1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức trẻ trên địa bàn thành phố hà nội

166 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 708,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan một số công trình nghiên cứu về sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng.. Các công trình nghiên cứu về sự hài lòng với hôn nhân dưới góc độ tâm lýhọc với tư cách một nghi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Trịnh Thị Linh- Giảng viên khoa Tâm lý học, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Phan Thị Hạnh

Trang 4

Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cặp vợ chồng trí thức trên địa bàn Hà nội đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứu thực tiễn, giúp tôi có được những số liệu quý báu để góp phần vào việc hoàn thành luận văn cao học.

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những người bạn và người thân trong gia đình tôi, những người đã ủng hộ tôi về mặt tinh thần, giúp tôi có thể hoàn thành luận văn của mình.

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài của tôi còn những thiếu sót, tôi kính mong nhận được sự bổ sung, đóng góp ý kiến quý giá của các Thầy (cô) giáo

để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn Một lần nữa, tôi xin trân thành cảm ơn!

Hà Nội, 12 tháng 02 năm 2018

Học viên

Phan Thị Hạnh

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng1.1 Các công cụ đa chiều cạnh đo lường hài lòng, thích ứng và chất lượng hôn

nhân (dẫn theo Chung, 1990) 6

Bảng 2.1: Đặc điểm khách thể nghiên cứu 42

Bảng 2.2 Các nhân tố trong thang đo hài lòng với hôn nhân 46

Bảng 2.3 ĐTB của từng bình diện và điểm xếp hạng giá trị trung bình của các biến 49

Bảng 3.1 Thực trạng hài lòng với hôn nhân của trí thức trẻ 52

Bảng 3.2 Mối tương quan giữa các nhân tố của sự hài lòng 54

Bảng 3.3 Sự hài lòng về hỗ trợ, chia sẻ trong đời sống tình cảm 58

của trí thức trẻ 58

Bảng 3.4 Sự hài lòng về ra quyết định và quản lý tài chính của trí thức trẻ 60

Bảng 3.5 Thực trạng hài lòng về phân chia trách nhiệm 62

và việc nhà của trí thức trẻ 62

Bảng 3.6 Thực trạng hài lòng chung với hôn nhân của vợ và chồng 64

Bảng 3.7 Mức độ đồng thuận của các cặp vợ chồng về sự hài lòng hôn nhân 65

Bảng 3.8 Nghề nghiệp của nhóm khách thể “rất hài lòng” về đời sống hôn nhân 66

Bảng 3.9 Việc sử dụng thời gian ngoài giờ làm việc ở cơ quan của các cặp vợ chồng trí thức “rất hài lòng” về đời sống hôn nhân 67

Bảng 3.10 Nghề nghiệp nhóm khách thể “hài lòng” với hôn nhân 68

Bảng 3.11 Thời gian ngoài việc dành cho công việc của nhóm khách thể “hài lòng” với hôn nhân 70

Bảng 3.12 Nghề nghiệp nhóm khách thể “không hài lòng” với hôn nhân 71

Bảng 3.13 Việc sử dụng thời gian ngoài giờ làm việc ở cơ quan của nhóm khách thể “không hài lòng” với hôn nhân 72

Bảng 3.14 Hệ số hồi quy giữa yếu tố thu nhập với hài lòng chung của hôn nhân .74

Bảng 3.15 Hệ số hồi quy giữa yếu tố hoàn cảnh sống với ra quyết định và quản lý tài chính 75

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Hài lòng về khía cạnh con cái của trí thức trẻ 55Biểu đồ 3.2 Thực trạng hài lòng về sự cố kết vợ chồng của trí thức trẻ 61Biểu đồ 3.3 Hoàn cảnh sống của nhóm khách thể “rất hài lòng” về đời sống hôn nhân 67Biểu đồ 3.4 Hoàn cảnh sống của nhóm khách thể “hài lòng” với hôn nhân 69Biểu đồ 3.5 Hoàn cảnh sống của nhóm khách thể “không hài lòng” với hôn nhân 71

Trang 7

Viết đầy đủ

Điểm trung bình

Độ lệch chuẩn

Trang 8

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Khách thể nghiên cứu 2

5 Giả thuyết nghiên cứu 2

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 2

8 Phương pháp nghiên cứu 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG VỚI HÔN NHÂN CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG 4

1.1 Tổng quan một số công trình nghiên cứu về sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng .4

1.1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới .4

1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước .11

1.2.1 Lý luận về hôn nhân 17

1.2.2 Lý luận về trí thức và trí thức trẻ .19

1.2.3 Lý luận về sự hài lòng với hôn nhân và sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức trẻ .22

1.2.4.Các bình diện của sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức trẻ 24 1.2.5 Các yếu tố tác động đến sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức .27

Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

2.1 Một vài nét địa bàn và khách thể nghiên cứu 40

2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 40

2.1.2 Vài nét về khách thể nghiên cứu 41

2.2 Tổ chức nghiên cứu 42

2.3 Phương pháp nghiên cứu 43

Trang 9

2.3.1 phương pháp nghiên cứu tài liệu 43

2.3.2 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi 43

2.3.3 Phương pháp phân tích dữ liệubằng thống kê toán học qua phần mềm spss .48

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ SỰ HÀI LÒNG VỚI HÔN NHÂN CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG TRÍ THỨC TRẺ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI .52

3.1 Thực trạng sự hài lòng với hôn nhân của trí thức trẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội .52

3.1.1 Thực trạng hài lòng với hôn nhân nói chung .52

3.1.2 Thực trạng hài lòng với hôn nhân của trí thức trẻ xét trên từng bình diện 55 3.1.3 Thực trạng hài lòng với hôn nhân của trí thức trẻ xét trên phương diện cặp đôi .64

3.2 Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng với hôn nhân của trí thức trẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội .73

3.2.1 Yếu tố thu nhập .73

3.2.2 Hoàn cảnh sống 75

3.2.3 Yếu tố tình dục .75

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 86

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Gia đình là nền tảng của xã hội, là một trong những nhân tố đóng vai trò đặc biệtquan trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Gia đình luôn gắn kết chặtchẽ với xã hội, xã hội lành mạnh tạo điều kiện cho gia đình phát triển, gia đình hạnhphúc góp phần cho sự phát triển hài hòa của xã hội Tuy nhiên trong những năm gầnđây thiết chế hôn nhân đang có xu hướng suy giảm Tỷ lệ ly hôn tăng trong khi tỷ lệtái hôn giảm Trong khi đó, trí thức luôn là nền tảng của tiến bộ xã hội, là lực lượngnòng cốt sáng tạo và truyền bá trí thức Đặc biệt với sự phát triển nhanh chóng củacách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặcbiệt quan trọng tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển[60].Theo đó sự êm ấm của gia đình, đặc biệt là gia đình trí thức càng có vai trò quantrọng, là hậu phương vững chắc giúp mỗi người chuyên tâm vào công việc hơn Xéttrên phương diện gia đình trí thức, chúng tôi nhận thấy rằng trong những năm gầnđây, tỉ lệ nữ trí thức tham gia vào thị trường lao động ngày càng tăng Ngày càngnhiều nữ trí thức tham gia vào đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo, quản lý, đòi hỏi sự hỗtrợ rất lớn từ phía gia đình Trong bối cảnh này các cặp vợ chồng trí thức nhìn nhậnnhư thế nào về cuộc sống hôn nhân của họ? Mức hài lòng với đời sống hôn nhâncủa họ ra sao? Những yếu tố nào có liên quan đến mức độ hài lòng này?Chúng tôicho rằng việc trả lời những câu hỏi này là vô cùng quan trọng và cần thiết trong giaiđoạn hiện nay

Trên thực tế sự hài lòng với hôn nhân là một trong những chủ đề nhận được sự quantâm của rấtnhiều công trình nghiên cứu trên thế giới trong vòng 50 năm trở lại đây.Tuy nhiên ở trong nước các công trình nghiên cứu về chủ đề này còn khá khiêm tốn.Trong phạm vi hiểu biết của mình, chúng tôi chủ yếu ghi nhận sự lồng ghép của chủ

đề này trong các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống hay hài lòng với cuộc sống nóichung Các công trình nghiên cứu về sự hài lòng với hôn nhân dưới góc độ tâm lýhọc với tư cách một nghiên cứu độc lập, đặc biệt là sự hài lòng với hôn nhân của cáccặp vợ chồng trí thức trẻ dường như còn vắng bóng

Xuất phát từ thực trạng này, chúng tôi quyết định triển khai đề tài “Sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức trẻ trên địa bàn thành phố Hà

Trang 11

Nội” với mong muốn cung cấp cái nhìn thực tế hơn về đời sống hôn nhân của trí

thức trẻ, góp phần tạo nền móng cho các nghiên cứu về sau

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thứctrẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội, cũng như một số yếu tố có liên quan nhằm đưa racác kiến nghị phù hợp, hướng tới việc tạo dựng cuộc sống hôn nhân hài hòa, hạnhphúc ở các cặp vợ chồng này

3 Đối tƣợng nghiên cứu

Biểu hiện và mức độ hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức trẻ trên địa bàn Hà Nội và một số yếu tố có liên quan đến sự hài lòng này

4 Khách thể nghiên cứu

289vợ chồng trí thức trẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội

5 Giả thuyết nghiên cứu

Các cặp vợ chồng trí thức trẻ trên địa thành phố bàn Hà Nội khá hài lòng vềđời sống hôn nhân của họ, trong đó mức độ hài lòng cao nhất được thể hiện trongbình diện con cái và đời sống tình cảm

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa vợ và chồng về các bìnhdiện hài lòng trong hôn nhân

Đời sống tình dục, nghề nghiệp, thu nhập, hoàn cảnh sống, có mối liên quanvới mức độ hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về hài lòng hôn

nhân nói chung cũng như hài lòng hôn nhân của trí thức nói riêng

- Xây dựng cơ sở lý luận phục vụ cho triển khai nghiên cứu thực tiễn

- Nghiên cứu thực tiễn nhằm tìm hiểu thực trạng hài lòng với hôn nhân củacác cặp vợ chồng trí thức trẻ trên đia bàn thành phố Hà Nội cũng như các yếu tố cóliên quan

- Đề ra một số kiến nghị cải thiện hơn nữa mức độ hài lòng với cuộc sống hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức trẻ trên đia bàn thành phố Hà Nội

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

-Về nội dung nghiên cứu:

Trang 12

Nghiên cứu thực trạng hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thứctrong các bình diện: Sự hài lòng về đời sống tình cảm; thu nhập và chi tiêu; con cái;chia sẻ công việc nhà; ra quyết định và sự hài lòng về sự gắn kết vợ chồng Cùngcác yếu tố có liên quan tới sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thứctrẻ như: đời sống tình dục; thu nhập; hoàn cảnh sống.

