1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tai biến tự nhiên và khắc phục của nhà nguyễn ở nửa đầu thế kỉ XIX

202 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 202
Dung lượng 269,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu tai biến tự nhiên cùng các biện pháp phòng chống, khắc phụccủa một nhà nước giúp ta hiểu biết đầy đủ hơn về chính sách xã hội của nhànước đó, cũng như những tác dụng của nó tron

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HÀ NỘI – 2009

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU .

1 Mục đích, ý nghĩa và yêu cầu của đề tài

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề và các nguồn tư liệu

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Cấu trúc của luận văn

Chương 1: VÀI NÉT VỀ TAI BIẾN TỰ NHIÊN TRƯỚC THẾ KỶ XIX

1.1 Vài nét về tự nhiên Việt Nam

1.2 Vài nét về tai biến tự nhiên trước thế kỷ XIX

Chương 2: TAI BIẾN TỰ NHIÊN DƯỚI THỜI NHÀ NGUYỄN

2.1 Lũ bão

2.2 Hạn hán

2.3 Một số hiện tượng tai biến tự nhiên khác

Chương 3: TÁC ĐỘNG CỦA TAI BIẾN TỰ NHIÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG, KHẮC PHỤC CỦA NHÀ NGUYỄN

3.1 Nhà Nguyễn và ý thức về tác động của tai biến tự nhiên

3.2 Tác động của tai biến tự nhiên

3.3 Biện pháp phòng chống, khắc phục tai biến tự nhiên của nhà Nguyễn

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

Trang 4

Thuật ngữ “tai biến tự nhiên” hay “tai biến thiên nhiên” được hiểu là sựthay đổi đột ngột và mãnh liệt của tự nhiên do các nguyên nhân khác thường,

có ảnh hưởng ghê gớm tới điều kiện tự nhiên và môi trường trên Trái Đất, gâythảm họa cho đời sống con người Một số tai biến tự nhiên phổ biến là hạnhán, động đất, sóng thần, bão lụt, lở núi, dịch bệnh, v.v

Xuất phát từ ảnh hưởng, tác động sâu rộng đó, triều Nguyễn cũng nhưcác triều đại trước đó đều rất quan tâm tới vấn đề tai biến tự nhiên, đặc biệt làcác biện pháp phòng chống, khắc phục những hậu quả do tai biến tự nhiên gâyra

Tìm hiểu tai biến tự nhiên cùng các biện pháp phòng chống, khắc phụccủa một nhà nước giúp ta hiểu biết đầy đủ hơn về chính sách xã hội của nhànước đó, cũng như những tác dụng của nó trong sự ổn định, phát triển, tiến bộ

xã hội

Cuộc đấu tranh chống tai biến tự nhiên trước triều Nguyễn, bắt đầu từthời kỳ dựng nước, qua thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc, đến thời Lý – Trần, Lê –Trịnh từng bước được củng cố và phát triển qua thực tế, đúc rút thành nhữngkinh nghiệm lịch sử, biện pháp phòng chống thiên tai, dịch bệnh Đến thời

Trang 5

nhà Nguyễn, các biện pháp phòng chống, khắc phục tai biến tự nhiên đã cótác dụng tích cực đối với sản xuất, nhất là nông nghiệp và đời sống nông dân.Qua đó khẳng định, mặc dù ra đời và thống trị trên bước đường suy tàn củachế độ phong kiến, khi chủ nghĩa thực dân phương Tây đang bành trướngmạnh mẽ, nhà Nguyễn vẫn mong muốn xây dựng một đất nước ổn định, pháttriển.

Tìm hiểu thực trạng và tác động của tai biến tự nhiên tới đời sống chínhtrị, kinh tế, xã hội, sẽ mang đến những nhận thức sâu sắc về xã hội thời kỳnày, cũng như những chính sách xã hội của nhà Nguyễn thông qua các biệnphòng phòng chống, khắc phục Từ đó thấy được mối liên hệ mật thiết giữanhà nước với các tầng lớp nhân dân, đặc điểm nhà nước cũng như xã hội thời

kỳ này, góp phần nghiên cứu lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam nói chung

và nhà Nguyễn nói riêng

Mặt khác, qua đề tài này, chúng tôi tìm hiểu và làm sáng tỏ vai trò, tácdụng của các chính sách xã hội nhằm giải quyết tai biến tự nhiên đối với sựthịnh suy của triều đại, sự tồn vong của bộ máy nhà nước Đây cũng chính làmột trong nhiều bài học rút ra từ lịch sử đất nước nửa đầu thế kỷ XIX đầybiến động

1.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Thông qua tìm hiểu tai biến tự nhiên và biện pháp phòng chống, khắcphục của nhà Nguyễn, luận văn sẽ đi sâu tìm hiểu, nhìn nhận lịch sử thờiNguyễn từ hai phía: vị trí, vai trò của giai cấp cầm quyền trong quá trìnhchăm lo đời sống nhân dân và yêu cầu bức xúc của xã hội cùng những giảipháp và hệ quả Từ những kết luận được rút ra trong quá trình nghiên cứu,luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ quá trình vận động không bằng phẳng, đơngiản của xã hội thời Nguyễn

Từ những đóng góp khoa học trên, luận văn làm rõ hơn tác động to lớn

Trang 6

của tai biến tự nhiên trong hệ thống các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến đờisống chính trị, kinh tế, xã hội ở giai đoạn lịch sử mà luận văn nghiên cứu.

Hiện nay, đất nước ta đang trải qua quá trình vận động, đổi mới, pháttriển, tiếp thu và áp dụng nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sảnxuất, đời sống xã hội Quá trình đó sẽ đem lại sắc diện mới cho đất nước,đồng thời cũng phát sinh nhiều vấn đề xã hội như ô nhiễm môi trường, cạnkiệt tài nguyên thiên nhiên, hệ sinh thái biến động, khí hậu thay đổi… dẫn đếnthường xuyên xảy ra nhiều tai biến tự nhiên bất thường, để lại hậu quả to lớn

đe dọa tính mạng con người, hủy hoại các thành quả kinh tế, xã hội, ví như lũlụt, hạn hán, sóng thần, lũ quét, động đất, dịch cúm… Đây không chỉ là vấn

đề mà Đảng và Nhà nước ta đã và đang quan tâm, tìm giải pháp có hiệu quảthông qua chính sách xã hội, kết hợp với các chính sách khác trong hệ thốngchính sách phát triển bền vững đất nước, mà còn là vấn đề có tính thời sự toàncầu

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu các biện pháp phòng chống, khắcphục tai biến tự nhiên của nhà Nguyễn – một thời kỳ lịch sử có nhiều ý kiếnđánh giá khác nhau, với những kinh nghiệm, những bài học lịch sử của nó sẽ

có tác dụng thiết thực phục vụ cho công cuộc xây dựng, đổi mới và phát triểnđất nước bền vững mà nhân dân ta đang ra sức thực hiện dưới sự lãnh đạo củaĐảng và Nhà nước

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhà nước và xã hội thời Nguyễn không phải là đối tượng nghiên cứutrực tiếp của luận văn Tuy nhiên, để nghiên cứu và lý giải các chính sách xãhội nhằm phòng chống, khắc phục và giải quyết tác động của tai biến tự nhiênxảy ra ở thời kỳ này, nhà Nguyễn với tư cách là chủ thể đặt ra các chủ trương,chính sách, biện pháp giải quyết; đồng thời là bộ máy điều hành, thực thi các

Trang 7

chính sách, biện pháp đó cần phải được đề cập ở một mức độ cần thiết, đặcbiệt là quá trình xây dựng và tính chất của Nhà nước.

Luận văn sẽ tập hợp và hệ thống các nguồn tư liệu nhằm khôi phục diệnmạo cũng như làm rõ nét các sự kiện tai biến tự nhiên xảy ra theo trình tự thờigian, cũng như các chính sách, biện pháp phòng chống, khắc phục tai biến tựnhiên, không chỉ dừng lại ở các chiếu dụ, lệnh dụ của nhà vua, ở các quy địnhcủa nhà nước, của pháp luật, mà còn qua những phương pháp giải quyết tựthân của người dân, cũng như những hoạt động, phong trào của một bộ phận

cá nhân trong xã hội đương thời

Vai trò và tác dụng của các biện pháp phòng chống, khắc phục tai biến

tự nhiên của nhà Nguyễn đối với công cuộc khôi phục sự phát triển, ổn địnhtình hình đất nước, chăm lo đời sống nhân dân vào thời điểm đầu thế kỷ XIXđầy thách thức, cũng như ở các thời kỳ tiếp sau đó Đây cũng là một yêu cầuquan trọng cần giải đáp của luận văn

Với những yêu cầu về đối tượng cơ bản mà luận văn đặt ra nói trênnhằm mục tiêu trả lời câu hỏi: Nguyên nhân dẫn tới xảy ra các tai biến tựnhiên là gì? Những tai biến tự nhiên nào có tần suất, cường độ xảy ra thườngxuyên nhất? Tác động của tai biến tự nhiên? Các biện pháp phòng chống,khắc phục của nhà Nguyễn? Vai trò và tác dụng của nó trong việc ổn định đờisống xã hội, xây dựng và phát triển đất nước thời Nguyễn?

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian lịch sử: Luận văn tập trung nghiên cứu các tai biến tựnhiên xảy ra vào nửa đầu thế kỷ XIX, từ năm 1802 – 1858, cùng những tácđộng và biện pháp phòng chống, khắc phục của nhà Nguyễn Tuy nhiên, đểthấy được tính kế thừa lịch sử và sự phát triển của nhà nước trong tổ chứcquản lý đời sống xã hội, luận văn cũng điểm qua một số nét lớn về tình hìnhtai biến tự nhiên và giải quyết của nhà nước trước và sau đó

Trang 8

Về nội dung: Luận văn đề cập đến các sự kiện tai biến tự nhiên, các taibiến tự nhiên xảy ra với cường độ, tần suất thường xuyên nhất, cũng như tácđộng và biện pháp phòng chống, khắc phục của nhà Nguyễn ở nửa đầu thế kỷXIX Do tính chất bao quát, liên quan đến nhiều mặt đời sống xã hội của cáctác động này, nên các chính sách về chính trị, kinh tế, đời sống văn hóa, xãhội… cũng sẽ được đề cập đến, nhưng ở dưới góc độ tác động của nó.

