- Ý nghĩa thực tiễn: + Từ kết quả nghiên cứu lý thuyết về thực trạng hoạt động của một số Trung tâm đã thực hiện chuyển đổi thành công, thực trạng hoạt động của chính Trung tâm dịch vụ K
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-MÃ TRUNG VIỆT
SỰ BIẾN ĐỔI CỦA CÁC TRUNG TÂM DỊCH
VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ-
CP (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC TRUNG TÂM DỊCH VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHƯA CHUYỂN ĐỔI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội-2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-MÃ TRUNG VIỆT
SỰ BIẾN ĐỔI CỦA CÁC TRUNG TÂM DỊCH
VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ-
CP (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC TRUNG TÂM DỊCH VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHƯA CHUYỂN ĐỔI)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60.34.04.12
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Học
Hà Nội-2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ đề tài
“Sự biến đổi của các Trung tâm dịch vụ Khoa học và Công nghệ dưới tác động của Nghị định 115/2005/NĐ-CP” là kết quả của quá trình cố gắng
không ngừng của bản thân và được sự giúp đỡ, động viên khích lệ của cácthầy, bạn bè đồng nghiệp và người thân Qua trang viết này tác giả xin gửi lờicảm ơn tới những người đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập - nghiên cứukhoa học vừa qua
Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với thầy giáoTS.Nguyễn Văn Học đã dành nhiều thời gian, công sức, trực tiếp tận tìnhhướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tác giả hoàn thành đề tài
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Đại học Khoa học Xã hội vàNhân văn, khoa Khoa học Quản lý đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốtcông việc nghiên cứu khoa học của mình
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, đơn vị công tác đã giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn
Tác giả
Mã Trung Việt
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài: 7
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu: 10
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 15
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
5 Mẫu khảo sát 16
7 Giả thuyết nghiên cứu 16
8 Phương pháp nghiên cứu 17
9 Kết cấu của luận văn 18
CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM VÀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA CÁC TRUNG TÂM DỊCH VỤ KH&CN DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ-CP 20
1.1 Các khái niệm công cụ 20
1.1.1 Khái niệm về tổ chức KH&CN công lập 20
1.1.2 Trung tâm dịch vụ KH&CN 26
1.1.3 Chính sách KH&CN 26
1.2 Lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN 28
1.2.1 Tự chủ 28
1.2.2 Tự chịu trách nhiệm 29
1.2.3 Mối quan hệ giữa tính tự chủ và tính trách nhiệm đối với các tổ chức KH&CN công lập 31
1.3.Sự thích nghi của các Trung tâm dịch vụ KH&CN công lập dưới tác động của Nghị định 115/2005/NĐ-CP 34
1.3.1 Sự thích nghi 34
Trang 51.3.2.Sự biến đổi của các Trung tâm Dịch vụ KH&CN công lập dưới tác động
của Nghị định 115/2005/NĐ-CP 35
1.4.Tiểu kết chương 1 39
CHƯƠNG 2.PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI CỦA CÁC TỔ CHỨC DỊCH VỤ KH&CN CÔNG LẬP THEO NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ-CP 41
2.1 Thực trạng phát triển của các Trung tâm dịch vụ KH&CN trên địa bàn cả nước 41
2.1.1 Chính sách phát triển KH&CN ở nước ta đối với sự phát triển của các Trung tâm dịch vụ KH&CN 41
2.1.2 Phân bố và tổ chức của các Trung tâm dịch vụ KH&CN 46
2.1.3 Tổng quan về hoạt động của các Trung tâm dịch vụ KH&CN 48
2.2 Tác động của Nghị định 115/2005/NĐ-CP với các Trung tâm dịch vụ KH&CN trên cả nước 53
2.2.1 Tác động của Nghị định 115/2005/NĐ-CP tới hoạt động của các tổ chức KH&CN công lập 53
2.2.2 Tác động của Nghị định 115/2005/NĐ-CP với các Trung tâm dịch vụ KH&CN 56
2.3 Những bất cập trong quá trình chuyển đổi theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP của các Trung tâm Dịch vụ KH&CN 62
2.4 Tiểu kết chương 2 69
CHƯƠNG 3.NHẬN DIỆN SỰ BIẾN ĐỔI CỦA CÁC TRUNG TÂM DỊCH VỤ KH&CN DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ-CP 71 3.1 Xu thế biến đổi của các tổ chức KH&CN công lập 71
3.1.1 Tái cấu trúc theo hướng đa dạng hóa chức năng 71
3.1.2 Đa dạng hóa nguồn lực tài chính 73
3.1.3 Cơ cấu lại và đổi mới nguồn nhân lực 75
Trang 63.2 Những biến đổi của Trung tâm dịch vụ KH&CN Hà Nam sau khi chuyển
sang tự chủ, tự chịu trách nhiệm 76
3.2.1 Giới thiệu sơ lược 76
3.2.2.Những biến đổi của Trung tâm dịch vụ KH&CN Hà Nam sau khi chuyển đổi theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP 78
3.3 Đề xuất một số giải pháp thực hiện 85
3.3.1 Giải pháp về nhân sự và chuyên môn nhân sự 85
3.3.2 Giải pháp về cơ sở hạ tầng 87
3.3.3 Giải pháp về quản lý và hợp tác 88
3.4 Điều kiện để thực hiện thành công các giải pháp 90
3.5 Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng hợp một số số liệu của các Techmart quy mô vùng tổ chức năm
2008 52
Bảng 2.2 Tình hình tài chính giai đoạn 2011-2013 của Trung tâm ứng dụng tiến
bộ KH&CN tỉnh Quảng Ninh 61Bảng 3.2: Tình hình tài chính giai đoạn 2012 - 2016 của Trung tâm 82
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Hình 2.1 Số lượng đề tài, dự án và hợp đồng chuyển giao CN 57
của các trung tâm dịch vụ KH&CN tính đến hết năm 2009 57
Hình 2.2 Mức giảm kinh phí nhà nước cấp ở ba trung tâm 60
dịch vụ KH&CN Long An, Tiền Giang và Bến Tre từ năm 2005 - 2009 60
Hình 2.3 Biểu đồ tăng kinh phí ngân sách của 60
hai trung tâm dịch vụ KH&CN công lập ở Đồng Tháp và Vĩnh Long 60
Biểu đồ 3.2: Sự tăng giảm của các nguồn tài chính giai đoạn 2012-2015 82
Trang 10PHẦN I MỞ ĐẦU Tên đề tài:
“Sự biến đổi của các Trung tâm dịch vụ Khoa học và Công nghệdưới tác động của Nghị định 115/2005/NĐ-CP”(nghiên cứu trường hợp cáctrung tâm dịch vụ khoa học và công nghệ chưa chuyển đổi)
1 Lý do chọn đề tài:
KH&CN được Đảng và Nhà nước xác định là “Quốc sách hàng đầu”,thúc đẩy phát triển KH&CN là nhiệm vụ then chốt trong sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo xuhướng hiện đại vào năm 2020.Lần đầu tiên, khoa học, công nghệ được Vănkiện trình Đại hội XII của Đảng đưa vào một mục riêng (mục VI- Phát triển