- Về khách thể nghiên cứu:

Những cặp vợ chồng trí thức trẻ (dưới 40) tuổi hiện đang làm việc và sinh sống trênđịa bàn thành phố Hà Nội

Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp điều tra ằng ảng hỏi

- Phương pháp phân tích số liệu ằng thống kê toán học

Trang 13

Chương 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG VỚI HÔN NHÂN CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG

1.1 Tổng quan một số công trình nghiên cứu về sự hài lòng với hôn nhân của

các cặp vợ chồng

Hôn nhân và sự hài lòng với hôn nhân là một chủ đề nhận được sự chú ý củahọc giả trên thế giới Trong năm mươi năm trở lại đây và đặc biệt là trong vòng haithập kỷ gần đây, cùng với sự phát triển chóng mặt của nền công nghiệp hoá và hiệnđại hoá, cấu trúc gia đình ở khắp nơi trên thế giới đã có những biến chuyển đáng kểvới tỷ lệ nữ giới tham gia vào thị trường lao động ngày một tăng Sự dịch chuyểnnhanh chóng này đã dẫn đến nhiều biến chuyển trong cấu trúc, vai trò và giá trịtrong gia đình Bắt đầu từ cuối những năm 1990, thế giới chứng kiến sự gia tăngđáng kể của tỷ lệ ly hôn ở các nước phương Tây bao gồm Mỹ và Châu Âu(Bradbury, Fincham, & Beach, 2000) [dẫn theo 17] Những thay đổi này đặt ra câuhỏi lớn cho các nhà nghiên cứu gia đình về vấn đề hài lòng hôn nhân của các cặp vợchồng, đặc biệt là vợ chồng trí thức trẻ

1.1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới.

Xét về mặt lịch sử, các nghiên cứu về sự hài lòng hôn nhân và hạnh phúc bắtđầu xuất hiện cùng lúc với thời kì được gọi là kỉ nguyên mới của những nghiên cứukhoa học về các hành vi gia đình Kể từ đó, các chủ đề điều chỉnh về hôn nhân,hạnh phúc, thỏa mãn, hay những thuật ngữ liên quan về mối quan hệ hôn nhân đãtrở thành một trong những chủ đề nghiên cứu phổ biến nhất của những nghiên cứu

về gia đình trong khoảng thời gian 50 năm trở lại đây (Burr, 1967; Hicks & Platt,1970; Nye, 1988; Spanier & Lewis, 1980) Công trình của Burgess và Cottrell(1939) cũng như của Terman (1939) đã được trích dẫn như là sự khởi đầu của cácnghiên cứu mang tính lý thuyết trong lĩnh vực này Trên thực tế, những nghiên cứunày có sức ảnh hưởng lớn đến quá trình khái niệm hóa các cấu trúc và nghiên cứutrong lĩnh vực hôn nhân gia đình (Burr, 1967) Theo các nghiên cứu này, ban đầu,Burgess và Cottrell (1939) nhìn nhận hôn nhân thành công là một khái niệm rộng

mà bản thân nó cũng mang ý nghĩa là một khái niệm cụ thể Sau đó, Burgess vàWallin (1953) đi đến một vài yếu tố mang tính chỉ báo hay các tiểu chiều cạnh mà ở

Trang 14

đó mỗi yếu tố có thể được xem xét một cách riêng biệt nhằm phát triển một hồ sơhôn nhân Trong khi Burgess và Wallin tận dụng thuật ngữ hôn nhân thành công,Terman (1939) sử dụng thuật ngữ hôn nhân hạnh phúc để luận bàn về hiện tượngchung này Trong nghiên cứu của mình, Terman tìm hiểu tương quan của khoảng vàitrăm yếu tố với mức độ hạnh phúc hôn nhân thu được nhờ vào tự báo cáo của kháchthể nghiên cứu Những nghiên cứu đa dạng này đã dẫn đến sự phát triển của nhiềucông cụ đo lường về sự thỏa mãn/hài lòng trong hôn nhân và hôn nhân thành côngđược sử dụng rộng rãi trên toàn cầu (ví dụ:Phiếu Khảo sát sự Điều chỉnh trong Hônnhân (Survey marital- Adjustment) của Burgess và Cottrell, Chỉ số Hạnh phúc trongHôn nhân của Terman (Index marital happiness), Trắc nghiệm ngắn về Sự điềuchỉnh trong Hôn nhân (Short marital-adjustment test) của Lock & Wallace,

Như vậy, có thể nói, trước năm 1960, nghiên cứu về hôn nhân có đặc điểmnổi bật là sự tìm hiểu chung về hôn nhân mà không chú trọng đến một lĩnh vực cụthể hay chiều cạnh của những tương tác trong hôn nhân (Snyder, 1979) Nói mộtcách khác, ở thời điểm này vẫn còn nhiều điểm mơ hồ trong việc hình thành nên cáckhái niệm.Trong những năm của thập niên 60, những nghiên cứu thực nghiệm đãnhấn mạnh vào danh tính và tìm hiểu mối tương quan nhân khẩu-xã hội với sự hàilòng/điều chỉnh/thỏa mãn trong hôn nhân (1990) Trong phạm vi hiểu biết của bảnthân, chúng tôi nhóm các nghiên cứu về hài lòng hôn nhân trong thời gian này thànhcác hướng như sau:

- Hướng thứ nhất: Tập trung nghiên cứu thực trạng mức độ hài lòng vớicuộc sống của các cặp vợ chồng hay các cặp đôi, kể cả là những người đang “hẹnhò” với các công trình nghiên cứu nổi trội của Fincham và Bradbury (1987),Spanier (1976), Cox (2006), Tam và Lee (2011) Trong hướng tiếp cận này, chúngtôi dễ dàng nhận thấy rằng đôi khi sự hài lòng với hôn nhân cũng được nghiên cứucùng nội dung với chất lượng hôn nhân hay hôn nhân hạnh phúc Bên cạnh đó, tổngquan các công trình nghiên cứu cũng cho phép chúng tôi ghi nhận rằng khi tìm hiểu

về thực trạng mức độ hài lòng với cuộc sống của các cặp vợ chồng, các tác giả cũng

cố gắng chỉ ra sự tác động khác nhau của mô hình gia đình đến sự hài lòng này(Ubesekera & al, 2008; Olson, 2010; )

- Hướng thứ hai: Tập trung vào việc xây dựng và phát triển các công cụ đo lường

Trang 15

mức độ hài lòng của các cặp vợ chồng (cặp đôi) trong cuộc sống chung của haingười Việc xây dựng và phát triển các công cụ đo lường này xuất phát từ chínhcách tiếp cận một chiều cạnh (unidimensional) hay đa chiều cạnh(multidimensional) trong nghiên cứu về hài lòng hôn nhân Một số tác giả cho rằng

“hài lòng hôn nhân” là cái nhìn tổng thể, trọn vẹn của vợ/chồng về đời sống hônnhân của họ Và do đó, nó là một chiều cạnh Tuy nhiên, cách nhìn này nhận đượcnhiều quan điểm trái chiều Bởi lẽ, đời sống hôn nhân vô cùng phức tạp và đa dạng.Các thành viên trong mối quan hệ vợ chồng đều có thể thể hiện sự hài lòng/khônghài lòng nhất định ở một bình diện nào đó của cuộc sống hôn nhân song điều đókhông có nghĩa là họ sẽ hài lòng/không hài lòng tương ứng về cuộc sống hôn nhânnói chung của họ Nói một cách khác, theo cách tiếp cận này, hài lòng hôn nhânđược nhìn nhận là đa chiều cạnh Quan điểm này nhận được sự đồng thuận của đa

số các nhà nghiên cứu về lĩnh vực hôn nhân, gia đình trên thế giới, thể hiện qua cáccông cụ đo lường rất đa dạng, phong phú sau đây:

Bảng1.1 Các công cụ đa chiều cạnh đo lường hài lòng, thích ứng và chất lượng

hôn nhân (dẫn theo Chung, 1990).

