Điềunày có thể có được chính nhờ các phương thức và các chiến lược lịch sự.Một trong những phương thức lịch sự hữu hiệu chính là gián tiếp, cho nênnói tới lịch sự không thể không nói tới
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đoàn Thị Hồng Lan
Lịch sự và gián tiếp trong tiếng Nhật qua hành
vi đề nghị và từ chối
Luận văn ThS Ngôn ngữ học: 60.22.01
Nghd : TS Hoàng Anh Thi
Trang 2MỤC LỤC
1.3.4 Tính gián tiếp trong giao tiếp và gián tiếp tiếng Nhật 231.4 Gián tiếp như một phương tiện lịch sự trong hành vi 27
đề nghị và từ chối
Trang 31.4.1 Hành vi đề nghị và chiến lược lịch sự trong đề nghị 271.4.2 Hành vi từ chối và chiến lược lịch sự trong từ chối 29
2.2 Gián tiếp - một cách thể hiện lịch sự trong tiếng 38
Nhật
2.3.1 2.3.1 Những biểu hiện ngôn từ gián tiếp - một cách 42
thể hiện lịch sự trong tiếng Nhật
2.3.1.1 Gián tiếp bằng biểu thức giảm nhẹ: -to omoimasu / - 43
to kangaeru/ -youni omou (~と思います/思います/います/~と思います/考えるえる
/~ように思う)思います/う)(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưTôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như
là )
2.3.1.2 Gián tiếp bằng biểu thức phủ định: -janai (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưka)/ - 44
dewanai/ -to iu kotowa nai (~ じゃないか/~ではない
/~ と思います/いうこと思います/はない) (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưchẳng phải, không phải là,
không có nghĩa là )
2.3.1.3.Gián tiếp bằng biểu thức: -te + động từ bổ trợ tiếp 45
nhận lợi ích (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưkureru/ kudasaru/ morau/ itaditadaku)
(~ てくれる/くださる/もらう/いただく)(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưcho tôi/
hộ tôi được không)
2.3.1.4 Gián tiếp bằng các biểu thức thể hiện nghe nói, 46
truyền đạt: -rashi/ -youda/ -mitai/ -to iu koto desu
(~ らしい/~ようだ/~みたい/~と思います/いうこと思います/です)
(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưNghe nói, hình như)
Trang 42.3.1.5 Gián tiếp bằng các biểu thức phán đoán: - 47
kamoshirenai/ tabun …deshou / -darouka/(~ かもし
れない/たぶん~ でしょう/~ だろうか )(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưCó lẽ )
2.3.1.6 2.3.1.6 Gián tiếp bằng biểu thức: -sasete 47
itadakui/morau /kureku/(~ させていただく/もらう
/くれる)(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưcho phép tôi…)
2.3.1.7 Gián tiếp bằng biểu thức nguyện vọng: -te hoshii /- 48
V tai(~てほしい/V たい)(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưtôi muốn )
2.3.1.8 Gián tiếp bằng biểu thức: -te miru (~てみる)(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưlàm 48
thử)
2.3.1.9 Gián tiếp bằng biểu thức khuyên bảo: -hou ga ii(~ 49
方がいい)がいい)(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như thì tốt)
2.3.1.10 Gián tiếp bằng biểu thức nghi vấn phủ định: - 49
masenka (~ませんか)(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưcó V không/ không V à)
2.3.1.11 Gián tiếp bằng động từ nguyện vọng:- negau (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như~願 49
う)(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưnhờ/ xin nhờ)
2.3.1.12 Gián tiếp bằng biểu thức điều kiện: -ba ii/ -te 50
moraeba ii (~ ばいい/てもらえばいい)(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưnếu thì
tốt/ nếu nhận được /thì tốt)
2.3.1.13 Gián tiếp bằng biểu thức : -temo ii (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưdesuka)(~ても 50
いい(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưですか)
(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như là được/ được không)
2.3.1.14 Gián tiếp bằng những từ ngập ngừng đứng ở đầu 50
câu: eeto, ano, un, soudesune…(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưええと思います/、あの、う
ん、そうですね ) (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưà, ừ, ừm, cái này thì…)
Trang 52.3.2 Ngập ngừng cho đến im lặng - biểu hiện tối cao của 53
gián tiếp tiếng Nhật
2.3.2.1 Ngừng ngừng, im lặng để nhường quyền phát ngôn 53
cho đối phương
2.3.2.3 Ngập ngừng, im lặng là tự hạn chế mình nói ra điều 60
không vui cho đối phương
nghị và từ chối của tiếng Nhật
3.1.1 Dùng động từ bổ trợ tiếp nhận lợi ích: -te morau/ -te 64
itadaku/ -te kureru.(~てもらう/いただく/くれる)
せんか)
6869717273
3.2.2 Trì hoãn trả lời hoặc trì hoãn đáp ứng đề nghị 77
Trang 63.2.5 Dùng ngập ngừng trong chuỗi lời nói 80
3.2.7 Dùng biểu thức giảm nhẹ: -to omou(~と思います/思います/う) 82
Trang 7Hiện nay, ngoài những tác giả Âu-Mỹ, còn có những công trìnhnghiên cứu về vấn đề này đáng được nhắc đến của tác giả người TrungQuốc, Nhật Bản, Hàn Quốc Thành tựu nghiên cứu của họ trong lĩnh vựcnày có ý nghĩa lớn lao trong nghiên cứu lý thuyết ngôn ngữ, trong việc dạy
và chuẩn mực này, một mặt mang những nét đặc trưng chung cho mọi dântộc trên thế giới, mặt khác mang sắc thái đặc trưng cho mỗi một cộng đồng.Hiểu sai hoặc không hiểu những nét chung và riêng đó có thể đem lại chochúng ta những thất bại trong giao tiếp, có nghĩa là, không đạt được điềumình mong muốn
Trong các hành động ngôn ngữ, đề nghị và từ chối là một cặp hành viđược coi là mang tính đe dọa thể diện cao, nhưng lại xuất hiện nhiều tronggiao tiếp Từ chối là hành vi đi ngược lại với yêu cầu, nguyện vọng của đối
Trang 8tác giao tiếp cho nên phải từ chối như thế nào để không làm tổn thương đốitác mà vẫn đảm bảo duy trì quan hệ là hết sức quan trọng Vậy người ta phảilàm sao để đề nghị và từ chối mà không gây mất thể diện cho đối tác Điềunày có thể có được chính nhờ các phương thức và các chiến lược lịch sự.Một trong những phương thức lịch sự hữu hiệu chính là gián tiếp, cho nênnói tới lịch sự không thể không nói tới gián tiếp.
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi sẽ khảo sát biểuhiện gián tiếp như một phương thức lịch sự trong hành vi đề nghị và từ chốibằng tiếng Nhật Đề tài này nếu được thực hiện tốt sẽ góp phần phát hiệnnhững khác biệt của lịch sự trong ngôn ngữ giao tiếp nói chung, vấn đề giántiếp nói riêng trong một đại diện của ngôn ngữ phương Đông là tiếng Nhật,những vấn đề mà có thể là lý thuyết lịch sự chủ yếu dựa trên ngôn ngữ châu
Âu chưa bao quát hết Đề tài này cũng có thể trở thành tư liệu để biên soạnsách dạy tiếng Nhật cho người Việt, tư liệu tham khảo trực tiếp cho sinhviên học tiếng Nhật
2 Lịch sử vấn đề
Ngữ dụng học nói chung và hành vi ngôn ngữ nói riêng rất được quantâm chú ý trong những năm gần đây và các số lượng các công trình nghiêncứu đang được phát triển mạnh Đặc biệt, các nghiên cứu về lịch sự và giántiếp của hành vi cầu khiến và hành vi từ chối đã giành được nhiều sự quantâm của các nhà nghiên cứu Ở Việt Nam, gần đây có khá nhiều công trìnhliên quan đến lịch sự trong hành động ngôn ngữ như công trình của Vũ ThịThanh Hương [17] , của tác giả Lê Anh Xuân có nhan đề “Một cách trả lờigián tiếp cho câu hỏi chính danh - trả lời bằng im lặng” [36], của Trần ChiMai [23] Ngoài ra, còn một số bài viết liên quan đến hành vi từ chối của cáctác giả khác đăng trên tạp chí Ngôn ngữ
Trang 9Về các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề lịch sự và giántiếp trong tiếng Nhật, có thể kể đến các công trình tiêu biểu như củaM.Haugh [48], Matsumoto [50], Sanae Tsuda [52], Ở Việt Nam, gần với
đề tài nghiên cứu của chúng tôi cũng có một số công trình như [16], [34] Đó
là luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học của Nguyễn Thị Hằng Nga [16] với đề tài
“Tìm hiểu một số đặc điểm ngôn ngữ - văn hoá ứng xử thể hiện trong hành
vi từ chối của tiếng Nhật (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưliên hệ với tiếng Việt)” Như có thể thấy, đốitượng khảo sát của chúng tôi khác với đối tượng khảo sát của Nguyễn Thị
Hằng Nga ở những điểm sau Thứ nhất, chúng tôi khảo sát cả hành vi đề nghị và từ chối chứ không phải chỉ hành vi từ chối Thứ hai, chúng tôi chỉ tập trung vào khảo sát phương thức lịch sự gián tiếp của tiếng Nhật Khác
