện tượng tự nhiên dưới điềukiện kiểm soát được và các ý tưởng thử nghiệm Tri thức trong khoa học làtoàn bộ lượng thông tin mà các nghiên cứu đã tích lũy được Định nghĩa vềkhoa học được chấp nhận phổ biến rằng khoa học là tri thức tích cực đã được
hệ thống hóa.1
Ở Việt Nam, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về khoa học
Theo giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Phó Giáo sư Tiến
sĩ Vũ Cao Đàm thì: Khoa học là một hệ thống tri thức, bao gồm: Tri thức kinhnghiệm và tri thức khoa học
1 Khoa học và các khoa học: La science et les sciences Gilles-Gaston Granger; Phan Ngọc, Phan Thiều dịch Nhà xuất bản Thế giới, 1995, 147tr
Trang 26Theo Luật khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 thì khoa học là hệ thốngtri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tựnhiên, xã hội và tư duy.
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm khoa học theo cách tiếp cận
có chọn lọc của văn bản Luật khoa học và công nghệ
Khái niệm về công nghệ
Theo Ủy ban kinh tế và xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương( ESCAP) đưa ra: công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuậtdùng để chế biến vật liệu và thông tin Công nghệ bao gồm kiến thức, kỹnăng Thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa
và cung cấp dịch vụ
Định nghĩa về công nghệ của ESCAP được coi là bước ngoặt trongquan niệm về công nghệ Theo định nghĩa này, không chỉ sản xuất vật chấtmới dùng công nghệ mà khái niệm công nghệ được mở rộng ra tất cả lĩnh vựchoạt động xã hội
Theo các tài liệu nghiên cứu của Phó Giáo sư Tiến sĩ Vũ Cao Đàm thì
có 3 khái niệm về công nghệ:
Khái niệm 1: “Công nghê ̣là môṭ trâṭ tư ̣nghiêm ngăṭ các thao tác của quá trình chếbiến vâṭ chất/thông tin
Khái niệm 2: “Công nghê ̣là môṭ phương tiêṇ (device) chế biến vâṭ chất/thông tin, gồm: Phần cứng và Phần mềm”.
Khái niệm 3 (Mô hình Sharif): “Công nghê ̣là môṭ cơ thể(hê ̣thống) tri thức vềquá trình chếbiến vâṭ chất hoăc ̣ thông tin vềphương tiêṇ và phương pháp chếbiến vâṭ chất và/hoăc ̣ thông tin Công nghệ gồm 4 yếu tố: Kỹ thuật (Technoware); Thông tin (Inforware); Con người (Humanware); Tổ chức (Orgaware)
Theo Luật khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 thì Công nghệ là
giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công
cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm
Trang 27Cũng như ở khái niệm khoa học, trong phần này tác giả cũng sử dụng kháiniệm công nghệ theo cách tiếp cận có chọn lọc của văn bản Luật khoa học vàcông nghệ Tức là: Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bíquyết, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm có độ tin cậy.Sản phẩm ở đây bao gồm các dạng: dây chuyền công nghệ (dây chuyền côngnghệ là mục tiêu) và sản phẩm cụ thể được sản xuất từ dây chuyền công nghệ(dây chuyền công nghệ đóng vai trò là phương tiện sản xuất).