Trang 19

Bên cạnh đó, gần đây, chúng tôi ghi nhận công trình nghiên cứu của Russell

và Wells (1993) với bảng hỏi về hôn nhân và mối quan hệ - Marriage andRelationship questionnaine (MARQ) được Lucan và cộng sự (2008) nhìn nhận là cóhiệu lực trong nhiều nền văn hóa khác nhau Bảng hỏi tập trung tìm hiểu hài lònghôn nhân trong 12 bình diện: tình yêu; đối tác; ghen tuông; tình dục; vai trò quan hệgia đình; vấn đề với mối quan hệ; vấn đề cá nhân; sự hấp dẫn; giá trị; vấn đề hoàncảnh; vấn đề với người bạn đời và sự hòa giải

Như vậy, có thể thấy rằng có rất nhiều công cụ đo lường với nhiều bình diệnkhác nhau của hài lòng hôn nhân đã được đề cập Chúng tôi sẽ đề cập vấn đề nàysâu hơn ở phần viết tiếp theo

- Hướng thứ ba: Tập trung vào việc tìm hiểu tác động của sự phân công laođộng cũng như vai trò giới trong gia đình đối với sự hài lòng của các thành viên.Trong đó, có thể kể đến công trình nghiên cứu khá nổi tiếng của Forste (2012) tại 31quốc gia về “phân công lao động trong gia đình, vai trò giới và sự hài lòng trong giađình: So sánh xuyên quốc gia” Kết quả của công trình nghiên cứu này khẳng địnhrằng đàn ông hạnh phúc hơn phụ nữ trong cuộc sống gia đình một phần là vì phụ nữphải làm nhiều việc nhà hơn Đặc biệt, đàn ông trong các gia đình truyền thống (đànông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm) là những người hạnh phúc hơn cả Ngược lại, phụ

nữ hiện đại là những người ít hài lòng hơn cả về cuộc sống gia đình

- Hướng thứ tư: Nghiên cứu về các yếu tố có liên quan tới sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng

Những nghiên cứu thuộc lĩnh vực hôn nhân gia đình giai đoạn đầu thườngtập trung vào sự tương tác hành vi giữa hai đối tượng trong hôn nhân: vợ và chồng.Hầu hết các nghiên cứu giai đoạn 1970 này là các báo cáo ca lâm sàng với khẳngđịnh rằng những hành vi giao tiếp tiêu cực và né tránh là nguyên nhân chủ yếu cóthể dẫn đến sự thất bại trong hôn nhân của các cặp đôi (Al-Darmaki et al., 2016).Tuy nhiên, nhận thấy rằng tương tác qua lại mới là yếu tố quan trọng trong hôn nhânchứ không phải là hành vi đơn lẻ từ một trong hai phía, từ những năm 1980 trở đi,phong trào nghiên cứu được chuyển dần sang các quá trình liên cá nhân giữa cặpđôi (Fincham, Beach, & Kemp-Fincham, 1997) Một trong những nghiên cứu tiêubiểu của giai đoạn này là nghiên cứu của hai tác giả Margolin và Wampold (1981),

Trang 20

cho thấy rằng điểm khác biệt lớn nhất giữa những cặp đôi có vấn đề và những cặpđôi hạnh phúc đó là sự tương tác đầy căng thẳng với mức độ tương tác tiêu cực(negative reciprocal) cao giữa cả hai bên (hành vi tiêu cực của một bên dẫn đếnhành vi tiêu cực của bên còn lại và ngược lại) cùng với sự phản ứng tiêu cực(negative reaction) nói chung đối với mọi hành vi và tình huống (bỏ qua các chi tiếttích cực của bạn đời và chỉ chú ý vào các chi tiết tiêu cực) Các nhà nghiên cứu vềsau tiếp nối các nghiên cứu của Margolin và cộng sự nhưng mở rộng tìm hiểu cáccấu trúc giao tiếp nói chung và các khía cạnh hỗ trợ giữa vợ và chồng nói riêng chứkhông chỉ tập trung vào các phản ứng tức thời giữa hai bên Các yếu tố được xem lànổi trội nhất và có ảnh hưởng lớn đến mức độ hài lòng trong hôn nhân được tổnghợp từ các nghiên cứu nói trên sẽ được chúng tôi trình bày cụ thể hơn tại mục 1.2.7.các yếu tố tác động đến sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức.

Như vậy, có thể thấy rằng nghiên cứu sự hài lòng với hôn nhân đã được thựchiện rất đa dạng phong phú với nhiều hướng nghiên cứu khác nhau Đa phần cácnghiên cứu này đều tiến hành trên nhóm khách thể là những cặp đôi đang hẹ hò,những cặp vợ chồng đã kết hôn nói chung, mà chưa có sự tách bạch nghiên cứuchuyên sâu trên nhóm khách thể là trí thức và trí thức trẻ

1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước.

Tiếp cận các công trình nghiên cứu trong nước, chúng tôi nhận thấy rằng mặc dùchủ đề hài lòng hôn nhân được đề cập rất đa dạng và phong phú trên thế giới song ởViệt Nam vẫn còn rất ít các công trình nghiên cứu chuyên sâu bàn về vấn đề này Vìvậy, chúng tôi phải tiếp cận hướng nghiên cứu này từ góc độ tìm hiểu các nghiêncứu về sự hài lòng nói chung Trong quá trình tìm hiểu các công trình nghiên cứu đãđược công bố, trong phạm vi hiểu biết của bản thân, chúng tôi ghi nhận 4 hướngnghiên cứu chủ yếu trong lĩnh vực này, cụ thể như sau:

Hướng thứ nhất: nghiên cứu sự hài lòng trong lĩnh vực kinh doanh-thương

mại, tập trung tìm hiểu sự hài lòng của khách hàng, người tiêu dùng, nhân viên vềmột loại sản phẩm, dịch vụ hay một mô hình kinh doanh nào đó Có thể kể đến một

số công trình nghiên cứu theo hướng này như:

“Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách khi đến dulịch ở Kiên Giang (Lưu Thanh Đức Hải và Nguyễn Hồng Giang, 2011) Kết quả

Trang 21

nghiên cứu cho thấy, sự hài lòng của du khách có liên quan đến 5 thành phần: (1)tiện nghi cơ sở lưu trú, (2)phương tiện vận chuyển thoải mái, (3) thái độ của hướngdẫn viên, (4) hạ tầng cơ sở và (5) hình thức của hướng dẫn viên, trong đó, thái độcủa hướng dẫn viên tác động mạnh nhất đến sự hài lòng du khách, kế đến là hìnhthức của hướng dẫn viên, sự thoải mái trong phương tiện vận chuyển, hạ tầng cơ sở

và cuối cùng là tiện nghi cơ sở lưu trú [9] “Sự hài lòng của khách hàng đối với dịch

vụ Internet – Banking của Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi NhánhGia Lai” của tác giả Nguyễn Hoàng Hà (2016) cho thấy rằng ngày càng có nhiềukhách hàng sử dụng dịch vụ, đối tượng sử dụng chủ yếu là khách hàng đang đi làm

và có xu hướng ngày càng tăng, sau đó là học sinh, sinh viên và thấp nhất là kháchhàng hưu trí [7] “Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ truyềnhình MyTV tại TP Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thị Thời Thế (2012) cho thấy có 4nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ truyền hìnhMyTV tại TP Đà Nẵng: dịch vụ gia tăng, chất lượng dịch vụ cốt lõi, dịch vụ kháchhàng, giá cả hợp lý [27]; …

Hướng nghiên cứu thứ hai: nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

với các nghiên cứu liên quan tới sự hài lòng về chất lượng đào tạo, chương trình đàotạo, về giảng viên, công việc… Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu theohướng này như: "Khảo sát sự hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo tại trườngĐại Học Kinh Tế - Đại Học Quốc Gia Hà Nội” của Bùi Thị Ngọc Ánh, Đào ThịHồng Vân (2013) Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4 thành phần chất lượng đào tạotác động đến sự hài lòng của sinh viên, bao gồm: Cơ sở vật chất; chương trình đàotạo; Khả năng phục vụ; Giảng viên Trong đó mức độ tác động nhất đến sự hài lòngcủa sinh viên về chất lượng đào tạo là chương trình đào tạo, tiếp đó lần lượt là cơ sởvật chất, khả năng phục vụ, giảng viên [2]; “Nghiên cứu sự hài lòng của nhân viênđối với công việc tại trường Cao đẳng Công nghệ thông tin hữu nghị Việt-Hàn”(Nguyễn Thanh Hoài, 2013) với kết quả cho thấy nhân viên có mức độ hài lòng khácao, các yếu tố có mức độ hài lòng cao là: công việc, điều kiện làm việc và đào tạo,thăng tiến Những yếu tố có mức hài lòng thấp hơn: thu nhập, phúc lợi và đồngnghiệp [11]; “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên với điều kiện cơ

sở vật chất và phục vụ của trường đại học Lâm nghiệp” của tác giả Nguyễn Thị

Trang 22

Xuân Hương, Nguyễn Thị Phượng, Vũ Thị Hồng Loan, đăng trên tạp chí Khoa học

và Công nghệ Lâm nghiệp số 12-2016 Được tiến hành trên 423 sinh viên trườngđại học Lâm nghiệp, nghiên cứu đã tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hàilòng của sinh viên là: (1) yếu tố cơ sở vật chất, (2) sự tin cậy trong các cam kết củanhà trường, (3) sự đáp ứng các yêu cầu của nhà trường, (4) năng lực phục vụ và (5)quan tâm đến nhu cầu của sinh viên Nghiên cứu đã giúp đưa ra những căn cứ quantrọng, để xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp, nâng caomức hài lòng của sinh viên ở trường [14]

Hướng nghiên cứu thứ a: nghiên cứu về sự hài lòng trong lĩnh vực y tế Theo

hướng này, chúng tôi ghi nhận một số công trình nghiên cứu cụ thể như: Nghiên cứuđánh giá sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ y tế tại bệnh viện Việt Nam - Cu

Ba Đồng Hới - Quảng Bình (Phùng Thị Hồng Hà, Trần Thị Thu Hiền, 2012) Theonghiên cứu bệnh nhân chưa hài lòng với các dịch vụ mà bệnh viện cung cấp, đặc biệt làvấn đề đội ngũ cán bộ y tế, chất lượng khám chữa bệnh và chi phí chữa bệnh [8];Nghiên cứu của UNICEF về sự hài lòng của người dân đối với các dịch vụ y tế tuyến

xã tỉnh Điện Biên năm 2013 cho thấy một tỷ lệ rất thấp từ 1 đến 5% người sử dụng cảmthấy chưa hài lòng với từng dịch vụ y tế do tuyến xã cung cấp [32]; Nghiên cứu của tácgiả Bùi Thái Nguyên về “Sự hài lòng của người lao động với công việc (Trường hợpbệnh viện đa khoa huyện Krông Pắc và bệnh viện đa khoa tỉnh Đăk Lăk)” năm 2016 đãchỉ ra mức độ hài lòng với công việc của bác sỹ, điều dưỡng và nữ hộ sinh tại bệnhviện đa khoa huyện Krông Pắc và bệnh viện đa khoa tỉnh Đăk Lăk ở mức cao (với điểmtrung bình 3.96/5) không có sự khác biệt về mức độ hài lòng giữa hai nhóm nam và nữ.Giữa hai bệnh viện đa khoa huyện Krông Pắc và bệnh viện đa khoa tỉnh Đăk Lăk cũngkhông có sự khác biệt về mức hài lòng chung với công việc của bác sỹ, điều dưỡng và

nữ hộ sinh Không có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi về sự hài lòng chung nhưng có

sự khác biệt đối với một số khía cạnh như: Giá trị đạo đức, tính sáng tạo, giá trị côngviệc, quyền lực [21]