và ứng dụng khoa học, công nghệ), không gộp vào với các vấn đề khác nhưgiáo dục đào tạo, văn hoá, môi trường như trong các Văn kiện Đại hội trước.Việc trình bày thành một mục riêng đã cho thấy tầm quan trọng của khoa học,công nghệ và nhận thức mới của Đảng ta về phát triển khoa học, công nghệtrong giai đoạn phát triển mới của đất nước Muốn hoàn thành sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vào năm 2020 thì KH&CN cần phát triểnphù hợp giữa các vùng – miền, cân đối giữa trung ương và địa phương, đápứng yêu cầu hội nhập nhằm nâng cao trình độ công nghệ các ngành kinh tế,các địa phương, nhất là vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa Để thúcđẩy chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ,ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào đời sống sản xuất góp phầnnâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội ở các địa phương, mạng lưới các Trung tâmứng dụng tiến bộ KH&CN cũng được thành lập theo thông tư liên tịch số15/2003/TTLT-BKH&CN-BNV, ngày 15 tháng 7 năm 2003 hướng dẫn chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở KH&CN
Trang 11Năm 2005 Chính phủ ban hành Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05tháng 09 năm 2005 quy định về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chứcKH&CN công lập Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN cấp tỉnh là đốitượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này Việc Chính phủ ban hànhNghị định 115/2005/NĐ-CP nhằm các mục đích:
Tăng cường trách nhiệm và nâng cao tính tích cực, chủ động, năng động,sáng tạo của tổ chức KH&CN và thủ trưởng tổ chức KH&CN
- Tạo điều kiện gắn nghiên cứu và phát triển công nghệ với sản xuất,kinh doanh và đào tạo nhân lực, đẩy nhanh quá trình xã hội hóa các hoạt độngKH&CN
- Tạo điều kiện tập trung đầu tư có trọng điểm cho các tổ chức KH&CN
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN, góp phần tăng cường tiềm lực KH&CN của đất nước
Năm 2006 Bộ KH&CN, Bộ Tài Chính và Bộ Nội vụ ban hành Thông tưliên tịch số: 12/2006/TTLT/BKH&CN-BTC-BNV ngày 05 tháng 6 năm 2006
về Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm
2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổchức KH&CN công lập Theo tinh thần của Nghị định, các tổ chức KH&CNcông lập được hoàn toàn tự chủ và Nhà nước sẽ không cung cấp ngân sáchtheo kiểu bao cấp như trước đây
Xét theo chức năng và nhiệm của các Trung tâm ứng dụng tiến bộKH&CN cấp tỉnh trên cả nước, trong đề tài này, tác giả luận văn gọi tên củacác tổ chức nêu trên là các Trung tâm dịch vụ KH&CN khối địa phương Tínhđến thời điểm hiện tại, có 35 trên tổng số 63 Trung tâm dịch vụ KH&CN khốiđịa phương trên cả nước đã có Quyết định của UBND phê duyệt chuyển đổi,
28 Trung tâm đang xây dựng và trình các cấp có thẩm quyển để chuyển đổi
Trang 12hoạt động theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP Dưới tác động của Nghị định115/2005/NĐ-CP, các Trung tâm chuyển đổi hoạt động đều đã đạt đượcnhững thành tựu nhất định, thích nghi và biến đổi đạt được những hiệu quả tolớn góp phần thúc đẩy sự phát triển KH&CN tại các địa phương nói riêng vàtrên cả nước nói chung, đóng góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp pháttriển của đất nước Với những kết quả đó, khẳng định rằng Nghị định115/2005/NĐ-CP là một triết lý đúng đắn trong đổi mơi KH&CN, tạo ranhững bước tiến đột phá, phù hợp với xu thế chuyển đổi kinh tế, từ hệ thốngkinh tế do nhà nước độc tôn chỉ huy sang hệ thống kinh tế thị trường.
Tuy nhiên, đã hơn 10 năm kể từ khi Nghị định 115/2005/NĐ-CP banhành, ngoài sự chuyển đổi và hoạt động thành công, câu hỏi đặt ra là tại saovẫn còn 28 Trung tâm dịch vụ KH&CN khối địa phương chưa thể chuyển đổithành công
Là một nhân viên của Trung tâm dịch vụ KH&CN Hà Nam, trăn trở vớiquá trình chuyển đổi và với lòng mong mỏi sẽ đóng góp vào sự chuyển đổithành công của các Trung tâm dịch vụ KH&CN khối địa phương, tôi chọn đềtài này để thực hiện luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ của mình
Trang 13giao nhanh các tiến bộ khoa học công nghệ vào phục vụ sản xuất và đời sông
ở địa phương
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Từ kết quả nghiên cứu lý thuyết về thực trạng hoạt động của một số Trung tâm đã thực hiện chuyển đổi thành công, thực trạng hoạt động của chính Trung tâm dịch vụ KH&CN Hà Nam, đề tài nhận diện những biến đổi của các Trung tâm dịch vụ KH&CN khối địa phương dưới tác động của cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP
+ Đề tài thành công trước hết sẽ tạo nên hiệu quả tích cực trong việc thựchiện thành công Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Trung tâm dịch vụ KH&CN tỉnh
Hà Nam
+ Kết quả của đề tài sẽ làm tài liệu cho các Trung tâm Ứng dụng tiến bộKH&CN các tỉnh đang thực hiện đề án chuyển đổi trình lên các cấp có thẩm quyềntham khảo
+ Kết quả của đề tài cũng sẽ làm tài liệu cho các Trung tâm hoạt động trên các lĩnh vực khác tham khảo
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu:
Ở Việt Nam hiện chưa có nghiên cứu chính thống nào về cơ chế hoạtđộng tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các Trung tâm dịch vụ KH&CN khối địaphương Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ giúp Bộ KH&CN thực hiện chứcnăng quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện các hoạt động ứng dụng và phát triểncông nghệ trong phạm vi cả nước hiện cũng chưa có nghiên cứu về vấn đề này màchủ yếu dựa vào các báo cáo của các tổ chức KH&CN công lập mà cụ thể là cácTrung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN để hoạch định chung hoạt động của cácTrung tâm trong cả nước, chưa có mô hình hoạt
Trang 14động cụ thể cho từng vùng miền từ đó dẫn đến những hướng dẫn hoạt độngchung chung, các Trung tâm không thể phát huy được các hoạt động theo cáchướng dẫn này.
Tìm hiểu các công trình nghiên cứu về đề tài chuyển đổi của tổ chứcKH&CN khối địa phương theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP, có thể kể đến cáccông trình nghiên cứu dưới đây:
1 Luận văn “Điều kiện để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ đối với các tổ chức KH&CN công lập hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp các Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long)”
của tác giả Đỗ Mạnh Thường
Việc thực hiện chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theotinh thần Nghị định 115/2005/NĐ-CP của các tổ chức KH&CN công lập đã
mở ra nhiều cơ hội, song cũng gặp không ít những thách thức và trở ngại.Nhiều tổ chức KH&CN công lập sau khi chuyển đổi vẫn không phát huy được
ưu thế của thiết chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, chưa thể đảm bảo kinh phíhoạt động thường xuyên theo quy định Cùng với quá trính thực hiện chuyểnđổi, các chình sách đề cập trong Nghị định để hỗ trợ thúc đẩy tiềm lực hoạtđộng của tổ chức KH&CN cũng chưa được triển khai kịp thời, thiếu sự quantâm của các cấp có thẩm quyền…, điều đó đã dẫn đến đa số các tổ chứcKH&CN sau chuyển đổi đều hoạt động kém hiệu quả Vậy, nguyên nhân hoạtđộng kém hiệu quả đó là gí? Từ đó, vấn đề đặt ra là: Điều kiện nào để thựchiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP củacác tổ chức KH&CN?
