Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Trong những năm qua, đã có nhiều công trình của các nhà khoa học đisâu nghiên cứu về vấn đề tôn giáo nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôngiáo nó
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGÔ MINH THUẬN
TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO Ở TỈNH THÁI BÌNH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGÔ MINH THUẬN
TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO Ở TỈNH THÁI BÌNH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRẦN THỊ KIM OANH
HÀ NỘI - 2009
Trang 3Lời cảm ơn!
Tác giả xin trân trọng cảm ơn tới cô giáo TS Trần Thị Kim Oanh, khoaTriết học của trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốcgia Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành đề tài nghiêncứu khoa học
Xin trân trọng cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong khoa Triết học củatrường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đãđịnh hướng, giúp đỡ tác giả trong việc lựa chọn đề tài khoa học trên để nghiêncứu Đề tài bước đầu đã đáp ứng đúng nhiệm vụ học tập, nghiên cứu của nhàtrường đề ra cũng như tình hình thực tiễn ở địa phương tỉnh Thái Bình đặt ratrong giai đoạn hiện nay
Xin chân thành cảm ơn tới tập thể lớp cao học triết khoá K.15 đã cộngtác, giúp đỡ và có nhiều đóng góp quan trọng giúp tác giả hoàn thành đề tài
Trang 4LỜI CAM ĐOAN.
- Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu khoa học: Tìm hiểu tư tưởng
Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay,dưới sự hướng dẫn của TS Trần Thị Kim Oanh là hoàn toàn mới, không có sựtrùng lặp với các công trình nghiên cứu khác
- Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học củaluận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào
TÁC GIẢ
Ngô Minh Thuận
Trang 5: Nghị quyết: Quản lý nhà nước: Quyết định
: Uỷ ban nhân dân: Xã hội chủ nghĩa
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong hơn 70 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trên nềntảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhân dân ta đã vượt quanhiều khó khăn và thử thách; đồng thời thu được những thành tựu rất quantrọng về kinh tế, chính trị – xã hội, văn hoá Vì vậy, tại Đại hội VII, Đảngkhẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làmnền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động” Thực hiện tinh thần trên,trong những năm đổi mới tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta tiếp tục vậndụng, phát triển sáng tạo vào trong đời sống xã hội cũng đã giành được nhiềuthắng lợi to lớn Đến Đại hội X, Đảng tổng kết rút ra bài học kinh nghiệm:
“Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”
Tại Thái Bình, nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV (năm1991) đã xác định: “Mọi chủ trương, đường lối của Đảng bộ tỉnh trong quátrình đổi mới cần dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh và tình hình thực tiễn ở địa phương” Quán triệt tinh thần nghị quyếttrên, Đảng bộ và chính quyền tỉnh nhiều năm qua luôn làm tốt công tác vậndụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng HồChí Minh vào quá trình lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện tốt các nhiệm vụchính trị, trong đó có nhiệm vụ xây dựng khối đoàn kết tôn giáo Trên thực tếcũng chỉ ra, Thái Bình là một tỉnh đông dân trong đó đồng bào theo các tôngiáo chiếm gần 1/3 dân số của tỉnh, chủ yếu là ba tôn giáo chính: Công giáo,Phật giáo và Tin lành giáo Tỉnh xác định, đây là nguồn lao động dồi dào cótiềm năng và sức sáng tạo mạnh mẽ, sẽ góp phần quan trọng vào việc thựchiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH của địa phương Vì vậy, một trongnhững nhiệm vụ chính trị đặt ra cho Đảng bộ và chính quyền tỉnh Thái Bình làphải xây dựng tốt khối đoàn kết toàn dân; trong đó đặc biệt chú trọng xây
Trang 8dựng tốt khối đoàn kết tôn giáo, mục đích phát huy và tăng cường hơn nữasức mạnh nội lực của đồng bào tín đồ các tôn giáo nhằm tạo ra thế và lực đảmbảo cho sự phát triển nhanh và bền vững trên các mặt: chính trị, kinh tế - xãhội, văn hoá hiện nay.
Xuất phát từ tình hình thực tế và nhiệm vụ chính trị của địa phương, tác
giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu: Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay -
làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành triết học
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình của các nhà khoa học đisâu nghiên cứu về vấn đề tôn giáo nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôngiáo nói riêng với nhiều góc độ, phương pháp, phạm vi nghiên cứu cũng khácnhau như:
Trịnh Xuân Giới, Phó Trưởng ban dân vận Trung ương với đề tài: Tôn giáo - những chỉ dẫn về tư tưởng và nhân văn trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, của Đảng ta, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, năm 2003; Hồ Trọng Hoài, Trung tâm khoa học về tín ngưỡng và tôn giáo với đề tài: Hồ Chí Minh
về đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, năm 2003;
Lê Quang Vịnh, Trưởng ban Tôn giáo của Chính phủ với đề tài: Tư tưởng
Hồ Chí Minh về quản lý nhà nước đối với tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, năm 2003; Phạm Như Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học xã hội Việt Nam với đề tài: Các Mác-Ph.Ăngghen, Hồ Chí Minh về tôn giáo - một
số vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận và quan điểm, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, năm 2003; Nguyễn Xuân Oánh, Viện trưởng Viện chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh với đề tài: Hồ Chí Minh
về mối quan hệ giữa tôn giáo với chủ nghĩa xã hội, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, năm 2003; Đỗ Quang Hưng, Viện trưởng Viện nghiên cứu Tôn giáo - Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia: Hồ Chí Minh và nền tảng luật pháp tôn giáo ở nước ta, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, năm 2003; Đặng Nghiêm
Trang 9Vạn, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Tôn giáo: Hồ Chủ tịch với đặc trưng tôn giáo Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, năm 2003
Tại tỉnh Thái Bình cũng có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về
tôn giáo như đề tài: Tình hình truyền đạo trái phép, tà đạo và mê tín dị
đoan ở Thái Bình, do Ban tôn giáo tỉnh Thái Bình thực hiện năm 1997; Di
tích lịch sử đền Trần, do Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Bình thực hiện năm 2001; Quản lý nhà nước về tôn giáo ở tỉnh Thái Bình; Phát triển đảng viên trong đồng bào công giáo do trường Chính trị tỉnh Thái Bình đảm nhiệm, từ năm 2005 đến 2006 Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có đề tài
khoa học nào nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về việc xây dựng khối đoànkết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình trong giai đoạn đổi mới
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận
văn - Mục đích
Thông qua việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo,tác giả làm rõ việc Đảng bộ và chính quyền tỉnh Thái Bình vận dụng tư tưởngcủa Hồ Chí Minh vào xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở địa phương giai đoạn
từ 1986 đến nay
Một là; trên cơ sở làm rõ nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
về đoàn kết tôn giáo Qua đó, tác giả thấy rõ được những nội dung, nguyên tắc
và phương pháp cơ bản về đoàn kết tôn giáo của Hồ Chí Minh
Hai là; chỉ ra quá trình xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái
Bình trên cơ sở vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh giai đoạn từ 1986 đến nay.
Ba là; đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm xây dựng tốt khối đoàn
kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình từng bước đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu
Trang 10Quá trình xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình vận dụng tưtưởng Hồ Chí Minh giai đoạn từ 1986 đến nay.
Những chủ trương, nghị quyết, chính sách và giải pháp của Đảng bộ,UBND, Mặt trận tổ quốc, Ban tôn giáo tỉnh Thái Bình về xây dựng khối đoànkết tôn giáo từ năm 1986 đến nay
- Phạm vi nghiên cứu
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình từ năm 1986 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận: đề tài thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, nghị quyết của Đảng, các báo cáotổng kết hàng năm của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, UBND các huyện về tôn giáo vàcông tác tôn giáo
- Phương pháp nghiên cứu: đề tài dựa trên phương pháp duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử; kết hợp với các phương pháp tổng hợp, thống kê, sosánh để làm rõ nội dung chủ yếu của đề tài
6 Những đóng góp và ý nghĩa của luận văn
- Làm rõ việc Đảng bộ và chính quyền tỉnh vận dụng tư tưởng Hồ ChíMinh vào việc xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình trong nhữngnăm đổi mới vừa qua
- Đề xuất một số bài học kinh nghiệm mang tính định hướng trong việc xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở địa phương tỉnh Thái Bình những năm tiếp theo.
- Kết quả nghiên cứu đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo trongquá trình nghiên cứu, giảng dạy ở trường Đảng tỉnh và các trung tâm bồidưỡng lý luận chính trị tại các huyện, thị
7 Kết cấu nội dung nghiên cứu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn gồm 2 Chương, 6 tiết
Trang 11NỘI DUNG
Chương 1:
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO
TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo
1.1.1 Cơ sở lý luận
Hồ Chí Minh đã kế thừa, tiếp thu truyền thống đoàn kết của dân tộcViệt Nam trong suốt thời kỳ dài lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữnước Đây chính là hệ tư tưởng quan trọng đã giúp cho nhiều thế hệ ngườiViệt Nam nói chung và Hồ Chí Minh nói riêng trong việc tổ chức, xây dựng
và tập hợp lực lượng cách mạng của toàn dân nhằm bảo vệ và xây dựng Tổquốc; đồng thời cảnh giác với các thế lực “thù trong, giặc ngoài” cũng nhưcác âm mưu muốn chia rẽ, bóc lột nô dịch dân tộc Việt Nam Ngược lại chặngđường lịch sử, nhìn lại quá khứ bất kỳ người dân Việt Nam yêu nước nàocũng có thể cảm nhận thấy bức tranh toàn cảnh, đậm nét, oai hùng, oanh liệttrong chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam Một dân tộc nhỏ bé nhưng
đã biết đoàn kết lại thành một khối thống nhất với mong muốn tạo ra một sứcmạnh tổng hợp trong toàn dân tộc, để đứng lên đấu tranh đánh bại các thế giặclớn từ phương Bắc tràn sang xâm lược như: triều đại nhà Hán, nhà Nguyên,nhà Minh, nhà Thanh mà triều đại nào cũng muốn xâm lược, bóc lột, nô dịchthống trị dân tộc Việt Nam Bên cạnh đó, điều kiện tự nhiên cũng rất khắcnghiệt thường xuyên ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt sản xuất củangười dân, khi nắng “như thiêu, như đốt”, khi rét như “cắt da, cắt thịt”, khôngnhững thế dân tộc Viêt Nam còn phải liên tục chống chọi, đối mặt với nhữnghiện tượng tự nhiên bất thường xảy ra như: bão gió, lũ lụt, hạn hán , nhưng đểtrường tồn và phát triển trong điều kiện như trên thì chỉ có phương thức
Trang 12sống duy nhất đó chính là tinh thần đoàn kết toàn dân, cố kết cộng đồng củadân tộc Việt Nam.