Đặc điểm công nghệ: Qua khái niệm về công nghệ ở trên ta thấy: Trước
đây cách hiểu truyền thống về công nghệ đồng nhất kỹ thuật với thiết bịkhông lưu ý với thực tế vận hành, tay nghề của công nhân, năng lực tổ chứcquản lý hoạt động sản xuất, do vậy hiện nay thuật ngữ công nghệ thường đượcdùng thay cho thuật ngữ kỹ thuật Với nội dung như vậy, công nghệ đặc biệt
có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay, khi nó đang thực sự trở thànhnhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trongnước cũng như quốc tế
Khác với khoa học, các giải pháp kĩ thuật của công nghệ đóng góp trựctiếp vào sản xuất và đời sống nên nó được sự bảo hộ của nhà nước dưới hìnhthức sở hữu công nghiệp’ và do đó nó là thứ hàng để mua bán Nghị định số63/CP của Thủ tướng Chính phủ quy định 5 đối tượng được bảo hộ ở Việtnam đó là: Sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghệ, nhãn hiệu hànghoá và tên gọi, xuất xứ hàng hoá
Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ: Khoa học và công nghệ có nội
dung khác nhau nhưng chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mối liên hệchặt chẽ này thể hiện ở chỗ khi còn ở trình độ thấp, khoa học tác động tới kĩthuật và sản xuất còn rất yếu, nhưng đã phát triển đến trình độ cao như ngày naythì nó tác động mạnh mẽ và trực tiếp tới sản xuất Khoa học và công nghệ, là kếtquả sự vận dụng những hiểu biết, tri thức khoa học của con người để sáng tạo cảitiến các công cụ, phương tiệ phục vụ cho sản xuất và các hoạt động khác
Trang 28Ngày nay, không thể tách rời công nghệ khỏi khoa học cũng như khôngthể nói đến khái niệm khoa học mà lại không bao hàm trong nó khái niệmcông nghệ Song điều đó hoàn toàn không có nghĩa là bất cứ nền khoa họctiên tiến sẽ có một trình độ công nghệ tiên tiến xét trong phạm vi từng khuvực, từng quốc gia, từng ngành cụ thể.
Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ được phát triển qua các giaiđoạn khác nhau của lịch sử
Vào thế kỉ XVII - XVIII khoa học công nghệ tiến hoá theo những conđường riêng có những mặt công nghệ đi trước khoa học Vào thế kỉ XIX khoahọc công nghệ bắt đàu có sự tiếp cận, mỗi khó khăn của công nghệ gợi ý cho
sự nghiên cứu của khoa học và ngược lại những phát minh khoa học tạo điềukiện cho các nghiên cứu, ứng dụng Sang thế kỉ 20 khoa học chuyển sang vịtrí chủ đạo dẫn dắt sự nhảy vọt về công nghệ Ngược lại sự đổi mới công nghệtạo điều kiện cho nghiên cứu khoa học tiếp tục phát triển
1.1.2 Khái niệm truyền thông và truyền thông về khoa học
và công nghệ
Khái niệm truyền thông: Truyền thông bao hàm ý nghĩa hết sức rộng
lớn Hiện nay trên thế giới, tùy theo góc độ tìm hiểu và nghiên cứu, đã có rấtnhiều định nghĩa khác nhau về truyền thông Song khái niệm chung nhất, phổbiến nhất về truyền thông là:
“Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin,tình cảm, kĩ năng, nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi tronghành vi và nhận thức”2
Ở định nghĩa này cần lưu ý:
+ Truyền thông là một quá trình tức là không phải việc làm tức thời hayxảy ra trong một khuôn khổ thời gian hẹp, mà là một việc diễn ra trong thờigian lớn Quá trình này mang tính liên tục, vì nó không thể kết thúc ngay sau
2 Dương Xuân Sơn (chủ biên): Cơ sở lý luận báo chí và truyền thông, Nxb Đại học Quốc gia HN, 2011
Trang 29khi ta chuyển tải nội dung cần thiết mà còn tiếp diên sau đấy Đấy là quá trìnhtrao đổi, chia sẻ, nghĩa là ít nhất fai có hai thực thể và không phải là một bêncho một bên nhận mà cả hai bên đều cho và nhận
+ Truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này cựckỳquan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông Và cuối cùng,truyền thông phải đem lại sự thay đổi trong nhận thức và hành vi, nếu khôngmỗi việc làm sẽ trở nên vô nghĩa
Khái niệm truyền thông về khoa học và công nghệ: Truyền thông khoa
học và công nghệ là quá trình trao đổi liên tục những thông tin về khoa học vàcông nghệ giữa chủ thể truyền thông khoa học và công nghệ với công chúng,nhằm nâng cao nhận thức xã hội về hoạt động khoa học và công nghệ, vai tròcủa khoa học và công nghệ đối với phát triển đất nước, là cầu nối cung - cầugiữa hoạt động khoa học và công nghệ với sản xuất và đời sống Từ đó, gópphần tạo ra một xã hội đổi mới sáng tạo, một thế hệ nhà khoa học, doanh nhânkiểu mới tận tụy nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ gắn với nhucầu của đất nước, gắn với hoàn cảnh, môi trường hội nhập hiện nay; một xãhội văn minh biết tư duy khoa học trong các hoạt động
