Cùng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin CNTT và internet mà Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chương trình ứng dụng CNTT trong quản lý.Chính từ yêu cầu đổi mới nền hành chí
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
-TRẦN THỊ DUNG
TRUYỀN THÔNG VỀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRÊN CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Báo chí học
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
-TRẦN THỊ DUNG
TRUYỀN THÔNG VỀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRÊN CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học
Mã số: 60 32 01 01
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Huyền - Phó Chủ nhiệm khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội Các kết quả công bố trong luận văn là hoàn toàn chính xác Các trích dẫn, tham khảo đều rõ nguồn Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Tác giả
Trần Thị Dung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Huyền - Phó Chủ nhiệm Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã tận tình hướng dẫn và cho tôi những ý kiến quý giá trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cám ơn các Thầy, Cô giáo Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu về chuyên ngành báo chí cũng như tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này đúng thời hạn.
Tôi cũng xin chân thành cám ơn lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai; các anh (chị) khối Văn phòng Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các anh (chị) khối Trung tâm Tin học và Thông tin khoa học công nghệ Bình Dương và Đồng Nai đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này.
TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 3 năm 2015
Trần Thị Dung
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 4
MỞ ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Tình hình nghiên cứu vấn đề 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của luận văn 11
7 Kết cấu của luận văn 12
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ 13
1.1 Truyền thông và truyền thông về khoa học công nghệ 13
1.2 Khái niệm về cổng thông tin điện tử 14
1.3 Chức năng của cổng thông tin điện tử về khoa học và công nghệ trong hệ thống thông tin đại chúng 21
1.4 Phương thức tổ chức và quản lý hoạt động của cổng thông tin điện tử 25
Tiểu kết chương 1 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA BA CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CÁC SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ MIỀN ĐÔNG NAM BỘ 35
2.1 Giới thiệu chung về cổng thông tin điện tử của ba Sở Khoa học và Công nghệ miền Đông Nam Bộ 35
2.2 Tổ chức hoạt động của ban biên tập và quy trình xử lý thông tin đăng trên cổng thông tin điện tử các Sở Khoa học và Công nghệ 42
2.3 Mức độ cung cấp thông tin, dịch vụ của các cổng thông tin điện tử 45
2.4 Mức độ đáp ứng nhu cầu thông tin của người dùng cổng thông tin điện tử 66
2.5 Một số điểm khác biệt giữa 3 cổng thông tin điện tử 76
Tiểu kết chương 2 79
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRÊN CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BA SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ MIỀN ĐÔNG NAM BỘ 80
3.1 Đánh giá ưu nhược điểm của 3 cổng thông tin điện tử đối với hoạt động truyền thông khoa học và công nghệ 80
3.2 Nguyên nhân khách quan và chủ quan của nhược điểm 83
3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông khoa học công nghệ trên cổng thông tin điện tử 86
3.4 Một số đề xuất trong cách viết và cách trình bày trên cổng thông tin điện tử 101 Tiểu kết chương 3 105
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
Hiện nay khoa học và công nghệ đã trở thành động lực trực tiếp thúc đẩy sảnxuất và tiến bộ xã hội Do đó, truyền thông về khoa học và công nghệ được xácđịnh là một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm về phát triển khoa học công nghệ giai đoạn2011-2020
Cùng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin (CNTT) và internet
mà Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chương trình ứng dụng CNTT trong quản lý.Chính từ yêu cầu đổi mới nền hành chính nước nhà, hầu hết các cơ quan nhà nướcđều triển khai xây dựng trang thông tin điện tử hay cổng thông tin điện tử để phục
vụ công tác tuyền thông về hoạt động của cơ quan, đơn vị thông qua việc cung cấpthông tin và các dịch vụ công trực tuyến nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu cung cấpthông tin và dịch vụ cho người dân, doanh nghiệp và chính quyền
Hiện nay, việc đưa cổng TTĐT vào phục vụ người dân không chỉ nhằm mụcđích cải cách nền hành chính mà còn nhằm mục đích nâng cao giá trị dân chủ vàniềm tin của người dân đối với cơ quan nhà nước thông qua việc cung cấp thôngtin, giải đáp thắc mắc và dịch vụ công trực tuyến Thêm vào đó, những cổng TTĐTnày còn giúp người dân phản hồi thông tin lại cho các cơ quan nhà nước; đồng thờicòn là một kênh truyền thông hiệu quả nhất
Bên cạnh đó, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng đòi hỏi nền hành chínhnước nhà phải hiện đại, tiện lợi và đặc biệt là quảng bá được hình ảnh cơ quan, đơnvị; cung cấp đầy đủ thông tin, giới thiệu được những thành tựu và tiềm năng nghiêncứu khoa học của ngành khoa học công nghệ đến với các đơn vị có nhu cầu liên kết,hợp tác nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ trong và ngoài nước
Do khả năng xuất bản nhiều nguồn thông tin và cho phép tích hợp các phầnmềm ứng dụng nghiệp vụ nên cổng TTĐT có khả năng cung cấp nhiều dịch vụ côngtrực tuyến như: Dịch vụ cấp giấy phép X-Quang; dịch vụ về đề tài khoa học, dịch
vụ về Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng… các dịch vụ này vừa là công cụ phục
Trang 7vụ công tác quản lý, vừa tạo ra sự minh bạch thông tin, giảm phiền hà tiêu cực trongquá trình giải quyết các thủ tục.
Trong quá trình phát triển, Sở KH&CN các tỉnh/ thành phố luôn xem cổngTTĐT là một kênh truyền thông khoa học công nghệ hiệu quả Đồng thời còn làphương tiện rút ngắn khoảng cách giữa cơ quan nhà nước với doanh nghiệp vàcông dân nên lãnh đạo Sở KH&CN các tỉnh/ thành phố luôn quan tâm chỉ đạo, đầu
tư kinh phí để duy trì, cập nhật thông tin và dịch vụ công trực tuyến Tuy nhiên, để
có thể đánh giá được chất lượng thông tin và dịch vụ công trực tuyến cùng nhữngtác động của chúng đến công chúng, nhất thiết phải tiến hành khảo sát ở cả hai mặt:nội dung, chất lượng của thông tin và dịch vụ đang được cung cấp và nhu cầu củacông chúng đối với thông tin trên trên cổng TTĐT Sở KH&CN các tỉnh, thành phố
Có như vậy mới đưa ra được một mô hình phát triển hoàn thiện và phù hợp vớiđiều kiện ngành KH&CN và công chúng của cổng TTĐT Sở KH&CN
Việc nghiên cứu, tìm hiểu về cổng TTĐT Sở KH&CN các tỉnh miền ĐôngNam Bộ, cụ thể là ba tỉnh thành nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam làtỉnh Đồng Nai, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh giúp tìm ra những nguyênnhân và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển các cổng TTĐT các Sở KH&CN
Đề tài này được lựa chọn nghiên cứu còn do bản thân người thực hiện đề tàihiện đang trực tiếp quản lý cổng TTĐT Sở KH&CN Đồng Nai và mong muốn cómột công trình nghiên cứu khoa học làm cơ sở phân tích thực trạng của thông tin vàdịch vụ công trực tuyến trên cổng TTĐT hiện tại nhằm tìm ra giải pháp nâng caochất lượng thông tin và dịch vụ trong tương lai, đảm bảo yêu cầu quản lý nhà nước
về khoa học công nghệ và đáp ứng nhu cầu công chúng
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Cho đến nay vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin và internet trong hoạtđộng cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến phục vụ công dân đã được ứngdụng rộng rãi trên toàn thế giới Theo đó vấn đề cung cấp thông tin và dịch vụ côngtrực tuyến thông qua các phương tiện truyền thông trực tuyến như các trang web,
Trang 8trang blog và mạng xã hội cho các mục đích quan hệ công chúng khác nhau cũngđược nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Có thể kể đến một số nghiên cứu liênquan như:
- Về việc chính phủ sử dụng các phương tiện truyền thông trực tuyến và tínhdân chủ: Năm 2009 tác giả Broom [51] đã tiến hành nghiên cứu và giải thích tầm quantrọng của các hoạt động quan hệ với công chúng của chính phủ khi xét đến hai nguyêntắc dân chủ; trách nhiệm báo cáo các hoạt động của chính phủ với người dân và nhu cầu
hỗ trợ và tham gia của người dân để giúp chính phủ hoạt động có hiệu quả Tương tự,năm 2012 tác giả Lee [54] đã nghiên cứu và nhấn mạnh về các hoạt động quan hệ vớicông chúng của chính phủ là nhằm thực hiện đầy đủ trách nhiệm của chính phủ bằngcách cung cấp cho người dân những thông tin và dịch vụ
cần thiết và đáp ứng nhu cầu của người dân Trong khi đó, vào năm 2003, hai tácgiả Welch và Hinnant [58] lại xác định tính minh bạch và tính tương tác như haithành phần chính của các website chính phủ Welch và Hinnant cho rằng tính minhbạch có được chủ yếu bằng cách phổ biến thông tin và tính tương tác được đảmbảo bằng cách công khai và đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân Tương tự,năm 2010, hai tác giả Searson và Johnson [56] lại nghiên cứu về lợi thế của cácchức năng tiên tiến của các website chính phủ giúp tạo điều kiện thuận lợi cho sựgiao tiếp hai chiều giữa chính phủ và người dân và do đó thúc đẩy tính minh bạch,tính khả dụng và tính tương tác Tính tương tác và tính khả dụng của các websitechính phủ được hỗ trợ bởi các công nghệ tiên tiến đã vượt khỏi giới hạn đơn giảnchỉ là cung cấp thông tin
- Về sự ảnh hưởng của các kênh truyền thông trực tuyến đối với các mốiquan hệ giữa chính phủ và người dân: Năm 2003, hai tác giả Welch và Hinnant đã
nghiên cứu và mô tả rằng việc sử dụng một website của chính phủ có tác động giántiếp đến niềm tin vào chính phủ thông qua sự dung hòa mức độ nhận thức về tínhminh bạch và tính tương tác của website
Welch và Hinnant cho rằng hai yếu tố góp phần quan trọng cho các websitechính phủ là sự cải thiện về mặt nhận thức về tính minh bạch và tính tương tác của
Trang 9chính phủ Vì vậy, vai trò của các kênh truyền thông trực tuyến được nhấn mạnhtrong khía cạnh giúp gia tăng cơ hội tham gia của người dân và thu hẹp khoảngcách thông tin giữa chính phủ và người dân Năm 2012, tác giả Hyehyun Hong [52]tập trung nghiên cứu về ảnh hưởng của các website chính phủ và các phương tiệntruyền thông xã hội đến cảm nhận của người dân.