Vì vậy, cần khẳng định tinh thần đoàn kết dân tộc có một giá trị rất quýbáu, thiết thực mang tính sống còn đảm bảo cho sự trường tồn và phát triểnlâu dài của dân tộc Việt Nam Tinh thần đó đã nhanh chóng trở thành truyềnthống đoàn kết, gắn bó một cách tự nhiên nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệkhác, ăn sâu vào tiềm thức của từng cá nhân trong cộng đồng người Việt Nam
và được hun đúc bằng nhiều câu ca dao, tục ngữ cũng như tư tưởng triết lýnhân sinh như:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gươngNgười trong một nước thì thương nhau cùng”
“Bầu ơi thương lấy bí cùngTuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”
Trong tư tưởng triết lý nhân sinh của con người Việt Nam:
“Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”
“Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
Đến thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Namđược kế thừa và nâng lên thành tư tưởng đại đoàn kết mang tính chiến lượccách mạng Người chỉ ra, trong thời đại mới muốn đánh đổ được các thế lực
đế quốc thực dân xâm lược nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp vàgiải phóng con người, nếu chỉ dựa vào số ít người lao động thì cách mạng sẽnhanh chóng bị thất bại Do đó, cách mạng muốn thành công thì phải tập hợpđược tất cả mọi lực lượng yêu nước lại Cho nên, Người nói: “Tôi khuyênđồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi Năm ngón tay cũng có ngón ngắnngón dài Nhưng ngắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay Trong mấy mươi triệu
Trang 13con người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều làgiòng dõi của tổ tiên ta Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ Ta phải nhận rằng
đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít nhiều lòng ái quốc Đối với đồngbào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ Có như thế mớithành đoàn kết, có đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang.”[39,tr 246-247] Ngoài truyền thống đoàn kết nêu trên thì truyền thống yêu nước cũngđồng hành cùng dân tộc trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữnước Cho nên, đối với mỗi người dân Việt Nam luôn ý thức sâu sắc về mốiquan hệ gắn bó mật thiết giữa nhà - làng – nước thành một khối thống nhấtkhông thể tách rời, nhờ vậy đã hình thành nên quan niệm sống “nước mất thìnhà tan” Vì vậy, mỗi khi có giặc ngoại bang đến xâm phạm bờ cõi, từ ngườigià đến người trẻ không phân biệt nam, nữ, dòng tộc, vùng, miền đều thamgia đánh giặc Điển hình như trong Hội nghị Diên Hồng mọi người đều đồngtâm, nhất trí nêu cao tinh thần yêu nước dám xả thân cho nền độc lập dân tộccủa Tổ quốc hay trong các bài thơ, bài văn chính luận của các bậc tướng lĩnhkhi ra trận như: “Hịch tướng sỹ” của Trần Quốc Tuấn; “Nam quốc sơn hà”của Lý Thường Kiệt; “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi đều khẳng định rõtinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập chủ quyền thốngnhất toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Chính vì vậy, truyền thống yêu nước đãnhanh chóng trở thành bức tường thành vững chắc nhất, kiên cố nhất trongviệc bảo vệ nền độc lập dân tộc lâu dài Đến thời đại Hồ Chí Minh cũng đãxuất hiện nhiều bậc tiền bối với tầm lòng yêu nước, thương dân như: HoàngHoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Lương VănCan, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Quyền đã vạch ra nhiều con đường để cứunước và gây dựng các phong trào cách mạng nhằm nhằm giải phóng dân tộcthoát khỏi cảnh lầm than nô lệ của thực dân Pháp xâm lược, nhưng đều bị thấtbại do không có lý luận cách mạng soi đường Hồ Chí Minh lớn lên chứngkiến cảnh nước mất, nhà tan đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, chịu cảnh áp
Trang 14bức nô lệ “một cổ, ba chòng” Vì vậy, Người đã quyết tâm đi sang phươngTây tìm con đường cứu nước, cứu dân Sau nhiều năm bôn ba ở Châu Âu,Châu Mỹ, Châu Phi đã giúp Người tìm ra con đường cứu nước, giải phóngcho dân tộc.
Bên cạnh những giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam nêu trên, HồChí Minh còn tích cực tiếp thu những tinh hoa văn hoá phương Đông –phương Tây thông qua các học thuyết Nho giáo, Phật giáo, Ki tô giáo; đặcbiệt là học thuyết Mác – Lênin về tôn giáo và đoàn kết tôn giáo Nho giáo vàoViệt Nam từ thời Bắc thuộc (đầu CN), nhưng trong suốt thời gian đầu chốngBắc thuộc Nho giáo chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam Vì đó là vănhoá xâm lược áp đặt, muốn đồng hoá - Hán hoá dân tộc, nhưng về sau do yêucầu khách quan của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đấtnước Nho giáo ngày càng chiếm vị trị quan trọng trong đời sống của dân tộcViệt Nam Năm 1070 với sự kiện Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu thờ ChuCông (Khổng Tử), khi đó Nho giáo mới được coi là tiếp nhận chính thức, đếnthế kỷ XV Nho giáo đã trở thành quốc giáo Người Việt Nam đã chủ động tiếpthu những tư tưởng tiến bộ trong Nho giáo để phục vụ cho mục đích chính trịcủa dân tộc như: thuyết “Tam cương”, “Ngũ thường” nhằm duy trì tôn tư, trật
tự trong xã hội cùng với các tư tưởng đạo đức như: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín,
“trung quân, ái quốc”; tu thân, tề gia trị quốc, bình thiên hạ với khát vọng xâydựng một nền độc lập tự chủ thái bình thịnh trị Đến thời đại Hồ Chí Minh,Nho giáo vẫn giữ một vị trí quan trọng trong công cuộc giải phóng dân tộc,xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Hồ Chí Minh đã tích cực tiếp thu, chọn lọc vàvận dụng sáng tạo những tư tưởng tiến bộ của Nho vào trong sự nghiệp cứunước, cứu dân như: tư tưởng đạo đức trung với nước, hiếu với dân; tư tưởngcần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tư tưởng tu thân tề gia trị quốc bìnhthiên hạ; tư tưởng về xây dựng một “thế giới đại đồng” của Khổng Tử, trong
đó con người phải yêu thương tôn trọng lẫn nhau, trên dưới hoà
Trang 15thuận không phân biệt đối xử Người nói: “Khổng Tử vĩ đại (551 trước CN)khởi xưởng thuyết đại đồng và truyền bá sự bình đẳng về tài sản Ông từngnói: “Thiên hạ sẽ thái bình khi thế giới đại đồng Người ta không sợ thiếu, chỉ
sợ không đồng đều Bình đẳng sẽ xoá bỏ nghèo nàn ,”[36,tr.35] Bên cạnhnhững ảnh hưởng lớn của Nho giáo đến đời sống tinh thần của người dân ViệtNam thì Phật giáo là một tôn giáo lớn trên thế giới cũng ảnh hưởng rất sâu sắcđến đạo đức, lối sống và thực hành đạo đức xã hội của dân tộc Việt Nam,nhưng khác với Nho giáo vào Việt Nam bằng con đường xâm lược đồng hoádân tộc thì ngược lại Phật giáo vào Việt Nam bằng con đường hoà bình TheoĐại Việt sử ký toàn thư nhận định, Phật giáo truyền vào Việt Nam đầu tiên ởtrung tâm Luy Lâu (Bắc Ninh) cùng thời với các trung tâm Bành Thành, LạcDương của Trung Quốc vào cuối thế kỷ thứ II (sau CN) Phật giáo vào ViệtNam theo hai con đường, đường thuỷ thông qua buôn bán với thương gia Ấn
Độ, đường bộ thông qua giao lưu văn hoá với Trung Quốc Đạo Phật đến vớiViệt Nam bằng con đường hoà bình, giáo lý của đạo Phật rất gần gũi với quầnchúng nhân dân lao động với các tư tưởng về tự do, bình đẳng, bác ái, đoànkết, cứu khổ, cứu nạn, yêu thương con người Vì vậy, Phật giáo đã sớmchiếm được vị trị quan trọng trong đười sống tinh thần của dân tộc Việt Nam
và nhanh chóng trở thành tôn giáo của dân tộc Đến thời đại Hồ Chí Minh,Phật giáo đã ăn sâu vào lối sống của nhiều người dân Việt Nam trong đó có
Hồ Chí Minh; đặc biệt là các tư tưởng về tự do, từ bi, bình đẳng, bác ái, đoànkết, yêu thương giúp đỡ con người trong những lúc khó khăn, hoạn nạn.Thông qua những tư tưởng tiến bộ của Phật giáo nêu trên đã góp phần hìnhthành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo nhằm
giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người Người nói:
“Đức Phật là đại từ, đại bi, cứu khổ, cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏikhổ nạn ”[40,tr.197]
Trang 16Ngoài những yếu tố tiến bộ của Phật giáo ảnh hưởng sâu sắc đến đờisống tinh thần và thực hành đạo đức xã hội của nhiều người dân Việt Nam nóichung và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và đoàn kết tôn giáo nói riêng thìđạo Công giáo xuất hiện muộn nhưng cũng có sự ảnh hưởng rất lớn đến đứctin, lối sống của một bộ phận không nhỏ người dân Việt Nam, khác với Phậtgiáo vào Việt Nam bằng con đường hoà bình thì Công giáo vào Việt Nambằng âm mưu mở rộng đất thánh của giáo sỹ phương Tây cùng với âm mưuxâm lược của thực dân Pháp Công giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVI do một
số giáo sỹ người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và người Pháp truyền giáo Trongthời kỳ đầu, việc truyền đạo vào Việt Nam chưa đạt kết quả cao do những bấtđồng về ngôn ngữ Sang thế kỷ XVII việc truyền đạo mới đem lại hiệu quả,người đóng vai trò lớn trong việc truyền giáo vào Việt Nam là một Linh mụcngười Pháp Alexandre De Rhodes thông thạo tiếng Việt lại tận tuỵ hết mìnhvới sứ mệnh truyền đạo Vì vậy, công cuộc truyền giáo đã từng bước xâydựng được những cơ ban đầu ở Hà Tiên (Thanh Hoá), lôi kéo nhân dân đitheo số lượng ngày một đông Quá trình truyền đạo Công giáo vào Việt Nam
có những biến động rất phức tạp, do sự khác nhau về tín ngưỡng, văn hoá đốivới dân tộc Triều đình nhà Nguyễn đã phải ba lần xuống chiếu để cấm đạo,nhưng được sự tiếp tay bảo hộ của thực dân Pháp đối với đạo Công giáo ởViệt Nam Vì vậy, đạo Công giáo vẫn tồn tại và phát triển; đồng thời cũng cónhững ảnh hưởng nhất định đến một bộ phận quần chúng nhân dân lao động
về đức tin, lối sống và thực hành đạo đức xã hội Tư tưởng của đạo Công giáonhìn chung phản ánh những khát vọng của quần chúng nhân dân lao động vềcuộc sống tự do, hạnh phúc, yêu thương con người, thảo kính Cha Mẹ, đoànkết giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống hàng ngày Đến thời đại Hồ Chí Minh,đạo Công giáo đã chiếm được vị trí trong đời sống tinh thần của một bộ phậnquần chúng nhân dân lao động về đức tin, lối sống và thực hành xã hội Chính
vì vậy, Hồ Chí Minh đă tiếp thu, vận dụng sáng tạo những ưu điểm tiến bộ
Trang 17của đạo Công giáo vào việc xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”, “KínhChúa, yêu nước”.