Trong quá trính nghiên cứu, tìm hiểu, tổng hợp dữ liệu, phân tìch vàđánh giá Tác giả đã đưa ra một số kết quả nghiên cứu từ giả thuyết và được
Trang 15chứng minh là những điều kiện không thể thiếu, mang ý nghĩa quyết định đểcác tổ chức KH&CN làm cơ sở thực hiện lộ trính chuyển đổi cơ chế tự chủ, tựchịu trách nhiệm và hoạt động có hiệu quả, những điều kiện đó phải là: 1- sảnphẩm KH&CN phải được thương mại hoá; 2- Nhà nước phải đổi mới cơ chếquản lí vĩ mô về KH&CN.
Từ kết quả nghiên cứu trên có thể đi đến kết luận sau:
Một là, quá trính thực hiện chuyển đổi hoạt động sang cơ chế tự chủ, tựchịu trách nhiệm theo Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 củaChính phủ đối với các tổ chức KH&CN công lập thực tế cho thấy còn thiếunhiều điều kiện để chuyển đổi, bằng chứng là Nhà nước đã thừa nhận và chođiều chỉnh, bổ sung bằng Nghị định số: 96/2010/NĐ-CP ngày 20/9/2010 củaChình phủ
Hai là, bản chất của mô hính tự chủ, tự chịu trách nhiệm phải bao gồmquyền tự quyết về phương hướng nhiệm vụ KH&CN, tự mở rộng các quan hệhợp tác với các đối tác khác trong xã hội bình đẳng cùng có lợi, khác với thời
kì kinh tế kế hoạch hoá tập trung
Ba là, với yêu cầu về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm như vậy, chúng
ta còn thiếu nhiều điều kiện, trong đó điều kiện quan trọng không thể thiếunhư đãtrình bày ở trên Những điều kiện này phải là những điều kiện màchình Nhà nước phải mở ra cho các tổ chức KH&CN
2 Luận văn: “Các yếu tố cơ bản để các trung tâm ứng dụng tiến bộ
khoa học công nghệ cấp tỉnh thực hiện thành công Nghị định CP” của tác giả Cao Thanh Hùng:
115/2005/NĐ-Qua nghiên cứu thực trạng hoạt động của một số trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN các tỉnh Bến Tre, Đồng Tháp, Tiền Giang, Long An, Vĩnh
Trang 16Long tác giả làm rõ những yếu tố cần và đủ để các tổ chức chuyển đổi tự chủ,
tự chịu trách nhiệm thành công Các yếu tố bao gồm:
Một là, đối với lãnh đạo phải có tư duy tầm nhìn chiến lược, có tư duyđổi mới, luôn sát sao, nhạy bén với tình hình thực tế
Hai là, đối với cơ sở vật chất của Trung tâm phải đáp ứng đầy đủ, đồng
bộ và phù hợp với năng lực công nghệ của Cán bộ viên chức
Ba là, sản phẩm của Trung tâm phải: không ngừng cải tiến mẫu mã sảnphẩm, được thị trường chấp nhận, các sản phẩm phải có tính cạnh tranh vàđáp ứng nhu cầu thị trường
Bốn là, đối với đội ngũ Cán bộ viên chức phải được chuyên nghiệp hóa,
bố trí chuyên môn phù hợp, phải có năng lực trong nghiên cứu và triển khai,tạo ra sản phẩm mới, cải tiến và phát triển công nghệ
Năm là, Trung tâm cần được hỗ trợ kinh phí hoạt động thường xuyêntrong giai đoạn đầu và được cấp vốn lưu động ban đầu
Sáu là, cơ chế, chính sách phải đầy đủ, rõ ràng và cần có hướng dẫn liênngành cụ thể, kịp thời để việc áp dụng tại các địa phương được thống nhất,thuận lợi và chuẩn xác
Theo tác giả, đảm bảo những yếu tố cơ bản này, Nghị định115/2005/NĐ-CP sẽ được thực hiện thành công Tuy vậy, đề tài chưa lý giảiđược vì sao và xu thế chuyển đổi của các Trung tâm Ứng dụng tiến bộKH&CN bằng việc áp dụng các điều kiện kể trên
3 Luận văn: “Các giải pháp thúc đẩy hoạt động của Trung tâm Ứng
dựng tiến bộ KH&CN địa phương theo cơ chế tự chủ (nghiên cứu trường hợp Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Thái Bình)”.
Trang 17Trong đề tài này, tác giả đã làm rõ bản chất của tự chủ, tự chịu tráchnhiệm, trong đó tác giả đã đề cập đến vấn đề năng lực tự chủ, tự chịu tráchnhiệm của các tổ chức nghiên cứu, tác giả cũng đưa ra các giải pháp để cácTrung tâm hoạt động hiệu quả khi chuyển đổi Tuy nhiên, sau khi đưa ra cácgiải pháp, đề tài vẫn chưa đề cập đến những thay đổi khi thực hiện thành côngcác giải pháp.
4 Hoàng Xuân Long, đề tài cấp Bộ năm 2006 về “quyền tự chủ và nănglực tự chủ của tổ chức nghiên cứu triển khai” Trong đề tài này, tác giả đã làm rõbản chất của tự chủ, tự chịu trách nhiệm, đặc biệt nhấn mạnh về vấn đề năng lực tựchủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu Tuy nhiên,
tác giả ít đề cập đến các trường hợp cụ thể, càng không đi sâu vào các trung tâm dịch vụ KH&CN như đề tài luận văn này mong muốn
5 Hoàng Văn Tuyên với đề tài cấp bộ năm 2001 về “Nghiên cứu cơ chế
hoạt động của các viện NC-TK tự chủ tài chính” đã làm rõ:
- Các hình thức tổ chức tạo điều kiện tự chủ tài chính cho các viện;
- Cơ chế tài chính đảm bảo cho viện NC-TK tự chủ tài chính;
- Vai trò của nhà nước đối với các viện NC-TK tự chủ tài chính;
- Quá trình nâng cao tính tự chủ cho các viện NC-TK
- Các nỗ lực của nhà nước trên phương diện pháp lý
6 Nguyễn Minh Nga năm 2003 với đề tài cấp cơ sở về “phát triển các
loại hình dịch vụ KH&CN” đã làm rõ:
- Phân loại các dịch vụ KH&CN
- Thiết kế hệ thống các tổ chức cung cấp dịch vụ KH&CN
- Cơ chế quản lý mạng lưới các tổ chức dịch vụ KH&CN
Trang 18Còn có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề trên đây Các đề tài cũng đãlàm rõ được bản chất của thiết chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, đi sâu vào cácvấn đề cản trở quá trình thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm đồng thời đưa
ra các giải pháp để chuyển đổi thành công Sau khi chuyển đổi thành công,các Trung tâm dịch vụ KH&CN khối công lập khối địa phương sẽ biến đổithế nào, cụ thể với trường hợp Trung tâm Dịch vụ KH&CN Hà Nam dưới tácđộng của Nghị định 115/2005/NĐ-CP, sẽ được làm rõ trong luận văn
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát: Nhận diện sự biến đổi của Trung tâm dịch vụ
KH&CN Hà Nam khi chuyển đổi hình thức hoạt động theo Nghị định115/2005/NĐ-CP
- Đề xuất một số giải pháp chính sách đảm bảo thực hiện thành công sựthay đổi của các Trung tâm dịch vụ KH&CN công lập khối địa phương theo
Nghị đinh 115/2005/NĐ-CP
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu:
Hoạt động của các Trung tâm dịch vụ KH&CN trên cả nước nói chung
và khối địa phương nói riêng trước và sau khi ban hành Nghị định 115/2005/NĐ-CP
Trang 195 Mẫu khảo sát
- Trung tâm Trung tâm dịch vụ KH&CN Hà Nam và một số Trung tâmdịch vụ KH&CN khối địa phương theo mặt cắt: thực trạng hoạt động, năng lực tựchủ và quá trình chuyển đổi theo 115/2005/NĐ-CP
6 Câu hỏi nghiên cứu
6.1 Câu hỏi chính:
Các Trung tâm dịch vụ KH&CN khối địa phương thay đổi như thế nào dưới tác động của Nghị định 115/2005/NĐ-CP?