với Nguyễn Thị Hằng Nga, chúng tôi coi gián tiếp trong hành vi đề nghị và
từ chối bao gồm cả hiển ngôn và một số biểu hiện hàm ngôn như ngậpngừng, gián đoạn trong chuỗi lời nói và im lặng hoàn toàn
Một công trình khác cũng được chúng tôi tham khảo nhiều là bài viếtcủa Hoàng Anh Thi với nhan đề “Bàn về tính gián tiếp và lịch sự trong giaotiếp tiếng Nhật” [34] Phải nói rằng đây là công trình đầu tiên đề cập đến bảnchất của gián tiếp trong tiếng Nhật với tư cách là một phương tiện lịch sự.Tác giả đã chỉ ra sự khác biệt mang tính bản chất của gián tiếp tiếng Nhật sovới quan niệm trong thuyết lịch sự của Brown và Levinson
Tuy nhiên, công trình này đề cập đến gián tiếp nói chung, chứ khôngtập trung vào vấn đề gián tiếp trong cặp hành động đề nghị-từ chối Hơn nữa,tác giả cũng không đưa ra danh sách các biểu hiện gián tiếp của tiếng Nhật,một điều hữu ích cho nhiều người dạy và học tiếng Nhật Và như vậy, có thểnói cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào vấn đề gián tiếp vàlịch sự trong hành vi đề nghị và từ chối của tiếng Nhật, cũng như so sánh nó
Trang 10với tiếng Việt để làm rõ tương đồng và khác biệt văn hóa Vấn đề còn bỏ
ngỏ này đã trở thành mục đích trong nghiên cứu này chúng tôi
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các phát ngôn có chứa hànhđộng đề nghị và từ chối trong tiếng Nhật Để nhận diện và phân tích các phátngôn này, chúng tôi không xem xét lời đề nghị và từ chối như là một phátngôn riêng lẻ mà đặt nó trong một khuôn khổ lớn hơn, đó là đoạn thoại Từnhững đoạn thoại, ta sẽ thấy rõ hơn tính lịch sự và gián tiếp qua hành vi đềnghị và từ chối trong tiếng Nhật
4 Mục đích và nội dung của luận văn
Mục đích của luận văn là phân tích tính lịch sự và gián tiếp qua hành
vi đề nghị và từ chối trong tiếng Nhật duới góc độ dụng học – văn hoá
(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưcultural pragmatics) Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung vào giảiquyết ba nội dung cơ bản như sau:
a Gián tiếp và lịch sự trong đề nghị và từ chối của tiếng Nhật
b Gián tiếp - một cách thể hiện lịch sự trong tiếng Nhật
c Tính xã hội - bản chất của gián tiếp trong tiếng Nhật
5 Nhiệm vụ và Phương pháp nghiên cứu
- Tìm hiểu những nghiên cứu có liên quan về lịch sự trong hành động ngôn ngữ
- Khảo sát phương thức đề nghị và từ chối của tiếng Nhật trong một số tácphẩm văn học của Nhật Bản trong giai đoạn cuối thế kỷ XX (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưcó so sánh với tiếngViệt)
- Phát hiện và miêu tả phương thức gián tiếp trong đề nghị và từ chối của
người Nhật qua các tác phẩm văn học đó
- Để thực hiện các nhiệm vụ trên, luận văn sử dụng các phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp thống kê
Trang 116 Đóng góp của luận văn
Trong những năm gần đây, quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản đãphát triển không ngừng Số lượng người Việt Nam học tiếng Nhật cũng như
số lượng người Nhật học tiêng Việt đã tăng lên đáng kể Trong khi đó nhữngnghiên cứu về tiếng Nhật nói chung và lịch sự trong tiếng Nhật nói riêng vẫncòn rất khiêm tốn Vì vậy, nghiên cứu những biểu hiện ngôn ngữ của tínhlịch sự cũng như áp lực văn hoá đối với lịch sự tiếng Nhật, góp phần pháthiện những điểm tương đồng và khác biệt về ngôn ngữ cũng như văn hoácủa hai ngôn ngữ đã trở nên cần thiết Kết quả nghiên cứu của luận văn cóthể áp dụng để giảng dạy lý thuyết và dạy tiếng
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương I: Một số vấn đề cơ sở của lý thuyết
Chương II: Gián tiếp và lịch sự trong tiếng Nhật
Chương III: Những biểu hiện gián tiếp trong đề nghị và từ chối tiếng Nhật (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưso sánh với tiếng Việt)
Trang 12Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Hội thoại và cấu trúc hội thoại
1.1.1 Khái niệm hội thoại
“Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người.”(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưV.I.Lênin) Giao tiếp bằng ngôn ngữ có nhiều hình thức như là giao tiếpmột chiều (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưcòn gọi là độc thoại) Giao tiếp hai chiều hoặc nhiều hơn (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưcòn gọi
là hội thoại) Trong xã hội loài người, giao tiếp hai chiều là cơ bản và phổbiến nhất, gồm một người nói, một người người nghe và có sự phản hồi trởlại Trong cuộc thoại, khi có sự phản hồi thì vai trò của người tham gia cuộcthoại cũng thay đổi Bên nghe trở thành bên nói và bên nói trở thành bênnghe mà G.Yule gọi là tương tác Và như vậy, hội thoại là sự nỗ lực hợp tácgiữa các bên tham thoại
Theo Đỗ Hữu Châu [4, tr.15], các cuộc thoại có thể khác nhau ở nhiềukhía cạnh như thời gian, không gian, nơi chốn, số lượng người tham gia,cương vị tư cách người tham gia, về tính chất cuộc thoại, vị thế giao tiếp, vềtính có đích hay không có đích, tính hình thức hay không hình thức Nhữngyếu tố này không tách rời nhau mà liên kết với nhau tạo thành một khốithống nhất hữu quan trong hội thoại, chi phối và điều hoà cuộc thoại để đạtđến cái đích cuối cùng của mỗi bên giao tiếp theo những quy tắc nhất định
1.1.2 Các quy tắc hội thoại
Hội thoại diễn ra theo quy tắc nhất định Bàn về quy tắc hội thoại,Orecchioni đã chia quy tắc hội thoại thành ba nhóm:
-Các quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời
-Cácquy tắc chi phối cấu trúc hội thoại
-Những quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại
Trang 13Luân phiên lượt lời là nguyên tắc của sự tương tác qua lại trong hộithoại Trong cuộc thoại, từng người nói một và không nói đồng thời Ngườinói luân phiên nhau, đó là lượt lời mà theo G.Yule [37, tr.136], lượt lời hoạtđộng theo một hệ thống điều hành cục bộ, được hiểu theo lối quy ước giữathành viên trong một nhóm xã hội.
Về quy tắc chi phối hội thoại, theo Nguyễn Đức Dân (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như1998) [9, tr.103] những phát ngôn trong một lượt lời là những hành vi hội thoại Sự liênkết giữa hai lượt lời là sự liên kết giữa hành vi dẫn nhập và hành vi hồi đáp.Rất nhiều loại phát ngôn trong hội thoại đòi hỏi phải có sự hồi đáp riêng biệtnhư hành vi chào yêu cầu có một lời chào đáp lại, hành vi đề nghị cần cóphản hồi hoặc chấp nhận hoặc từ chối, hành vi hỏi cần có câu trả lời Mộthành vi ngôn ngữ xuất hiện có thể được chấp nhận hoặc từ chối Tất nhiên,người tham thoại cũng có thể lờ đi mà không có một biểu đạt ngôn ngữ nào.Nhưng dù tuân theo hành vi dẫn nhập, từ chối hay lờ đi, người tham thoạivẫn phải có chiến lược giao tiếp và phương tiện biểu đạt trong hành vi hồiđáp của mình
Quan hệ cá nhân giữa những người tham thoại cũng có tầm quantrọng đặc biệt trong tương tác hội thoại Đó là những nhân tố sẵn có trongcuộc tương tác nhưng chúng nằm ngoài tương tác Chúng liên quan tới quan
hệ thân – sơ, quan hệ vị thế xã hội, tuổi tác quyền lực và được thể hiệnkhác nhau ở cộng đồng người Theo Nguyễn Đức Dân (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như1998) [9, tr.122],quan hệ cá nhân được xem xét dưới các góc độ:
- Quan hệ ngang (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưquan hệ thân – sơ)
- Quan hệ dọc (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưquan hệ vị thế)
a Quan hệ ngang:
Quan hệ ngang chỉ rõ mối quan hệ gần gũi, thân cận hay xa cách giữa những người tham gia giao tiếp Mối quan hệ này có thể thay đổi và điều
Trang 14chỉnh trong quá trình hội thoại, từ sơ đến thân hoặc ngược lại Hình thức cóthể đối xứng, hoặc phi đối xứng Có nhiều dấu hiệu thể hiện quan hệ ngangnhư bằng lời nói, cử chỉ điệu bộ hoặc dấu hiệu bằng lời Người nói có nhiềucông cụ để lựa chọn khi muốn thể hiên quan hệ hàng ngang này.
