1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thời gian và không gian nghệ thuật trong sử thi ramayana của ấn độ

118 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 478,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi tôi có cơ hội hợp tác với Viện Văn hóa Nghệ Thuật Việt Nam để thực hiện dự án “Thu thập Văn hóa Phi vật thể vùng ngập thủy điện Sơn La” 2007 - 2009 nhằmthu thập thông tin và phục dựn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA LỊCH SỬ -

PHẠM THỊ LÊ

SỬ DỤNG CÔNG CỤ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG GIÚP NGƯỜI DÂN GIỮ GÌN BẢN SẮC DÂN TỘC (TRƯỜNG HỢP NGƯỜI THÁI Ở BẢN KHOAN, XÃ MƯỜNG SẠI, HUYỆN QUỲNH NHAI, TỈNH SƠN LA

Chuyên ngành: Dân tộc học

Mã số: 60 22 70

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ SỸ GIÁO

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳcông trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2010Tác giả luận văn

Phạm Thị Lê

Trang 3

Tôi cũng trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo tại Bộ môn Dân tộc học, Khoa Lịch

sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã chỉ bảo, động viên khích lệ và tạođiều kiện tốt nhất cho quá trình học tập của tôi

Luận văn này cũng không thể hoàn thành nếu không có những người thân tronggia đình và các bạn bè của tôi, những người bằng nhiều cách khác nhau đã giúp đỡ vàđộng viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu của mình

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

3 Đối tượng, phạm vi, địa bàn nghiên cứu 9

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 9

5 Kết cấu của luận văn 10

CHƯƠNG 1: 12

KHÁI QUÁT VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ NHANH CÓ SỰ THAM GIA (PRA) VÀ ỨNG DỤNG CỦA NÓ TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HÓA 12 1.1 Lịch sử của phương pháp Đánh giá nhanh có sự tham gia (Participatory Rapid Appraisal - PRA) 12

1.2 Định nghĩa PRA 13

1.3 Các đặc điểm của PRA 13

1.4 Các công cụ thuộc phương pháp PRA được sử dụng trong phạm vi luận văn 15

1.4.1 Số liệu thứ cấp 15

1.4.2 Quan sát trực tiếp 16

1.4.3 Vẽ bản đồ thôn bản 16

1.4.4 Lập bản lược sử của cộng đồng 17

1.4.5 Lập lịch thời vụ 17

1.4.6 Thảo luận nhóm 18

1.4.7 Phỏng vấn sâu 19

1.4.8 Ma trận xếp hạng ưu tiên 20

Trang 5

1.5 Ứng dụng các kỹ thuật phương pháp PRA

1.5.1 Thiết lập lịch trình

1.5.2 Làm việc với đối tác Địa phương – những người dân tham gia nghiên cứu thực địa

1.5.3 Đào tạo kỹ năng sử dụng công cụ PRA cho các nhà nghiên cứu địa phương

1.5.4 Tiến hành khảo sát thực địa

CHƯƠNG 2:

NHỮNG NÉT VĂN HÓA VẬT CHẤT TRUYỀN THỐNG HIỆN DIỆN QUA CON MẮT CỦA CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU ĐỊA PHƯƠNG

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu

2.2 Văn hoá vật chất truyền thống trong xã hội hiện đại

2.2.1 Nhà ở (hướn)

2.2.2 Trang phục

2.2.3 Ăn - uống - hút

2.2.4 Phương tiện vận chuyển, nông ngư cụ và đồ dùng sinh hoạt

CHƯƠNG 3:

NHỮNG NÉT VĂN HÓA TINH THẦN HIỆN DIỆN QUA CON MẮT CỦA CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU ĐỊA PHƯƠNG

3.1 Thế giới quan - Nhân sinh quan

3.2 Các kiến thức bản địa về nông nghiệp và tín ngưỡng

3.3 Nghi lễ vòng đời

3.3.1 Những nghi lễ trong sinh đẻ

3.3.2 Nghi lễ trong hôn nhân

3.3.3 Tang ma

Trang 6

3.3.4 Âm nhạc và diễn xướng dân gian 79

3.3.5 Tri thức dân gian 81

CHƯƠNG 4: 83

XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN TẠI 83

4.1 Mường – Tổ chức xã hội truyền thống 83

4.2 Quy ước về sở hữu đất đai 85

4.3 Gia đình – Hạt nhân của xã hội Thái 86

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC 103

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình thực hiện các dự án hỗ trợ tại các cộng đồng ở vùng nông thôn

và miền núi các tỉnh phía Bắc nói chung và cộng đồng các dân tộc thiểu số nói riêng,tôi nhận thấy rằng sự hỗ trợ từ bên ngoài (dự án) mang tính vật chất, xã hội hay vănhóa cũng chỉ là một trong những lực đẩy tác động phần nào lên sự thay đổi nhận thức

và hành vi của người dân trong cuộc chiến đấu để chống lại đói nghèo, vì sự công bằngcủa xã hội và hơn nữa vì cuộc sống của tương lai, của các thế hệ sau không bị thiệt thòinhư thế hệ hiện tại Sâu hơn nữa trong suy nghĩ của tôi, họ là những cộng đồng mạnh

mẽ với nguồn sức mạnh vốn có cùng tồn tại với lịch sử phát triển của tộc người, bảo

vệ, duy trì các giá trị của cội nguồn dân tộc

Khi tôi có cơ hội hợp tác với Viện Văn hóa Nghệ Thuật Việt Nam để thực hiện

dự án “Thu thập Văn hóa Phi vật thể vùng ngập thủy điện Sơn La” (2007 - 2009) nhằmthu thập thông tin và phục dựng các hình ảnh là “di sản văn hóa” của các tộc ngườisống trong khu vực phải di rời ra khỏi lòng hồ Thủy Điện Sơn La, tôi và các cộng sự đãthảo luận tổ chức một cuộc nghiên cứu nhỏ có sử dụng phương pháp Đánh giá nhanhcó

sự tham gia (Participatory Rapid Appraisal – PRA) với mục tiêu nghiên cứu văn hóacủa các dân tộc dựa vào “tính sở hữu văn hóa” của cộng đồng đó và tiếng nói củangười dân đối với việc bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống

Việc sử dụng công cụ PRA để nghiên cứu khảo sát văn hóa có sự tham gia củangười dân nhằm kiểm chứng tính khả thi và tiềm năng của phương pháp này để nghiêncứu văn hóa Đồng thời PRA cũng thể hiện được tính chủ động của người dân tham giatrong việc bảo tồn văn hóa dân tộc thông qua các hình thức họ thể hiện sự hiểu biết củamình về văn hóa của cộng đồng và phù hợp với các mục đích trung tâm mà phươngpháp này thể hiện như:

Trang 8

Tăng quyền: Kiến thức là sức mạnh Kiến thức phát sinh từ quá trình và kết

quả của nghiên cứu rằng, thông qua sự tham gia của người dân ta được chia sẻ nhữngthông tin sở hữu của người dân địa phương Cho nên những suy nghĩ độc quyền củanhà nghiên cứu đối với thông tin và sử dụng suy nghĩ áp đặt cho các quyết định quyhoạch và quản lý sẽ đem lại những kết quả chủ quan phiến diện Tăng quyền được thểhiện khi người dân địa phương tự tin thể hiện các kiến thức của họ, đó mới là kết quả

mà nghiên cứu hướng tới

Tôn trọng: Trong quá trình sử dụng PRA, các nhà nghiên cứu trở thành những

người học, lắng nghe, tôn trọng các khả năng trí tuệ của địa phương và phân tích Nhànghiên cứu phải tránh bày tỏ những thái độ bất ngờ rằng người dân địa phương rấtthông minh, họ có thể làm rất nhanh các mô tả qua hình vẽ, bảng biểu, v.v… Mộtnguyên tắc tốt đẹp được hướng tới là khi bạn thực sự có thể hiểu được nụ cười củangười địa phương, bài thơ và bài hát, sau đó bạn có thể cảm thấy bạn đang bắt đầu hiểuvăn hóa của họ

Địa phương hóa: Việc sử dụng rộng rãi và sáng tạo của vật liệu từ địa phương

và đại diện khuyến khích chia sẻ trực quan và tránh áp đặt các mong muốn từ bênngoài

Tính toàn diện: Nâng cao tính nhạy cảm, thông qua sự chú ý đến những nhóm

người tham gia quy trình bao gồm các nhóm dễ bị tổn thương, phụ nữ, trẻ em, ngườigià, và người nghèo

