1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tính cộng đồng của doanh nhân trẻ hà nội

151 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 209,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tính cộng đồng của các nhà tâm lý học phương Tây G.Hofstede 1980 người Hà Lan trong nghiên cứu tới hơn một trămnghìn nhân viên của hàng IBM ở 66 quốc gia, đã phát hiện ra bốn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN DIỆU HƯƠNG

TÍNH CỘNG ĐỒNG

CỦA DOANH NHÂN TRẺ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Hà Nội - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN DIỆU HƯƠNG

TÍNH CỘNG ĐỒNG CỦA DOANH NHÂN TRẺ HÀ NỘI

Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Tâm lý học

Mã số: 60.31.80

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hữu Thụ

Hà Nội - 2013

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TÍNH CỘNG ĐỒNG CỦA DOANH

NHÂN TRẺ HÀ NỘI

ngoài nước

Tây

nhân trẻ Hà Nội

Hà NộiTiểu kết chương 1CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 4

1 Một vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu

NộiTiểu kết chương 2CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN

tình cảm

đồng của doanh nhân trẻ

hìnhKẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: Bộ công cụ nghiên cứu

Phụ lục 2: Câu hỏi phỏng vấn sâu về hợp tác tương trợ

Phụ lục 3: Số liệu thống kê chi tiết (chọn lọc)

Phụ lục 4: Biên bản quan sát

Trang 6

Theo bản báo cáo “đánh giá nhanh chất lượng của khu vực kinh tế tưnhân Việt Nam qua quá trình mười năm thực hiện luật doanh nghiệp”của tổcông tác thi hành luật doanh nghiệp và đầu tư thì số lượng doanh nghiệp đăng

ký thành lập hàng năm tăng nhanh Tuy nhiên, số doanh nghiệp tồn tại đượctrên thực tế được ước tính xấp xỉ 50% và tỷ lệ này là thấp so với mức trungbình trên thế giới

Tại hội nghị sơ kết thực hiện nghị quyết Trung ương 5 (khóa 5) về “tiếptục đổi mới cơ chế, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh

tế tư nhân” diễn ra tại Hà Nội, ủy viên Bộ chính trị, Thường trực Ban Bí thưTrương Tấn Sang đã đánh giá cao về sức tăng trưởng của khu vực kinh tế tưnhân: “Kinh tế tư nhân đã phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng Đãthu hút được các nguồn lực vào sản xuất, kinh doanh tạo thêm việc làm, tăngthu cho ngân sách nhà nước, góp phần tích cực vào tăng trưởng nhanh của nềnkinh tế” Không có nhiều doanh nghiệp tư nhân bị phá sản trong suy thoái như

dự báo, trái lại, số lượng doanh nghiệp đăng ký, thành lập mới vẫn đạt mứctăng trưởng trung bình 22%/năm

Những con số do ông Ngô Văn Dụ, chánh văn phòng Trung ương Đảngnêu tóm tắt về tình hình phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong bảy năm qua

đã cho thấy những hiệu quả to lớn của khu vực này: nộp ngân sách tăng từ 6%

Trang 7

năm 2002 lên trên 11% năm 2008; đóng góp 46,9% vào GDP cả nước, tạoviệc làm cho trên 50% số lao động cả nước Chỉ riêng 3 năm 2007 - 2009, sốdoanh nghiệp tư nhân thành lập mới tăng 1,5 lần về số lượng và gấp 5 lần vềvốn đăng ký so với giai đoạn 2000 - 2005 Tổng số vốn đăng ký giai đoạn

2000 - 2008 của khu vực kinh tế tư nhân là 2.110 ngàn tỷ đồng, lớn hơn cảtổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng trong giai đoạn này Một thống kêkhác của bộ Kế hoạch và đầu tư cho thấy, trong tổng số 500 doanh nghiệp lớnnhất Việt Nam, số lượng doanh nghiệp tư nhân chiếm 24% năm 2008 và tăngrất nhanh lên 30% năm 2009

Trong điều kiện sản xuất, kinh doanh rất khó khăn trong 3 năm qua, và

so với những lợi thế của khu vực kinh tế nhà nước thì sự tăng trưởng đó rất có

ý nghĩa Rõ ràng, trong điều kiện thuận lợi hơn, và nếu được đối xử côngbằng hơn khu vực kinh tế tư nhân sẽ còn phát triển rất mạnh mẽ và đóng góphơn rất nhiều vào sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Chỉ nói về vấn đềgiải quyết việc làm thôi, theo phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng,hiện nay đã có gần nửa triệu doanh nghiệp tư nhân và nếu đến năm 2015 tănglên 1,2 triệu, mỗi doanh nghiệp chỉ cần tuyển dụng từ 12 đến 15 lao động thôi,thì đã tạo việc làm cho khoảng 15 triệu - 20 triệu lao động Chỉ riêng con sốnày đã cho thấy tầm quan trọng lớn đến thế nào của khu vực kinh tế tư nhân

Với khu vực kinh tế ngoài như nước hầu như không có hội nghị, hội thảonào để lắng nghe và giải quyết vướng mắc cho các doanh nghiệp khu vực này

Chính vì vậy rất cần những nghiên cứu mang tính khoa học về tính cộng đồng của doanh nhân, đặc biệt là doanh nhân trẻ tại Hà Nội trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế hiện nay.

Trang 8

2 Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu: Tính cộng đồng của doanh nhân thể hiện qua nhận

thức, xúc cảm và hành động của họ

2.2 Khách thể nghiên cứu: 100 doanh nhân trẻ trong các doanh nghiệp tư

nhân nhỏ và vừa tại Hà Nội và chuyên gia kinh tế, lãnh đạo Hội doanh nghiệptrẻ Hà Nội

3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn nội dung: khảo sát thực trạng, biểu hiện tính cộng đồng củadoanh nhân trẻ thông qua thông qua nhận thức, xúc cảm, tình cảm và hànhđộng của doanh nhân

-Giới hạn địa bàn nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện với doanhnhân trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa có độ tuổi từ 18 đến 45 tuổi tại HàNội

4 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận, thực trạng tính cộng đồng của doanh nhân trẻ HàNội, các yếu tố ảnh hưởng đến tính cộng đồng này Từ đó, đề xuất các biệnpháp tâm lý - xã hội nhằm nâng cao tính cộng đồng của doanh nhân trẻ HàNội hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu một số vấn đề về lý luận về tính cộng đồng của doanh nhântrẻ Hà Nội Các yếu tố ảnh hưởng đến tính cộng đồng này

-Khảo sát thực trạng tính cộng đồng trong doanh nhân trẻ Hà Nội

- Đề xuất biện pháp tâm lý - xã hội nhằm nâng cao tính cộng đồng của doanh nhân trẻ tại Hà Nội

6 Giả thuyết khoa học

Tính cộng đồng của doanh nhân trẻ Hà Nội hiện nay khá thấp Tính cộngđồng này phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan, trong

Trang 9

đó yếu tố chủ quan (như là: phẩm chất con người trong môi trường kinh

doanh: năng lực, tư duy, sự kiên trì, khả năng sáng tạo, thông minh, sắc sảo…;doanh nhân được đào tạo bài bản về kinh doanh: kỹ năng đàm phán - thuyếtphục, quản lý nhân sự, quản lý tài chính, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng giaotiếp, kỹ năng bán hàng…) là quan trọng nhất Nguyên nhân là do phần lớn cácdoanh nhân trẻ Hà Nội đều xuất thân từ nông dân, mang nặng tâm lý tiểunông, tư duy manh mún, cục bộ, ảnh hưởng rất nhiều đến tính cộng đồng củahọ

7 Phương pháp nghiên cứu

-Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản

-Phương pháp chuyên gia

-Phương pháp điều tra viết bằng bảng hỏi

-Phương pháp phỏng vấn sâu

-Phương pháp quan sát

-Phương pháp phân tích chân dung tâm lý

-Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học

Trang 10

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH CỘNG ĐỒNG

CỦA DOANH NHÂN TRẺ TẠI HÀ NỘI

1 Tổng quan nghiên cứu tính cộng đồng của doanh nhân

1.1 Một số nghiên cứu tính cộng đồng của các nhà tâm lý học ngoài nước 1.1.1 Nghiên cứu tính cộng đồng của các nhà tâm lý học phương Tây

G.Hofstede (1980) (người Hà Lan) trong nghiên cứu tới hơn một trămnghìn nhân viên của hàng IBM ở 66 quốc gia, đã phát hiện ra bốn khía cạnhcủa các biến thể văn hóa: khoảng cách quyền lực, né tránh bất định, tính cá

nhân và nam tính Dựa vào kết quả nghiên cứu, tác giả lập một “bản đồ” có

hai cực đối nhau về tính cộng đồng và tính cá nhân Cách tiếp cận này của

Hofstede thể hiện lối tư duy phương Tây và tỏ ra hạn chế, giản lược, xemcộng đồng/cá nhân như một khía cạnh mang tính đối lập Theo ông, các xã hộitheo xu hướng cộng đồng nhấn mạnh ý thức về cái “chúng ta”, sự đồng nhấttập thể, cộng đồng, sự phụ thuộc về mặt cảm xúc, đoàn kết trong nhóm, chia

sẻ, trách nhiệm và bổn phận, nhu cầu về tình bạn ổn dịnh, quyết định nhóm và

có tính đặc thù

Schwartz cho rằng trong những điều kiện nhất định thì tính cộng đồngthể hiện qua các mối quan hệ là rất quan trọng (như trong gia đình), còn trênthương trường chẳng hạn, thì các nguyên tắc theo xu hướng cá nhân có thểđược chấp nhận

Nghiên cứu của W.Gudykunst, Y.Yoon và T.Nishida (1987) cho thấy rằngnhững người theo xu hướng cộng đồng chú ý nhiều hơn tới sự khác biệt giữanhóm nội và nhóm ngoại Một số tác giả khác cũng tranh luận rằng nhữngngười theo xu hướng cộng đồng thường hay hợp tác và giúp đỡ thành viên củanhóm nội hơn nhưng lại thường hay cạnh tranh và ít giúp đỡ thành viên nhómngoại Tầm quan trọng của sự hài hòa trong nhóm nội đối với

Trang 11

những người theo xu hướng cộng đồng đã được chứng minh K.Leung (1987)chỉ ra rằng, khi xung đột, những người theo xu hướng cộng đồng thích thươngthuyết và thích dùng người trung gian hòa giải hơn rất nhiều so với những

người theo xu hướng cá nhân (giải quyết xung đột).