Người nói: “Chúa Giê Su dạy: Đạo đức là bác ái
Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi
Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”[41,tr.225]
Theo Hồ Chí Minh thì tôn giáo nào cũng đạo đức, yêu thương chia sẻgiúp đỡ con người trong những lúc khó khăn, hoạn nạn Cho nên, Người đãbiết chủ động tìm kiếm và khai thác những điểm tương đồng, những giá trịđạo đức trong các tôn giáo gắn với cách mạng Việt Nam, giữa đức tin tôn giáovới tình yêu Tổ quốc; đồng thời biết tôn trọng và loại bỏ những cái dị biệt vềthế giới quan, hệ tư tưởng, nhu cầu tín ngưỡng nhằm huy động tất cả các lựclượng yêu nước vào trong sự nghiệp "cứu nước, cứu dân", nhưng để đạt đượcmục tiêu trên đòi hỏi phải có lý luận cách mạng soi đường Vì vậy, trong suốthành trang đi tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh đãbắt gặp chủ nghĩa Mác- Lênin, tích cực học tập và tiếp thu chủ nghĩa Mác -Lênin về thế giới quan duy vật, phương pháp làm việc biện chứng và về tôngiáo Đây được coi là nguồn gốc trực tiếp hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
về tôn giáo và đoàn kết tôn giáo Học thuyết Mác – Lênin đã chỉ ra tínngưỡng, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh một cách hoangđường, hư ảo lệch lạc từ thế giới hiện thực khách quan làm nảy sinh ra tôngiáo Cụ thể, Ăng Ghen khi nghiên cứu về tôn giáo đã khẳng định: “Tất cảmọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc con người –của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sựphản ánh trong đó những lực lượng của trần thế đã mang hình thức của nhữnglực lượng siêu trần thế”[34,tr.437] Các ông nhận định, tôn giáo là một hiệntượng xã hội đặc biệt mang tính lịch sử, là thế giới quan lộn ngược trong việcgiải quyết mối quan hệ giữa con người với cái thế giới siêu nhiên, trong đó
Trang 18sức mạnh trần gian đã mang hình thức sức mạnh siêu nhiên chi phối toàn bộđời sống của con người và cộng đồng người Cho nên, bản chất tôn giáo về cơbản là phản ánh sai lệch tồn tại xã hội Về nguồn gốc ra đời của tôn giáo, chủnghĩa Mác - Lênin chỉ ra tôn giáo ra đời dựa trên ba nguồn gốc cơ bản: nguồngốc kinh tế - xã hội của tôn giáo, chủ nghĩa Mác- Lênin nhận định trong xãhội cộng sản nguyên thuỷ do trình độ của lực lượng sản xuất và điều kiện sinhhoạt vật chất thấp kém, con người yếu đuối và bất lực trước sức mạnh củagiới tự nhiên Vì vậy, người nguyên thuỷ rất sợ hãi, sùng bái và tôn thờ nhữngthế lực tự phát trong tự nhiên đó là nguyên nhân kinh tế cho sự ra đời của tôngiáo, nhưng khi lực lượng sản xuất phát triển và năng xuất lao động tăng củacải trong xã hội dư thừa đã làm nảy sinh tư hữu về tư liệu sản xuất, giai cấphình thành, đối kháng giai cấp nảy sinh giữa những người đi áp bức và nhữngngười bị áp bức; giữa kẻ giầu và người nghèo, người hạnh phúc và người khổđau trong xã hội khi đó đã nảy sinh các mối quan hệ giữa người với ngườidiễn ra rất phức tạp, bên cạnh đó con người còn chịu những tác động từ cácyếu tố tự phát, ngẫu nhiên, may rủi nằm ngoài ý muốn, khả năng điều chỉnhhành vi của con người dẫn đến sự bị động, bất lực trước lực lượng tự phát nảysinh trong đời sống xã hội Như vậy, chính sự bần cùng về kinh tế, nạn áp bức
về mặt chính trị, sự hiện diện của những bất công trong xã hội cùng với nhữngthất vọng, bất hạnh trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp bị trị đối vớigiai cấp thống trị là nguồn gốc kinh tế - xã hội sâu xa cho sự ra đời của tôngiáo Bên cạnh nguồn gốc kinh tế - xã hội cho sự ra đời của tôn giáo thì nguồngốc nhận thức cũng đóng một vai trò quan trọng cho tôn giáo ra đời Theoquan điểm của chủ Mác - Lênin khẳng định, nguồn gốc nhận thức cho sự rađời của tôn giáo gắn liền với đặc điểm nhận thức của con người về thế giớikhách quan - đó là quá trình diễn biến rất phức tạp Một mặt, hình thức phảnánh phong phú, đa dạng mang tính khoa học thì khả năng nhân thức của conngười càng đầy đủ và chính xác về thế giới khách quan Mặt khác, hình
Trang 19thức phản ánh trừu tượng, hư ảo thì khả năng nhận thức của con người càng
xa rời và phản ánh sai lệch hiện thực khách quan, đây là cơ sở cho sự ra đờicủa tôn giáo Ngoài nguồn gốc kinh tế - xã hội, nguồn gốc nhận thức cho sự rađời của tôn giáo thì nguồn gốc tâm lý cũng là nguyên quan trọng cho tôn giáo
ra đời Các nhà vô thần luận đã nhận định về các yếu tố tâm lý, trạng thái tình
cảm buồn, vui, sự sợ hãi do những tác động của các lực lượng tự phát trong
tự nhiên và xã hội đã dẫn đến việc con người phải nhờ cậy vào thần linh,thượng đế làm nảy sinh cho sự ra đời của tôn giáo Lênin đã đồng ý với quanđiểm trên của các nhà vô thần luận trong đó có Mác, Ăngghen; đồng thờiphân tích thêm nguồn gốc tâm lý cho sự ra đời của tôn giáo hiện đại đó là:
"Sợ hãi mù quáng trước thế lực của tư bản - mù quáng vì quần chúng nhândân không đoán trước được nó - là thế lực mà bất cứ lúc nào trong đời sốngcủa người vô sản và người tiểu chủ, cũng đe doạ và đem lại cho họ và đangđem lại cho họ sự phá sản"đột ngột","bất ngờ","ngẫu nhiên", làm cho họ diệtvong, biến họ thành một người ăn xin, một kẻ bần cùng, một gái điếm, và dồn
họ vào cảnh chết đói, đó chính là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiệnđại"[27,tr.515-516]
Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì tôn giáo ra đờidựa trên ba nguồn gốc cơ bản: nguồn gốc kinh tế - xã hội, nguồn gốc nhậnthức và nguồn gốc tâm lý Bên cạnh việc các nhà Mác xít luận giải về nguồngốc cho sự ra đời của tôn giáo thì đồng thời cũng chỉ ra những nguyên tắcmang tính khoa học nhằm giải quyết những vấn đề tôn giáo nảy sinh trong đờisống xã hội Trước hết, để giải quyết vấn đề tôn giáo cần phải hết sức thậntrọng mềm dẻo, tỉ mỉ, linh hoạt và chính xác; đặc biệt không được tuyên chiếnhoặc bài xích tôn giáo đó là những hành động dại dột, vô Chính phủ khôngmang lại hiệu quả Chính điều này Lênin đã chỉ ra:
"Những lời tuyên chiến ầm ĩ với tôn giáo là dại dột
Trang 20Tuyên chiến như là một phương thuốc tốt nhất làm kích động thêm sựquan tâm của người ta đối với tôn giáo và làm cho tôn giáo đến chỗ tiêu vongthực sự một cách khó khăn hơn"[27,tr 511-512] Mặt khác, các ông nhấnmạnh khi giải quyết những vấn đề tôn giáo cần phải dựa trên quan điểm lịch
sử - cụ thể để xem xét, đánh giá và ứng xử một cách chính xác, khoa học;đồng thời phải gắn việc giải quyết tôn giáo với công cuộc cải tạo xã hội hiệnthực làm cho xã hội ngày càng tiến bộ, không còn tình trạng áp bức, bất côngtrong xã hội , con người phải được tự do hạnh phúc ở thế giới trần tục khi đótôn giáo không còn lý do để tồn tại, làm được điều đó phải gắn với việc xâydựng thành công chủ nghĩa xã hội trong phạm vi mỗi nước và trên toàn thếgiới Ngoài ra, khi giải quyết vấn đề tôn giáo cần phân biệt được rõ hai mặtchính trị và tư tưởng trong tôn giáo, nhằm đấu tranh chống lại các thế lựcphản động muốn lợi dụng tôn giáo vào mục đích chính trị phản động làm ảnhhưởng đến sự nghiệp cách mạng và lợi ích của quần chúng nhân dân lao động
Hồ Chí Minh đã trung thành với học thuyết Mác – Lênin trong việc giảiquyết vấn đề tôn giáo, coi đó là quá trình lâu dài, phức tạp và rất khó khăn gắnvới việc xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam Vì vậy, trong quá trình hoạtđộng thực tiễn cách mạng, Người nhận thấy mục tiêu chung mà các tôn giáohướng tới hoàn toàn phù hợp với mục tiêu và công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam và nguyện vọng của số đông quần chúng nhân dân laođộng Hồ Chí Minh chỉ ra: "Mục đích của Chính phủ ta theo đuổi chiến đấu vìnền độc lập đem lại hạnh phúc cho nhân dân Song để đạt đến hạnh phúc đócho mọi người phải xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Nếu Chúa Giê susinh ra vào thời đại chúng ta và phải đặt mình trước nỗi khổ đau của ngườiđương thời, chắc Ngài sẽ là một người xã hội chủ nghĩa đi tìm con đường cứukhổ loài người"[69,tr.79]; nguyện vọng của đồng bào tôn giáo là: “Phần xác
no ấm, phần hồn thong dong” Vì vậy, Người luôn mong muốn và cố gắng hếtsức cho nước nhà sớm được độc lập, đồng bào ai cũng có cơm ăn,
Trang 21áo mặc, ai cũng được học hành, ai cũng được hưởng cuộc sống tự do, hạnhphúc thực sự trên thế giới trần tục, nhưng để hoàn thành nguyện vọng trênNgười đã chủ động xây dựng khối đoàn kết toàn dân; trong đó đặc biệt chútrọng đoàn kết với đồng bào theo tín ngưỡng, tôn giáo coi đó như một bộ phậnquan trọng trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm thực hiện thắnglợi mục tiêu: “Độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc”.