Phương pháp PRA được viết trong phạm vi luận văn này không nhất thiết nhằmđạt mô tả đầy đủ hình ảnh hoàn toàn của nền văn hóa của một dân tộc – Văn hóa Thái.Theo quan điểm của tôi, đóng góp lớn nhất của phương pháp này giúp tôi tiếp cận thậtgần khi nghiên cứu về một cộng đồng là chủ nhân đang sở hữu những giá trị văn hóa

và nội lực huy động sức mạnh để phát triển Tôi cảm nhận được sự tham gia của cộngđồng như là một suối nguồn thông tin phong phú Họ cảm thấy được nhắc đến, được kể

Trang 9

về những câu chuyện của mình một cách tự nhiên khi tự bản thân họ chủ động tham gianhững hoạt động nghiên cứu và sở hữu các “kết quả” – là tài sản văn hóa – mà họkhám phá Đây là lý do tôi sử dụng các công cụ của phương pháp PRA trong nghiêncứu này tại bản Khoan, thuộc xã Mường Sại, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La

Tôi hy vọng rằng với sự chia sẻ kinh nghiệm của cuộc nghiên cứu có sử dụngphương pháp PRA này sẽ phần nào giúp ích các bạn nghiên cứu khác có cùng chungchí hướng tìm ra những phát hiện thú vị khi nghiên cứu các cộng đồng thiểu số và đónggóp cho sự nghiệp nghiên cứu chung

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề nghiên cứu về văn hóa người Thái luôn là đề tài thu hút nhiều sự quantâm của nhiều học giả , nhà nghiên cứu trong và ngoài nước thuộc nhiều lĩnh vực khácnhau như Dân tộc học, Sử học, Xã hội học, v.v… Các công trình của các nhà khoa họcnày với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã tạo nên một kho tư liệu khá phong phú vềVăn hóa Thái Về đại thể, có thể chia các công trình nghiên cứu này thành hai nhóm.Nhóm thứ nhất là các nghiên cứu về văn hóa truyền thống, và nhóm thứ hai là các côngtrình nghiên cứu về sự biến đổi của văn hóa trong hiện tại

Các công trình nghiên cứu về văn hóa truyền thống của người Thái ở Việt Nam

đã được thực hiện từ khá sớm và cho ta hiểu được những nét truyền thống văn hoá củangười Thái trong lịch sử Đây là những công trình khảo cứu, mô tả khá đầy đủ về cáclĩnh vực trong đời sống người Thái trong xã hội cổ truyền Những nghiên cứu này cungcấp nguồn tư liệu rất giá trị để có thể hình dung được lịch sử phát triển của một tộcngười vốn được xem là có tiến trình phát triển vượt bậc trong lịch sử Việt Nam

Trong luận văn “Các giá trị văn hóa vật chất của người Thái ở miền núi Nghệ An” (1998) tác gải Artha tìm hiểu các giá trị văn hóa vật chất của người Thái ở Nghệ

An thông qua các biểu hiện cụ thể về hệ thống công cụ sản xuất, hệ thống thủy lợi, về

ăn mặc, ở, các phương tiện vận chuyển, đi lại v.v Tác giả đã có sự so sánh về tính

Trang 10

đồng nhất và tính khác biệt trong sinh hoạt vật chất giữa các nhóm Thái ở Nghệ An với

bộ phận người Thái ở Thái Lan

Tác giả Vi Văn An với công trình “Thiết chế bản Mường truyền thống của người Thái ở miền Tây nghệ An” (1999) đã mô tả khái quát về người Thái ở miền Tây

nghệ An ở các khía cạnh lịch sử, quan hệ xã hội, chế độ ruộng đất, tổ chức hành chính

và bộ máy quản lý bản mường và sự biến đổi của thiết chế xã hội bản Mường

Tác giả Cầm Trọng trong những nghiên cứu khá nổi tiếng như “Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam” (1978) và “Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam” (2005) đã

giới thiệu văn hoá Thái trong lịch sử Việt Nam với sự phân chia thành các vùng vănhoá và nhóm địa phương, quang cảnh tự nhiên của nơi cư trú và sinh hoạt kinh tế, sinhhoạt ăn uống, ở, mặc, đi lại; Quan hệ gia đình, xã hội và một số nét cơ bản về văn hoáphi vật thể của người Thái ở Việt Nam

Nhóm tác giả Cầm Trọng, Hoàng Lương, Nguyễn Văn Hoà, Lê Sĩ Giáo cũng cónhững nghiên cứu đáng ghi nhận về dân tộc Thái với các vấn đề như: Ngôn ngữ và văn

tự, lịch sử, dân tộc học, văn học và nghệ thuật, y học được thể hiện trong tuyển tập

nghiên cứu “Văn hoá và lịch sử người Thái ở Việt Nam”

Tác giá Hoàng Lương với ấn phẩm “Hoa văn Thái” đã giới thiệu đến người đọc

những dòng nghiên cứu tìm hiểu về hoa văn Thái như Kỹ thuật tạo hoa văn (dệt, thêu, chấpvải màu) của phụ nữ người Thái cũng như các giá trị văn hoá và lịch sử của hoa văn Thái

Trong cuốn “Sơ lược giới thiệu các nhóm ngôn ngữ Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” của tác giả Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn chú trọng mô tả văn hóa xã hội của

các nhóm dân tộc này qua thiết chế xã hội – Mường và sự phân chia quyền lực cai quảncủa xã hội có phân chia của hai giai cấp: Giai cấp thống trị: chúa đất, dòng họ chúa, cácchức sắc thượng đẳng cha truyền con nối và Giai cấp bị trị: là những người nông dân tự

do, một số chức dịch hạ đẳng, nông dân, gia nô

Trang 11

Cùng có mối quan tâm nghiên cứu về kết cấu xã hội – Bản làng của các dân tộcthiểu số các tỉnh phía bắc, nhóm các nhà nghiên cứu dân tộc học Ngô Ngọc Thắng, Lê

Sĩ Giáo, Hoàng Nam đã công bố ấn phẩm “Văn hoá bản làng truyền thống các dân tộc Thái, Mông vùng Tây Bắc Việt Nam” Trong công trình tập thể này các tác giả đã nhấn

mạnh những đặc điểm chung và riêng của bản làng truyền thống của các dân tộc Thái,Mông vùng Tây Bắc Văn hoá bản làng Thái, H'mông trong điều kiện đổi mới và việc

kế thừa, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc từ truyền thống của văn hoá bản làng

Tác giả Đỗ Thuý Bình lại bày tỏ mối quan tâm khác về Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam Trong công trình nghiên cứu cùng tên, tác

giả đã cung cấp những tài liệu nghiên cứu về gia đình các dân tộc Tày, Nùng, Thái vàđưa ra những bình diện cơ bản của đời sống hôn nhân Những vấn đề liên quan tới kếtcấu gia đình, những mối quan hệ trong gia đình và giữa các gia đình với dòng tộc Một

số chức năng cơ bản của gia đình Phân tích những nghi lễ của chu kỳ đời sống

Trong quá trình tìm hiểu, tôi nhận thấy trong tất cả các công trình nghiên cứu đãcông bố, chủ yếu viết lại những hiểu biết và quá trình tìm hiểu của các nhà nghiên cứu

có nhiều kinh nghiệm, chưa có công trình nghiên cứu nào do người dân – đối tượngnghiên cứu – là những người tự tin sử dụng các phương pháp nghiên cứu hàn lâm vềlịch sử văn hóa của cộng đồng mình

Với các công trình nghiên cứu PRA, kể từ đầu những năm 1990, phương phápPRA đã phát triển và lây lan với tốc độ đáng kinh ngạc và có nguồn gốc chủ yếu giữacác tổ chức phi chính phủ (Non governmental organazation - NGO) ở Đông Phi vàNam Á PRA đã được áp dụng ở hầu hết mọi miền để phục vụ sự phát triển vì các cộngđồng nghèo ở cả khu vực thành thị và nông thôn

Trong khi đó các công trình viết về PRA cũng chỉ đề cập đến những lĩnh vựcchủ yếu ví dụ bao gồm: Quản lý tài nguyên thiên nhiên; Xác lập quyền đất đai củangười dân bản địa; Sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên cộng đồng; Khai thác kiến