1.1.2 Nghiên cứu tính cộng đồng của các nhà tâm lý học Xô Viết

Tâm lý học Xô Viết thường đề cập đến tính cộng đồng trong khuôn khổcác nghiên cứu về lối sống E.V.Sorokhova (1987) trong bài “Lối sống xã hộichủ nghĩa và tâm lý học về con người” Các nghiên cứu này đã nêu ra nhữngđặc điểm con người theo lối sống xã hội chủ nghĩa bao gồm: phục vụ xã hội;phát triển toàn diện năng lực; trách nhiệm với xã hội; tương trợ lẫn nhau; tínhnhân văn đích thực trong tất cả các mối liên hệ xã hội Lối sống xã hội chủnghĩa mà Sorokhova nói tới là lối sống dựa trên nền tảng của chủ nghĩa tậpthể, định hướng tập thể trong đó con người hành động vì lợi ích của tập thể,cộng đồng Đối với các nhà xã hội học và tâm lý học Xô Viết thì yếu tố cơ bảnquyết định về chất của lối sống là mối liên hệ và tương tác lẫn nhau giữa tínhtập thể và tính cá nhân Khi bàn về nhân cách và lối sống, Sorokhova cho rằngtính tập thể, cộng đồng là một đặc trưng tâm lý xã hội cơ bản của con người

Xô Viết Mối quan hệ của con người với thế giới bên ngoài, với những ngườikhác và với chính bản thân mình đều được phản ánh trong đó Sự xuất hiệnmang xu hướng cộng đồng này là kết quả của một cuộc đấu tranh để thay thếcái cũ vốn được hình thành qua nhiều thế kỷ Biểu hiện của lối sống mangđịnh hướng cộng đồng ở Liên Xô, thời kỳ những năm 1960, 1970 của thế kỷtrước là quan hệ hợp tác, tương trợ lẫn nhau giữa những người nông dân

Kể từ khi Liên Xô sụp đổ, nước Nga đã có nhiều thay đổi mang tính chấtbước ngoặt Trong số các công trình tâm lý học liên quan đến tính tập thể,cộng đồng trong tâm lý học Xô Viết, trong chuyên khảo “Tâm lý học tập thể”A.I.Donxop (1984) cho rằng tính cố kết là vấn đề đáng quan tâm nhất trong

Trang 12

mối quan hệ giữa cá nhân và nhóm Theo ông, hành động hợp tác là biểu hiệnchủ yếu của nhóm, biểu hiện tính cố kết của nhóm Hợp tác không chỉ là mốiliên hệ tương hỗ khách quan trong các hoạt động chung của các thành viêntrong nhóm mà còn là một dạng động cơ đặc biệt: vì lợi ích chung Cùng vớihành động hợp tác, vấn đề quan trọng thứ hai biểu hiện tính cố kết là sự tương

đồng về định hướng giá trị và cách nhìn nhận Tác giả cho rằng “sự tương

đồng về các định hướng giá trị, tâm thế, quan điểm là cơ sở của lực hút ngườinày với người khác hoặc với cả nhóm về mặt tổng thể

Theo C Vlachoutisicos trong “Tính cộng đồng Nga - Một quả đấm vôhình trong quá trình biến đổi của nước Nga” thì người Nga có tính cộng đồngkhá cao, có nguồn gốc từ thế kỷ IX cho đến nay Điều kiện thiên nhiên khắcnghiệt và tình trạng phân tán, biệt lập của các làng ở vùng nông thôn đã làmngười Nga phải liên tục đối phó với những khó khăn và rủi ro Cuộc sống khókhăn kéo dài đã làm cho nhóm có ưu thế hơn cá nhân, vì sự sinh tồn của cảcộng đồng Biểu hiện của tính cộng đồng đầu tiên là trong dòng tộc, sau đó làcộng đồng nông thôn rồi tới tổ chức hợp tác của những người thợ và đến tậnnghị viện thời Sa Hoàng đệ nhị đầu thế kỷ XX Truyền thống của tính cộngđồng được tiếp diễn cả dưới thời Xô Viết qua phong trào tập thể hóa, tuy tínhchất có khác đi Tác giả phân tích một số mặt tích cực của tính cộng đồngNga, cũng đi sâu cả những hạn chế do nó gây ra trong quá trình chuyển đổicủa nước Nga hiện nay Như vậy, điều kiện sinh thái (cả về mặt xã hội lẫn địalý) của các cộng đồng dân cư có liên quan trực tiếp tới tính cộng đồng của họ

1.2 Một số nghiên cứu tính cộng đồng của các nhà tâm lý học trong nước

Có nhiều cách tiếp cận khi bàn luận và nghiên cứu về tính cộng đồng ởngười Việt Nam, nhưng nhìn chung có thể chia làm ba cách: cách tiếp cận xãhội - lịch sử, cách tiếp cận xã hội - văn hóa và cách tiếp cận nhân cách

Trang 13

Theo GS Phan Huy Lê, tính cộng đồng thể hiện trong toàn bộ đời sốngcủa người nông dân Việt Nam thời kỳ trung đại Còn tác giả Trần Đình Hượulại cho rằng, chính sự ổn định lâu dài của làng là cơ sở để tính cộng đồng làngngày càng được duy trì và củng cố Đi đôi với tính cộng đồng làng là ý thức

về cá nhân và sở hữu không phát triển cao

Các nghiên cứu ở trong và ngoài nước về người Việt Nam đều thống nhấtmột điểm: người Việt Nam có tính cộng đồng Phần lớn người Việt Nam sống

ở đầu thế kỷ XX thì cuộc sống ở cộng đồng làng xã là sự mô phỏng cuộc sốnggia đình Sự gắn két của người Việt Nam đối với nhà (gia đình) được lặp lạibởi sự gắn kết của họ với làng Các sợi dây ràng buộc người Việt Nam đối vớilàng của họ cũng vững chắc gần như các sợi dây ràng buộc họ với gia đình…Trong cuốn “Tâm lý cộng đồng làng và di sản” của Đỗ Long và TrầnHiệp (Nhà xuất bản Khoa học xã hội - H.1993), tâm lý cộng đồng trước đâytừng là chỗ dựa tinh thần mạnh mẽ, đáng tin cậy và đồng thời nó cũng tạo ramột sức ép to lớn, một sức ỳ trì trệ đối với sự phát triển nhân cách, thì ngàynay chúng ta phải làm gì để khẳng định vị trí và vị thế của mỗi người trong sựnghiệp giải phóng cá nhân và phải tạo lập cho họ những điều kiện như thế nào

để từ đó có thể trở thành những chủ thể độc lập, tự do thực sự trên con đườngphát triển

Tinh thần cộng đồng, tâm lý cộng đồng là một đặc điểm trong tâm thứccủa người Việt Nam Đặc điểm ấy thể hiện ở các tầng bậc từ vi mô đến vĩ mô,

từ lịch đại đến đương đại Tình cảm cộng đồng là một nhân tố tạo thành nănglực phối kết hợp Mục tiêu, điều kiện, phương thức, kết quả chiến đấu đã đòihỏi mọi người phải phát huy năng lực sáng tạo không chỉ của tập thể mà chínhbản thân mình Trí tuệ, ý chí, tình cảm, năng lực cộng đồng ở con người nếucòn những hạn chế ở lĩnh vực kinh tế xã hội, sản xuất kinh doanh, thì lại có

14

Trang 14

khả năng và điều kiện bộc lộ ở lĩnh vực chiến đấu và chuẩn bị chiến đấu Đócũng là những nét đặc thù của tâm lý cộng đồng làng nói chung.

Đặc tính nổi bật nhất của văn hóa Việt Nam là tính cộng đồng, được hìnhthành và ổn định trong quá trình lịch sử Tính cộng đồng là một nét tính cáchlớn của người Việt Nam Điều đáng lo nhất của người Việt Nam là bị cộngđồng lên án, dị nghị Khi tính cộng đồng được đề cao thì tính cá nhân của conngười bị mờ nhạt “Cái tôi” đứng đằng sau “cái ta” dể tăng sức mạnh và do đótrách nhiệm cá nhân, “cái tôi” cá nhân không có điều kiện bộc lộ Yếu tố cộngđồng trong tính cách làng xã đã chi phối toàn bộ và tạo ra nguyên tắc sốngbình quân chủ nghĩa, “xấu đều hơn tốt lỏi” Đây cũng là một nhân tố kìm hãm

cá nhân có năng lực phát triển Chủ nghĩa bình quân ngày càng tăng, củng cốthêm nét đố kỵ, nhỏ nhen của người tiểu nông và làm cho người ta níu kéonhau dẫn tới chỗ phải tự kiềm chế “cái tôi”, cái cá nhân, năng lực cũng nhưlợi ích, ham muốn chính đáng để chúng không lộ hình Tính cộng đồng củacon người biểu hiện đến mức chỉ đề cao cái đặc trưng “Phép vua thua lệlàng” là một biểu hiện của tính cục bộ Trong lịch sử Việt Nam, trong tínhcách của người tiểu nông, yếu tố cộng đồng trùm lên yếu tố cá nhân về mọiphương diện (đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội) kìm hãm sự phát triển toàndiện nhân cách con người

Tính cộng đồng biểu hiện trước hết trong gia đình rồi mới đến làng haynước Hầu hết các tác giả như Đào Duy Anh, Trần Quốc Vượng, Phan Huy

Lê, Trần Đình Hượu, Đỗ Long, Trần Ngọc Thêm… đều bày tỏ quan điểm(trực tiếp hay gián tiếp) nhất trí rằng tính cộng đồng là một đặc điểm nổi trộicủa người Việt Nam, của văn hóa Việt Nam

Nghiên cứu của Lê Văn Hảo (16) về tính cộng đồng, tính cá nhân củangười dân Hà Nội, đã chỉ ra một số khía cạnh về mặt nội dung và đặc điểm cơbản của tính cộng đồng/cá nhân biểu hiện ở người dân Hà Nội Kết quả