Tóm lại: Trên phương diện lý luận, Hồ Chí Minh đã kế thừa, học tập vàtích cực vận dụng sáng tạo các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam cùngvới các tinh hoa văn hoá phương Đông và phương Tây trong các học thuyếtNho giáo, Phật giáo, Công giáo; đặc biệt là chủ nghĩa Mác - Lênin về thế giớiquan duy vật và phương pháp luận, về tôn giáo và đoàn kết tôn giáo vào trong
sự nghiệp đấu tranh "giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc" Vì vậy, Ngườikhẳng định rõ:
“Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm của nó là tu dưỡng đạo đức cá nhân.Tôn giáo Giê su có ưu điểm của nó là lòng nhân ái
Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biệnchứng
Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó là chính sách của nó phùhợp với điều kiện ở nước ta
Khổng Tử, Giê Su, Các Mác chẳng có những ưu điểm đó sao? Họ lànhững người mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu hạnh phúc cho xã hội
Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp nhau thành một khối,tôi tin rằng họ nhất định sẽ chung sống với nhau hoà bình như những người bạnthân thiết Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”[54,15-16]
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn xã hội Việt Nam chỉ ra trong suốt quá trình đấu tranh dựngnước và giữ nước, đặc biệt dưới triều đại Lý – Trần thì các tôn giáo như: Nho
Trang 22giáo, Phật giáo cùng với các tín ngưỡng dân gian đã giữ vị trí quan trọngtrong việc củng cố, xây dựng xã hội phong kiến Việt Nam vững mạnh.
Đối với Phật giáo khi vào Việt Nam đã gắn kết giữa việc đời với việcđạo trong suốt quá trình bảo vệ và xây dựng đất nước Vì vậy, đã xuất hiệnnhiều nhà sư với tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc đã tích cực tham giađấu tranh cho nền hoà bình, độc lập dân tộc tiêu biểu như: thiền sư Đỗ Thuận,thiền sư Vạn Hạnh, thiền sư Lý Công Uẩn và hàng ngàn tăng ni, Phật tửkhác , đã đoàn kết dốc lòng giúp nước, giúp dân Đến đầu thế kỷ XX, xuấthiện ngày càng nhiều các tăng ni, Phật tử hăng hái tham gia vào các hoạt động
xã hội như: cuộc vận động đòi ân xá cho Phan Bội Châu và đám tang PhanChâu Trinh Thời Mỹ – Diệm, các Phật tử miền Nam tham gia tích cực vàophong trào đấu tranh đòi hoà bình và độc lập dân tộc… Như vậy, trong suốtquá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước đặc biệt dưới triều đại nhà Lý, hệ
tư tưởng Phật giáo giữ vai trò chủ đạo trong đời sống văn hoá, tinh thần củangười dân Việt Nam Bên cạnh Phật giáo thì Nho giáo là một học thuyết chínhtrị – xã hội cũng có nhiều đóng góp lớn vào trong công cuộc bảo vệ và xâydựng đất nước Vì vậy, xuất hiện nhiều nhà Nho có tấm lòng yêu nước thươngdân sâu sắc tiêu biểu như: Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Chu Văn An , đãđứng lên tổ chức, vận động tập hợp lực lượng toàn dân đoàn kết tham gia đấutranh chống lại giặc Nguyên Mông nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền, thốngnhất toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam Đến triều đại nhà Lê, Nho giáovẫn giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội với sự xuất hiện củacác nhà Nho yêu nước tiêu biểu như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bình Khiêm , đãgóp phần quan trong vào cuộc đấu tranh chống quân Minh xâm lược dân tộcViệt Nam Do đó, thắng lợi của cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước dướitriều đại Trần – Lê có sự đóng góp rất lớn của hệ tư tưởng Nho giáo ViệtNam
Trang 23Như vậy, trong xã hội phong kiến Việt Nam các tôn giáo khi vào ViệtNam đã gắn kết với vận mệnh của dân tộc, với công cuộc dựng nước và giữnước, giữa việc đời với việc đạo Vì vậy, đây chính là cơ sở để lý giải cho việctại sao ở Việt Nam không xảy ra chiến tranh hoặc sung đột giữa các tôn giáo
mà là sự kết hợp hài hoà của tam giáo đồng nguyên Nho – Phật – Lão thànhmột khối thống nhất hoà chung cùng dòng chảy chủ lưu của dân tộc Việt Nam
đó là truyền thống yêu nước, đoàn kết toàn dân tộc
Đối với đạo Công giáo có lịch sử vào Việt Nam muộn, có sự khác biệt
cơ bản về văn hóa, đức tin, lối sống so với truyền thống của dân tộc Vì vậy,khi vào Việt Nam đã dẫn tới những bất đồng về hệ tư tưởng, nhận thức và lốisống do đó nhà Nguyễn đã nhiều lần xuống chiếu cấm đạo Công giáo hoạtđộng trên lãnh thổ Việt Nam Chính vì vậy, tạo ra mâu thuẫn bất đồng giữađạo Công giáo với dân tộc Việt Nam, giữa những người theo đạo Công giáovới những người không theo đạo Công giáo là một trong những nguyên nhângây chia rẽ khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo dẫn đến tình cảnh “nướcmất, nhà tan” Thực dân Pháp và sau này là đế quốc Mỹ đã lợi dụng nhữngđiểm yếu trên của dân tộc Việt Nam, khoét sâu vào những bất đồng trongnhân dân bằng việc đưa ra nhiều các chính sách như: “ngu dân”, "nô dịch”,
“chia để trị” nhằm chia rẽ giữa đồng bào theo và đồng bào không theo tôngiáo, chia rẽ giữa các tôn giáo, giai cấp, dân tộc nhằm thống trị lâu dài ở ViệtNam Vì vậy, yêu cầu khách quan và cũng là nguyện vọng chung của ngườidân Việt Nam là đoàn kết tôn giáo, thống nhất dân tộc nhằm xây dựng lại nềnđộc lập dân tộc Do đó, đã xuất hiện nhiều bậc tiền bối với tấm lòng yêu nước,thương dân mong muốn củng cố, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, đoàn kếttôn giáo nhằm thống nhất Tổ quốc, xây dựng lại nền độc lập dân tộc tiêu biểunhư: Phan Bội Châu đã đặt vấn đề tôn giáo trong vấn đề dân tộc, tuy nhiên do
có sự hạn chế về mặt lịch sử và những quan điểm chính trị chưa đúng đườnglối Cho nên, tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Phan Bội Châu còn có những
Trang 24điểm bất cập ở chỗ: không nhận thức đúng về người Công giáo yêu nước chânchính với kẻ đội lốt Thiên Chúa cam tâm bán nước, cầu vinh.