Trang 12

thức bản địa, Cải thiện đời sống cho người dân ở các khu ổ chuột; HIV/AIDS; Tậphuấn cao nhận thức và hành động; Các chương trình chống đói nghèo; quản lý thiêntai; đàm phán và giải quyết xung đột, v.v… Rất ít công trình đề cập đến việc sử dụngPRA trong việc nghiên cứu và bảo tồn văn hóa bằng kiến thức của các nhà nghiên cứu

là người bản địa

Mục đích của luận văn này đề cập đến quá trình nghiên cứu có sự tham gia củangười dân với tư cách là chủ nhân văn hóa và họ thực hiện các cuộc khảo sát nghiêncứu văn hóa như những nhà nghiên cứu thực sự Các kết quả của luận văn này là bướckhởi đầu đóng góp cho việc áp dụng PRA cho lĩnh vực này

3 Đối tượng, phạm vi, địa bàn nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa truyền thống của người Thái bản Khoan trong xã

hội đương đại và việc sử dụng các công cụ của phương pháp PRA để “khảo sát văn hóa”

Phạm vi nghiên cứu: Trong luận văn này tác giả chỉ nhấn mạnh đến việc nghiên

cứu Văn hóa truyền thống của người Thái tại bản Khoan trong xã hội đương đại vàhiệu quả sự dụng của các công cụ của phương pháp PRA được áp dụng trong nghiêncứu Người dân đã tham gia các hoạt động nghiên cứu và cùng nhau đưa ra kế hoạchnhằm bảo tồn văn hóa của cộng đồng

Địa bàn nghiên cứu: Luận văn được tiến hành trên cơ sở một nghiên cứu trường hợp (case study) tại bản Khoan, xã Mường Sại, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La.

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Các nguồn tư liệu được sử dụng cho luận văn bao gồm:

Nguồn thứ nhất: Tư liệu điền dã dân tộc học: các biên bản phỏng vấn sâu, các

ghi chép, ảnh, v.v… được ghi chụp tại địa bàn nghiên cứu Các bảng biểu thống kê, cácbáo cáo, tài liệu sưu tầm do UBND xã Quỳnh Nhai, và một số cá nhân cung cấp

Trang 13

Nguồn thứ hai: sách, luận án, chuyên khảo, bài nghiên cứu từ tạp chí, các

website về chủ đề có liên quan

Nguồn thứ ba: nguồn tư liệu điền dã đóng vai trò quan trọng nhất được tác giả

thu thập từ việc khảo sát và nghiên cứu thực địa

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Phân tích tư liệu sẵn có: Đây là phương pháp quan trọng trong nghiên cứu này,

cho phép tổng hợp những thông tin từ những nghiên cứu đi trước, phân tích các vănbản thu thập được trong quá trình nghiên cứu

Phỏng vấn sâu: Đây là phương pháp nghiên cứu đã được sử dụng trong quá

trình điền dã dân tộc học nhằm ghi nhận các ý kiến, các câu chuyện của bản thânnhững người tham gia các hoạt động khảo sát Các phỏng vấn sâu cũng được sử dụng

để thu thập các thông tin chung liên quan đến các vấn đề lịch sử của làng, của dân tộcthông qua hệ thống câu hỏi mở

Tham dự thảo luận nhóm: Nghiên cứu cũng sử dụng các phương pháp này để

tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống của người Thái tại bản Khoan và đánh giá thái độcủa họ khi tham dự các hoạt động này Đặc biệt, bằng phương pháp quan sát tham dự,tác giả đã cùng tham gia hoạt động của các thảo luận nhóm để có thể đánh giá chínhxác và khách quan hơn về những thái độ cũng như độ tin cậy về thông tin mà ngườidân cung cấp

5 Kết cấu của luận văn

Nội dung của luận văn được trình bày trong các phần sau:

Phần mở đầu (6 trang) Phần này trình bày về tính cấp thiết của đề tài, sơ lược về

tình hình nghiên cứu trước đó, nêu phạm vi, đối tượng, mục đích, các khái niệm cơ bản

và khung phân tích, các nguồn tư liệu và phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu

Trang 14

Chương 1: (16 trang) Khái quát về phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia

(PRA) và ứng dụng của nó trong nghiên cứu văn hóa tại bản Khoan

Chương 2: (26 trang) Những nét văn hóa truyền thống hiện diện qua con

mắt của các nhà nghiên cứu địa phương

Chương 3: ( 28 trang) Những nét văn hóa tinh thần hiện diện qua con mắt của

các nhà nghiên cứu địa phương

Chương 4: (8 trang) Những nét xã hội truyền thống trong bối cảnh xã hội hiện đại Kết luận: (2 trang)

Trang 15

Trong thực tế triển khai các dự án phát triển cộng đồng, việc làm thế nào để

dự án phản ánh tốt nhất nhu cầu và nguyện vọng thực tế của người dân tại cộngđồng luôn được các cán bộ làm công tác phát triển đặt ra

Tại châu Mỹ Latinh, từ những năm 60 của thế kỷ truớc việc nghiên cứu vềmột phương pháp có sự tham gia để xây dựng các dự án phù hợp với cộng đồng dân

cư đã được tiến hành Đến những năm 1970 lý thuyết về phương pháp Đánh giánhanh/ nông thông có sự tham gia của cộng đồng (PRA) đã được hình thành tại khuvực này Vào những năm 1980, phương pháp Đánh giá nhanh nông thôn (RRA)được xây dựng và trở thành sáng kiến của trường Đại học Khon Kaen của Thái Lan.Tuy nhiên, phương pháp PRA/RRA lại được sử dụng đầu tiên tại Kênya và ấn Độvào những năm 1988 và 1989

Ở Việt Nam, từ cuối những năm 80 ngày càng nhiều các tổ chức quốc tế nhưNgân hàng tế giới (World Bank), Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP),

Tổ chức Nông lương quốc tế (FAO), các cơ quan nghiên cứu, phát triển trong nước

đã sử dụng PRA để xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án ở các quy môkhác nhau về quản lý tài nguyên, phát triển nông nghiệp, nông thôn, v.v… Điều nàycho thấy PRA có thể áp dụng cho những điều kiện văn hóa – kinh tế xã hội và cácvùng sinh thái khác nhau, với ý nghĩa PRA là một phương pháp tiếp cận triển vọng

“từ dưới lên” – nghĩa là từ nhu cầu thực tế của người dân đưa ra đối với các nhà làmcông tác phát triển ở các lĩnh vực

Trang 16

Đánh giá nhanh hay đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng(Participatory/ Rapid Rural Appraisal – PRA/RRA) là một phương pháp đánh giánhu cầu ở cộng đồng với sự tham gia của nhiều thành phần có liên quan Phươngpháp có sự tham gia của cộng đồng (PRA) được phát triển từ Thẩm định giá nhanhnông thôn (RRA) Sự khác biệt là PRA trong đó nhấn mạnh quá trình trao quyền chongười dân địa phương, trong khi RRA là chủ yếu là xem như là một phương tiện chongười ngoài để thu thập thông tin PRA chú trọng đã được đặt vào việc tìm kiếmnhững cách để thể hiện sự đa dạng của kiến thức địa phương thông qua việc tạo điềukiện từ bên ngoài như cung cấp vật lực, kinh phí, kỹ thuật, v.v….

1.2 Định nghĩa PRA

Để hiểu về về PRA trước hết ta phải biết đến định nghĩa “PRA là gì?” Theo tài liệu tập huấn về PRA tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau đã định nghĩa “PRA là quá trình liên tục, là phương pháp khuyến khích, lôi cuốn người dân trong cộng đồng cùng tham gia chia sẻ, thảo luận và phân tích kiến thức của họ về đời sống và điều kiện thực tế của họ để họ lập kế hoạch hành động và thực hiện.” [75; tr 3] hay

có thể hiểu là “PRA là một phương pháp được tiến hành ở một địa điểm cụ thể bởi một nhóm liên ngành và được thiết kế để thu thập được những thông tin cần thiết và những giả thiết cho sự phát triển nông thôn trong đó sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương vào suốt các tiến trình của các chương trình/đề án phát triển nông thôn là yếu tố quyết định sự thành công” [77; tr 11]

1.3 Các đặc điểm của PRA

PRA hoạt động thường diễn ra trong các nhóm, làm việc trên mặt đất hoặctrên giấy Thông thường tổ chức thảo luận nhóm trên mặt đất thì thu hút sự tham giacủa nhiều người hơn, đây là nơi để thực hiện các phương pháp trực quan hóa giúptrao quyền cho những người không biết chữ Kỹ thuật trực quan hóa giúp cung cấpphạm vi cho sự sáng tạo và khuyến khích sự trao đổi thẳng thắn quan điểm giữanhững người tham gia Họ cũng cho phép kiểm tra chéo các nguồn thông tin

13

Trang 17

PRA phải được xem như một quá trình học hỏi được xây dựng dựa trên kiếnthức và năng lực vốn có của người dân về xác định vấn đề, ra quyết định, huy độngnguồn lực, tổ chức thực hiện… để cùng phát triển cộng đồng của chính họ.