Trang 15

nghiên cứu này bước đầu giúp hiểu biết sâu hơn, cụ thể hơn một trong nhữngđặc điểm tâm lý - xã hội được coi là căn bản của con người Việt Nam hiệnnay Trong giai đoạn đất nước đang có nhiều thay đổi, các hiểu biết sâu sắchơn về con người Việt Nam lúc này mang ý nghĩa thiết thực trong việc pháttriển nguồn lực Có hiểu về thế giới nội tâm mới phát huy được nội lực và sứcmạnh của sự hợp tác, tương trợ Trong một mức độ nhất định, kết quả nghiêncứu cũng cho phép so sánh tính cộng đồng/cá nhân ở Việt Nam với các nướckhác trong khu vực và thế giới, để hiểu con người Việt Nam tốt hơn Trên cơ

sở lý luận và thực tiễn, nghiên cứu đã đưa ra một số kiến nghị theo hướng tiếpcận khoa học, khắc phục tính phiến diện thiên lệch trong nhìn nhận về tínhcộng đồng/cá nhân; có thể đưa ra một số hệ quả theo hướng sử dụng điểmmạnh và khắc phục điểm yếu của tính cộng đồng/cá nhân

Tính cộng đồng của người Việt dưới góc nhìn xa ̃hôị- văn hóa (17) Cộngđồng dân tộc Việt: Qua nhiều thiên niên kỷ, dân tộc Việt đã hình

thành và tự khẳng định hai quá trình lịch sử tiến triển song song: quá trìnhchung đúc các tộc người Môngôlôit và Nêgrôit ở bên trong, và quá trình tiếpbiến văn hóa với các nền văn hóa từ ngoài vào (acculturation) Mỗi nền vănhóa bao gồm nhiều giá trị được biểu tượng hóa (tín hiệu hóa) chi phối tư duy,ứng xử và giao tiếp trong một cộng đồng, khiến cộng đồng ấy không giốngnhững cộng đồng khác

Các nhà nghiên cứu Việt Nam đều thống nhất là giá trị văn hóa chủ yếucủa người Việt là tính cộng đồng với nghĩa là tinh thần cộng đồng dân tộc.Xin điểm qua sự biến diễn của tính cộng đồng Việt qua các thời kỳ lịch sử vàdấu ấn tích cực hoặc tiêu cực của nó cho đến nay

Thời kỳ hình thành cộng đồng Việt với văn hóa Đông Nam Á (Thiênniên kỷ thứ 1 trước Công nguyên) Bản sắc dân tộc (văn hóa) Việt hình thành

ở lưu vực sông Hồng, vào thời kỳ đồ đồng Đông Sơn, thuộc nền văn minh lúa

Trang 16

nước Đông Nam Á Không ít người nước ngoài, một số thanh niên Việt Nam,

kể cả một vài người trí thức Việt kiều, cho là không có bản sắc Việt vì trongsinh hoạt ngày nay, ăn, mặc, ở, chữ viết, tín ngưỡng… chỉ thấy toàn Tây, Tàu,

Ấn Độ, Mỹ v.v… kể cả tác phẩm dân tộc: Kiều cũng là của Tàu Nghĩ nhưvậy là không đi sâu vào quy luật biến diễn của văn hóa và ảnh hưởng của tiếpbiến văn hóa khiến cho không có nền văn hóa nào thuần khiết, kể cả các nềnvăn hóa lớn

Do địa lý, lịch sử, người Việt đã phải sớm tập hợp nhau chống lại thiêntai và ngoại xâm nên tính cộng đồng cao Tính cộng đồng này, qua hàng nghìnnăm, được nuôi dưỡng bởi nhiều giá trị văn hóa tạo ra những truyền thống gắn

bó người dân, có những yếu tố văn hóa này, như một nhà nghiên cứu Nhậtnhận định: “Giống như gió; chúng ta sống trong gió nhưng không nhìn thấygió” Xin điểm qua một vài yếu tố văn hóa từ thời xa xưa vẫn in đậm dấu chođến ngày nay ít ai ngờ

Tính cộng đồng gia đình lấy miếng trầu truyền thống làm biểu trưng.Một đám cưới hiện đại vẫn không thể bỏ lễ trầu và câu nhắc nhở nghĩa tình.Tính cộng đồng dân tộc còn được tăng cường qua ngôn ngữ, tín ngưỡng và lốisống nông dân lúa nước, còn tồn tại cho đến ngày nay mặc dù có những thayđổi về hình thức do vận động nội tại và ảnh hưởng ngoại lai Cái cốt vẫnkhông mất

Ngôn ngữ là công cụ hiệu quả để lưu truyền văn hóa cộng đồng Cónhững cộng đồng dân tộc (như Do Thái, Phần Lan) rất lâu không có lãnh thổ

ổn định mà vẫn vững bền do ngôn ngữ Tiếng Việt, tuy bị pha đến 60-70% từgốc Hán, vẫn là yếu tố văn hóa quan trọng đối với cộng đồng Việt, chống lạiHán hóa, Pháp hóa, Mỹ hóa… Không phải vô cớ mà Hồ Chí Minh dịch CroixRouge là Chữ Thập đỏ thay cho Hồng Thập tự Tiếng Việt mang một đặc thùkhông biết có ngôn ngữ nào khác trên thế giới có không; tính cộng đồng dân

Trang 17

tộc (kinship) mạnh đến mức ta không có đại từ ngôi thứ nhất và thứ hai chungcho mọi người (như je, vous tiếng Pháp; I, you tiếng Anh…) mà phải dùngtiếng xưng hô trong thân tộc thay: anh, chị, em, bố, mẹ, chú, bác…

Tín ngưỡng là yếu tố tâm linh gắn bó cộng đồng Cadière có lý khi nhậnđịnh tôn giáo thực của người Việt là tín ngưỡng bản địa từ xa xưa, mang tínhvật linh Ta thờ thần, thánh, ma, quỷ… như Thần đạo Nhật Bản Nhiều tục thờcúng tồn tại đến ngày nay (cúng Tổ tiên, thờ Mẫu…) gốc từ thời Thượng cổ…

có những làng còn vết tích tín ngưỡng phồn thực

Lối sống nông dân lúa nước, qua mấy nghìn năm, đã tạo ra cho cộngđồng một phong vị độc đáo, mặc dù có quá trình hiện đại hóa, 70% dân vẫn ởnông thôn Trồng lúa vẫn là cơ bản, kỹ thuật trồng trọt cải tiến nhiều nhưngvẫn từng ấy khâu

Văn hóa ẩm thực phát triển, du nhập nhiều cái mới, nhưng những món ăn

cổ truyền vẫn được ưa chuộng: nước mắm, mắm tôm, tương, cà, thịt cầy, raumuống, riêu cua, bún ốc… các lễ hội mùa xuân đề cao cộng đồng làng xã.Đặc biệt, Tết thể hiện rõ nét nhất bản sắc dân tộc Việt (ý kiến ông BorjeLunggren, nguyên đại sứ Thụy Điển ở Việt Nam) Ngày Tết, tất cả các ngườiViệt - ở trong và ngoài nước - đều cảm thấy sâu sắc hòa nhập trong cộng đồngViệt

Tính cộng đồng của người Việt trong thời kỳ tiếp biến văn hóa Trung Quốc (179 tr.CN-1858)

Ta tiếp biến văn hóa Trung Quốc qua giai đoạn 1000 năm Bắc thuộc vàgiai đoạn 900 năm các vương triều độc lập Khi hai nền văn hóa giao tiếp, nềnvăn hóa bản sắc yếu hơn bị mất nhiều ít, có thể bị tiêu hủy Bản sắc văn hóaViệt Đông Sơn đủ mạnh để tồn tại và phát triển Vậy về tính cộng đồng, tamất gì và được gì? Cũng nên nhận định ngay là trong lĩnh vực phức tạp conngười và văn hóa, cái được, cái mất nhiều khi không thể rạch ròi, cái mất cókhi lại là nguyên nhân cái được và ngược lại, do tác động biện chứng

Trang 18

Sự xâm nhập của văn hóa Hán sông Hoàng Hà là một cú “sốc” đối vớivăn hóa Việt - sông Hồng Ta mất nhiều giá trị văn hóa bản địa là chất keo gắn

bó dân tộc Điển hình cho tính chất tàn khốc của chính sách Hán hóa là nhữngbiện pháp tiêu diệt văn hóa đời Minh, thế kỷ XV: đốt sách vở thư tịch, đưasang Trung Quốc những trí thức và thợ giỏi… Nghịch lý là chính sự áp bứcbóc lột đã gián tiếp nâng cao tính cộng đồng Việt: hàng chục cuộc chiến vànổi dậy đã khiến cho dân tộc đoàn kết mạnh mẽ Hơn nữa, qua cuộc cọ xát,xung đột với văn hóa Hán, bản sắc dân tộc Việt đã được mài dũa để tự khẳngđịnh mạnh mẽ, đối lập Nam (Việt) với Bắc (Hán) Khổng giáo và Phật giáo dunhập có mặt phá hoại tín ngưỡng bản địa Việt, nhưng dần dần kết hợp với nó,

do vậy mà củng cố thêm tính cộng đồng người Việt

Mặt khác, Nho học tăng cường tính cộng đồng dân tộc do đào tạo nhữngcon người có nhân cách, biết đạo làm người, đặc biệt là có tư tưởng yêu nước.Thí dụ, thời Pháp thuộc, có nhiều thế hệ Nho học cương quyết đấu tranh vìđộc lập dân tộc (các thế hệ Văn thân, nhà Nho duy tân lớp trước với Phan BộiChâu, Phan Chu Trinh, lớp sau như Hồ Chí Minh - Tân học có Nho học nhưHoàng Xuân Hãn, Nguyễn Khắc Viện)

Phật giáo cùng cả Tam giáo, kết hợp với tín ngưỡng bản địa, là nền tảngtâm linh tăng cường tính cộng đồng người Việt Người dân thường không cầnhiểu biết triết lý sâu xa về sắc không; họ tìm đến ông Bụt để có nguồn an ủi.Làng nào cũng có đình thấm nhuần trật tự Nho học, chùa thờ Phật từ bi, nhưvậy thực hiện thăng bằng giữa lý trí và tình cảm Có một thực tế là mặc dùtriết học Phật giáo xa lánh việc đời, tránh sát sinh nhưng các nhà sư và Phật tửtham gia đánh giặc giữ nước, nêu cao tinh thần cộng đồng Phải chăng do dấu

ấn thiền tông hay do ảnh hưởng Nho giáo vào Phật giáo?