Hướng nghiên cứu thứ tư: nghiên cứu về sự hài lòng với cuộc sống Theo

hướng nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận một số công trình cụ thể như: Nghiên cứu

“sự hài lòng về cuộc sống của người Việt Nam: một số phát hiện ban đầu và hàm ýchính sách” của tác giả Hoàng Bá Thịnh đăng trên tạp chí Nghiên cứu Con

Trang 23

người, số 4 năm 2012 Bài viết dựa trên kết quả nghiên cứu “sự hài lòng về cuộcsống” thuộc đề án cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, thực hiện năm 2011, tại 4 tỉnh,thành phố: Hà Nội, Hải Dương, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh Tác giảnghiên cứu sự hài lòng về cuộc sống của người dân Việt Nam trên các bình diện: (1)hài lòng về quan hệ gia đình, con cái; (2) hài lòng về cuộc sống của bản thân; (3) hàilòng về điều kiện sinh hoạt của gia đình; (4) hài lòng về điều kiện cư trú của giađình Kết quả cho thấy người dân Việt Nam có mức độ hài lòng cao nhất ở lĩnh vực:quan hệ cha mẹ - con cái, hôn nhân, gia đình, con cái Mức độ hài lòng thấp nhấtthuộc lĩnh vực chi tiêu, học vấn, thu nhập, cơ sở hạ tầng [29] Cũng trong khuôn khổcủa đề án này, tác giả Dương Thị Thu Hương (2012) đã tìm hiểu về “các yếu tố tácđộng đến mức độ hài lòng về đời sống tinh thần” của người dân Kết quả cho thấyđiểm trung bình mức độ hài lòng về đời sống tinh thần của người được hỏi là 3.94.Nghiên cứu không ghi nhận sự khác biệt hay chênh lệch về mức độ hài lòng về đờisống tinh thần của những nhóm người khác nhau về đặc điểm nhân khẩu học và đặcđiểm xã hội Các đặc điểm nhân khẩu học có tác động đến mức độ hài lòng về đờisống tinh thần bao gồm: giới tính, vùng miền Nam giới có xu hướng hài lòng vềđời sống tinh thần cao hơn so với nữ giới và người miền Bắc có xu hướng hài lòng

về đời sống tinh thần cao hơn so với người miền Nam Tuy nhiên, yếu tố thực sự cótác động đáng kể đến mức độ hài lòng về đời sống tinh thần chính là kinh tế của bảnthân và gia đình (thu nhập, tài sản), đặc biệt là sự hài lòng về thu nhập [13] Cũngxuất phát từ đề án này, tác giả Nguyễn Thị Vân Hạnh (2013) đã tập trung tìm hiểu “

Sự hài lòng về cuộc sống của người Việt Nam hiện nay xét trên góc độ nghề nghiệp,việc làm và mức sống” Nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa nghề nghiệp hiện tại

và sự hài lòng đối với nghề nghiệp, có sự khác biệt nhất định giữa các cá nhân sởhữu những nghề nghiệp khác nhau Trình độ học vấn cũng có tác động đáng kể tới

sự hài lòng trong nghề nghiệp lựa chọn của cá nhân Trình độ học vấn càng cao, cánhân càng có xu hướng hài lòng với nghề nghiệp của mình hơn Mức độ hài lòngđối với nghề nghiệp của người dân ở 4 tỉnh thành về cơ bản là giống nhau [10]

Trong khi tìm hiểu về sự hài lòng của người dân nói chung về các lĩnh vựckhác nhau của đời sống, công trình nghiên cứu của tác giả Hoàng Bá Thịnh cũng đã

Trang 24

có đề cập đến sự hài lòng với đời sống hôn của người dân Sử dụng thang đo Likert

5 bậc, trong đó 1 là hoàn toàn không hài lòng, 5 là hoàn toàn hài lòng, kết quảnghiên cứu đã chỉ ra rằng mức độ hài lòng đối với hôn nhân được người dân đánhgiá rất cao, đứng thứ 2 so với 22 khía cạnh của cuộc sống Tỉ lệ người được hỏi chođiểm “hoàn toàn hài lòng” về hôn nhân với điểm số cao nhất (5 điểm: rất hài lòng)chiếm gần 63,4%, chỉ có 1,9% người trả lời cho rằng hôn nhân hoàn toàn không đápứng mong muốn của họ Thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương được đánh giá cómức độ hài lòng với hôn nhân thấp hơn so với Hà Nội và Hải Dương Tuy nhiên sựkhác biệt này rất nhỏ và không mang ý nghĩa thống kê Về giới tính, nam có xuhướng hài lòng với hôn nhân cao hơn so với nữ giới Về khu vực cư trú, mức độ hàilòng về hôn nhân của người dân đô thị được đánh giá cao hơn ở nông thôn Có sựkhác biệt về mức độ hài lòng với hôn nhân giữa nhóm hiện đang có vợ, có chồngvới nhóm ly hôn, ly thân, góa Điểm số trung bình về mức độ hài lòng về hôn nhâncủa nhóm ly thân, ly hôn, góa thấp hơn hẳn so với nhóm đang có vợ, có chồng (3,1

và 4,5) Về nghề nghiệp, nhóm công chức là nhóm có xu hướng hài lòng về hônnhân cao nhất so với nhóm khác: tiểu thủ công nghiệp, y dược, lao động tự do,không có việc làm [28]

Cũng trong khoảng thời gian này, chúng tôi ghi nhận sự quan tâm nghiên cứucủa tác giả Nguyễn Hà Đông (Viện nghiên cứu gia đình và Giới) về chủ đề này.Trên cơ sở phân tích số liệu “Nghiên cứu Gia đình Việt Nam năm 2010: Nhận thức

và thái độ về gia đình” do Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới thực hiện năm 2010 tại

24 Phường/xã trên địa bàn Hà Nội mở rộng, Nguyễn Hà Đông đã tìm hiểu về “sựhài lòng với hôn nhân và các yếu tố tác động” của người dân Kết quả khảo sát sốliệu cho thấy người dân hài lòng cao về đời sống hôn nhân của họ Mức độ hài lòngnày chịu sự tác động của các yếu tố: sự hòa hợp về tình dục, sự hỗ trợ về tình cảm,việc thường xuyên tổ chức các sự kiện đặc biệt, mức sống hộ gia đình, nhóm nghềnghiệp của cặp vợ chồng và nơi cư trú [6] Có thể thấy rằng nghiên cứu của Nguyễn

Hà Đông đã mô tả sâu hơn được một số chiều cạnh của sự hài lòng về cuộc sốnghôn nhân song các kết quả chủ yếu cũng mới chỉ dừng lại dưới dạng thống kê mô tả

mà chưa có sự phân tích theo chiều sâu về các chiều cạnh này

Trang 25

Bên cạnh hai công trình nghiên cứu này, chúng tôi cũng nhận thấy rằng sựhài lòng về cuộc sống hôn nhân cũng đã được đề cập đến ở một số đề tài, nghiêncứu khoa học khác, cụ thể:

Nghiên cứu của tác giả Bùi Vân Anh (2008) về “Quan hệ tình dục vợ chồng:mối tương quan của nó với sự hài lòng về đời sống hôn nhân trong gia đình ở nôngthôn hiện nay” Khảo sát số liệu trên 370 người dân đang có vợ, có chồng, phần lớnlàm nghề nông với độ tuổi từ 21 đến ngoài 50 tuổi cho thấy hơn một nửa ngườiđược hỏi rất hài lòng về gia đình của họ (54,6%); gần một nửa trả lời phần lớn hàilòng về gia đình của họ (41,1%); chỉ có 3,8% cho biết rằng phần lớn họ không hàilòng và 0,3% trả lời rất không hài lòng về gia đình [1]

Ở khía cạnh các yếu tố tác động đến chất lượng hôn nhân, tác giả Lê ViệtNga, Viện nghiên cứu Gia đình và giới đã tập trung tìm hiểu “Các yếu tố tác độngđến hạnh phúc vợ chồng, mức độ hài lòng với hôn nhân và cuộc sống gia đình củangười dân” dựa trên dữ liệu điều tra “Quan niệm, mức độ và các yếu tố tác động đếnhạnh phúc gia đình: nghiên cứu trường hợp tỉnh Quảng Ngãi”do Viện Nghiên

cứu Gia đình và Giới thực hiện trong 2 năm (2013-2014) Kết quả nghiên cứu chothấy đa số người dân rất hài lòng hoặc hài lòng với cuộc hôn nhân hiện tại và cuộcsống gia dình Những yếu tố được nhiều người dân đánh giá cao là: lòng chungthủy; sự quan tâm; là chỗ dựa lẫn nhau giữa vợ và chồng và sự thống nhất tronggiáo dục con cái Mức độ hài lòng với hôn nhân có mối quan hệ với các yếu tố nơi

cư trú, quan hệ hàng xóm, thu nhập, điều kiện nhà ở Trong khi mức độ hài lòng vớicuộc sống gia đình lại gắn liền với các yếu tố tuổi, giới tính, học vấn và nghềnghiệp, thu nhập, điều kiện nhà ở và tình trạng nghèo [20]

Gần đây nhất, chúng tôi ghi nhận bài viết của tác giả Nguyễn Thị Hoa (2016)trên Tạp chí Tâm lý học về “sự hài lòng với cuộc sống gia đình của phụ nữ bị bạolực gia đình” Kết quả nghiên cứu trên 622 phụ nữ ở hai tỉnh miền núi phía Bắc làQuảng Ninh và Lào Cai cho thấy nhìn chung nhóm phụ nữ trong nghiên cứu khá hàilòng với cuộc sống gia đình Các khía cạnh của cuộc sống gia đình được đưa ratrong nghiên cứu gồm: Đời sống tình cảm vợ chồng, cách giải quyết vấn đề của hai

vợ chồng, đời sống tình dục, mức độ chăm sóc gia đình, những hoạt động giải trí,cách chồng đối xử với bố mẹ vợ, quan hệ bạn bè bên gia đình, cách thức bố mẹ

Trang 26

chồng đối xử với con dâu, công việc của vợ, kinh tế gia đình, điều kiện về nhà ở,sức khỏe của thành viên trong gia đình, học tập/việc làm của con, quan hệ hàngxóm, cách hành xử của con Nghiên cứu đã chỉ ra mức độ hài lòng thấp nhất về đờisống vật chất của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình, mức độ hài lòng cao nhất đượcnhóm khách thể này nhìn nhận trong các lĩnh vực quan hệ bên ngoài gia đình.

