- Cuốn Sản xuất chương trình truyền hình của tác giả Trần Bảo Khánh,Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin 2003 đã nói sâu về việc tổ chức sản xuất mộtchương trình truyền hình, bao gồm đầy đủ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-BÙI THỊ BÍCH HƯỜNG
SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHUYÊN ĐỀ
TRONG BỐI CẢNH TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Hà Nội, 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-BÙI THỊ BÍCH HƯỜNG
SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHUYÊN ĐỀ
TRONG BỐI CẢNH TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 62.30.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Đậu Ngọc Đản
Hà Nội, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cánhân tôi, thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Đậu Ngọc Đản – NguyênTổng biên tập Tạp chí truyền hình thuộc Đài THVN Các số liệu phân tích vàđánh giá trong luận văn là dựa trên cơ sở thực tế nghiên cứu, trung thực vàkhách quan Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình của mình
Tác giả luận văn
Bùi Thị Bích Hường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Đậu Ngọc Đản - người đã trực tiếp
hướng dẫn tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này với đề tài: Sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong khoa Báo chí vàTruyền thông, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn đã giảng dạy vàhướng dẫn tôi tận tình, giúp tôi có cách nhìn khoa học về sản xuất truyền hìnhtrong bối cảnh truyền thông mới
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Trung tâm Phim tài liệu và phóng
sự (Ban Biên tập chương trình truyền hình chuyên đề cũ), Đài Truyền hìnhViệt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn
Bùi Thị Bích Hường
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 8
7 Kết cấu của luận văn 9
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRUYỀN HÌNH VÀ SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHUYÊN ĐỀ TRONG BỐI CẢNH TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN 10
1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài 10
1.2 Phương thức sản xuất chương trình truyền hình trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện 22
1.2.1 Phương thức sản xuất chương trình truyền hình 22
1.3 Tiêu chí để xây dựng chương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện 25
Tiểu kết chương 1 27
Chương 2 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHUYÊN ĐỀ TẠI ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN 28
2.1 Giới thiệu tổng quan về Đài Truyền hình Việt Nam và Trung tâm Phim tài liệu và phóng sự 28
2.1.1 Đài Truyền hình Việt Nam 28
2.1.2 Trung tâm Phim tài liệu & Phóng sự 33
2.2 Nội dung và hình thức các chương trình truyền hình chuyên đề 33
Trang 62.2.2 Hình thức các chương trình truyền hình chuyên đề 49
2.3 Quy trình tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện 58
2.4 Thành công và hạn chế trong phương thức sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện 67
2.4.1 Thành công 67
2.4.2 Hạn chế 70
2.4.3 Nguyên nhân 71
Tiểu kết chương 2 75
Chương 3 VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHUYÊN ĐỀ TRONG BỐI CẢNH TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN 76
3.1 Những vấn đề đặt ra 76
3.2 Giải pháp 81
Tiểu kết chương 3 92
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Internet ra đời đã tạo được bước đột phá mang tính cách mạng trongtruyền tải và thể hiện thông tin từ những năm 2000 đến nay Sự phát triểnmạnh mẽ của công nghệ thông tin hiện đại đã tác động mạnh đến truyềnthông Hiện nay, trên thế giới, một cơ quan báo chí có thể sở hữu nhiều loạihình báo chí khác nhau, từ báo in, báo điện tử và truyền hình Bước tiến đógiúp công chúng trong thời đại truyền thông đa phương tiện được thụ hưởngrất nhiều lợi ích mà xu thế truyền thông hiện đại này mang lại Sự xuất hiệncủa báo điện tử, mạng xã hội…trên nền tảng internet đã khiến thị hiếu củakhán giả xem truyền hình thay đổi, không chỉ trung thành với chiếc Ti vi giađình mà thay vào đó, chỉ bằng một thiết bị cầm tay thông minh như máy tínhbảng, điện thoại smartphone…khán giả đã có thể xem truyền hình trực tuyếnhay xem lại qua dạng video Công nghiệp 3.0 và bây giờ là 4.0 đã làm thayđổi cách thức truyền thông trên thế giới Truyền thông đa phương tiện đã làmthay đổi bộ mặt truyền thông toàn cầu, con người được thụ hưởng thông tinmột cách chủ động và thông minh nhất, tuy nhiên điều này cũng tạo ra nhữngthách thức lớn cho những người làm báo nói chung và báo truyền hình nóiriêng Để có được thị phần công chúng, các đài truyền hình, đặc biệt là cácchương trình truyền hình chuyên biệt không thể không tính đến việc xây dựngcách thức sản xuất mới, hiện đại hơn, nâng cao chất lượng từng sản phẩm, tácphẩm truyền hình Đây là yêu cầu bắt buộc để tồn tại, nâng cao khả năng cạnhtranh và thực hiện sứ mệnh phục vụ công chúng
Đối với báo chí truyền hình thì chương trình truyền hình chuyên đềđược quan tâm và sử dụng nhiều ở tất cả các kênh truyền hình, đài truyền hìnhhiện nay Sự hiện diện của chương trình truyền hình chuyên đề nhiều như vậy
ở các kênh truyền hình xuất phát bởi lượng thông tin được truyền tải nhiều, đa
Trang 8dạng, phong phú, sinh động và có chiều sâu Vì vậy chương trình truyền hìnhchuyên đề được khán giả đánh giá cao Một số chương trình truyền hìnhchuyên đề độc đáo, mới mẻ, có sự đầu tư trong quá trình sản xuất bao giờcũng chứa đựng một lượng thông tin có giá trị nhất định, tạo hiệu ứng xã hộicao Nếu chương trình thành công, nó có thể nâng cao nhận thức, làm thay đổihành vi của công chúng và tác động của nó sâu sắc hơn so với việc sử dụngcác thể loại báo chí khác trong truyền tải thông tin Vì vậy nâng cao chấtlượng chương trình truyền hình chuyên đề cũng là cách để cải thiện nội dungkênh truyên hình, thu hút khán giả quan tâm theo dõi Đây là mối quan hệmang tính biện chứng lẫn nhau.
Tuy nhiên, một vài năm gần đây, sự lên ngôi của báo điện tử, mạng xãhội và các loại hình truyền thông đa phương tiện khác đã khiến truyền hìnhnói chung và chương trình truyền hình chuyên đề nói riêng phần nào mất đilượng khán giả nhất định Chương trình truyền hình chuyên đề của ĐàiTruyền hình Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó Nếu không thay đổitheo hướng đi mới và nâng cao chất lượng chương trình, đáp ứng tốt hơn nhucầu thông tin của công chúng, những chương trình chuyên đề của Đài Truyềnhình Việt Nam sẽ mất đi một lượng lớn khán giả Để thu hút công chúng vềmình nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và doanh thu quảng cáo, một trongnhững vấn đề sống còn của Đài Truyền hình Việt Nam là sản xuất chươngtrình truyền hình chuyên đề theo hướng đi mới, bắt kịp xu thế của thời đại
Từ những lý do nói trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Sản xuấtchương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phươngtiện” để chỉ ra và phân tích những ưu điểm, hạn chế, thực trạng chất lượngchương trình truyền hình chuyên đề qua khảo sát tại và Trung tâm Phim tàiliệu & Phóng sự (Ban Chuyên đề trước đây) - Đài Truyền hình Việt Nam Từ
đó, luận văn cũng đề xuất một số giải pháp khắc phục làm cơ sở cho việc đổimới cách thức sản xuất, nội dung, hình thức thể hiện và các giải pháp cơ bản,
Trang 9để những người làm truyền hình tham khảo và thực hiện chương trình truyềnhình chuyên đề đạt chất lượng cao Từ đó, góp phần nâng cao chất lượngchương trình truyền hình chuyên đề nói chung và các sản phẩm tại Trung tâmPhim tài liệu & Phóng sự (Ban Chuyên đề trước đây) – Đài Truyền hình ViệtNam nói riêng.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:
Thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, sách, các bài viếtcủa các nhà báo, nhà khoa học, nhà quản lý về chương trình truyền hình nóichung và chương trình truyền hình chuyên đề nói riêng Cụ thể như:
- Giáo trình Báo chí Truyền hình do PGS.TS Dương Xuân Sơn chủbiên - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2009 đã chỉ ra những lýthuyết căn bản về Truyền hình Trong đó có nói sâu về phim tài liệu truyềnhình, một thể loại gần gũi với chương trình truyền hình chuyên đề
- Cuốn Sản xuất chương trình truyền hình của tác giả Trần Bảo Khánh,Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin 2003 đã nói sâu về việc tổ chức sản xuất mộtchương trình truyền hình, bao gồm đầy đủ các thể loại: Tin, phóng sự truyền hình,chương trình truyền hình thực tế… Cuốn sách cung cấp những kiến thức sâu sắc vềcác khâu để cho ra đời một sản phẩm báo chí truyền hình hoàn chỉnh
- Cuốn “Báo chí truyền thông hiện đại (từ hàn lâm đến đời thường)”của PSG.TS Nguyễn Văn Dững do NXB Đại học Quốc gia Hà Nội phát hành năm
2011 đã cung cấp các kiến thức lý luận và thực tiễn báo chí Việt Nam Trong đó,tác giả cũng dành vài trang viết để nhận định về truyền thông đa phương tiện Theotác giả, truyền thông đa phương tiện là thế mạnh nổi trội của báo điện tử
- Trên Tạp chí Cộng sản, số 15 – năm 2015, GS.TS Tạ Ngọc Tấn có bàiviết “Phát triển báo chí trước những yêu cầu mới của đất nước” Ở bài viết
3
Trang 10này, tác giả khẳng định: Để bắt kịp xu thế phát triển của truyền thông hiện đạiphải đổi mới báo chí Các cơ quan báo chí cần đổi mới để thu hút công chúng.