Tính cộng đồng Việt trong thời kỳ tiếp biến văn hóa Pháp (1858-1945)

Trang 19

Tính cộng đồng của người Việt thời kỳ Pháp thuộc tăng và giảm thế nào?Đây là thời kỳ hiện đại hóa, tức là Tây phương hóa (westernization) lần thứnhất, với ảnh hưởng văn hóa phương Tây chủ yếu đối với thị dân Ít nhiều đôthị hóa và công nghiệp hóa phá vỡ tính cộng đồng, tách riêng thành thị vànông thôn (bị coi là nhà quê lạc hậu) Mới đầu những nhà Nho phản ứngchống lại văn hóa “bút chì” để giữ lại “bút lông”.

Nhưng từ những năm 20, giáo dục và văn hóa “bút chì” với quốc ngữ vàtiếng Pháp đã ngự trị, mang thêm ít nhiều tính khoa học và dân chủ cho vănhóa Việt Chỉ tiếc là cho đến nay gần một thế kỷ, ta bỏ hẳn chữ Nho, cảnghiên cứu Hán Nôm cũng chưa làm được mấy để khai thác thư tịch Hán -Nôm đồ sộ Ta cũng bỏ nghiên cứu Khổng học đã từng là tinh hoa văn hóacộng đồng Việt hàng bao thế kỷ và hiện vẫn là động lực phát triển của TrungQuốc, Nhật Bản, Hàn Quốc v.v… Nhưng kết cục, qua tiếp biến văn hóa Pháp,cộng đồng Việt vẫn giữ được bản sắc và thêm phong phú

Trước hết, chính sách thực dân áp bức bóc lột thậm tệ khiến cho các tầnglớp nhân dân (kể cả một bộ phận tư sản, địa chủ) đoàn kết, phát huy truyềnthống yêu nước phục vụ cách mạng Lý tưởng Cách mạng Pháp 1789 và chủnghĩa Mác du nhập vào Việt Nam đã đổi mới tinh thần yêu nước và vũ trangcho phong trào yêu nước những tư tưởng và đường lối hiện đại

Tư tưởng dân chủ phương Tây được du nhập bao hàm cả tự do cá nhân.Yếu tố này phá hoại tính cộng đồng thân tộc truyền thống Khổng học, đòi hỏihôn nhân tự do và chống lại gia đình gia trưởng phong kiến “Cá nhân” (theokhái niệm triết học) do phương Tây tạo ra Đưa vào Việt Nam, nó đã tạo radòng văn học lãng mạn của cái Tôi và Thơ mới vào những năm 30

Tiến hóa luận của các trường phái dân tộc học cũ đã được chủ nghĩa thựcdân sử dụng để tự biện minh (khai hóa các dân tộc chậm tiến) Ý đồ thực dânchủ yếu là khai thác thuộc địa Nhưng qua tiếp biến văn hóa, cộng đồng Việt

Trang 20

đã tạo ra những giá trị văn hóa mới (khoa học tự nhiên và xã hội, văn nghệ, tổchức xã hội, chính trị…) để xây dựng một cộng đồng mạnh hơn từ 1945.

Tính cộng đồng Việt được gì và mất gì trong giai đoạn này?

Cái được vô cùng lớn là giành và giữ được độc lập, qua cách mạng thángTám và hai cuộc kháng chiến Đặc biệt từ những ngày khởi nghĩa tháng Tám

1945 đến đầu những năm 50: người Việt nói chung không còn cảm thấy hố xacách giàu nghèo, sang hèn, giai cấp Địa chủ hiến đất, tư sản hiến vàng, dâncông tải gạo, tải đạn, nông dân chia xẻ nhà với người tản cư, trong làng đêmngủ không cần đóng cửa Tính cộng đồng Việt lên đến điểm cao qua mấy chụcnăm xương máu Trong giai đoạn này cũng hình thành nền văn hóa dân tộc,khoa học và đại chúng (gắn tri thức với đại chúng)

Trong giai đoạn từ Đổi mới (1986) đến nay, Việt Nam được đánh dấu bởitoàn cầu hóa, khu vực hóa (gia nhập ASEM, 1995), và gia nhập khối Phápngữ Sự hòa nhập này khiến cộng đồng người Việt đứng trước khả năng mạnhhơn nhưng sẽ khó khăn

Việc đuổi theo kinh tế các nước Đông Nam Á, không tụt hậu - cạnh tranhtrong toàn cầu hóa, chính sách Đổi mới là chìa khóa mở đường giải quyết cácvấn đề trên Toàn cầu hóa nói chung có lợi cho các nước giàu và hại cho cácnước nghèo, mặc dù cũng đưa lại cho các nước này những cơ may (do điện tửhóa, thông tin, giao thông phát triển) Muốn gia nhập một thế giới gắn liềnvăn hóa và kinh tế, cộng đồng Việt phải vừa có khả năng hòa nhập vào cáichung, vừa mang lại được cho cái chung nét riêng của mình Cộng đồng Việtmuốn thành công về kinh tế, phải bảo tồn được và phát triển bản sắc văn hóaViệt

Tính cộng động của người Việt (hiểu theo nghĩa rộng: tính cộng đồngdân tộc Việt, lòng yêu nước) là một đặc điểm của bản sắc dân tộc Ta chưa đisâu nghiên cứu đặc tính của nó và so với tính cộng đồng của các dân tộc khác

Trang 21

Nghiên cứu cộng đồng Việt kiều ở ngoài nước có thể giúp ta hiểu thêm cộng đồng dân tộc Việt nói chung.

- Trong tính cộng đồng dân tộc Việt, dường như tính cộng đồng gia đình

là quan trọng nhất Điều này thấy rõ ở những gia đình Việt kiều ở Mỹ: Điểnhình sự thành công của gia đình người Việt ở Mỹ là: 5-6 năm đầu bố mẹ đilàm cật lực để cho con cái đi học, con cũng ra sức học tập để đền bù lại; vàsau gia đình trở nên khá giả Tính cộng đồng này thường cũng mở rộng ra giađình lớn rồi mới đến gia tộc và đồng hương Theo nghiên cứu của Y Higuchi,trình tự quan trọng trong quan hệ xã hội của người Việt là: 1 gia đình; 2 bạnbè; 3 trong lao động; của người Nhật là: 1 bạn bè; 2 gia đình; 3 trong laođộng

- Do tính cộng đồng Việt nặng về gia đình - gia tộc, quê hương, nhẹ mở

ra đến dân tộc (trừ trường hợp chống ngoại xâm, thiên tai…), nên sự đoàn kếtgiúp đỡ nhau ở nước ngoài của cộng đồng Việt kiều kém Hoa kiều hay DoThái (nhất là về mặt làm ăn, doanh nghiệp)

Người Hoa và người Do Thái có kinh nghiệm sống lưu vong, muốn tồntại phải đặt quyền lợi cộng đồng dân tộc lên trên chính kiến Người ta kể lại làtại các chợ Tàu ở Mỹ có những cửa hàng cạnh nhau bán sách báo, một bêntrưng bày ảnh Mao Trạch Đông, một bên ảnh Tưởng Giới Thạch Họ buônbán hòa thuận với nhau, Hoa kiều hai bên có hai tờ báo khác nhau, tổ chức haingày Quốc khánh, tránh xô xát để nước chủ nhà chấp nhận

- Riêng cộng đồng Việt ở Mỹ hàng năm gửi về nhà hơn 2 tỷ đôla Sựđóng góp có thể hơn nữa, ấy là chưa kể về chất xám và vốn doanh nghiệp…

Để tranh thủ cộng đồng Việt kiều cần tạo điều kiện để nó thành bộ phận hữu

cơ với người Việt trong nước Ta càng ngày càng có những biện pháp đúngđắn nhưng vẫn chưa đủ, nhất là về mặt tư tưởng - văn hóa (luôn gắn với kinhtế)

Trang 22

2 Một số vấn đề lý luận tính cộng đồng và tính cộng đồng của doanh nhân trẻ

2.1 Khái niệm cộng đồng

C.Marx và F.Angghen khẳng định rằng: “chỗ nào tồn tại một mối quan

hệ nào đó thì mối quan hệ ấy tồn tại đối với tôi Động vật không có quan hệvới cái gì cả và nói chung không có quan hệ gì hết” Quan hệ với tư cách làquan hệ chỉ thực sự hình thành và tồn tại ở con người, các cộng đồng người,trong xã hội loài người Đó là những quan hệ kinh tế, chính trị, tư tưởng, vănhóa, đạo đức, pháp lý, tâm lý Hoạt động kết hợp của nhiều cá nhân đượcquan niệm là hoạt động cộng đồng, hoạt động tập thể Các cộng đồng xã hội,các dân tộc khi đã trưởng thành đều hiện ra như là chủ thể của hoạt động củagiao tiếp

Cộng đồng có thể hiểu là sự kết hợp lại của các cá nhân Mối quan hệ này phụ thuộc vào trình độ phát triển về lực lượng sản xuất, phân công lao động và những mối quan hệ bên trong và bên ngoài của nó.