Như vậy, có thể nói rằng ở Việt Nam các nghiên cứu về hài lòng hôn nhândưới góc độ tâm lý học chưa thực sự được chú trọng trong thời gian qua Chủ yếuchúng tôi chỉ ghi nhận việc tìm hiểu về nội dung này lồng ghép trong nghiên cứu về

sự hài lòng với cuộc sống hoặc một vấn đề nào đó khác

Tóm lại, tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho phépchúng tôi khẳng định rằng hài lòng hôn nhân là một chủ đề hấp dẫn đối với nhiềunhà nghiên cứu trên thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực tâm lý học Ở Việt Nam, chủ

đề này cũng đã được nghiên cứu song vẫn còn là một chủ đề mới, chưa có cácnghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ tâm lý học với tư cách là một nghiên cứu độclập, đòi hỏi cần có nhiều nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa về chủ đề này

1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản

1.2.1 Lý luận về hôn nhân

Hôn nhân là một hiện tượng xã hội phức tạp, bao hàm trong đó các mối quan hệtrên nhiều lĩnh vực như: sinh lý, kinh tế, xã hội, văn hóa, tâm lý, tình cảm… Vì vậy tronggiới nghiên cứu khái niệm hôn nhân được nêu lên dưới nhiều góc độ khác nhau [4]

Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên) do NXB Khoa học xã hội xuất bảnnăm 1988, đưa ra một khái niệm ngắn gọn “Hôn nhân là việc nam nữ chính thứclấy nhau làm vợ chồng” [20]

Khi coi hôn nhân là một quy tắc xã hội, Nguyễn Văn Tiệp cho rằng “nếu giađình là hình thức kết hợp cá nhân có tính lịch sử của tổ chức đời sống xã hội loàingười, đó là sự kết hợp giữa đàn ông và đàn bà thì hôn nhân là những quy tắc của sựkết hợp đó, sự kết hợp mang yếu tố giới tính Những hình thức của hôn nhân phảnánh những quy luật chung nhất sự phát triển của xã hội loài người qua các giai đoạnlịch sử và mang những đặc thù văn hóa tộc người” [dẫn theo 4] Chú ý đến mốiquan hệ trong hôn nhân, các tác giả Emily A.schultz và Robert H.Lavenda cho rằng

“Một hôn nhân mẫu (1) đòi hỏi phải có một người nam và một người nữ và (2) quy

Trang 27

định mức độ quan hệ tính giao các thành viên trong hôn nhân có thể có với nhau,xếp từ quan hệ độc quyền đến quan hệ ưu tiên Hôn nhân (3) tạo nên tính hợp phápcủa con cái do người vợ sinh ra và (4) thiết lập các mối quan hệ giữa họ hàng bên

vợ và họ hàng bên chồng” Hoặc như G.Endruweit và G.Trommsdorff định nghĩa

“Hôn nhân là một dạng liên kết khác giới thuộc loại đặc biệt được tập quán và phápluật công nhận, có giá trị lâu dài [dẫn theo 4]

Trong công trình nghiên cứu “Gia đình truyền thống - một số tư liệu nghiêncứu Xã hội học” xuất bản năm 1977, tác giả Khuất Thu Hồng cho rằng hôn nhân,thứ nhất, chỉ quá trình chung sống trong hôn thú của một cặp vợ chồng, với nghĩanày, hôn nhân là một thiết chế xã hội và thứ hai, hôn nhân chỉ các sự kiện và quátrình dẫn đến sự hình thành một gia đình mới hay là một việc kết hôn [dẫn theo 4]

Trong tác phẩm “Hôn nhân và các gia đình dân tộc Tày, Nùng và Thái ở ViệtNam”, một công trình đề cập nhiều đến lý thuyết hôn nhân và gia đình, tác giả ĐỗThú Bình nhận định: “Hôn nhân và gia đình là các thiết chế xã hội rất đa dạng vàphức tạp phản ánh các mối quan hệ sinh học và xã hội, vật chất và tinh thần, tưtưởng và tâm lý” và “Hôn nhân – một thể chế xã hội luôn là đối tượng của kiểm soát

xã hội, còn trong xã hội có giai cấp là đối tượng của pháp luật”

Như vậy, dưới góc độ tiếp cận khác nhau, các khái niệm trên đều có sự thốngnhất cơ bản rằng: tuy hôn nhân nhằm tới việc quan hệ giới tính nhưng hôn nhânkhông đồng nhất với quan hệ giới tính Chỉ quan hệ giới tính đơn thuần thì khôngcần có hôn nhân, hôn nhân phân biệt với quan hệ giới tính ở những chức năng vănhóa xã hội của nó… “tạo nên tính hợp pháp của con cái do người vợ sinh ra và thiếtlập các mối quan hệ giữa họ hàng bên vợ và họ hàng bên chồng”; “được tập quán vàpháp luật công nhận, có giá trị lâu dài”; “là những quy tắc của sự kết hợp mang yếu

tố giới tính” …và đó chính là bản chất của quan hệ hôn nhân [dẫn theo 4]

Theo luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (2010) “Hôn nhân là quan hệ giữa

vợ và chồng sau khi kết hôn” Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồngvới nhau theo quy định của luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn Về điềukiện kết hôn: Nam phải đủ 20 tuổi trở lên, nữ đủ 18 tuổi trở lên; việc kết hôn donam nữ tự nguyện quyết định; không bị mất năng lực, hành vi dân sự; việc kết hônkhông thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định các điều khoản

Trang 28

trên Về đăng ký kết hôn, việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước cóthẩm quyền thực hiện theo những quy định của luật này và pháp luật về hộ tịch Việckết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.Quan hệ giữa vợ và chồng: bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng [16].

Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với gia đình Việt Nam hiện nay của

Ủy ban dân số, Gia đình và trẻ em, (2004), đưa ra khái niệm về hôn nhân: “Hônnhân là sự cam kết chung sống giữa những người trưởng thành khác giới, được sựphê chuẩn của pháp luật Những người kết hôn có những quyền và nghĩa vụ đối vớinhau cũng như quyền và nghĩa vụ đối với con cái do họ sinh ra.”[dẫn theo 31]

Như vậy, có thể thấy là có nhiều quan điểm khác nhau về hôn nhân song nhìnchung các định nghĩa đều đồng thuận rằng hôn nhân là mối quan hệ giữa vợ vàchồng Do vậy trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm hônnhân theo luật hôn nhân và gia đình làm khái niệm công cụ của đề tài Theo đó khácvới gia đình, hôn nhân chỉ với tư cách là một quan hệ xã hội Hôn nhân được coinhư là cơ sở cho sự hình thành gia đình

1.2.2 Lý luận về trí thức và trí thức trẻ.

Theo từ điển triết học “Trí thức là tập đoàn người gồm những người làmnghề lao động trí óc.Giới trí thức bao gồm kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy thuốc, luật sư,nghệ sĩ, thầy giáo và người làm công tác khoa học, một bộ phận lớn viên chức” [dẫntheo 26] Định nghĩa này không chỉ xác định trí thức là những người “làm nghề laođộng trí óc” mà còn chỉ ra các nhóm nghề nghiệp khác nhau được xem là trí thức

Tuy nhiên với cách hiểu định danh như thế này, việc xác định đội ngũ tríthức quả là không dễ dàng Vì vậy, trong thực tế, nhiều cách hiểu đơn giản hơn vềtrí thức đã được đưa ra

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiêu chí đầu tiên của người trí thức là người đóphải có trình độ từ cử nhân trở lên Bác khẳng định “Một người học xong đại học cóthể gọi là trí thức” song “Muốn trở thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đemcái trí thức đó áp dụng vào thực tế” Như vậy học vấn đại học mới chỉ là điều kiệncần, quan trọng là phải sử dụng có hiệu quả trí thức trong đời sống xã hội, phục vụdân sinh

Trang 29

Ngày nay, ở Việt Nam, theo các nhà nghiên cứu, các học giả thì trí thức lànhững người có trình độ học vấn từ cao đẳng trở lên; lao động trí óc, có sự sáng tạo,

có lương tri, phẩm chất đạo đức trong sáng, có nhiều cống hiến cho xã hội bằngnhững công trình khoa học, phát minh, sáng chế Họ là những người đức độ, biểuhiện ở sự toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân, phục vụ tổ quốc Ngày nay, trí thứcđược xem là một tầng lớp xã hội có những đặc thù riêng trong cấu trúc xã hội ViệtNam Đó là cộng đồng những người có cùng một loại hoạt động nghề nghiệp đặcbiệt Trí thức có mặt ở tất cả mọi lĩnh vực, mọi ngành, mọi khu vực lãnh thổ Cácnhà nghiên cứu đã phân chia trí thức thành những nhóm khác nhau dựa vào trình độchuyên môn và lĩnh vực nghề nghiệp Các nhà khoa học Việt Nam đã khẳng địnhtầng lớp trí thức Việt Nam có phẩm chất nhân cách văn hóa đặc trưng, gắn với bốicảnh phát triển của xã hội” Phần đông người trí thức xuất thân từ tầng lớp lao động,được học tập, đào tạo rèn luyện trong điều kiện của công cuộc xây dựng và đổi mớicủa đất nước…Vì vậy đa số trí thức đều gắn bó với Đảng, với chủ nghĩa xã hội, vớigiai cấp công nhân, nông dân, những người lao động chân chính nói chung” [25]

Nghị quyết số 27- NQ/TW (6-8-2008) về xây dựng đội ngũ trí thức trongthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng khẳng: “Trí thức lànhững người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhấtđịnh, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ranhững sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội”[70]

Đồng quan điểm với nghị quyết số 27 về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tiến sĩ Trần Thị Vân Anh trongbáo cáo tham luận tại hội thảo khoa học: Nữ trí thức Việt Nam đối với sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, đã đề cập Trí thức là những người lao động trí óc, cótrình độ chuyên môn, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo tạo ra sảng phẩm vật chất

và tinh thần có giá trị đối với xã hội

Theo tác giả Nguyễn Minh Thuyết, trí thức không nhất thiết là người có bằngcấp cao và ngược lại người có bằng cấp cũng chưa hẳn là trí thức Điều quan trọngđối với người trí thức là có hiểu biết sâu rộng và có khả năng sáng tạo trong mộthoặc một số lĩnh vực chuyên môn nhất định Hoặc thực hiện những công việc có

Trang 30

tầm quan trọng, đòi hỏi có trình độ chuyên môn cao, sự huy động nỗ lực trí ócnhiều.