Phương pháp PRA phụ thuộc vào người điều hành/hướng dẫn kỹ thuật,nhưng không có nghĩa người này chiếm hết thời gian thực hiện hoạt động nhóm.Tuy nhiên nhiều người thấy khó khăn khi đóng vai trò này khi họ phải mất thời giangiải thích, làm quen, phá băng để tạo ra sự thu hút Họ luôn mong muốn đạt đến kếtquả chắc chắn rằng người dân địa phương, cho dù họ có biết chữ hay không, là phụ

nữ hay nam giới, giàu hay nghèo đều có thể tham gia vào quá trình phân tích của họ

Phương pháp PRA gồm có các kỹ thuật/công cụ khác nhau, được lựa chọn vàphối hợp một cách linh hoạt phù hợp với nghiên cứu Sử dụng một hay kết hợp cácphương pháp PRA sẽ tạo ra một hình ảnh rất chi tiết về cộng đồng, nó thể hiện sựphức tạp và đa dạng của thực tế người dân địa phương tốt hơn nhiều so với các kỹthuật điều tra thông thường như bảng câu hỏi

Những người thực hiện PRA có thái độ thích hợp (đúng) hướng đến nhữngthành viên cộng đồng, tiếp xúc với các tầng lớp, những người nghèo, phụ nữ, nhữngnhóm người chịu thiệt thòi với thái độ tôn trọng, quan tâm những điều họ nói, lắngnghe họ nói chứ không phải dạy họ, không định kiến

Với những ứng dụng hiệu quả của PRA, các cán bộ phát triển luôn xem các

bộ công cụ của nó là công cụ phát triển cộng đồng

Ưu điểm của phương pháp PRA so với các phương pháp khác là người dântại cộng đồng tự phân tích thực tế nhu cầu và đời sống của họ, đây là một phươngpháp trao quyền cho người dân để quyết định các công việc của cộng đồng, trong đónhà nghiên cứu/cán bộ làm công tác phát triển tham gia để học hỏi và cùng với cácthành viên cộng đồng tìm hiểu, phân tích và đánh giá các khó khăn, thuận lợi đồngthời đưa ra các giải pháp, quyết định kịp thời nhằm giải quyết các khó khăn củacộng đồng, để lên kế hoạch hành động chính mình và để giám sát và đánh giá các

Trang 18

kết quả dựa trên phân tích những khía cạnh không gian và thời gian của các vấn đềkinh tế - xã hội – văn hóa và môi trường.

Khi so sánh với phương pháp quan sát tham dự của ngành dân tộc học, PRA

có những nét tương đồng đó là cùng tham gia trực tiếp vào đời sống cộng đồng, có

sử dụng nhiều công cụ chung (thảo luận nhóm, phỏng vấn bán cấu trúc, ghi âm,chụp ảnh, v.v…), tuy nhiên PRA có lợi thế về tìm kiếm sự đồng thuận giữa cácthành viên trong cộng đồng khi họ trao đổi về các thực tế bản sắc văn hoá mà họđang nắm giữ ví dụ như họ thấy các bài hát của dân tộc rất hay cần phải bảo tồn, vìcác bài hát này giúp họ bảo vệ được tiếng nói và chữ của người Thái lưu truyền quacác thế hệ, v.v…

1.4 Các công cụ thuộc phương pháp PRA được sử dụng trong phạm vi luận văn

Các công cụ thuộc phương pháp PRA là những cách làm hay kỹ năng sửdụng các kỹ thuật khác nhau nhằm thu hút người dân vào quá trình đánh giá, phântích vấn đề và lập kế hoạch hành động trong phát triển cộng đồng

Danh sách một số công cụ được ứng dụng khi thực hiện phương pháp PRA:

- Xem xét tài liệu thứ cấp

- Quan sát trực tiếp

- Vẽ sơ đồ cộng đồng: Để phân tích các vấn đề theo không gian

- Lập bản lược sử của cộng đồng, lịch mùa vụ: Để phân tích các vần đề theo thời gian

- Để phân tích ra quyết định: thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu

- Xếp hạng ưu tiên (cho điểm, biểu quyết)

1.4.1 Số liệu thứ cấp

Trước khi khảo sát ở thực địa, nhóm PRA cần thiết thu thập tất cả các thông tin sẵn có (thông tin chính thức và không chính thức) nhằm có được các thông tin cơ

15

Trang 19

bản của vùng nghiên cứu về tài nguyên, việc sử dụng đất, vùng sinh thái, hệ thốngcanh tác, kinh nghiệm quản lý tài nguyên nông nghiệp, những trở ngại, những cơhội, làm cơ hội để thu thập các thông tin mới Hoạt động này sẽ giúp cho nhóm tiếtkiệm thời gian không phải khai thác lại một lần nữa các thông tin này và xác địnhđược những thông tin còn thiếu cần thu thập.

Các bước thực hiện:

- Thành lập nhóm người dân cả nam và nữ từ 5 đến 7 người

- Các vật liệu văn phòng phẩm (giấy khổ lớn, bút lông màu, băng keo dán)

- Thúc đẩy viên giải thích rõ mục đích ý nghĩa và tiến hành theo các bước như sau:

- Đề nghị nhóm phác họa sơ đồ trên giấy khổ lớn

- Thúc đẩy viên đặt câu hỏi để người dân giải thích ý nghĩa của những gì

họ vẽ và tạo điều kiện để thúc đẩy họ tham gia trao đổi, tranh luận trong quátrình vẽ bản đồ thôn bản

Trang 20

- Thời gian cần thiết: 120 phút.

- Vai trò của thúc đẩy viên: hỏi, khuyến khích, tạo thuận lợi cho nhóm trao đổi và các thành viên tự làm

1.4.4 Lập bản lƣợc sử của cộng đồng

Bất kỳ một cộng đồng nào cũng có lịch sử phát triển của mình với nhiều sựkiện có ý nghĩa trong quá khứ Cộng đồng đó kế thừa những kinh nghiệm và kiếnthức môi trường để phát huy những nội lực Lập bản sơ lược lịch sử giúp ta biếtđược những sự kiện chính yếu trong cộng đồng cũng như những khó khăn và nhữngthành tựu đạt được trong đời sống của họ

Các bước thực hiện:

- Thành lập nhóm người dân cả nam và nữ từ 5 đến 7 người

- Các vật liệu văn phòng phẩm (giấy khổ lớn, bút lông màu, băng keo dán)

- Thúc đẩy viên giải thích rõ mục đích ý nghĩa và tiến hành theo các bước như sau:

- Đề nghị nhóm phác họa sơ đồ lên mặt đất (nếu không có giấy khổ lớn) hoặc trên tờ giấy khổ lớn

- Thúc đẩy viên đặt câu hỏi để người dân giải thích ý nghĩa của những gì

họ vẽ và tạo điều kiện để thúc đẩy họ tham gia trao đổi, tranh luận trong quátrình vẽbản lược sử của cộng đồng

- Thảo luận: khó khăn, cơ hội, thuận lợi, giải pháp

- Thời gian cần thiết: 120 phút

- Vai trò của thúc đẩy viên: hỏi, khuyến khích, tạo thuận lợi cho nhóm trao đổi và các thành viên tự làm

1.4.5 Lập lịch thời vụ

17

Trang 21

Lịch thời vụ giúp cung cấp khối lượng lớn và đa dạng của thông tin trongmột khung thời gian chung, nó chỉ rõ các hoạt động chính và những sự việc hiệntượng xảy ra trong cộng đồng suốt chu kỳ một năm trong đời sống cộng đồng,những thay đổi về môi trường.