Hồ Chí Minh lớn lên chứng kiến cảnh "nước mất, nhà tan", thực dânPháp đến xâm lược tàn phá gia đình, quê hương, dân tộc; ngoài ra còn dùngnhiều chính sách và thủ đoạn chính trị phản động ở Việt Nam; trong đó đặcbiệt là chính sách "chia để trị" nhằm chia rẽ tôn giáo, giai cấp, dân tộc đểthống trị lâu dài ở Việt Nam Từ hoàn cảnh thực tiễn nêu trên, kết hợp với ócquan sát và năng lực nhận thức đã giúp cho Hồ Chí Minh nhanh chóng nhậnthức rõ âm mưu và thủ đoạn chính trị của thực dân Pháp xâm lược Do đó,Người đã chủ động nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc và đoàn kếttôn giáo không phân biệt giàu nghèo, dòng giống, tôn giáo, giai cấp, dân tộc tất cả đều phải phấn đấu cho nền độc lập dân tộc, tự do hạnh phúc của nhândân Cho nên, Người nói: “Toàn thể đồng bào ta, không chia lương giáo, đoànkết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến, để giữ gìn non sông Tổ quốc, mà cũng
để giữ gìn quyền tôn giáo tự do”[39,tr.490]
Trong khi tình hình thực tiễn ở Việt Nam có nhiều diễn biến khôngthuận lợi thì tình hình thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cũng diễn rahết sức phức tạp và có nhiều mâu thuẫn Chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh
đã chuyển sang chủ nghĩa đế quốc tăng cường đi xâm lược các nước thuộc địanhằm tìm kiếm nguồn nhân công rẻ mạt, tài nguyên thiên nhiên và thị trườngtiêu thụ sản phẩm Việt Nam trở thành một trong những miếng mồi béo bởcủa chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc Chính tình hình thực tiễn trên, đãlàm xuất hiện nhiều mâu thuẫn lớn đó là: mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế với cácdân tộc thuộc địa và phụ thuộc; mâu thuẫn giữa các nước tư bản với nhau;mâu thuẫn giữa các nước đi theo con đường chủ nghĩa tư bản với các nước đitheo con đường chủ nghĩa xã hội; mâu thuẫn giữa thế giới quan duy vật vàduy tâm, giữa tôn giáo và khoa học, giữa vô thần và hữu thần tất cả các mâu
Trang 25thuẫn trên đã làm xuất hiện nhiều phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc,giải phóng giai cấp, giải phóng con người diễn ra rộng khắp ở nhiều nước Á,Phi, Mỹ latinh Chủ tịch Hồ Chí Minh lớn lên trước hoàn cảnh nước nhà bịchia cắt, bị biến thành nô lệ, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ Người đãquyết tâm đi ra nước ngoài tìm con đường cứu nước giải phóng cho dân tộcViệt Nam Sau nhiều năm, Người đã tìm ra con đường cứu nước giải phóngcho dân tộc Việt Nam đó là làm cách mạng vô sản, nhưng muốn làm cáchmạng theo Người cần phải tổ chức, xây dựng và lôi kéo được đông đảo lựclượng yêu nước trong nhân dân tham gia làm cách mạng; tức phải xây dựngthành công khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam Vì vậy,
Hồ Chí Minh xác định công tác xây dựng đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo
là nhiệm vụ quan trọng và là nhiệm vụ chiến lược hàng đầu quyết định đếnthắng lợi của các phong trào cách mạng Việt Nam
Tóm lại: Hồ Chí Minh đã nhận diện, đánh giá đúng đắn về tình hìnhchính trị trong nước và trên thế giới; đặc biệt là những vấn đề liên quan đếntôn giáo - một hình thái ý thức xã hội nhưng có sự ảnh hưởng rất lớn đến đờisống tinh thần, đạo đức, văn hoá và thực hành xã hội trong nhân dân Vì vậy,Người đã có thái độ rất tôn trọng, chân thành, cởi mở đối với các tôn giáo vàđồng bào tín đồ các tôn giáo trên tinh thần "đoàn kết tôn giáo, hoà hợp dântộc" nhằm thực hiện xây dựng thành công chiến lược đại đoàn kết toàn dântộc trên tinh thần không phân biệt giàu - nghèo, dòng giống, tôn giáo, giai cấp,dân tộc đó chính là cách nhìn nhận rất khách quan, toàn diện, sâu sắc vượtqua những hạn chế về mặt lịch sử của chủ tịch Hồ Chí Minh
1.2 Quan điểm về đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Xuất phát từ nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc,thống nhất Tổ quốc Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng khối đoàn kết dân tộc,đoàn kết tôn giáo trên tinh thần chân thành, tích cực, cởi mở, đoàn kết hữu ái,
Trang 26lâu dài; đặc biệt không phân biệt đối xử đối với các đồng bào có đạo, chức sắc, nhà tu hành cũng như các tôn giáo đang tồn tại và hoạt động trong phạm
vi lãnh thổ quốc gia dân tộc Việt Nam Vì vậy, nội dung đoàn kết tôn giáotrong tư tưởng Hồ Chí Minh vừa mang tính dân tộc, vừa mang bản chất nhânvăn và tinh thần nhân đạo chủ nghĩa sâu sắc ở chỗ hướng vào việc giải quyếtnhững tồn tại, bất công trong xã hội Việt Nam như: sự áp bức dân tộc, áp bứcgiai cấp, áp bức con người Cho nên, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôngiáo có những nội dung cơ bản sau:
1.2.1 Đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo
Đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo khác nhau về
hệ tư tưởng, thế giới quan, đức tin, nhu cầu tín ngưỡng, thực hành đạo đức xãhội duy có một cái chung: Dưới ách thống trị của thực dân Pháp và sau này
là đế quốc Mỹ xâm lược thì đều bị nô dịch, chà đạp, bóc lột thậm tệ và chịuảnh hưởng các chính sách phản động của chủ nghĩa thực dân Pháp và sau này
là đế quốc Mỹ đó là: “ngu dân, nô dịch”,“chia để trị” nhằm chia rẽ đồng bàotheo tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không theo tín ngưỡng, tôn giáo điềunày đã gây ra những tổn thất rất nghiêm trọng đến sự nghiệp cách mạng ViệtNam Trước tình hình thực tiễn trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ý thức rất sâusắc về công tác xây dựng khối đoàn kết dân tộc, đoàn kết đồng bào theo vàkhông theo tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam Người coi đồng bào tôn giáo làmột bộ phận trong chiến lược đại đoàn kết của toàn dân tộc Việt Nam, quyếtđịnh đến thắng lợi hay thất bại của đường lối cách mạng Việt Nam Cho nên,đối với Hồ Chí Minh việc xây dựng tốt khối đoàn kết tôn giáo vừa có cơ sở,vừa có điều kiện thực tế nhằm hiện thực hoá việc xây dựng thành công khốiđoàn kết toàn dân tộc Vì vậy theo Người, dù theo tôn giáo này hay theo tôngiáo khác hoặc không theo tôn giáo chẳng qua chỉ là sản phẩm có tính lịch sử,
là sự thay đổi về đức tin và tâm linh tôn giáo, nhưng cũng đều có cội nguồn
Trang 27sâu xa từ dòng giống “Con Lạc”, “cháu Hồng” Cho nên, mỗi người dân ViệtNam dù theo theo hoặc không theo tôn giáo, tất cả đều phải có trách nhiệmvới cộng đồng, với vận mệnh của Tổ quốc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết hợp, vận dụng rất linh hoạt giữa nhữngyếu tố truyền thống, lịch sử của dân tộc với bối cảnh hiện thực tôn giáo ở ViệtNam Người đã khái quát thành hai chữ rất gần gũi, thân thương “đồng bào”;
ở đây “đồng” với nghĩa là cùng, “bào” với nghĩa là bọc; tức đều trong bọctrứng của Mẹ Âu Cơ mà sinh ra Vì vậy, hễ là người Việt Nam hay có dònggiống người Việt Nam thì bất kỳ ai cũng luôn nhớ về cội nguồn của dân tộc,nhớ về ngày giỗ tổ 10/3 âm lịch hàng năm đã được lưu truyền từ thế hệ nàysang thế hệ khác: “Dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ tổ mồng mười thángba” Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đến thăm di tích lịch sử đền Hùng,Người đã khơi dậy truyền thống lịch sử và lòng tự hào của dân tộc của ngườiViệt Nam qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước thông qua câu nói:
“Các vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”
Câu nói trên có ý nghĩa giá trị rất lớn, mang tính giáo dục nhân văn rấtcao cho những thế hệ đi sau cần phải có trách nhiệm đối với thế hệ đi trướctrong việc tiếp tục thực thi nghĩa vụ đối với dân tộc, đối với vận mệnh của đấtnước Qua câu nói, Người như muốn nhắc nhở toàn thể chiến sĩ, đồng bào cảnước về những giá trị truyền thống lịch sử và lòng tự hào của dân tộc ViệtNam cần phải được bảo vệ và phát huy mạnh mẽ; đồng thời ngăn chặn khôngcho bất kỳ kẻ thù nào xâm hại đến những giá trị to lớn đó Đây không chỉ làbiểu tượng có sức mạnh quy tụ mọi tâm hồn Việt Nam dù theo hoặc khôngtheo tín ngưỡng, tôn giáo mà còn là lương tâm, tình cảm và trách nhiệm củatừng cá nhân người Việt Nam đối với vận mệnh của Tổ quốc Bên cạnh đó,trong suốt quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam, Người xác định
và đặt nhiệm vụ đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo lên hàng đầu và luôn
Trang 28giành nhiều thời gian và mối quan tâm đặc biệt cho công tác xây dựng chokhối đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc Thực tế cho thấy, ngay trong phiênhọp đầu tiên của Chính phủ cách mạng Việt Nam lâm thời năm 1946 khi đềcập đến những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân Chủ CộngHoà Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ lập trường của Người và Chính phủ vềvấn đề tôn giáo: “Thực dân phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bàogiáo và đồng bào lương để dễ bề cai trị Tôi đề nghị Chính phủ tuyên bố: TÍNNGƯỠNG TỰ DO và lương – giáo đoàn kết”[39,tr.9] Có thể khẳng định,quan điểm trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhất quán “trước sau như một”,theo Người khi quyền tự do tôn giáo được đảm bảo thì mọi tín đồ tôn giáomới tin và đi theo cách mạng Việt Nam; đồng thời khối đại đoàn kết toàn dân
và đoàn kết tôn giáo sẽ phát huy được sức mạnh Cho nên, ngày 19 tháng 12năm 1946, xuất phát từ nhiệm vụ cấp bách của cuộc cách mạng dân tộc dânchủ đứng trước nguy cơ một lần nữa cả dân tộc Việt Nam bị rơi vào tay thựcdân Pháp quay trở lại xâm lược Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn quốckháng chiến, lay động hàng triệu người dân Việt Nam yêu nước, trong đó cóđồng bào tín đồ các tôn giáo tham gia bảo vệ Tổ quốc và thành quả cáchmạng Người nói:
“Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng Nhưng chúng tacàng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng dã tâm cướp nước tamột lần nữa!
Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước,nhất định không chịu làm nô lệ
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôngiáo, đảng phái, dân tộc Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực
Trang 29dân Pháp để cứu Tổ quốc Ai có súng dùng súng Ai có gươm dùng gươm,không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc Ai cũng phải ra sức chốngthực dân Pháp cứu nước”[39,tr.480] Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch HồChí Minh, trong những ngày đầu tiên kháng chiến toàn thể dân tộc Việt Nam
đã đoàn kết, không phân biệt đồng bào theo hoặc không theo tôn giáo, giaicấp, dân tộc đã nô nức đi theo cuộc kháng chiến, nhiều tấm gương tín đồ tôngiáo yêu nước tiêu biểu xuất hiện như: Ngô Tử Hạ, Hồ Thành Biên, Phạm BáTrực… mãi mãi lưu giữ trong lòng đồng bào tôn giáo Như vậy, có thể khẳngđịnh Chủ tịch Hồ Chí Minh có một tầm nhìn sâu rộng vượt qua giới hạn lịch
sử, biết tranh thủ mọi lực lượng yêu nước không phân biệt giàu - nghèo, tôngiáo, giai cấp, dân tộc vào trong sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc vớiphương châm "độc lập trên hết, Tổ quốc trên hết" Tuy nhiên, chúng ta cầnlưu ý chính sách đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo của Hồ Chí Minh khôngphải vì tư lợi cá nhân hoặc thủ đoạn chính trị mà tất cả đều vì nước, vì dân
Do đó, đầu năm 1955, trong Hội nghị Mặt trận Liên Việt toàn quốc(10/1/1955) không ít người còn phân vân chưa rõ trong thời kỳ mới nhữngngười hữu tín có thể đồng hành với chế độ mới được không? Hiểu được tâmtrạng đó, Hồ Chí Minh đã nói chuyện trao đổi rất thẳng thắn, thân mật với cácđại biểu trong cuộc họp Người nói: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi
mà còn là đoàn kết lâu dài Đoàn kết là một chính sách dân tộc không phải làmột thủ đoạn chính trị Ta đoàn kết để đấu tranh cho sự thống nhất và độc lậpcủa Tổ quốc, ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà Ai có tài, có đức, cósức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết vớihọ”[42,tr.438]
Tóm lại: Hồ Chí Minh đã nhận diện rất đúng về tình hình tôn giáo ởViệt Nam Vì vậy, Người đã có thái độ rất tôn trọng, chân thành, cởi mở, đoànkết hữu ái, lâu dài trên tình thần không phân biệt đối xử hoặc kỳ thị đối vớiđồng bào theo và đồng bào không theo tín ngưỡng, tôn giáo cũng như các lực
Trang 30lượng, tầng lớp khác nhau trong xã hội Chính vì vậy, Hồ Chí Minh đã biếtquy tụ được “ý Đảng, lòng dân”, xoá bỏ mọi mặc cảm, định kiến về thế giớiquan, ý thức hệ tư tưởng trong nhân dân Nhờ đó, đã tạo nên sự thống nhất,đoàn kết gắn bó bền chặt giữa Đảng với dân ngày càng sâu đậm, đó chính là
sự thắng lợi của chiến lược đại đoàn kết toàn dân; đặc biệt là đoàn kết tôngiáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh
1.2.2 Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau
Thực tế cho thấy, Việt Nam là một quốc đa tôn giáo gồm: Phật giáo,Công giáo, Tin lành giáo, Hồi giáo kết hợp với các loại hình tín ngưỡng, tôngiáo bản địa đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tâm linh, văn hoá và xã hộicủa con người Việt Nam về phương diện thế giới quan và nhận thức luận cũngnhư thực hành đạo đức và đời sống xã hội Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX,thực dân Pháp và sau này là đế quốc Mỹ đã dùng chính sách “chia để trị”nhằm phá vỡ khối đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo Hồ Chí Minh đã sớmnhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc xây dựng khối đại đoàn kếttoàn dân, đoàn kết tôn giáo quyết định đến vận mệnh của dân tộc Chính vìvậy, quan điểm về đoàn kết các tôn giáo của Người được khẳng định thôngqua nhiều bài viết, bài nói và trong các bức thư gửi cho đồng bào các tôn giáo
Hồ Chí Minh xác định đoàn kết đồng bào các tôn giáo phải dựa trên cơ sởtương thân, tương ái, các bên cùng có lợi Lợi ích cao nhất là độc lập cho dântộc và tự do, hạnh phúc cho nhân dân Cho nên, năm 1946 khi nước ta đứngtrước nguy cơ bị thực dân Pháp quay trở lại xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã có bài đăng trên báo cứu quốc ra ngày 14 tháng 1 năm 1946 với nội dungnhư sau: “Nước có độc lập thì dân mới thực sự tự do tín ngưỡng", “Nướckhông độc lập thì tôn giáo không được tự do, nên chúng ta phải cho nước độclập đã” Theo Hồ Chí Minh đoàn kết tôn giáo vừa đảm bảo lợi ích chung cho
cả dân tộc, vừa đảm bảo lợi ích riêng cho các tôn giáo và mọi tín đồ có đạo,
Trang 31đây chính là phương pháp làm việc biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lêninđược Chủ tịch Hồ Chí Minh quán triệt vận dụng vào công tác xây dựng khốiđại đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo Vì vậy, thực tế trong suốt quá trìnhxây dựng và tập hợp lực lượng cách mạng Việt Nam, Người đã luôn chủ độngquan tâm thăm hỏi tới các tôn giáo, các chức sắc, nhà tu hành và đồng bào cóđạo bằng nhiều hình thức khác nhau như: trong thư gửi Hội Phật tử Việt Namngày 30/8/1947 Hồ Chủ tịch viết: “Từ ngày nước ta trở nên Dân chủ CộngHoà, Hiến pháp ta tôn trọng tự do tín ngưỡng, thì Phật giáo cũng phát triểnmột cách thuận tiện.
Thế là: Nước có độc lập, thì Phật giáo mới được mở mang
Bọn thực dân Pháp muốn cướp nước ta Nay đồng bào ta đại đoàn kết,
hi sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phảnđộng, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lậpcủa Tổ quốc Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ, đại bi của Đức Phật Thích
Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ta khỏi cái khổ ải nô lệ”[40,tr.197] Trongthư gửi đồng bào Công giáo nhân dịp Nôen năm 1951, Hồ Chí Minh viết:
“Tôi mong đồng bào đoàn kết thêm chặt chẽ trong công cuộc kháng chiến đểphụng sự Đức Chúa, phụng sự Tổ quốc, và để thực hiện lời Chúa dạy: “Hoàbình cho người lành dưới thế”[41,tr.359] Ngoài ra, trong suốt quá trình triểnkhai xây dựng khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo nhằm tập hợp lựclượng cách mạng, Hồ Chí Minh nhận ra giữa các tôn giáo đều có điểm chunggiống nhau là mong muốn đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân loại, nhưng trênthực tế vẫn còn tồn tại những bất đồng về đức tin, đối tượng thờ cúng làm cho
kẻ địch lợi dụng, khoét sâu gây chia rẽ khối đoàn kết giữa các tôn giáo vàđoàn kết dân tộc Chính vì vậy, Người đã chủ trương vận động đồng bào cáctôn giáo, chức sắc, nhà tu hành và các tín đồ có đạo tích cực tham gia xâydựng tốt khối đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc nhằm bảo vệ nền độc lập
Trang 32dân tộc, thống nhất Tổ quốc và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhândân Người nói: “Hiện nay trên toàn quốc đồng bào ta, công giáo và ngoạicông giáo, đều đoàn kết chặt chẽ, nhất trí đồng tâm như con một nhà, ra sứcđấu tranh để giữ gìn nền độc lập của Tổ quốc”[39,tr.121].