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề và các nguồn tư liệu

3.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nhìn chung từ trước tới nay chưa có một công trình chuyên khảo nào

về vấn đề mà luận văn đặt ra, mặc dù đã có rất nhiều công trình sử học lớnnghiên cứu về thời nhà Nguyễn Nhưng có thể nói, tuyệt đại đa số các nghiêncứu này đều nhằm miêu tả, phân tích, nhìn nhận và đánh giá chung về các mặtchính trị, kinh tế, văn hóa… còn các sự kiện tai biến tự nhiên và biện phápphòng chống, khắc phục chưa được tập hợp, thống kê, phân tích, tìm hiểu mộtcách có hệ thống Lý giải điều này cũng có thể là do xuất phát từ quan niệmcho rằng, hiện tượng tai biến tự nhiên và tác động của nó chưa phải là vấn đềgây ra sự ảnh hưởng sâu rộng, nó có thể bị hòa vào các chính sách về nôngnghiệp, chính sách tô thuế, về thực trạng đời sống nông dân… Mặc dù vậy,khi đề cập đến thời Nguyễn, các tác giả ít nhiều có nhận định chung hoặcđiểm đến một số chính sách, biện pháp cụ thể liên quan đến vấn đề được luậnvăn quan tâm

Sách Lịch sử Việt Nam (1971), Tập 1 do Ủy ban Khoa học xã hội xuất,

tuy không trực tiếp bàn đến các tai biến tự nhiên xảy ra dưới thời Nguyễn,nhưng đã gián tiếp đề cập đến ở khía cạnh khác:

Dưới triều Nguyễn, kinh tế nông nghiệp càng ngày càng sa sút Đó làhậu quả của nạn chiếm đoạt ruộng đất của giai cấp địa chủ và sự bóc lột nặng

nề của nhà nước phong kiến Mặt khác, triều Nguyễn lại bất lực trong việc

Trang 9

chăm lo, bảo vệ đê điều và các công trình thủy lợi, để cho thiên tai đe dọathường xuyên và nghiêm trọng nền sản xuất nông nghiệp… Trong suốt đờiNguyễn, nạn đê vỡ, hạn hán, lụt lội xảy ra liên tiếp Riêng đê sông Hồng ởKhoái Châu (Hải - Hưng) thời Tự Đức bị vỡ 10 năm liền Cả một vùng đồngruộng phì nhiêu, cư dân trù mật biến thành bãi lầy hoang vu, nhân dân phải bỏlàng đi ăn xin khắp nơi … Ruộng đồng bỏ hoang, nhân dân phiêu bạt, xómlàng xác xơ Một màu đen ảm đảm như vậy bao phủ khắp nông thôn [36, tr.376].

Sách Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều

Nguyễn (1997), do Trương Hữu Quýnh, Đỗ Bang chủ biên, đã đề cập đến các

nội dung: Công tác trị thủy và thủy lợi (Tình hình bão lụt, hạn hán dưới thờiNguyễn; Hoạt động trị thủy); Canh tác nông nghiệp và đời sống nông dân (Kỹthuật và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp; Đói kém, dịch bệnh; Hoạt độngcứu tế xã hội) [48, tr 105 - 171]

Sách Đê điều Việt Nam (Sơ thảo lịch sử) của Phan Khánh, Từ Mạo,

Nguyễn Gia Quang đã đề cập tới một loại tai biến tự nhiên có tần suất và

cường độ xảy ra nhiều nhất là lũ lụt, qua phần nội dung Đê điều, trị thủy dưới

triều Nguyễn, trong đó trình bày thực trạng trị thủy và đê điều qua các triều

vua, từ Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị đến Tự Đức với cuộc trưng cầu ýkiến về trị thủy Bắc Kỳ [30, tr 35 - 96]

Sách Thiên tai và dịch bệnh ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế (Bảy thế kỷ

nhìn lại) của Dương Phước Thu (2006), ở Chương 3 với nội dung Bão, lũ, dịch bệnh từ năm 1801 đến 1945, đã trình bày theo cách thống kê biên niên

các sự kiện thiên tai (hạn hán, lũ bão, dịch bệnh, mất mùa, sét đánh, động đất,sâu bọ…) xảy ra dưới thời nhà Nguyễn ở hai tỉnh Quảng Trị và Thừa ThiênHuế Tuy nhiên, cách trình bày các nội dung chỉ theo diễn tiến thời gian, mà

Trang 10

chưa có sự phân chia cụ thể, hệ thống riêng biệt của từng loại tai biến tựnhiên.

Những năm gần đây, cũng đã xuất hiện nhiều nghiên cứu hoặc giántiếp, hoặc trực tiếp bàn đến một số vấn đề mà luận văn đặt ra: Vũ Văn Quân

với Chế độ ruộng đất, kinh tế nông nghiệp Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX (1991), Luận án Phó Tiến sỹ Sử học, Đại học Tổng hợp Hà Nội và Vài nét về

chế độ tô thuế thời Nguyễn (1988), Tạp chí Khoa học, Đại học Tổng hợp;

ngoài ra còn có một số bài viết khác như Vài nét về kinh tế nông nghiệp Việt

Nam nửa đầu thế kỷ XIX (1990), Nghiên cứu kinh tế; Đỗ Đức Hùng với Nhà Nguyễn với công tác tổ chức quản lý công trình thủy lợi ở Bắc Bộ thế kỷ XIX

(1994), Khoa học xã hội

Trong quá trình nghiên cứu, một mảng tư liệu khác tuy không nhiềunhưng cũng được tác giả quan tâm khai thác là một số nghiên cứu về các loại

tai biến tự nhiên dưới góc độ khoa học tự nhiên, khí tượng thủy văn như Khí

tượng thủy văn và đời sống (1995), NXB Khoa học kỹ thuật; Địa lý tự nhiên Việt Nam (1978) của Vũ Tự Lập; Thiên nhiên Việt Nam (2005) của Lê Bá

Thảo; Hạn hán và những giải pháp giảm thiệt hại (2003) do Đào Xuân Học chủ biên; Lũ lụt và cách phòng chống (2000) do Trần Thanh Xuân chủ biên…

đều có ít nhiều liên quan đến đề tài luận văn

Tóm lại, xung quanh vấn đề tai biến tự nhiên và biện pháp phòngchống, khắc phục của nhà Nguyễn (1802 – 1858) đã có một số nghiên cứu đềcập đến một cách gián tiếp ở từng góc độ khác nhau tùy theo yêu cầu nghiêncứu Tuy nhiên cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu trực tiếp vàtập trung vào các tai biến tự nhiên thời nhà Nguyễn Đây là một khó khăn lớnđối với chúng tôi khi thực hiện đề tài luận văn Tuy vậy, dù ở mức độ nào,những công trình của người đi trước đã là nguồn tham khảo bổ ích, quý báu

Trang 11

giúp chúng tôi nhiều trong quá trình làm luận văn, từ những vấn đề cụ thể đến

lý luận, phương pháp luận

3.2 Các nguồn tư liệu

Do nội dung của các tai biến tự nhiên và biện pháp phòng chống, khắcphục dưới thời Nguyễn bao quát nhiều mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xãhội, nên nguồn tư liệu mà luận văn tiếp cận, khai thác và sử dụng rất phongphú và đa dạng nhưng cũng rất tản mạn

Nguồn tư liệu cơ bản, chủ yếu làm cơ sở cho việc nghiên cứu của luận

văn là các bộ chính sử như Đại Nam thực lục do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ do Nội các triều Nguyễn biên

soạn, đều đã được Viện Sử học dịch và xuất bản

Sách Đại Nam nhất thống chí – bộ sách địa lý học Việt Nam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến, ở phần nội dung đã chia ra mục hình thế, khí hậu, trong đó đặc biệt là mục khí hậu, đã có sự tổng kết nghiên cứu khái quát về

đặc điểm khí hậu, ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu tới đời sống sản xuất, xãhội của người dân ở các vùng miền trên cả nước

Ví dụ về khí hậu phủ Thừa Thiên, sách này viết:

Bốn mùa thường ấm, đầu mùa xuân đào đã trổ hoa, tháng Giêng, thángHai khí trời hòa ấm; tháng Ba khí trời nóng dần, thỉnh thoảng có giómạnh từ phương Nam đến, tục gọi là “bão nam”, người đi sông nướccần phải đề phòng; tháng Tư tiết Tiểu mãn, thỉnh thoảng cũng có lụt;tháng 5, tháng 6 và tháng 7 gió nam thổi mạnh; trước ngày 7 tháng 7 cómưa, tục gọi là “mưa rửa xe”; tháng 8, tháng 9, khí trời mát dần,thường có mưa lũ, thỉnh thoảng lại có gió đông vài ba ngày mới tắt, tụcgọi là “gió từ bến”; tháng 10 trong những ngày mồng 3, 13 và 23thường bị lụt, ngạn ngữ có câu “Ông tha mà bà chẳng tha, làm cho cáilụt ngày 3 tháng 10” Lụt rút mà có mưa, gọi là “mưa rửa bùn”, mùa

Trang 12

đông mưa nhỏ, sắc nước tối gọi là “mưa tro” Trong một năm, nửa mùathu sang mùa đông thường mưa nhiều, nửa mùa xuân về sau thườngnắng nhiều, từ tháng trọng đông (tháng 11 trở về sau) khí rét nhưngkhông giá buốt, cây cối không rụng lá, cuối năm khí trời đã ấm; tháng

12 sấm bắt đầu dậy…[7, tr 110]

Khí hậu tỉnh Quảng Nam:

Khí hậu nóng nực, nhiều tạnh ít mưa, chất đất phù bạc, nhiều khô khan

ít màu mỡ Hết tháng Chạp thì gió đông nổi, tiết Kinh trập thì mưa xuânnhuần; gió nam mạnh về mùa hạ; gió bấc rét về mùa đông; mùa thu giómát mà hay mưa lụt (các tháng 8, 9, 10 thường hay mưa lụt), mưa đônghết lụt thì bãi sông bằng (mùa đông, sau khi mưa lụt thì bãi sông bằngphẳng, tức là hết kỳ mưa lụt); mây đen nổi ở Trà Sơn là triệu sẽ mưa,cầu vồng hiện ở Cu Đê là sắp có lụt (cầu vồng hiện mùa hè thì mưa,hiện mùa thu, mùa đông thì lụt) Thỉnh thoảng cũng có gió bão Gần núirừng thường nhiều lam chướng, ven sông biển thì có thủy triều lênxuống…[8, tr 337]

Thông qua những kiến thức về đặc điểm thời tiết, khí hậu riêng ở cácđịa phương này, đã phần nào giúp cho người dân có những nhận thức rõ ràng,

để có những hoạt động sản xuất, đời sống thích hợp, nhằm phòng tránh, hạnchế tối đa sự tác động của tai biến tự nhiên

Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 63, phần Quyết tuất

(tha thuế và cấp tuất) cũng đã có sự thống kê biên niên các nội dung: Ban ra

và cho vay thóc kho; Chuẩn tế dân bị thiên tai; Miễn thuế; Khám đồng lúa;Giảm thuế tô; Khuyến khích việc quyên góp; Cứu giúp nạn gió bão; Cứu giúp

kẻ cô cùng; Thương xót kẻ tù tội; Cấp tuất Thông qua các nội dung này đãcung cấp những thông tin về tai biến tự nhiên xảy ra dưới thời nhà Nguyễn,cùng những biện pháp phòng chống, khắc phục của triều đình

Trang 13

- Năm Minh Mệnh thứ 9 (1828), Dụ rằng: các trấn Sơn Nam, NamĐịnh, Sơn Tây, Bắc Ninh thuộc Bắc Thành, đê điều tràn vỡ… Nay chophép quan Bắc Thành, chiếu trong khu vực bị tai, ai bị chết đuối, bất cứnam, phụ, lão, ấu, đều truy cấp cho mỗi người 3 quan tiền tuất Cònnhững người nghèo đói, liệu chia ra 2 hạng: nghèo quá, nghèo vừa bất

cứ nam, phụ, lão, ấu, hạng nghèo quá, cấp mỗi người 2 quan tiền, 1phương gạo; hạng nghèo vừa, 1 quan tiền, 1 phương gạo [31, tr 569]

- Năm Tự Đức thứ 2 (1849), Dụ rằng: 3 huyện Bố Trạch, Bình Chánh,Minh Chánh hạt Quảng Bình, ruộng đất cao hạn, lúa chiêm, thu hoạchkhông được mấy, thuyền buôn đi lại không đến, hiện nay giá gạo đãcao Cho phép quan tỉnh ấy chiếu xem dân 3 huyện, hoặc có ai nghèođói, thiếu thốn thời hạng nghèo quá, chẩn cho mỗi người 5, 6 bát gạo,người nghèo vừa 3, 4 bát [31, tr 571]

Ngoài hai bộ chính sử nói trên, các tập Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, Đại Việt sử ký toàn thư do Ngô Sỹ

Liên và các sử thần triều Lê biên soạn… là những sách cung cấp tài liệu vànhận xét có liên quan đến các tai biến tự nhiên xảy ra dưới thời Nguyễn vàtrước Nguyễn cũng là nguồn tư liệu được chúng tôi đặc biệt quan tâm khi tiếnhành nghiên cứu

Tư liệu về các sự kiện tai biến tự nhiên và biện pháp phòng chống, khắcphục dưới thời nhà Nguyễn qua các tài liệu kể trên khá rời rạc, tản mạn Tuynhiên, các tài liệu đó cũng đã đề cập đến các vấn đề mà luận văn cần giảiquyết như các sự kiện tai biến tự nhiên xảy ra theo tiến trình thời gian (tháng,năm); tác động của tai biến tự nhiên trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội;biện pháp phòng chống và khắc phục của nhà Nguyễn

Sau nữa là các bài viết cũng có nội dung liên quan đến tác động của tai

biến tự nhiên trên các tạp chí như Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu kinh tế,

Trang 14

Khoa học xã hội Tất cả đều là những tài liệu mà chúng tôi sẽ tham khảo

trong quá trình thực hiện luận văn

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đáp ứng mục đích, yêu cầu đặt ra của luận văn, trong quá trìnhnghiên cứu, tác giả đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

Phương pháp lịch sử: Với đề tài khoa học lịch sử này, luận án vận dụngchủ yếu phương pháp lịch sử theo quan điểm duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử của học thuyết Mác – Lênin; các hiện tượng tai biến tự nhiên xảy radưới thời nhà Nguyễn được xem xét theo một trật tự thời gian cùng với nhữngtác động của nó đến đời sống chính trị, kinh tế và xã hội

Tai biến tự nhiên và các biện pháp phòng chống, khắc phục của nhàNguyễn là một bộ phận trong hệ thống chính sách xã hội của Nhà nước, nó cónội dung, đối tượng và tác động riêng nhưng mặt khác, nó có liên quan chặtchẽ, tương tác với các chính sách khác và bao quát đến mọi lĩnh vực, mọi tầnglớp xã hội Do đó, khi khảo cứu, bên cạnh phương pháp lịch sử là chủ yếu, tácgiả sẽ kết hợp vận dụng các phương pháp phân loại, so sánh, phương pháp hệthống, phương pháp thống kê, bóc tách các sự kiện, hiện tượng lịch sử, nhằmmục đích xác định diện mạo, nội dung, tác động của các hiện tượng tai biến tựnhiên, cũng như các biện pháp phòng chống, khắc phục

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn liên hệ, so sánh giữa các thời

kỳ lịch sử trước và sau đó, để rút ra những điểm mạnh, điểm yếu cùng nhữngđặc điểm nổi bật của các biện pháp phòng chống, khắc phục tai biến tự nhiêndưới thời nhà Nguyễn

Từ những sự kiện, hiện tượng lịch sử tản mạn, đa dạng, phức tạp thuộccác hiện tượng tai biến tự nhiên và biện pháp phòng chống, khắc phục, tác giả

đã có sự chọn lọc, sắp xếp và hệ thống lại Từ đó, luận văn sẽ vận dụngphương pháp lôgic nhằm phân tích, lý giải các tác động, các mối liên hệ,

Trang 15

tương tác của các biện pháp giải quyết hậu quả tai biến tự nhiên trong hệ thống chính sách xã hội của nhà Nguyễn.

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn được chia làm ba chương:

Chương 1: Vài nét về tai biến tự nhiên trước thế kỷ XIX

Chương 2: Tai biến tự nhiên dưới thời Nguyễn (1802 – 1858)

Chương 3: Tác động của tai biến tự nhiên và biện pháp phòng chống,

khắc phục của nhà Nguyễn

Trang 16

Chương 1 VÀI NÉT VỀ TAI BIẾN TỰ NHIÊN TRƯỚC

THẾ KỶ XIX

1.1 Vài nét về tự nhiên Việt Nam

Các điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thủyvăn, thổ nhưỡng, sinh vật và những mối quan hệ tác động qua lại, chi phối lẫnnhau giữa chúng Chính mối quan hệ này là cơ sở tạo ra những điều kiệnthuận lợi cũng như đưa đến những vấn đề tai biến tự nhiên

Lãnh thổ Việt Nam nối liền một dải từ điểm cực Bắc trên cao nguyênĐồng Văn ở vĩ độ 23°23’B thuộc Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giangtới điểm cực Nam trên bán đảo Cà Mau ở vĩ độ 8°34’B thuộc xã Đất Mũi,huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau; điểm cực Tây ở kinh độ 102°10’Đ thuộc xãSín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên; điểm cực Đông nằm trên bánđảo Hòn Gốm ở kinh độ 109°24’Đ thuộc xã Vạn Hạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnhKhánh Hòa Ngoài ra, nước ta còn có vùng biển rộng nằm trên Biển Đông vớitrên 3000 đảo lớn, nhỏ nằm ở gần bờ và xa bờ Vì thế, hệ tọa độ địa lý củaViệt Nam còn kéo dài tới khoảng vĩ độ hơn 6°50’B và từ khoảng kinh độ101°Đ đến hơn 117°20’Đ trên Biển Đông

Trang 17

Với hệ tọa độ địa lý trên, Việt Nam nằm hoàn toàn trong vành đai nóngnội chí tuyến ở nửa cầu Bắc và gần sát với chí tuyến Bắc nên có sắc tháichung của tự nhiên vùng nhiệt đới.

Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, là một trong ba hệthống của khu vực châu Á gió mùa điển hình, với hai mùa rõ rệt, mùa đông làthời kỳ hoạt động của gió mùa Đông Bắc, mùa hạ là thời kỳ hoạt động của giómùa Tây Nam, tạo nên đặc điểm gió mùa của khí hậu Việt Nam và sắc tháinhiệt đới ẩm

Việt Nam nằm ở vị trí tiếp giáp nối liền lục địa với đại dương, có quan

hệ với vành đai sinh khoáng và núi lửa Thái Bình Dương nên có tài nguyênkhoáng sản phong phú và đa dạng, đồng thời cũng xảy ra các hoạt động núilửa, động đất

Do nằm ở khu vực biển nhiệt đới Tây Thái Bình Dương, một trongnhững trung tâm phát sinh bão lớn trên thế giới, nên hàng năm Việt Nam phảiđối phó với hàng chục cơn bão, trong đó có nhiều cơn bão có sức tàn phá rấtlớn, gây thiệt hại nặng nề trên diện rộng

Ngoài hướng cấu trúc chính Tây Bắc – Đông Nam, địa hình Việt Namcòn có một hướng cấu trúc nữa rất độc đáo là hướng vòng cung Hướng vòng

Trang 18

cung thể hiện rõ nét nhất và trở thành một đặc điểm nổi bật của vùng núi phíađông Bắc Bộ, đó là các dãy núi Tam Đảo như hình nan quạt.