6.2 Câu hỏi phụ:
- Bản chất của thiết chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm là gì?
- Tác động của thiết chế đó với các Trung tâm dịch vụ KH&CN công lậpkhối địa phương như thế nào?
7 Giả thuyết nghiên cứu
7.1 Giả thuyết chính:
Các Trung tâm dịch vụ KH&CN công lập khối địa phương thay đổitheo hướng tự quyền về tổ chức – tái cấu trúc; lựa chọn và thực hiện nhiệm vụsát với nhu cầu thị trường trên cơ sở năng lực tự chủ của mình
7.2 Giả thuyết phụ:
Trang 20- Thiết chế tự chủ gồm tự chủ về tổ chức, nhân sự, tài chính, các quan
hệ theo hướng tự quản – phi chủ quản
- Tác động của Nghị định 115/2005/NĐ-CP đối với các Trung tâm dịch
vụ KH&CN khối địa phương theo hướng tăng cường tinh thần tự chủ, năng lực tựchủ của các tổ chức này
8 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
8.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Thống kê, tổng hợp kế thừa và sử dụng tài liệu sơ cấp và thứ cấp, kết quảnghiên cứu của các công trính đã được công bố có liên quan đến đề tài nghiêncứu của luận văn
Phân tích, tổng hợp các số liệu thu thập được từ các nguồn: kỷ yếu “Hộinghị về hoạt động các trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN lần thứ VIII,tháng 10/2015”, báo cáo “Tổng hợp tình hình hoạt động của các Trung tâmứng dụng tiến bộ KH&CN năm 2015”, đề án chuyển đổi theo Nghị định115/2005/NĐ-CP các tỉnh Hà Nam, Quảng Ninh, Bắc Giang,…
- Phương pháp phân tích tài liệu: tìm hiểu các tài liệu về: * Hệ thống lý thuyết về tổ chức KH&CN;
* Những quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động KH&CN;
* Quá trình thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ-CP của các tổ chứcKH&CN nói chung và của các trung tâm dịch vụ KH&CN khối địa phương nói riêng
8.2 Phương pháp phỏng vấn chuyên gia
Trang 21Tiến hành phỏng vấn sâu, kết hợp với quan sát tại một số Trung tâm dịch
vụ KH&CN khối địa phương như: Trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN tỉnh
Hà Nam, Trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN tỉnh Bắc Giang, Trung tâmứng dụng tiến bộ KH&CN tỉnh Quảng Ninh …
- Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn sâu các đối tượng:
* Các nhà nghiên cứu công tác trong các tổ chức KH&CN thuộc diệnquy định trong Nghị định 115/2005/NĐ-CP, bao gồm: người lãnh đạo, cán bộPhòng Tổ chức, Ban Kế hoạch Tài chính, Trung tâm Đào tạo, tư vấn và nghiên cứuviên
* Các chuyên gia trong lĩnh vực tổ chức hoạt động KH&CN
8.3 Phương pháp phân tích chính sách:
- Việc thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ-CP của các tổ chức KH&CN
- Thái độ, phản ứng của nhà nghiên cứu trong các tổ chức KH&CN đốivới việc chuyển đổi hình thức hoạt động của tổ chức KH&CN công lập khối địaphương
9 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, phần nội dung của đềtài gồm 3 chương chính có kết cấu như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm và sự biến đổi của các Trung tâm dịch vụ KH&CN dưới tác động của nghị định 115/2005/NĐ-CP
1.1 Các khái niệm công cụ
1.2 Lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN
1.3 Sự thích nghi của các Trung tâm dịch vụ KH&CN công lập dướitác động của Nghị định 115/2005/NĐ-CP
Trang 22Chương 2 Phân tích thực trạng quá trình chuyển đổi của các tổ chức dịch vụ KH&CN công lập theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP
2.1 Thực trạng phát triển của các Trung tâm dịch vụ KH&CN trên địa bàn cả nước
2.2 Tác động của nghị định 115/2005/NĐ-CP với các Trung tâm dịch
vụ KH&CN trên cả nước
2.3 Những bất cập trong quá trình chuyển đổi theo nghị định
115/2005/NĐ-CP của các Trung tâm dịch vụ KH&CN
Chương 3 Nhận diện xu thế biến đổi của các Trung tâm KH&CN công lập dưới tác động của Nghị định 115/2005/NĐ-CP
3.1 Xu thế biến đổi của các tổ chức KH&CN công lập
3.2 Những biến đổi của Trung tâm dịch vụ KH&CN Hà Nam sau khi chuyển sang tự chủ, tự chịu trách nhiệm
3.3 Đề xuất một số giải pháp cho sự biến đổi
3.4 Điều kiện để thực hiện thành công các giải pháp
Trang 23CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH
NHIỆM VÀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA CÁC TRUNG TÂM DỊCH VỤ
KH&CN DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ-CP.