- Tháng 6/2013, Viện Nghiên cứu Báo chí và Truyền thông – Học việnBáo chí và Tuyên truyền đã tổ chức hội thảo khoa học “Sự vận động, phát triển củaBáo chí, Truyền thông trong thời kỳ Hội tụ truyền thông, tích hợp phương tiện”.Tại hội thảo nhiều bài viết có liên quan đến chủ đề truyền thông đa phương tiện,hội tụ truyền thông đã được đưa ra như: “Xu thế báo chí đa phương tiện thờitruyền thông hội tụ” của TS Nguyễn Thị Trường Giang, Phó trưởng khoa Phátthanh – Truyền hình, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, “Tòa soạn hội tụ và xuthế phát triển ở Việt Nam hiện nay” do TS Trương Thị Kiên – Phó Tổng biên tậptạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, Học viện Báo chí và Tuyên truyền viết,
TS Nguyễn Thị Hằng - Viện Nghiên cứu Báo chí và Truyền thông – Học viện Báochí và Tuyên truyền cũng nêu ra nhiều vấn đề thú vị trong bài viết “Truyền thông
đa phương tiện – Xu thế tất yếu toàn cầu”… Những bài viết đều nêu ra vấn đề hộitụ truyền thông, truyền thông đa phương tiện dưới góc nhìn sâu sắc, thấu đáo Hộithảo thực sự mang lại những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cả về lý thuyết lẫnhoạt động thực tiễn liên quan đến xu thế truyền thông đa phương tiện
- Trong luận văn Thạc sĩ “Xây dựng mô hình tòa soạn đa phương tiệncủa báo Kinh tế và Đô thị”, tác giả Phùng Thị Hồng Hạnh hoàn thiện năm 2013cũng nhấn mạnh cần xây dựng mô hình tòa soạn đa phương tiện tại tờ báo này.Nhận định này được đưa ra trên cơ sở phân tích, đánh giá những ưu nhược điểmtrong quá trình tổ chức hoạt động tòa soạn Báo Kinh tế và Đô thị Giải pháp xâydựng tòa soạn đa phương tiện rất phù hợp với bước phát triển của tờ báo này
- Luận văn Thạc sĩ “Cách thức đưa tin đa phương tiện trên báo mạngđiện tử ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Phạm Thị Hồng hoàn thành năm 2010 đãchỉ ra cách thức sản xuất tin tức đa phương tiện tại tòa soạn báo điện
4
Trang 11tử Trên cơ sở khảo sát quá trình sản xuất tin tức tại báo điện tử Vietnam.vn
và VnExpress tác giả đã chỉ ra ưu, nhược điểm của tin đa phương tiện hiệnnay từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nội dung các tin bàimultimedia
- Tác giả Lý Hoàng Tú Anh cũng đã nghiên cứu mô hình tòa soạn đaloại hình của báo An ninh Thủ đô trong luận văn “Mô hình tổ chức tòa soạn đa loạihình của báo An ninh thủ đô – Thực trạng và vấn đề đặt ra” (2012) Tác giả đã chỉ
ra ưu điểm của sự phối hợp giữa các loại hình trong tòa soạn, những rào cản trongquá trình phát triển của tòa soạn Từ đó, tác giả đặt ra những đề xuất góp phần xâydựng tòa soạn đa loại hình
- “Đổi mới mô hình tổ chức hoạt động của Tòa soạn Báo in trong cơquan báo chí đa loại hình” là luận văn của tác giả Nguyễn Quý Hoài thực hiện năm
2012 Bằng việc đưa ra ví dụ về một số mô hình cơ quan báo in nằm
trong tòa soạn báo chí đa loại hình tại các nước tiên tiến trên thế giới, tác giả
đã đề xuất một số giải pháp để đổi mới mô hình tổ chức hoạt động của tòasoạn báo in trong cơ quan báo chí đa loại hình tại nước ta
Những cuốn sách, giáo trình, công trình nghiên cứu nêu trên đều có góc
độ tiếp cận, cách nhìn khác nhau và đều đề cập những vấn đề lý luận truyềnthông đa phương tiện; về cách thức tổ chức thực hiện các sản phẩm báo chí đaphương tiện, sản xuất chương trình truyền hình, nâng cao chất lượng sảnphẩm báo chí, truyền thông trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện Cáctác giải cũng đề cập nhiều đến tòa soạn đa phương tiện dưới nhiều góc độkhác nhau, cả về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, chưa có công trình nàonghiên cứu một cách tổng thể về vấn đề sản xuất chương trình truyền hìnhchuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện và chương trình truyềnhình chuyên đề tại Đài Truyền hình Việt Nam
Trang 12Có thể nói luận văn này là công trình nghiên cứu, đánh giá một cáchtoàn diện và thấu đáo về thực trạng quy trình sản xuất chương trình truyềnhình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện và những hạn chếtrong việc nâng cao chất lượng chương trình truyền hình chuyên đề trên ĐàiTruyền hình Việt Nam Qua đó, đưa ra những giải pháp cụ thể để nâng caohơn nữa thể loại chương trình truyền hình chuyên đề trong thời gian tới.
Như vậy, có thể khẳng định rằng, đề tài “Sản xuất chương trình truyềnhình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện” cho đến thờiđiểm này vẫn có ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn Ở đây, tác giả có kếthừa những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học, các thầy cô và anhchị đồng nghiệp đi trước để làm cơ sở lý luận và kinh nghiệm kiên cứu giúptác giả thực hiện đề tài này
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn:
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, luậnvăn khảo sát thực trạng sản xuất các chương trình chuyên đề trong bối cảnhtruyền thông đa phương tiện, từ đó, làm rõ ưu điểm và hạn chế của việc sảnxuất chương trình truyền hình chuyên đề từ trước đến nay của Trung tâmPhim tài liệu & Phóng sự – Đài Truyền hình Việt Nam, đồng thời, đề xuất cácgiải pháp để thay đổi cách thức tổ chức sản xuất, nâng cao chất lượng chươngtrình truyền hình chuyên đề cả về nội dung và hình thức trong bối cảnh truyềnthông đa phương tiện
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được những mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụsau đây:
- Trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về truyền thông đa phươngtiện nói chung, phương thức sản xuất chương trình truyền hình dưới góc độ đaphương tiện nói riêng
Trang 13- Khái quát hệ thống những vấn đề lý luận liên quan đến việc sản xuấtchương trình truyền hình chuyên đề, chất lượng chương trình truyền hình chuyên
đề của Đài Truyền hình Việt Nam trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện,cũng như tâm lý tiếp nhận các chương trình truyền hình của công chúng trong thờiđại thông tin số
- Chỉ ra những ưu điểm và hạn chế trong quá trình sản xuất chươngtrình truyền hình chuyên đề của Đài Truyền hình Việt Nam trong bối cảnh truyềnthông đa phương tiện qua khảo sát thực tế
- Đưa ra một số kiến nghị và giải pháp để cải tiến cách thức sản xuấtchương trình truyền hình chuyên đề của Đài Truyền hình Việt Nam trong bối cảnhtruyền thông đa phương tiện
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh truyềnthông đa phương tiện
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ khảo sát cách thức tổ chức sảnxuất các chương trình truyền hình chuyên đề do và Trung tâm Phim tài liệu &Phóng sự (Ban Chuyên đề trước đây) của Đài Truyền hình Việt Nam trongkhoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2016
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
5.1 Cơ sở lý luận:
Khi thực hiện luận văn, tác giả sử dụng lý luận chung mang tính hệthống về loại hình báo chí truyền hình, xu hướng phát triển của truyền hình ởViệt Nam, hệ thống lý thuyết về chương trình truyền hình, chất lượng củachương trình truyền hình, chương trình truyền hình chuyên đề và cách thức tổchức sản xuất của nó Từ đó, vận dụng vào việc khảo sát, phân tích sự phát
Trang 14triển của chương trình truyền hình chuyên đề được phát sóng trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam.