Nhìn chung, những nghiên cứu của các học giả nước ngoài tập trung nghiêncứu về niềm tin của người dân vào chính phủ thông qua các các kênh trực tuyến củachính phủ bằng cách tăng cường các dịch vụ chính phủ cho người dân, cải thiệnkhả năng tiếp cận thông tin chính phủ của người dân, khuyến khích sự tương tácgiữa chính phủ và người dân
2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Nghiên cứu về cổng TTĐT đã được nhiều tác giả quan tâm ở góc độ ngànhcông nghệ thông tin Phần lớn các đề tài nghiên cứu đều tập trung tìm ra những giảipháp về công nghệ phục vụ cung cấp thông tin, tra cứu thông tin và các dịch vụphục vụ người dân, doanh nghiệp và chính quyền Có thể kể đến một số đề tài như:
- Đề tài “Xây dựng cổng thông tin điện tử phục vụ tra cứu thông tin về Chủtịch Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Thị Dung (năm 2011) Đề tài tập trung nghiên cứuxây dựng một cổng TTĐT nhằm hỗ trợ việc tìm hiểu và nghiên cứu về cuộc đời của Bác
Hồ Cổng TTĐT cho phép người sử dụng xem, trao đổi, tải thông tin về dưới nhiều dạngtệp dữ liệu khác nhau, thực hiện việc trao đổi thông tin giữa hệ thống và người sử dụng,tăng hiệu quả công tác nghiên cứu và tra cứu thông tin về Bác Hồ
- Đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin một cửa liên thông trongcấp phép đầu tư tại Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Định” của tác giả NguyễnBay (năm 2012) Đề tài ứng dụng dịch vụ web xây dựng hệ thống thông tin một cửađiện tử hỗ trợ quản lý, theo dõi, tra cứu hồ sơ thủ tục hành chính tại Sở Kế hoạch vàĐầu tư tỉnh Bình Định
- Đề tài “Tìm hiểu về kiến trúc Chính phủ điện tử và nghiên cứu, đề xuất môhình cung cấp dịch vụ công trực tuyến tại Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Vĩnh
Trang 10Phúc” của tác giả Hoàng Tiến Hợi (năm 2013) Đề tài tập trung nghiên cứu và đềxuất mô hình tham chiếu cung cấp dịch vụ công trực tuyến tại Sở Thông tin vàTruyền thông tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đề tài “Xây dựng cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Nam theo kiến trúchướng dịch vụ SOA” của tác giả Lương Hoài Nhơn (năm 2011) Đề tài này tập trungnghiên cứu vào công nghệ mã nguồn mở Liferay nhằm xây dựng một cổng TTĐT tỉnhQuảng Nam dựa trên SOA nhằm thiết lập một cổng TTĐT có thể tích hợp các dịch vụhành chính công để phục vụ nhu cầu của công dân, doanh nghiệp và chính quyền
Ở góc độ ngành báo chí - truyền thông, hiện chỉ có tác giả Cao Phượng Diễmnghiên cứu đề tài “Nâng cao chất lượng Website Hải quan Việt Nam” (năm 2010).Luận văn đã tiến hành nghiên cứu về công chúng của website Hải quan dựa trên líthuyết về công chúng truyền thông Cả hai đối tượng công chúng chính của websiteHải quan là cán bộ trong ngành và doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu,nhập khẩu đều được xem xét trên ba bình diện nhân khẩu học xã hội, thực trạngnhận thức và thói quen, sở thích tiếp nhận sản phẩm truyền thông Kết quả nghiêncứu về công chúng của website Hải quan có thể được áp dụng vào hoạt động củađơn vị này và giúp ích cho những nghiên cứu về sau
Như vậy, dưới góc độ tiếp cận của ngành báo chí - truyền thông, vẫn chưa
có đề tài nào nghiên cứu về truyền thông khoa học công nghệ trên cổng TTĐT SởKH&CN Vì vậy, đề tài thực hiện nhằm mục đích đánh giá chất lượng hoạt độngcủa cổng TTĐT thông qua hoạt động cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyếnđối với người dân, doanh nghiệp và chính quyền dưới góc độ truyền thông đạichúng
3.1 Mục đích nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý luận chung và các tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt độngcủa cổng TTĐT, luận văn khảo sát việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trựctuyến trên cổng TTĐT để nắm rõ thực trạng các cổng TTĐT như thế nào, từ đó đề
Trang 11xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông khoa học công nghệ trên cổngTTĐT Sở KH&CN ba tỉnh miền Đông Nam Bộ, cũng như bước đầu gợi ý nhữnghướng đi cho các cổng thông tin của các cơ quan nhà nước khác.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về nội dung và hình thức thôngđiệp truyền thông đại chúng trực tuyến; phương thức tổ chức các hoạt động thôngtin và dịch vụ công trực tuyến trên cổng TTĐT của các cơ quan nhà nước; thế mạnhtương tác của truyền thông trực tuyến thông qua cổng TTĐT giữa cơ quan trựcthuộc chính phủ và người dân
- Khảo sát, đánh giá thực trạng cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyếnvề: nội dung, hình thức, tần suất cập nhật thông tin (văn bản, tin tức, dịch vụ…);
công tác tổ chức và quản lý, sự tương tác và mức độ hài lòng của công chúng
- Đưa ra hệ thống giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả cổngTTĐT nói chung và cổng TTĐT các Sở KH&CN ba tỉnh miền Đông Nam Bộ nóiriêng Cụ thể: Một số vấn đề đặt ra đối với việc phát triển cổng TTĐT hiện nay; cácgiải pháp (giải pháp chung và giải pháp cụ thể) nhằm nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa cổng TTĐT các Sở KH&CN miền Đông Nam Bộ; một số khuyến nghị…
Luận văn nghiên cứu về truyền thông khoa học công nghệ trên cổng thôngtin điện tử của ba Sở Khoa học và Công nghệ miền Đông Nam Bộ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về truyền thông khoa học công nghệ trên cổng TTĐT,bao gồm nội dung, hình thức thông điệp chính, tần suất cập nhật, năng lực tương táctrên cổng TTĐT của ba Sở KH&CN miền Đông Nam Bộ và mức độ hài lòng củacông chúng Cụ thể là cổng TTĐT của ba Sở KH&CN Đồng Nai, Thành phố HồChí Minh và Bình Dương Đây là 3 tỉnh, thành phố nằm trong vùng kinh tế trọngđiểm phía Nam có mật độ dân cư đông, có nền kinh tế tăng trưởng cao và có nhu
Trang 12cầu sử dụng dịch vụ cao Hiện cả ba cổng TTĐT này đều hoạt động ổn định, cập nhật thông tin và cung cấp dịch vụ công đầy đủ.
Thời gian khảo sát:
+ Khảo sát việc cung cấp thông tin 2 năm (từ tháng 3/2012 - 3/2014)
+ Khảo sát dịch vụ: trong 3 tháng đầu năm 2014
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở nhận thức luận những vấn đề về:
- Lý luận chung về báo chí - truyền thông; truyền thông trực tuyến; công chúng truyền thông trực tuyến;
- Quan điểm chỉ đạo của Đảng, các chính sách và pháp luật của Nhà nước vềviệc ứng dụng CNTT, xây dựng và phát triển các cổng thông tin điện tử nhằm phục
Phương pháp phỏng vấn an két: Tác giả sử dụng phương pháp này để thăm
dò ý kiến của các đối tượng có liên quan đến đề tài Cụ thể đã phát 300 mẫu phiếukhảo sát đối với nhà báo và đội ngũ trí thức các trường đại học tại 3 tỉnh/ thành phố
- Phương pháp phỏng vấn sâu các nhà quản lý, nhà báo, nhà khoa học để lấyđược các ý kiến chuyên gia về đề tài nghiên cứu Luận văn sẽ bao gồm các biên bảncủa cuộc phỏng vấn trong phụ lục
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn là tài liệu tham khảo về mặt lý luận tại các cơ sở nghiên cứu, đàotạo về báo chí và truyền thông Luận văn đóng góp thêm góc nhìn về thông tin vàdịch vụ trực tuyến công; đồng thời nêu ra thực trạng và đề xuất các giải pháp cung
Trang 13cấp thông tin trực tuyến hiệu quả và nâng cao tính tương tác giữa công chúngtruyền thông trực tuyến với nhà quản lý.