Như vậy theo cách hiểu trên thì tầng lớp trí thức là môt tập hợp mở và đadạng, không giống bất kỳ một tập hợp nào khác trong xã hội như nông dân, côngnhân, thợ thủ công, quân nhân, thương nhân hay buôn bán nhỏ Trí thức có thể là bất

kỳ ai trong các tập hợp trên, miễn là có hiểu biết sâu rộng và tham gia lao động trí

óc Tuy nhiên bộ phận hạt nhân của tầng lớp trí thức là các nhà nghiên cứu; cácgiảng viên đại học, các bác sĩ, dược sĩ cao cấp, các nhà văn , nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ,nhà báo, các nhà quản lý và công chức, viên chức trong bộ máy tham mưu cho quảnlý

Tác giả Nguyễn Minh Thuyết chỉ ra một số đặc điểm của trí thức:

- Ham học hỏi, luôn tiếp cận mới do vậy trình độ lý luận không ngừng nâng cao

- Luôn sáng tạo trong cách nghĩ, cách làm; ít chịu rập khuôn theo công thức sẵn có

- Có tư duy lật lại vấn đề, tư duy phản biện, có hoài bão vươn lên

- Có nguyên tắc sống, khẳng khái, tự trọng, cư xử lịch thiêp, sống khiêm tốn.Tiếp cận khái niệm trí thức dưới góc độ xã hội chính trị, trong luận án tiến sĩ

“Đặc điểm và vai trò đội ngũ trí thức trong sự nghiệp đổi mới của đất nước hiệnnay” Nguyễn Thanh Tuấn quan niệm: trí thức là một tầng lớp xã hội đặc thù và độclập tương đối chuyên làm các nghề lao động trí óc phức tạp và sáng tạo Tác giảcũng chỉ ra đặc điểm của đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay:

- Sản xuất, truyền bá và ứng ứng dụng tri thức khoa học

- Có mặt trong mọi lĩnh vực, mọi ngành, mọi khu vực lãnh thổ và gắn bó chặt chẽ với mọi giai cấp, tầng lớp khác

- Lao động sáng tạo của trí thức là sáng tạo tri thức khoa học ở lĩnh vực sản xuất tinh thần là chính

- Về chuyên môn và học vấn: cơ cấu học vấn gồm cao đẳng, đại học, phótiến sĩ, tiến sĩ khoa học; cơ cấu chuyên môn gồm khoa học tự nhiên, khoahọc kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn, nghiên cứu lý luận và triển khaicông nghệ vào thực tiễn đời sống

Trang 31

- Các nhóm trí thức xã hội bao gồm:

+ Trí thức khoa học tự nhiên, kỹ thuật, nông, lâm nghiệp

+ Trí thức nghiên cứu giảng dạy

+ Trí thức giáo dục và đào tạo

+ Trí thức văn nghệ sĩ và nhà báo

+ Trí thức y và dược

+ Trí thức lãnh đạo và quản lý chính trị, kinh tế và xã hội

Xuất phát từ các quan điểm này, chúng tôi cho rằng có thể định nghĩa trí thức

là những người có trình độ từ cao đẳng trở lên, làm công việc có liên quan đến hoạtđộng trí tuệ và có tính sáng tạo, tạo ra sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị cho

xã hội Vậy trí thức trẻ được hiểu như thế nào?

Theo “trí thức khoa học trẻ ở Việt Nam hiện nay thách thức và triển vọng”của tác giả Trần Cao Sơn thì trí thức khoa học trẻ là người còn trẻ về tuổi đời vàtuổi nghề, có độ tuổi dưới 40 tuổi làm việc trong các cơ quan nghiên cứu khoa họ,các trường đại học cao đẳng [24]

Như vậy, có thể hiểu trí thức trẻ là những người có trình độ từ cao đẳng trởlên, làm công việc liên quan đến hoạt động trí tuệ và có tính sáng tạo, tạo ra nhữngsản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị cho xã hội, có độ tuổi dưới 40 tuổi

1.2.3 Lý luận về sự hài lòng với hôn nhân và sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức trẻ.

Graham và cộng sự (2011) ghi nhận rằng trong đời sống cặp đôi hay đời sốnghôn nhân, sự hài lòng về mối quan hệ này luôn nhận được sự quan tâm nghiên cứucủa rất nhiều các nhà nghiên cứu trên thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực tâm lý học

và xã hội học Mặc dù vậy, trong suốt những thập kỷ qua, dù rất nhiều các nghiêncứu được xuất bản với hàng trăm các tác giả nghiên cứu khác nhau, cho đến nay,định nghĩa về sự hài lòng với hôn nhân vẫn là một câu hỏi gây tranh cãi chưa có hồikết Hầu hết các nghiên cứu trước đây định nghĩa sự hài lòng với hôn nhân là sự tựlượng giá của cá nhân về chất lượng của mối quan hệ giữa hai người với nhữngđiểm tích cực nổi trội và không có những điểm tiêu cực Trong khi đó, sự không hàilòng hay bất mãn trong hôn nhân là sự tự lượng giá của cá nhân về chất lượng mốiquan hệ mà ở đó, điểm tiêu cực nhiều hơn điểm tích cực (Bradbury et al.,

Trang 32

2000) Fenell (1993) đã chỉ ra 10 đặc điểm của một mối quan hệ hôn nhân hạnhphúc, bao gồm: (1) sự cam kết của cá nhân với một mối quan hệ lâu dài; (2) chungthuỷ với bạn đời; (3) có những giá trị đạo đức riêng; (4) tôn trọng bạn đời như mộtngười bạn; (5) có sự cam kết đối với mối quan hệ tình dục với bạn đời; (6) mongmuốn được trở thành những ông bố bà mẹ tốt; (7)có niềm tin vào chúa hoặc một tôngiáo nào đó; (8) mong muốn được hỗ trợ bạn đời; (9) đồng hành với bạn đời; (10)sẵn lòng để tha thứ và được tha thứ Một mối quan hệ hôn nhân không tạo nên sựhài lòng cho các cá nhân, theo Fenell, sẽ vắng mặt các yếu tố trên Hài lòng vàkhông hài lòng trong hôn nhân, theo cách nhìn nhận này, luôn là hai khái niệm đượcđặt đối lập nhau và thường được đo lường trên cùng một thang đo Shackelford vàBuss (1997, dẫn theo Marcotte, 2015) cũng cho rằng, sự hài lòng với cuộc sống hônnhân tương ứng với trạng thái tâm lý được hình thành sau khi đánh giá những điềuhơn, thiệt trong cuộc sống vợ chồng và nhận thấy sự nổi trội của các điểm tích cực.

Sự hài lòng này có thể thay đổi theo thời gian Tuy nhiên, lối nhìn nhận này nhậnđược rất nhiều ý kiến phê bình (Bradbury et al., 2000) Các nghiên cứu về mốitương quan giữa sự hài lòng trong hôn nhân và stress khẳng định rằng một mối quan

hệ hôn nhân hạnh phúc không đơn giản chỉ mang những đặc điểm trái ngược so vớinhững cặp hôn nhân không hạnh phúc (Halford, Markman, Kline, & Stanley, 2003).Fincham và các cộng sự của mình đã khẳng định rằng sự hài lòng và không hài lòng

là hai cấu trúc mặc dù có liên quan nhưng hoàn toàn tách rời khỏi nhau và nên được

đo lường một cách tách biệt (Fincham, Beach, & Kemp-Fincham, 1997) Các dữliệu thống kê riêng biệt mối liên hệ giữa sự hài lòng và không hài lòng với hôn nhâncho thấy sự hài lòng và không hài lòng có những mối liên hệ và biến thiên khônggiống nhau với các biến khác trong hôn nhân như hành vi hay nhận thức (Fincham,Beach, & Kemp-Fincham, 1997)

Ngày nay, với sự ảnh hưởng của lý thuyết nhận thức xã hội và sự xuất hiệncủa ngày càng nhiều các nghiên cứu khẳng định vai trò của các yếu tố văn hoá xãhội trong mối quan hệ hôn nhân, các nhà nghiên cứu tiến bộ trong lĩnh vực hônnhân gia đình bắt đầu rời xa lối cấu trúc cũ với việc đối lập sự hài lòng và không hàilòng trong hôn nhân với nhau, thay vào đó, chiều sâu của khái niệm được nhấnmạnh (Bradbury et al., 2000) Nhà nghiên cứu và cũng là nhà trị liệu lâm sàng lâu