Các bước thực hiện:

- Thành lập nhóm người dân cả nam và nữ từ 5 đến 7 người

- Các vật liệu văn phòng phẩm (giấy khổ lớn, bút lông màu, băng keo dán)

- Thúc đẩy viên giải thích rõ mục đích ý nghĩa và tiến hành theo các bước như sau:

- Đề nghị nhóm phác họa sơ đồ lên mặt đất (nếu không có giấy khổ lớn) hoặc trên tờ giấy khổ lớn

- Hỏi người dân giải thích ý nghĩa của những gì họ vẽ và tạo điều kiện để thúc đẩy họ tham gia trao đổi, tranh luận trong quá trình lập lịch thời vụ

- Thảo luận: khó khăn, cơ hội, thuận lợi, giải pháp

- Thời gian cần thiết: 120 phút

- Vai trò của thúc đẩy viên: hỏi, khuyến khích, tạo thuận lợi cho nhóm trao đổi và các thành viên tự làm

1.4.6 Thảo luận nhóm

Phỏng vấn nhóm để thu thập thông tin ở mức độ cộng đồng Phỏng vấn

nhóm có nhiều ưu việt vì nó tạo điều kiện để tiếp xúc một lượng lớn kiến thức vàcung cấp cơ hội tức thời để kiểm tra chéo thông tin từ những người trong nhóm.Thảo luận nhóm cũng tạo điều kiện cho việc các thành viên thống nhất các ý kiếnmang tính chung cho cả nhóm như trong việc lập kế hoạch, điều này đúng hay sai, ai

là người có thể biết được điều này tốt nhất, chỗ nào có thể tìm thấy những vật dụngnày, v.v…

Trang 22

Thảo luận nhóm rất cần chú trọng đến kỹ thuật làm quen và kết nối cán bộnghiên cứu với nhóm người dân tham gia nghiên cứu Nó giúp cho chúng ta hìnhdung được cảm nghĩ ban đầu, cách nhìn tổng quát của người dân về cộng đồng họ

đã gắn bó, và tạo bầu không khí thân thiện giữa nhà nghiên cứu và ngườt dân, giữangười dân với nhau Kỹ thuật này dựa trên hình vẽ: Sử dụng hình vẽ là tối ưu nhất vì

ai cũng có thể vẽ dù là người nghèo hoặc người không biết chữ, hình vẽ sẽ đóng vaitrò điểm tựa để giúp con người bộc lộ được những điều mình muốn nói

Các bước thực hiện như sau:

- Thành lập nhóm người dân từ 5-7 người (cùng giới tính thì tốt hơn vì nếu

có nam lẫn nữ thì nữ thường lệ thuộc vào ý kiến của nam)

- Phát cho mỗi người một tờ giấy trắng A4, một cây bút mực

- Thúc đẩy viên giải thích thật rõ mục đích, ý nghĩa của công việc

- Khuyến khích người dân vẽ theo suy nghĩ của họ về cộng đồng (hoặc dựán) mà họ đang sống hoặc đã tham gia dự án, ban đầu họ nói họ không biết

vẽ, nhưng nếu chúng ta biết kiên nhẫn khích lệ họ thì chúng ta sẽ có nhữngbức hình rất đẹp và sinh động

- Những bức hình sẽ được dán lên vách (bằng băng keo dán) trong phònghọp và lần lượt mỗi tác giả bức hình sẽ đứng lên giải thích ý nghĩa của biểutượng và những chi tiết liên quan đến cuộc sống cộng đồng của họ hoặc liênquan đến dự án trong thời gian qua

1.4.7 Phỏng vấn sâu

Công cụ này nhằm thu thập những hiểu biết đặc biệt của một số cá nhân như

về tôn giáo, lễ cúng cho các dịp đặc biệt, lịch sử các sự kiện cộng đồng, các truyềnthuyết, v.v…

Nhà nghiên cứu thường sử dụng bảng hỏi đã được thiết kế phù hợp với mụcđích nghiên cứ để thu thập thông tin

19

Trang 23

1.4.8 Ma trận xếp hạng ƣu tiên

Ma trận xếp hạng là cách sắp xếp các vấn đề hay cơ hội theo một thứ tự(quan trọng hơn hay ưu tiên hơn) và được các thành viên lựa chọn theo tiêu chíchung nhất do họ thống nhất từ đầu Xếp hạng ưu tiên cần dựa trên tiêu chuẩn củađịa phương cũng như những tiêu chí bên ngoài (có tác động trực tiếp đến cộngđồng), chẳng hạn như giải pháp nào phù hợp với việc bảo tồn văn hóa bản sắc,những nét văn hóa nào cần phải được ưu tiên truyền lại cho con cháu mai sau, bằngcách nào, v.v…

Xếp hạng ưu tiên cũng tạo nền tảng cho việc xây dựng một kế hoạch pháttriển sau đó

Một số nguyên tắc trong việc thực thi kỹ thuật này:

- Đảm bảo tính thực tế của cộng đồng và sự hiểu biết của chính cộng đồng đó

- Nhiều đối tượng tham gia: cá nhân – nhóm nam – nhóm nữ

- Các đối tượng phân loại, cho điểm xếp hạng phải rõ ràng và dễ hiểu

- Các ô tạo nên bởi đường kẻ dọc và ngang (ô vuông nhỏ) dùng để cho điểm

- Các ô cuối hàng ngang dùng để đánh giá, lựa chọn các tiêu chí khác ví dụ lựa chọn ưu tiên

Trang 24

- Cách làm này giúp cho người dân cùng bàn bạc, trao đổi, tranh luận về những lý do vì sao mà họ lại quyết định phân loại, cho điểm cho từng đối tượng.

Trên đây là một số công cụ của phương pháp PRA được sử dụng trong luậnnhằm thu thập các thông tin phục vụ cho đề tài nghiên cứu và được thể hiện trongphạm vi chương 1 – mô tả các công cụ của phương pháp PRA và các chương tiếptheo với các nội dung về văn hóa vật chất, vă hóa tinh thần, thiết chế xã hội củangười Thái trong quá khứ cũng như hiện tại

1.5 Ứng dụng các kỹ thuật phương pháp PRA

1.5.1 Thiết lập lịch trình

Trong khi việc sử dụng lịch mùa vụ của người dân ở bản Khoan hữu ích chosắp xếp kế hoạch cho các hoạt động, chúng tôi phải xác định khoảng thời gian tốtnhất để thực hiện các hoạt động này – các khoảng thời gian này phải vào lúc nôngnhàn (không cấy, hái hay thu hoạch cây trồng) Để làm được điều này chúng tôi phảinghiên cứu các tài liệu đã có trước bằng cách yêu cầu đối tác địa phương cung cấp,qua đó chúng tôi nhận thấy lịch phù hợp nhất cho chúng tôi và họ khoảng tháng 7lịch âm, trước thời gian thu hoạch Đây là khoảng thời gian người dân có thể tạmgác sản xuất và tham gia nghiên cứu để đảm bảo tính linh hoạt cho các đối tác địaphương và người dân cam kết tham gia dự án Trong thời gian này, các đối tác củachúng tôi xem xét và thực hiện các hoạt động nhằm đạt được hiệu quả trong mộtkhoảng thời gian ngắn và tập trung

21

Trang 25

LỊCH MÙA VỤ CỦA NGƯỜI DÂN

Trang 26

22

Trang 27

để đạt được hiệu quả cộng đồng thông qua các thảo luận nhóm nhỏ để tác giả có thể

so sánh và tìm thấy sự liên quan văn hóa giữa các nhóm người dân khác nhau

Bên cạnh đó, tôi lựa chọn và xây dựng một nhóm các “nhà nghiên cứu địaphương” sẽ không có kiến thức chuyên môn về văn hóa (cụ thể: họ không phải làphù thủy, pháp sư, nhạc sĩ, giáo viên, v.v…) để tập huấn cho họ cách sử dụng nhữngcông cụ của phương pháp PRA Những “nhà nghiên cứu địa phương” ở đây đượchiểu chính là người dân tại cộng đồng bản Khoan tham gia trực tiếp vào nghiên cứunày Họ sẽ trở thành những người “chủ chốt” (key person) trong việc hỗ trợ nhữngthành viên trong cộng đồng chia sẻ những hiểu biết về văn hóa dân tộc, kể về lịch sửcủa cộng đồng Họ sẽ tự tổ chức các buổi nghiên cứu - với sự hỗ trợ của chúng tôi -với sự tham gia của người dân và không sử dụng những bài “rao giảng cũ kỹ” buồnchán với nhiều lý thuyết

Chúng tôi cùng nhau xây dựng tiêu chí lựa chọn những người tham gia cácnhóm thảo luận như có kỹ năng giao tiếp tốt và cam kết đặt lợi ích của cộng đồnglên trên hết

Trang 28

Những nhà nghiên cứu địa phương sẽ nghiên cứu văn hóa của cộng đồngmình – Văn hóa Thái - với sự tham gia của 7 người địa phương: 3 phụ nữ và 4 namgiới, độ tuổi từ 35-57 tuổi, những người được chọn này sống trong bản Khoan.Nhóm nghiên cứu này sau khi được tập huấn một số công cụ của PRA, sẽ được phâncông trách nhiệm tổ chức và tiến hành buổi làm việc trong bản.