6.2 Giá trị thực tiễn của luận văn
Luận văn là tài liệu tham khảo về mặt thực tiễn tại các cơ quan, tổ chức, đoànthể xã hội, trong đó có Sở KH&CN ở Việt Nam nói chung và các Sở KH&CN miềnĐông Nam Bộ nói riêng Thông qua khảo sát, đánh giá cụ thể luận văn xây dựngmột tài liệu có hệ thống về thực trạng về cung cấp thông tin và dịch vụ công trựctuyến Từ đó nêu lên những ưu nhược điểm trong việc cung cấp thông tin và dịch
vụ công trực tuyến và đề xuất các giải pháp phát triển trên cổng TTĐT Sở KH&CNmiền Đông Nam Bộ
Những bài học nêu trong luận văn cũng cung cấp cho các sinh viên báo chí,
cơ sở để tìm hiểu sâu hơn về đặc điểm, tính chất, ưu điểm và hạn chế của thông tin
và dịch vụ công trực tuyến trên một cổng thông tin điện tử chuyên ngành
Luận văn gồm có 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về cổng thông tin điện tử Chương 2: Thực trạng hoạt động của ba cổng thông tin điện tử Sở khoa học
và Công nghệ miền Đông Nam Bộ
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông khoa học công
nghệ trên cổng thông tin điện tử ba Sở Khoa học và Công nghệ miền Đông Nam Bộ
Trang 14CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ
1.1 Truyền thông và truyền thông về khoa học công nghệ
1.1.1 Khái niệm về truyền thông
Truyền thông (communication) là quá trình chia sẻ thông tin Truyền thông làmột kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia
sẻ các qui tắc và tín hiệu chung Ở dạng đơn giản, thông tin được truyền từ ngườigửi tới người nhận Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết người gửi
và người nhận Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng đểmột người hiểu những gì người khác nói (ra hiệu, hay viết), nắm bắt ý nghĩa củacác thanh âm và biểu tượng, và học được cú pháp của ngôn ngữ
Có thể hiểu truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng,tình cảm , chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăngcường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độphù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội
Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và mục tiêu.Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết,đưa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi Các hành động này được thể hiệnqua nhiều hình thức như động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin truyền hình.Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính người/tổ chứcgửi đi thông tin
1.1.2 Truyền thông về khoa học và công nghệ
Truyền thông khoa học và công nghệ là hoạt động tương tác xã hội nhằmchia sẻ thông tin về chủ trương đường lối của Đảng, cơ chế, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước về phát triển khoa học và công nghệ; về hoạt động khoa học côngnghệ: từ những hoạt động nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, triển khai, pháttriển công nghệ trong các lĩnh vực khoa học, những hoạt động đổi mới công nghệ,dây chuyền sản xuất, kinh doanh, đổi mới sản phẩm, dịch vụ đến các hoạt động dịch
Trang 15vụ khoa học công nghệ như thông tin, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, sở hữucông nghiệp…; về thành tựu, kết quả của hoạt động khoa học công nghệ: từ nhậnthức của xã hội về khoa học công nghệ, vai trò của khoa học công nghệ đối với pháttriển kinh tế - xã hội….
Như vậy có thể hiểu truyền thông về khoa học và công nghệ là một quá trìnhtác động qua lại liên tục giữa hai hay nhiều đối tượng để cùng nhau chia sẻ cácthông tin, kiến thức, thái độ, kinh nghiệm và kỹ năng về khoa học và công nghệnhằm nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của đối tượng được tác động
Mục tiêu của truyền thông khoa học công nghệ là nhằm nâng cao nhận thức
xã hội về hoạt động khoa học công nghệ, vai trò của khoa học công nghệ đối vớiphát triển đất nước, làm cho xã hội hiểu đúng về khoa học và công nghệ, đồng thời
là cầu nối giữa hoạt động khoa học công nghệ với sản xuất và đời sống
Truyền thông về khoa học và công nghệ trên cổng thông tin điện tử các SởKhoa học và Công nghệ là một hình thức truyền thông hiệu quả, nhanh nhạy về tất
cả những hoạt động của ngành khoa học và công nghệ trên mạng internet Khôngchỉ cung cấp thông tin về những thành tựu khoa học, công nghệ mới, truyền thôngcòn có vai trò định hướng dư luận và đưa các cơ chế, chính sách đến với côngchúng
1.2 Khái niệm về cổng thông tin điện tử
1.2.1 Định nghĩa cổng thông tin điện tử
Cổng thông tin điện tử là một thuật ngữ tin học xuất hiện năm 1998[25] Nộihàm định nghĩa còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục trao đổi, bởi vậy cho đến nay đã
có khá nhiều định nghĩa khác nhau về cổng thông tin điện tử
Năm 2004, trên tạp chí IEEE Internet Computing, tác giả Christian Wege đãđịnh nghĩa cổng TTĐT như sau: “Cổng thông tin điện tử là điểm truy cập tập trung
và duy nhất, tích hợp các kênh thông tin, các dịch vụ và ứng dụng, phân phối tớingười sử dụng thông qua một phương thức thống nhất và đơn giản trên nền tảngWeb” [4]
Trang 16Tại văn bản số 1654/BTTTT-ƯDCNTT ngày 27 tháng 5 năm 2008 của BộThông tin và Truyền thông hướng dẫn các yêu cầu cơ bản về chức năng, tính năng
kỹ thuật cho các dự án dùng chung theo Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg, cổng
thông tin điện tử được định nghĩa như sau: Cổng thông tin điện tử là một trung tâmtích hợp thông tin; là điểm truy cập tập trung và duy nhất; tích hợp các kênh thôngtin các dịch vụ, ứng dụng; là một sản phẩm hệ thống phần mềm được phát triển trênmột sản phẩm phần mềm cổng lõi (Portal core), thực hiện trao đổi thông tin, dữ liệuvới các hệ thống thông tin, đồng thời thực hiện cung cấp và trao đổi thông tin vớingười sử dụng thông qua một phương thức thống nhất trên nền tảng Web tại bất kỳthời điểm nào và từ bất kỳ đâu
Theo Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2011 của Thủtướng Chính phủ, quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyếntrên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước: Cổngthông tin điện tử được định nghĩa là điểm truy cập duy nhất của cơ quan trên môitrường mạng, liên kết, tích hợp các kênh thông tin, các dịch vụ và các ứng dụng màqua đó người dùng có thể khai thác, sử dụng và cá nhân hóa việc hiển thị thông tin
Cổng TTĐT được hiểu như là một trang web xuất phát mà từ đó người sửdụng có thể dễ dàng truy xuất các trang web và các dịch vụ thông tin khác trênmạng máy tính Ban đầu khái niệm này được dùng để mô tả các trang web khổng lồnhư là Yahoo, Lycos, Altavista, AOL… bởi mỗi ngày có hàng trăm triệu người sửdụng Lợi ích lớn nhất mà cổng thông tin điện tử đem lại là tính tiện lợi, dễ sử dụng.Ngày nay khái niệm cổng thông tin điện tử đã được áp dụng vào việc nâng cấp, cảitạo các website kiểu cũ, góp phần hình thành nên một không gian portal (portalspace) trên mạng internet
Như vậy, có thể hiểu cổng TTĐT là một môi trường giao diện Web thốngnhất cho phép truy cập đơn giản, bảo mật đối với dữ liệu và các chương trình ứngdụng cho người dùng Cổng TTĐT có thể thu thập, tích hợp và cung cấp thông tintheo nhu cầu đặc thù của mỗi tổ chức, cá nhân, giúp các tổ chức, cá nhân tìm đượccách thức giao tiếp hiệu quả
Trang 17Mục đích của các cơ quan nhà nước khi xây dựng cổng TTĐT là nhằm tạo ramột công cụ hữu hiệu để người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội giao dịchvới cơ quan nhà nước thông qua môi trường điện tử một cách thuận lợi và minhbạch Qua đó thúc đẩy phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, tăng cường dịch vụcông trực tuyến, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, kích thích phát triển côngnghệ thông tin, tạo thói quen sử dụng thông tin trực tuyến.
Để hoạt động được, cổng TTĐT phải đảm bảo được ba yếu tố về tên miền,nơi lưu trữ cổng thông tin điện tử và cơ sở dữ liệu thông tin
Tên miền là một danh từ dịch theo kiểu nghĩa của từng từ một (Word byWord) từ tiếng Anh (Domain Name) Thực chất tên miền là sự nhận dạng vị trí củamột máy tính trên mạng internet, nói cách khác tên miền là tên của các mạng lưới,tên của các máy chủ trên mạng internet Tên miền thường gắn kèm với tên một đơn
vị cụ thể và được cấp phát duy nhất cho chủ thể nào đăng ký trước Theo quy địnhtại Điểm 2.2,a - Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT ngày 24 tháng 12 năm 2009 của
Bộ Thông tin và Truyền thông “Tên miền do tổ chức, cá nhân tự chọn để đăng kýphải đảm bảo không có các cụm từ xâm phạm đến lợi ích quốc gia hoặc không phùhợp với đạo đức xã hội, với thuần phong, mỹ tục của dân tộc; phải thể hiện tínhnghiêm túc để tránh sự hiểu nhầm hoặc xuyên tạc do tính đa âm, đa nghĩa hoặc khikhông dùng dấu trong tiếng Việt” Tại khoản 2 mục II - Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT ngày 24 tháng 12 năm 2009 quy định “Tổ chức, cá nhân đăng ký tên miềnchịu trách nhiệm về việc quản lý, duy trì quyền sử dụng tên miền của mình và phảichịu trách nhiệm trong bất kỳ trường hợp vi phạm nào về sử dụng tên miền củamình do quản lý lỏng lẻo gây ra”
Nơi lưu trữ cổng thông tin điện tử (web hosting) là nơi lưu trữ tất cả các nộidung cổng TTĐT, các thông tin, tư liệu, hình ảnh trên một máy chủ Internet tạiTrung tâm dữ liệu Dịch vụ lưu trữ cổng TTĐT đồng thời cũng là nơi diễn ra tất cảcác hoạt động giao dịch, trao đổi thông tin giữa những người sử dụng Internet vớinhau và hỗ trợ các phần mềm Internet hoạt động Nói tóm lại, đây là máy chủ dùng
Trang 18để lưu trữ tất cả thông tin, dữ liệu của cổng TTĐT đồng thời giúp cổng TTĐT luônđáp ứng được nhu cầu truy cập của người dùng 24/7.