1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Khái niệm về tổ chức KH&CN công lập
Y học cho rằng trong sinh vật đơn bào, các tế bào đơn lẻ thực hiện tất
cả các chức năng sống, nó hoạt động một cách độc lập Tuy nhiên, sinh vật đabào có mức độ khác nhau của tổ chức cơ thể của chúng Mỗi tế bào có thểthực hiện chức năng cụ thể riêng nhưng tuân thủ mục đích chung vì lợi íchcủa toàn bộ cơ thể và vì thế các tế bào trở nên phụ thuộc lẫn nhau, liên kết vớinhau vì mục đích chung này Xét theo quan điểm hệ thống, tổ chức sinh vật đabào là một hệ thống tổ chức phức tạp nhất và chuẩn chỉnh nhất
Theo tiếp cận xã hội học, tổ chức được xem như là một thực thể xã hộitập hợp các nhóm người khác nhau để thực hiện mục tiêu - nhiệm vụ nào đó.Xét theo khía cạnh luật pháp học, tổ chức là đơn vị có tư cách pháp nhân, cóđiều lệ hoạt động và có trụ sở giao dịch Tư cách pháp nhân được hiểu làquyền được tố tụng và bị tố tụng
Trang 24Như vậy, luận văn cho rằng tổ chức là một thực thể xã hội hoặc quá trình liên kết con người với phương tiện – công cụ để thực hiện một mục tiêu
- nhiệm vụ nào đó Ví dụ, trung tâm dịch vụ KH&CN là một tổ chức bao gồmcác nhân sự với chuyên môn khác nhau để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụKH&CN cho xã hội; quá trình thương mại điện tử - liên kết con người với
máy tính – mạng internet để thực hiện các thương vụ v.v…
b) Tổ chức KH&CN
Theo Luật KH&CN 2013, tổ chức KH&CN “là tổ chức có chức năngchủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển côngnghệ, hoạt động dịch vụ KH&CN, được thành lập và đăng ký hoạt động theoquy định của pháp luật.” [17, tr 2]
Theo Luật này, tổ chức KH&CN bao gồm các tổ chức nghiên cứu khoahọc và phát triển công nghệ, các trường cao đẳng và đại học, các tổ chức dịch
vụ KH&CN Các loại hình tổ chức KH&CN này có thể là các tổ chức thuộcChính phủ, bộ và cơ cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp; thuộc cáchiệp hội xã hội nghề nghiệp, tập thể tự nguyện, tư nhân, liên doanh liên kếtvới nước ngoài (có yếu tố nước ngoài), thuộc doanh nghiệp v.v…
Theo nghị định 35-HĐBT ngày 28 tháng 2 năm 1993 thì tổ chứcKH&CN có quyền được thực hiện đồng thời 3 hoạt động: Hoạt động nghiêncứu khoa học và triển khai kỹ thuật; hoạt động đào tạo và bồi dưỡng; hoạtđộng sản xuất kinh doanh Theo đó, viên nghiên cứu, trường đại học có thể làchủ sang lập các doanh nghiệp trực thuộc hoặc phối thuộc
Hệ thống các tổ chức KH&CN nước ta sau khi ban hành Nghị định 35–HĐBT bao gồm: các viện nghiên cứu và triển khai thuộc mọi thành phầnkinh tế, trong trường đại học, thuộc doanh nghiệp Đây là một hệ thống mở,
Trang 25đa dạng về hoạt động và hình thức tổ chức cũng như hình thức sở hữu được hình thành dưới tác động của thiết chế tự do hóa của Nghị định này.
Theo Vũ Cao Đàm [8; tr.292] các mô hình tổ chức KH&CN có thể bao gồm bốn mô hình cơ bản như sau:
- Mô hình I: là mô hình cổ điển nhất, trong đó các tổ chức NC&TK thựchiện trọn vẹn các giai đoạn của quá trình NC&TK, còn các doanh nghiệp chỉlàm nhiệm vụ sản xuất và tiếp tục phát triển công nghệ trong sản xuất Giữa tổchức NC&TK và doanh nghiệp tồn tại các công ty tư vấn đóng vai trò cầu nối
từ NC&TK tới sản xuất
- Mô hình II: là một nỗ lực của doanh nghiệp hướng tới làm chủ côngnghệ mới bằng cách tự mình làm triển khai, từ khâu chế tạo vật mẫu sản phẩm mới(prototype), làm pilot để xây dựng công nghệ và sản xuất loạt “0”, đưa vào sảnxuất công nghiệp và tiếp tục phát triển công nghệ trong sản xuất
- Mô hình III: tổ chức NC&TK tạo ra các doanh nghiệp KH&CN (xí nghiệpspin-off), chuyển toàn bộ khâu “triển khai” vào doanh nghiệp này, đồng thời để doanhnghiệp này kiêm luôn cả chức năng của một công ty tư vấn
- Mô hình IV: doanh nghiệp KH&CN kéo dài chức năng về phía trước, bắt đầu từ nghiên cứu ứng dụng qua triển khai tới tư vấn
Với các dẫn liệu trên, Luận văn cho rằng, tổ chức KH&CN là tổ chức
có tư cách pháp nhân được thực hiện các hoạt động nghiên cứu Khoa học vàphát triển công nghệ, đào tạo và tái đào tạo nhân lực KH&CN, sản xuất kinhdoanh và cung cấp các dịch vụ có liên quan
Như vậy, hoạt động của tổ chức KH&CN có thể bắt đầu từ nảy sinh ýtưởng, nghiên cứu, triển khai, thiết kế thử nghiệm, nắm vững sản xuất qua seri
0 tiến tới sản xuất đại trà và phổ cập thị trường Tuy nhiên cần nhấn mạnh
Trang 26rằng do ưu thế của mình, các tổ chức KH&CN nên sản xuất những sản phẩmthâm dụng tri thức, những sản phẩm có sức cạnh tranh cao mà doanh nghiệpthông thường không thể sản xuất được Điều này đặc biệt quan trọng đối vớicác trung tâm dịch vụ KH&CN khối địa phương nơi phải canh tranh gay gắtvới các loại hình khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư v.v…
c) Tổ chức KH&CN công lập
Nghị định 16/2015/NĐ-CP quy định về tổ chức sự nghiệp công lập nhưsau: “Đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nướcthành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụcông, phục vụ quản lý nhà nước (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công).”[5, tr.1]
Căn cứ quy định này, từ các phân tích tại mục b) trên đây luân văn cóthể rút ra định nghĩa tổ chức KH&CN công lập là tổ chức KH&CN do cơquan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập đặt trực thuộc các bộ, cơ quanngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp Các tổ chức này là những đơn vị sựnghiệp trong bộ máy quản lý nhà nước, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch
vụ công cũng như á công
Các tổ chức KH&CN công lập có tư cách pháp nhân, có con dấu và tàikhoản riêng, do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định thànhlập, gồm:
+ Tổ chức nghiên cứu khoa học là những tổ chức hoạt động trong lĩnhvực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhànước không thuộc diện bắt buộc chuyển đổi
+ Tổ chức nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ: là những tổ chức nghiên cứu và thực nghiệm các công nghệ mới và sản phẩm mới
Trang 27Các tổ chức KH&CN công lập được tổ chức dưới các hình thức: viện,trung tâm, trạm, trại (nghiên cứu, quan trắc, thử nghiệm) và các cơ sở nghiêncứu và phát triển khác thuộc Nhà nước.