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả thực hiện
những phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
- Phương pháp phân tích tài liệu: Thực hiện trong quá trình khảo sátnghiên cứu các tài liệu khoa học, giá trình, các văn bản,… Phương pháp này đượcsử dụng để hệ thống hóa những vấn đề về lý luận báo chí, truyền hình tạo cơ sở lýthuyết cho đề tài nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát: Khảo sát bằng phân tích quy trình tổ chức sảnxuất chương trình truyền hình chuyên đề tại Trung tâm Phim tài liệu & Phóng sự(Ban Chuyên đề trước đây) của Đài Truyền hình Việt Nam
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Dựa trên các dữ liệu có được từkhảo sát thực tiễn, tác giả phân tích, đánh giá ưu, nhược điểm của việc sản xuấtchương trình truyền hình chuyên đề của Đài Truyền hình Việt Nam trong bối cảnh
đa phương tiện Từ đó, tổng hợp và phân tích để làm sáng tỏ mục đích nghiên cứu
đề tài
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu các tác giả thực hiệnchương trình truyền hình chuyên đề tại Trung tâm Phim tài liệu & Phóng sự
(Ban Chuyên đề trước đây) của Đài Truyền hình Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài:
6.1 Ý nghĩa lý luận:
Luận văn sẽ góp phần hệ thống hóa thêm khung lý luận về báo chítruyền hình, cụ thể là về quy trình thực hiện chương trình truyền hình chuyên
đề Đồng thời nêu ra những yêu cầu cần thiết đối với người làm báo truyềnhình để tối ưu hóa việc thực hiện chương trình truyền hình chuyên đề trong xuthế truyền thông đa phương tiện - xu thế tương lai
Trang 156.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Đề xuất một số giải pháp nhằm thay đổi những mặt hạn chế của quytrình thực hiện chương trình truyền hình chuyên đề theo lối truyền thống để
có thể đáp ứng tối đa yêu cầu sản xuất chương trình truyền hình trong bốicảnh truyền thông đa phương tiện Từ đó, đáp ứng tốt hơn nhu cầu và tâm lýtiếp nhận thông tin của công chung hiện đại
Kết quả đạt được của luận văn sẽ giúp ích cho việc phát triển nghề củanhững người làm báo truyền hình, tối ưu hóa quá trình sản xuất chương trìnhtruyền hình cũng như chương trình truyền hình chuyên đề ở Đài Truyền hìnhViệt Nam Đây cũng là tài liệu giúp các Đài Truyền hình tham khảo về việc tổchức sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề trong xu thế mới
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chínhcủa luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về truyền hình và sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện
Chương 2: Thực trạng sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện của Đài Truyền hình Việt Nam
Chương 3: Vấn đề đặt ra và giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện
Trang 16Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRUYỀN HÌNH
VÀ SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHUYÊN ĐỀ TRONG BỐI CẢNH TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN
1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài
Truyền hình
Thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh vàtiếng Hy Lạp Theo tiếng Hy Lạp, từ “Tele” có nghĩa là ''ở xa'' còn “videre” là''thấy được'', còn tiếng Latinh có nghĩa là xem được từ xa Ghép hai từ đó l ại
“Televidere” có nghĩa là xem được ở xa Tiếng Anh là “Television”, tiếngPháp là “Television”, tiếng Nga gọi là “Tелевидение”
Trong giáo trình “Báo chí truyền hình”, PGS.TS Dương Xuân Sơn cóviết: Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng chuyển tải thông tinbằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc một cảnh đi xa bằng sóng vôtuyến điện
Truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỉ thứ XX và phát triển mạnh mẽnhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra một kênh thông tinquan trọng trong đời sống xã hội Ngày nay, truyền hình là phương tiện thiếtyếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc Truyền hình còn được gọi cáctên gọi khác như Tivi, Vô tuyến truyền hình và tên gọi ngắn gọn là Truyềnhình Để hiểu rõ hơn về truyền hình, ngoài là phương tiện truyền thông có tácđộng chủ ý, ta tìm hiểu về lịch sử phát triển khoa hoc công nghệ Truyền hình
Truyền hình là hệ thống phát và thu hình ảnh, âm thanh bằng nhữngthiết bị truyền dẫn tín hiệu từ cáp, sợi quang và sóng điện từ Những hệ thốngtruyền hình thật sự đầu tiên bắt đầu đi vào hoạt động chính thức trong thậpniên 40 của thế kỷ này, không lâu sau khi khái niệm "truyền hình" được sửdụng với nghĩa như chúng ta vẫn hiểu ngày nay
Trang 17Năm 1873, nhà khoa học người Scotland James Cleck Maxwell tiênđoán sự tồn tại của sóng điện từ, phương tiện chuyền tải tín hiệu truyền hình.Cùng năm này, nhà khoa học người Anh Willoughby Smith và trợ lý JosephMay chứng minh rằng điện trở suất cuả nguyên tố Selen thay đổi khi đượcchiếu sáng Phát minh này đã đưa ra khái niệm "suất quang dẫn", nguyên lýhoạt động của ống vidicon truyền ảnh.
Năm 1888, nhà vật lý người Đức Wihelm Hallwachs tìm ra khả năngphóng thích điện tử của một số vật liệu Hiện tượng này được gọi là "phóngtia điện tử", nguyên lý của ống orthicon truyền ảnh Năm 1884, kỹ sư PaulNipkow chế tạo thành công thiết bị thực nghiệm truyền hình đầu tiên, đĩaNipkow Để thu được hình ảnh, Nipkow quay chiếc đĩa, sau mỗi vòng quay,tất cả các điểm của bức tranh lần lượt hiện lên Những chiếc đĩa tương tự quay
ở điểm nhận Khi tốc độ quay đạt 15 vòng/'giây, ánh sáng đi qua hệ thống đĩatái tạo được hình ảnh tĩnh của bức tranh Thiết bị của Nipkow được sử dụngmãi tới thập kỷ 20 của thế kỷ này Sau đó kỹ thuật truyền ảnh tĩnh dựa trên hệthống đĩa Nipkow được Jenkins và Baird tiếp tục hoàn thiện Năm 1926 Bairdcông bố một hệ thống truyền ảnh tĩnh sử dụng đĩa Nipkow 30 lỗ Kỹ thuật nàyđược gọi là phương pháp quét cơ học, hay phương pháp phân tích cơ họcĐồng thời với sự phát triển của phương pháp phân tích cơ học, năm 1908 nhàsáng chế người Anh Campbell Swinton đưa ra phương pháp phân hình điệntử Ông sử dụng một màn ảnh để thu nhận một điện tích thay đổi tương ứngvới hình ảnh, và một súng điện tử trung hoà điện tích này, tạo ra dòng biến tửbiến thiên Nguyên lý này được Zworykin áp dụng trong ống ghi hìnhiconoscope, bộ phận quan trọng nhất của camera Về sau, chiếc đèn orthiconhiện đại hơn cũng sử dụng một thiết bị tương tự như vậy
Năm 1878, nhà vật lý và hoá học người Anh, William Crookes phátminh ra tia âm cực Tới năm 1908, Campbell Swinton và Boris Rosing, người
Trang 18Nga, độc lập nghiên cứu những kết qủa thu được của hai ông lại tương đồng.Ngày 13/1/1928, nhà phát minh Emst Alexanderson cho ra đời chiếc máy thuhình áp dụng phương pháp phân hình điện tử đầu tiên trên thế giới tạiSchenectady, New York, Mỹ Hình ảnh trên màn hình 76 mm (3 inch) xấu vàkhông ổn định nhưng máy thu hình vẫn phổ biến ở nhiều gia đình Nhiều máythu kiểu này đã được sản xuất và bán tại Schenectady Cũng tại đây, ngày10/5/ 1928, đài WGY bắt đầu phát sóng đều đặn, chương trình truyền hìnhcông cộng đầu tiên lại xuất hiện ở London, Anh năm 1936.
Ngay từ năm 1904 người ta đã biết rằng có thể chế tạo thiết bị truyềnhình màu bằng cách sử dụng 3 màu cơ bản là đỏ, lục và xanh Năm 1928,Baird cho ra mắt truyền hình màu dùng 3 bộ đĩa Nipkow quét hình ảnh 12năm sau, Peter Goldmark chế tạo được hệ thống truyền hình màu với khảnăng lọc tốt hơn Những bước phát triển tiếp theo của nghành truyền hình thếgiới chỉ là hoàn thiện chất lượng truyền hình bằng những màn hình lớn hơn,công nghệ phát và truyền dẫn tín hiệu truyền hình tốt hơn Những màn hìnhđầu tiên chỉ đạt 18 hoặc 25 cách mạng (7 hoặc 10 inch) kích thước đườngchéo Màn hình ngày nay có kích thước lớn hơn rất nhiều Với sự ra đời củamáy chiếu, mán ảnh truyền hình có thể phục vụ những mán hình có kíchthước đường chéo lên tới 2m Nhưng các nhà sản xuất cũng không quên pháttriển máy thu hình để nhỏ gọn, chẳng hạn một máy thu hình cỡ 3 inch (7,6cm) Ngày nay, ngành truyền hình thế giới đang từng bước chuyển dần từ côngnghệ tương tự (hay tuần tự- analog) sang truyền hình kỹ thuật số (digital) Từthập kỷ 80, hệ truyền hình độ nét cao (high-definition television - HDTV) sửdụng kỹ thuật số bắt đầu được nghiên cứu Các giai đoạn phát triển của truyềnhình thế giới Truyền hình có mối liên hệ mất thiết với một số loại hình truyềnthống hay nghệ thuật khác như phát thanh, điện ảnh…Tuy nhiên, chỉ sau một
Trang 19vài thập kỷ sơ khai, truyền hình đã tiến hành những bước dài và thực sự tách
ra khỏi các loại hình khác, trở thành phương tiện truyền thông độc lập
Buổi phát sóng đầu tiên của kỷ nguyên truyền hình được ghi nhận vàotháng 8 năm 1936 trong khuôn khổ thế vận hội Olympic Berlin, sóng truyềnhình đã được phát sóng tại 2 địa điểm là Berlin và Leipzing và đây là lần đầutiên, con người được theo dõi những trận thi đấu diễn ra trong khuôn khổ củađại hội Olympic
Vào những năm 60 của thế kỷ 20, truyền hình đã trở thành một phươngtiện giải trí quan trong trong đời sống của nhân loại, công nghệ này đã mangđến cho con người những trải nghiệm vô cùng thú vị trong đời sống tinh thần
Và truyền hình đã ghi lại dấu ấn vàng son của minh trong một sự kiện trongđại của thế giới, đó chính là sự kiện ngày 20/1/1969 khi nhà du hành vũ trụngười mỹ Neil Amstrong cùng phi thuyền Apollo 11 đặt những bước chânđầu tiên lên mặt Trăng, khoảng khắc lịch sử ấy đã đi vào trái tim hàng triệucon người trên khắp nước Mỹ và thế giới thông qua hệ thống truyền hình
Ngày nay, Truyền hình là phương tiện thiết yếu trong mỗi gia đình, mỗiQuốc gia, mỗi dân tộc Sự phát triển khoa học công nghệ mang truyền hình đãmang đến cho nhân loại một phương tiện truyền thông hiện đại, đánh dấu nềnvăn minh nhân loại, đến nay, cùng với sự ra đời của internet truyền hình đađược truyển tải nhanh chóng và lan tỏa toàn thế giới
Chương trình truyền hình
Thuật ngữ chương trình “program” trong chương trình truyền hình đượchiểu gồm các chương trình như: chương trình “Thời sự”, “Vì an ninh Tổ quốc”,chương trình “Kinh tế”, “Văn hóa”, “Quân đội”, “Phụ nữ”, “Thiếu nhi”, “Tròchơi (show games)”,… được phân bổ theo các kênh chương trình và được thểhiện bằng những nội dung cụ thể qua tin, bài, tác phẩm truyền hình
Trang 20PGS.TS Dương Xuân Sơn khẳng định: Chương trình truyền hình là sựliên kết, sắp xếp bố trí hợp lý các tin bài, bảng tư liệu, hình ảnh, âm thanhtrong một thời gian nhất định được mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kếtthúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báochí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả.