Cơ sở dữ liệu thông tin cổng TTĐT tức là toàn bộ nội dung thông tin về hoạtđộng của cơ quan, đơn vị Nội dung cổng TTĐT được quy định cụ thể tại khoản 2Điều 28 Luật Công nghệ thông tin Cụ thể bao gồm: Thông tin giới thiệu về tổ chức,chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đó và của từng đơn vị trực thuộc; hệthống văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành và văn bản quản lý hành chính cóliên quan: hình thức văn bản, thẩm quyền ban hành, số ký hiệu, ngày ban hành,ngày hiệu lực, trích yếu, tệp văn bản cho phép tải về; thông tin về thủ tục hànhchính; thông tin tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn thực hiện pháp luật, chế độ,chính sách, chiến lược, quy hoạch chuyên ngành: toàn văn các chế độ, chính sách,chiến lược, quy hoạch chuyên ngành; danh mục địa chỉ thư điện tử chính thức củatừng đơn vị trực thuộc và cán bộ, công chức có thẩm quyền cần nêu rõ: họ và tên,chức vụ, điện thoại, địa chỉ thư điện tử chính thức; thông tin về dự án, hạng mụcđầu tư, đấu thầu, mua sắm công; mục lấy ý kiến góp ý của tổ chức, cá nhân
Như vậy, để một cổng TTĐT hoạt động được thì nhất thiết phải có ba yếu tố
cơ bản trên Nếu thiếu một trong ba yếu tố trên thì cổng TTĐT không thể hoạt động
1.2.2 Các tính năng của cổng thông tin điện tử
Tuy có nhiều loại cổng thông tin khác nhau, cung cấp nhiều loại dịch vụ vàứng dụng khác nhau, nhưng tất cả các loại cổng thông tin đều có chung một số tínhnăng cơ bản Theo tác giả Christian Wege và những tài liệu khác thì cổng TTĐT cómột số tính năng sau:
- Khả năng cá nhân hoá (Customization hay Personalization): cho phép
thiết đặt các thông tin khác nhau cho các loại đối tượng sử dụng khác nhau theo yêucầu Tính năng này dựa trên hoạt động thu thập thông tin về người dùng và cộngđồng người dùng, từ đó cung cấp các thông tin chính xác tại thời điểm được yêucầu
nội dung thông tin từ nhiều nguồn khác nhau cho nhiều đối tượng sử dụng Sự khác
Trang 19biệt giữa các nội dung thông tin sẽ được xác định qua các ngữ cảnh hoạt động củangười dùng (user-specific context), ví dụ như đối với từng đối tượng sử dụng saukhi thông qua quá trình xác thực thì sẽ được cung cấp các thông tin khác nhau, hoặcnội dung thông tin sẽ được cung cấp khác nhau trong quá trình cá nhân hoá thôngtin.
nguồn khác nhau, cung cấp cho người dùng thông qua các phương pháp hoặc giao thức(protocol) một cách thích hợp Một hệ thống xuất bản thông tin chuyên nghiệp phải cókhả năng xuất bản thông tin với các định dạng đã được quy chuẩn, ví dụ như RDF(Resource Description Format), RSS (Realy Simple Syndication), NITF (News IndustryText Format) và NewsXML Ngoài ra, các tiêu chuẩn dựa trên XML cũng phải được ápdụng để quản trị và hiển thị nội dung một cách thống nhất, xuyên suốt trong quá trìnhxuất bản thông tin Các tiêu chuẩn dựa trên XML này cho phép đưa ra giải pháp nhanhnhất để khai thác và sử dụng thông tin trên các
Website khác nhau thông qua quá trình thu thập và bóc tách thông tin với các định dạng đã được quy chuẩn
phép hiển thị cùng một nội dung thông tin trên nhiều loại thiết bị khác nhau như:màn hình máy tính (PC), thiết bị di động (Mobile phone, Wireless phone, PDA), sửdụng để in hay cho bản fax… một cách tự động bằng cách xác định thiết bị hiển thịthông qua các thuộc tính khác nhau Ví dụ: cùng một nội dung đó, khi hiển thị trênmàn hình máy tính thì sử dụng HTML, nhưng khi hệ thống xác định được thiếthiển thị là PDA hay mobile phone, hệ thống sẽ loại bỏ các ảnh có trong nội dung và
tự động chuyển nội dung đó sang định dạng WML (Wireless Markup Language) đểphù hợp cho việc hiển thị trên màn hình của thiết bị di động
xuất bản thông tin hoặc các dịch vụ khác của portal lấy thông tin về người dùng khi hoạtđộng mà không phải yêu cầu người dùng phải đăng nhập lại mỗi khi có yêu cầu Đây làmột tính năng rất quan trọng vì các ứng dụng và dịch vụ trong portal sẽ
Trang 20phát triển một cách nhanh chóng khi xuất hiện nhu cầu, mà các ứng dụng và dịch vụnày tất yếu sẽ có các nhu cầu về xác thực hoặc truy xuất thông tin người dùng.
tin cho người dùng cuối Tính năng này không chỉ đơn giản là thiết lập các giao diệnngười dùng với các chi tiết đồ hoạ (look-and-feel), với tính năng này, người quản trịphải định nghĩa được các thành phần thông tin, các kênh tương tác với
người sử dụng cuối, định nghĩa nhóm người dùng cùng với các quyền truy cập và
sử dụng thông tin khác nhau
quản trị người dùng cuối, tuỳ thuộc vào đối tượng sử dụng của portal Tại đây,
người sử dụng có thể tự đăng ký trở thành thành viên tại một công thông tin côngcộng (như Yahoo, MSN…) hoặc được người quản trị tạo lập và gán quyền sử dụngtương ứng đối với các công thông tin doanh nghiệp Mặt khác, tuỳ vào từng kiểuportal mà số lượng thành viên có thể từ vài nghìn tới hàng triệu
Hiện tại phương pháp phân quyền sử dụng dựa trên vai trò (Role-basedsecurity) được sử dụng như một tiêu chuẩn để cung cấp thông tin phân quyền sửdụng cho các đối tượng khác nhau trong các portal cũng như các ứng dụng Web
1.2.3 Thế mạnh và hạn chế của cổng thông tin điện tử
1.2.3.1 Thế mạnh của cổng thông tin điện tử
Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay, cổng TTĐT đóngvai trò quan trọng trong việc cung cấp và truyền tải thông tin Hệ thống cổng thôngtin điện tử hỗ trợ cộng đồng người dùng trực tuyến, các cán bộ, nhân viên, doanhnghiệp, người dân, cơ quan nhà nước dưới nhiều hình thức kết hợp khác nhau
Cơ sở hạ tầng cổng TTĐT giúp việc khởi tạo, tích hợp, quản lí và cá nhân hóa toàndiện các thông tin và ứng dụng cho mỗi người dùng riêng biệt phục vụ các nhu cầu
và sở thích của một cộng đồng riêng biệt Các lợi ích thực sự của hệ thống cổngTTĐT đem lại nhìn từ khía cạnh hiệu quả ứng dụng thực tế đó là:
- Nâng cao hiệu quả làm việc cho các cá nhân và tổ chức, đối tác nhờ truycập nhanh chóng, tích hợp tới các thông tin và ứng dụng liên quan, cũng như truy
Trang 21cập tổng thể tới tất cả các cá nhân, thông tin, tổ chức ở mọi nơi Bất kỳ ai, ở bất cứđâu, vào bất cứ thời gian nào, chỉ cần có máy tính nối mạng là có thể truy cập đượcthông tin Chính vì vậy, cổng thông tin điện tử rất cần thiết cho hoạt động truyềnthông về hoạt động một ngành, lĩnh vực cụ thể.
- Khả năng lưu trữ và tìm kiếm vượt trội: cổng TTĐT được hình thành trên
cơ sở phát hành nội dung thông tin trong lòng internet nên nó có khả năng lưu trữ
và tìm kiếm như internet Nhờ công nghệ mà công chúng dễ dàng tra cứu nhữngthông tin đã được phát hành thông qua các từ khóa cần tìm
- Cải thiện các tiến trình hợp tác nhờ luồng thông tin tốt hơn giữa con người
và các ứng dụng Với sự tích hợp đầy đủ thông tin về thủ tục hành chính và các dịch vụcông trực tuyến, kèm theo những hướng dẫn thực hiện mà người dân, doanh nghiệp chỉcần tải các biểu mẫu về, điền thông tin rồi gửi lại cho đơn vị quản lý Việc làm này giúpgiảm thiểu thời gian, tiết kiệm chi phí cho người dân
- Giảm gánh nặng của việc triển khai và quản lí thông tin và các dịch vụ ứngdụng trong một cơ quan, tổ chức Hiện nay, hầu hết các cơ quan nhà nước đều xem trangthông tin/cổng TTĐT là một kênh thông tin quan trọng phục vụ công tác quản
lý, điều hành và triển khai các văn bản pháp luật Thông qua việc triển khai các vănbản pháp luật trên cổng TTĐT đã hình thành một thư viện điện tử, giúp giảm giấymực và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
- Duy trì, quản lý, mở rộng, nâng cấp, tái sử dụng dễ dàng, tiết kiệm chi phíđầu tư để xây dựng lại hệ thống Đặc biệt, với sự vượt trội về công nghệ, cổngthông tin điện tử cho phép người sử dụng cập nhật nhiều thông tin hơn, dung lượnglớn hơn và kết hợp được nhiều cách thức truyền đạt (như đoạn video clip hay cácbiểu đồ, đồ thị…)
- Tốc độ truyền tải nhanh: với công nghệ hiện đại và các trang thiết bị đượccài đặt sẵn giúp quá trình cập nhật, truyền và nhận thông tin diễn ra nhanh chóng
- Về tính tương tác: Cũng như các phương tiện truyền thông đại chúng khác,cổng TTĐT cho phép người sử dụng tương tác dễ dàng Người sử dụng sẽ nhận
Trang 22được những thông tin cần thiết và hữu ích thông qua việc tương tác với cơ quan chủ quản cổng TTĐT.