b Quan hệ dọc
Quan hệ dọc là quan hệ tôn ti trong xã hội, tạo thành các vị thế trêndưới trong giao tiếp Quan hệ này được đánh dấu bằng yếu tố quyền lực.Quan hệ này có tính chất tương đối và phụ thuộc vào những yếu tố kháchquan như cương vị xã hội, giới tính, tuổi tác Những yếu tố khách quan nàytạo các vị thế khác nhau tuỳ theo quan niệm truyền thống văn hoá của mỗicộng đồng người Có nhiều dấu hiệu thể hiện quan hệ vị thế như bằng lời,bằng cử chỉ hoặc điệu bộ Hầu như mọi yếu tố trong hội thoại đều thể hiệnquan hệ vị thế Những dấu hiệu bằng lời giống như ở quan hệ ngang, hệthống xưng hô, hệ thống đại từ, các hành vi ngôn ngữ, hành vi hội thoại đều thể hiện quan hệ vị thế, và điều này được thể hiện khác nhau ở từngcộng đồng ngôn ngữ - văn hoá Do vậy, người tham gia giao tiếp cần hiểu vànắm bắt được những quan niệm về vị thế giữa các dân tộc, giữa các nền vănhoá để có những hành vi ứng xử đúng đắn
1.1.3 Cấu trúc hội thoại
1.1.3.1 Đoạn thoại
Hội thoại có những tổ chức nhất định mà đoạn thoại là một trong cácyếu tố của nó Theo Đỗ Hữu Châu (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như2001) [4, tr.209], đoạn thoại là mảngdiễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩahoặc về ngữ dụng Trong đoạn thoại, những người tham gia hội thoại nói vềmột chủ đề duy nhất Việc phân định đoạn thoại không dễ dàng bởi nhữngdanh giới mơ hồ, đôi khi phải dựa vào trực cảm và võ đoán Có thể ít nhiềuđịnh hình đoạn thoại qua cấu trúc: đoạn mở thoại, đoạn thân thoại, đoạn
Trang 15thoại kết thúc Đoạn thân thoại liên quan tới hình vi đề nghị và hành vi từchối là cặp trao – đáp có chứa phát ngôn đề nghị tiền vị và phát ngôn từchối Ví dụ:
- Đây này, hộ tịch của con chuyển rồi Ngày đi, chính con nhờ người cắt, con nhớ không.
- Dạ, con nhớ Nhưng trong khi làm thủ tục giấy tờ
- Trong khi chờ thủ tục, giấy tờ con cứ đi đâu đó sau này nhà máy người ta có trách nhiệm.
- Cậu định không cho con ở nhà?
- Trong nhà này chỉ có những người đăng ký mới được ở.
- Cậu cho con mượn hộ khẩu con đi đăng ký tạm trú.
- Trong đời cậu, chưa có một lần nào đưa hộ khẩu cho người khác
mượn.
- Cậu ơi, con chỉ xin cậu một lần này.
- Lần nào đối với cậu cũng thế Đời cậu chưa bao giờ nói lần thứ hai
để thay đổi những ý định của mình.
( 17, tr.120)
Chủ đề duy nhất của cuộc thoại là việc hỏi mượn sổ hộ khẩu và thái
độ từ chối của người cha
1.1.3.2 Ngữ cảnh
Hội thoại bao giờ cũng xảy ra trong một ngữ cảnh nhất định Các nhân
tố tham gia vào hoạt động giao tiếp được gọi chung là ngữ cảnh Cách thức
đề nghị và từ chối trong hội thoại được xuất hiện trong những ngữ cảnhđược xác định Ngữ cảnh bao gồm các tình huống ngôn ngữ và ngữ cảnh tựnhiên xung quanh, đoạn thoại trước và sau đó, các quy tắc ứng xử, các khíacạnh liên quan như quan hệ thân – sơ, địa điểm, thời gian nơi diễn ra cuộcthoại, nội dung của cuộc thoại có chứa hành vi đề nghị và từ chối có liên
Trang 16quan Tất cả những yếu tố được gọi là ngữ cảnh ấy cùng tham dự vào cuộcthoại, quy định cách thức tiến hành cuộc thoại.
1.1.3.3 Lượt lời
Đây là sự tương tác qua lại trong hội thoại Trong cuộc thoại ngườinói sẽ luân phiên nhau Vai người nói sẽ thường xuyên thay đổi, và lượt lờithứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai Hai lượt lời có quan
hệ chặt chẽ, liên kết mật thiết tạo thành cặp thoại Lượt lời có chứa các hành
vi, trong đó có hành vi đề nghị và hành vi từ chối Các lượt lời trong cuộcthoại phải bảo đảm tính thống nhất nội dung phục vụ cho sự phát triển vấn
đề, hướng tới đích của cuộc thoại là điều kiện cho cuộc thoại thành công.Trong ví dụ nêu trên, hai nhân vật tham thoại liên kết chặt chẽ và lượt lời vớinội dung thống nhất: hỏi – trả lời, đề nghị - từ chối, nhờ vả - khước từ
1.2 Hành vi ngôn ngữ
Việc nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp củaloài người đã được các nhà ngôn ngữ học bắt đầu chú ý từ nhiều thập kỷtrước Trong đó có J.L.Austin, một nhà triết học người Anh ở trường đại họcHarvard (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưMỹ) đã trình bày 12 chuyên đề Năm 1962 , những chuyên đề này
đã được tập hợp lại xuất bản thành sách có nhan đề “How to do things withword” Có nhiều cách dịch như là “Hành động như thế nào bằng lời nói” hay
“Nói tức là hành động” Đồng thời cũng xuất hiện một số thuật ngữ khácnhau như: hành động lời nói, hành động ngôn từ, hành động ngôn ngữ
Trong luận văn này, chúng tôi dùng thuật ngữ : “Hành động ngôn ngữ”
Austin đã đưa ra tiêu chí phân biệt sự khác nhau trong cùng một hành
vi ngôn ngữ, hành vi ở lời, hành vi tạo lời và hành vi mượn lời Austin đã điềuchỉnh một cách sâu sắc mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói mà trước
đây F.D.Saussure đã phân biệt:
Trang 17Hành vi ở lời (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưillocutionary act) là những hành động người nói thựchiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc vềngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng vớichúng ở người nhận Hành vi tạo lời (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưlocutionnary act) là hành vi sử dụngcác yếu tố ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu để tạo
ra được một phát ngôn về hình thức nội dung Hành vi mượn lời(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưperlocutionary act) là những hành vi mượn phương tiện ngôn ngữ để gây ramột hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc chínhngười nói [4, tr.88-89]
1.3 Tính gián tiếp trong thuyết lịch sự
1.3.1 Định nghĩa lịch sự
Theo J.Thomas, phép lịch sự được xem như là một (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưhay một loạtchiến lược) được người nói dùng để hoàn thành một số mục đích như thiếtlập hoặc duy trì những quan hệ hài hoà (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưDẫn lại của Đỗ Hữu Châu [4,tr.257])
Theo Lakoff thì lịch sự như là một phương thức để giảm thiểu sựxung đột trong diễn ngôn Những chiến lược lịch sự có nhiệm vụ đặc biệt làlàm cho cuộc tương tác được thuận lợi (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưDẫn lại của Đỗ Hữu Châu [4,tr.258])
Theo Leech phép lịch sự có các chức năng như giữ gìn sự cân bằng xãhội và quan hệ bạn bè, những quan hệ này khiến chúng ta có tin rằng ngườiđối thoại với chúng ta tỏ ra trước hết là cộng tác với chúng ta (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưDẫn lại của
Đỗ Hữu Châu [4, tr.261])
Theo C.K Orecchioni, phép lịch sự liên quan đến tất cả các phươngdiện của diễn ngôn Tức là:
1 Bị chi phối bởi các quy tắc
2 Xuất hiện trong địa hạt quan hệ liên cá nhân
Trang 183 Có chức năng giữ gìn tính chất hài hoà quan hệ đó.