Trình độ văn hóa của các nhà nghiên cứu văn hóa địa phương xếp từ lớp 4tới cấp trung học Trong đó có sự thiên lệch về giới không thuận lợi với các chị phụ

nữ tham gia nhóm, khi họ là những người có trình độ văn hóa thấp nhất Họ gặpnhững khó khăn khi phải ghi chép vào vở, hay khi đứng viết ở trên bảng, nhưngđiều này cũng dễ dàng khắc phục khi họ mạnh dạn trình bày bằng miệng những ýkiến và tiến hành điều khiển các buổi làm việc trong thời gian nghiên cứu thực địa

Những nhà nghiên cứu – như chúng tôi - sử dụng những phân tích, nhận địnhkhi tham gia song hành vào các hoạt động của các nhà nghiên cứu địa phương đểđưa ra những thúc đẩy, giúp người dân tự nhận thức, phát hiện các vấn đề của mình,tìm nguyên nhân và đề xuất các giải pháp khắc phục

1.5.3 Đào tạo kỹ năng sử dụng công cụ PRA cho các nhà nghiên cứu địa phương

Tương tự như việc xây dựng kế hoạch thời gian làm việc, việc đào tạo nhữngngười dân tham gia nhóm nghiên cứu phải thích ứng với thời gian và khả năng họctập của họ Chúng tôi ưu tiên trên hết là họ phải hiểu rõ về các mục tiêu nghiên cứu,phương pháp, và lập thời gian biểu phù hợp với ngôn ngữ, các chuẩn mực, phongtục tập quán của họ, để chắc chắn rằng cộng đồng sẽ không hiểu sai mục tiêu của dự

Trang 29

nhân để thu thập các thông tin về văn hóa và kiến thức vốn có; Một cuộc thảo luậnnhóm để thảo luận về nền văn hóa của cả cộng đồng.

Khi chúng tôi không có nhiều thời gian cho việc đào tạo, ba công cụ đã được

sử dụng để lựa chọn các thông tin cơ bản: bản đồ dân số, lịch mùa vụ và bài tập kiếnthức của cá nhân về văn hóa

Họ đã đạt được sự hiểu biết khá tốt về ba công cụ và không muốn học thêmcác kỹ thuật khác Họ đã xây dựng được một bộ ba câu hỏi để tiếp tục cuộc nghiêncứu: (1) Người Thái là ai ? Người Thái sống ở đâu và sống với ai? (2) Người Tháilàm cái gì? Làm thế nào để họ sử dụng thời gian của họ trong năm? (3) Văn hóaThái là những cái gì?

Chỉ sau khi đã tiến hành một buổi làm việc tại bản, đối tác đã đạt được sự tựtin như là những người điều hành cộng đồng: (1) họ đã học công cụ mới một cáchnhanh chóng, (2) đề xuất các vấn đề khác và tìm ra những cách khác để tìm kiếmthông tin và ngày càng trở nên nhìn nhận cẩn trọng về các kết quả đạt đượ cũng như

1.5.4 Tiến hành khảo sát thực địa

Sự tham gia của các đối tác địa phương là điều cần thiết vì nó mang lại tínhchính đáng giữa họ và cuộc nghiên cứu Một trong những điểm cụ thể phải rõ ràng:

sự tham gia của tất cả là cần thiết và tiếng nói của mỗi người là như nhau

Trong nghiên cứu thực địa, đối tác người Thái lo lắng về sự thiếu hiểu biết của mìnhkhi trở thành nhà nghiên cứu Họ đã yêu cầu chúng tôi tổ chức các cuộc họp nhóm và giớithiệu cho họ là các nhà nghiên cứu ở cấp làng/bản Đối tác địa phương tiến hành

Trang 30

làm các buổi làm việc bằng ngôn ngữ người kinh nhằm tạo thuận lợi cho việc hiểu ýnghĩa của câu hỏi, câu trả lời của người cao tuổi và phụ nữ và của cả chúng tôi.

Họ tiến hành tổ thực hiện các công cụ đã được học trong thảo luận nhóm tại cộng đồng Những người tham dự đã tham gia tích cực trong các bài tập, khi một người có học vấn cao hơn và có xu hướng trình bày nhiều tại cuộc thảo luận thì lại cần sự can thiệp và những hoạt động thu hút sự tham gia của những người khác được các nhà nghiên cứu địa phương khéo léo thể hiện Người được giao nhiệm vụ ghi chép thậm chí ghi không đủ thông tin vì cô ấy đã ghi chú nhiều đến ý kiến của cá nhân hơn là ghi chú các ý kiến của cả nhóm.

Các buổi làm việc này đã thu hút sự quan tâm của người dân đó là sự hiểu biết

và kiến thức cá nhân về văn hóa mà bao gồm tất cả các hình thức khác nhau như lốisống sinh hoạt, vật chất, hành vi chính trị-xã hội, niềm tin huyền bí về tín ngưỡng mangđậm nét truyền thống cũng như sự thay đổi của nó theo dòng thời gian

Sau các buổi làm việc các thành viên thuộc nhóm các nhà nghiên cứu địaphương sẽ cùng trao đổi lại với tác giả để có thể rút ra nhũng kinh nghiệm điều hànhcho các buổi thảo luận sau Đồng thời họ cũng giúp tác giả thu thập các thông tinkhác và kiểm tra lại những thông tin tác giả thu thập được, với sự hỗ trợ tương tácqua lại như vậy đã giúp cho nghiên cứu đạt được những kết quả khả quan

Tác giả thống kê ứng dụng của các công của của phương pháp PRA được sửdụng trong luận văn này, xem chi tiết ở bảng sau đây:

26

Trang 31

Các công cụ PRA

nguồncộng đồng

nuôi, trồng trọt, thôngtin về thời tiết, thiêntai, nhu cầu lao động

người dân trong việcquản lý, khai thác cácnguồn

cuộc sống cách hàng

Trang 32

Thảo luận nhóm

28

Trang 33

Tiểu kết luận chương 1:

Sự tham gia không phải là một tiến trình tự nhiên mà là một tiến trình học hỏikinh nghiệm, tương tác lẫn nhau để cùng nhau thay đổi Phương pháp PRA vậndụng sự tham gia tích cực của mọi người liên quan, tạo bầu không khí nhiệt tình,thân thiện, thoải mái và cộng tác nhằm học hỏi từ người dân, cùng làm việc với dân

và thúc đẩy để giúp người dân địa phương tự phân tích, lập kế hoạch và thực hiệnnghiên cứu các giá trị văn hóa của cộng đồng được thể hiện ở các chương tiếp theocủa luận văn

Ứng dụng của các công cụ phát triển thuộc PRA nhằm khảo sát nhu cầu củacộng đồng để lên kế hoạch hành động và đánh giá được sự tham gia của người dânnhằm mục đích: 1/ Phát huy khả năng cho người dân nâng cao hiệu suất và hiệu quả.Đây là một tiến trình tương tác giữa người dân được nâng cao kiến thức và hiểu biết

về những vấn đề khác nhau liên quan và ảnh hưởng đến cuộc sống của chính họ vànhờ đó họ được nâng cao sự kiểm soát của họ trên tiến trình phát triển của dự án haybất cứ hoạt động nào 2/ Người dân hiểu được họ đang nằm trong tiến trình, trongmột hệ thống cho phép họ liên tục đánh giá tiến độ phát triển của chính họ

Trang 34

CHƯƠNG 2:

NHỮNG NÉT VĂN HÓA VẬT CHẤT TRUYỀN THỐNG

HIỆN DIỆN QUA CON MẮT CỦA CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU ĐỊA PHƯƠNG

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu

Xã Mường Sại thuộc huyện Quỳnh Nhai, là huyện vùng sâu vùng xa của tỉnhSơn La, được bao bọc bởi dòng sông Đà và các dãy núi chạy song song Mường Sại

là một trong những địa bàn nằm trong vùng ngập lòng hồ thủy điện Sơn La Theobáo cáo sơ bộ, cho đến đầu năm 2008 toàn xã Mường Sại có 1236 hộ, 6460 khẩu,trong đó chủ yếu là người Thái và Thái Trắng, cư trú tập trung ở 13 bản: Bản Máy,Bản Canh, Bản Om, Bản Lái, Bản Coi A, Bản Coi B, Bản Muôn A, Bản Muôn B,Bản Ít A, bản Ít B, Bản Ca, Bản Khoan, Bản Cán Người La Ha chủ yếu ở 3 bản cònlại đó là Bản Phá Báng, Bản Hát Dọ A và Bản Hát Dọ B

30

Trang 35

Trong luận văn này tôi chỉ đề cập đến trường hợp nghiên cứu văn hóa ngườiThái ở bản Khoan thuộc xã Mường Sại Tại bản Khoan là nơi người Thái Trắng sinhsống chủ yếu, với 74 hộ và 389 khẩu.