1.2.3.2 Hạn chế của cổng thông tin điện tử
- Phụ thuộc vào kỹ thuật: để xem và gửi thông tin trên cổng TTĐT thì đòi hỏiphải có phương tiện kỹ thuật, chất lượng đường truyền, các phần mềm… Khi một trongnhững yếu tố này không đảm bảo thì việc truy cập thông tin trên cổng TTĐT cũng bị ảnhhưởng
- Phụ thuộc vào trình độ người sử dụng: Để sử dụng cổng TTĐT, ngườidùng phải có một số kỹ năng nhất định để tìm kiếm thông tin, tải thông tin và tương tácvới cơ quan chủ quản
- Về tính bảo mật: khả năng bị hacker tấn công cổng TTĐT là rất cao Bêncạnh đó, việc phát tán và lây lan virus máy tính cũng là một nguy cơ lớn
- Chưa là công nghệ hiện đại nhất: với sự phát triển vượt bậc của công nghệthông tin, cổng thông tin điện tử đến một giai đoạn nào đó sẽ có một công nghệ khác hiệnđại hơn thay thế Do đó, cổng TTĐT chưa là duy nhất và là giải pháp tốt nhất
1.3 Chức năng của cổng thông tin điện tử về khoa học và công nghệ trong hệ thống thông tin đại chúng
Chức năng (function) là tổng hợp của vai trò và tác dụng Có thể coi đó lànhững nhiệm vụ trọng tâm nhất, cơ bản nhất mà một sự vật, hiện tượng phải đảmnhiệm để nó là chính nó, chứ không phải là một thực thể nào khác
Cổng TTĐT Sở KH&CN được thành lập và đi vào hoạt động với mục đíchchính là truyền thông về hoạt động của ngành Tức là cung cấp thông tin về chủtrương, đường lối của Đảng, cơ chế, chính sách pháp luật của Nhà nước về pháttriển khoa học công nghệ; những thành tựu khoa học - công nghệ mới; các hoạtđộng dịch vụ về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; các dịch vụ hành chính công,dịch vụ công trực tuyến và các thông tin hoạt động của ngành Là một kênh thôngtin quan trọng của ngành, nên thông tin đăng tải trên cổng TTĐT phải là thông tinchính thống của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng Vì vậy, cổng TTĐT là
Trang 23một kênh thông tin, truyền thông đa phương tiện của một tổ chức, cơ quan nhấtđịnh, là tiếng nói của tổ chức, đơn vị, diễn đàn của các cơ quan hành chính nhànước và nhân dân trên internet Do đó, cổng TTĐT bao gồm các chức năng sau:
1.3.1 Chức năng quản lý hoạt động khoa học và công nghệ
Cổng TTĐT khoa học và công nghệ là công cụ để các Sở KH&CN tuyêntruyền về những chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước về hoạt độngkhoa học công nghệ; nơi trao đổi, chia sẻ thông tin giữa các phòng, ban, đơn vị trựcthuộc Sở; nơi cung cấp các thông tin hoạt động của ngành, thông tin các dịch vụ…phục vụ công tác chỉ đạo điều hành của lãnh đạo, phục vụ nhu cầu thông tin của các
cơ quan nhà nước, người dân và doanh nghiệp
Với cổng TTĐT, mọi hoạt động của cơ quan đều được cập nhật và lãnh đạo
từ trung ương đến địa phương và nhất là lãnh đạo cơ quan chỉ cần rà soát nhữngthông tin được cập nhật sẽ nắm bắt được các hoạt động của cấp dưới Chính sự tiệnlợi này mà nhà nước đã ban hành nhiều chương trình ứng dụng công nghệ thông tintrong cơ quan nhà nước
Để quản lý tốt hoạt động khoa học và công nghệ tại địa phương, hầu hết cáccổng TTĐT đều cập nhật thông tin những đề tài/ dự án đã và đang triển khai; cậpnhật các sáng kiến, giải pháp kỹ thuật đã được nghiên cứu ứng dụng; cập nhật cácdịch vụ khoa học công nghệ thiết thực nhất cho người dân và doanh nghiệp
Cổng TTĐT được xem là một kênh thông tin quan trọng trong việc cung cấpthông tin chính thống về chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật củaNhà nước; tổ chức thông tin, tuyên tuyền và thực hiện công khai, minh bạch cácchủ trương, chính sách, giải pháp trong chỉ đạo, điều hành của cơ quan nhà nước
1.3.2 Chức năng cung cấp thông tin
Đây là chức năng quan trọng vì mục đích của cổng TTĐT là cung cấp thôngtin phục vụ người dân, doanh nghiệp và chính quyền Chức năng cung cấp thông tincủa cổng TTĐT phải đảm bảo tính trung thực, chính xác, độ nhanh nhạy, kịp thời,hàm chứa nhiều tri thức… để phục vụ xã hội, đáp ứng nhu cầu thông tin của côngchúng
Trang 24Công chúng tìm đến cổng TTĐT Sở KH&CN trước hết là vì nhu cầu tìmhiểu thông tin liên quan đến vấn đề mà công chúng đang cần Nhà quản lý muốnbiết những thông tin hoạt động của ngành, các nhiệm vụ đang triển khai, các số liệubáo cáo Nhà khoa học muốn biết những phát minh khoa học mới, các đề tài đã triểnkhai Nhà doanh nghiệp muốn biết các thông tin về dự án đầu tư, chính sách hỗ trợcho doanh nghiệp, các công nghệ mới… Các cơ sở sản xuất, kinh doanh muốn biếtcác quy định về chất lượng hàng hóa, thủ tục cấp phép Người dân muốn biếtnhững thông tin về cây, con, giống mới; cách phòng chống dịch bệnh, các mô hìnhứng dụng khoa học kỹ thuật hiệu quả…Chính vì vậy mà thông tin trên cổng thôngtin điện tử không chỉ chính xác, kịp thời mà còn phải đa dạng và dễ hiểu.
Để đảm bảo chức năng này, các cổng TTĐT đều cung cấp đầy đủ thông tin
về hoạt động khoa học công nghệ, về văn bản pháp luật, về vốn tài liệu và nguồnlực thông tin liên quan đến hoạt động khoa học công nghệ Tức là những thông tinphục vụ tiến trình phát triển kinh tế - xã hội Đây thực sự trở thành kho tài nguyênphong phú để phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học, học tập, ứng dụng trong thựctiễn…
1.3.3 Chức năng tuyên truyền - giáo dục
Cũng như những cơ quan báo chí, cổng TTĐT của các cơ quan nhà nướcđều có những mục đích tuyên truyền rõ ràng cho từng đối tượng trong xã hội Dovậy, trong quá trình thực hiện chức năng cung cấp thông tin, cổng TTĐT cũng thựchiện nhiệm vụ tuyên truyền - giáo dục, giúp công chúng hiểu được các chủ trương,đường lối của Đảng và Nhà nước, hiểu được các văn bản pháp luật chuyên ngành
cụ thể, từ đó thực hiện theo pháp luật Đó là quá trình cung cấp kiến thức, mở rộnghiểu biết và nâng cao trình độ dân trí và góp phần cải thiện diện mạo văn hóa cộngđồng
Với ưu thế là kênh thông tin chuyên ngành, cổng TTĐT phổ biến nhiềuthành tựu khoa học công nghệ, hướng dẫn cách áp dụng, triển khai và chuyển giaocông nghệ Đặc biệt, thông qua việc giới thiệu những mô hình hay, những điển hình
Trang 25nghiên cứu sáng tạo trong lao động, sản xuất và học tập đã góp phần phổ biếnnhững cái hay, cái đẹp cho công chúng noi theo.
Đối tượng tuyên truyền - giáo dục của cổng TTĐT khoa học và công nghệkhông rộng khắp bằng đối tượng của báo chí, nhưng nó cũng bao gồm nhiều tầnglớp trong xã hội Trong đó có đối tượng là nhà khoa học, nhà quản lý, nhà doanhnghiệp và người dân…
1.3.4 Chức năng giao tiếp, tương tác
Với khả năng vượt trội về công nghệ, cổng TTĐT cho phép người sử dụngtrao đổi thông tin với cơ quan chủ quản cổng TTĐT về những vấn đề mình quantâm thông qua các chuyên mục như: thư điện tử, hỏi đáp trực tuyến, góp ý trựctuyến, dịch vụ công trực tuyến…cổng TTĐT trở thành một không gian công cộng
để mọi thành viên trong xã hội đều có thể tham gia trao đổi về một vấn đề nào đóliên quan đến hoạt động khoa học và công nghệ
Ở các cơ quan báo chí, hoạt động tương tác góp phần giúp các cơ quan báochí nói chung, mỗi nhà báo nói riêng hiểu hơn về công chúng và nhu cầu, thị hiếucủa họ Trên cơ sở đó, cơ quan báo chí điều chỉnh, bổ sung, thay đổi về nội dung,hình thức, mức độ thông tin, góp phần đáp ứng nhu cầu của bạn đọc, thu hút và tạodựng lòng tin với họ Bên cạnh đó, hoạt động tương tác mang đến cho cơ quan báochí một lượng thông tin rộng lớn, có giá trị đặc biệt từ phía bạn đọc Phóng viên cóthể kiểm định dựa trên việc nắm thông tin cá nhân do bạn đọc cung cấp, sau đó tựtìm hiểu và kiểm tra tính đúng đắn của thông tin, hoặc tiếp tục đề nghị bạn đọc cungcấp thêm thông tin, từ đó có thể sử dụng thông tin này một cách hiệu quả nhất
Trong khi hoạt động tương tác của cổng TTĐT lại được tập trung ở hoạtđộng hỏi - đáp, sử dụng các dịch vụ công được cung cấp để đáp ứng nhu cầu côngviệc cụ thể Chẳng hạn việc hỏi và đáp về một công nghệ mới, một thủ tục hànhchính mới hay việc tham gia góp ý về các văn bản pháp luật và sử dụng các bướcđăng ký hồ sơ, xin giấy phép trên dịch vụ công trực tuyến
1.3.5 Chức năng quảng bá hình ảnh cơ quan
Trang 26Thông qua việc giới thiệu chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, quá trìnhhình thành và phát triển, những thành tựu đạt được, những phần thưởng cao quý,những thông tin hoạt động… nhiều tổ chức, cá nhân đã biết đến lịch sử phát triểncủa cơ quan và các nhiệm vụ chính Nhiều nhà đầu tư đã tìm đến để hợp tác thôngqua việc giới thiệu các dự án đầu tư; nhiều doanh nghiệp và người dân đã biết và sửdụng các dịch vụ được đăng tải trên cổng thông tin điện tử.
1.4 Phương thức tổ chức và quản lý hoạt động của cổng thông tin điện tử
Từ Chỉ thị số 58/CT-TW ngày 17 tháng 10 năm 2000 của Bộ Chính trị vềđẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiệnđại hóa đến Luật Giao dịch điện tử (2005); Luật Công nghệ thông tin (2006); Nghịđịnh số 64/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về ứng dụngCNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước; Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày
28 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet
và thông tin điện tử trên Internet; Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm
2011 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyếntrên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước; Quyếtđịnh số 246/2005/QĐ-TTg ngày 06 tháng 10 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc phê duyệt Chiến lược phát triển CNTT-TT Việt Nam đến năm 2010 và địnhhướng đến năm 2020….đều nhằm mục đích đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thôngtin trong cơ quan nhà nước Vì vậy, các nội dung liên quan đến việc xây
Trang 27dựng và quản lý cổng thông tin điện tử đều được đề cập trong những văn bản phápluật trên.