Tác giả Trần Ngọc Thêm định nghĩa “tính cộng đồng là sự liên kết cácthành viên trong làng lại với nhau, mỗi người đều hướng tới những ngườikhác - nó là đặc trưng dương tính, hướng ngoại” Theo cách hiểu này mỗi

Trang 23

người trong cộng đồng đều hướng tới người khác, vì người khác thì kết quả là

sẽ có sự liên kết ở cấp độ làng Rõ ràng đây là tính cộng đồng làng, cấp độnhóm lớn Đó là hiện tượng tâm lý - văn hóa rất quan trọng nhưng nó lạikhông cho phép ta hiểu rõ về tính cộng đồng trong nhóm nhỏ như gia đình.Phương pháp nghiên cứu trong tâm lý học rất khó tiếp cận từ “cái nhìn hệthống - loại hình” như trên

Trên bình diện tâm lý học, tác giả Đỗ Long quan niệm “tính cộng đồng

là một đặc trưng tâm lý xã hội của nhóm, thể hiện năng lực phối hợp, kết hợp

ở sự thống nhất của các thành viên trong hành động và làm cho các quan hệqua lại của các hoạt động diễn ra một cách nhịp nhàng nhất” Theo quan niệmnày thì tính cộng đồng là một đặc trưng tâm lý của nhóm Đó là một đặc điểmtâm lý của một cộng đồng gồm nhiều cá nhân kết hợp lại Nhờ có đặc điểmchung ấy mà các hoạt động của nhóm được thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn.Đặc trưng tâm lý này của tính cộng đồng khác về chất so với tổng của các đặctrưng tâm lý của từng cá nhân trong nhóm cộng lại Gần đây một số nhànghiên cứu trên thế giới đề xuất dùng khái niệm “vốn xã hội” hay “tư bản xãhội” (social capital) để chỉ một đặc điểm tâm lý của nhóm do đoàn kết, nhấttrí và sự hợp tác hiệu quả trong hoạt đông chung tạo ra Đó là cái cốt lõi củatinh thần cộng đồng của một nhóm hoặc của cả một dân tộc

Nói chung, nếu một người có nhận thức, có định hướng giá trị và hànhđộng ứng xử ưu tiên cho mục đích của nhóm cộng đồng hơn là mục đích của

cá nhân thì người đó mang tính cộng đồng hay chính xác hơn là xu hướngcộng đồng

Theo H.Triandis thì tính tập thể, cộng đồng là xu hướng của con người

ưu tiên cho:

- Cách nhìn nhận, nhu cầu và mục đích của nhóm nội hơn là bản thân

- Chuẩn mực xã hội và bổn phận do nhóm nội xác định hơn là hành động tạo sự vui sướng cho bản thân

Trang 24

- Niềm tin làm mình hòa chung với nhóm nội hơn là niềm tin phân biệt mình với nhóm nội.

- Sự sẵn sàng hợp tác với thành viên nhóm nội

- Gắn bó về mặt cảm xúc với nhóm nội

Từ những phân tích trên đây, chúng tôi cho rằng tính cộng đồng là xu hướng hướng tới người khác, tập thể, cộng đồng được thể hiện trong nhận thức của cá nhân; ưu tiên, coi trọng các giá trị tập thể, cộng đồng hơn các giá trị cá nhân; trong hành động hợp tác, giúp đỡ chia sẻ với người khác, ứng

xử và trong xúc cảm là sự gắn bó với tập thể, cộng đồng hơn là với cá nhân 2.3 Khái niệm doanh nhân: Trong suốt một thời gian dài, ở nước ta cũng như

các nước xã hội chủ nghĩa trước đây khái niệm về doanh nhân ít được bàn đếntrong khoa học xã hội Những năm gần đây, cùng với sự gia tăng mạnh mẽcủa các doanh nghiệp, khái niệm doanh nhân được nhắc đến trong nhiều côngtrình nghiên cứu

Theo từ điển “Bách khoa toàn thư” của Việt Nam: “Doanh nhân là ngườilàm nghề tổ chức sản xuất kinh doanh, cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho thịtrường, đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng”

Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay của nền kinh tế nước ta, khái niệmdoanh nhân vẫn còn là một khái niệm mở, thu hút sự quan tâm, bàn luận củanhiều nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn

Theo ông Nguyễn Đức Thạc, doanh nhân là chủ sở hữu cá nhân đối vớivốn - tiền bạc, tài sản, trí tuệ và cả quyền lực trong hoạt động chủ đạo sảnxuất, buôn bán để đạt được sự gia tăng không ngừng về lợi nhuận Nói cáchkhác, doanh nhân là những người lấy hoạt động kinh doanh làm hoạt độngchủ đạo và thực sự làm chủ các quan hệ kinh tế trong các cơ sở sản xuất, cácdoanh nghiệp, từ quan hệ sở hữu đến quan hệ điều hành và quan hệ phân phối

Trang 25

Theo ông Phùng Xuân Nhạ, ở nước ta hiện nay, doanh nhân được hiểu làmột cộng đồng xã hội Hầu hết doanh nhân được hình thành trong thời kỳ đổimới, gồm nhiều nhóm, nhiều người thuộc giai tầng khác nhau (có nhóm đạtcác tiêu chí của giai cấp hoặc tầng lớp tư sản dân tộc mới, có nhóm đạt mứctrung lưu, cũng có nhóm doanh nhân nghèo, có bộ phận còn là tiểu thương,nông dân hoặc trí thức…) hợp thành Cộng đồng doanh nhân không giốngnhau về địa vị xã hội, về quan hệ và quy mô sở hữu, về quyền quản lý, điềuhành, về mức độ và quy mô thu nhập và khác nhau về trình độ học vấn Vậy

có thể coi doanh nhân là một cộng đồng xã hội những người làm nghề kinhdoanh

Doanh nhân - từ này bắt nguồn từ tiếng Pháp “entreprendre” có nghĩa

là “đảm nhận” hay “hoạt động” Do đó một doanh nhân thường được dùng

để chỉ những người chấp nhận rủi ro để khởi đầu một công việc kinh doanh nhỏ.

Tuy nhiên khi cân nhắc việc trước đây (khoảng vài thế kỉ trước), cácdoanh nhân tập thể bao giờ cũng có nhiều ảnh hưởng hơn bất kì một chínhphủ quốc gia nào và được dễ dàng coi như là “những nhà sáng tạo ra thế giớihiện đại” thì định nghĩa này vẫn chưa đầy đủ

Thế nào là một doanh nhân? Một trong những định nghĩa đầy đủ vềdoanh nhân bao gồm các yếu tố sau : 1 Phối hợp những lợi thế đang có theomột cách mới và hiệu quả hơn; 2 Tạo ra nhiều giá trị hơn từ những nguyênliệu thô và nhân lực và trước đây bị coi là vô ích; 3 Cải thiện những gì đãxuất hiện với việc sử dụng các kĩ thuật mới; 4 Di chuyển tài nguyên kinh tế rakhỏi khu vực năng xuất thấp tới khu vực sản xuất hiệu quả và lớn hơn; 5 Cóphương pháp tìm kiếm và hưởng ứng lại những nhu cầu chưa được thoả mãn

và các đòi hỏi của khách hàng (18)

Trang 26

Không phải ai cũng có thể trở thành doanh nhân thực thụ được tuy rằng

có thể đào tạo họ, những doanh nhân thực thụ chân chính, có bản lĩnh Về mặtnào đó, có năng khiếu bẩm sinh, ít nhiều có tính chất cha truyền con nối, mặc

dù theo Macsan (nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh), kinh doanh khó có thể

là nghề cổ truyền Những doanh nhân chân chính theo đuổi sự nghiệp kinhdoanh suốt đời, bất chấp mọi thăng trầm, tuy rằng sự lấy lợi nhuận làm động

cơ hoạt động song, đó không phải là mục tiêu, lẽ sống tối cao của họ Họ say

mê kinh doanh không chỉ ham làm giàu, ăn mặc sung sướng mà chủ yếu vìthấy muốn thi thố tài năng hay nói như thuật ngữ khoa học, họ muốn tự thựchiện, tự thể hiện tài năng thiên phú của mình Họ sống giản dị, không phôtrường, thậm chí còn tằn tiện đến mức bủn xỉn theo cách nhìn của ngườingoài

Chúng tôi hoàn toàn tán đồng với quan điểm của ông Đức Uy, doanh nhân là những người sáng lập hoặc kế tục doanh nghiệp để điều hành công việc kinh doanh của doanh nghiệp ấy.

2.4 Khái niệm tính cộng đồng của doanh nhân trẻ Hà Nội

Tính cộng đồng của người Việt trong gia đình, gia tộc được rất nhiềungười thừa nhận Nhưng còn tính cộng đồng của các doanh nhân và doanhnghiệp Việt Nam thì một số tác giả đánh giá là “không cao”

Tính cộng đồng doanh nhân được hình thành do nhu cầu tự nhiên củađời sống kinh doanh và phù hợp với các quy luật cạnh tranh Chúng ta đangxây dựng nền kinh tế thị trường với nòng cốt là các doanh nghiệp mạnh, do

đó, mục tiêu xây dựng cộng đồng doanh nhân Việt Nam phải là sự phát triểnmỗi doanh nhân, mỗi doanh nghiệp trở thành một cá thể chuyên nghiệp

Việc hình thành tính cộng đồng kinh doanh Việt Nam bị cản trở bởikhông ít những yếu tố văn hoá lạc hậu và tiêu cực, trong đó có tâm lý tiểunông Tuy nhiên, vấn đề vẫn sẽ không được giải quyết nếu chúng ta tiếp tục

Trang 27

coi tâm lý tiểu nông là đối tượng để công kích, phê phán Chừng nào chưa xâydựng được các tiêu chuẩn đạo đức, văn hoá doanh nhân với tư cách là các cáthể hoàn chỉnh thì chúng ta chưa có được một nền văn hoá kinh doanh ViệtNam, tức là chưa có được một cộng đồng doanh nhân theo đúng nghĩa.

Chúng tôi cho rằng tính cộng đồng của doanh nhân trẻ (doanh nhân có tuổi đời từ 18 tuổi đến 45 tuổi) là xu hướng hướng tới người khác, tập thể, cộng đồng trong nhận thức của họ; ưu tiên, coi trọng các giá trị tập thể, cộng đồng hơn các giá trị cá nhân của doanh nhân; hành động, ứng xử và xúc cảm gắn bó với tập thể, cộng đồng hơn là với cá nhân.