Như vậy, khái niệm về truyền thông về khoa học và công nghệ baogồm: Chủ thể truyền thông, nội dung truyền thông và phương pháp truyềnthông và công chúng của truyền thông về khoa học và công nghệ, trong đó:
Chủ thể truyền thông: Chính là nơi nguồn thông tin về khoa học và
công nghệ được phát ra Nguồn thông tin này thường được cung cấp từ các cánhân hoặc tổ chức quản lý, nghiên cứu và thực hiện các hoạt động về khoahọc và công nghệ
Cụ thể, trước kia, khi chương trình về khoa học và công nghệ mới ra đời, thìchủ thể chính là Bộ Khoa học và Công nghệ - là cơ quan đại diện cho toàn bộhoạt động quản lý, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ Tuy nhiên,hiện nay, với nhiều chính sách mới, cơ chế mới và nhiều giải thưởng khuyến
Trang 30khích, ưu tiên cho phát triển khoa học và công nghệ do chính phủ ban hành thìcác hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, sáng chế, phát minh và ứng dụng khoahọc và kỹ thuật vào đời sống không chỉ dừng lại ở các đề tài, sản phẩm củacác nhà khoa học, mà đã lan rộng tới cả những doanh nghiệp sản xuất, nhữnghọc sinh, sinh viên và cả những người nông dân…Tất cả đều nhằm đưa nhữngcông nghệ mới, sản phẩm mới tự phục vụ đời sống để tăng hiệu quả, năngsuất lao động, sản xuất…Do vậy, trong khoảng 5 năm trở lại đây, nguồn thôngtin về các hoạt động khoa học và công nghệ ngày càng đa dạng, phong phúhơn.
Nội dung truyền thông: Những nội dung truyền thông tập trung chính vào:
+ Thông tin về chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học và công nghệ
+ Thông tin hoạt động khoa học và công nghệ, về thành tựu, kết quả
của hoạt động khoa học và công nghệ
+ Biểu dương những mô hình hoạt động tiên tiến, hiệu quả,
những tổ
chức, cá nhân điển hình…
+ Những tiến bộ khoa học và công nghệ đạt được, khả năng áp dụng những kết quả, chuyển giao công nghệ vào sản xuất, đời sống
Các nội dung này sẽ được phân tích sâu hơn ở mục tiếp theo đây
Phương pháp truyền thông: Bên cạnh hình thức truyền thông trực tiếp
thông qua mở các cuộc họp, hội thảo, tập huấn…về khoa học và công nghệ,thì để đạt hiệu quả cao nhất và sức lan tỏa rộng lớn nhất, thì truyền thôngkhoa học và công nghệ cần phải thông qua các phương tiện truyền thông đạichúng để truyền tải toàn bộ những thông tin “nóng” nhất, mới nhất, quantrọng nhất tới công chúng Các kênh truyền thông đại chúng chủ yếu chính làbáo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình…
Công chúng của truyền thông về khoa học và công nghệ: Thông tin về
Trang 3120
Trang 32xen kẽ trong các bản tin thời sự và được phân tích sâu hơn, thể hiện rõ ràng,sắc nét hơn trong các chương trình chuyên biệt về khoa học và công nghệnhư: Công nghệ và Đời sống trên VTV1 và Bảy ngày công nghệ trên VTV2.Công chúng của hoạt động truyền thông về khoa học và công nghệ trên haichương trình này, theo nghiên cứu của luận văn, trước hết họ là những ngườiyêu thích khám phá, tìm tòi khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới để phục vụđời sống Bên cạnh đó, trước kia, các nội dung về khoa học và công nghệthường “khô cứng” nên hầu hết, những chương trình này chỉ dành cho nhữngngười “uyên bác, trí thức”, còn công chúng thông thường rất khó tiếp thunhững tri thức khoa học và công nghệ này Song hiện nay, cùng với sự pháttriển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, cũng như với chiến lược phát triểnkhoa học và công nghệ đến năm 2020 đã có nhiều khuyến khích ưu tiên chocác phát minh, sáng chế mới, nên các chương trình về khoa học và công nghệngày càng có nhiều hơn những khán giả mới, đó là những người đam mê sángtạo Ngoài ra, các chương trình về khoa học và công nghệ đang ngày càng cónội dung cũng như hình thức thể hiện đa dạng, phong phú hơn, làm “mềm”hơn các thuật ngữ,các tri thức khoa học, khiến công chúng “dễ” tiếp thu hơn,gần gũi hơn, hấp dẫn nhiều hơn với công chúng, do vậy những người xemtruyền hình về khoa học và công nghệ hiện nay không chỉ nhà quản lý, nhàkhoa học, doanh nhân hay các học sinh, sinh viên mà cả người dân cũng đềuquan tâm hơn tới các chương trình này.