Theo Nghị định số 64/2007/NĐ-CP, cơ quan nhà nước có trách nhiệm cungcấp công khai, minh bạch, kịp thời, đầy đủ và chính xác trên môi trường mạngnhững thông tin theo quy định của khoản 2 Điều 28 Luật Công nghệ thông tin; phápluật về phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và các quyđịnh khác của pháp luật về công khai, minh bạch thông tin Như vậy, các thông tincủa cơ quan nhà nước phải được công khai trên môi trường mạng Internet thôngqua trang thông tin điện tử hay cổng thông tin điện tử
Cơ quan nhà nước có trách nhiệm ban hành quy chế về chia sẻ thông tin sốnhằm bảo đảm sử dụng chung thông tin về quản lý, điều hành, phối hợp công tác vànhững thông tin khác một cách đồng bộ, thông suốt giữa các cơ quan nhà nước
Về trách nhiệm cung cấp, tiếp nhận thông tin trên môi trường mạng cũng được quyđịnh rõ: Cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp trên môi trường mạng; việc cung cấpthông tin được thực hiện theo nguyên tắc tạo điều kiện cho người dân tiếp cận nhanhchóng, dễ dàng, tránh phải cung cấp nhiều lần cùng một nội dung thông tin Và đặc biệt, cơquan nhà nước có trách nhiệm tạo thuận lợi cho các hoạt động trên môi trường mạng như:Tiếp nhận ý kiến góp ý, khiếu nại, tố cáo, yêu cầu cung cấp thông tin của tổ chức, cá nhân;lưu trữ, xử lý, cập nhật, cung cấp thông tin, trả lời các yêu cầu; chuyển yêu cầu cung cấpthông tin đến đúng cơ quan có liên quan nếu nội dung yêu cầu cung cấp thông tin vượt quáchức năng, nhiệm vụ hoặc quyền hạn của cơ quan mình
Như vậy, căn cứ vào Luật Công nghệ thông tin, Nghị định số
64/2007/NĐ-CP, việc thiết lập trang thông tin điện tử, cổng thông tin điện tử để cung cấp thôngtin cho người dân, doanh nghiệp là việc làm cần thiết
Về nguyên tắc quản lý, cung cấp và sử dụng thông tin điện tử, Nghị định số97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sửdụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet quy định: Việc thiết lập trangthông tin điện tử, việc cung cấp, truyền đưa, lưu trữ, sử dụng thông tin điện tử trênInternet phải tuân thủ các quy định của pháp luật về công nghệ thông tin, pháp
Trang 28luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về báo chí, pháp luật về xuất bản, pháp luật về bảo
vệ bí mật nhà nước, pháp luật về bản quyền, pháp luật về quảng cáo và các quyđịnh quản lý thông tin điện tử trên Internet
Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan cấp phép hoạt động cho các trangthông tin điện tử hay cổng thông tin điện tử theo quy định tại Nghị định số 97/2008/NĐ-CP Các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp muốn đăng ký thiết lập trang thông tinđiện tử hay cổng thông tin điện tử phải đáp ứng các yêu cầu tại Điều 21 Nghị định
số 97/2008/NĐ-CP gồm: Đơn đề nghị cấp phép, bản sao quyết định thành lập, sơyếu lý lịch của người đứng đầu tổ chức, đề án thiết lập trang thông tin điện tử haycổng thông tin điện tử, văn bản của cơ quan chủ quản và bản cam kết của ngườiđứng đầu tổ chức
Ngoài ra, để duy trì, phát triển và quản lý tốt các trang thông tin điện tử haycổng thông tin điện tử, nhà nước đã ban hành nhiều văn bản để điều chỉnh hoạtđộng này, tiêu biểu như:
- Thông tư số 26/2009/TT-BTTTT ngày 31 tháng 7 năm 2009 quy định vềviệc cung cấp thông tin và đảm bảo khả năng truy cập thuận tiện đối với trang thôngtin điện tử của cơ quan nhà nước Thông tư này quy định việc cung cấp thông tin vàđảm bảo khả năng truy cập thuận tiện đối với trang thông tin điện tử của cơ quannhà nước nhằm tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân dễ dàng khai thác, sử dụng thôngtin Việc cung cấp thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước trên trang thông tinđiện tử phải tuân thủ pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước
- Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27 tháng 8 năm 2010 của Thủ tướngChính phủ phê duyệt chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạtđộng của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011 - 2015 Mục tiêu của chương trình
là đến năm 2020, tích hợp các hệ thống thông tin, tạo lập được môi trường mạng rộngkhắp phục vụ đa số các hoạt động của các cơ quan nhà nước Hầu hết các giao dịch của
cơ quan nhà nước được thực hiện trên môi trường điện tử, mọi lúc, mọi nơi, dựa trênnhiều phương tiện khác nhau Hầu hết các dịch vụ công được cung cấp
Trang 29trực tuyến mức độ 3 và 4, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau.
- Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2011 của Chính Phủquy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin
điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước Nghị định này bao gồm
5 chương, 34 điều quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyếntrên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử và các điều kiện bảo đảmhoạt động cho cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước như: nhân lực, kinhphí, bảo đảm vận hành, duy trì
- Thông tư số 24/2011/TT-BTTTT ngày 20 tháng 9 năm 2011 của Bộ Thôngtin và Truyền thông quy định về việc tạo lập, sử dụng và lưu trữ dữ liệu đặc tả trên
trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước Dữ liệuđặc tả là những thông tin mô tả các đặc tính của dữ liệu như nội dung, định dạng,chất lượng, điều kiện và các đặc tính khác nhằm tạo thuận lợi cho quá trình tìmkiếm, truy cập, quản lý và lưu trữ dữ liệu
- Nghị định số 11/2014/NĐ-CP ngày 18 tháng 02 năm 2014 của Chính phủ
về hoạt động thông tin khoa học công nghệ (thay thế Nghị định 159/2004/NĐ-CPngày 31 tháng 8 năm 2004 của Chính phủ về hoạt động thông tin khoa học và côngnghệ) Nghị định này quy định về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ, baogồm: nội dung hoạt động, hạ tầng thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học
và công nghệ, các biện pháp bảo đảm phát triển, tổ chức và quản lý nhà nước vềhoạt động thông tin khoa học và công nghệ
1.4.2 Về mặt nội dung
Nội dung thông tin được xem là bộ phận cốt lõi của cổng thông tin điện tử,
để hoạt động được thì tất cả các cổng thông tin điện tử phải có nội dung thông tin
và cơ quan chủ quản luôn đảm bảo thông tin đúng theo tôn chỉ mục đích đã đề ra
Do đó, cổng thông tin điện tử ra đời nhằm thực hiện các nhiệm vụ chính trị về thôngtin chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với quần chúngnhân dân, doanh nghiệp và cung cấp thông tin cho các đối tác nước ngoài
Trang 30Nội dung của trang thông tin điện tử hay cổng thông tin điện tử được LuậtCông nghệ thông tin năm 2006 quy định như sau: Phải cung cấp đầy đủ thông tin về
tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan và của từng đơn vị trực thuộc;cập nhật hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành và văn bản pháp luật
có liên quan; quy trình, thủ tục hành chính được thực hiện bởi các đơn vị trựcthuộc, tên của người chịu trách nhiệm trong từng khâu thực hiện quy trình, thủ tụchành chính, thời hạn giải quyết các thủ tục hành chính; thông tin tuyên truyền, phổbiến, hướng dẫn thực hiện pháp luật, chế độ, chính sách, chiến lược, quy hoạchchuyên ngành; danh mục địa chỉ thư điện tử chính thức của từng đơn vị trực thuộc
và cán bộ, công chức có thẩm quyền; thông tin về dự án, hạng mục đầu tư, đấuthầu, mua sắm công; mục lấy ý kiến góp ý của tổ chức, cá nhân; danh mục các hoạtđộng trên môi trường mạng đang được cơ quan đó thực hiện theo quy định tạikhoản 1 Điều 27 của Luật công nghệ thông tin về hoạt động của cơ quan nhà nướctrên môi trường mạng
Như vậy để hoạt động, các trang thông tin điện tử hay cổng thông tin điện tửphải có những thông tin giới thiệu về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn của đơn vị; tóm lược quá trình hình thành và phát triển của đơn vị; thông tin vềlãnh đạo đơn vị và các phòng ban trực thuộc Phải cập nhật những tin, bài về hoạtđộng, các vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị; tuyêntruyền các hoạt động của ngành về các kết quả đạt được, về nhân tố mới, mô hìnhmới và những định hướng phát triển Phải được cập nhật những ý kiến chỉ đạo, điềuhành của thủ trưởng đơn vị; thông tin khen thưởng, xử phạt đối với cá nhân, tậpthể, doanh nghiệp trong lĩnh vực quản lý nhà nước hoặc theo chức năng đã phâncông của đơn vị Phải có những thông tin tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn thựchiện pháp luật, chế độ, chính sách, chiến lược, quy hoạch trong lĩnh vực cơ quanquản lý Phải cập nhật hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành và vănbản quản lý hành chính có liên quan; nêu rõ hình thức văn bản, thẩm quyền banhành, số ký hiệu, ngày ban hành, ngày hiệu lực, trích yếu, tệp văn bản cho phép tảivề; đồng thời phải cung cấp công cụ tìm kiếm văn bản
Trang 31Một trong những nhiệm vụ quan trọng của cổng thông tin điện tử là cung cấpthông tin về dịch vụ công trực tuyến, tức là thông báo danh mục các dịch vụ hànhchính công, các dịch vụ công trực tuyến đang thực hiện và nêu rõ mức độ của dịch
vụ để người dân, doanh nghiệp thuận tiện trong thực hiện các thủ tục hành chínhliên quan
Để thực hiện chức năng công khai minh bạch và là nơi để người dân, doanhnghiệp bày tỏ chính kiến, cổng thông tin điện tử phải cập nhật thông tin về dự án,hạng mục đầu tư, đấu thầu, mua sắm công; phải có chuyên mục lấy ý kiến góp ý đểtiếp nhận và phản hồi thông tin từ các tổ chức, cá nhân; phải cung cấp đầy đủ thôngtin giao dịch gồm: địa chỉ, điện thoại, số fax, địa chỉ thư điện tử chính thức để giaodịch với tổ chức, cá nhân
Ngoài ra, căn cứ vào tình hình và điều kiện thực tế, đơn vị có thể cung cấpcác mục thông tin khác phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của đơn vị
1.4.3 Về mặt kỹ thuật
Việc xây dựng cổng TTĐT của các cơ quan nhà nước là một trong những nộidung quan trọng của ứng dụng công nghệ thông tin, góp phần nâng cao tính minhbạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước, cung cấp đầy đủ, nhanh chóng, chấtlượng các thông tin, dịch vụ công trực tuyến nhằm phục vụ người dân và doanhnghiệp tốt hơn
Quy định về kỹ thuật đã được đề cập trong Luật Công nghệ thông tin, Nghịđịnh số 64/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về ứng dụngcông nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụngdịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet Để cụ thể hóa các quy định trongcác văn bản pháp luật trên, ngày 31 tháng 9 năm 2009, Bộ Thông tin và Truyềnthông đã ban hành Thông tư số 26/2009/TT-BTTTT quy định về việc cung cấpthông tin và đảm bảo khả năng truy cập thuận tiện đối với trang thông tin điện tửcủa cơ quan nhà nước
Trang 32Theo đó, trang thông tin điện tử hay cổng thông tin điện tử phải có các chứcnăng tối thiểu về: Hiển thị các thông tin chủ yếu; có khả năng tìm kiếm được đầy đủ
và chính xác nội dung thông tin, tin, bài cần tìm hiện có trên trang thông tin điện tử;phải thể hiện đầy đủ, chính xác cây cấu trúc các hạng mục thông tin của trang thôngtin điện tử và đảm bảo liên kết đúng tới các mục thông tin hoặc chức năng tươngứng; tiếp nhận, phản hồi thông tin từ các tổ chức, cá nhân; cung cấp đường liên kếtđến trang chủ, mục giới thiệu/liên hệ, sơ đồ trang thông tin điện tử tại mỗi trangthông tin; người sử dụng có thể in cả màn hình hiển thị hoặc riêng toàn bộ một tin,
bài theo chiều đứng (portrait) hoặc theo thiết lập riêng của máy in trên khổ giấy A4.