Lịch sự cũng bao gồm cả không lịch sự như G.M.Green thì viết: “Nhữngngười tham gia hội thoại có thể chọn cách cư xử sự lịch sự, tránh cục cằn thô
lỗ Họ có thể chọn cách cư sử tuỳ thích không đếm xỉa đến tình cảm vànguyện vọng của người khác Họ còn có thể dựa vào những hiểu biết củamình về quy tắc lịch sự để tỏ ra cục cằn thô lỗ một cách cố ý.” (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưDẫn lại của
Đỗ Hữu Châu [4, tr.264])
Brown và Levinson đưa ra định nghĩa về lịch sự dựa trên khái niệmthể diện (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưface), đó là “hình ảnh -về -ta cộng đồng mà mỗi thành viên muốnmình có được” Thể diện gồm thể diện âm tính và thể diện dương tính (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưDẫnlại của Đỗ Hữu Châu [4, tr.263])
Vậy , lịch sự theo cách hiểu của chúng tôi đó là cách sử dụng hànhđộng ngôn ngữ sao cho giữ được mối quan hệ hài hoà, giảm thiểu được sựxung đột trong các cuộc thoại
1.3.2 Các thuyết về lịch sự
R.Lakoff nêu lên ba loại quy tắc lịch sự Đó là quy tắc không được ápđặt, quy tắc dành cho người đối thoại lựa chọn, quy tắc khuyến khích tìnhcảm bạn bè (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưDẫn lại của Đỗ Hữu Châu [4, tr.257])
Quy tắc không được áp đặt thích hợp với những ngữ cảnh trong đógiữa những người tham gia tương tác có những khác biệt được nhận biết vềquyền lực và cương vị như giữa sinh viên và chủ nhiệm khoa, giữa côngnhân và ông phó giám đốc nhà máy phụ trách tổ chức Áp đặt đối với ngườinghe (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưH) có nghĩa là làm cho H không thể hành động theo H muốn Không
áp đặt có nghĩa là không ngăn cản H hành động theo ý muốn của mình.Người nói (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưS) lịch sự theo quy tắc này sẽ tránh, làm dịu bớt, hoặc xin phép,xin lỗi H khi buộc người đối thoại H phải làm điều mà H không muốn làm,
Trang 19tránh cả những hành động khiến H xao lãng điều H đang làm hay đang nghĩtới khi S nói với H
Quy tắc dành cho người đối thoại sự lựa chọn thích hợp với nhữngngữ cảnh trong đó người tham gia có quyền lực và cương vị gần tươngđương với nhau nhưng không gần gũi về quan hệ xã hội, thí dụ giữa thươngnhân và khách hàng mới, giữa hai người không quen biết nhau trong phòngbệnh Dành cho sự lựa chọn có nghĩa là bày tỏ ý kiến sao cho ý kiến hay lờithỉnh cầu của mình có thể không được biết đến mà không bị bác bỏ hay từchối Nói chung, nếu S muốn thuyết phục người nghe theo môt quan điểmhay về một công việc nào đó thì S sẽ nói sao cho H không buộc phải nhận ra
ý định của S Những điều S khẳng định hay thỉnh cầu đều rào đón hoặc nói theolối hàm ẩn (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưTheo Đỗ Hữu Châu [4, tr.258])
Quy tắc khuyến khích tình cảm bạn bè thích hợp với bạn bè gần gũihoặc thực sự thân mật với nhau Theo quy tắc này thì “Đã là bạn bè với nhauthì không có gì phải giấu giếm nhau nữa cả” Nói chung, trong phép lịch sựnày, người ta không phải “uốn lưỡi” Nguyên tắc chi phối ở đây không phải
là chỉ dừng ở chỗ tỏ ra quan tâm thực sự lẫn nhau mà còn tỏ ra săn sóc nhau,tin cậy nhau bằng cách “thổ lộ hết tâm can với nahu”, bộc lộ hết mọi chi tiếtcủa cuộc sống, kinh nghiệm, cảm xúc…của mõi người đối với nhau Nhữngngười đối thoại theo phép lịch sự này thường dùng các từ xưng hô thânthuộc, kể cả các biệt danh, những lời chửi thề
Khác với quy tắc lịch sự của Lakoff, quy tắc lịch sự của Leech dựatrên hai khái niệm tổn thất (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưcost) và lợi ích (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưbenefit), một siêu nguyên tắc(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưnhư nguyên tắc cộng tác), các phương châm và tiểu phương châm Siêunguyên tắc lịch sự của Leech bao gồm sáu phương châm lịch sự lớn và một
số phương châm phụ khác (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưDẫn lại của Đỗ Hữu Châu [4, tr.261]) Cácphương châm cụ thể đó là:
Trang 20(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như1) Phương châm khéo léo
a Giảm thiểu tổn thất cho người (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưother)
b Tăng tối đa lợi ích cho người
(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như2) Phương châm rộng rãi
a Giảm thiểu lợi ích cho ta (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưself)
b Tăng tối đa tổn thất cho ta
(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như3) Phương châm tán thưởng
a Giảm thiểu sự chê bai đối với người
b Tăng tối đa khen gợi người
(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như4) Phương châm khiêm tốn a Giảm thiểu khen ngợi ta
b Tăng tối đa sự chê bai ta
(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như5) Phương châm tán đồng
a Giảm thiểu sự bất đồng giữa người và ta
b Tăng tối đa sự đồng ý giữa người và ta
(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như6) Phương châm thiện cảm
a Giảm thiểu ác cảm giữa người và ta
b Tăng tối đa thiện cảm giữa người và ta
Theo Leech, những phương châm trên có tính chuyên dụng đối vớinhững hành vi ở lời nhất định Mức độ lịch sự của một hành vi ở lời theoLeech phụ thuộc vào ba nhân tố Thứ nhất là phụ thuộc vào bản chất củahành vi đó Thứ hai là phụ thuộc vào hình thức ngôn từ thể hiện hành vi đó.Thứ ba là tuỳ theo mức độ quan hệ giữa người cầu khiến và người được cầukhiến (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưDẫn lại của Đỗ Hữu Châu [4, tr.262])
Brown và Levinson xây dựng lý thuyết lịch sự trên khái niệm thể diện Thể diện được Brown và Levinson định nghĩa là: “hình ảnh- về -ta công
Trang 21cộng mà mỗi thành viên trong xã hội muốn mình có được” Thể diện lại gồmhai phương diện: thể diện âm tính và thể diện dương tính [4, tr.263]
“Thể diện âm tính là mong muốn không bị can thiệp, mong muốnđược hành động tự do theo như mình đã lựa chọn.”(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưJ.Thomas), nó là “nhucầu được độc lập, tự do trong hành động, không bị người khác ápđặt.”(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưG.Yule, tr.121), nó bao gồm “quyền tự do hành động mà không bị canthiệp.” (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưG.M Green) (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưDẫn lại của Đỗ Hữu Châu [4, tr.264]
Thể diện dương tính là cái “được phản ánh trong ý muốn mình được
ưa thích, tán thưởng, tôn trọng, đánh giá cao”(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưJ.Thomas), là “sự thoả mãnkhi một giá trị của mình được tán thưởng”(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưG.M.Green) G.Yule giải thích cụthể hơn: “Thể diện dương tính của một người là cái nhu cầu được chấp nhận,thậm chí được yêu thích bởi người khác, được đối xử như là thành viên củacùng một nhóm xã hội và nhu cầu được biết rằng mong muốn của mình cũngđược người khác chia sẻ Nói đơn giản thì thể diện âm tính là nhu cầu đượcđộc lập, còn thể diện dương tính là nhu cầu được liên thông với người khác.”[37, tr.121]
Trong tương tác bằng lời và không bằng lời chúng ta phải thực hiệnnhững hành động, những hành vi ngôn ngữ nhất định Đại bộ phận nhữnghành vi ngôn ngữ đều tiềm ẩn khả năng làm tổn hại đến thể diện Brown vàLevinson gọi chúng là các hành vi đe doạ thể diện –Face Threatening Acts,viết tắt là FTA [4, tr.273-275] Có những hành vi:
- Đe doạ thể diện âm tính của người thực hiện nó như hành vi tặng biếu, hứa hẹn
- Đe doạ thể diện dương tính của người thực hiện như thú nhận, cám
ơn, xin lỗi, tự phê bình…
- Đe doạ thể diện âm tính của người tiếp nhận Đó là những hành vi philời như vi phạm không gian, sờ mó không được phép, nhìn uy hiếp
Trang 22người ta, gây ồn ào, phun mùi khói thuốc lá… Những hành vi ngôn ngữ nhưkhuyên nhủ, dặn dò, chỉ vẽ quá mức, những câu hỏi tò mò vào đời tư củangười ta, nói chặn, nói leo, ngắt lời.
Đe doạ thể diện dương tính của người tiếp nhận như phê bình, chê bai,chế giễu…
Theo Brown và Levinson thì bất cứ hành vi ngôn ngữ nào cũng tiềmtàng hiệu lực đe dọa thể diện nên hai ông đã tập hợp các chiến lược lịch sựkhi thực hiện một hành vi ngôn ngữ thành năm siêu hay tổng chiến lược vàđược biểu diễn theo sơ đồ sau:
Ít hơn
1 Nói không bù đắp Nói trắng 2 Lịch sự dương tính
Thực hiện Nói có bù đắpFTA
từ đó tìm cách giảm nhẹ nó Mức độ đe doạ thể diện của một hành vi ngônngữ theo Brown và Levinson được đánh giá theo thông số: quyền lực,khoảng cách và mức độ trầm trọng của các hành vi đe doạ thể diện Đánh giá
Trang 23được đúng mức độ hiệu lực đe doạ thể diện rồi, người nói sẽ quyết định lựachọn chiến lược lịch sự nào là thích hợp nhất với quan hệ liên cá nhân, vớimục đích của cuộc hội thoại Do đó, Brown và Levinson đã đưa ra khái niệmlịch sự âm tính và lịch sự dương tính.