+ Tổ chức NC&TK: có chức năng nghiên cứu khoa học và triển khaithực nghiệm nhằm tạo ra các bước phát triển KH&CN, sẵn sàng cho việc áp dụngvào dự trữ công nghệ
+ Các Viện nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách lànhững tổ chức KH&CN công lập có chức năng, nhiệm vụ phục vụ quản lý Nhà nước
d) Năng lực nghiên cứu khoa học của tổ chức KH&CN
Với cách tiếp cận theo các yếu tố đầu vào của hoạt động NC&TK, nănglực NC&TK thường được xem xét trên các yếu tố cơ bản là nhân lực, tàichính, thông tin KH&CN và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ NC&TK
- Về nhân lực, năng lực NC&TK của một tổ chức thể hiện qua số
lượng, cơ cấu về trình độ chuyên môn, về biên chế (chính nhiệm, kiêm nhiệm, hợpđồng), về giới tính của nhân lực tham gia hoạt động NC&TK và khả năng đápứng các yêu cầu của hoạt động này Theo OECD, nhân lực NC&TK là toàn bộnhững người trực tiếp tham gia vào các hoạt động NC&TK và những người thựchiện các dịch vụ trực tiếp cho hoạt động NC&TK như cán bộ quản lý, cán bộ hànhchính, nhân viên văn phòng trong đơn vị NC&TK Ngoài ra năng lực về nhân lựccòn được thể hiện qua việc phối hợp sử dụng nhân lực ( chuyên gia) ở bên ngoài
và tình hình đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ nhân lực bên trong tổ chức
- Về thông tin KH&CN, năng lực NC&TK biểu hiện qua nguồn thông
tin được dự trữ, cập nhật, sử dụng và cơ sở hạ tầng kỹ thuật đi kèm để phục vụ choviệc quản lý, sử dụng nguồn thông tin đó Ngoài ra năng lực về thông
24
Trang 28tin còn thể hiện qua mức độ cập nhật, sử dụng, tính đa dạng và độ tin cậy củanguồn cung cấp thông tin đầu vào Nguồn thông tin KH&CN có thể gồm một
số loại như sau:
+ Thông tin nguyên liệu như sách, báo cáo khoa học trong và ngoàingành, số liệu thống kê, các tài liệu về chuyên ngành KH&KT có liên quan, các sổtay tiêu chuẩn về kinh tế - kỹ thuật, các văn bản chính sách của Nhà nước
+ Thông tin về phương pháp như các tài liệu về phương phápnghiên cứu và xử lý dữ liệu khoa học chuyên ngành và ngoài ngành, hoặc về cácphương pháp có thể sử dụng cho hoạt động NC&TK
+ Thông tin về các nguồn lực như thông tin về các tổ chứcKH&CN và nguồn nhân lực có thể phối hợp trong NC&TK, về các nguồn tàichính, các tổ chức tài trợ có tiềm năng có thể khai thác phục vụ hoạt độngNC&TK
- Về tài chính, năng lực NC&TK biểu hiện qua khả năng huy động các
nguồn kinh phí để đầu tư cho hoạt động NC&TK và mức độ đáp ứng yêu cầucủa hoạt động này Tính đa dạng của các nguồn kinh phí là yếu tố thể hiện sứcmạnh và tính năng động của tổ chức biết khai thác các nguồn lực tài chínhkhác nhau để phát triển năng lực nghiên cứu Các nguồn tài chính ở đây có thể
là từ ngân sách Nhà nước, từ hoạt động của tổ chức, từ các tổ chức tài trợtrong và ngoài nước, từ các hợp đồng NC&TK và chuyển giao công nghệ vớicác đối tác khác
Ngoài ra các phương thức cấp phát và thanh toán, việc hình thành Quỹ pháttriển KH&CN, cũng là yếu tố giúp nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lựctài chính trong hoạt động NC&TK
- Về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ NC&TK, năng lực NC&TK
được thể hiện chủ yếu qua việc tổ chức các cơ sở phục vụ NC&TK như các
25
Trang 29phòng thí nghiệm, labô công nghệ, cơ sở thực nghiệm, sản xuất thử, gia công,chế tạo, thử nghiệm, giám định chất lượng sản phẩm (từ sản xuất thử)…; tìnhhình đầu tư trang thiết bị phục vụ NC&TK tại các cơ sở này và mức độ đápứng yêu cầu hoạt động NC&TK Bên cạnh đó khả năng phối hợp với các cơ
sở bên ngoài qua các hình thức thuê thiết bị, đặt hàng hoặc hợp tác thựchiện…cũng là yếu tố góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu của tổ chức
Đối với các tổ chức NC&TK có NC&TK là hoạt động chính, nên ngoài
4 yếu tố trên, cơ chế và tổ chức hoạt động (tính linh hoạt, năng động, phù hợpvới hoạt động NC&TK…) cũng sẽ là yếu tố có ảnh hưởng đến năng lựcNC&TK.
1.1.2 Trung tâm dịch vụ KH&CN
Theo Luật Khoa học và Công nghệ 2013, Dịch vụ KH&CN là hoạtđộng phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho việc nghiên cứu khoa học và phát triểncông nghệ; hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ,tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, antoàn bức xạ, hạt nhân và năng lượng nguyên tử; dịch vụ về thông tin, tư vấn,đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệtrong các lĩnh vực kinh tế - xã hội
Như vậy, có thể định nghĩa về trung tâm dịch vụ KH&CN là tổ chứcchuyên thực hiện các dịch vụ KH&CN, hoạt động dưới sự điều chỉnh củaLuật Khoa học và công nghệ và những quy định pháp luật khác có liên quancủa Nhà nước
1.1.3 Chính sách KH&CN
a) Chính sách
Có nhiều định nghĩa khác nhau về chính sách, ví dụ như:
Trang 30- Chính sách là một tập hợp biện pháp, có thể là một biện pháp kích thíchkinh tế, một biện pháp động viên tinh thần, một mệnh lệnh hành chính hoặc một
ưu đãi đối với các các nhân hoặc các nhóm xã hội
- Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa dưới dạng cácđạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật như nghị định, thông tư, chỉ thịcủa chính phủ; hoặc các văn bản quy định nội bộ của một tổ chức, chẳng hạn nhưmột doanh nghiệp
- Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân vànhóm xã hội Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện mộtmục tiêu nào đó, dựa vào những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu mà tạođộng cơ cho đối tượng chính sách
- Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nóitrên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội như mục tiêu kinh doanh củadoanh nghiệp, mục tiêu phát triển của một địa phương hay mục tiêu bảo vệ đấtnước của một quốc gia
Luận văn cho rằng chính sách là một tập hợp các mục tiêu và giải pháp với tư cách là phương tiện để giành đạt mục tiêu
b) Chính sách KH&CN
Chính sách KH&CN là tập hợp có hệ thống các mục tiêu (hướng nội vàhướng ngoại) và các giải pháp xây dựng nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực,tin lực và năng lực quản lý) thực hiện các mục tiêu phát triển KH&CN đểKH&CN thật sự trở thành công cụ đắc lực phục vụ phát triển bền vững nềnkinh tế-xã hội xét theo mọi bình diện
Như vậy, hai mục tiêu cao nhất song hành là mục tiêu phát triển choKH&CN và mục tiêu phục vụ hệ thống ngoài – hệ thống kinh tế - xã hội.Không thể không “tu thân” nếu muốn “trị quốc - bình thiên hạ”, vì vậy mụctiêu xây dựng một nền KH&CN mạnh luôn đi trước một bước là rất cần thiết
Trang 31để phục vụ tốt nhất cho phát triển kinh tế - xã hội Mục tiêu lớp thứ 2 của câymục tiêu là các mục tiêu thành phần: mục tiêu xây dựng các nguồn lực Ví dụ,mục tiêu đổi mới cơ chế quản lý, mục tiêu xây dựng và phát triển nguồn nhânlực KH&CN, mục tiêu phát triển hệ thống thông tin KH&CN, mục tiêu pháttriển hệ thống các tổ chức KH&CN v.v…Đần dần hệ thống sẽ phân giã thànhcác giải pháp cụ thể.