Khuyến khích có thêm chức năng cho phép lưu trữ tin, bài ra thiết bị lưu trữ
Về giao diện và bố cục, trang thông tin điện tử hay cổng thông tin điện tửphải đảm bảo thuận tiện cho người sử dụng; mục thông tin chủ yếu phải được bố tríngay trên trang chủ và ở vị trí thuận tiện cho người sử dụng dễ nhận thấy; bố cụcsắp xếp trang chủ trên màn hình bao gồm 5 phần: phần đầu trang ở phía trên cùng,phần thông tin bên trái, phần thông tin bên phải, phần thông tin chính ở giữa vàphần chân trang
Để đảm bảo tính thống nhất, phù hợp tiêu chuẩn và băng thông, Thông tư số26/2009/TT-BTTTT cũng quy định trang thông tin điện tử hay cổng thông tin điện
tử phải sử dụng Bộ mã ký tự chữ Việt Unicode theo tiêu chuẩn TCVN 6909:2001;
dữ liệu âm thanh, hình ảnh, tệp tải về cung cấp trên trang thông tin điện tử cần tuânthủ các tiêu chuẩn về ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước, hìnhảnh trên trang thông tin nên có kích cỡ nhỏ hơn 30 KB Nếu kích cỡ ảnh lớn hơncần sử dụng thanh trượt và cung cấp đường liên kết tới trang mới để trình diễn ảnhvới kích cỡ lớn hơn; dung lượng tổng cộng (bao gồm nội dung và file gửi kèm (nếucó) chứa mã HTML, XHTML, JavaScript, âm thanh, hình ảnh, ) tối đa cần tảixuống để thể hiện đầy đủ một trang thông tin trên máy tính của người dùng nên cókích cỡ nhỏ hơn 500 KB
Trang 33Để hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận thông tin, Thông tư số BTTTT yêu cầu: Các chức năng đều có thể thực hiện được từ bàn phím, cung cấpcác phím tắt để truy cập tới các chức năng tối thiểu trên trang thông tin điện tử(Trang chủ, sơ đồ trang thông tin điện tử, tìm kiếm, giới thiệu) Khuyến khích tíchhợp trên trang thông tin điện tử các công nghệ hỗ trợ người khuyết tật tiếp cậnthông tin Đảm bảo màu sắc và độ tương phản hợp lý Sự kết hợp giữa màu nền vàmàu chữ phải có độ tương phản rõ ràng để hỗ trợ người khiếm thị màu sắc dễ dàngnhận biết Hạn chế sử dụng màu sắc để nhấn mạnh nội dung trong một đoạn vănbản Khuyến khích có chức năng cho phép người sử dụng thay đổi được màu sắc và
26/2009/TT-độ tương phản giữa màu nền và màu chữ Cần cung cấp dòng văn bản (text) mô tả
nội dung thông tin tương đương cho các đối tượng không phải là đối tượng vănbản như biểu tượng, hình ảnh, phím xác nhận, chữ nghệ thuật, biểu đồ, đồ thị, vàtất cả các liên kết trên hình ảnh; dòng văn bản diễn tả nội dung thông tin chính củacác đối tượng thông tin âm thanh, video Không sử dụng chữ hay đối tượng nhấpnháy, chữ tự động chuyển động để đảm bảo có thể sử dụng được trình đọc màn hìnhkhi cần thiết Trình bày bảng dữ liệu và định hướng thông tin
Ngoài Thông tư này, Bộ Thông tin và Truyền thông còn ban hành nhiều vănbản khác để quy định về kỹ thuật trên trang thông tin điện tử hay cổng thông tinđiện tử như: Thông tư số 28/2009/TT-BTTTT ngày 14 tháng 9 năm 2009 của BộThông tin và Truyền thông quy định về việc áp dụng tiêu chuẩn, công nghệ hỗ trợngười khuyết tật tiếp cận, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông Thông tư
số 25/2010/TT-BTTTT ngày 15 tháng 11 năm 2010 của Bộ Thông tin và Truyềnthông quy định việc thu thập, sử dụng, chia sẻ, đảm bảo an toàn và bảo vệ thông tin
cá nhân trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhànước Thông tư số 01/2011/TT-BTTTT ngày 04 tháng 01 năm 2011 của Bộ Thôngtin và Truyền thông về việc công bố danh mục tiêu chuẩn kỹ thuật về ứng dụngCNTT trong cơ quan nhà nước Quyết định số 20/2008/QĐ-BTTTT ngày 09 tháng
4 năm 2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc ban hành danh mục tiêuchuẩn về ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước Công văn số 1654/BTTTT-
Trang 34ƯDCNTT ngày 27 tháng 5 năm 2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông hướngdẫn các yêu cầu cơ bản về chức năng, tính năng kỹ thuật của cổng thông tin điện tử.Công văn số 3386/BTTTT-ƯDCNTT ngày 23 tháng 10 năm 2009 của Bộ Thông tin
và Truyền thông bổ sung, điều chỉnh một số điểm tại công văn số ƯDCNTT, 1655/BTTTT-ƯDCNTT ngày 27 tháng 5 năm 2008 của Bộ Thông tin
1654/BTTTT-và Truyền thông Công văn số 1725/BTTTT-ƯDCNTT, ngày 4 tháng 6 năm 2010của Bộ Thông tin và truyền thông về việc hướng dẫn các yêu cầu cơ bản về chứcnăng, tính năng kỹ thuật cho hệ thống một cửa điện tử
Tiểu kết chương 1
Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và sự quan tâm lãnhđạo, chỉ đạo việc ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước của nhànước ta mà đến nay việc xây dựng trang TTĐT hay cổng TTĐT đã được triển khairộng khắp từ trung ương đến địa phương Trong đó, việc xây dựng trang TTĐT haycổng TTĐT tại 63 Sở KH&CN trong cả nước đã được thực hiện và phát huy đượctác dụng truyền thông về hoạt động KH&CN
Trong chương 1, tác giả đưa ra những lý thuyết cơ bản về truyền thông, vềcổng TTĐT Đã nêu ra các khái niệm, tính năng và chức năng kỹ thuật của cổngTTĐT Nêu ra những ưu điểm và nhược điểm của cổng TTĐT Luận văn cũng đãnêu ra các chức năng của cổng TTĐT trong hệ thống thông tin đại chúng Nêu racác cơ sở pháp lý để tổ chức, quản lý và duy trì hoạt động của cổng TTĐT
Những vấn đề cơ sở lý thuyết về cổng TTĐT được đề cập trong chương 1góp phần định hướng khung lý thuyết đúng đắn để luận văn nghiên cứu chi tiếttrong chương 2 và đề xuất các giải pháp truyền thông khoa học công nghệ hiệu quảtrên cổng TTĐT trong chương 3
Truyền thông khoa học công nghệ là một quá trình tác động qua lại liên tụcgiữa hai hay nhiều đối tượng để cùng nhau chia sẻ các thông tin, kiến thức, thái độ,kinh nghiệm và kỹ năng về khoa học cộng nghệ nhằm nâng cao nhận thức và thayđổi hành vi của đối tượng được tác động Vì vậy, việc xây dựng cổng TTĐT đểquản lý và cập nhật thông tin ngày càng giữ vai trò quan trọng trong hoạt động quản
Trang 35lý nhà nước, góp phần thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước trong việc truyềnthông khoa học công nghệ.