Phép lịch sự âm tính hướng vào thể diện âm tính, vào lãnh địa của đốitác Phép lịch sự dương tính là phép lịch sự hướng vào thể diện dương tínhcủa người tiếp nhận Nói cụ thể hơn, phép lịch sự âm tính có tính né tránh,
có nghĩa là tránh không dùng những hành vi đe doạ thể diện hoặc bù đắp,giảm nhẹ hiệu lực của các hành vi đe doạ thể diện khi không thể không dùngchúng
Các biểu hiện ngôn ngữ của chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiệncác hành vi đe dọa thể diện FTA được Brown và Levinson gọi là các biệnpháp dịu hoá (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưSoftenners) Theo hai ông, biện pháp dịu hoá là biện phápgiảm hiệu lực đe dọa thể diện của người nghe Chúng bao gồm:
a Các biện pháp thay thế cho cho các hành vi đe dọa thể diện (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưFTA) - Các hành vi ngôn ngữ gián tiếp
- Các biện pháp hình thái học ở các ngôn ngữ biến hình như các lối
nói điều kiện (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưconditionnel), thời quá khứ chưa hoàn thành (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưimparfait) trong tiếng Pháp
- Các phương tiện tu từ như nói giảm, nói vòng v.v… Các phép phủ địnhlịch sự như: không sớm lắm đâu, không lấy gì làm, không phải là thông minh cholắm v.v…
Trang 24- Tình thái hoá như: tôi nghĩ rằng, tôi thấy rằng, có lẽ là, theo tôi nghĩv.v…
- Biện pháp “tháo ngòi nổ”: Dùng trong trường hợp dự đoán rằng hành visắp thực hiện có thể gây hiệu quả xấu cho người nghe, khi đó có thể nói trước chongười nghe hiệu quả xấu đó như:
Tôi rất băn khoăn phải phiền anh nhưng…
Mình biết cậu không muốn rời cái băng đó ra một phút nhưng…
- Những yếu tố vuốt ve: Đây là cách nói nêu ra những ưu điểm của
người nhận trước khi đưa ra hành động đe dọa thể diện Ví dụ như:
Anh bạn thủ khoa toán của tớ ơi, giảng hộ tớ bài toán này với Cậu
sẽ rất tuyệt vời nếu cậu ra phô tô hộ tớ cuốn này
Phép lịch sự dương tính nhằm thực hiện những hành vi tôn vinh thểdiện, tức những hành vi làm gia tăng một trong hai thể diện của đối tác.Phép lịch sự dương tính cũng nhằm gia tăng lợi ích thể diện cho người nói,
là cách người nói tìm cách gia tăng thể diện cho mình bằng cách cố ý nêubật mục đích làm cho đối tác nhận biết rằng người đó có cùng mục đích giaotiếp hội thoại như mình, hoặc dùng những từ ngữ thể hiện thân tình như từxưng hô thân mật, những từ ngữ như đã nói suồng sã… Bằng cách xử sựnhư vậy, người nói nghĩ rằng sẽ tạo lập được sự liên thông với đối tác
Vì lịch sự dương tính nhằm thoả mãn nhu cầu thể diện dương tính củangười nhận FTA và cả người nói ra FTA cho nên các biện pháp ngôn ngữthể hiện nó ở FTA chủ yếu là nhằm tôn vinh thể diện của người nghe và cảngười nói nên có thể quy các biểu hiện ngôn ngữ của chiến lược lịch sựdương tính khi thực hiện FTA thành hai nhóm:
Thứ nhất: dùng các hành vi tôn vinh thể diện người nhận như các biệnpháp vuốt ve, xin lỗi, xin phép v.v…
Trang 25Thứ hai: dùng các yếu tố ngôn ngữ nhằm xác lập quan hệ cùng nhóm
xã hội giữa người nói và người nhận (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưDẫn lại của Đỗ Hữu Châu [4, tr.279])
Xét về ngôn từ thì dường như ngôn ngữ nào cũng có những biểu hiệncủa lịch sự dương tính và lịch sự âm tính, tuy rằng những biểu hiện nàykhông đồng đều: có ngôn ngữ sử dụng nhiều phương tiện lịch sự dương tính
và ngược lại Và nếu vậy, thuyết phổ niệm lịch sự (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưuniversal politenesstheory) của Brown và Levinson sẽ mang tính đúng đắn tuyệt đối Tuy nhiên,thực tế là khi đem lí thuyết lịch sự áp dụng để nghiên cứu các ngôn ngữ cụthể thì lại có nhiều vấn đề nảy sinh Đó cũng là lí do chúng tôi tiến hànhkhảo sát gián tiếp và lịch sự trong tiếng Nhật
1.3.3 Khái niệm hành vi ngôn ngữ gián tiếp
Khái niệm hành vi ngôn ngữ gián tiếp do Searle đưa ra vào năm 1969
và được phát triển trong công trình “Các hành vi ngôn ngữ gián tiếp” Searle
đã đưa ra định nghĩa: “Một hành vi tạo lời được thực hiện gián tiếp qua mộthành vi tạo lời khác sẽ được gọi là một hành vi gián tiếp” (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưdẫn lại củaNguyễn Đức Dân [9, tr.59])
Theo Nguyễn Đức Dân [9, tr.60], hiện tượng người giao tiếp sử dụng trên bề mặt hành vi ở lời này nhưng lại nhằm hiệu quả của một hành vi ở lời khác được gọi là hiện tượng sử dụng hành vi theo lối gián tiếp Một hành vi
sử dụng gián tiếp là một hành vi trong đó người nói thực hiện một hành vi ởlời này nhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngônngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả hai người, suy ra hiệu lực ở lời của mộthành vi khác
Ví dụ: Chị gái của Ken nói chuyện với Ken.
- Ano hito, mikonde toshiwa kenchan to onajitoshiyo.
「あの人、未婚で年は建ちゃんと同じ年よ」で年は建ちゃんと同じ年よ」は建ちゃんと同じ年よ」ちゃんと思います/同じ年よ」じ年は建ちゃんと同じ年よ」よ」
(Người đó chưa kêt hôn, bằng tuổi với Ken đấy)
Trang 26- Joudan kitsuiyo.
「冗談きついよ。」きついよ。」」
(Em không thích nói đùa)
(36, tr.26)
Ở ví dụ này, chị gái của Ken đã dùng hành vi ở lời trực tiếp là trần thuật
để nhằm làm cho Ken nắm được hiệu lực ở lời gián tiếp là đề nghị Ken kết hôn với
cô gái đó Còn Ken cũng đã dùng hành vi ở lời là trần thuật để
thực hiện hành vi ở lời gián tiếp là từ chối
Các hành vi ngôn ngữ gián tiếp là một trong những phương thức tạo
ra tính mơ hồ về nghĩa trong lời nói Tuy nhiên, không phải tuỳ tiện muốndùng hành vi ở lời trực tiếp nào để tạo ra hành vi ở lời gián tiếp nào cũngđược Quy tắc sử dụng gián tiếp các hành vi ở lời hoặc vấn đề một hành vi ởlời trực tiếp có thể được dùng để tạo ra những hành vi gián tiếp nào là vấn đềchưa được giải quyết đến nơi đến chốn Catherine Kerbrat Orecchioni đã dẫnlàm thí dụ một số trường hợp sau đây (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưDẫn lại của Đỗ Hữu Châu [4, tr.147-148])
1) Hiệu lực trực tiếp: trần thuật / Hiệu lực gián tiếp: cầu khiến
- Đèn nhà bếp hỏng rồi / Thay bóng đèn đi
- Hôn nay con được điểm mười toán / Mẹ cho con ăn kem
2) Hiệu lực ở lời trực tiếp: trần thuật / Hiệu lực ở lời gián tiếp: mongmuốn
- Anh Tuấn vừa mua cho chị ấy chiếc áo da / Em cũng muốn có một chiếc
áo như vậy
- Hè này vợ chồng Lan sẽ đi nghỉ ở Đà Lạt / Giá vợ chồng mình cũng đi
nghỉ mát như họ nhỉ !
3) Hiệu lực ở lời trực tiếp: trần thuật / Hiệu lực ở lời gián tiếp: hỏi
- Bác Trị đã bỏ được thuốc lá rồi / Còn anh thì sao?
Trang 27- Anh chàng lại đến rồi / Bạn có tiếp hắn không?
4) Hiệu lực ở lời trực tiếp: mong muốn / Hiệu lực ở lời gián tiếp: cầukhiến
- Giá ai xách hộ thùng nước lên nhỉ / Anh xách hộ tôi thùng nước
5)Hiệu lực ở lời trực tiếp: hỏi / Hiệu lực ở lời gián tiếp: cầu khiến
- Mày có dọn dẹp sách vở cho gọn lại không? / Dọn dẹp ngay sách vở cho ngọn
- Anh có thuốc lá không? / Cho tôi một điếu!
6)Hiệu lực ở lời trực tiếp: hỏi / Hiệu lực ở lời gián tiếp: khẳng định
- Mày không làm vỡ cái cốc thì ai làm? / Chính mày làm vỡ cái cốc 7)Hiệu lực
ở lời: trần thuật / Hiệu lực ở lời gián tiếp: từ chối
- A: Tối nay đi dự ca nhạc đi
- B: Tối nay, mình bận học thi / Tối nay, mình không đi được
Có thể nói hiệu lực ở lời gián tiếp là cái thêm vào cho hiệu lực ở lời trựctiếp Muốn nhận biết được hiệu lực ở lời gián tiếp thì người nghe trước hết phảinhận biết hiệu lực ở lời của hành vi trực tiếp Và bởi vì tất cả các hành vi ở lờinào cùng được dùng gián tiếp cho nên muốn sử dụng và nhận biết được cáchành vi ở lời gián tiếp thì phải biết tất cả các biểu thức ngữ vi và hiệu lực ở lờicủa tất cả các hành vi ở lời Nhận biết được hành vi ở lời gián tiếp là kết quảcủa hoạt động suy ý từ hành vi trực tiếp nghe được (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưđọc được) Ví dụ ở trongtiếng Nhật cấu trúc “động từ + tekudasai” (~てください)てください)có hiệu lực ở lờitrực tiếp là đề nghị yêu cầu (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưhãy làm…), nhưng cấu trúc hiệu lực ở lời gián tiếp
là hỏi (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưcó thể hộ tôi được không / tôi có thể nhận được việc …của anh không)
có cấu trúc là -te kudasaimasenka ( ~てください) て く だ さ い ま せ ん か ) / -temoraemasenka ( ~てください) て も ら え ま せ ん か ) / -te
itadakemasenka(~てください)ていただけませんか).Vídụ:
Trang 28- Hon wo katte kudaisai 「本を買ってください」を買ってください」買ってください」ってください」
(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưChị hãy mua cho tôi quyển sách)
- Hon wo katte kudaisaimasenka.「本を買ってください」を買ってください」買ってください」ってくださいませんか」
(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưChị có thể mua sách hộ tôi được không?)
- Hon wo katte moraemasuka.「本を買ってください」を買ってください」買ってください」ってもらえませんか」
(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưDịch trực nghĩa: Tôi có thể nhận được việc mua sách từ chị không?)