Ngoài ra, cần nói thêm rằng KH&CN luôn là công cụ để thúc đẩy pháttriển và không phải là động lực phát triển kinh tế - xã hội mà ngược lại kinh tế
- xã hội là động lực phát triển KH&CN xét theo cả nghĩa rộng lẫn nghĩa hẹp.Điều này hết sức quan trọng cho sự chuyển đổi của các tổ chức KH&CN công lậpdưới tác động của Nghị định 115/2005/NĐ-CP
1.2 Lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN 1.2.1 Tự chủ.
Thuật ngữ “tự chủ” (Autonomy) đi với nhiều từ khác nhau, tạo ra cáccụm từ với khái niệm khác nhau như: tự chủ tài chính, tự chủ về kinh tế, tựchủ về chuyên môn, tự chủ của tổ chức, cơ quan Thuật ngữ tự chủ trong cáccụm từ trên được hiểu là sự chủ động, tự quyết của chủ thể được tự quyết địnhmột số lĩnh vực, một số mặt nào đó Theo đó, thực hiện tự chủ là một sự chia
sẻ quyền lực, giao quyền cho cấp dưới nhiều hơn, giảm bớt sự tập trung hóa
và như vậy sẽ tăng hiệu quả quản lý của các cấp trong bộ máy quản lý Cáccấp quản lý cần có thông tin đầy đủ hơn, nhất là trong quá trình phát triểnngày càng phức tạp của xã hội hiện đại, Nhà nước sẽ khuyến khích việc tựđiều hành cấp dưới
Nguyên tắc tự chủ là cho phép tự do cần thiết, không có sự can thiệpcủa bên ngoài, trong việc sắp xếp tổ chức và điều hành nội bộ cũng như phân
bổ trong nội bộ nguồn tài chính và tạo thêm nguồn thu nhập từ các nguồn
Trang 32ngoài phần cấp phát của Nhà nước; tự chủ trong việc tuyển dụng nhân lực và
bố trí điều kiện cho họ; tự do trongviệc điều hành giảng dạy và nghiên cứu.Khi một tổ chức được tự chủ thì tổ chức đó sẽ tự mình quyết định các mụctiêu và thực hiện các mục tiêu, ưu tiên này nếu các tổ chức đó phục vụ xã hộingày một tốt hơn
Tính tự chủ là một phạm trù khách quan, phản ánh thuộc tính tự do,bình đẳng của các của một tổ chức được Nhà nước nhận thức và thể chế hóathành văn bản, chỉ thị, quyết định và áp dụng đối với thực thể nào đó gọi làquyền tự chủ Khác với tính tự chủ, quyền tự chủ là một phạm trù mang tínhchủ quan, phụ thuộc vào nhận thức của chủ thể quản lý, ra quyết định côngnhận sự tự chủ của thực thể với mức độ khác nhau
Tự chủ của tổ chức KH&CN thường gắn liền với tự do trong hoạt độngKH&CN, tuy nhiên chúng không đồng nghĩa với nhau Tự do trong hoạt độngKH&CN là một yếu tố cần cho tự chủ, song lý tưởng nhất vẫn là hiện diện cảhai Trên thực tế, có thể có tự chủ nhưng không có tự do trong hoạt độngKH&CN và ngược lại Tuy nhiên quyền thực hiện, huy động các nguồn trithức để thực hiện các mục tiêu đã được thông qua, cho dù có bị hạn chế không
ít nhưng vẫn được tăng cường trong trường hợp có mức tự chủ cao Cácnghiên cứu chỉ ra rằng, tự chủ của các tổ chức khác nhau giữa các nước cácđịa phương nhưng bất kỳ tổ chức nào cũng đều chịu sự điều chỉnh của chínhsách Nhà nước
1.2.2 Tự chịu trách nhiệm
Trách nhiệm được hiểu là phần việc được giao cho hoặc coi như đượcgiao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịuphần hậu quả Trách nhiệm cũng bao hàm nghĩa sự ràng buộc đối với lời nói,
Trang 33hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu phần hậuquả
Thuật ngữ tiếng Anh “Accountability” mang nghĩ là tự chịu tráchnhiệm Theo từ điển Weber, tự chịu trách nhiệm là trạng thái hoặc phẩm chấtđối với việc chịu trách nhiệm, có thể là bị bắt buộc có thể là tự nguyện, chấpnhận trách nhiệm về hành vi của chính mình
Như vậy, tự chịu trách nhiệm là ý thức của chính bản thân chủ thể vềbổn phận của mình ý thức về hậu quả từ hành vi của mình, mức độ gánh chịuhậu quả do hành vi của mình gây ra và có hành vi khắc phục hậu quả Tự chịutrách nhiệm trong nhiều trường hợp tuy là một hành vi như hành vi nhận lỗi
và khắc phục hậu quả nhưng đó là kết quả của cả một quá trình nhận thức vềthế giới xung quanh thông qua lao động và từ đó hiểu được hậu quả mà hành
vi của mình thực hiện, thể hiện mức độ gánh chịu hậu quả do hành vi củamình gây ra
Tự trách nhiệm đượcphân biệt ra trách nhiệm bên trong và trách
nhiệm bên ngoài, tức là trách nhiệm đối với tổ chức nói chung và trách
nhiệm tổ chức chính nơi họ làm việc, hoạt động Ở đây liên quan đến chịu trách nhiệm về các quyền lợi khác nhau, chịu trách nhiệm về chức năng của mình, chịu trách nhiệm với các cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp về hành vi của đội ngũ nhân lực mà tổ chức đó quản lý về tự đúng đắn và quá trình tạo ra quyết định trong nội bộ tổ chức
Trong quản lý, tự chịu trách nhiệm chính là ý thức của chính bản thânngười làm quản lý hoặc người thực hiện công việc về công việc mà mình thựchiện Ý thức này bao gồm ý thức đạo đức đối với xã hội và ý thức pháp lý vềcông việc cũng như vị trí công việc của chủ thể mà pháp luật quy định
Trang 341.2.3 Mối quan hệ giữa tính tự chủ và tính trách nhiệm đối với các tổ chức KH&CN công lập
Trước Nghị định 115/2005/NĐ-CP, các tổ chức KH&CN công lập nằmtrong hệ thống quản lý nhà nước, thực hiện công tác nghiên cứu khoa họcnhằm phục vụ sự nghiệp khoa học của nước nhà Các tổ chức KH&CN cônglập do nhà nước thành lập, được nhà nước cấp kinh phí để thực hiện côngviệc Do đó, mọi công việc, định hướng nghiên cứu, kinh phí, nhân lực đều doNhà nước chỉ đạo và các tổ chức này thực hiện theo sự chỉ đạo của cấp trên(Nhà nước) từng công việc cụ thể
Tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN là nhằm mục tiêu cụthể về: giải quyết mối quan hệ quyền sở hữu và quyền sử dụng, đáp ứngnhững thay đổi trong chính sách KH&CN, đáp ứng xu hướng phát triển mớicủa KH&CN