Trang 33

năm trong lĩnh vực hôn nhân gia đình Harway (2005) khẳng định: Sự hài lòng tronghôn nhân là mức độ hạnh phúc thể hiện ra của đối tượng với mối quan hệ hôn nhânnói chung và với đối tượng hôn nhân của mình nói riêng Đó là quá trình thích nghicủa cả vợ và chồng theo cách nào đó để tránh hoặc giải quyết các xung đột, làm cho

cả vợ và chồng đều cảm thấy hài lòng với hôn nhân và với mỗi người (Locke, 1968,dẫn theo Ayub, 2010) Trên thực tế, ngay từ năm 1976 Spanier đã cho rằng sự hàilòng với hôn nhân là sự đánh giá chủ quan của chủ thể về chất lượng của mối quan

hệ vợ chồng Đấy chính là “cảm nhận chủ quan về sự bất hạnh, sự hài lòng và niềmvui được trải nghiệm bởi vợ/chồng khi xem xét tất cả các khía cạnh hiện tại củacuộc sống hôn nhân của họ Biến số này được nhìn nhận như là một chuỗi liên tục

từ rất hài lòng tới rất không hài lòng Hài lòng hôn nhân rõ ràng là một biến số thái

độ và nó thuộc về cá nhân vợ/chồng” (Hawkins, 1968, dẫn theo Chung, 1990) Nóimột cách khác, dù nhấn mạnh tới mặt thái độ hay cảm xúc thì đa phần các tác giảđều thống nhất trong việc coi hài lòng với hôn nhân chính là cảm xúc tích cực hoặctiêu cực mà các cặp vợ chồng lượng giá về các khía cạnh khác nhau của cuộc sốnghôn nhân của họ

Từ sự phân tích trên, chúng tôi nhìn nhận rằng sự hài lòng với hôn nhân của cáccặp vợ chồng trí thức trẻ chính là phản ứng về mặt cảm xúc và hành vi của các cặp vợchồng trí thức dưới 40 tuổi về các khía cạnh khác nhau của đời sống hôn nhân của họ

1.2.4 Các bình diện của sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức

trẻ.

Cũng như định nghĩa về sự hài lòng với hôn nhân, các bình diện của nó cũngnhận được sự quan tâm từ rất nhiều các công trình nghiên cứu trên thế giới Mặc dùvậy, việc xác định cấu trúc hay bình diện của hài lòng với hôn nhân cho đến nay vẫncòn là một vấn đề chưa nhận được sự đồng thuận hoàn toàn từ các nhà nghiên cứutrên thế giới Trong khi các nghiên cứu theo cách tiếp cận một chiều cạnh(unidimensional) nhìn nhận sự hài lòng hôn nhân như là một khái niệm tổng thể vàđơn nhất, các nghiên cứu theo cách tiếp cận đa chiều cạnh (multidimensional) lạiđưa ra rất nhiều bình diện của khái niệm này Theo đó, sự hài lòng với hôn nhânchính là tổng thể của các bình diện hài lòng thu được (xem bảng 1, trang 6)

Trang 34

Như vậy, có thể thấy rằng tùy theo cách tiếp cận mà các tác giả có thể đề xuấtcác bình diện hài lòng về hôn nhân rất đa dạng và phong phú Một số tác giả đồngthuận với Spanier (1976) (dẫn theo Russell & Bowman, 2000) khi cho rằng hài lònghôn nhân bao gồm 4 bình diện: (1) mức độ đồng thuận giữa vợ và chồng trong cácvấn đề quan trọng của gia đình (quan niệm về cuộc sống, giải trí, bạn bè, vv); (2)mức độ hài lòng nói chung về quan hệ vợ chồng; (3) mức độ gắn kết quan hệ (ví dụtần suất một vấn đề thường được vợ chồng đưa ra thảo luận, mức độ chia sẻ, traođổi ý kiến và quan điểm với nhau, mức độ cùng tham gia hoạt động giải trí vv); (4)

sự đồng tình và hài lòng với việc thể hiện tình cảm của hai vợ chồng Một số kháclại cho rằng không thể không đề cập đến khía cạnh phân chia công việc nhà, quản lýchi tiêu, chăm sóc con cái như là các bình diện chính của đời sống hôn nhân(Bowerman, 1957; Burr, 1970; Mason & Lerner, 1970; Honeycutt, 1986;Snyder,1983; Russell & Wells, 1993) Trong phạm vi nghiên cứu của chúng tôi trên bốicảnh văn hóa-xã hội-lịch sử của Việt Nam, dựa trên cơ sở các công trình nghiên cứu

đi trước đã thực hiện cũng như dựa vào kết quả thăm dò thực tế mà chúng tôi đã tiếnhành, chúng tôi tập trung tìm hiểu hài lòng hôn nhân của trí thức trẻ trên các bìnhdiện cụ thể sau đây:

a) Sự hài lòng về đời sống tình cảm: Trong phạm vi của nghiêncứu này, sự hài lòng về đời sống tình cảm được chúng tôi tìm hiểudưới góc độ chia sẻ, hỗ trợ trong đời sống tình cảm của các cặp vợchồng Cụ thể: Vợ/chồng có chăm sóc, đồng cảm, hiểu, chia sẻ vớinhau trước những áp lực, khó khăn của cuộc sống, vợ/ chồng cócảm nhận được tình cảm cũng như sự quan tâm từ phía người bạnđời của mình? Chúng tôi cho rằng đây là nét quan trọng phản ánhmức độ hài lòng về đời sống tình cảm của các cặp vợ chồng

b) Sự hài lòng về thu nhập và chi tiêu: Là một trong những yếu

tố có ảnh hưởng không nhỏ đến sự hài lòng với đời sống hôn nhâncủa các cặp vợ chồng Trong gia đình các cặp vợ chồng, liệu cóthống nhất về thu nhập và chi tiêu? Có trao đổi kỹ lưỡng trước khimua những vật dụng quan trọng trong gia đình?

Trang 35

c) Sự hài lòng về con cái: Con cái giữ một vị trí đặc biệt quantrọng trong đời sống hôn nhân mỗi người Thường con cái sẽ giúpcho mối quan hệ vợ chồng tiến triển theo chiều hướng tốt đẹp hơn.Câu hỏi đặt ra là liệu trí thức có hài lòng với người bạn đời củamình trong việc nuôi dạy con cái? Họ trao đổi với nhau trong cácquyết định liên quan đến các con ? và điều quan trọng nữa là họ cóthể hiện sự đồng thuận trong các quyết định liên quan đến concái

d) Sự hài lòng về việc chia sẻ công việc nhà: Ngày nay khi nữtrí thức tham gia ngày càng nhiều vào thị trường lao động, với cácvai trò, vị trí đảm nhiệm khác nhau, thì sự tham gia vào các côngviệc gia đình cũng đã khác so với trước Để có thể “đảm việcnước, giỏi việc nhà” họ rất cần sự chia sẻ hỗ trợ từ phía gia đình,đặc biệt là người bạn đời trong các công việc thường ngày Vì vậytrong phạm vi bình diện này, chúng tôi mong muốn tìm hiểu sựnhìn nhận của trí thức về sự công bằng trong việc phân chia côngviệc nhà, chăm sóc con cái

e) Sự hài lòng về việc ra quyết định: Trong gia đình truyềnthống, thường người chồng là người đưa ra các quyết định quantrọng về những công việc liên quan đến gia đình Tuy nhiên ngàynay bình đẳng giới được đề cao thì người vợ cũng có giữ vai tròkhông nhỏ trong việc đưa ra các quyết định này Vì vậy chúng tôicho rằng sẽ là thiếu sót nếu không tìm hiểu mức độ đồng thuận của

vợ chồng trong việc ra quyết định khi tìm hiểu sự hài lòng với đờisống hôn nhân của họ

f) Sự hài lòng về mức độ đồng thuận vợ chồng: Khi đứng trướccác vấn đề phát sinh trong cuộc sống vợ chồng, liệu ngườivợ/chồng có đồng thuận trong việc cùng giải quyết vấn đề? Haycùng đồng thuận trước khi ra quyết định?

g) Sự hài lòng về sự gắn kết vợ chồng: chúng tôi tập trung tìmhiểu xem liệu các cặp vợ chồng có thường xuyên trao đổi cùng

Trang 36

26

Trang 37

hoạch nào đó? Khi phát sinh vấn đề họ sẽ cùng nhau tranh luận một cách điềm đạm hay gay gắt? Họ có cùng cười vơi nhau?

1.2.5 Các yếu tố tác động đến sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức.

Tác giả Cramer (dẫn theo Russell & Bowman, 2000) tổng hợp các nghiêncứu tiến hành trong 30 năm qua đã đưa ra kết luận rằng một số yếu tố sau có thểgiúp dự báo về sự hòa hợp trong hôn nhân: tình yêu, hài lòng về tình dục, duy trì sựgiao tiếp trao đổi thường xuyên và luôn giữ được tình cảm cho nhau Rất nhiềunghiên cứu khác chỉ ra sự tương tác và trao đổi, giao tiếp qua lại giữa vợ và chồng

có vai trò quan trọng đến chất lượng hôn nhân và quan hệ vợ chồng (Allan Sillars etall., 2004; Ann van den Troost, 2005; Constance T Gager and Laura Sanchez, 2003;Graeme Russell và Lyndy Bowman, 2000; John DeFrain, 1999) Một số nghiên cứukhác lại cho rằng kiểu nhân cách (Terman, Buttenwieser, Ferguson, Johnson, &Wilson, 1938; Zaleski & Galkowska, 1978; Zuckerman, Eysenck, & Eysenck,1978), trải nghiệm thơ ấu của vợ chồng (Webster, Orbuch, & House, 1995; Sanders,Halford, & Behrens, 1999) hay con cái (Belsky & Rovine, 1990; Waite & Lillard,1991) [dẫn theo, 17] Dưới đây chúng tôi tập trung trình bày một số yếu tố có thểđược xem là nổi trội nhất và có tác động lớn đến mức độ hài lòng trong hôn nhânđược tổng hợp từ các nghiên cứu nói trên

a) Yếu tố sự thân mật

Trong nghiên cứu “Đánh giá sự thân mật: Bản kiểm PAIR” (Assessingintimacy: The PAIR Inventory) trên nhóm khách thể là 192 cặp vợ chồng kết hôntrung bình 12 năm, tuổi từ 21-60, Schaefer và Olson (1981) nhận thấy rằng mỗi loạigần gũi/thân mật có ý nghĩa tương quan với sự hài lòng của hôn nhân nhưng vớimức độ khác nhau (có sự tương quan cao giữa mối quan hệ tình cảm và giải trí)