Bên cạnh việc Chủ tịch Hồ Chí Minh tích cực vận động các tôn giáo,các chức sắc, nhà tu hành và tín đồ có đạo tham gia xây dựng tốt khối đoànkết toàn dân, đoàn kết tôn giáo thì Người còn sử dụng phương pháp duy vậtlịch sử - cụ thể của chủ nghĩa Mác – Lênin để soi rọi lại tình hình đoàn kết tôngiáo từ trong lịch sử; đồng thời chỉ ra những mặt hạn chế trong các tôn giáonguyên nhân do không đoàn kết đã làm ảnh hưởng đến tín ngưỡng tâm linh,đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân Người nói: “Nước Phật ngày xưa cónhững 4 đảng phái làm ly tán lòng dân và gây hại Tổ quốc Nhưng nước ViệtNam ngày nay chỉ có một đảng phái và toàn dân quyết tâm giành độc lập Tín
đồ Phật giáo tin ở Phật; tín đồ Giatô tin ở Chúa Trời, cũng như chúng ta tin ởđạo Khổng Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng Nhưng đối vớinhân dân, ta đừng có làm gì trái ý dân Dân muốn gì, ta phải làmnấy”[39,tr.148] Ngoài ra, bằng thực tiễn hoạt động cách mạng Hồ Chủ tịch đãlấy chính bản thân mình làm biểu tượng cho trung tâm đoàn kết giữa các tôngiáo “Giữa tháng 10/1945 tại chùa Quán sứ, Phật giáo yêu nước tổ chức tuần
lễ văn hoá, trong bữa cơm chay đoàn kết, Hồ Chủ tịch đã nói chuyện thân mậtvới đồng bào Phật giáo và các đại biểu Công giáo về lòng từ bi nhân đạo vàtinh thần đoàn kết cứu nước của hai tôn giáo Đồng bào các tôn giáo đã thamgia cuộc bán đấu giá tấm ảnh của Hồ Chủ tịch để lấy tiền ủng hộ kháng chiến.Một Phật tử đã nhường cho ông Ngô Tử Hạ - đại biểu Công giáo mua bứctranh với giá một vạn một trăm đồng để kỷ niệm tinh thần đoàn kết giữa haitôn giáo”[1,tr.276] Như vậy, ta có thể khẳng định, Chủ tịch Hồ Chí Minhluôn quan tâm vun đắp trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, đoànkết các tôn giáo trong quốc gia dân tộc Việt Nam với mong muốn thực hiện
Trang 33thắng lợi mục tiêu: "Độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc"; đồng thời Ngườiluôn chủ động giáo dục toàn dân nâng cao tinh thần cảnh giác, phát hiện vàngăn chặn kịp thời các âm mưu muốn lợi dụng tôn giáo nhằm phá hoại khốiđoàn kết các tôn giáo làm phương hại đến sự nghiệp đấu tranh giải phóng dântộc, thống nhất Tổ quốc Bên cạnh đó, Người còn trực tiếp nhắc nhở chấnchỉnh đội ngũ cán bộ làm công tác Mặt trận, công tác tôn giáo khi họ vi phạmđường lối hoặc hiểu không đúng về chính sách tôn giáo của Đảng, đồng thờibiểu dương khen thưởng những gương “người tốt, việc tốt” qua đó nhằm giáodục và bồi dưỡng năng lực cho cán bộ làm tốt công tác tôn giáo trong Đảng.
Tóm lại: Trong suốt quá trình hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo cách mạngViệt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng thành công mối quan hệ gắn bómật thiết giữa Đảng với nhân dân, giữa tôn giáo với dân tộc, giữa đức tin tôngiáo với tình yêu Tổ quốc và giữa các tôn giáo với nhau Vì vậy, đã tránhđược những xung đột từ trong các tôn giáo và đặc biệt giữa tôn giáo với chínhquyền cách mạng Việt Nam Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rấtđúng về vị trí, vai trò của công tác xây dựng khối đoàn kết tôn giáo, đoàn kếtdân tộc quyết định đến sự thành công của cách mạng Việt Nam Do đó, trongsuốt quá trình hoạt động cách mạng Hồ Chí Minh rất quan tâm chăm lo chocông tác xây dựng khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo; đồng thời trựctiếp chỉ đạo việc thành lập Mặt trận Việt Minh nhằm huy động mọi lực lượngyêu nước trên tinh thần không phân biệt đối xử đối với các tôn giáo, giai cấp,dân tộc, thành phần xuất thân, địa vị xã hội vào trong sự nghiệp "giải phóngdân tộc, thống nhất Tổ quốc" Người nói: “Ai có tài, có đức, có lòng phụng sự
Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”[42,tr.438] Theo Ngườiđoàn kết tức là không chia rẽ, không không phân biệt giầu nghèo, tuổi tác, traigái, tôn giáo, nghề nghiệp, giai cấp, đảng phải trừ bọn việt gian bán nước vàbọn đế quốc xâm lược Như vây, có thể khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh vềđoàn kết tôn giáo là bước sáng tạo độc đáo, riêng biệt về thiên tài cách mạng
Trang 34Đó là sự thể hiện tinh thần đoàn kết hữu ái, bao dung, độ lượng trong phongcách lãnh đạo của Người Cho nên, nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng đã cónhận xét rất đúng về con người Hồ Chí Minh như sau: “Hồ Chí Minh cố tìmmẫu số chung của toàn dân tộc thay vì khoét sâu sự khác biệt, đặt tiến trình đi
lên xoáy trôn ốc của lịch sử trên căn bản quy tụ thay vì loại trừ”[19,tr.59].
1.3 Một số nguyên tắc và phương pháp về đoàn kết tôn giáo trong
tư tưởng Hồ Chí Minh
1.3.1 Một số nguyên tắc về đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Trong quá trình vận động quần chúng nhân dân lao động tham gia xâydựng tốt khối đoàn kết tôn giáo Người đã đưa ra những nguyên tắc căn bảnlàm nền tảng cho việc xây dựng khối đoàn kết tôn giáo được lâu dài, đồngthời ngăn chặn được những âm mưu của thực dân Pháp và sau này là đế quốc
Mỹ muốn lợi dụng đồng bào có đạo nhằm phá vỡ khối đoàn kết toàn dân,đoàn kết tôn giáo
Một là; lấy lợi ích của toàn dân tộc và quyền lợi căn bản của con người
là mẫu số chung.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra và sử dụng nguyên tắc trên với mongmuốn quy tụ các tôn giáo, các chức sắc, nhà tu hành, tín đồ có đạo và mọi lựclượng yêu nước khác nhau trong xã hội Việt Nam cùng hành động hướng tớimục tiêu chung của dân tộc đó là: “Độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc” Đây
là nguyên tắc rất đúng đắn, sáng tạo của Hồ Chí Minh về xây dựng khối đoànkết tôn giáo, đồng thời mang ý nghĩa giá trị to lớn trong việc đảm bảo thựchiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và công cuộc xâydựng CNXH ở Việt Nam Hồ Chí Minh xác định đó là nguyên tắc thống nhấtbiện chứng giữa cái chung và cái riêng, thực chất đó là sự thống nhất giữa lợiích của quốc gia dân tộc với quyền lợi riêng của mỗi con người Như vậy, cốtlõi của nguyên tắc trên đặt ra là xử lý một cách đúng đắn các mối quan hệ
Trang 35biện chứng giữa hàng loạt các phạm trù, các mối quan hệ xã hội: cá nhân – tậpthể; gia đình và xã hội, bộ phận và toàn thể, giai cấp và dân tộc, vô thần vàhữu thần, quốc gia và quốc tế Vì vậy, trong suốt quá trình vận động đồng bàotheo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo tham gia xây dựng khối đoànkết toàn dân và đoàn kết tôn giáo, Người luôn chủ động tìm kiếm những điểmtương đồng, sau đó dùng cái tương đồng để khắc phục cái dị biệt, không đặtcác sự việc trong sự đối lập hoặc loại trừ nhau, không khoét sâu cái dị biệt vềthế giới quan, hệ tư tưởng, nhu cầu tín ngưỡng mà luôn tìm kiếm sự thốngnhất, tương đồng về lợi ích chung cho toàn thể dân tộc đó là: độc lập cho dântộc, thống nhất cho Tổ quốc, tự do và hạnh phúc cho đồng bào theo tôn giáo
và không theo tôn giáo Do đó, trong suốt quá trình vận động nhân dân thamgia xây dựng khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo và tiến hành làm cáchmạng giải phóng dân tộc để tránh hiểu lầm, Người đã chỉ ra: “Chủ nghĩa duylinh và chủ nghĩa duy vật là ngược nhau, nhưng không phải như vậy mà bàixích nghi kỵ, đối lập nhau, cần phải tôn trọng tự do tín ngưỡng và tự do ngônluận”[69,tr.65] Qua nhận định trên cho ta thấy, ở con người của Hồ Chí Minhkhác với các bậc tiền bối cách mạng đi trước đó là sự mềm dẻo, linh hoạtkhéo léo trong cách tập hợp lực lượng cách mạng toàn dân; đặc biệt là tinhthần đoàn kết, nhân ái, bao dung rộng mở trong quá trình xây dựng khối đoànkết toàn dân tộc gắn với phương châm "đoàn kết tôn giáo, hoà hợp dân tộc".Cho nên, trên thực tế Người khẳng định: “Từ Nam đến Bắc, ai là người tánthành hoà bình, thống nhất độc lập, dân chủ thì cũng sẵn sàng đoàn kết với họ,
dù trước đến nay họ ở phe phái nào”[49,tr.75]
Tóm lại: Theo Hồ Chí Minh muốn thực hiện thắng lợi mục tiêu: "Độclập dân tộc, thống nhất Tổ quốc", trước hết phải xây dựng thành công khốiđoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc, nhưng muốn xây dựng thành công khốiđoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc thì cần phải có nguyên tắc căn bản đó là:lấy lợi ích của toàn dân tộc và quyền lợi căn bản của con người làm mẫu số
Trang 36chung trên cơ sở “cầu đồng, tồn dị” Nguyên tắc trên của Chủ tich Hồ ChíMinh đã góp phần quan trọng trong việc huy động mọi lực lượng yêu nướctham gia xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, trên tinh không phân biệt giàu-nghèo, tôn giáo, giai cấp, dòng giống, dân tộc vào mục tiêu chung đó là: giảiphóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tư do hạnh phúc cho toàn thể nhân dân.
Hai là; tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân.