Theo truyền thuyết, “Khoan” trong tiếng Thái có nghĩa là “chiếc rìu” dùng để

đẽo đá làm quan tài Nàng Ủa Bản Khoan phía Đông giáp bản Ca, phía Tây giáp xãPhổng Lái, huyện Thuận Châu, phía Nam giáp bản Cán, phía Bắc xã Chiềng Bằng

Bản Khoan có 175, 89 ha tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó, đất nôngnghiệp chiếm 66, 4 ha, đất lâm nghiệp có 23, 81 ha, đất thổ cư chiếm 3, 92 ha, cònlại 81,76 ha diện tích là các loại đất khác

Người Thái ở bản Khoan cũng như ở các bản khác thuộc Mường Sại đều cónền kinh tế sản xuất dựa trên cơ sở của nền nông nghiệp trồng lúa Những cư dânsinh sống ở đây đã biết canh tác lúa nước từ lâu đời, nhưng vì thiếu đất làm ruộng

họ buộc phải kết hợp với canh tác nương rẫy

Hiện nay đồng bào giảm đáng kể diện tích nương rẫy vì chính sách giao đấtgiao rừng của Nhà nước đến từng hộ gia đình Phần nhiều các hộ gia đình chỉ còncanh tác ruộng nước Theo Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế,

xã hội và an ninh quốc phòng năm 2006 và mục tiêu nhiệm vụ giải pháp năm 2007cho biết tổng diện tích gieo trồng cả năm là 1.981 ha, trong đó diện tích cây lươngthực có hạt là 676,9ha

Bên cạnh trồng trọt thì chăn nuôi giữ vị trí quan trọng trong đời sống kinh tếgia đình, tuy nhiên nó vẫn phải phụ thuộc vào trồng trọt Đồng bào chăn nuôi cácđại gia súc để lấy sức kéo là chính và phương tiện vận chuyển Ngoài ra, còn chănnuôi tiểu gia súc như lợn; gia cầm như gà, vịt, ngan, ngỗng để làm nguồn thức ăn,trao đổi và dùng vào những dịp đám xá, lễ tết, v.v Bên cạnh đó họ cũng tiến hànhmột số nghề thủ công nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày và dùng

để trao đổi hàng hoá Tuy nhiên, tất cả các nghề dệt, đan lát, rèn, vẫn là nghề phụgia đình Các sản phẩm thủ công chưa thật sự trở thành hàng hoá

Trang 36

Nhìn chung, do đặc điểm kinh tế kể trên, nền kinh tế cổ truyền của đồng bàoThái ở đây vẫn đang mang tính tự cấp tự túc Đơn vị kinh tế là hộ gia đình.

Bản là đơn vị xã hội đảm nhiệm chức năng văn hoá, là chỗ dựa kinh tế- xãhội thực sự cho mỗi gia đình hạt nhân Các gia đình trong bản khi có việc mừng nhưsinh con, cưới xin, làm nhà mới, thờ cúng tổ tiên đều được sự quan tâm giúp đỡcủa cộng đồng bản

2.2 Văn hoá vật chất truyền thống trong xã hội hiện đại

cỏ tranh và đan tranh làm phên mái (kha) Mỗi "kha" thường dài 1,2 đến 1,5 m, rộng 50

-60 cm, với cấu trúc nhà bốn mái dài rộng, người Thái phải sử dụng đến hàng trăm dải tranhlợp mái Hiện nay, mái nhà chủ yếu được thay bằng đá đen tự chế tác được, ngoài ra, họcòn khai thác và chế tác đá trắng để kê chân cột nhà

Người Thái nói chung thích chọn những nơi đất đai bằng phẳng, rộng rãi, gầnrừng, gần sông suối để dựng nhà

Người Thái có cách bói đất bằng hạt gạo, người ta đào bốn cái hố nhỏ ở bốngóc Đông Tây Nam Bắc của mảnh đất đã chọn rồi bỏ xuống đó ba hạt gạo sao cho

32

Trang 37

chúng chụm đầu vào nhau, rồi úp một chiếc bát lên trên Chủ nhà cắm hương ở 4

góc, gọi tổ tiên và các ma về nhận đất, lời khấn đại ý “Tôi đã chọn được mảnh đất tốt theo ý tôi, mời tổ tiên và các ma về nhận đất, đất tốt hay đất xấu thì nhớ báo cho tôi biết nhé” Sáng hôm sau, người ta lật bát lên, nếu thấy các hạt gạo không bị xê

dịch, có nghĩa đó là mảnh đất tốt có thể dựng nhà được, ngược lại, gia chủ phải tìmmột mảnh đất khác và bói lại cho đến khi tổ tiên và các ma đồng ý Nguồn gốc của

tục bói đất bằng hạt gạo, người Thái hiện nay đều không biết, “chỉ biết người già nó làm thế thì mình làm theo thôi” (Lò Văn Muôn).

Tại bản Khoan có một ông thầy mo biết xem ngày, kén giờ dựa trên tuổi củachủ nhà Giống như các tộc người thiểu số khác, người Thái kiêng dựng nhà trùngvào ngày sinh hay ngày mất của các thành viên trong gia đình

Quá trình làm nhà của người Thái diễn ra tuần tự như sau: đo nền, san nền,dựng vì kèo, làm sàn, lợp mái, thưng vách và cầu thang

Phương pháp san nền thủ công và truyền thống của người Thái vẫn là dùngtrâu cày cho tơi đất rồi dùng cuốc, vồ, đập và sức người để nện đất cho bằng Ngàynay, đồng bào đã có thêm những công cụ hiện đại như cuốc, xẻng, thậm chí là nhờngay máy xúc và máy ủi của một công trình nào đó làm gần bản

Ngày nay nhà truyền thống đã có một số thay đổi trong kết cấu, người Thái đãcoi trọng việc dựng vì kèo của ngôi nhà Họ thường ráp mộng các cột, xà ngang, xà dọcvới nhau để tạo thành một hàng vì hoàn chỉnh rồi lần lượt dùng dây thừng và sức ngườidựng từng hàng vì lên Khi dựng bộ vì có cột chính (xau luống), vai trò của “lúng ta”rất quan trọng Trước khi dựng vì, chủ nhà phải nhờ ông cậu (lúng ta) lấy lá cây thiêng1nhúng nước vo gạo rồi vẩy lên tất cả các cột trong nhà Việc làm này nhằm xua đuổi ma

ác, ma dữ thường trú ngụ ở chiếc cột ra khỏi nhà Nếu chủ nhà không có lúng ta (tức là

mẹ ông ta không có anh em trai), thì phải nhờ đến bố vợ hoặc anh em đằng nhà vợ

Trang 38

Nhà sàn Thái cổ truyền thường là nhà 3 gian hoặc 5 gian, sẽ có 4 hoặc 6 vìcột, mỗi vì cột có 4 cột trụ, hai cột cái và hai cột con Vì cột được ghép trước đóbằng phương pháp ghép mộng xuyên và mộng sập Trước khi dựng từng bộ vì lên đểtạo khung nhà, người ta chôn sẵn trên mặt đất những hàng cột tương ứng với sốlượng các bộ vì, làm điểm tựa để dùng dây thừng và sức người kéo từng bộ vì lên.Ngày nay ở bản Khoan có một số nhà sàn Thái có sử dụng loại cột kê đá nên đáthường được định vị trước thành từng hàng, tương ứng với vị trí mỗi vì cột khi kéolên Họ giải thích cách làm cột này tránh cho cột không bị tác động nhiều bởi thờitiết như mưa, ẩm nên sẽ ít bị mối mọt hay bị mốc gẫy.