Có thể nhận biết hành vi ngôn ngữ gián tiếp thông qua ngữ cảnh, biểuthức ngữ vi, các phương châm hội thoại, phép lịch sự, các quy tắc liên kết,các quy tắc hội thoại và cả lôgic nữa
Ngay từ đầu thập kỉ 70 đã có hàng loạt công trình đề cập đến hành vigián tiếp (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưHVGT) Người ta tiếp tục tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi “Dođâu mà một hành vi tại lời (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưHVTL) này lại nảy sinh một HVTL khác - mộtHVGT
Theo Nguyễn Đức Dân [9, tr.69], quan điểm của Morgan về HVGTnhư là những quy ước về việc dùng ngôn ngữ rất gần với cách tiếp cận sau:Người ta quan sát thấy rằng những HVGT, trong rất nhiều trường hợp, đềuđược mọi người dùng và hiểu một cách trực tiếp như là những “hiệu lực tạilời”, nghĩa là chúng không còn là “gián tiếp nữa”
Vậy con người đã dùng và hiểu các HVGT như thế nào? Mỗi người sửdụng là một cá thể, một bộ phận, trong toàn thể những người sử dụng củamột cộng đồng ngôn ngữ Vì vậy, họ không được phép tùy tiện sử dụng theocách riêng của mình, vì điều này sẽ khiến người khác không hiểu Họ luônluôn dùng ngôn ngữ như là một thành viên của một cộng đồng ngôn ngữphản ánh các điều kiện bao quát nhất trong cộng đồng Trong số các điềukiện này, có những thể chế quốc gia mà xã hội đã đặt ra về phương diện lậppháp, hành pháp và tư pháp cũng như thể chế của các cơ quan nhà nướckhác Có những ước chế xã hội về những quan hệ gia đình, hôn nhân, chợ
Trang 29búa… Tất cả các loại thể chế, ước chế và tập tục này đều liên quan tới conngười và được mọi người trong xã hội thừa nhận Chúng được hợp thức hoátrong xã hội và có được sự biểu hiện hình thức trong ngôn ngữ Nghĩa là đểhình thành các quy ước về sự dùng ngôn ngữ phản ánh các thể chế, quy ước
xã hội của nó Theo cách này ngôn ngữ đã được chuẩn hoá và mã hoá về cácthể chế, ước chế xã hội và đi vào tâm thức của mỗi con người Nói cáchkhác: Hiện thực xã hội là cơ sở cho những hiện tượng ngôn ngữ Ngôn ngữ
đã phản ánh , “cấu tạo” và gìn giữ các thể chế và ước chế xã hội Nhận raHVGT không cần qua các bước suy luận như của Searle, nó được nhận thứcmột cách trực tiếp, các HVGT như là cấu trúc ngôn ngữ của những sự kiện
xã hội đã được mã hoá
Không ít người đề cập đến tính tế nhị, lịch sự khi bàn về hành vi giántiếp Có một số khuôn mẫu nói năng trở thành một cách quy ước biểu thịtính cách tế nhị, lịch sự để đưa ra đề nghị một cách gián tiếp Có lẽ thế nàythì đúng hơn: Không phải vì tôi tế nhị mà tôi đề nghị môt cách gián tiếp, mà
là cách dùng gián tiếp làm cho tôi trở thành người lịch sự Điều này có nghĩa
là tính tế nhị, lịch sự không phải là nguyên nhân làm nên tính gián tiếp củangôn ngữ mà cái nghĩa có thể gắn cho cách dùng ngôn ngữ, gắn với câu hỏi,
là chứng cứ của tính lịch sự, tế nhị Nghĩa này biểu hiện một cách dùng, mộtlối sống mà chúng ta đã học hỏi trong quá trình trưởng thành
1.3.4 Tính gián tiếp trong giao tiếp và gián tiếp trong tiếng Nhật.
Như chúng tôi đã đề cập, theo Searl thì hành vi gián tiếp là “Một hành
vi tạo lời được thực hiện gián tiếp qua một hành vi tạo lời khác sẽ được gọi làmột hành vi gián tiếp” Xét về hành động ngôn ngữ thì nó chỉ là một định
nghĩa rất gọn ghẽ Tuy nhiên, theo khảo sát của một số học giả khác, biểuhiện của ngôn ngữ gián tiếp lại vô cùng phong phú Dehorah Tannen (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như1989,tr.23) (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưdẫn lại của Sanae Tsuda [52], dựa vào nguyên tắc lịch sự của Lakoff
Trang 30để chỉ ra vai trò của gián tiếp trong giao tiếp như sau: “Một đặc trưng cơ bảncủa ngôn ngữ là những gì các nhà phân tích văn học gọi là sự lược bỏ và cácnhà phân tích hội thoại gọi là gián tiếp hay còn gọi là nghĩa hàm ngôn, tức là
sự truyền đạt nghĩa không được nói ra” Theo bà, sự gián tiếp luôn xuất hiện
và không thể thiếu được trong hội thoại vì gián tiếp liên quan đến hai lý dochính, đó là giữ được hoà khí trong cuộc thoại và có được mối quan hệ tốt từ
việc hiểu nhau mà người nói không phải nói ra.
Tannen cũng đã đề cập đến tính gián tiếp với tác động qua lại trong
hội thoại bao gồm cả việc im lặng được coi là thông điệp đa nghĩa Và điều
này đặc biệt đúng trong giao tiếp tiếng Nhật Im lặng trong giao tiếp tiếngNhật không phải là vô nghĩa mà nó mang rất nhiều ý nghĩa khác nhau Điềunày, chúng tôi sẽ nói rõ hơn ở chương 2
Sanae Tsuda đã xây dựng khung lý thuyết cho gián tiếp trong hộithoại dựa vào nguyên tắc cộng tác của Grice (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như1975), lý thuyết thể diện củaErvin và lý thuyết lịch sự của Brown & Levinson Theo Sanae Tsuda, giántiếp (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưchẳng hạn nói đùa và nói giảm bớt) có các chức năng khác nhau trong
hội thoại như tránh sự đối đầu, khai thác thông tin Theo tác giả thì nói đùa như là sự thể hiện của gián tiếp nhằm mục đích làm tăng sự thân thiện Tác
giả cũng đã phân tích sự khác nhau trong cách nói đùa của người Nhật vàcác nước phương Tây Ở phương Tây, người ta nói đùa ở trong công ty để
có quan hệ tốt với các đồng nghiệp Còn ở Nhật, nói đùa thường được sửdụng trong những cuộc nói chuyện cá nhân với bạn bè thân thiết Cũng theotác giả thì trong một xã hội, nơi mà người ta nhạy cảm với người trong nhómnhư ở Nhật Bản, sự gián tiếp được sử dụng bởi những người có vị trí caonhằm mục đích đặt ra một giới hạn sẵn cho người có vị trí thấp hơn, nhưcách để người đó không thể vượt qua giới hạn này Trong ví dụ sau đây,người có vị trí thấp hơn muốn nói một điều, mà điều này đã gây áp lực cho
Trang 31người có ví trí cao hơn Bởi vậy, người ở vị trí cao hơn (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưtổng giám đốc) đã dùng cách nói gián tiếp như cách để chặn trước điều đó.
VD: Tổng giám đốcHasekawa nói chuyện với Shimamura Shimamura là người phản đối kế hoạch sát nhập giữa ngân hàng Mitsubishi và Daiichi.
N: Kimiga korehodo wakarazu ya datowa omowanaikatta.
「きみがこれほど分からず屋だとは思わなかった」分からず屋だとは思わなかった」からず屋だとは思わなかった」屋だとは思わなかった」だと思います/は思います/わなかった」
(Tôi không nghĩ cậu là người không hiểu đến như thế.) S: Daiichi ginkounotame, soshite toudori notamenimo Mitsubishi tono gappei niwa sansei surukotowa dekimasen.
「第一銀行のため、そして頭取ご自身のためにも三菱との合併には賛のため、そして頭取ご自身のためにも三菱との合併には賛ご自身のためにも三菱との合併には賛自身のためにも三菱との合併には賛のために思う)も三菱との合併には賛と思います/の合併には賛に思う)は賛 成することはできません」すること思います/はできません」
(Vì ngân hàng Daiichi và vì cả bản thân tổng giám đốc, tôi không thể đồng ý sát nhập với Mitsubishi được.)
(29, tr.35)
Nhân vật Hasekawa là tổng giám đốc ngân hàng Daiichi, là người có
vị trí cao hơn so với nhân vật Shimamura, nhưng trong trường hợp nàyShimamura là người phản đối sát nhập giữa ngân hàng Mitsubishi vớiDaiichi, luôn tỏ rõ thái độ phản đối kế hoạch sát nhập này gây áp lực chotổng giám đốc Hasekawa, Hasekawa đã dùng phương thức biểu hiện giántiếp “-to omowanai” (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưTôi không nghĩ là) thực hiện hành động gián tiếp yêucầu Shimamura đồng ý kế hoạch này
Và Sanae Tsuda cũng đã khẳng định gián tiếp như là một cách giaotiếp của người Nhật Trong cộng đồng giao tiếp tiếng Nhật, gián tiếp đượcnhiều người sử dụng Thông thường thì gián tiếp làm tăng khoảng cách giaotiếp Nhưng trong tiếng Nhật, có thể sử dụng thể động từ là thể thường hay
Trang 32thể lịch sự, qua đó gián tiếp biểu hiện thái độ của người nói hoặc người nghe
là thái độ thân thiện hay thái độ trang trọng
Chẳng hạn như ví dụ sau đây cách nói gián tiếp là cách thể hiện thái độthân mật của Hiroko khi đề nghị Mayuri mở nhà hàng, khác với ví dụ màchúng tôi đã phân tích ở trên cách nói thể hiện thái độ trang trọng của cấptrên khi gián tiếp đề nghị cấp dưới không được phản đối việc liên doanhngân hàng
VD: Hiroko nói với Mayumi
Hiroko: Minna, renbi hataraku nowa tsurai kara, koutaisei ga iiwayo Soredattara sorehode karada wa kitsukinai to omoukedo Dakara sannin de youbi wo kimereba iinoyo.