Báo chí truyền hình có nhiều dạng chương trình khác nhau Nếu phânchia theo tiêu chí tính chất thời sự của thông tin, có: chương trình Thời sự,chương trình Chuyên đề Nếu phân chia theo lĩnh vực phản ánh, có: chươngtrình Kinh tế, Văn hóa, Quân đội, Giáo dục, Y tế, Thể thao… Nếu chia theotiêu chí giới và lứa tuổi, có các chương trình: Phụ nữ, Thiếu nhi, Thanh niên,Người cao tuổi… Nếu theo tiêu chí mục đích thông tin, chủ yếu có cácchương trình Giải trí (gameshows), các chương trình tin tức thời sự…
Mỗi chương trình truyền hình có chức năng nhiệm vụ khác nhau và hướngđến đối tượng khán giả khác nhau Căn cứ vào các yếu tố đó, người ta thườngxây dựng chương trình có cấu trúc, format tương đối ổn định, có thời lượngxác định, thời điểm phát cụ thể Các chương trình được phát trên từng kênhsóng khác nhau
Chương trình truyền hình chuyên đề
Hệ thống chương trình chuyên đề là mảng nội dung quan trọng của bấtkỳ kênh truyền hình nào Trên thực tế tại tất cả các đài phát thanh - truyềnhình toàn quốc đều có các chương trình chuyên đề trên sóng Tuy nhiên, đếnnay chưa có tài liệu nào nghiên cứu về khái niệm “chương trình truyền hìnhchuyên đề” Khái niệm này cũng chưa được sử dụng một cách nhất quán
Theo từ điển Tiếng Việt, thì “chuyên đề” là vấn đề chuyên môn có giớihạn, được nghiên cứu riêng Có thể hiểu thuật ngữ “chuyên đề” bao gồm
“chuyên” và “đề” “Chuyên” là chuyên sâu, chuyên biệt, chuyên về một lĩnhvực cụ thể Còn “đề” trong phạm vi nghiên cứu này có nghĩa là vấn đề, đề tài,
Trang 21chủ đề Như vậy, thông tin chuyên đề là thông tin chuyên sâu, chuyên biệt vềmột chủ đề, vấn đề, đề tài chuyên môn nào đó, trong các lĩnh vực khác nhaucủa đời sống xã hội, dưới các góc độ, các thức, phương pháp, phương tiện kỹthuật tiếp cận khác nhau Từ đó, nhằm cung cấp một khối lượng thông tin nhấtđịnh trước một chủ đề, vấn đề, đề tài nào đó cho công chúng, khán, thính giảhoặc độc giả nhà báo thường chọn chuyên đề báo chí Riêng với truyền hình,các đài truyền hình thường có riêng bộ phận sản xuất chương trình truyềnhình chuyên đề với chức năng, nhiệm vụ rõ ràng.
Chuyên đề báo chí truyền hình là những chương trình phản ánh hiện thựckhách quan những vấn đề mang tính thời sự của đời sống xã hội, có đối tượngcông chúng xác định Chương trình chuyên đề không có tính hư cấu như vănnghệ, giải trí, cũng không phải các chương trình nghệ thuật trên truyền hình mà
là chương trình mang tính báo chí, phản ánh thực tiễn cuộc sống
Chương trình truyền hình chuyên đề gồm một chuỗi các tác phẩmchuyên sâu, chuyên biệt về một chủ đề, vấn đề nhất định; được biểu hiệnthông qua nhiều óc độ nhằm làm rõ bản chất của sự việc, hiện tượng đã đượcnêu và hướng tới một nhóm đối tượng công chúng xác định
Một số đặc điểm cơ bản của chương trình truyền hình chuyên đề đó là:
- Tính định hướng và chuyên sâu
- Hướng tới đối tượng công chúng cụ thể
- Sử dụng đa dạng các loại thể của báo hình
Đa phương tiện
Từ điển Tiếng Việt (NXB Từ điển bách khoa, 2010) giải nghĩa “Phươngtiện” được hiểu là “những cách thức, công cụ, con đường để thực hiện một côngviệc cụ thể nào đó” Như vậy, có thể hiểu với truyền thông nói chung và
Trang 22báo chí nói riêng, phương tiện chính là những cách thức, công cụ, con đườngđể truyền thông điệp (nội dung thông tin) đến với công chúng.
Trong các tài liệu nghiên cứu, thuật ngữ “Multimedia” xuất hiệnkhoảng vào giữa thế kỷ 20 – khi internet còn chưa ra đời Theo đó, “Media” làphương tiện, “Multi” là nhiều; “Multimedia” là sản phẩm được tạo ra để
“chạy” trên nhiều thiết bị khác nhau, hay nói cách khác, là sản phẩm đượctruyền tải bởi nhiều phương tiện khác nhau
Thuật ngữ này có thể được sử dụng như một danh từ (một phương tiệnvới nhiều hình thức nội dung) hoặc như một tính từ để mô tả một phương tiện
có nhiều hình thức nội dung Đa phương tiện được sử dụng mang ý nghĩatương phản với phương tiện truyền thông sử dụng chỉ máy tính thô sơ để hiểnthị như chỉ văn bản hoặc các dạng thức truyền thống của in ấn hoặc tài liệusản xuất thủ công Đa phương tiện bao gồm sự kết hợp văn bản (text), âmthanh (audio), ảnh tĩnh, hoạt hình, video, link hoặc các dạng nội dung tươngtác khác Khi là tính từ đa phương tiện cũng mô tả các thiết bị điện tử được sửdụng để lưu và trải nghiệm nội dung
Lần đầu tiên, cụm từ “đa phương tiện” xuất hiện là vào tháng 7/1966,được Bob Goldstein sử dụng để miêu tả một buổi trình diễn đặc biệt mang tên
“Exploding PlasticInevitable” (Sự kết hợp hoàn hảo mang tính đột phá từnhững điều quen thuộc) Đây là buổi biểu diễn đầu tiên có sự kết hợp củanhạc rock, chiếu bóng, ánh sáng và trình diễn nghệ thuật Sau này, trong sửdụng thường ngày, thuật ngữ đa phương tiện dùng để chỉ sự kết hợp điện tửphương tiện truyền thông gồm video, ảnh tĩnh, âm thanh và văn bản theo cách
có thể được truy cập tương tác
Khái niệm “đa phương tiện” được rất nhiều tác giả đề cập đến trongnhiều công trình nghiên cứu cũng như các bài báo, bài thảo luận Tùy vàolĩnh vực, khái niệm “đa phương tiện” được định nghĩa không hoàn toàn giống
Trang 23nhau Chẳng hạn, trong lĩnh vực điện tử công nghệ, “multimedia” hay “đaphương tiện” là sự kết hợp giữa phương tiện truyền thông (media) và các dạngnội dung (contents) khác nhau bao gồm tổ hợp văn bản (text), âm thanh(audio), hình ảnh tĩnh (still image), hình ảnh động (video), đồ hình – đồ họa(graphic), và những nội dung mang tính tương tác (interactive programs) vàotrong cùng một thiết bị công nghệ như điện thoại di động, máy vi tính, máyảnh, máy nghe nhạc…
Trong cuốn “Multimedia Technologies”, tác giả Ashok Banerji viết:
“Khi được sử dụng như một danh từ: Đa phương tiện đề cập đến công nghệ vàcác thiết bị, phương tiện truyền thông Đó là việc sử dụng kết hợp các hìnhthức khác nhau của các phương tiện truyền thông âm thanh và hình ảnh như:văn bản, đồ họa, hoạt hình, âm thanh và video; khi sử dụng như một tính từ:
Đa phương tiện mô tả sự trình bày liên quan đến việc sử dụng nhiều phươngtiện truyền thông cùng một lúc” Ở lĩnh vực khoa học tự nhiên, PGS TS ĐỗTrung Tuấn – Giảng viên Khoa Toán Cơ Tin học, Trường Đại học Khoa học
Tự nhiên đưa ra định nghĩa: “Đa phương tiện là kỹ thuật mô phỏng và sửdụng đồng thời nhiều dạng phương tiện chuyển hóa thông tin và các tác phẩmtừ kỹ thuật đó Trong khi đó, lĩnh vực truyền thông, đặc biệt là trong lĩnh vựcbáo chí, thuật ngữ “đa phương tiện” lại được dùng thiên về cách hiểu làphương thức truyền tải thông tin trên các thiết bị khác nhau, với các dạng thứcngôn ngữ khác nhau phù hợp cho mỗi loại thiết bị