Chính các dãy núi cánh cung có hướng Bắc – Nam và Đông Bắc – TâyNam này đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho gió mùa Đông Bắc xâm nhậpnhanh chóng vào đồng bằng Bắc Bộ, làm cho vùng Đông Bắc Bắc Bộ chịuảnh hưởng sâu sắc nhất của gió mùa Đông Bắc và trở thành vùng có khí hậulạnh nhất Việt Nam về mùa đông

Địa hình Việt Nam có xu thế thấp dần ra biển theo hướng cấu trúc củađịa hình và theo các dòng chảy Hầu hết các sông ngòi trên lãnh thổ Việt Namđều trực tiếp đổ ra Biển Đông Địa hình thấp dần ra biển đã tạo điều kiệnthuận lợi cho ảnh hưởng của biển thâm nhập vào sâu trong đất liền, trước hết

là các luồng gió thổi từ biển vào, gió đất – biển và sự xâm nhập của thủy triều,tạo nên vùng nước lợ, nhiễm mặn và ngập mặn ở vùng ven biển

Phần lớn địa hình Việt Nam là đồi núi, tuy vậy tính chất phân bậc củađịa hình thể hiện khá rõ rệt ở miền núi với nhiều bậc địa hình mà hiện tại làcác đỉnh núi, các sơn nguyên tại mỗi bậc có độ cao xấp xỉ như nhau Các kiểuđịa hình chính ở Việt Nam là: địa hình núi, địa hình cao nguyên, địa hình đồi,địa hình đồng bằng và một số kiểu địa hình đặc biệt là cacxtơ, địa hình bờbiển

Địa hình Việt Nam rất tiêu biểu cho địa hình của vùng nhiệt đới ẩm, đó

là hiện tượng địa hình bị xâm thực, xói mòn mạnh mẽ do dòng chảy gây lênkhiến cho lượng phù sa trên các sông suối tăng lên rất nhanh, nhất là vào thời

kỳ mùa mưa Do đó, những trận lũ ống, lũ quét có sức tàn phá rất lớn thực sự

là các tai họa đối với các vùng núi Ngoài ra còn phải kể đến hiện tượng đấttrượt, sụt lở đất đá, làm biến đổi nhanh chóng bề mặt địa hình

1.1.3 Khí hậu

Khí hậu là một trong những nhân tố quyết định bộ mặt của cảnh quan

Trang 19

tự nhiên Việt Nam Cùng với địa hình, khí hậu có tác động đến sự hình thànhlớp phủ thổ nhưỡng, thực vật, động vật và chế độ thủy văn, hải văn.

Đặc điểm chung của khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa,

có sự phân hóa đa dạng, có diễn biến bất thường

Khí hậu Việt Nam mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa Tính chất nhiệtđới của khí hậu thể hiện rõ nét qua yếu tố bức xạ Lượng bức xạ tổng cộngtrung bình năm từ 110 - 130kcal/cm² ở Việt Nam là rất lớn Nhiệt độ trungbình hằng năm ở hầu hết các vùng trong cả nước là 22 - 25°C, ở Hà Nội là23,5°C, thành phố Hồ Chí Minh tới 27,1°C

Tính chất gió mùa là sự biến thiên theo mùa của khí hậu Việt Nam, mànguyên nhân hình thành chính là do sự luân phiên hoạt động của gió mùaĐông Bắc và gió mùa Tây Nam Trên lãnh thổ Việt Nam, nơi nào cũng có haimùa, mùa mưa và mùa khô xen kẽ với các mức độ khác nhau, kể cả sự lệchpha của mùa mưa và mùa khô của một số địa phương so với cả nước

Khí hậu Việt Nam có sự phân hóa đa dạng Trên nền tảng nhiệt đới ẩmgió mùa, sự diễn biến của khí hậu Việt Nam rất phong phú với sự phân hóakhông gian đa dạng mà nguyên nhân chính là do đặc điểm của bề mặt đệm.Khí hậu Việt Nam có sự phân hóa từ Bắc vào Nam, từ Đông sang Tây và từthấp lên cao do lãnh thổ trải dài trên nhiều vĩ độ, kết hợp với tác động của chế

độ gió mùa sự phân hóa này được thể hiện rất rõ nét trong chế độ mưa

Việt Nam có lượng mưa trung bình hằng năm khá lớn Lượng mưatrung bình năm ở đồng bằng là trên 1500 mm, ở các khu vực núi cao tới 2000– 3000 mm Tuy nhiên, ở những nơi có địa hình khuất gió, lượng mưa chỉ trêndưới 700 mm Những nơi mưa nhiều nhất là các vùng núi cao có địa hìnhchắn gió Ở miền Bắc là vùng núi thượng nguồn sông Chảy (Bắc Quang 4802mm), vùng núi Hoàng Liên Sơn (SaPa 2833 mm) Ở Trung Bộ, trên các đỉnhnúi cao của dãy Trường Sơn, lượng mưa còn lớn hơn (Hòn Ba 3751 mm)

Trang 20

Những nơi có lượng mưa trung bình là đồng bằng Bắc Bộ và dải đồng bằngmiền Trung từ Quảng Ngãi đến Phú Yên (Hà Nội 1676 mm, Quy Nhơn 1692mm) Những nơi mưa ít nhất là đồng bằng cực Nam Trung Bộ (Phan Rang

653 mm, Mũi Dinh 757 mm) và các thung lũng ở miền núi như Mường Xén(Nghệ An) lượng mưa hằng năm chỉ có 643 mm Việt Nam là nước có số ngàymưa trung bình hằng năm khá lớn, từ 100 - 150 ngày

Nét nổi bật trong chế độ mưa là mưa theo mùa Mùa khô ít mưa, cótháng không có mưa Còn mùa mưa thì lượng mưa chiếm tới 80 - 85% lượngmưa cả năm và tháng mưa ít nhất cũng phải từ 100 mm trở lên, tháng mưanhiều nhất có thể 300 - 600 mm Và mùa mưa ở Việt Nam diễn ra tại các khuvực có sự khác nhau

Khí hậu Việt Nam có diễn biến rất thất thường Nguyên nhân chủ yếucủa tính chất này là do ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ gió mùa Tùy thuộcvào diễn biến từng năm của gió mùa Đông Bắc hay gió mùa Tây Nam mà khíhậu Việt Nam có những biến động khá phức tạp Tính chất thất thường thểhiện trước hết qua diễn biến và đặc trưng của mùa khí hậu Có năm gió mùaĐông Bắc hoạt động mạnh, đem đến một mùa đông rét và kéo dài, song cónăm gió mùa Đông Bắc hoạt động yếu, gây nên thời tiết nóng đến sớm bấtthường Gió mùa Tây Nam cũng có năm gây mưa nhiều và lũ lớn, có năm lạihoạt động yếu thậm chí gây ra cả hạn hán trong mùa hạ

Sự biến động trong chế độ mưa luôn xảy ra trên phạm vi toàn lãnh thổ,

có những biểu hiện rõ nét và gây nhiều tác hại lớn hơn Sự bất thường này thểhiện ở sự biến động của lượng mưa hàng năm, lượng mưa từng mùa và lượngmưa trong từng tháng Sự biến động lượng mưa hằng năm thường được biểuthị bằng tỉ số lượng mưa của năm mưa nhiều nhất với lượng mưa của nămmưa ít nhất Do tính chất thất thường của chế độ mưa mà việc chống hạn,

Trang 21

chống úng ngập thường xuyên phải đặt ra ở mọi nơi và việc tưới tiêu phảiđược đưa lên thành các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp hàng đầu.

Sự diễn biến thất thường của khí hậu Việt Nam còn được biểu hiện rõrệt trong hoạt động của bão Bão ở Việt Nam thường được phát sinh từ khuvực Biển Đông (chiếm 40% tổng số cơn bão) và vùng biển phía tây Thái BìnhDương (chiếm 60% tổng số cơn bão) Đây cũng là một trong những trung tâmlớn phát sinh và hoạt động mạnh của bão trên thế giới Các cơn bão nhiệt đớiđược hình thành trên vùng biển nóng, có độ ẩm cao và tình trạng rất bất ổnđịnh của khí quyển, nên thường xảy ra vào thời kỳ mùa hạ và đã trở thành quyluật mùa

Mùa bão ở Việt Nam thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 12 và xuấthiện sớm ở khu vực phía Bắc, chậm dần đối với khu vực phía Nam Bão ởViệt Nam có phạm vi ảnh hưởng khá rộng Mỗi khi có bão thường gây ảnhhưởng tới nhiều địa phương Khi bão đổ bộ vào đất liền, tốc độ gió đã giảm đi

rõ rệt và ảnh hưởng trong phạm vi 50 – 100 km rồi tan Bão có sức tàn phámạnh và gây mưa to nên hay gây ra những thiệt hại lớn, đặc biệt trong mùamưa lũ Thông thường, mưa do bão có thể chiếm 30 – 45% lượng mưa củamùa mưa Vì thế, những năm không có bão hoặc ít bão, lượng mưa cả nămgiảm đi rõ rệt

1.1.4 Thủy văn

Sông ngòi Việt Nam có mạng lưới dày đặc, nguồn nước phong phú,nhiều phù sa Nhờ có nguồn cung cấp nước dồi dào nên Việt Nam có tới 2360sông lớn nhỏ, có chiều dài từ 10 km trở lên Sông suối đã tạo nên một mạnglưới dày đặc trên khắp mọi miền đất nước, với mật độ trung bình khoảng0,66km/1km² diện tích lãnh thổ Nơi có mật độ mạng lưới sông thấp là cácvùng núi đá (chủ yếu ở miền Bắc) và vùng có khí hậu khô cạn (ở cực NamTrung Bộ), nơi có mật độ sông suối lớn, trên 1,5 km/km² là ở các khu vực

Trang 22

miền núi cao có sườn đón gió Các vùng đồng bằng châu thổ có mật độ mạnglưới sông đạt giá trị cao nhất, do ngoài sông suối tự nhiên, nơi đây còn có hệthống mương máng, kênh rạch chằng chịt.