「みんな、連日働くのは辛いから、交替制がいいわよ。それだったらくのは辛いから、交替制がいいわよ。それだったらいから、交替制がいいわよ。それだったらがいいわよ。」それだったら それほど分からず屋だとは思わなかった」体はきつくないと思うけど。だから三人で曜日を決めればいはきつくないと思います/思います/うけど分からず屋だとは思わなかった」。」だから三人で曜日を買ってください」決めればいめればい いのよ」
(Cả ba chúng ta, ngày nào cũng làm thì mệt lắm Vậy, chúng ta áp dụng chế độ thay phiên nhau làm Như thế thì mình nghĩ rằng chúng ta sẽ không mệt Vì chúng ta có ba người nên nếu quyết định luôn được ngày làm việc thì tốt quá.)
Mayumi: Futari wa iikedo, watashi, ryouri wa hetadamon Watashi wa tsukurub tokidake, okyakusan ga konai.
「二人はいいけど分からず屋だとは思わなかった」、私、料理は下手だもん。私は作る時だけ、お客さは下手だもん。私は作る時だけ、お客さだもん。」私は作る時だけ、お客さる時だけ、お客さだけ、お客さ客ささ んが来ない」ない」
(Hai người thì được, mình nấu ăn rất kém Khi mà mình nấu thì không có khách đến.)
(30, tr 87)
Trong đoạn hội thoại này, Hiroko và Mikiko đồng ý mở nhà hàng cònMayumi phản đối việc mở nhà với lý do là mệt và không biết nấu ăn Do đó,
Trang 33Hiroko đã dùng biểu thức gián tiếp là “-to omou” và “-baii” để đề nghịMayumi mở nhà hàng Ở cuối phát ngôn của mình, Hiroko không sử dụngthể lịch sự mà sử dụng thể thường “-kimereba iinoyo” Cách sử dụng cáchnói gián tiếp của Hiroko trong đoạn hội thoại này biểu thị thái độ thân mậtcủa người nói là Hiroko.
Như vậy, việc công nhận tính gián tiếp của ngôn ngữ như là một chiếnlược lịch sự được bắt nguồn từ các lý thuyết lịch sự vốn được sinh ra trongngôn ngữ châu Âu và đã được một số học giả nghiên cứu, và tất yếu nó sẽ cónhững khác biệt trong tiếng Nhật Theo nghiên cứu của các học giả thì sựkhác nhau trong tính gián tiếp của ngôn ngữ châu Âu và tiếng Nhật chính là:
ở châu Âu, tính gián tiếp thể hiện giữ được hoà khí trong cuộc thoại và cóđược mối quan hệ tốt từ việc hiểu nhau mà người nói không cần nói ra Còntrong tiếng Nhật tính gián tiếp ngoài việc thể hiện tránh đối đầu giữ hoà khítrong cuộc thoại còn có thể thể hiện thái độ của người nói, thái độ trangtrọng, nghiêm nghị hay thái độ thân mật khi kết hợp với thể lịch sự hay thểthường của động từ (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưnhư trong cách đề nghị gián tiếp của nhân vật Hirokotrong đoạn hội thoại vừa phân tích trên) Đây chính là đặc thù của tiếng Nhật,bởi chỉ tiếng Nhật mới phân chia thành thể thường (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như-nai, -ta/da) và thể lịch sự(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như-masu/-desu),
Và, theo ý kiến của chúng tôi tính gián tiếp là những cách thức truyền đạt ý chưa được nói ra, hoặc không được nói thẳng ra: dùng hành động ngôn ngữ này để thực hiện hành động ngôn ngữ khác, những lối nói giảm nhẹ…bao gồm cả hiển ngôn và sự khuyết ngôn (ngập ngừng-im lặng) trong
chuỗi lời nói Trong tiếng Nhật, sự khuyết ngôn trong chuỗi lời nói là mộtđặc thù của tính gián tiếp mà chúng tôi sẽ khảo sát ở chương sau
1.4 Gián tiếp - một c ách thể hiện lịch sự trong hành vi đề nghị và từ chối
1.4.1 Hành vi đề nghị và chiến lược lịch sự trong đề nghị
Trang 34Đề nghị là hành vi mà người nói (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưS) muốn người nghe (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưH) làm một việc
gì đấy vì lợi ích của người nói Trong hệ thống phân loại hành vi ngôn từ, hành
vi đề nghị được hiểu theo hai nghĩa rộng hẹp khác nhau Hiểu theo nghĩa hẹpthì hành vi đề nghị gồm ra lệnh, sai bảo, yêu cầu, nhờ vả Hiểu theo nghĩa rộnghành vi đề nghị gồm ra lệnh, sai bảo, yêu cầu, nhờ vả, xin phép, mời mọc.Trong luận văn này, chúng tôi xác định nhận diện hành vi đề nghị theo nghĩarộng, tức là bao gồm tất cả những biểu hiện ngôn từ mà S đưa ra để yêu cầu Hlàm một việc gì đó, bất kể việc đó mang lại lợi ích cho ai
Vậy dựa vào tiêu chí nào để nhận diện lời đề nghị trong chuỗi lời nói?Chúng tôi chủ trương nhận diện lời đề nghị một mặt dựa vào các quy tắc cấutạo, mặt khác dựa vào mối quan hệ với các hành vi khác trong chuỗi hộithoại Do đó, để nhận diện một phát ngôn nào đó là lời đề nghị trước hết căn
cứ vào hành động trả lời bằng lời (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưbằng lời, không bằng lời) của H, tức làdựa vào cặp liền kề “đề nghị- trả lời”
VD: Một người con gái làm lễ tân ở câu lạc bộ Piano đề nghị Youkođánh một bản nhạc Ở đoạn hội thoại này, người đưa ra đề nghị không sửdụng dạng thức ngôn ngữ tiêu biểu cho hành vi đề nghị trong tiếng Nhật là:động từ dạng “-te kudasai” (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như“My one and only love” wo hiite kudasai [Myone and only love を買ってください」弾てくださいてください]) mà chỉ đưa ra yêu cầu giống như sự gợiý
- My one and only love wa
「My one and only love は」
(Thế bản “My one and only love” thì thế nào?)
- Gomennasai Wasurechattawa.
「ご自身のためにも三菱との合併には賛めんなさい。」忘れちゃったわ」れちゃったわ」
(Xin lỗi Mình quên mất bản nhạc đó rồi)
Trang 35(22, tr.93 )
Theo lí thuyết lịch sự của Brown và Levinson (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như1987), hành vi đề nghị
là một hành vi đe doạ thể diện điển hình Thứ nhất, hành vi đề nghị là vì lợiích của người nói, xâm phạm vào lĩnh vực của đối phương (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưngười nghe),thúc đẩy người nghe hành động nên xâm phạm thể diện âm tính (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưxâm phạmnguyện vọng không muốn bị người khác làm phiền) Thứ hai, khi bị đề nghị,người tiếp nhận hành vi đề nghị có cảm giác bị người đề nghị ghét nếukhông đáp ứng hành vi đề nghị, tức là vi phạm thể diện dương tính (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưxâmphạm nguyện vọng muốn được người khác tiếp nhận, ưa thích) Như vậy,hành vi đề nghị vi phạm cả hai mặt của thể diện, do đó người đề nghị phảiđiều chỉnh bằng những quan hệ và cách thức khác nhau ở các cộng đồng cónền văn hoá khác nhau Đề nghị đòi hỏi người nói phải khéo léo tìm đượchình thức ngôn từ để diễn đạt sao cho người nghe chấp nhận lời đề nghị củamình Điều này phụ thuộc vào các chiến lược đề nghị Mỗi một dân tộc, mộtcộng đồng có một chiến lược đề nghị khác nhau Và đề nghị gián tiếp là mộtgiải pháp hữu hiệu để người nói đạt được mục đích giao tiếp của mình, giảmđược mức độ đe doạ thể diện và duy trì được cuộc thoại Đề nghị gián tiếp làhành vi ngôn ngữ biểu hiện ý định đề nghị nào đó bằng hiển ngôn mà ngườinghe phải dựa vào kinh nghiệm cuộc sống, vốn ngôn ngữ của mình để nhậndiện được hàm ý đề nghị
Để giảm bớt hành vi đe doạ thể diện khi đề nghị, trong tiếng Nhậtthường sử dụng cách nói gián tiếp như sử dụng các hình thức ngôn ngữ nhưcâu điều kiện, câu nguyện vọng, biểu thức nghi thức (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưformulaics), các biểuhiện cho nhận đặc thù của tiếng Nhật (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như-te morau/ kureru) và một số phươngthức khác để làm giảm bớt lợi ích của bản thân người nói, tăng lợi ích củangười nghe Chúng tôi sẽ nói rõ hơn phần này ở chương 2
1.4.2 Hành vi từ chối và chiến lược lịch sự trong từ chối
Trang 36Từ chối là một hành vi không đáp ứng đề nghị, yêu cầu của đốiphương (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưngười nghe) Một người có thể có thể biểu đạt hành vi từ chối bằnglời hoặc không bằng lời như im lặng Trong luận văn này, chúng tôi khảo sátcách thức biểu hiện hành vi từ chối bằng lời và biểu hiện khuyết ngôn (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưngậpngừng, im lặng) Bởi vì im lặng trong tiếng Nhật, theo Lebra khẳng định, làmột kho tàng ý nghĩa phong phú trong giao tiếp, là một trong những biệnpháp từ chối tránh gây tổn thương, thể diện cho đối phương Do đó, nó cũng
là một trong những chiến lược từ chối được người Nhật ưa dùng Lời từ chốithường được coi là hành vi ngôn ngữ bởi những gì người nói lời từ chốitham gia thực hiện một hành động do người cùng tham thoại đề xướng Dovậy, chúng tôi xác nhận hệ thống tiêu chí nhận diện hành vi từ chối baogồm:
- Có một ngữ cảnh tình huống hiện thực tác động đến nhu cầu, quyền lợi của một trong hai bên tham thoại làm tiền đề cho hành vi từ chối
- Người nói biểu thị nội dung từ chối bằng sự không chấp thuận nào
đó theo hướng đề xuất như yêu cầu, đề nghị, mời, khuyên…
- Hành vi từ chối là lượt lời thứ hai của đoạn thoại có chứa nội dung từ chối dựa vào ngữ cảnh của đoạn thoại
VD: Mẹ nói với Souko
- Itsuka papa ni aerutte, anatano papa ga watashitachi no iru
basho nano.