Cũng bàn luận về chủ đề này, các tác giả Tolstedt, B.E., và Stokes, J.P.(1983) đã thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ thân mật, tình cảm và thể chất với

sự hài lòng của hôn nhân Theo đó, các tác giả này cũng khẳng định mối quan hệcủa sự gần gũi với sự hài lòng với hôn nhân song đây không phải là mối quan hệtrực tiếp Những người tham gia nghiên cứu là 43 cặp vợ chồng (độ tuổi từ 18 đến59), đã kết hôn trung bình 8 năm và đang tìm kiếm sự trợ giúp của các bác sỹchuyên khoa Nghiên cứu yêu cầu người tham gia hoàn thành một bản câu hỏi 10

Trang 38

mục đánh giá nhận thức của họ về sự gần gũi của mối quan hệ, một bản câu hỏi tựtiết lộ và một bảng câu hỏi đánh giá các hoạt động thể chất và tình dục Kết quả củacuộc nghiên cứu chỉ ra rằng sự thân mật bằng lời nói, tình cảm và thể chất đều liênquan đến sự hài lòng của hôn nhân Tuy nhiên, sự thân mật bằng lời nói và tình cảm

đã dự đoán được sự hài lòng về hôn nhân hơn sự thân thiết về thể xác Tầm quantrọng tương đối của ba loại thân mật này có thể khác biệt đối với nam và nữ

Kết quả này cũng tương tự với những gì mà Schaefer và Olson (1981) đã chỉ

ra Theo đó, mối quan hệ cảm xúc hay tình cảm gần gũi có ý nghĩa quan trọng hơnđối với sự hài lòng với hôn nhân hơn là sự thân thiết về thể xác hoặc tình dục Đốivới phụ nữ, các nghiên cứu ghi nhận sự tương quan giữa các kiểu gần gũi/thân mậtvới hài lòng hôn nhân cao hơn so với nam giới

b) Yếu tố tình dục

Khi tìm hiểu về mối quan hệ giữa yếu tố tình dục và sự hài lòng với hônnhân, Jennifer A Volsky (1998) đã tiến hành nghiên cứu trên 30 cặp vợ chồng độtuổi từ 39 đến 69 tuổi, kết hôn được ít nhất một năm, thời gian kết hôn trung bìnhgần 20 năm (SD = 10.98) Các nhóm khách thể này được chia thành 3 nhóm dựatrên mối quan hệ gần gũi theo thời gian: nhóm 1 gồm các cá nhân có mối quan hệgần gũi từ 1-10 năm, nhóm 2- các cá nhân có mối quan hệ gần gũi từ 11- 19 năm,nhóm 3- có mối quan hệ kéo dài trên 20 năm Kết quả nghiên cứu cho thấy rằngmặc dù tất cả các loại thân mật tương quan với sự hài lòng của hôn nhân, một sốloại thân mật (nghĩa là tình cảm, trí tuệ) có liên quan nhiều hơn đến sự hài lòng vớihôn nhân so với những yếu tố tình dục Đối với nam giới, tình cảm thân mật, tìnhdục và trí tuệ có liên quan chặt chẽ đến sự hài lòng của hôn nhân Sự thân thiết vềcảm xúc (tính dễ thương trong việc chia sẻ cảm xúc và được hiểu) và sự giải trí (sựtham gia lẫn nhau trong bất cứ hoạt động giải trí nào) đã tiên đoán được sự hài lòngcủa hôn nhân đối với phụ nữ Điều này cho thấy tương tác tình dục là một thànhphần quan trọng của đàn ông, nhưng không phải của phụ nữ Sự gần gũi trong việcgiải trí dường như đóng vai trò quan trọng đối với phụ nữ, nhưng không phải hạnhphúc hôn nhân của nam giới

C) Đặc điểm nhân cách

Trang 39

Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức độ tương đồng trong nhân cách giữa

vợ và chồng có ảnh hưởng không hề nhỏ đến mức độ hài lòng trong hôn nhân(Cattell & Nesselroade, 1967) và nó cũng chính là hệ quả của hôn nhân (Schumm,Figley and Fuhs, 1980 (Schumm, 1980) Nhân cách thường được đánh giá theo nămchiều cạnh, bao gồm Tính hướng ngoại (Tính tích cực hoạt động, thống trị, hướngngoại vs phục tùng, hướng nội), Tính dễ chịu (ấm áp, tin tưởng vs lạnh lùng, hoàinghi), Tính tận tâm (đáng tin cậy, có tổ chức tốt vs không đáng tin cậy, thiếu tổchức), Tính nhiễu tâm (ổn định cảm xúc, an toàn, điềm đạm vs lo lắng, tính khí thấtthường) và Tính mở đối với trải nghiệm (thông minh, sâu sắc, tò mò vs không sâusắc) Sự không hài lòng trong hôn nhân thường xuyên nhất liên quan tới tính thiếu

ổn định cảm xúc của người vợ/chồng, nhưng sự không hài lòng đồng thời cũng liênquan tới việc có một đối tác thấp về Tính tận tâm, tính dễ chịu, và tính Cởi mở.Những người kết hôn với người có những đặc điểm nhân cách này thường phàn nànrằng vợ/chồng họ thiếu quan tâm, phụ thuộc, có tính sở hữu, hạ thấp người khác,ghen tuông, không chung thủy, không đáng tin cậy, nông cạn về mặt cảm xúc, tự lấymình làm trung tâm, và lạm dụng rượu Do đó, những đặc điểm nhân cách của mỗingười vợ/chồng có đóng góp lớn vào mối quan hệ, tiếp tục là một cuộc hôn nhân hàilòng hoặc kết thúc bằng việc ly hôn

Nghiên cứu của Michael D Botwin, Davis M Buss và Todd K Shackelford(1997) về “Nhân cách và sự yêu thích bạn đời/người yêu: năm nhân tố trong việclựa chọn bạn đời/người yêu và sự hài lòng trong hôn nhân” trên hai nhóm khách thể:nhóm thứ nhất gồm 59 cặp đôi đang trong giai đoạn hẹn hò, và nhóm thứ hai gồm

107 cặp đôi mới cưới cho thấy: phụ nữ có xu hướng chọn bạn đời có những đặcđiểm hướng ngoại và có khả năng giao thiệp Chất lượng của các mối quan hệ hônnhân được dự đoán có ảnh hưởng nhiều nhất khi một trong hai người bạn đời thuộccác nhóm tính cách: (1) Khó thoả hiệp; (2) Không ổn định về cảm xúc và (3) khóchấp nhận thay đổi Như vậy, đặc điểm nhân cách của người bạn đời chiếm một vaitrò quan trọng trong hạnh phúc hôn nhân của những người được hỏi Nói một cáchtổng quát, nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa các kiểu tính cách với chất lượnghôn nhân

Trang 40

Năm 2000, một nghiên cứu bổ dọc được tiến hành trong vòng 13 năm củaCaughlin và các cộng sự cũng cho thấy những đặc điểm nhân cách như lo âu (xuấthiện nhiều ở những cặp mới cưới) có tương quan nghịch với mức độ hài lòng tronghôn nhân của bạn đời Kết quả nghiên cứu này đã được một số các nghiên cứu kháckhẳng định rằng kiểu tính cách lo âu không những có ảnh hưởng đến chất lượngquan hệ hôn nhân từ cảm nhận của cá nhân mà còn từ cảm nhận của bạn đời Tuynhiên, kiểu nhân cách lo âu không có khả năng dự đoán tỷ lệ ly hôn hay sự suy giảmchất lượng hôn nhân (Caughlin, Huston, & Houts, 2000).

Gần đây hơn, nghiên cứu của Samaneh Najarpourian về các kiểu tính cách và sựhài lòng với hôn nhân (2007), cũng cho thấy tác động của việc kết hợp các nhân tốnhân cách cơ bản (tính ổn định thần kinh/ nhiễu tâm, hướng ngoại, tận tâm/ tính ý thức)đối với sự hài lòng trong hôn nhân Mô hình phân loại kiểu nhân cách (dựa vào việc kếthợp 3 nhân tố nhân cách cơ bản tạo thành 8 kiểu nhân cách) được sử dụng: tham dự(spectating), không an toàn (insecure), hoài nghi (sceptical), suy nghĩ

ủ rũ (brooding), hưởng thụ (hedonistic), bốc đồng (impulsive), đầu tư(entrepreneurial), và phức tạp (complicated) (Torgersen, 1995) Tiến hành trên 164cặp vợ chồng được chọn theo mẫu ngẫu nhiên với độ tuổi trung bình của ngườitham gia là 43 (SD = 11.10; nhóm tuổi: 25-59 tuổi), thông qua bảng hỏi ENRICH,kết quả phân tích số liệu cho phép ghi nhận những tác động độc lập về cả giới tính

và kiểu nhân cách Theo đó, các kiểu nhân cách đầu tư và hưởng thụ, ở cả đàn ông

và phụ nữ, hai kiểu nhân cách đều là kết hợp của nhiễu tâm thấp và hướng ngoại cao

có điểm cao về sự hài lòng trong hôn nhân Ở đàn ông, kiểu hoài nghi có cùng mức

độ hài lòng trong hôn nhân với kiểu hưởng thụ.Trong khi đó, những người phụ nữhoài nghi thì có điểm số về sự hài lòng trong hôn nhân thấp nhất Ở đàn ông,

kiểu không an toàn, là kết hợp của nhiễu tâm cao và hướng ngoại thấp, có sự hàilòng trong hôn nhân thấp nhất Ở phụ nữ, kiểu không an toàn có mức độ hài lòngtrong hôn nhân chỉ xếp ngay trên kiểu hoài nghi

d) Tương tác vợ/chồng

Những nghiên cứu thuộc lĩnh vực hôn nhân gia đình giai đoạn đầu thườngtập trung vào sự tương tác hành vi giữa hai đối tượng trong hôn nhân: vợ và chồng.Hầu hết các nghiên cứu gia đoạn 1970s này là các báo cáo ca lâm sàng với khẳng

Ngày đăng: 27/10/2020, 22:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w