Đại bộ phận sông ngòi Việt Nam chảy theo hướng Tây Bắc – ĐôngNam và tất cả các sông đều đổ ra Biển Đông, tiêu biểu là các sông Chảy, sôngHồng, sông Đà, sông Thái Bình, sông Mã, sông Cả, sông Gianh, sông ĐàRằng, sông Tiền, sông Hậu Điều đáng chú ý là trên một số hệ thống sông lớn

ở Việt Nam, mạng lưới sông có dạng nan quạt nên có khả năng tập trung nướcrất nhanh Vào mùa mưa lũ, khi có mưa lớn trên một diện rộng, nước sôngdâng lên nhanh chóng nên rất dễ gây ra lũ lụt

Do ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa nên sông ngòi ViệtNam có chế độ nước đơn giản, trong năm chỉ có một mùa lũ và một mùa cạn.Tuy nhiên, các sông ngòi ở miền Trung lại có thêm một đỉnh lũ tiểu mãn, chủyếu xảy ra vào các tháng 5, 6 do các trận mưa dông nhiệt đầu mùa hạ mang lạitrong khi ở đây vẫn còn đang là các tháng mùa khô Như vậy, lũ tiểu mãncùng với chế độ mưa khác biệt với miền Bắc và miền Nam đã tạo ra một kiểuthủy chế riêng cho khu vực này

Mùa lũ của sông ngòi kéo dài từ 3 - 6 tháng, trung bình là 4 - 5 tháng.Trung bình lượng nước trong mùa lũ chiếm tới 70 - 80% tổng lượng nước cảnăm

Mùa cạn trên các triền sông ở Việt Nam thường kéo dài hơn mùa lũ.Thời kỳ mùa cạn kéo dài trung bình là 7 - 8 tháng, với lượng nước nhỏ, chỉchiếm từ 20 - 30% tổng lượng nước cả năm

Chế độ nước của sông ngòi Việt Nam thường hay có những biến độngthất thường, lệ thuộc vào diễn biến bất thường của thời tiết Có những năm ởmột số nơi đã có xuất hiện lũ cao trong thời kỳ mùa cạn do có lượng mưa khálớn Ở những vùng hạ lưu và cửa sông những năm có lượng nước cạn kiệt, sẽ

Trang 23

tạo điều kiện cho thủy triều xâm nhập sâu hơn vào đất liền và gây nên tìnhtrạng nhiễm mặn (điển hình là ở đồng bằng sông Cửu Long) Tuy vậy, sự biếnđộng thất thường trong chế độ dòng chảy thường được biểu hiện rõ nét nhấtvào thời kỳ mùa lũ Trên tất cả các triền sông thường diễn ra sự biến động vềlượng nước và thời gian xảy ra lũ lớn Và sự biến động rất lớn so với chỉ sốtrung bình nhiều năm cũng diễn ra không theo quy luật thời gian Có nhữngnăm lũ về rất sớm, nhưng cũng có năm lũ xảy ra muộn Điều này gây rấtnhiều trở ngại cho các vùng không có hệ thống đê điều ngăn lũ.

1.1.5 Biển Đông

Việt Nam có vùng bờ biển rộng trên 1 triệu km² và đường bờ biển dàihơn 3260 km Trên vùng biển Việt Nam có 2773 đảo lớn nhỏ ven bờ và 2quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Biển Đông là biển lớn thứ hai trong số các biển ở Thái Bình Dương vàthứ ba trên thế giới Biển Đông có vùng thềm lục địa vào loại rộng nhất thếgiới, khoảng 1,5 triệu km² trong đó tập trung nhiều nhất ở khu vực vịnh Bắc

Bộ, vịnh Thái Lan và thềm lục địa từ Cà Mau đến Xingapo Biển Đông ởtrung tâm khu vực Đông Nam Á, lại nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên

có khí hậu nóng và có sự thay đổi theo mùa Khu vực Nam Biển Đông, từquần đảo Hoàng Sa trở xuống quanh năm nóng Càng lên phía bắc, do ảnhhưởng của không khí cực đới và dòng biển lạnh ven bờ, nhiệt độ không khí vànước biển càng thấp Ở khu vực vịnh Bắc Bộ cho đến eo biển Đài Loan vàothời kỳ hoạt động mạnh của gió mùa Đông Bắc nhiệt độ nước biển có thểxuống tới 15ºC

Biển Đông cũng như khu vực nhiệt đới Tây Thái Bình Dương là mộttrong những trung tâm bão lớn trên thế giới, hằng năm gây nên những thiệthại đáng kể cho các quốc gia trong khu vực và các hoạt động trên biển

Thực tế lịch sử đã chứng minh giữa tự nhiên và sự phát triển có mối

Trang 24

quan hệ hết sức chặt chẽ, tự nhiên là địa bàn và đối tượng của sự phát triển,còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của tự nhiên Tác động củaquá trình phát triển đến tự nhiên góp phần cải tạo môi trường tự nhiên hoặctạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó, nhưng cũng có thể gây ra ô nhiễmmôi trường tự nhiên hoặc nhân tạo Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng thờicũng tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội thông qua việc làm suy thoáinguồn tài nguyên đang là đối tượng của hoạt động phát triển hoặc gây ra thảmhoạ, thiên tai đối với các hoạt động kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Trongmối quan hệ đó, địa lý tự nhiên Việt Nam tạo nên những thuận lợi nhưng cũnggây không ít khó khăn như bão lụt, hạn hán, mưa đá, động đất có ảnh hưởngtới mọi hoạt động và đời sống của con người.

1.2 Vài nét về tai biến tự nhiên trước thế kỷ XIX

1.2.1 Thời kỳ dựng nước

Trong buổi đầu dựng nước dưới thời Hùng Vương, nền nông nghiệpđịnh cư đã có những tiến bộ vượt bậc, với thành tựu trong việc nắm giữ quyluật sinh trưởng và phát triển của lúa nước và đã thuần hóa được rất nhiềugiống lúa khác nhau Tuy nhiên, trong điều kiện thiên nhiên nhiệt đới, cư trútrên lưu vực và châu thổ những con sông lũ lụt hung dữ, với khí hậu, thời tiếtkhắc nghiệt, có thể hình dung rằng trong buổi ban đầu hạn hán, lũ lụt cùng cáchiện tượng tai biến tự nhiên khác gây cho con người rất nhiều khó khăn

Đến thời đại Văn Lang, con người bắt đầu nhận thức ra rằng “ thiên

nhiên Việt Nam chứa đựng nhiều của cải Song cái thiên nhiên nhiệt đới gió mùa ẩm ướt này cũng rất khắc nghiệt đối với con người thuở xa xưa Một thiên nhiên còn nhiều phần hoang dại Rừng rậm Hổ voi Đầm lầy Cá sấu Bão tố và lụt lội Nắng cháy và hạn hán Con người Việt Nam thời cổ trước hết phải đùm bọc nhau, đồng cam cộng khổ, sáng tạo kỹ thuật, mài đồ đá, đúc

đồ đồng, tiến công vào thiên nhiên Họ chống thú dữ Họ tìm hiểu cỏ cây có

Trang 25

ích Họ phá rừng lập ấp, gác gỗ dựng nhà sàn Họ đẽo thuyền, kết mảng, dựng cột buồm…” [36, tr 22] Tiếp sau đó, khi đã thiết lập được một nền

nông nghiệp định cư, con người ngày càng ý thức rõ được rằng thiên tai vôcùng khắc nghiệt và gắn liền với nền nông nghiệp trồng lúa, từ đó tìm cáchđối phó, ngăn chặn, khắc phục hoặc ít nhất cũng có khát vọng, ước mơ chếngự được để sinh tồn và phát triển

Biện pháp phòng chống và khắc phục sơ khai mà cư dân Lạc Việt lựa

chọn là “ Ruộng Lạc theo nước triều lên xuống mà làm” [36, tr 46] Và có

thể ban đầu họ chỉ trồng cấy ở vùng đất tương đối cao, lũ ngập không sâu, họtìm cách be bờ để ngăn nước lụt tràn vào Đến nay chưa thể khẳng định đượclịch sử ra đời của những bờ thửa, bờ vùng sơ khai ấy Việc làm đơn giản đầutiên ấy có thể là của một vài gia đình Nhưng bờ thấp thì lũ hay tràn vào, hàngnăm họ lại phải đắp cao lên Nhưng đến một mức nào đó thì lũ lại không trànqua bờ mà theo những nẻo đất khác tuy cao hơn ruộng của họ nhưng lại thấpthua bờ vùng, bờ thủa Sự kiện ấy diễn đi diễn lại nhiều lần cho đến khi nhậnthức ra rằng phải đắp những bờ vùng vừa cao, vừa dài, bao quanh che chở cảmột vùng rộng lớn Công việc này đòi hỏi phải có nhiều lao động, phải biết tổchức nhau lại và cùng nhằm bảo vệ lợi ích chung của từng vùng Điều kiệnnày phù hợp với giai đoạn cuối Văn Lang, đầu Âu Lạc

Truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh nói về đời vua Hùng Vương thứ

18 cũng là điều hợp lẽ Lúc này có thể tổ chức xã hội tiến bộ đã cho phép họ

tổ chức nhau lại để đắp lên những con đê khoanh vùng Những con đê khoanhvùng này nằm rải rác đó đây, ban đầu có thể là ngăn những bờ sông, bờ suốinhỏ, dần dần nhu cầu trị thủy càng lớn và tổ chức xã hội cho phép họ đã đắpnên những con đê khoanh vùng lớn như các thư tịch cổ từ buổi đầu công

nguyên đã mô tả Tác giả Giao Châu kí đã chép: “Huyện Phong Khê đã có đê

để phòng nước sông Long Môn” [36, tr 48] Long Môn là tên cổ của sông

Trang 26

Đà Hán thư quận huyện chí cũng chép: “Phía Tây Bắc huyện Long Biên

quận Giao Chỉ đã có đê để đề phòng nước sông” [36, tr 53] Như vậy, có thể

khẳng định những con đê đã có từ trước khi những người Trung Hoa đầu tiênđặt chân đến đất nước ta