Sau khi đã dựng xong tất cả vì cột, người thợ sẽ xuyên xà ngang qua các cộtdọc bằng mộng xuyên, rồi sử dụng mộng sập để gài đòn nóc, các đòn tay và rui, mè,v.v… làm bộ khung mái Mỗi vì cột trong ngôi nhà sàn Thái bao gồm bốn cột trụ,hai cột cái (xau luống) và hai cột con (xau lọi), riêng hai vì kèo ở gian giữa chỉ cóhai cột quân và hai cột trốn Các cột này được nối với ba xà ngang (mày khứ) Xàngang thấp nhất (tính từ mái xuống) chạy qua cả bốn cột, hai xà ngang bên trên chỉchạy qua hai cột cái Hai vì mái (sáu dô) hai bên nối các đỉnh cột với nhau Điểmgiao nhau giữa hai vì mái chính là nơi vì nóc (mày lép) chạy qua Như vậy, bộ vì cộtcủa nhà sàn Thái đen có thể coi là một tam giác cân, đỉnh là điểm giao nhau của hai

vì mái, hai đỉnh còn lại chính là điểm tiếp xúc giữa hai đầu cột quân với vì mái

Cố định xong các vì kèo, nếu vào mùa mưa, người ta sẽ lợp mái trước rồi mớilàm sàn và thưng vách Trước kia, mái nhà vẫn được lợp bằng cỏ tranh, dần dần, người

ta thay thế bằng mái tôn, blô - xi măng, nhưng phổ biến nhất vẫn là mái đá đen Có thểnói, kiến trúc mái nhà bằng đá đen, ngày nay đã trở thành một đặc trưng tiêu biểu chonhà sàn Thái thay vì mái nhà hình mái rùa và khau cút trang trí trên mái trước kia

Người Thái sinh sống dọc sông Đà có nghề chế tác đá, họ thường khai thácnhững đụn đá nổi lên giữa mặt sông vào mùa cạn, những phiến đá này, qua thời gian

đã bị nước mài nhẵn, người ta chỉ việc gọt đẽo một chút cho vuông thành, sắc cạnh

34

Trang 39

là được một viên đá Mái đá được lợp xen kẽ, đan cài hình vẩy cá theo thứ tự từ nócnhà xuống.

Sàn nhà (khan hướn), cao hơn mặt đất chừng 1,6 đến 1,7 m, trước kia được làm

từ thân cây luồng đập dập, hiện nay, toàn bộ sàn nhà của người Thái đều bằng nhữngtấm gỗ ván chắc chắn, dày từ 5 đến 7 cm Vách nhà (pha) cũng đều làm từ gỗ, khithưng vách, thợ kết hợp đục luôn cửa chính, cửa phụ và các cửa sổ Người Thái mở cửa

ra vào ở hai đầu hồi, gồm một cửa chính (tu quản) mở ở gian khách, quay về hướngBắc, một cửa phụ (tu chan) mở ở gian bếp, quay hướng Nam Khung cửa hình chữ nhật,cao từ 1,7 đến 2 m, rộng 1 đến 1,2 m, có nhà sử dụng ba tấm gỗ rộng chừng 15 cm ghéplại thành khung cửa, có nhà xẻ luôn vách nhà làm khung Cánh cửa bằng gỗ, để mộc,không sơn và chạm trổ hoa văn, thường mở vào trong Cửa sổ (tu tang) trong các ngôinhà Thái thường được khắc chạm nhiều hoa văn tinh tế, phổ biến là hình ngôi sao vàhình mặt trời Nhà nào cũng mở cửa sổ trông ra đường chính, mỗi nhà có từ 2 đến 3 cửa

sổ, thường mở ở gian khách và gian đối diện với gian con gái, cửa cũng được chạm từvách, rộng chừng 1m2, có hai cánh cửa mở ra ngoài

Ngày nay, người Thái không dùng gầm sàn để nhốt gia súc như trước đây nữa

để đảm bảo vệ sinh cho môi trường sống, tránh bệnh tật theo các chương trình tuyêntruyền vận động của các cán bộ y tế Họ sử dụng gầm sàn là nơi để củi, nông cụ,ngư cụ, máy móc, phương tiện đi lại và một số đồ dùng sinh hoạt

Bố trí mặt bằng bên trong nhà sàn thể hiện rõ sự phân công chức năng sinh hoạt

theo giới Không gian sinh hoạt được chia theo chiều dài ngôi nhà, lấy hai cửa tu quản

và tu chan làm ranh giới Sàn nhà được chia làm hai nửa rõ rệt, nửa bên vách cửa sổ là các gian để đồ đạc, lương thực,v.v … kết thúc là gian khách giáp với cửa tủ quản, phần

vách đối diện với cửa sổ là không gian dành cho các phòng ngủ, giữa các gian không có

vách ngăn Không gian ở cửa tủ chan được bố trí dành cho sinh hoạt của phụ nữ Từ

hiên bước vào, bên phải là bếp chính (chi phây), bên trái là buồng ngủ của con gái

Người Thái đun bếp củi, lấy ba hòn đá làm kiềng, kiềng được đặt trên một tấm

Trang 40

bằng sắt mua từ người Kinh Phía trên là giá bếp (tá) đựng hạt giống, gia vị, rổ, rá, hoặcdùng để sấy khô thức ăn Xung quanh bếp, sát vách nhà là nơi để chạn bát, xung quanhchạn bát và một số đồ dùng phục vụ cho việc nấu ăn như xô đựng nước, ninh đồ xôi,chày, cối vv… Tiếp theo gian bếp, ở phần vách phía Đông lần lượt là các gian: gian để

thóc (táng), một khoảng không gian rộng đi qua hai cửa sổ và trên cùng, giáp với cửa tu quản là gian khách (hoỏng khách) Gian để thóc là nơi đồng bào tích trữ lương thực,

chủ yếu là những bao dứa đựng thóc chồng lên nhau Qua khoảng không gian có hai

cửa sổ là gian khách (xủ khé), tiếp giáp với cửa tu quản Tại gian này, chủ nhà thường

đặt một bộ bàn ghế tiếp khách, nhà nào khá giả thì có thêm tủ tường, ti vi, đài… Toàn

bộ không gian bên vách phía Tây là nơi bố trí bàn thờ và các gian ngủ, lần lượt từ gianbếp vào là: gian con gái (hổn côn nhin), gian chủ nhà (hoặc bố mẹ chủ nhà, nếu là giađình chung sống ba thế hệ) (pú), gian bàn thờ (nả hoóng) và cuối cùng là gian con trai(gian con dâu) (hoỏng côn trai, hoỏng đụ pạng) giáp với cửa chính Ở mỗi gian ngủ,đồng bào thường xếp rất nhiều chăn đệm gá vào vách, dưới chăn đệm là những chiếc

bem đựng đồ cá nhân của mỗi người Mỗi buồng thường xếp đến gần chục chiếc chăn

đệm, số lượng càng nhiều, càng chứng tỏ người phụ nữ trong gia đình đó khéo tay, đảmđang thu vén cho gia đình Các gian ngủ ngăn màn gió hai phía, phía quay ra hành langgiữa nhà và phía tiếp giáp với ngăn khác

Gian bàn thờ được ngăn với các gian khác bằng vách gỗ, chỉ là khoảng khôngnhỏ rộng chừng 2 m2, trong gian bàn thờ trong ngôi nhà Thái có bày 1 bát hương

Số rọ tượng trưng cho số thành viên nam trong nhà, cứ mỗi khi có một bé trai đượcsinh ra, người nhà khâu một túi vải nhỏ, bỏ vào đó vài đồng bạc trắng và một tờ giấyghi họ tên, rồi cho túi vào rọ, treo lên đầu que, có ai đó chết đi, người ta lại tháo cái

rọ của người đó xuống Nếu một thành viên nào đó còn sống mà cái rọ của ông ta tựnhiên rơi xuống hoặc bị gió thổi, mưa tạt vào làm hỏng, thì người nhà phải làm một

lễ cúng nhỏ, và chờ đến ngày cuối năm mới sửa lại cái rọ đó

Xung quanh nhà ở là nhà để củi (coong nua), chuồng gà (đọ kạy), chuồng lợn(ko mụ), vườn (suôn), sân giếng, ao thả cá (luông)…Nhà để củi dựng bốn cột chôn và

36

Ngày đăng: 27/10/2020, 22:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w