Quyền tự do là một quyền cơ bản của con người, đây là một phạm trùrộng lớn đã được ghi nhận trong Bản tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm
1776 và Bản tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của Pháp năm 1789 Điềunày cũng được chủ nghĩa Mác – Lênin thừa nhận trong tuyên ngôn của Đảngcộng sản năm 1848: Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sựphát triển tự do của toàn xã hội Đến năm 1948, tổ chức Liên Hợp Quốc cũng
đã thừa nhận trong nhiều văn bản hiến pháp của nhiều quốc gia, trong đó cóquốc gia Việt Nam Trong các quyền của con người có quyền tự do tínngưỡng, tôn giáo; tức tự xác lập theo một đức tin tín ngưỡng, tôn giáo nhấtđịnh hoặc không theo Vì đây là nhu cầu tinh thần không thể thiếu đối với một
bộ phận không nhỏ quần chúng nhân dân lao động, là sự thiêng liêng trongtâm linh con người, không được ai xâm phạm hoặc làm tổn hại đến Do đó, đểlàm cho quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trở thành hiện thựcsinh động trong đời sống tinh thần của nhân dân, Người rất chú trọng tới phápluật coi đó là công cụ để thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhândân Cho nên, ngay sau khi cách mạng tháng tám thành công, Nhà nước ViệtNam Dân Chủ Cộng Hoà non trẻ vừa mới ra đời, Hồ Chí Minh đã chủ trươnghiện thực hoá quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo bằng văn bản, pháp luật ViệtNam Cụ thể: tại Hiến pháp đầu tiên năm 1946 ở chương II, mục B đã ghi rõ:
“Mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng” Sau này, trong suốt quá
Trang 37trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người đã có nhiều bài nói, bài viết và bàiphát biểu nhằm bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân nhưtrong bài phát biểu bế mạc buổi ra mắt của của Đảng lao động Việt Nam ngày3/3/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ: vấn đề tôn giáo thì Đảng lao độngViệt Nam hoàn toàn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của mọi người Ngoài
ra, Người còn trực tiếp ký sắc lệnh đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáocủa nhân dân vào ngày 14/ 6/1955, tại điều 1 sắc lệnh có ghi rõ: “Chính phủđảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân Không aiđược xâm phạm đến quyền tự do ấy Mọi người Việt Nam đều có quyền tự dotheo một tôn giáo hoặc không theo tôn giáo nào” Như vậy, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã chủ động thể chế hóa các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhândân bằng văn bản pháp luật, đây là nguyên tắc “bất di, bất dịch”, “trước saunhư một” nhằm bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi ích hợp phápcho đồng bào tín đồ các tôn giáo Trên thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đãnhiều lần giải thích một cách trang trọng bằng nhiều hình thức về mối quan hệgiữa Giáo hội Công giáo Việt Nam với toà thánh La Mã, Người đã tuyên bố rõtrong sắc lệnh tôn giáo là: Chính quyền không can thiệp vào nội bộ tôn giáo,riêng về Công giáo, quan hệ về tôn giáo giữa giáo hội Việt Nam với toà thánh
La Mã là vấn đề nội bộ của Công giáo Bên cạnh việc Chủ tịch Hồ Chủ tịch
và Chính phủ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào tín đồcác tôn giáo thì Người và Chính phủ còn đặt ra những yêu cầu đối với đồngbào tín đồ theo các tôn giáo phải tôn trọng và thực thi theo đúng pháp luậtViệt Nam, ngoài ra Người còn yêu cầu các nhà tu hành, các chức sắc tôn giáonhư Linh mục, Giám mục khi truyền bá tôn giáo phải có nhiệm vụ giáo dụccác tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ người công dân, ý thức tôn trọng chínhquyền nhân dân và pháp luật của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà Đáp lạitình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với đồng bào tín đồ các tôn giáo Linhmục Trần Tam Tỉnh thay mặt đồng bào giáo dân đã nhận xét về
Trang 38Người như sau: “Suốt cuộc đời tham chính của Người, Cụ Hồ là một người
yêu nước trên hết mọi sự…các lời lẽ Cụ phê phán giáo hội không bao giờchạm tới khía cạnh đức tin, nhưng chỉ nằm trong phạm vi các vấn đề cơ chế
và chính trị”[70,tr.76]
Tóm lại: Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có thái độ tôn trọng và đảm bảoquyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, đã phản ánh đúng đắn tinhthần dân chủ và nhân văn sâu sắc Đây là tư tưởng hết sức đứng đắn, vừa đảmbảo lợi ích dân tộc vừa không làm ảnh hưởng tới tình cảm của đồng bào tôngiáo – một hình thái ý thức xã hội rất nhạy cảm và phức tạp Trong công cuộcxây dựng CNH, HĐH đất nước ta hiện nay, phương pháp đoàn kết tôn giáonêu trên của Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, góp phần quan trọng vàoviệc củng cố, tăng cường khối đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc và thựchiện thắng lợi mục tiêu chung cho toàn thể dân tộc Việt Nam đó là: “Dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”
Ba là; hoạt động tôn giáo phải tôn trọng và tuân theo hiến pháp, pháp luật Việt Nam ban hành.
Trước hết, để hoạt động các tôn giáo tôn trọng và dựa trên pháp luậtViệt Nam Hồ Chủ tịch và Chính phủ đã chủ trương ban hành các văn bảnpháp luật liên quan đến tôn giáo và hoạt động tôn giáo, trong đó có sắc lệnh
234 về tôn giáo đã quy định rõ quyền lợi, trách nhiệm và phạm vi hoạt độngcủa tôn giáo ở Việt Nam Tại sắc lệnh số 234-SL ngày 16 - 6 - 1955, Hồ Chủtịch thay mặt Chính phủ Việt Nam đã đưa ra nhiều điều khoản phong phú cótính chất hệ thống liên quan đến tôn giáo như: phạm vi hoạt động, quyền lợi
và trách nhiệm của các tôn giáo Cụ thể: chương I của sắc lệnh, Hồ Chủ tịch
thay mặt Chính phủ đã chỉ ra quyền của các tôn giáo đó là: quyền “tự dogiảng đạo của các nhà tu hành tại các cơ quan tôn giáo như nhà thờ, chùa,thánh thất, trường giáo lý ”tại (điều1), quyền được xuất bản, sử dụng sách
Trang 39báo tôn giáo quy định tại (điều 4), quyền “được mở trường đào tạo những
người chuyên hoạt động tôn giáo” quy định tại (điều 5) chương II, điều 9
cho phép “các tôn giáo được mở các trường tư thục theo chương trình giáodục của Chính phủ” , cùng với sắc lệnh 234 – SL thì Hồ Chủ tịch và Chínhphủ Việt Nam còn chủ trương ban hành Thông tư 593 – TTg, ngày 10 – 12 –
1957 “Quy định rõ hoạt động đối với các trường lớp tôn giáo” ngoài ra, sắclệnh còn nghiêm cấm và trừng trị bất kỳ ai lợi dụng vấn đề tôn giáo để truyềnđạo trái phép hoặc chống đối nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà làm viphạm đạo đức công dân Cụ thể, tại điều 7, sắc lệnh 234 ghi rõ: “Pháp luật sẽtrừng trị những kẻ nào mượn danh tôn giáo để phá hoại hoà bình, độc lập, dânchủ, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại khối đoàn kết, ngăn trở tín đồ làmnhiệm vụ công dân, xâm phạm tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của ngườikhác hoặc làm việc trái pháp luật”
Tóm lại: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xướng và đặt nền móng vữngchắc trong việc xây dựng và hoàn thiện một hệ thống luật pháp về tôn giáo vàhoạt động tôn giáo ở Việt Nam, quy định rõ quyền lợi và nghĩa vụ, phạm vi vàkhuôn khổ hoạt động đối với tín ngưỡng, tôn giáo trên tinh thần dân chủ, bìnhđằng và mang tính nhân văn sâu sắc Đây chính là nguyên tắc đúng đắn và là
cơ sở vững chắc đảm bảo cho sự đoàn kết, thống nhất gắn bó lâu dài giữa tôngiáo với dân tộc, giữa đức tin tôn giáo với tình yêu Tổ quốc dựa trên cơ sởpháp luật Việt Nam
1.3.2 Một số phương pháp về đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Một là; tôn trọng giáo chủ, tranh thủ tình cảm giáo sỹ và quan tâm tới toàn dân
Hồ Chí Minh không chỉ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo củanhân dân mà còn tỏ rõ tấm lòng tôn kính đối với các Giáo chủ, Giáo sỹ, Linh
Trang 40mục, Đức Cha và các chức sắc, nhà tu hành những người sáng lập ra họcthuyết các tôn giáo Đây cũng là một trong những phương pháp sáng tạo lớncủa Hồ Chí Minh trong việc vận động các chức sắc, nhà tu hành và mọi tín đồ
có đạo tham gia vào việc xây dựng khối đoàn kết tôn giáo nhằm lôi kéo cáctín đồ yêu nước trong tôn giáo tích cực tham gia vào việc thực hiện thắng lợimục tiêu chung: "Độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc" Theo nhận định của
Hồ Chí Minh về các bậc tiền bối sáng lập các học thuyết tôn giáo, họ đều làcác bậc vĩ nhân trong lịch sử và là những người có tinh thần và đức hy sinhcao cả nhằm giải phóng con người khỏi khổ đau, bất hạnh Vì vậy, Người rấttôn trọng và gọi họ là những bậc “chí tôn, chí kính” Trong suốt quá trình hoạtđộng thực tiễn vận động đồng bào tín đồ các tôn giáo tham gia xây dựng khốiđoàn kết tôn giáo, Người đã có rất nhiều bài viết, bài nói chuyện đề cập tớicông lao, đức hy sinh của những bậc tiền bối đã sáng lập ra các học thuyết tôngiáo ở các mức độ, khía cạnh khác nhau với thái độ rất trân trọng Người nói:
“Đức Giêsu hy sinh vì muốn loài người được tự do hạnh phúc, đồngbào ta cả lương cả giáo cũng vì tự do hạnh phúc cho toàn dân mà hy sinhphấn đấu”.[39,tr.50],
Phật Thích ca sinh ra đều muốn “cứu khổ, cứu nạn” cho loài người
Hồ Chí Minh với thái độ luôn tôn trọng, khiêm tốn “tôi cố gắng làmngười học trò nhỏ của những vị ấy”, không những trực tiếp biểu thị sự tôntrọng, tinh thần cầu thị học hỏi những ưu điểm tiến bộ của các bậc tiền bối đãsáng tạo ra các học thuyết tôn giáo mà còn thể hiện sự tôn trọng đối với quầnchúng nhân dân đã tin và đi theo lý tưởng, niềm tin của các bậc tiền bối HồChí Minh đã chủ động bày tỏ một thái độ thân ái, thiện chí, tôn trọng hàngngũ giáo sỹ và tích cực lôi kéo họ tham gia vào sự nghiệp cứu nước, cứu dân.Người luôn xác định các giáo sỹ là những người có mối quan hệ trực tiếp vớicác giáo dân thông qua các giáo lý, giáo luật, nghi lễ và tổ chức giáo hội, họ