Nói tóm lại, mỗi lĩnh vực, thuật ngữ đa phương tiện có cách hiểu tươngđối khác nhau tùy vào mục đích, đối tượng sản xuất, phương tiện kỹ thuật, nộidung thông tin, đối tượng tiếp nhận Tuy nhiên, một cách chung nhất, có thểhiểu: Đa phương tiện là sự kết hợp của nhiều loại phương tiện thiết bị kỹ thuật
và nhiều loại ngôn ngữ khác nhau để chuyển hóa, truyền tải thông tin đếncông chúng
Trang 24Truyền thông đa phương tiện
Đa phương tiện theo nghĩa rộng là việc tổ hợp các phương tiện khácnhau để tạo nên một cách mô tả nhiều mặt ý tưởng, khái niệm hay tư tưởng
Đa phương tiện đơn giản có nghĩa là có khả năng liên lạc, giao tiếp theo nhiềuhơn một cách thức Như vậy, đa phương tiện thật ra là liên lạc, giao tiếp theovài cách thức khác nhau”
Trong cuốn “Multimedia Journalism – A practical guide” (Báo chí đaphương tiện – Hướng dẫn thực hành), tác giả Andy Bull cho rằng: “Báo chí đaphương tiện là sự phát triển của Báo mạng điện tử khi các tác phẩm báo chítrên Báo mạng điện tử được tích hợp đa phương tiện nhiều hơn”
Trong bài viết “What is Multimedia Journalism” (Thế nào là nhà báo đaphương tiện”), tác giả Mark Deuze, giảng viên báo chí thuộc trường Đại họcAmsterdam (Hà Lan) lại cho rằng: “Báo chí đa phương tiện đơn giản là hìnhthức báo chí dựa vào các loại phương tiện truyền thông như văn bản, hìnhảnh, đồ họa, âm thanh, video, chương trình tương tác để truyền tải thông tinđến độc giả một cách đa dạng, sống động và chân thực”
PGS TS Nguyễn Văn Dững –Học viện Báo chí & Tuyên truyền nhậnđịnh: “Đa phương tiện chính là khả năng kết hợp các tài liệu văn bản, hìnhảnh, âm nhạc, video, hình động và tài liệu in ấn có thể được sử dụng ở nhiềumức độ khác nhau nhằm “thay đổi” sự chú ý và truyền đạt một cách có hiệuquả thông điệp của bạn (…) Đa phương tiện cho phép kết hợp các loại hìnhtruyền thông trong việc chuyển tải thông điệp nhằm gây chú ý, hấp dẫn vàthuyết phục công chúng”
Tham khảo một số ý kiến trên, tác giả cho rằng: Truyền thông đaphương tiện là hình thức truyền thông sử dụng đồng thời nhiều phương thứctruyền tải thông tin như văn bản (text), hình ảnh tĩnh (still image), hình ảnhđộng (animation), âm thanh (audio), video và các chương trình tương tác
Trang 25(interactive programs) để đưa thông tin đến với công chúng, thỏa mãn khảnăng tiếp nhận thông tin bằng nhiều giác quan của họ.
Truyền thông đa phương tiện có 2 hình thức thể hiện:
Thứ nhất là Truyền thông đa phương tiện trên cùng một sản phẩm báochí Ví dụ như trong cùng một chương trình truyền hình (có thể gọi là chươngtrình truyền hình theo phương thức đa phương tiện), trên cùng một tác phẩm/một tờ báo điện tử
Thứ hai là Truyền thông đa phương tiện trong một cơ quan báo chí, haycòn gọi là cơ quan báo chí đa phương tiện, tức là một cơ quan báo chí cónhiều loại hình báo chí khác nhau: báo viết, báo phát thanh, báo truyền hình,báo điện tử…
Ở luận văn này, khi nghiên cứu về phương thức sản xuất chương trìnhtruyền hình trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện, là chúng tôi đang tiếpcận thuật ngữ Truyền thông đa phương tiện ở cả hai hình thức trên Trong đó,tác giả đi sâu vào nghiên cứu, khảo sát và phân tích truyền thông đa phươngtiện ở hình thức thứ hai
Hội tụ truyền thông
Liên quan đến thuật ngữ đa phương tiện, các nhà nghiên cứu trên thếgiới cũng như ở Việt Nam còn sử dụng thuật ngữ “Hội tụ truyền thông” Ngaytừ năm 1978, giáo sư công nghệ truyền thông nổi tiếng người Mỹ NicholasNegroponte đã đưa ra khái niệm hội tụ Điều đó cho thấy, quá trình hội tụ trênthế giới đã diễn ra từ vài thập kỷ nay Tuy nhiên, đến năm 1983, Giáo sưIthiel de Sola Pool của Học viện Công nghệ Hoa kỳ (MIT) mới chính thứcđưa ra khái niệm truyền thông hội tụ và dự đoán rằng, với sự phát triển của kỹthuật số hóa, sẽ khiến các loại hình truyền thông vốn được phân chia rạch ròi,nay hội tụ với nhau
Trang 26Thực tế cho thấy, khái niệm hội tụ truyền thông bao hàm hai ý nghĩa:
“hội tụ” và “kết hợp” Xét theo nghĩa hẹp, hội tụ truyền thông là sự tích hợpcác loại hình báo chí, tạo ra sự biến đổi về chất, hình thành hàng loạt phươngtiện truyền thông mới như sách điện tử, blog, mạng xã hội…
Nếu xét từ nghĩa rộng, hội tụ truyền thông có phạm vi rộng hơn, gồm
sự kết hợp các phương tiện truyền thông, không chỉ về loại hình truyền thông,
mà còn là sự hội tụ cả về chức năng, phương thức đưa tin, quyền sở hữu, cơcấu tổ chức của các cơ quan báo chí, truyền thông… Nói cách khác, hội tụtruyền thông là quá trình phát triển tiệm tiến từ thấp đến cao, là sự phát triểntất yếu của báo chí truyền thông hiện đại
Bàn về hội tụ truyền thông, trong bài viết “Truyền thông hội tụ: Xét từgóc độ báo chí” đăng trên Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, TS.Phạm Thị Thanh Tịnh nhận định: Hội tụ truyền thông trong lĩnh vực báo chíchính là sự hợp nhất của các loại hình báo chí truyền thống trong cùng một cơquan báo chí về cấu trúc tòa soạn, sản xuất tin bài, phản hồi thông tin… Đểthực hiện được quá trình này, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trong đó cómạng Internet là cơ sở hạt nhân cho xu hướng này Thời đại Internet cho phépthông tin được truyền tải trên một môi trường khác, không phải chỉ là sảnphẩm giấy in, radio hay trên một chiếc tivi truyền thống, mà thông tin đượcchủ động phân phối theo cách mà công chúng cần tiếp nhận nó nhanh nhất,chất lượng nhất, đầy đủ nhất Như vậy, cơ quan báo chí phải tổ chức lại để trởthành một cơ sở sản xuất chương trình phân phối thông tin phục vụ theo nhucầu của công chúng về nội dung lẫn hình thức, phù hợp thời điểm mà họmuốn tiếp nhận
PGS TS Nguyễn Đức Dũng lại cho rằng: thuật ngữ “Hội tụ truyềnthông” được dùng để chỉ sự tích hợp các phương tiện báo chí khác nhau vàotrong một phương thức hoạt động Theo đó, các phương tiện truyền thông cũ
Trang 27và mới sẽ tương tác với nhau theo những cách phức tạp hơn so với dự đoántrước đây Sự hội tụ này đã mở ra một kỷ nguyên mới của truyền thông đaphương tiện, trong đó các loại hình báo chí, truyền thông như báo in, phátthanh, truyền hình, tivi, phim ảnh, báo điện tử… được kết hợp để đưa các dịchvụ mới có chất lượng cao hơn đến người sử dụng”.