Tuy nhiên, việc cung cấp thông tin phục vụ nhà quản lý, nhà khoa học, ngườidân và doanh nghiệp đã được đầy đủ, nhanh chóng, chính xác và thoả mãn yêu cầucủa công chúng và yêu cầu của các văn bản nhà nước chưa thì cần tìm hiểu sâu hơnvấn đề này trong chương 2 của luận văn Từ khung lý thuyết ở chương 1 và nhữngkết quả nghiên cứu thực tế ở chương 2, luận văn đề ra những giải pháp truyền thôngkhoa học công nghệ hiệu quả trên cổng thông tin điện tử ba Sở KH&CN miền ĐôngNam Bộ
Trang 36CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA
BA CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CÁC SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ MIỀN ĐÔNG
Địa chỉ cổng TTĐT Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Nai là:
https://dost-dongnai.gov.vn (Phụ lục 1)
Trung tâm Tin học và Thông tin khoa học và công nghệ là đơn vị được SởKH&CN Đồng Nai giao nhiệm vụ duy trì và quản lý cổng thông tin điện tử
Cổng TTĐT có chức năng cung cấp, trao đổi thông tin chính thức, công khai
về hoạt động khoa học và công nghệ của tỉnh trên mạng Internet
Nhiệm vụ của cổng thông tin là: cung cấp đầy đủ và kịp thời các thông tin vềhoạt động khoa học công nghệ trên địa bàn tỉnh; các văn bản pháp luật, chủ trương,chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; công khai quy trình, thủ tục dịch
vụ và hành chính công; cung cấp thông tin chỉ đạo điều hành và tổ chức trả lời thưcủa công dân trên mạng liên quan đến hoạt động khoa học và công nghệ
2.1.1.2 Các chuyên mục chính
Trang 37Hiện cổng thông tin điện tử KH&CN Đồng Nai có 7 chuyên mục lớn, 4chuyên mục phụ và 11 modul về các nội dung liên quan đến hoạt động khoa học vàcông nghệ Cụ thể:
- Chuyên mục tin tức bao gồm: thông tin kinh tế - xã hội; tin khoa học côngnghệ trong nước; tin khoa học công nghệ trong tỉnh; tin khoa học công nghệ nước ngoài
và thời sự truyền hình Đây là chuyên mục được cập nhật tin, bài, hình ảnh hàng ngày.Nội dung phản ánh tất cả các thông tin nổi bật trong và ngoài nước về
hoạt động khoa học và công nghệ
- Cơ sở dữ liệu khoa học công nghệ bao gồm: Tư vấn khoa học và côngnghệ; an ninh thông tin; nhãn hiệu hàng hóa; hồ sơ thanh tra; hồ sơ giải quyết khiếu nại;hỏi đáp khoa học kỹ thuật; đề tài khoa học cấp tỉnh; đề tài khoa học cấp cơ sở; tập sankhoa học công nghệ; bản tin khoa học công nghệ; năng lực công nghệ Chuyên mục nàybao gồm tất cả những thông tin cần thiết về hoạt động khoa học công nghệ, nhất là thôngtin về các đề tài/dự án; thông tin về giải quyết khiếu nại của người dân; thông tin về cácnhãn hiệu hàng hóa đã được Cục Sở hữu trí tuệ
công nhận… Chuyên mục này được cập nhật ngay khi có các thông tin mới phátsinh
- Chuyên mục Hội thi - Giải thưởng: Cập nhật thông tin, thông báo, thể lệ, kếhoạch, quyết định khen thưởng, tài liệu tham khảo, tác phẩm/sản phẩm/sáng kiếnđạt giải… Hiện đã cập nhật thông tin của 8 hội thi/giải thưởng phục vụ đối tượng lànhững người có nhu cầu đăng ký tham gia các phong trào, hội thi và giải thưởngcủa tỉnh
- Chuyên mục thủ tục hành chính: Gồm những thủ tục hành chính về hoạtđộng KH&CN; Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng; sở hữu trí tuệ; thanh tra; pháttriển tiềm lực khoa học và công nghệ Chuyên mục này cập nhật đầy đủ thông tin vàbiểu mẫu các thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ trên địa bàntỉnh Đồng Nai đã được UBND tỉnh thông qua Người dân và doanh nghiệp có thểxem, tải nội dung và thực hiện các bước theo hướng dẫn sẵn có
Trang 38- Chuyên mục một cửa điện tử: là một phầm mềm mà người dân trực tiếp gửi
và nhận hồ sơ điện tử thông qua bộ phận này Nhiều thông tin, thủ tục hành chính
được cập nhật đầy đủ và thường xuyên
- Chuyên mục dịch vụ công: cung cấp dịch vụ công trực tuyến về cấp phépX-quang và đề tài khoa học Chuyên mục này nhằm giảm chi phí, tiết kiệm thời gian chodoanh nghiệp, nhà khoa học thông qua việc đăng ký trực tuyến các dịch vụ
- Chuyên mục tư vấn khoa học công nghệ: chuyên mục này tiếp nhận và giảiđáp tất cả các thắc mắc của người dân liên quan đến hoạt động khoa học công nghệ
và hoạt động của cơ quan
- Chuyên mục giới thiệu: bao gồm giới thiệu chung, các phòng ban, sơ đồ tổchức, Ban Giám đốc và quá trình phát triển Chuyên mục này giới thiệu chi tiết vềquá trình hình thành và phát triển; giới thiệu các đơn vị trực thuộc, giới thiệu nhân
sự Sở KH&CN Đồng Nai
- Chuyên mục bạn nhà nông: cập nhật những thông tin về lĩnh vực nôngnghiệp, những mô hình hay, hiệu quả và phổ biến các kỹ thuật mới cho người dân.Chuyên mục này được cập nhật thông tin thường xuyên
Ngoài ra, còn có các modul về: gương điển hình, chuyện kể về Bác Hồ, thôngtin chỉ đạo điều hành, lấy ý kiến về văn bản khoa học công nghệ, đầu tư - đấu thầu vàmua sắm công, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đào tạo sau đại học, đại hội
đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai, Nghị quyết Đảng và cuộc sống, cơ sở dữ liệu khoa học công nghệ
Đặc biệt còn có thư viện hình ảnh hoạt động và những video clip về hoạt động khoa học và công nghệ của tỉnh
2.1.2 Cổng TTĐT của Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
2.1.2.1 Lịch sử ra đời và phát triển
Ngay khi tách Sở KH&CN vào năm 2003, trang thông tin điện tử của Sở KH&CN thành phố Hồ Chí Minh cũng đi vào hoạt động Đến năm 2010, thực hiện
Trang 39chỉ đạo nâng cấp trang thông tin điện tử của UBND thành phố Hồ Chí Minh, SởKH&CN thành phố và nhiều sở, ngành khác đã nâng cấp trang thông tin điện tửthành cổng thông tin điện tử và tích hợp chung vào cổng thông tin điện tử của thànhphố.
Địa chỉ cổng TTĐT Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh là:
http://dost.hochiminhcity.gov.vn (Phụ lục 2)
2.1.2.2 Các chuyên mục chính
Cổng thông tin điện tử Sở KH&CN thành phố Hồ Chí Minh có nhữngchuyên mục như:
- Các chuyên mục: tin bài nổi bật, tin bài mới nhất, tin nhiều người đọc Đây
là những chuyên mục được nhiều người quan tâm bởi nó mang tính thời sự về hoạtđộng khoa học và công nghệ
- Các chuyên mục: quản lý khoa học; quản lý công nghệ; sở hữu trí tuệ; khoahọc công nghệ cơ sở; tái cấu trúc doanh nghiệp Các chuyên mục này được cập nhậtthông tin về hoạt động quản lý khoa học cấp thành phố, cấp cơ sở; thông tin về hoạtđộng sở hữu trí tuệ, tái cấu trúc doanh nghiệp
- Các chuyên mục: giới thiệu Sở; giáo sư, phó giáo sư; hoạt động KH&CN;
cơ quan hoạt động KH&CN; sở hữu công nghiệp; tiêu chuẩn, đo lường và chấtlượng; hàng rào kỹ thuật TBT; thông tin khác Các chuyên mục này ngoài việc cậpnhật những danh sách tập thể, cá nhân liên quan đến hoạt động của Sở còn tập trungcập nhật những tin, bài, hình ảnh về sở hữu công nghiệp, tiêu chuẩn, đo lường, chấtlượng
- Các chuyên mục: thông tin chung; quản lý khoa học; quản lý công nghệ - antoàn bức xạ; sở hữu trí tuệ Các chuyên mục này được cập nhật thông tin về hoạtđộng khoa học công nghệ của thành phố và của cả nước
- Chuyên mục thông tin cần biết bao gồm: các hoạt động KH&CN hàng tuần,văn bản pháp luật, thủ tục hành chính, quy định cấp phép X-quang y tế, sổ tayhướng dẫn khoa học công nghệ, tập sách KH&CN thành phố Hồ Chí Minh 30 năm
Trang 40và 35 năm Đây là chuyên mục mang những nội dung thông tin quan trọng phục vụ công tác nghiên cứu, tìm hiểu về hoạt động của Sở KH&CN.
- Các chuyên mục: công trình, đề tài KH&CN; phong trào sáng tạo kỹ thuật;quản trị tài sản trí tuệ; quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp; đổi mới công nghệđược cập nhật thông tin thường xuyên
- Chuyên mục thư viện hình ảnh và video clip là nơi chọn đăng những hìnhảnh đẹp và những video clip hay về hoạt động khoa học và công nghệ
- Ngoài ra, trên cổng TTĐT còn có các modul: Công báo; đóng góp ý kiến;hỏi đáp; góp ý văn bản quy phạm pháp luật; tổng điều tra cơ sở kinh tế hành chính sựnghiệp năm 2012; thủ tục hành chính; văn bản quy phạm pháp luật; thừa phát lại
thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng Sở là đơn vị được Sở KH&CN thành phố Hồ Chí Minh giaonhiệm vụ duy trì và quản lý cổng thông tin điện tử
Cổng TTĐT Sở KH&CN thành phố Hồ Chí Minh có chức năng cung cấp vàtrao đổi thông tin về hoạt động khoa học và công nghệ của thành phố trên mạngInternet
Nhiệm vụ của cổng TTĐT Sở KH&CN là: cung cấp kịp thời các thông tin vềhoạt động khoa học công nghệ trên địa bàn thành phố; các văn bản quy phạm phápluật của ngành khoa học và công nghệ trong triển khai thực hiện chủ trương, chínhsách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; công khai quy trình, thủ tục dịch vụ vàhành chính công; tổ chức trả lời thư của công dân trên mạng liên quan đến hoạtđộng khoa học và công nghệ
2.1.3 Cổng TTĐT của Sở Khoa học và Công nghệ Bình Dương
2.1.3.1 Lịch sử ra đời và phát triển
So với thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai thì Sở KH&CN Bình Dươngthiết lập trang thông tin điện tử muộn hơn Năm 2009, trước yêu cầu đẩy mạnh ứngdụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước thì Sở KH&CN BìnhDương cũng chính thức thiết lập và đưa trang thông tin điện tử của Sở đi vào hoạtđộng Đến năm 2012, để trang thông tin điện tử hoạt động hiệu quả hơn, Sở