1.2 Chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về Phát triển khoa học và công nghệ và vai trò của báo chí và truyền thông hiện nay
1.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Khoa học và công nghệ là động lực của sự phát triển Trong quá trìnhlãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn xác
Trang 33định khoa học và công nghệ có vai trò đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng chủnghĩa xã hội.
Ngay trong đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951) đãthông qua Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam với nội dung cơ bản:Nhiệm vụ cơ bản hiện nay của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn đế quốcxâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc; xóa bỏ những tàntích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển kỹnghệ, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân, xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xãhội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội3
Đến đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960) đã xác định,
ở miền Bắc, công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm trongsuốt thời kỳ quá độ nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xãhội Đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật, coi trọng đưa tiến bộ khoahọc kỹ thuật vào các ngành kinh tế, nhất là nông nghiệp (cơ giới hóa, thủy lợihóa, cách mạng về giống cây trồng và vật nuôi)4
Năm 1976 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã đề rađường lối chung của cách mạng Việt Nam trên phạm vi cả nước, ngay trongnội dung đầu tiên đã yêu cầu: “Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cáchmạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tưtưởng văn hóa, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt, đẩymạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội” để đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa,xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội làm cho nước Việt
3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
4 Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam về nhiệm vụ và đường lối của Đảng trong giai đoạn mới, ngày 10-9-1960
Trang 34Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa có kinh tế công - nông nghiệp hiệnđại, văn hóa và khoa học - kỹ thuật tiên tiến5.
Năm 1986 đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề ra đườnglối đổi mới toàn diện, đã nhấn mạnh các nhiệm vụ sau: “Tăng cường và kếthợp chặt chẽ hoạt động của các ngành khoa học kỹ thuật, khoa học tự nhiên
và khoa học xã hội Tăng mức đầu tư, đi đôi với đổi mới cơ chế quản lý và tổchức lại lực lượng khoa học kỹ thuật, làm cho khoa học, kỹ thuật gắn chặt vớisản xuất và đời sống, đem lại hiệu quả thiết thực, trở thành một bộ phận củalực lượng sản xuất xã hội áp dụng rộng rãi các thành tựu khoa học và kỹthuật nhằm trước hết phục vụ ba chương trình mục tiêu6” Trong tình hình ấy,nước ta cần thực hiện đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, tạo ra động lực để giảiphóng năng lực sản xuất, thúc đẩy tiến bộ khoa học và kỹ thuật, phát triểnkinh tế hàng hóa với năng suất, chất lượng, hiệu quả
Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị (1991) về khoa học và côngnghệ đã nêu rõ những mặt yếu kém của khoa học và công nghệ ở nước ta, đề
ra những nhiệm vụ quan trọng của khoa học và công nghệ trong giai đoạncách mạng mới, những biện pháp chủ yếu để đẩy mạnh phát triển khoa học vàcông nghệ, đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, cải tiến sự quản lýcủa Nhà nước đối với khoa học và công nghệ Đảng ta cho rằng: Phát triểnkhoa học và công nghệ là nhu cầu của nước ta nhằm đuổi kịp các nước trênthế giới bằng thực lực kinh tế
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996) đã xác địnhđưa nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấnđấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướnghiện đại Tập trung đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
5 Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 20 tháng 12 năm
1976
6 Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam, 18/12/1986
Trang 35nông thôn, xây dựng cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ, tận dụng lợithế của nước đi sau, tranh thủ công nghệ mới.
Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII (1996) đã ra Nghị quyết về Địnhhướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệphóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000, khẳng định vai trò động lực củakhoa học và công nghệ đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước Nghị quyết còn đặt ra yêu cầu phải sớm có luật pháp về khoa học vàcông nghệ để thể chế hóa mọi mặt hoạt động khoa học và công nghệ, phảinhanh chóng đổi mới cơ chế quản lý khoa học, phải đầu tư thỏa đáng, bướcđầu dành tối thiểu 2% chi ngân sách cho khoa học và công nghệ
Bước tiến lớn nhất đó là năm 2000, Luật khoa học và công nghệ chínhthức được ban hànhtạo hành lang pháp lý cơ bản cho hoạt động khoa học vàcông nghệ chính thức được ban hành tạo hành lang pháp lý cơ bản cho hoạtđộng khoa học và công nghệ chỉ rõ việc “đầu tư cho khoa học và công nghệ làđầu tư phát triển”
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) tiếp tục khẳngđịnh, phát triển khoa học và công nghệ vừa là nền tảng, vừa là động lực đốivới sự phát triển kinh tế - xã hội Đại hội đã nhận định: "Thế kỷ XXI sẽ tiếptục có nhiều biến đổi, khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt, kinh tếtri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sảnxuất" Phát triển khoa học và công nghệ phải hướng vào việc nâng cao năngsuất lao động, đổi mới sản phẩm, xây dựng năng lực cạnh tranh của hàng hóa,xây dựng năng lực công nghệ quốc gia đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực
sử dụng công nghệ hiện đại, công nghệ cao (tin học, sinh học, vật liệu mới, tựđộng hóa) Tăng đầu tư từ ngân sách và huy động các nguồn lực khác chokhoa học và công nghệ
Hội nghị Trung ương 6 Khóa IX (7- 2002) đã kiểm điểm việc thực hiệnNghị quyết Trung ương 2 Khóa VIII và xác định nhiệm vụ của khoa học và
Trang 36công nghệ trong thời gian tới là: Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận và tổng kếtthực tiễn; đổi mới nâng cao trình độ công nghệ trong nền kinh tế quốc dân;xây dựng và phát triển có trọng điểm các ngành công nghệ cao đáp ứng yêucầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) của Đảng tiếp tục khẳngđịnh: "Phát triển mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và côngnghệ Kết hợp chặt chẽ hoạt động khoa học và công nghệ với giáo dục vàđào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩynhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức Đẩy mạnhnghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ, tạo bước đột phá vềnăng suất, chất lượng và hiệu quả trong từng ngành, từng lĩnh vực của nềnkinh tế Cùng với việc đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động khoa học - công nghệ,Nhà nước tập trung đầu tư vào các chương trình nghiên cứu quốc gia, phấnđấu đạt trình độ khu vực và thế giới; xây dựng tiềm lực khoa học và côngnghệ cho một số lĩnh vực trọng điểm, công nghệ cao Thực hiện chính sáchtrọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sưtrưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao”7
Hội nghị Trung ương 9 Khóa X (2009) đã ra Nghị quyết 31-NQ/TW
"Về một số nhiệm vụ, giải pháp lớn nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghịquyết Đại hội lần thứ X của Đảng", về khoa học và công nghệ, Nghị quyếtghi: "Tiếp tục đổi mới đồng bộ cơ chế quản lý và chính sách phát triển khoahọc và công nghệ; nghiên cứu xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các chiến lược,quy hoạch, kế hoạch phát triển khoa học và công nghệ quốc gia và các ngành,các sản phẩm quan trọng Phát triển thị trường khoa học và công nghệ Nângcao chất lượng nghiên cứu khoa học, gắn nghiên cứu khoa học với sản xuấtkinh doanh, giáo dục và đào tạo Có chính sách, chế độ đãi ngộ và điều kiện
7 Trích Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX: Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế
-xã hội 5 năm 2006 – 2010, ngày 10 tháng 4 năm 2006
Trang 37làm việc tốt hơn cho cán bộ nghiên cứu khoa học, nhất là cán bộ đầu ngành,
có trình độ cao”8
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011) đã khẳng định:
“Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ được đẩymạnh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Quản lý khoa học, côngnghệ có đổi mới, thực hiện cơ chế tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp khoa học,công nghệ Thị trường khoa học, công nghệ bước đầu hình thành Đầu tư chokhoa học, công nghệ được nâng lên”9
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã vạch rõ những định hướng lớn về pháttriển khoa học và công nghệ trong thời kỳ mới với những quan điểm cơ bảndưới đây: “khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triểnlực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năngsuất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế.Phát triển khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiếncủa thế giới Phát triển đồng bộ các lĩnh vực khoa học và công nghệ gắn vớiphát triển văn hóa và nâng cao dân trí Tăng nhanh và sử dụng có hiệu quảtiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước, nghiên cứu và ứng dụng cóhiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới Hìnhthành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo, trọng dụng nhân tài
và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ”10
8 Nghị quyết 31-NQ/TW, Hội nghị Trung ương 9 khoá X: Đoạn 2, phần 2: Trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và văn hoá, y tế, xã hội, 2009
9 Trích Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành TW Đảng khóa X, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng: Phần 1 – Kiểm điểm 5 năm thực hiện nghị quyết đại hội X; Nhìn lại 10 năm thực hiện chiến lược phát triển Kinh tế - Xã hội 2001 – 2010, 20 năm thực hiện cương lĩnh năm 1991, mục A – Thành tựu.
10 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011): Đoạn 4, phần 2, Mục III- Những định hướng lớn về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
Trang 38Trong năm 2012, nhiều văn bản quan trọng cho phát triển khoa học vàcông nghệ được banhành Ngày 11/4/2012, Chính phủ đã ban hành Chiến lượcphát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011- 2020 Chiến lược được kỳvọng sẽ tạo ra sự chuyển biến căn bản trong hoạt động khoa học và công nghệ,
để khoa học và công nghệ cùng với giáo dục và đào tạo thực sự là quốc sáchhàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước nhanh và bền vững
Ngày 01/11/2012, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trungương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 20NQ/TW) về phát triển khoa học vàcông nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiệnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã đượcBan Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Ngay sau đó, ngày 29/3/2013Thủ tưởng Chính phủ cũng đã ký ban hành Nghị quyết số 46/NQCP ban hànhchương tình hành động, thực hiện Nghị quyết số 20NQ/TW
Ngày 18/6/2013, Quốc hội đã thông qua Luật khoa học và công nghệthay thế Luật khoa học và công nghệ năm 2000 với nhiều đột phá trong cơchế chính sách phát triển khoa học và công nghệ, đem lại nguồn sinh khí mới
để đưa khoa học và công nghệ thực sự trở thành chìa khóa để phát triển kinh
tế, xã hội
Nghị định về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ số11/2014/NĐ-CP ngày 18/02/2014 của Chính phủ (Nghị định thay thế Nghịđịnh 159/2004/NĐ-CP ngày 31/8/2004) Theo đó, hoạt động thông tin khoahọc và công nghệ phải tuân theo các nguyên tắc: Chính xác, khách quan, đầy
đủ, kịp thời và đáp ứng yêu cầu của tổ chức, cá nhân về chất lượng, khốilượng sản phẩm, dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ, đồng thời, kết hợpchặt chẽ hoạt động thông tin khoa học và công nghệ với hoạt động nghiệp vụthư viện, lưu trữ, thống kê, truyền thông khoa học và công nghệ
Trang 39Ngay sau đó, ngày 20/5/2014 Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số40/2014/NĐ-CP về quy định việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt độngKH&CN Nghị định này thực sự đã tạo điều kiện, môi trường làm việc thuậnlợi cho cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ phát huy tối đa năng lực vàđược hưởng lợi ích xứng đáng với kết quả hoạt động khoa học và công nghệ.