Theo di tích khảo cổ cùng với những thư tịch cổ, vào khoảng thế kỷ IIITCN, ở nước ta đã trải qua thời đại đồng thau cực thịnh và đang bước sanggiai đoạn đồ sắt Nông nghiệp đã trở thành nguồn sống chính Trong nôngnghiệp đã sử dụng công cụ đồng, sắt và cày bừa do trâu bò kéo Ngoài lúa,khoai, ngô, đậu đã phát triển thêm nghề trồng dâu, chăn tằm, trồng mía làmđường Do đó, nhu cầu mở rộng diện tích canh tác đã đòi hỏi những ngườidân Việt cổ phải khai phá đồng bằng, thường xuyên đối mặt với lũ lụt mà họchỉ còn hai cách lựa chọn: hoặc rút lui hoặc đấu tranh để tồn tại và phát triển.Bằng chứng của chiến thắng là sự triển khai mạnh mẽ xuống vùng đồng bằngcủa người Âu Lạc, kéo theo sự dời đô của quốc gia từ Nghĩa Lĩnh vùng núixuống Cổ Loa – một vùng đất thấp sát với đồng bằng

1.2.2 Thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc

Vào buổi đầu công nguyên, theo sử cũ thì phong kiến Trung Quốc saukhi chiếm được Âu Lạc đã từng đóng lỵ sở đô hộ tại thành Liên Lâu (ThuậnThành - Bắc Ninh) Việc đó chắc chắn không thể thực hiện được nếu nhưkhông có những con đê khoanh vùng quy mô hơn Bởi những vùng đất thấpnhư vậy trong điều kiện tự nhiên của lũ sông Hồng hằng năm sẽ bị ngập sâuvài ba mét trong một vài tháng Gần 1000 năm dưới ách thống trị của phongkiến Trung Quốc, đất nước Âu Lạc rất kém phát triển Loạn lạc liên miên, dân

cư phiêu tán, bọn thống trị tranh giành quyền lực, chém giết lẫn nhau… Việcđắp đê ngăn nước chắc có phát triển nhưng chậm chạp không được ghi vàosách Nhưng theo một số sử liệu, vào thời kỳ này cùng với những biến đổitrong cơ cấu kinh tế, xã hội và đời sống nhân dân, các công trình thủy lợi vẫn

Trang 27

tiếp tục phát triển Hệ thống đê điều đã dần hình thành dọc những sông lớn ởđồng bằng Bắc Bộ Nhiều kênh ngòi được đào thêm hay được nạo vét lại.

Theo Giao châu ký, ở huyện Phong Khê (miền Vĩnh Phú cũ và Đông Anh, ngoại thành Hà Nội) có đê phòng lụt Theo Hậu Hán thư, miền đất nước ta ở

thế kỷ I có nhiều kênh ngòi

Đến thế kỷ IX mới có nói đến việc Cao Biền bắt dân ta đắp đê baoquanh thành Đại La (vùng trung tâm Hà Nội ngày nay) Đê dài 2125 trượng 8thước (khoảng 8500m), cao 1 trượng 5 thước (khoảng 6m), chân đê rộng 2trượng (khoảng 8m) Việc đắp một con đê quy mô như vậy, qua nhiều địa hìnhphức tạp như dấu vết còn lại này, hẳn đã đánh dấu một trình độ kỹ thuật đắp

đê khá cao, tích lũy được khá nhiều kinh nghiệm

Nhưng dù sao trong hàng thiên niên kỷ tiếp sau đó và mãi mãi về saunày, lũ lụt, hạn hán cùng các tai biến tự nhiên khác vẫn là mối thiên tai đe dọathường xuyên đến đời sống và sản xuất Và chỉ từ khi xây nền tự chủ, ngườiViệt Nam đứng lên quản lý đất nước, ý thức được thiên tai hạn lụt quan hệđến vận mệnh quốc gia, triều đại, khi đó các tai biến tự nhiên mới được ghinhận vào biên niên sử chính thống

1.2.3 Thời kỳ Lý – Trần

Những triều đại đầu của nền tự chủ Ngô – Đinh – Tiền Lê tồn tại ngắnngủi và đầy biến động với họa ngoại xâm và cát cứ nổi lên hàng đầu Nhànước phong kiến chưa đủ sức để lo đến việc chống thiên tai và cũng chưa có

tổ chức biên soạn quốc sử nên nhiều sự kiện không được ghi lại Nhưng chắcchắn là nhân dân các làng xã vẫn tiến hành công việc đắp đê, khoanh vùng để

tự bảo vệ

Vừa mới lên ngôi, Lý Công Uẩn – vị vua đầu tiên của một triều đại

được đánh giá là “mở đầu công việc xây dựng đất nước vào quy mô lớn, đặt

Trang 28

nền tảng vững chắc và toàn diện cho sự phát triển của dân tộc và của quốc gia phong kiến độc lập” [36, tr 151] đã dời đô về Thăng Long.

Thăng Long “ở trung tâm bờ cõi đất nước, được cái thế rồng cuốn hổ

ngồi, vị trí ở giữa bốn phương Đông Tây Nam Bắc tiện hình thế núi sông sau trước…” [36, tr 151] Nhưng địa thế Thăng Long cũng không lấy gì làm cao

so với mực nước sông Hồng mùa lũ, nhất là đối với vùng ngoại thành, phố xá

cư dân Tuy cũng nhiều phen lũ lụt uy hiếp đến kinh thành, nhưng chắc hẳn

cũng đã có đê ngăn lũ lụt, nên Chiếu dời đô mới có đoạn: “ở địa thế rộng mà

bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ về ngập lụt, muôn vật rất phong phú, tốt tươi” [36, tr 151] Việc dời đô về vùng đất như vậy

một mặt khẳng định được khả năng ngăn lũ ở một chừng mực mà kinh thành

có thể an toàn Nhưng mặt khác, cũng đặt ra một mối quan tâm cho triều đình,nhất là những năm nước to liên tiếp

Nhà Lý cũng là một triều đại rất coi trọng nông nghiệp, ban hành nhiềuluật lệ khuyến nông, các vua nhà Lý vẫn giữ lễ cày tịch điền hằng năm Cả haiđiều đó đã thôi thúc nhà Lý phải quan tâm đến việc đắp đê Đắp đê trị thủy đãtrực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của quốc gia không thể phó mặc cho sự tựphát của dân chúng Nhưng cũng mãi đến năm 1077 triều đình mới đứng ra tổ

chức đắp những con đê quy mô lớn Theo Việt sử lược, thì năm đó nhà Lý cho

đắp đê sông Như Nguyệt (sông Cầu) dài 67.380 bộ (khoảng 30 km)

“Năm Quý Mùi (1103), triều Lý Nhân Tông năm thứ 32 niên hiệu Long Phù

3. Mùa xuân tháng giêng, vua xuống chiếu cho trong và ngoài kinh thành đều phải đắp đê ngăn nước lụt” [61, tr 112] Chiếu chỉ đó xác định quyền quản lý

nhà nước đối với công tác đê điều Từ đó trở đi, đê điều là công trình củaquốc gia, các chỉ lệnh về đê điều là luật của triều đình, mọi người dân, mọicấp quan lại phải tôn trọng Đương nhiên cũng không phải là sáng kiến của

Trang 29

vua Lý Trên thực tế thì do đê điều đã phát triển đến mức mà vai trò và vị trícủa nó đã quan hệ đến toàn xã hội, đến vận mệnh của triều đại.

Tình hình đê điều dưới triều Lý hiện nay chúng ta chưa có đầy đủ sửliệu, nhưng chắc chắn công việc đắp đê phòng lụt đã phát triển khá mạnh và

đã có vai trò to lớn trong bảo vệ nông nghiệp, bảo vệ đời sống người dân Vìvậy mà vào cuối triều Lý trong cuộc nội chiến giành quyền lực, phá đê được

coi như một thủ đoạn chiến tranh Ví như năm 1211 Trần Tự Khánh sai tướng

đất Khoái (Hưng Yên) đi đánh Hồng Châu (Bình Giang, Ninh Giang, HảiDương) viên tướng ấy bị bắt, Tự Khánh tức giận đã cho phá đê đổ nước sôngtràn ngập các ấp ấy Năm 1218 Trần Thừa lĩnh các đạo binh đi đánh NguyễnNộn ở Bắc Giang, cũng sai phá đê cho nước lụt tràn vào các hương ấp rồi theo

thế nước mà tiến đánh v.v… [30, tr 23].