Tóm lại, việc xây dựng tính cộng đồng doanh nhân mạnh là phát triểnnhững cá thể hoàn chỉnh không chỉ về năng lực, trình độ mà cả các tiêu chuẩnvăn hoá kinh doanh Cộng đồng doanh nhân phải được hình thành tự nhiên donhu cầu của cuộc sống chứ không phải do nhu cầu chính trị và trở thành nơi

ẩn nấp của cá thể yếu kém Do đó, việc xây dựng tính cộng đồng doanh nhânViệt Nam phải bắt đầu bằng việc nghiên cứu các tiêu chuẩn văn hoá của lựclượng doanh nhân để hoàn thiện và chuyên nghiệp hoá từng cá thể, cũng tức

là xây dựng nền văn hóa kinh doanh Việt Nam tiên tiến nhằm phát huy vai tròthực sự của các doanh nhân trong sự nghiệp phát triển đất nước

2.5 Một số đặc điểm tâm lý - xã hội của doanh nhân trẻ Hà

Nội Một số đặc tính tích cực của doanh nhân:

Luôn có ý thức kinh doanh mới

Nhiệt tình, năng động

Chịu trách nhiệm cao trước sự hưng vong của công ty

Lợi nhuận tối đa và nhu cầu thực hiện là các mục tiêu đạt được

Giao tiếp rộng rãi về phạm vi với các đối tác và ekip trực thuộc

Văn hóa rộng, hiểu biết nhiều

Thích giao lưu, học hỏi

Tuổi thành đạt là trên dưới 40

Trang 28

Nhìn chung, doanh nghiệp ngoài quốc doanh tồn tại và phát triển dướinhiều hình thức khác nhau: xí nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty tráchnhiệm hữu hạn, tổ hợp, hợp tác xã Trong đó các ngành nghề mà Nhà nướcquy định cho doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động, các doanh nhân HàNội chủ yếu đầu tư vào các ngành thương mại, dịch vụ, sản xuất tiểu thủ côngnghiệp và nông nghiệp; ngân hàng, vàng bạc đá quý Còn lại là các ngànhnghề kinh doanh khác như: du lịch, khách sạn, xây dựng, giao thông, điện lực,văn hóa, y tế.

Nhờ mở rộng các thành phần kinh tế, nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanhđược thành lập, phân bố rộng khắp trên các địa bàn quận - huyện Nhờ có vị tríbình đẳng với các thành phần kinh tế khác, doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở HàNội đã có “đất dụng võ” phát huy được tiềm năng trong nhân dân, mở thêm đượcnhiều ngành nghề mới, thu hút nhân lực nhàn rỗi, tạo sản phẩm, hàng hóa dồidào góp phần xây dựng nền kinh tế thủ đô ngày càng phát triển

Độ tuổi sung sức và nhạy cảm với thương trường và tính mạo hiểm cao

là yếu tố cho sự thành đạt và nghề nghiệp của doanh nhân trước khi lậpnghiệp kinh doanh cũng là yếu tố liên quan

Nghiên cứu những đặc điểm tâm lý của giới doanh nghiệp tư nhân khôngvới lý do duy nhất là giải tỏa thành kiến không đáng có đối với khu vực kinh

tế tư nhân mà trước hết về mặt phương pháp luận doanh nhân phản ánh, bộc

lộ những đặc tính tâm lý rõ rệt hơn so với giám đốc doanh nghiệp nhà nướcbởi vì cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước chưa thật sự tác độngmột cách triệt để đến khu vực doanh nghiệp nhà nước Tình trạng lãi giả, lỗthật, tình trạng cứu trợ khi chúng thua lỗ vẫn còn thấy Với sự thay đổi cơ bảncủa cơ chế thị trường thì doanh nghiệp tư nhân có thể xem như một kiểudoanh nghiệp đích thực vì sự lãi lỗ của nó quyết định số phận, hạnh phúc, tàisản, gia đình của giới doanh nhân Việc mô tả và phân tích về các khía cạnh

Trang 29

tâm lý của giới tư doanh không phải là đề cao các ông chủ tư nhân hơn cácgiám đốc quốc doanh Song thực tiễn thế giới và ở nước ta khẳng định mộtđiều chừng nào các giám đốc quốc doanh chưa phải là người do Hội đồngquản trị thuê sau khi sử dụng cơ chế tuyển chọn thì chưa có thể bộc lộ toàn bộbản lĩnh và năng lực kinh doanh của mình (7).

Bên canḥ những măṭtich́ cưcc̣ của doanh nhân trẻ, còn có những mặt hạn chếsau trong khi tiến hành hoaṭđôngc̣ kinh doanh:

-Thích làm theo phong trào

-Tâm lý tiểu nông, tư duy manh mún trong hoạt động kinh doanh

-Tính gia đình trong quản lý doanh nghiệp

-Tâm lý được chăng hay chớ

- Về mặt ý chí, không quyết đoán khi có nhiều ý kiến trái chiều để giải quyết một vấn đề

2.6 Cơ sở pháp lý của việc xây dựng tính cộng đồng của doanh nhân trẻ Hà Nội

Chính sách đối với phát triển các thành phần kinh tế là một bộ phậntrong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta Từ chỗkhông thừa nhận kinh tế tư nhân đến chỗ thừa nhận nó; từ chỗ thừa nhận kinhdoanh nhỏ ở một số ngành nghề, đến chỗ không hạn chế về quy mô và lĩnhvực mà luật pháp không cấm Từ chỗ cho làm, đến chỗ được làm, mỗi lầnthay đổi tư duy như vậy là một lần nhận thức của chúng ta được mở rộng, sâuthêm và kinh tế tư nhân cùng các thành phần kinh tế phát triển Những biếnđổi như vậy đã thúc đẩy các thành phần kinh tế đóng góp quan trọng vào tăngtrưởng kinh tế, giải quyết việc làm tạo cơ hội cho những chủ thể kinh tế, cácdoanh nhân mới năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, dám chịu tráchnhiệm với mình và với đất nước

Trang 30

Từ Đại hội VI đến nay, Đảng ta luôn luôn khẳng định thực hiện nhấtquán nền kinh tế nhiều thành phần với ý nghĩa nêu trên và được coi như mộtgiải pháp chiến lược góp phần giải phóng và khai thác mọi tiềm năng để pháttriển lực lượng sản xuất Nghị quyết Trung ương 6, khóaVI, chỉ rõ: "Trongđiều kiện nước ta, các hình thức kinh tế tư nhân, cá thể, tiểu chủ, tư bản tưnhân vẫn cần thiết lâu dài cho nền kinh tế và nằm trong cơ cấu nền kinh tếhàng hóa đi lên chủ nghĩa xã hội" Đại hội VIII của Đảng nêu 5 thành phầnkinh tế: Kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cáthể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân Đại hội IX của Đảng xác định, ở nước tahiện nay, cần phát triển 6 thành phần kinh tế, tức là ngoài 5 thành phần kinh tếnêu trên, có thêm thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và nhấn mạnhcác thành phần kinh tế đó đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng phát triển lâu dài, hợp tác vàcạnh tranh lành mạnh, trong đó kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngàycàng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Có thể nói đây làquá trình đổi mới tư duy kinh tế của Đảng có tầm quan trọng đặc biệt, nó tạođiều kiện cho mọi cá nhân, đơn vị, tập thể khai thác phát huy mọi tiềm năng,nội lực, tạo ra một tổng hợp lực thật sự cho việc phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đại hội toàn quốc Hội các nhà doanh nghiệp trẻ Việt Nam lần thứ III,nhiệm kỳ 2008 - 2011 được tổ chức trọng thể tại Thủ đô Hà Nội vào tháng 12

năm 2008 Với tinh thần “Đoàn kết - Khát vọng - Đột phá - Phát triển”, Đại

hội đã kêu gọi toàn thể hội viên và doanh nhân trẻ cả nước cùng đoàn kết,phát huy sức mạnh sáng tạo của tuổi trẻ, phấn đấu cùng nhân dân cả nướcthực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng, Nhànước đã đề ra, vì tương lai tươi sáng của đất nước, vì tương lai phát triển củagiới doanh nhân trẻ Việt Nam

Trang 31

Ba năm qua, cùng với những thắng lợi to lớn, toàn diện của công cuộcđổi mới và sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; được

sự quan tâm chăm lo của Đảng, Nhà nước, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và HộiLiên hiệp Thanh niên (LHTN) Việt Nam; công tác Hội và phong trào doanhnhân trẻ đã có bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng Đếnnay, đội ngũ doanh nhân trẻ đã lên tới trên 500 nghìn người, trở thành bộ phậnquan trọng, chiếm khoảng 75% đội ngũ lãnh đạo chủ chốt trong 380 nghìndoanh nghiệp tại Việt Nam Nhiều doanh nhân trẻ đang là lãnh đạo quản lý,điều hành các doanh nghiệp có quy mô lớn, có những doanh nghiệp có quy

mô hàng đầu quốc gia, đạt tầm cỡ khu vực Tổ chức Hội đã phát triển khôngngừng, đến nay đã có 66 Hội, Câu lạc bộ Doanh nhân trẻ hoạt động trên cảnước với gần 9.000 hội viên Từ năm 2009 đến nay, Hội các nhà Doanh

nghiệp trẻ Việt Nam đổi tên thành Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam (theo Quyết

định số 957/QĐ – BNV ngày 22/6/2009 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ).

Trước tình hình mới, có nhiều vấn đề về đổi mới kinh tế đang được đặt

ra và đòi hỏi giải đáp với tư duy mới, giải pháp mới về cả ba mặt cơ cấu kinh

tế, cơ chế quản lý và hội nhập kinh tế toàn cầu Đây là một vấn đề rất lớn, cần

có sự nghiên cứu, thảo luận một cách nghiêm túc để làm sáng tỏ, bảo đảm sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thành công

Trong toàn bộ sự nghiệp phát triển đất nước trong tình hình mới, cần

nhấn mạnh hơn nữa việc phát huy sức mạnh toàn dân tộc Phải chăng có thể

nói sức mạnh lớn nhất của chúng ta là dân tộc Việt Nam, là con người Việt Nam; và chỗ yếu nhất của chúng ta hiện nay là chưa phát huy được tốt sức mạnh to lớn ấy?