Bên cạnh đó, ở cuốn sách “Báo chí thế giới và xu hướng phát triển”,PGS TS Đinh Thị Thúy Hằng cũng có quan điểm khá tương đồng: “Trongkhuôn khổ của lĩnh vực truyền thông, hội tụ được hiểu theo hai nghĩa như sau:
Thứ nhất, nội dung quan trọng nhất của hội tụ truyền thông là cùng vớiviệc phá bỏ “hàng rào” kiểm soát thông tin, các loại hình báo chí như báo in,phát thanh, truyền hình, báo chí trực tuyến và cá thiết bị di động đã và đanghội tụ với nhau về mặt công nghệ Công nghệ thông tin đã dẫn đến việc liênhợp các loại phương tiện báo chí khác nhau vào trong một phương thức hoạtđộng Sự hội tụ này đã mở ra một kỷ nguyên mới của đa truyền thông Hội tụcủa các loại hình báo chí: báo in, truyền hình, phát thanh, phim ảnh được kếthợp để đưa các dịch vụ tới người sử dụng
Thứ hai là sự tập trung sở hữu truyền thông đại chúng Các “tập đoànbáo chí, một công ty sở hữu nhiều loại hình kinh doanh báo chí khác nhau.Điều này dẫn đến sự hội tụ về kinh tế: các hãng truyền thông hội tụ qua việcliên kết, sáp nhập hoặc mua cổ phần của nhau”
Theo tác giả Đinh Thị Thúy Hằng hội tụ truyền thông nghĩa là sự tíchhợp các phương thức truyền tải thông tin hay tích hợp các phương tiện trongcùng một cơ quan báo chí nhằm đem đến cho công chúng khả năng tiếp nhậnthông tin tiện lợi, gần như bằng mọi giác quan như: nghe, xem, đọc trên nềntảng báo điện tử
Từ tham khảo các nguồn tài liệu trên, ở phạm vi nghiên cứu của đề tàinày, tác giả đồng ý với quan điểm: Hội tụ truyền thông nghĩa là sự tích hợp
Trang 28các phương thức truyền tải thông tin hay tích hợp các phương tiện trong cùngmột tòa soạn, cơ quan báo chí hoặc nhằm đem đến cho công chúng khả năngtiếp nhận thông tin tiện lợi, gần như bằng mọi giác quan như: nghe, xem,đọc trên nền tảng báo điện tử.
1.2 Phương thức sản xuất chương trình truyền hình trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện
1.2.1 Phương thức sản xuất chương trình truyền hình
Phương thức sản xuất Chương trình Truyền hình có thể hiểu là toàn bộnhững công việc nhằm làm ra một chương trình truyền hình trong một thờigian nhất định, được sắp xếp theo một quy trình định sẵn
Đối với một Đài truyền hình quá trình sản xuất bắt đầu bằng việc sángtạo các tác phẩm truyền hình Trong đó phóng viên là người trực tiếp sáng tạotác phẩm báo chí truyền hình Các tác phẩm tin, bài được phát qua các chươngtrình truyền hình đều có sự lựa chọn, xắp xếp bố trí hợp lý để giúp khán giảtiếp nhận chương trình một cách đầy đủ, hệ thống, có chiều sâu
Trên thực tế sự tính toán đến điều kiện, sở thích của từng nhóm khángiả để thỏa mãn nhu cầu của công chúng chỉ là tương đối vì không thể có sựthống nhất hoàn toàn giữa các chương trình trong điều kiện nhiều kênh cùngphát sóng, cũng như trong sở thích của các nhóm đối tượng khán giả củatruyền hình
Tóm lại, chương trình truyền hình là kết quả của quá trình sáng tạo ra
nó từ nhiều công đoạn như tạo dựng kế hoạch, hoạch định tác phẩm, hìnhthành chương trình Quá trình tạo dựng kế hoạch và xắp xếp chương trìnhđược gọi là chương trình truyền hình
Trong cuốn Giáo trình báo chí truyền hình, tác giả - PGS TS DươngXuân Sơn nhận định: Dựa vào khả năng kỹ thuật và công nghệ, có thể phânchia các loại phương thức sản xuất chương trình truyền hình như sau:
Trang 29- Chương trình băng từ
- Chương trình phát trực tiếp ( )
Trong đó, chương trình sản xuất bằng phim nhựa vì giá thành rất caonên hầu như không được sử dụng trong truyền hình Vì vậy, trong sản xuấtchương trình truyền hình thường có hai loại: băng từ và trực tiếp
Như vậy, theo cách lý giải của PGS TS Dương Xuân Sơn: Phươngthức sản xuất chương trình băng từ chính là phương thức sản xuất chươngtrình có hậu kỳ
Trong luận văn này, khi nghiên cứu về phương thức sản xuất chương trìnhtruyền hình, từ việc tìm hiểu, khảo sát quy trình sản xuất chương trình truyềnhình có hậu kỳ, tôi đi sâu nghiên cứu kỹ về quy trình tổ chức sản xuất mộtchương trình truyền hình chuyên đề trong cơ quan báo chí đa phương tiện
Bối cảnh truyền thông đa phương tiện Để đi sâu tìm hiểu về phương
thức sản xuất chương trình truyền hình trong bối cảnh truyền thông đaphương tiện Trước hết, tác giả tìm hiểu nghĩa của từ “bối cảnh” Đây là từHán Việt, “bối” có nghĩa là lưng, “cảnh” là quang cảnh, cảnh vật Nghĩa đencủa "bối cảnh" là quanh cảnh cảnh vật sau lưng, nghĩa mở rộng là hoàn cảnh,tình hình lịch sử có tác động ảnh hưởng đến một nhân vật, sự kiện hay vấn đềnào đó Bối cảnh được hiểu là hoàn cảnh, là tình hình ở lúc đang nói có thể làhiện tại hay quá khứ Nó còn là nguyên nhân để xảy ra sự việc hiện tượng
Ở luận văn này, khi nói đến “bối cảnh truyền thông đa phương tiệntrong sản xuất chương trình truyền hình”, tác giả muốn tìm hiểu hoàn cảnh, xuthế tác động đến chương trình truyền hình ở thời điểm hiện tại Hoàn cảnh đóchính là những thay đổi của truyền thông trong những năm gần đây
Trang 30Truyền thông đa phương tiện đã ảnh hưởng, chi phối đến quá trình sản xuất chương trình truyền hình.
Với quá trình tạo ra sản phẩm truyền hình, đa phương tiện được biểu hiện như sau:
- Đa phương tiện trong quá trình khai thác tư liệu để xây dựng kịchbản: Ngoài việc tìm kiếm nguồn tin đơn thuần, các sản phẩm truyền hình có thểđược sản xuất, khai thác từ nhiều loại phương tiện truyền thông đại chúng
khác nhau như: báo in, báo ảnh, phát thanh, báo điện tử…
- Đa phương tiện trong xử lý và biên tập nội dung: Sau khi tìm kiếmcác đề tài, nguồn tin được đăng tải trên các phương tiện truyền thông khác,phóng viên/biên tập viên truyền hình sẽ biên tập, xây dựng kịch bản phù hợpvới yêu cầu của chương trình truyền hình
- Đa phương tiện với quá trình phát sóng và tương tác với khán giả:Nhờ có đa phương tiện, chương trình truyền hình thay vì chỉ phát trên sóng truyềnhình, khán giả xem bằng vô tuyến sẽ được phát trực tiếp hoặc phát lại (dạng video)trên trang báo điện tử, trên kênh mạng xã hội hay ứng dụng xem
truyền hình bằng thiết bị cầm tay… tất cả đều dựa trên nền internet Nhờ vậy,công chúng cũng dễ tiếp cận hơn với các chương trình truyền hình và xem lạimọi nơi, mọi lúc trên mọi thiết bị đầu cuối Từ thực tế phát triển này, một số
cơ quan hoặc kênh truyền hình tại Việt Nam đã có bộ phận chuyên trách đưacác chương trình truyền hình lên trang thông tin điện tử, báo điện tử của riêngmình để thu hút công chúng theo dõi lại chương trình bất cứ lúc nào
- Đa phương tiện trong tương tác với công chúng: Cũng nhờ nền tảnginternet có thể kết nối mọi lúc, mọi nơi, khán giả hiện đại có thể phản hồi, bìnhluận, tương tác khi xem chương trình truyền hình rất dễ dàng Thay vì gửi thư tayqua đường bưu điện theo cách truyền thống, họ có thể gửi thư điện tử đến bộ phậnsản xuất, tương tác trực tiếp thông qua phần bình luận trên
Trang 31trang thông tin điện tử/ báo điện tử, để lại bình luận trên trang mạng xã hội.Thậm chí, một số chương trình truyền hình đã tương tác trực tiếp với khán giảbằng tin nhắn qua điện thoại di động, phần bình luận trên mạng xã hội… Khi
đó, khán giả được tham gia trực tiếp và phần nào đó quyết định kịch bản củachương trình
- Đa phương tiện trong tác nghiệp: Để hoàn thiện các sản phẩm truyềnhình chất lượng trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện, người làm truyền hình(phóng viên/biên tập viên/ tổ chức sản xuất) ngoài kỹ năng nghiệp vụ, kiến thứcchuyên môn cần có của người làm truyền hình còn phải đa năng, nắm được nghiệpvụ của tất cả các loại hình báo chí và sử dụng thành thạo các thiết bị kỹ thuật, thiết
- Lên kịch bản hình ảnh và ngôn ngữ chi tiết