Có thể nói, đây là sự đột phá lớn trong chính sách khoa học và công nghệ đểthu hút nhân tài
Quyết định về việc ban hành Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin chobáo chí của Bộ Khoa học và Công nghệ của Bộ khoa học và công nghệ số2093/QĐ-BKHCN ngày 14/08/2014 Thực hiện quyết định này, Bộ Khoa học vàCông nghệ tổ chức cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí về hoạt động của cơquan, về lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ thôngqua các hình thức sau: Cập nhật thông tin trên Cổng Thông tin điện tử của BộKhoa học và Công nghệ và Trang Thông tin điện tử của các đơn vị thuộc Bộ,đồng thời tổ chức họp báo định kỳ hàng quý để cung cấp thông tin cho báo chí
và trả lời trực tiếp những vấn đề báo chí quan tâm; Thông tin sẽ được cung cấpbằng văn bản hoặc trực tiếp tại buổi giao ban báo chí thường kỳ do Ban Tuyêngiáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông và Hội Nhà báo Việt Nam tổchức trong trường hợp cần thiết Nội dung thông tin cung cấp cho báo chí: Chủtrương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực khoa học và công nghệ;Chương trình, kế hoạch, chiến lược phát triển của ngành khoa học và công nghệ;chương trình, kế hoạch hành động của Bộ Khoa học và Công nghệ; Kết quả thựchiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ theoquy định của pháp luật; Quan điểm và ý kiến giải quyết của Lãnh đạo Bộ Khoahọc và Công nghệ đối với các vấn đề quan trọng về lĩnh vực khoa học và côngnghệ được dư luận xã hội quan tâm…
Hệ thống văn bản chủ trương chính sách nói trên chính là những thuậnlợi, thời cơ lớn cho phát triển ngành khoa học và công nghệ nhưng cũng đặt ra
Trang 40cho ngành nhiều thách thức Nhiệm vụ đặt ra cho ngành khoa học và côngnghệ không nhỏ Vai trò, vị trí của khoa học và công nghệ đặt ra trong giaiđoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2020 là hết sức quantrọng nhằm điều chỉnh lại cơ cấu kinh tế của đất nước, điều chỉnh lại cơ cấucông nghiệp, cơ cấu công nghệ của đất nước hướng tới công nghệ an toàn,hiệu quả, sạch Có như thế đất nước mới phát triển bứt phá trở thành nướcvượt qua ngưỡng trung bình thấp, trung bình vươn lên thành một nước pháttriển như một số nước Châu Á đã trải qua Vì thế, hoạt động truyền thôngkhoa học và công nghệ cũng cần bám sát các hoạt động của ngành, tập trungkhai thác các tiềm năng và thế mạnh trong khoa học và công nghệ, gươngđiển hình, nhà sáng chế, mô hình thương mại hóa và ứng dụng, chuyển giaocác sản phẩm khoa học và công nghệ thành công…
1.2.2 Vai trò của báo chí và truyền thông trong hoạt động khoa học
và công nghệ
Để thúc đẩy nền khoa học và công nghệ nước nhà, vai trò của truyềnthông về khoa học và công nghệ được xem là một trong những nhiệm vụ quantrọng để gắn kết cộng đồng và giới nghiên cứu.Trước hết, truyền thông khoahọc và công nghệ giữ vai trò chủ đạo trong công tác giới thiệu, phổ biếnđường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước coi phát triển khoahọc và công nghệ là quốc sách hàng đầu, động lực quan trọng để phát triểnkinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc Qua các kênh truyền thông, người dâncũng như các cấp quản lý ý thức được vai trò của khoa học và công nghệ cótính chất quyết định phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao tính cạnh tranh vàhiệu quả của sản phẩm, hàng hóa và của cả nền kinh tế
Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam giai đoạn
2011-2020 theo quyết định số 418/QĐ-TTG của Thủ tướng chính phủ đã xác địnhhoạt động tuyên truyền, phổ biến khoa học và công nghệ là một trong 6 giảipháp chủ yếu để phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam: “Đẩy mạnh hoạt