「いつかパパに思う)会えるって、あなたのパパが私たちの居る場所なの」えるって、あなたのパパが私たちの居る場所なの」る場所なの」なの」
(Khi nào gặp được bố con thì bố chính là ngôi nhà của chúng ta.)
- Atashi wa genjitu wo arukitai noda.
「あたしは現実を歩きたいのだ」を買ってください」歩きたいのだ」きたいのだ」
(Con muốn sống trong hiện thực)
(22, tr.75)
Trang 37Trong đoạn hội thoại này, người mẹ đã đề nghị con chuyển nhà đểmong gặp được chồng là bố của Souko, nhưng người con không muốnchuyển nên đã từ chối lời đề nghị của mẹ Hành vi từ chối nằm ở lượt lời thứhai trong đoạn hội thoại này.
Hành vi từ chối theo lí thuyết lịch sự của Brown và Levinson (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như1987)cũng là một hành vi đe doạ thể diện điển hình Vì hành vi từ chối biểu thị ýchí của bản thân người nói không tiếp nhận, từ chối hành vi đề nghị, yêu cầucủa người nghe làm tổn hại đến tính hợp tác giữa người nói và người nghenên đe doạ thể diện dương tính (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưxâm phạm nguyện vọng muốn được ngườikhác tiếp nhận, ưa thích) Dó đó, người từ chối phải điều chỉnh bằng nhữngquan hệ và cách thức khác nhau ở các cộng động có nền văn hoá khác nhau
Từ chối đòi hỏi người nói, khéo léo tìm hình thức ngôn từ để diễn đạt saocho người nghe không hiểu lầm và chấp nhận lời từ chối, đồng thời giữ đượcthể diện cho cả người nói và người nghe Điều này phụ thuộc vào chiến lược
từ chối Mỗi một dân tộc, một cộng đồng văn hoá có những chiến lược từchối khác khau Và từ chối gián tiếp là một giải pháp hữu hiệu để người nóiđạt được mục đích giao tiếp của mình, giảm mức độ đe doạ thể diện cho cảhai bên tham thoại và duy trì được cuộc thoại Từ chối gián tiếp là hành vingôn ngữ biểu hiện ý định từ chối không đồng ý thực hiện một yêu cầu, đềnghị… nào đó bằng hiển ngôn mà người nghe phải dựa vào kinh nghiệmcuộc sống, vốn ngôn ngữ của mình để nhận diện hàm ý từ chối
Để giảm bớt hành vi đe doạ thể diện khi từ chối, trong tiếng Nhậtthường sử dụng cách nói gián tiếp như nói vòng, đưa ra lý do, đưa ra một đề
án thay thế, xin lỗi và biểu thị tâm trạng nuối tiếc và các cách khác để làmgiảm sự tổn hại đến quan hệ, tính hợp tác giữa người nói và người nghe.Chúng tôi sẽ nói rõ hơn phần này ở chương 2
1.5 Tiểu kết
Để làm cơ sở lý luận cho những nghiên cứu ở chương 2 và chương 3,thì một số vấn đề cơ bản về lý thuyết ở chương 1 là không thể thiếu
Trang 38Austin là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về hành vi ngôn ngữ vớinhững tiêu chí phân biệt sự khác nhau trong cùng một hành vi ngôn ngữ.
Khái niệm hành vi ngôn ngữ gián tiếp do Sealer đưa ra năm 1969 là
cơ sở cho việc nhận ra một hành vi ngôn ngữ gián tiếp dựa vào kinh nghiệmcuộc sống, kiến thức nền và kiến thức về ngôn ngữ
Để nghiên cứu hành vi đề nghị và hành vi từ chối trong tiếng Nhật thìkhông thể tách rời hội thoại Do đó các khái niệm về hội thoại, các quy tắchội thoại, cặp thoại, lượt lời cũng được đề cập đến
Để nghiên cứu tính gián tiếp và lịch sự trong hành vi đề nghị và từ chốitrong tiếng Nhật thì những khái niệm trong thuyết lịch sự cũng như những kháiniệm và quan niệm về tính gián tiếp của các học giả đã được đề cập đến
Các chiến lược đề nghị và từ chối thể hiện trong văn hoá giao tiếp củangười Nhật được thể hiện như thế nào, đặc biệt họ chú ý tới tính gián tiếp vàtính lịch sự ra sao, chúng được liên hệ với tiếng Việt như thế nào, sẽ đượcthể hiện rõ trong chương 2 và chương 3
Trang 39Chương 2
GIÁN TIẾP VÀ LỊCH SỰ TRONG TIẾNG NHẬT
2.1 Quan niệm về lịch sự trong tiếng Nhật
Nghiên cứu biểu hiện lịch sự trong tiếng Nhật đã trải qua một quátrình có thể nói là hơi bất thường Thông thường, hiện tượng ngôn ngữ cótrước, sau đó lý thuyết có sau để giải thích cho hiện tượng đó Nhưng trongtiếng Nhật, các học giả đã đem nguyên xi lí thuyết lịch sự vào tiếng Nhậttrước, rồi mới tìm những biểu hiện ngôn ngữ hợp với nó, như cách làm củaHokui (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như1988) và Ikuta (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như1997) Hokui (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như1988) đã dịch các ví dụ tiếng Anhsang tiếng Nhật, nhưng khó có thể nói rằng đây là những hiện tượng ngônngữ đồng dạng với tiếng Nhật Dưới đây là những trích dẫn ví dụ của Hokui
(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như1) Would you open the window, if you don't mind ?
「もし差し支えがなければ、窓を開けてくださいますか」し支えがなければ、窓を開けてくださいますか」えがなければ、窓を開けてくださいますか」を買ってください」開けてくださいますか」けてくださいますか」
(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưMoshi sashitsukaega nakereba mado wo akete kudasaimasuka.)
(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nhưNếu không có gì trở ngại thì anh mở cửa sổ cho tôi được không?)
(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như2) Open the window, if possible ?
Trang 40Tất cả những câu tiếng Anh này đều là câu nhờ vả Hành động nhờ vả cóhình thức hỏi thể hiện tính do dự, tức là quan tâm đến lịch sự âm tính của đốiphương Nhưng, thử xem các câu dịch tiếng Nhật, thì câu 3 được hiểu là câuhỏi hơn là câu nhờ vả, còn câu 4 cũng khó có thể được hiểu là một câu nhờ vả.
Hokui (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như1988) [68] đã giới thiệu lí thuyết lịch sự nhưng ông chỉ đề cậpđến tiếng Anh, ngôn ngữ mà Brown & Levinson sử dụng làm hiện tượngngôn ngữ, và như vậy lí thuyết lịch sự vẫn chưa được kiểm chứng trongtiếng Nhật Nguyên nhân của việc nghiên cứu lịch sự trong tiếng Nhật chưaphát triển là do trong tiếng Nhật, hệ thống kính ngữ rất phát triển và người ta
đã hiểu nhầm rằng kính ngữ trong tiếng Nhật là hiện tượng ngôn ngữ đốiứng với lịch sự trong tiếng Anh Nguyên lý lịch sự của Leech (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như1987) đã
càng làm cho mọi người hiểu nhầm thêm
Thực ra trong tiếng Nhật, hai khái niệm này không trùng nhau, như cóthể thấy trong các ví dụ sau”
1 Warui dedo, kasa wo kashite kurenai?
「悪いけど、傘を貸してくれない?」いけど分からず屋だとは思わなかった」、傘を貸してくれない?」を買ってください」貸してくださらないでしょうね。」してくれない?」」
(Xin lỗi, anh cho tôi mượn cái ô.)
Trong phát ngôn này, để tránh hành vi đe doạ thể diện khi nhờ vả,
trước khi đưa ra lời đề nghị, người nói đã dùng biện pháp đi kèm như lời xin
lỗi và đã sử dụng cách nói nghi vấn phủ định đề nhờ vả Có thể nói câu này
là cách nói biểu hiện lịch sự, nhưng thể của động từ lại dùng thể thường (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình nai) chứ không sử dụng thể lịch sự (Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như-masenka).
như-2 Moshigozaimasenga, kasa wo okari dekimasendeshouka.
「申しございませんが、傘をお借りできませんでしょうか」しご自身のためにも三菱との合併には賛ざいませんが、傘を貸してくれない?」を買ってください」お客さ借りできませんでしょうか」りできませんでしょうか」
(Xin lỗi, anh có thể cho tôi mượn cái ô được không?)
(Tôi nghĩ là/ Tôi nghĩ rằng hình như丁寧さの原理さの原理は下手だもん。私は作る時だけ、お客さ),