- Chuyên đề phản ánh để lại dư âm, ấn tượng đối với khán giả xem truyền hình
- Chương trình ngắn gọn, cô đọng gây được sự tập trung cho người xem qua các thiết bị (các phương tiện truyền thông khác ngoài tivi)
Trang 32Thế mạnh của chương trình chuyên hình chuyên đề trong bối cảnhtruyền thông đa phương tiện là chuyển tải nội dung, thông điệp chuyên sâu,hình ảnh nghệ thuật đến khán giả trên nhiều phương tiện truyền thông màkhông quá dài (mất quá nhiều thời gian) với khán giả Khán giả vẫn đượcthưởng thức nghệ thuật hình ảnh truyền hình, được tiếp cận vấn đề chuyên sâu
mà không mất nhiều thời gian và hoàn toàn chủ động trong việc sử dụngphương tiện truyền thông để tiếp nhận
Trang 33Tiểu kết chương 1
Sự bùng nổ của Internet đã tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội củacon người và ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của ngành báo chí - truyềnthông thế giới Truyền thông đa phương tiện xuất hiện và được biết đến vớitên gọi Multimedia Theo xu thế truyền thông đa phương tiện, một tòa soạn,
cơ quan báo chí sẽ sở hữu nhiều phương tiện để tiếp cận với công chúng từbáo in, báo điện tử đến phát thanh và truyền hình Thị trường báo chí ViệtNam cũng nằm trong dòng chảy chung đó và đa phương tiện được xem là một
xu thế phát triển của báo chí trong thời đại toàn cầu hóa và bùng nổ thông tin.Để bắt kịp nhịp phát triển của bối cảnh truyền thông mới, truyền hình cũngdần chuyển mình và thay đổi về cách thức tổ chức sản xuất, xây dựng nộidung chương trình và cách tiếp cận với khán giả
Trên tinh thần đó, trong Chương 1 của luận văn này, tác giả đã đi sâuvào tìm hiểu về đa phương tiện, truyền thông đa phương tiện làm nền tảng chotoàn bộ hệ quy chiếu của luận văn Ngoài ra, tác giả cũng nghiên cứu nhữngkiến thức căn bản về truyền hình, chương trình truyền hình chuyên đề vàphương thức sản xuất chương trình truyền hình dưới góc độ truyền thông đaphương tiện cũng như tính ưu việt của chương trình truyền hình được sản xuấttrong bối cảnh truyền thông đa phương tiện
Toàn bộ hệ thống kiến thức căn bản này sẽ là nền tảng, cơ sở để tác giả
đi sâu vào khảo sát, phân tích và đánh giá một cách cụ thể về quá trình sảnxuất chương trình truyền hình chuyên đề tại Trung tâm Phim & Phóng sự tàiliệu – Đài Truyền hình Việt Nam trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện
ở chương tiếp theo
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHUYÊN ĐỀ TẠI ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN
2.1 Giới thiệu tổng quan về Đài Truyền hình Việt Nam và Trung tâm Phim tài liệu và phóng sự
2.1.1 Đài Truyền hình Việt Nam
Đài Truyền hình Việt Nam là đài truyền hình quốc gia Việt Nam, cơquan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền đường lối,chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và cung ứng các dịch vụ công;góp phần giáo dục, nâng cao dân trí, phục vụ đời sống tinh thần của nhân dânbằng các chương trình truyền hình Tên viết tắt thông dụng của đài là VTV(viết tắt của Vô tuyến Truyền hình Việt Nam Ba ký tự VTV (ở dạng in) nàyxuất hiện trong biểu tượng của đài, lần lượt được thể hiện trong ba màu : đỏ,lục, lam
Ngay từ trước khi chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975, một banbiên tập của Đài Tiếng nói Việt Nam được tách ra và thành lập đài truyềnhình, ngày 7 tháng 9 năm 1970 Lịch sử hình thành và phát triển của Đài trảiqua các mốc quan trọng: Ngày 7/9/1970, Đài Tiếng nói Viết Nam phát sóngthử nghiệm chương trình có hình đầu tiên đến tháng 11/1970, chính phủ cấpphép mua xe truyền hình lưu động đầu tiên và thành lập Đài Truyền hình ViệtNam Sau đó, Đài Truyền hình Việt Nam có nhiều bước tiến đáng kể nhưtường thuật trực tiếp chương trình đầu tiên bằng xe lưu động và cử phóng viênđưa tin tại Hội nghị Paris (Pháp) vào năm 1973 Đến năm 1974, Đài nhậpthiết bị ghi hình bằng băng từ đầu tiên của Nhật Bản Đến năm 1976, ĐàiTruyền hình Việt Nam bắt đầu phát sóng hàng ngày, tường thuật trực tiếp
Trang 35khai mạc và bế mạc Đại hội Đảng toàn quốc Năm 1987 đài lấy tên chính thức
là Đài Truyền hình Việt Nam
Sau gần 50 năm thành lập và phát triển Đài Truyền hình Việt Nam đãlàm tốt chức năng là cơ quan ngôn luận của Đảng, tuyên truyền chính sáchpháp luật của nhà nước và là diễn đàn của nhân dân, đồng thời Đài đã chuyểnmình đổi mới đáp ứng xu thế phát triển truyền thông trong giai đoạn mới,nâng cao chất lượng chương trình truyền hình cả về số lượng, chất lượng,hình thức thể hiện theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại Trong những năm gầnđây, do nhu cầu thị hiếu của khán giả cũng như đáp ứng cùng sự phát triểnchung của Đài, các kênh chương trình của Đài Truyền hình Việt Nam đượcđổi mới một cách toàn diện về nội dung và hình thức thể hiện, đổi mới vềcách tiếp cận sản xuất hướng tới mục tiêu truyền tải đến khán giả truyền hìnhcác các phương thức - Đa phương tiện Hiện tại Đài truyền hình Việt Namchuyển tải thông tin bằng các phương tiện: Truyền hình
(VTV1,VTV2,VTV3…), Điện tử (Trang VTV.VN), Truyền thông số(VTVgo), Tạp chí truyền hình Tính đến năm 2016, hàng ngày, Đài Truyềnhình việt Nam đã thực hiện phát sóng 205 giờ/ ngày trên 09 kênh chươngtrình phủ sóng toàn quốc bao gồm: VTV1,VTV2, VTV3, VTV4, VTV5,VTV6, VTV7, VTV8, VTV9 ( theo báo cáo của Đài THVN)
VTV1: Kênh thông tin thời sự kinh tế chính trị tổng hợp, đề cập đếncác vấn đề mang tính thời sự chính trị của cả nước VTV1 gần 20 bản tin thời
sự và nhiều chuyên mục trong tuần
VTV2: Kênh khoa học, công nghệ và giáo dục, với các bản tin vàchương trình chuyên đề được đầu tư kỹ lưỡng, hướng đến mục tiêu cải thiệndân sinh, phổ biến kiến thức khoa học công nghệ
Trang 36VTV3: Kênh thông tin giải trí hàng đầu Việt Nam, với các chương trình
ca nhạc, ;trò chơi, phim truyền hình hấp dẫn, nội dung đa dạng và phục vụnhu cầu giải trí của nhiều đối tượng khán giả
VTV4: Kênh thông tin dành cho người Việt Nam sinh sống tại nước ngoài
và người nước ngoài sống tại Việt Nam VTV4 hiện đã có bản tin và chươngtrình chuyên đề thể hiện bằng 5 ngôn ngữ: Anh, Pháp, Nga, Trung, Nhật
VTV5: Kênh chương trình đặc biệt dành cho các dân tộc thiểu số, đóngvai trò quan trọng trong việc đưa thông tin đến các vùng sâu vùng xa, vùng cònnhiều khó khăn, góp phần giảm bớt khoảng cách phát triển giữa các vùng miền
VTV6: Kênh truyền hình dành riêng cho lứa tuổi thanh thiếu niên, cóvai trò quan trọng trong việc định hướng tư tưởng, thái độ, tư vấn hành vi ứngxử cũng như đáp ứng nhu cầu giải trí đa dạng của lứa tuổi này
VTV7: Kênh truyền hình chuyên biệt về giáo dục, đào tạo, phổ biếnkiến thức cho các em học sinh và sinh viên Nội dung chương trình của kênhVTV7 có sự gắn kết hữu cơ với hệ thống các trường học, hệ thống giáo khao,chương trình dạy và học ở các bậc học, ngành học, cơ sở đào tạo, hướngnghiệp…Đặc biệt, kênh VTV7 có điểm nhấn quan trọng là ứng dụng nhữngthành tựu mới nhất của công nghệ thông tin và truyền thông để xây dựng mộtcách bài bản hệ thống đào tạo trực tuyến
VTV8: là kênh truyền hình quốc gia khu vực miền Trung – Tây Nguyên.VTV9: là kênh truyền hình quốc gia khu vực Nam bộ
Kênh VTV8, VTV9 là 02 kênh mới phát sóng từ ngày 01/01/2016.Nhằm chuyên môn hóa nội dung đến từng đối tượng khán giả, phù hợp vớivăn hóa vùng miền, đồng thời cụ thể thực hiện đề án Quy hoạch báo chí toànquốc đến năm 2025 của Chính phủ, Đài Truyền hình Việt Nam đã triển khai
Trang 37tái cơ cấu 06 kênh truyền hình khu vực VTV Huế, VTV Đà Nẵng, VTV PhúYên, VTV9, VTV Cần Thơ 1, VTV Cần Thơ 2.