Đã qua rồi thời kỳ phân biệt đối xử như phân chia nền kinh tế thành xãhội chủ nghĩa và phi xã hội chủ nghĩa, phân chia doanh nghiệp thành doanhnghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh, với những quan điểm

Trang 32

“Thực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu” và “Xã hội do nhândân lao động làm chủ”, v.v Ngày nay, như Đại hội lần thứ IX và thứ X củaĐảng đã xác định: quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệhợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội donhân dân làm chủ; phát triển đất nước dựa trên sức mạnh đại đoàn kết toàndân tộc

Dựa vào dân, phát huy sức mạnh toàn dân tộc phải được coi là quanđiểm nền tảng trong mọi hoạt động của Nhà nước, trước hết là trong việc thiết

kế và thực thi hệ thống thể chế, chính sách kinh tế, xã hội, nhằm vào giảiphóng các lực lượng sản xuất trong các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh,không không biệt chế độ sở hữu và thành phần kinh tế, để mọi người dân ởmọi miền của đất nước, kể cả những người Việt định cư ở nước ngoài đều cóthể phát huy tài năng, trí tuệ, tiền bạc vào công cuộc phát triển đất nước

Nhà nước cần tập trung sức vào việc hoàn thiện hệ thống thể chế, chính

sách, truớc hết nhằm tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, vì năng lực cạnh

tranh quốc gia có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của sản phẩm

Năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực của một môi trường kinh tếchung của cả nước có thể bảo đảm phân phối hợp lý, có hiệu quả các nguồnlực, đạt và duy trì mức phát triển cao và bền vững Năng lực cạnh tranh quốcgia bao gồm nhiều yếu tố, được đánh giá bằng nhiều tiêu chí khác nhau trongtừng thời kỳ, song chủ yếu vẫn bao gồm những nội dung như: (1) độ mở củanền kinh tế; (2) vai trò của Nhà nước (trong đó có chính sách tài khóa, chấtlượng các dịch vụ của Chính phủ); (3) vai trò của thị trường tài chính; (4) mức

độ đầu tư cho nghiên cứu và triển khai; (5) kết cấu hạ tầng; (6) chất lượngquản lý; (7) số lượng và chất lượng lao động; và (8) hiệu lực của pháp

Trang 33

luật Vừa qua, theo công bố của Diễn đàn kinh tế thế giới, năm nay, Việt Namđược xếp thứ 77 trên 125 nền kinh tế, tụt ba hạng so với năm ngoái, trong đókết cấu hạ tầng xếp thứ 83, sẵn sàng về công nghệ thứ 85, sự minh bạch vềkinh doanh thứ 86 là vấn đề rất đáng quan tâm.

Chính vì vậy, hệ thống thể chế, chính sách cần được tiếp tục hoàn thiện,nhằm vào nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và phù hợp với các cam kết trong WTO Phải soát xét lại toàn bộ cácthể chế, chính sách, loại bỏ những quy định đang ảnh hưởng không thuận đến việc hình thành các loại thị trường và cơ cấu kinh tế mới; đề ra các giải pháp

về tự do hóa thương mại và đầu tư theo lộ trình cam kết trong WTO, để nước

ta rút ngắn thời gian bị coi là nền kinh tế phi thị trường đang bất lợi trong hội nhập; đồng thời không kém phần quan trọng là thực hiện những bảo hộ cần thiết không trái với các cam kết cho một số ngành và lĩnh vực còn yếu kém, nhất là nông nghiệp

Trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, cần đặc biệt nhấnmạnh các chính sách phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực cấp cao; vìnhư thực tế của nhiều nước trên thế giới đã cho thấy, muốn cạnh tranh giỏi,phải có nhân tài giỏi, từ những chủ doanh nghiệp, doanh nhân giỏi trongdoanh nghiệp đến nhân lực cấp cao hoạt động trong mọi lĩnh vực ở các ngành,các cấp Lãng phí chất sám, không chăm lo đào tạo và sử dụng nhân tài phảiđược coi là sự lãng phí lớn nhất, thậm chí là có tội đối với đất nước Do vậy,việc xây dựng thể chế, chính sách để chấn chỉnh giáo dục, đào tạo, nhất làgiáo dục đại học và các chính sách thiết thực trong sử dụng, đãi ngộ là hếtsức cấp bách

Đẩy mạnh cải cách hành chính Cải cách hành chính phải được thực

hiện với quyết tâm chính trị rất cao, vì tình trạng quan liêu tham nhũng nặng

nề đang gây ra nhiều trở ngại cho việc triển khai thực hiện hệ thống thể chế, chính sách đúng đắn.

Trang 34

Lâu nay, những việc rất quan trọng, từ sắp xếp lại bộ máy quản lý cho phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường, tách bạch giữa chức năng quản lý nhà nước với quản lý sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, chấm dứt sự canthiệp quá sâu và không cần thiết của dơ quan nhà nước vào hoạt động của doanh nghiệp cho đến việc làm trong sạch đội ngũ công chức, xóa bỏ tệ nạntham những đang phát triển tràn lan gây ra tốn kém về thời gian, tiền bạc và

cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp, v.v đã được đề cập từ nhiều năm nay, nhưng sự chuyển biến quá chậm Phải thấy rõ thực trạng nguy hiểm này để có quyết tâm khắc phục Nhiều giải pháp đã được đề ra; vấn đề hiện nay là tổ chức thi hành triệt để nhũng giải pháp đó

Trong các giải pháp, xin nhấn mạnh yêu cầu công khai, minh bạchtrong thể chế, chính sách Theo các cam kết khi gia nhập WTO, đã có yêu cầuminh bạch hóa chính sách (rõ ràng, minh bạch, cụ thể, dễ dự đoán): các quyđịnh pháp luật liên quan đến kinh doanh của doanh nghiệp phải được công bốcông khai, minh bạch để các bên chịu sự điều tiết của luật pháp đều nắmđược, có tiếng nói tham gia soạn thảo và tiên liệu được, thuận lợi cho việckinh doanh

Đây là một quy định mà luật pháp nước ta nêu ra từ nhiều năm naytrong việc soạn thảo và ban hành văn bản, nhưng việc thực hiện chưa thực sựnghiêm túc Từ nay, quy định này sẽ phải được thực hiện triệt để, vì sẽ đượcgiám sát chặt chẽ không chỉ bằng doanh nghiệp trong nước mà bằng cả cácdoanh nghiệp nước ngoài hoạt động trên đất nước ta, thông qua các quy địnhcủa WTO

Phát huy vai trò của các hội, hiệp hội ngành nghề Cho đến nay, ở nước

ta, vị trí và vai trò của các tổ chức xã hội dân sự này chưa được nhận thức rõ,thậm chí còn có những ý kiến kỳ thị, cho rằng đó là những tổ chức có thể gây

nguy hại cho công cuộc phát triển đất nước Chính vì vậy, cần thống nhất

Trang 35

nhận thức rằng đó là các hình thức tổ chức liên kết cộng đồng có tính chất tự nguyện, tự quản của doanh nghiệp, không vì mục tiêu lợi nhuận, nhằm phát huy tính năng động, tính tích cực xã hội của mỗi doanh nghiệp, để thực hiện các mục tiêu, quyền lợi và giá trị chung của từng cộng đồng doanh nghiệp, góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội phát triển bền vững đất nước Đó là những hoạt động để thực hiện những nhiệm vụ mà Nhà nước

không nên làm và nếu làm cũng kém hiệu quả; cũng là để bổ sung cho thịtrường, khắc phục những khiếm khuyết của thị trường Những tổ chức ấyđược gọi chung là “xã hội dân sự”, là một trong “ba trụ cột” của kinh tế thịtrường (Nhà nước, thị trường, xã hội dân sự)

Trong kinh tế thị trường, các tổ chức này sẽ có vị trí ngày càng quantrọng trong việc tư vấn, trợ giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh

và đảm nhiệm ngày càng nhiều những công việc, nhất là những dịch vụ công

mà cơ quan nhà nước sẽ chuyển giao để phục vụ doanh nghiệp đạt hiệu quảcao hơn; mặt khác, đó là thực hiện chức năng cầu nối của các tổ chức nàygiữa doanh nghiệp và cơ quan nhà nước, thông qua các hội, hiệp hội ngànhnghề mà thu hút ý kiến của doanh nghiệp đóng góp vào các chủ trương, chínhsách quản lý kinh tế, xã hội Từ thực tiễn hoạt động của các hội, hiệp hội hiệnnay, có hai loại vấn đề cần được quan tâm: (1) một mặt, cần tạo cho các cơquan công quyền thói quen làm việc và lắng nghe ý kiến của các tổ chức xãhội dân sự, mạnh dạn giao bớt việc cho họ; và (2) mặt khác, cần nâng caotrình độ của các tổ chức này, để ý kiến phát biểu có căn cứ thực tiễn, thể hiệntrung thực tâm tư, nguyện vọng của các thành viên, đồng thời thực hiện có

hiệu quả những công việc sẽ được chuyển giao

3 Biểu hiện tính cộng đồng của doanh nhân trẻ Hà Nội

Tính cộng đồng của doanh nhân trẻ Hà Nội được biểu hiện rất phongphú, đa dạng như nhận thức xã hội, nhu cầu xã hội, tâm trạng xã hội, tình

Trang 36

cảm, xúc cảm, hành động xã hội, dư luận xã hội… Tất cả những hiện tượngnày đều có vai trò điều chỉnh hành động của các thành viên trong nhóm xãhội, dẫn đến những hành động tương đối giống nhau ở họ trong giải quyết cáccông việc hàng ngày của đời sống xã hội, dần dần hình thành nên nếp sống,lối sống, phong tục, tập quán, thói quen của cả nhóm xã hội Tuy nhiên, dựatrên kết quả nghiên cứu của mình và qua trao đổi với các chuyên gia trong đềtài này, chúng tôi đi sâu phân tích ba mặt biểu hiện sau: nhận thức của doanhnhân về ý nghĩa, tầm quan trọng lợi ích của tính cộng đồng; Tình cảm, xúccảm với đồng nghiệp, với khách hàng, với xã hội; Hành động vì tập thể, vìcộng đồng, vì người khác của doanh nhân Ba mặt biểu hiện trên có tính liên

hệ biện chứng, khách quan, chi phối và ảnh hưởng lẫn nhau của các thành tốtrong tính cộng đồng của doanh nhân trẻ Hà Nội

Từ cách tiếp cận như vậy, trong nghiên cứu này, tôi quan tâm đến một

số biểu hiện tính cộng đồng sau đây của tầng lớp doanh nhân trẻ tại Hà Nội,

đó là:

- Nhận thức của doanh nhân

Nhận thức là một quá trình tâm lý, bắt đầu từ việc tiếp nhận các thôngtin bằng các giác quan, tiếp theo là sự phản ứng của cảm xúc, sự phân tích,đánh giá, tổng hợp… của tư duy để đưa đến cho con người những hiểu biếtnhất định về sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan hoặc chủ quan Vớicách hiểu như vậy, tôi tiến hành tìm hiểu nhận thức/đánh giá/nhìn nhận củadoanh nhân về một số đặc điểm có ý nghĩa đối với việc hình thành tính cộngđồng của tầng lớp xã hội này, đó là:

+ Nhận thức của doanh nhân về vai trò , ý nghĩa, tầm quan trọng và lợiích của tính cộng đồng đối với cộng đồng : tạo ra nhiều việc làm cho xã hội ;nâng cao trình độ ứng dụng khoa hocc̣ - công nghê c̣ở nước ta, cần tham gia các hoạt động nhân đạo trong xã hội; tuân thủ các quy định của pháp luật

Trang 37

+ Nhận thức của doanh nhân về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng và lợiích của tính cộng đồng đối với tập thể: kết hợp hài hòa lợi ích của cá nhân, lợiích của doanh nghiệp với lợi ích của toàn xã hội; lấy “chữ tín” làm trọngtrong quan hệ với bạn hàng và người tiêu dùng

+ Nhận thức của doanh nhân về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng và lợiích của tính cộng đồng đối với cá nhân: quan tâm và đảm bảo quyền lợi củangười lao động theo quy định của pháp luật

- Tình cảm/xúc cảm của doanh nhân

Hiểu một cách khái quát nhất, xúc cảm, tình cảm là những thái độ đặcbiệt thể hiện sự rung cảm của con người đối với những sự vật, hiện tượng cóliên quan tới sự thỏa mãn nhu cầu và động cơ của họ

Trong khi nhận thức chủ yếu phản ánh những thuộc tính và các mốiquan hệ của bản thân với xã hội thì xúc cảm, tình cảm phản ánh mối quan hệgiữa các sự vật, hiện tượng với nhu cầu, động cơ của con người Tình cảm,xúc cảm thực hiện chức năng tỏ thái độ của con người, tình cảm mang tính xãhội chứ không phải là những phản ứng sinh lý đơn thuần Xúc cảm, tình cảm

là nguồn động lực mạnh mẽ kích thích con người tìm tòi chân lý, nảy sinh vàbiểu hiện trong hoạt động, đồng thời tình cảm là một trong những động lựcthúc đẩy con người hoạt động Xúc cảm, tình cảm có quan hệ và chi phối toàn

bộ các thuộc tính tâm lý của nhân cách Xúc cảm, tình cảm chi phối tất cả cácbiểu hiện của xu hướng nhân cách (nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, niềm tin), làmặt nhân lõi của tính cách, là điều kiện và động lực để hình thành năng lực, làyếu tố có quan hệ qua lại với khí chất con người

Trong nghiên cứu cụ thể này, xúc cảm, tình cảm xã hội của doanh nhân được tập trung tìm hiểu ở những khía cạnh sau đây:

+ Xúc cảm, tình cảm của doanh nhân đối với cộng đồng: hy vọng manglại nhiều việc làm cho người lao động; phấn khởi với các cuộc vận động nhằmthúc đẩy kinh doanh trong nước phát triển

Trang 38

+ Xúc cảm, tình cảm của doanh nhân đối với đồng nghiệp: tình cảnhkhó khăn về vốn, nhân lực, kỹ thuật của các doanh nghiệp khác; mongmuốn cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh

+ Xúc cảm, tình cảm của doanh nhân đối với tập thể: lo lắng khi tệ nạn

xã hội làm mất đi một bộ phận người lao động trẻ

+ Xúc cảm, tình cảm của doanh nhân đối với bản thân: lo lắng khi doanh nghiệp gặp khó khăn

- Hành động của doanh nhân

Hiện có nhiều lý thuyết khác nhau về hành động xã hội Tuy nhiên, mộtcách khái quát nhất có thể xem hành động xã hội là hành động có ý thức, cóchủ tâm, đòi hỏi nỗ lực khắc phục khó khăn, thực hiện đến cùng mục đích đã

đề ra Hành động có tính mục đích rõ ràng và chứa đựng nội dung đạo đức

Hành động chủ quan của cá nhân hay nhóm xã hội được hình thành trên

cơ sở các mối quan hệ xã hội và sự thay đổi vị trí khách quan của cá nhân, củanhóm trong xã hội sẽ dẫn đến sự đổi mới hành động chủ quan của họ Vì vậy,người ta cho rằng, chỉ cần đem lại cho các cá nhân, các nhóm xã hội nhữngvai trò mới cũng có thể làm cho họ thay đổi hành động đối với một vấn đềnhất định Bên cạnh đó, hành động cũng có thể hình thành trong quá trìnhthoả mãn nhu cầu, trong quá trình phát triển nhận thức, thu nhập các nguồnthông tin khác nhau, trong giao tiếp liên cá nhân trong nhóm hoặc liên nhómvới nhau

Trong nghiên cứu cụ thể này, hành động của tầng lớp doanh nhân được xem xét theo những khía cạnh sau đây:

+ Giúp đỡ, tương trợ khi đồng nghiệp gặp khó khăn

+ Tham gia các phong trào xã hội: tình nguyện, tình thương như lá lànhđùm lá rách

+ Hỗ trợ, chia sẻ với cộng đồng thể hiện ý thức, trách nhiệm cao đối với quốc gia, dân tộc

Trang 39

+ Tham gia hoạt động của Hội Doanh nghiệp trẻ Hà Nội một cách tích cực, nhiệt tình, chủ động

+ Đấu tranh chống tiêu cực, các hành động vi phạm pháp luật (trốn thuế, hàng giả )

4 Các yếu tố ảnh hưởng tới tính cộng đồng của doanh nhân trẻ Hà Nội

4.1 Yếu tố khách quan

- Trong thực tế đang tồn tại một số rào cản ảnh hưởng đến quá trìnhliên kết tính cộng đồng của doanh nghiệp và doanh nhân trẻ, đặc biệt là yếu tốthể chế Vẫn còn có sự phân biệt giữa các doanh nghiệp tư nhân, ngoài quốcdoanh với quốc doanh trong đó, doanh nghiệp Nhà nước thường được ưutiên hơn Sự "cưng chiều" này nhiều khi khiến doanh nhân thuộc các thànhphần kinh tế khác nhau rất khó tìm được tiếng nói chung và tất yếu sự hợp táctrở nên rời rạc

- Ngoài ra, một yếu tố nữa ảnh hưởng đến tính cộng đồng của doanh

nhân chủ yếu xuất phát từ nội dung và phương pháp giáo dục của Việt Nam.Ngay từ khi trẻ em cắp sách tới trường đã được học về tính cộng đồng củangười Việt Nam trong đấu tranh xây dựng Tổ quốc Trong khi đó, lại quênviệc giáo dục tính cộng đồng trong xây dựng và phát triển kinh tế đất nướchoặc có đề cập thì cũng rời rạc và thiếu hệ thống

- Có những quan điểm nhìn nhận các yếu tố ảnh hưởng tới doanh nhântheo các khía cạnh của đời sống như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Tôicho rằng nhân cách của doanh nhân Việt Nam là một quá trình phát triển vănhóa của chủ thể hoạt động kinh doanh có sự đóng góp của các yếu tố tự nhiên,lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; chịu sự ảnh hưởng chung của conngười và văn hóa Việt Nam

- Trong tâm và trí của giới doanh nhân nói riêng, còn thiếu một tầmnhìn hướng ra biển và ý chí khai thác biển sâu, vượt đại dương để làm giàu và

Trang 40

phương thức làm giàu từ đại dương, làm giàu xuyên đại dương và quốc gia.Đây là yếu tố mới cần được xây dựng trong nhân cách doanh nhân Việt Namthời kỳ hội nhập quốc tế.

Do có một ví trị chiến lược như vậy nên đất nước ta luôn luôn bị cácthế lực bên ngoài nhòm ngó với mưu đồ thôn tính, đồng hóa Khoảng 2/3 lịch

sử thành văn của nước ta thuộc về các cuộc kháng chiến bảo vệ đất nướ hoặc

là cuộc chiến tranh chống lại bộ máy thống trị ngoại bang Điều kiện địa chính trị đặc thù này đã in đậm trong tâm trí và tính cách doanh nhân ViệtNam cái tâm lý làm ăn trong thời chiến và lối ứng xử theo kiểu du kích; kinhdoanh thường muốn giữ bí mật, “đánh nhanh, thắng nhanh”; trong quan hệvới giới quyền lực thì thích luồn lách, “đi đêm” và “chạy cửa sau” cho dễthắng

Xã hội Việt Nam luôn bị ảnh hưởng, chi phối bởi một di sản văn hóatruyền thống rất mạnh mẽ và sâu nặng, được tích tụ và truyền nối hàng nghìnnăm lịch sử; được hình thành trên một cơ sở hạ tầng của một nền nông nghiệptruyền thống Đời sống cá nhân, tâm lý hành vi của giới doanh nhân nước tahiện nay không thể không chịu ảnh hưởng của các thiết chế và giá trị xã hội

có từ thời kỳ đầu lập quốc, trước hết là bộ ba: nhà - làng - nước

Nhà (gia đình, mở rộng ra là gia tộc, họ hàng) vừa là giá trị văn hóatrung tâm, là hệ điều tiết trực tiếp và mạnh mẽ nhất hành động vừa là mô thức

tổ chức cộng đồng đối với mọi người Việt Nam Lối sống trọng tình hơn lýcủa người Việt có quan hệ hữu cơ, nhân quả với phương thức tổ chức xã hộitheo kiểu gia đình Tổ chức nhân sự theo mô hình hộ gia đình, gia trưởng cóhiệu quả không chỉ trong lao động nông nghiệp mà còn cả trong hoạt độngthương mại, công nghiệp nhỏ Nhưng vượt quá giới hạn, phạm vi doanhnghiệp nhỏ và vừa thì quản trị kiểu gia đình và văn hóa gia đình đã lộ ra nhiềubất cập hoặc không thể hiện được sự ưu việt của nó Doanh nhân nước ta có

Ngày đăng: 27/10/2020, 22:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w