Tuy nhiên, công tác đê điều thời Lý cũng chỉ dừng lại ở quy mô nhữngcon đê bảo vệ từng vùng hương ấp, những nơi cần thiết và do khả năng tự tổchức, đóng góp lao động Nhà nước phong kiến chỉ đôn đốc, khuyến khích.Chỉ những con đê quy mô lớn như đê sông Như Nguyệt, đê Cơ Xá v.v… nhànước mới tự đảm đương

Cuối triều Lý, do tranh giành quyền lực nội bộ, vua Lý chẳng nhữngkhông chăm lo đến đê điều mà ngay cả việc triều đình cũng bỏ mặc cho bọngian thần lũng đoạn Thiên tai hạn lụt liên miên, mất mùa đói kém, dân tìnhđói khổ Nông dân nổi dậy khắp nơi đẩy nhà Lý đến chỗ diệt vong, nhà Trầnthay thế, đánh dấu thêm một bước phát triển mới của đất nước

Nhà Trần thấy được nguyên nhân diệt vong của triều Lý nên ngay từbuổi đầu đã chú trọng đến việc khôi phục và phát triển sản xuất nông nghiệpqua mấy chục năm loạn lạc dưới triều Lý tàn phá

Nhà Trần chủ trương mở rộng thêm diện tích cư trú và nông nghiệp đểtạo việc làm cho dân tứ tán, khuyến khích tư nhân khai hoang Một trong

Trang 30

những kết quả mang lại là cư dân và đất nông nghiệp đã từng bước được mởrộng xuống các vùng trũng thấp, cửa sông, ven biển v.v… Lúc đầu chắc chắnnhà Trần cũng vẫn tiếp tục chính sách đắp đê thời Lý Nhưng dần dần do đòihỏi của đất đai sản xuất và cư trú, nhiều mâu thuẫn đã phát sinh, phát triểnđến mức không còn chấp nhận được nữa Bản thân những con đê thấp nhỏ đãkhông đủ sức bảo vệ đối với mực nước lũ ngày một dâng cao do nơi này đắpdồn ứ sang nơi khác Cả con đê Cơ Xá bảo vệ kinh thành cũng bất lực TriềuTrần Thái Tông nhiều năm nước lụt tràn ngập vào cả cung điện Chính điềunày đã giúp nhà Trần nhận thức được rằng muốn bảo vệ được toàn cục, toàn

diện phải quy hoạch đê điều theo quy mô dòng sông “Năm Mậu Thân (1248)

Trần Thái Tông năm thứ 24 mùa xuân tháng 3, sai các lộ đắp đê giữ nước sông gọi là đê Đỉnh Nhĩ, đắp suốt từ đầu nguồn cho đến cửa bể để giữ nước lụt tràn ngập Đặt chức hà đê, chánh phó sứ để trông coi Chỗ thấp thì xem đắp bao nhiêu ruộng của dân theo giá trả tiền Đắp đê Đỉnh Nhĩ bắt đầu từ đấy” [20, tr 28] Như vậy là từ Trần Thái Tông, nhà nước đã trực tiếp quản lý

và chỉ huy việc đắp đê theo triền sông để bảo vệ lợi ích của toàn dân và đã cómột tổ chức chuyên trách nằm trong bộ máy nhà nước Về lao động, đắp đêchắc chắn là phải huy động toàn dân kể cả binh lính Về tiền của mua sắmdụng cụ, thù lao v.v… tuy không thấy sử cũ nói đến nhưng có lẽ nhà nướccũng bỏ vốn đầu tư khá lớn, bởi vì những ruộng đất bị đê choán lấp đều đượctheo giá trả tiền

Việc đắp đê Đỉnh Nhĩ đến thời Trần là việc làm bắt buộc hàng năm đối

với mọi tầng lớp trong xã hội Cao Hùng Trưng viết: “Năm nào cũng vậy, cứ

đầu năm các quan coi đê phải lo đốc thúc dân phụ cận, không kể sang hèn, già trẻ đều phải đi đắp Chỗ nào thấp thì gia cao lên, chỗ nào lở thì bồi bổ lại Đến mùa hè thì tất công Đây là công việc làm hằng năm” [30, tr 26].

Trang 31

Ngoài việc đắp đê, nhà Trần còn rất coi trọng công tác hộ đê phòng lụt,

đặt thành trách nhiệm cho chính quyền các cấp: “Năm nào cũng vậy, vào

tháng sáu, tháng bảy (mùa lũ) các viên đê sứ phải thân đi tuần hành, thấy chỗ nào non phải tu bổ ngay, hễ biếng nhác không làm tròn phận sự để đến nỗi trôi dân cư, ngập lúa mạ, sẽ tùy tội nặng nhẹ mà khiển phạt” [20, tr 32].

Nhà Trần huy động toàn dân vào việc hộ đê, bản thân các vua nhà Trầncũng luôn nêu cao tinh thần đó Sử cũ còn nhắc lại sự kiện năm Ất Mão(1315) niên hiệu Đại Khánh 2 Năm ấy nước sông lên to Vua Trần Minh

Tông thân đi coi sóc hộ đê Quan ngự sử can rằng: “Bệ hạ nên chăm sửa sang

đức chính, đắp đê là việc nhỏ đi xem làm gì?” Bấy giờ quan hành khiển Trần

Khắc Chung cùng đi theo nhà vua đáp lại rằng: “Thần dân gặp nạn lụt, người

làm vua phải lo cấp cứu, sửa sang đức chính không có gì to bằng việc ấy, cần

gì phải ngồi yên lặng mới là sửa sang đức chính” [20, tr 154] Nhà vua cho là

đúng nên vẫn đi hộ đê

Công cuộc đê điều phòng lụt dưới triều Trần tuy còn có nhiều hạn chế

về kỹ thuật trị thủy, về công cụ lao động và nhiều điều kiện kinh tế - xã hộikhác v.v… nhưng đã có tác dụng lớn lao trong việc bảo vệ sản xuất và đờisống xã hội Công việc đó vừa mang lại lợi ích cho toàn dân, vừa mang lại lợiích cho giai cấp thống trị

1.2.4 Thời kỳ hậu Lê

Cuối triều Trần, bọn vua chúa quý tộc đi vào con đường thoái hóa, ănchơi xa xỉ, không chăm lo gì đến đời sống nhân dân cũng như tình hình pháttriển kinh tế - xã hội Loạn lạc nổi lên khắp nơi, mọi quy củ triều chính bị đảolộn Nhân đó Hồ Quý Ly tiêu diệt nhà Trần và lập lên nhà Hồ Nhà Hồ cónhiều tham vọng Về kinh tế, ban đầu tuy có ban hành một số cải cách nhưngphần nhiều lại làm mất lòng dân Mặt khác, sứ mệnh lịch sử của nhà Hồ lúcnày là lo đối phó với âm mưu xâm lược của nhà Minh nên hầu như không có

Trang 32

một bước tiến lớn nào về xây dựng, phát triển kinh tế và ổn định xã hội Haichục năm trời tiếp theo nhà Hồ, là nạn xâm lược và chiến tranh giải phóng.Trong bối cảnh đó, vấn đề chăm lo đến đời sống nhân dân hay việc giải quyếtnhững khó khăn trong đời sống sản xuất nông nghiệp như thiên tai, dịch bệnhcũng ít được quan tâm.

Sau khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi thắng lợi hoàn toàn, đấtnước ta bước vào thời kỳ hưng thịnh mới: nhà Lê Ngay từ buổi đầu nhà Lê đãphải đối phó với những khó khăn lớn là hàn gắn vết thương chiến tranh, khôiphục và phát triển nông nghiệp Chiến tranh đã làm cho nông dân phân tán,đồng ruộng bỏ hoang, đê điều bị hư hỏng Với chính sách coi trọng nôngnghiệp, trong những năm cuối của cuộc chiến tranh giành độc lập, giải phóngđến đâu, nhà Lê có chính sách khuyến khích nông dân trở về quê cũ để vừacày cấy, vừa đánh giặc Khi đất nước thoát khỏi ách thống trị của giặc Minh,nhà Lê tích cực khôi phục nông nghiệp

Từ năm Giáp Thân (1464) dưới triều Lê Thánh Tông trở đi, sử sách mớinói đến đê điều đắp mới Đê ngăn mặn lúc này mới được đắp quy mô NămĐinh Hợi (1467), niên hiệu Quang Thuận 8, gió bão, nước biển dâng cao, đêbiển các vùng Nam Sách, Thái Bình và Kiến Xương bị vỡ Các huyện

ở đầu nguồn Nghệ An cũng vậy Vua Lê Thánh Tông hạ lệnh cho ngự sử đến

ba đạo: Đông, Tây, Nam ở ven biển để khám xét bờ và cho bồi đắp [30, tr.30].Đây là những đợt đắp đê ngăn mặn do Nhà nước chủ trương được ghi nhậnđầu tiên trong sử sách Quy mô và tác dụng chắc cũng to lớn hơn rất nhiều so

với những đê ngăn mặn thời Trần.

Việc bồi đắp đê Đỉnh Nhĩ hằng năm lúc này đã trở thành truyền thống.Biên niên sử chỉ ghi lại những sự kiện định ra luật lệ hoặc xây dựng nhữngcông trình mới, hoặc những sự kiện huy động nhân lực trên quy mô lớn

Trang 33

Cuộc tranh giành ngôi giữa nhà Lê – nhà Mạc kéo dài gần hai phần bathế kỷ Tình trạng cát cứ tạm thời, nay Lê mai Mạc ở trên mọi vùng đất nướckhông cho phép đắp thêm đê mới Nhưng chắc chắn là nhân dân các địaphương vẫn phải chủ động bồi trúc đê chống lũ nhằm đảm bảo việc sản xuấtnông nghiệp.

Đến khi chúa Trịnh khôi phục nhà Lê, tiêu diệt hoàn toàn nhà Mạc, ổnđịnh triều chính một thời gian dài mới thấy nói đến việc đắp đê Năm Canh Tý(1600) cho đắp đê từ huyện Chương Đức đến huyện Mỹ Lương Đê này là đêsông nhánh phía hữu Hồng, vùng hữu ngạn sông Đáy Nhà Lê lại đã tiến hànhmột đợt bồi trúc toàn hệ thống đê sông Hồng Sử chép năm Mậu Tý (1708)

niên hiệu Vĩnh Thịnh 4, vua Lê Dụ Tông: “ Mùa thu tháng 8 hạ lệnh sửa đắp

đê sông Nhị Hằng năm nước sông Nhị tràn ngập Đê có nhiều chỗ khuyết liệt Triều đình bèn hạ lệnh sai hai ty Trần thủ (quân sự) và thừa chính (hành chính) đốc thúc dân phu, tùy theo địa thế mà bồi đắp sửa chữa có lợi cho dân” [30, tr 31].