Cùng với đổi mới về công tác nội dung, cơ chế quản lý mới đã tạo điềukiện để Đài Truyền hình Việt Nam có những bước đột phá trong phát triểncông nghệ kỹ thuật sản xuất chương trình Tính đến năm 2016, Đài Truyềnhình Việt Nam đã phủ sóng 100% lãnh thổ và phủ sóng vệ tinh hầu hết cáckhu vực trên thế giới Ngoài việc phủ sóng 09 kênh quảng bá toàn quốc, Đàitruyền hình Việt Nam có hàng trăm kênh truyền hình trả tiền (thông qua cácdoanh nghiệp thuộc Đài) Năm 2016, Đài Truyền hình Việt Nam có tồng 45đơn vị trực thuộc, trong đó có 10 cơ quan thường trú tại nước ngoài (Cơ quanthường trú truyền hình Việt Nam tại Vương quốc Campuchia, Cơ quanthường trú truyền hình Việt Nam tại Liên bang Nga, Cơ quan thường trútruyền hình Việt Nam tại Washington - Mỹ, Cơ quan thường trú truyền hìnhViệt Nam tại Cộng hòa Xing-ga-po, Cơ quan thường trú truyền hình ViệtNam tại Tokyo-Nhật Bản, Cơ quan thường trú truyền hình Việt Nam tạiVương quốc Bỉ, Cơ quan thường trú truyền hình Việt Nam tại Trung Quốc,
Cơ quan thường trú truyền hình Việt Nam tại Lào, Cơ quan thường trú truyềnhình Việt Nam tại Vương quốc Anh và Bắc Ailen, Cơ quan thường trú truyềnhình Việt Nam tại Vương Quốc Ả Rập); 04 doanh nghiệp và 01 đơn đượcthành lập theo quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo ( Trường Cao đẳngTruyền hình)
Năm 2016, khẳng định về sự phát triển vượt bậc của khoa học, côngnghệ trên các lĩnh vực, đặc biệt là hạ tầng viễn thông, internet, thiết bị đầucuối thông minh (smart phone, smart TV, máy tính bảng…) thành tựu khoahọc về sử dụng công nghệ thông minh trong truyền thông trở thành hiện thực
Sự phát triển này trực tiếp tạo ra những đổi mới có tính đột phá trong lĩnh vựctruyền thông, truyền hình, mà cụ thể hơn là tạo ra sự đa dạng trong cách xem
Trang 38và tiếp nhận thông tin hoàn toàn mới Trong bối cảnh đó Đài Truyền hình ViệtNam vẫn đặt mục tiêu chiến lược là phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị, thông tin,tuyên truyền sâu rộng, có định hưỡng đúng đắn cả về đối nội và đối ngoại.Đài Truyền hình Việt Nam chuyên sản xuất và phát sóng các chương trình tậptrung ở các mảng nội dung sau: Chương trình thời sự, vấn đề chính luận, Kinh
tế, Giải trí, Thể thao, Công nghệ, Giáo dục, Văn hóa đời sống, Du lịch,Chương trình Thiếu nhi, Phim tài liệu, Phim Truyền hình…Với sự cố gắngcủa đội ngũ phóng viên, biên tập viên cùng sự chỉ đạo và quan tâm của Lãnhđạo, Đài Truyền hình Việt Nam không ngừng chuyển mình, từng bước đổimới công nghệ phát sóng và nội dung các chương trình để ngày càng hấp dẫnkhán giả
Những năm gần đây, phát huy sức mạnh của một cơ quan truyền thông
đa phương tiện, Đài Truyền hình liên kết sản xuất và chia sẻ thông tin với cácđơn vị trong Đài như Báo Điện tử VTV Online, Tạp chí Truyền hình, ứngdụng đọc xem truyền hình trên thiết bị di động (VTV Go) nhằm đa dạng hóacác chương trình phát sóng Một số chương trình của VTV đã và đang tạođược chỗ đứng trong lòng khán giả xem truyền hình như:
Chương trình Thời sự, các chương trình bản tin hàng ngày, chươngtrình giải trí và chương trình dành riêng cho thanh, thiếu niên… Ngoàinhững chương trình mang tính tổng hợp và giải trí, VTV còn hướngtới những chương trình mang tính thời sự, bình luận, văn hóa chuyênsâu do Trung tâm Phim tài liệu & Phóng sự sản xuất như: Danh nhân đất Việt,Biển đảo quê hương, Về quê…
Với tầm nhìn trở thành một cơ quan truyền thông mũi nhọn với hệthống đa phương tiện, Đài Truyền hình Việt Nam đang từng ngày, từng giờđổi mới nội dung truyền tải tới khán giả truyền hình, phục vụ ngày càng tốthơn nhu cầu của mọi tầng lớp công chúng khán giả
Trang 392.1.2 Trung tâm Phim tài liệu & Phóng sự
Trung tâm Phim tài liệu & Phóng sự (Ban Chuyên đề trước đây) là đơn
vị trực thuộc Đài ra đời cùng với sự hình thành và phát triển của Đài Truyềnhình Việt Nam với định hướng mang tới cho khán giả cả nước và quốc tế cáinhìn đa chiều, sâu sắc về Chính trị - Văn hóa – Xã hội Việt Nam Trung tâm
có vị trí, vai trò rất quan trọng trong hệ thống tổ chức của VTV ngay từ khimới thành lập
Trung tâm Phim tài liệu & Phóng sự có chức năng tổ chức sản xuất cácchương trình phim tài liệu, phóng sự theo dạng mảng chuyên đề Nhiệm vụ vàhoạt động của trung tâm được thực hiện như sau:
- Xây dựng kế hoạch công tác ngắn hạn, hàng năm và dài hạn củaTrung tâm
- Hợp tác sản xuất các thể loại phim tài liệu và phóng sự
- Tham gia thẩm định đề tài trong lĩnh vực sản xuất phim tài liệu được phát trên các kênh của VTV
- Tổ chức nghiệm thu chương trình
- Chịu trách nhiệm về nội dung, chất lượng và việc sử dụng kinh phí sản xuất các chương trình
Hiện nay, các chương trình mảng chuyên đề của Đài Truyền hình ViệtNam được Trung tâm Phim tài liệu & Phóng sự tổ chức sản xuất Sau quátrình sản xuất, các chương trình chuyên đề sẽ được phát sóng chủ yếu trên cáckênh: VTV1, VTV2, VTV3 và VTV4 Ngoài ra, một số chương trình phù hợp
sẽ được chọn lọc và phát sóng trên các kênh khác
2.2 Nội dung và hình thức các chương trình truyền hình chuyên đề
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để nhận diện về các chương trìnhtruyền hình chuyên đề Ở Đài Truyền hình Việt Nam, các thể loại thường áp
Trang 40trong quá trình sản xuất hương trình truyền hình chuyên đề có: Phóng sự tàiliệu, Phóng sự truyền hình, … Hầu hết các chương trình truyền hình chuyên
đề đều được sản xuất theo hình thức ghi hình phát sóng
Chương trình truyền hình chuyên đề của Đài Truyền hình Việt Nam đisâu vào nội dung tất yếu là những thông tin được sản xuất dưới nhiều thể loạiphong phú, đa dạng về tất cả các mặt của đời sống văn hóa, xã hội… trongnước và quốc tế Giữ vai trò là thể loại chủ lực, cốt lõi trên kênh sóng, luônhấp dẫn người xem, Chương trình truyền hình chuyên đề của Đài Truyền hìnhViệt Nam luôn giữ được được ban lãnh đạo quan tâm và đầu tư nhiều cả vềnhân lực, vật lực để sản xuất
2.2.1 Nội dung các chương trình truyền hình chuyên đề
Nội dung chương trình chuyên đề thường đi sâu vào khai thác, phảnánh một chuyên đề cụ thể Dưới dạng phóng sự tài liệu thì chương trìnhchuyên đề thường đi sâu vào một sự kiện, nhân vật có thật trong lịch sử, hoặcviệc đã từng diễn ra trong quá khứ Dưới dạng phóng sự truyền hình thìchương trình đi sâu vào phản ánh các vấn đề, nhân vật, địa danh thực tế đượcgắn liền với văn hóa của đất nước cũng có khi là thế giới Một đặc trưng cuảchương trình chuyên đề thường mang ý nghĩa phản ánh tích cực, nhân văn,mang tính giáo dục về đời sống cũng như thành tựu mà nhân dân ta đã dạtđược trong suốt chiều dài lịch sử
Để cụ thể hóa cách thể hiện nội dung của chương trình truyền hìnhchuyên đề, chúng tôi đã đi vào tìm hiểu cụ thể một số chương trình trong 03chuyên mục được trung tâm phim tài liệu và phóng sự sản xuất và phát sóngtrên các kênh của Đài Truyền hình Việt Nam Đó là chuyên mục Danh nhânđất Việt; Biển đảo quê hương và Về quê
*Danh nhân đất Việt là một chuyên mục dài kỳ, mà ở mỗi chương
trình là một chuyên đề về một nhân vật để thực hiện phim tài liệu Các nhân