Như vậy, dưới triều Lê về quy mô đã có hai hệ thống đê sông và đêbiển Về đê sông đã đắp từ sông lớn đắp lên một số chi lưu quan trọng, thiếtyếu cho kinh tế và xã hội Đê biển đã phát triển thành từng dải nối liền cáccửa sông, ngăn mặn cho từng vùng rộng lớn Nhiều nơi có kè đá mài ngoài đểchống sóng biển, đánh dấu một bước tiến bộ mới so với thời Trần

Về tổ chức và luật lệ đê điều chống lụt, nhà Lê chẳng những đã duy trìcác tổ chức và chính sách nhà Trần mà còn có những bổ sung và sửa đổi Bêncạnh tổ chức “hà đê”, năm 1467 Lê Thánh Tông đặt thêm chức “khuyếnnông” để cùng phối hợp giữa đôn đốc phòng lụt với khuyến nông, phục hồisản xuất sau lũ lụt Trách nhiệm kiểm tra đôn đốc các quan hà đê và khuyếnnông nhà vua giao cho chính quyền các cấp đạo, phủ, huyện

Trang 34

Năm Giáp Thân (1664) vua Lê Huyền Tông ban hành điều lệ quy định

công việc hằng năm khá chặt chẽ “ Cứ tháng 10 hàng năm, Ty Thừa chính

các xứ sức cho các huyện hạt đi khám đê Những chỗ cần sửa đắp nếu là công trình nhỏ thì chiếu cho xã nào thế nước (lụt) có thể lên đến thì sức cho dân xã ấy tự làm công việc sửa đắp, việc sửa đắp này do huyện trông coi thúc dục, nếu là công trình lớn thì hạ lệnh cho quan (tỉnh, huyện) đôn đốc Hằng năm cứ sơ tuần tháng giêng khởi công, đến trung tuần tháng ba, công việc phải làm xong Thể lệ này đặt thành lâu dài” [21, tr 15].

Đến năm Bính Thân (1716) vua Lê Dụ Tông bổ sung thêm vào điều lệ

sửa chữa đắp đê điều: “Hằng năm sau khi nước lụt đã rút, truyền báo cho các

quan huyện đến đầu mùa xuân năm sau, hết thảy đều phải đi khám xét đê ven sông thuộc địa hạt mình Ở địa hạt nào có những chỗ sụt thấp thiếu khuyết,

vỡ lở hoặc thẩm lậu thì phải đốc thúc dân sở tại và dân một hai xã lân cận hợp sức nhau lại bồi đắp như cũ Đến kỳ tháng ba, triều đình sai đi cộng đồng khám lại, nếu có đoạn đê nào bồi đắp rồi mà không kiên cố thì đều có luật tùy tội nặng nhẹ mà khiển phạt” [30, tr 32].

Đời Lê tổ chức hà đê và khuyến nông có từ cấp đạo đến huyện Nhưngchính quyền các cấp đạo, huyện vẫn phải chịu trách nhiệm chính Thỉnhthoảng triều đình còn cử quan trong triều đi kiểm tra, khám xét Chức xãtrưởng do dân cử ngoài việc chung còn phải chịu trách nhiệm về đê điều vàkhuyến nông trong xã

Về vấn đề thưởng phạt trong công tác đê điều, nhà Lê đã quy địnhthành luật pháp Khi đê vỡ, quan thừa ty (quan đạo) có thể bị tội đồ (đày đếnnơi xa), quan phủ huyện bị tội lưu (giam) Nhiều quan lại đã bị xử phạt nhưvậy

Năm Mậu Thân (1668), Tham chính sứ Sơn Tây bị bãi chức vì đốc thúcviệc đắp đê chậm kỳ và làm dối Năm Canh Tuất (1680) lại một tham chính

Trang 35

khác của Sơn Tây bị giáng chức vì cớ kê khai việc đắp đê chậm Tuy nhiên,chỉ những vụ khiển phạt lớn mới được ghi vào biên niên sử.

Để có vốn đầu tư vào việc đắp đê, nhà Lê đã hạ lệnh cho các xã dânphải chiểu theo số ruộng và số dân trong vùng có đê mà nộp tiền Công trìnhnhỏ thì bắt dân tự làm Công trình lớn thì nhà nước trả tiền thù lao, hoặc bắtdân làm rồi trừ vào thuế Việc phân cấp sửa đắp đó, phản ánh một thực tế làvào triều Lê, hệ thống đê điều đã phát triển Ngoài đê sông lớn có đê sôngnhỏ, buộc nhà nước phải phân cấp xây dựng và quản lý

Có thể nói, những thập kỷ cuối thế kỷ XVII – đầu thế kỷ XVIII, côngcuộc đê điều ở nước ta đã có những tiến bộ vượt hơn thời Trần cả về quy mô,

về tổ chức chính sách cũng như trình độ khoa học kỹ thuật Đáng tiếc là tronggần một trăm năm Lê mạt – Nguyễn sơ đất nước đắm chìm trong chiến tranhhuynh đệ tương tàn, xã hội rối ren, kinh tế kiệt quệ, những vấn đề chăm lo đờisống sản xuất, khắc phục hậu quả tai biến tự nhiên để ổn định sản xuất nôngnghiệp cũng không được quan tâm chú ý

Trang 36

xã hội là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của tự nhiên Cùng trong mối quan

hệ đó, địa lý tự nhiên Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thànhnên các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, tạo ra những điềukiện thuận lợi để phát triển kinh tế đa ngành từ khoáng sản, thủy năng đếnnông - lâm - thủy - hải sản, đáp ứng nhu cầu xây dựng và phát triển đất nước,nâng cao đời sống của nhân dân

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi mà tự nhiên mang lại, nhữngkhó khăn gặp phải cũng không ít Điều này đã dẫn tới việc hình thành trongtâm thức của người Việt Nam từ rất sớm “ước mơ” đối phó, chế ngự đượcnhững thiên tai khắc nghiệt, sự hung hãn của trời - đất để sinh tồn và pháttriển

- Lịch sử Việt Nam từ thời dựng nước đến thời nhà Nguyễn và cho đếnngày nay đã ghi nhận các hiện tượng tai biến tự nhiên, đặc biệt là những taibiến tự nhiên nguy hiểm có ý nghĩa như những sự kiện lịch sử về thiên tai

Cuộc đấu tranh chống tai biến tự nhiên trước triều Nguyễn, bắt đầu từthời kỳ dựng nước, qua thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc, đến thời Lý – Trần, Lê –Trịnh từng bước củng cố và phát triển qua thực tế, đúc rút thành những kinhnghiệm lịch sử, biện pháp phòng chống thiên tai, dịch bệnh Ở mỗi thời kỳ,khi các tai biến tự nhiên xảy ra với tần suất và mức độ khác nhau, trong nhữngbối cảnh xã hội, lịch sử khác nhau, giai cấp cầm quyền cơ bản đều đưa ranhững biện pháp phòng chống, khắc phục nhằm đảm bảo đời sống nhân dân,góp phần ổn định đời sống chính trị, kinh tế và xã hội

Trang 37

Chương 2 TAI BIẾN TỰ NHIÊN DƯỚI THỜI NGUYỄN

(1802 – 1858)

Biên niên sử nhà Nguyễn ghi chép khá đầy đủ về những hiện tượng taibiến tự nhiên xảy ra Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn,chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu một số tai biến tự nhiên xảy ra với cường độ, tầnsuất nhiều nhất, thường xuyên nhất, trên địa bàn rộng nhất và gây ảnh hưởnglâu dài nhất tới cuộc sống của người dân Các tai biến tự nhiên đó là lũ bão,hạn hán, dịch bệnh, sâu bệnh, động đất

2.1 Lũ bão

2.1.1 Các khái niệm cơ bản

Nước sông, suối luôn biến đổi theo mùa Vào mùa khô hay mùa mưa ít,dòng sông cạn kiệt, nước trong xanh, chảy êm đềm Trái lại, vào mùa mưa,nước sông từng đợt, từng đợt dâng cao, nước đục ngầu, chảy xiết Người tagọi thời kỳ nước sông cạn kiệt là mùa cạn, còn thời kỳ nước sông dâng cao làmùa lũ

“Lũ” là hiện tượng nước sông dâng cao trong một khoảng thời gian

nhất định, sau đó giảm dần Trong mùa mưa lũ, những trận mưa từng đợt liên tiếp trên lưu vực sông, làm cho nước sông từng đợt nối tiếp nhau dâng cao, tạo ra những trận lũ trong sông suối Lũ lớn và đặc biệt lớn nhiều khi gây ra những thiệt hại to lớn về người và của cải.

“Bão” là trạng thái nhiễu động của khí quyển và là một loại hình thời

tiết cực trị Ở Việt Nam, thuật ngữ “bão” thường được hiểu là bão nhiệt đới,

là hiện tượng thời tiết đặc biệt nguy hiểm chỉ xuất hiện trên các vùng biển nhiệt đới, thường kèm theo gió mạnh và mưa lớn.

Trang 38

Đặc trưng có bản của lũ ở nước ta, do nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới ẩm,gió mùa là do mưa sinh ra Trận lũ (hay con lũ) là do một trận mưa trên lưuvực gây ra, làm cho mực nước trong sông dâng cao dần cho tới khi đạt tới caonhất (đỉnh lũ), sau đó mực nước hạ thấp dần cho đến khi xấp xỉ bằng mựcnước khi bắt đầu dâng cao Ngập lụt xảy ra khi lũ trong sông quá lớn, nước lũtràn qua bờ sông chảy vào các vùng thấp ven sông, thậm chí có khi lũ lớn gây

ra vỡ đê cũng làm cho một vùng rộng lớn ở hai bên bờ sông ngập chìm trongnước Lũ lụt thường gây thiệt hại to lớn ở các châu thổ, đặc biệt là châu thổsông Hồng và sông Cửu Long

Do đó, lũ bão từ lâu đã được ông cha ta xếp vào một trong những loạithiên tai nguy hiểm nhất, gọi là “thủy tai”

2.1.2 Tình hình lũ bão dưới thời Nguyễn

Dưới thời Nguyễn, lũ bão là loại tai biến tự nhiên có tần suất, cường độxảy ra nhiều nhất, thường xuyên nhất, ở các địa phương trên phạm vi cả nước.Qua tìm hiểu, nghiên cứu các nguồn tư liệu, chúng tôi đã tổng hợp và thống

kê về tình hình lũ bão dưới thời Nguyễn bằng hình thức bảng biểu

Thống kê tổng hợp về lũ bão dưới thời Nguyễn (1802 – 1858)

STT Thời gian

Ngày đăng: 27/10/2020, 22:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w