Vấn đề quan trọng quyết định đến sự tồn tại của các tổ chức KH&CN làquyền sở hữu của tổ chức đó “Quyền sở hữu bao gồm 3 quyền năng: quyềnchiếm giữ, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối tượng sở hữu” Việc táchquyền sử dụng với quyền chiếm giữ và quyền định đoạt đối tượng sở hữunhằm tạo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chủ thể sử dụng đối tượng diễn rakhá nhiều và khá sớm Điều đáng nhấn mạnh là sự độc lập của quyền sử dụngchỉ là tương đối, nó vẫn phải đặt trong mối quan hệ ràng buộc với các mặtkhác của quyền sở hữu Ngoài việc không thể thay đổi quyền chiếm giữ vàquyền định đoạt đối với đối tượng sở hữu, thì hoạt động của tổ chức KH&CNcông lập còn phải định hướng phục vụ vào các mục tiêu của Nhà nước, màchính nhờ có những mục tiêu đó thì các tổ chức nghiên cứu và triển khai Nhànước mới ra đời
Trang 35Để hoạt động một cách tự chủ trên thị trường, các tổ chức KH&CNcông lập cần có các quyền sử dụng tài sản trong đơn vị nhằm đáp ứng nhữngđòi hỏi của bối cảnh bên ngoài vốn đầy biến động và phức tạp Như vậy, mặc
dù Nhà nước vẫn là chủ thể sở hữu tài sản của tổ chức KH&CN công lập,nhưng chính mỗi tổ chức KH&CN công lập lại là chủ thể sử dụng tài sản đó.Đương nhiên, tăng cường quyền cho đơn vị không có nghĩa là loại bỏ quyềncủa Nhà nước.“Tách quyền sở hữu và quyền sử dụng”, “tách Nhà nước khỏi
tổ chức KH&CN” không phải hiểu theo nghĩa cơ học là đối lập tuyệt đối, táchbiệt hoàn toàn giữa chủ thể sở hữu với tổ chức KH&CN công lập Tăng quyền
sử dụng cho đơn vị và “tách quyền sở hữu và quyền sử dụng” thực chất làthiết lập một quan hệ kiểu mới giữa chủ thể sở hữu - Nhà nước và chủ thể sửdụng- tổ chức KH&CN công lập cụ thể
Về nguyên tắc, quyền sở hữu của Nhà nước phải được thể hiện cụ thểtrong từng tổ chức KH&CN thông qua:
- Nhà nước có đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại các tổ chức KH&CN công lập
- Nhà nước có quyền gián tiếp nhưng quyết định đối với hoạt độngnghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ của tổ chức KH&CN công lập nhưquyền chỉ định người lãnh đạo, quyền quyết định chiến lược hoạt động và quyềnkiểm tra, kiểm soát hoạt động của tổ chức KH&CN công lập
Vê bản chất tự chủ, tự chịu trách nhiệm là công cụ thu hẹp mâu thuẫngiữa quyền sở hữu và quyền sử dụng của các tổ chức KH&CN, đây là vấn đềquan trong quyết định sự tồn tại của các tổ chức KH&CN Quyền sở hữu baogồm: quyền chiếm giữ, quyền sử dụng, quyền định đoạt đối tượng sở hữu.Với sở hữu nhà nước thì chủ thể chiếm giữ và chủ thể định đoạt là Nhà nước,nhưng chủ thể sử dụng lại là các đơn vị cụ thể Điều quan trọng là khi một tổ
Trang 36chức thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm thì đương nhiên phải có quyền sửdụng và nắm giữ, khi đó mới có thể thực hiện được các mục tiêu phát triểncủa tổ chức.
Mặt khác, tự chủ, tự chịu trách nhiệm là phải “tự lo được cuộc sống chomình” Ở đây đối với một tổ chức thì tự chủ, tự chịu trách nhiệm là tổ chức đóphải tìm được cho mình một hướng đi đúng, áp dụng các kết quả nghiên cứunội tại của tổ chức để điều chỉnh tổ chức sao cho hoạt động có hiệu quả bêncạnh đó học tập các nước tiên tiến trên thế giới về phương thức hoạt động củamột tổ chức tự chủ, tự chiu trách nhiệm
Thực tế cho thấy, sự tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các tổ chứcKH&CN ở Việt Nam phải được thể hiện ở rất nhiều mặt Đối với tự chủ, đó là
sự tự quyết định hướng nghiên cứu, quyền được huy động các nguồn lực đểthực hiện các định hướng nghiên cứu tự đề ra và quyền được tự quyết về vấn
đề tài chính của tổ chức Đối với tự chịu trách nhiệm, đó là đảm bảo kết quảcủa hoạt động khoa học dưới quyền tự chủ của tổ chức phù hợp và hài hòa vớicác quy định của pháp luật, bảo toàn về phần vốn do nhà nước cấp và đảmbảo mọi chế độ tài chính theo quy định của nhà nước, đảm bảo sử dụng phầnlợi tức thu được hài hòa và đảm bảo dân chủ đối với từng cá nhân tham giavào quá trình hoạt động khoa học của tổ chức Nếu trong trường hợp xảy racác sai phạm theo quy định của pháp luật thì người đứng đầu các tổ chức nóitrên và những người liên đới phải thực hiện việc khắc phục hậu quả theo quyđịnh của pháp luật hoặc thậm trí chịu trách nhiệm hình sự
Sự tự chủ giúp các tổ chức KH&CN có thể bao hàm theo nghĩa tự trịdưới các quy định pháp luật của nhà nước về quản lý vĩ mô tài chính và khoahọc công nghệ Khi có sự tự chủ, các tổ chức khoa học được tự do nghiêncứu, định hướng nghiên cứu của mình, được tự tìm kiếm nguồn vốn và đầu tư
Trang 37nguồn vốn sao cho có lợi nhất vào nghiên cứu được dự tính Chính sự tự donày đảm bảo cho hoạt động KH&CN được phát triển mạnh và đa dạng theo đahướng Sự tự chịu trách nhiệm bị ràng buộc bởi hành lang pháp lý của nhànước sẽ giúp cho các hoạt động KH&CN tránh được những tổn thất và hoạtđộng vượt ra ngoài khuôn khổ quy định của pháp luật hiện hành.
1.3 Sự thích nghi của các Trung tâm dịch vụ KH&CN công lập dưới tác động của Nghị định 115/2005/NĐ-CP
Sự thích nghi của một hệ thống được hiểu là khả năng thay đổi củachính hệ thống nhằm đuổi kịp hoặc phù hợp với bối cảnh đang thay đổi Một
hệ thống thích nghi là một hệ thống mở mà trong đó các phần của hệ thống cóthể thay đổi phù hợp với sự thay đổi của môi trường
Sự thích nghi là cả một quá trình diễn ra nhanh hay chậm tùy thuộcvào từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể và tùy theo từng đối tượng Trong quátrình ấy, sẽ có những sự điều chỉnh nhằm thúc đẩy và hỗ trợ tiến trình thíchnghi Những sự điều chỉnh ấy thuộc về nội tại bên trong của cá thể nhằm giúp
cá thể có thể tồn tại và phát triển trong những điều kiện có sự thay đổi Khi
Trang 38điều chỉnh diễn ra, sẽ xuất hiện những khủng hoảng về sự tồn tại của cái cũ,
sự tiếp nhận cái mới và sự hòa nhập giữa mới và cũ Nhờ những khủng hoảng
ấy, các sự khiếm khuyết sẽ được bộc lộ ra, bị những cái mới ưu việt hơn triệttiêu, thay thế dần dần tới thay thế hoàn toàn cái cũ Trong suốt quá trình tiếntới thích nghi, tính linh hoạt được xem là yếu tố chìa khóa giúp giải quyết cáckhủng hoảng nội tại giữa mới và cũ đồng thời đẩy nhanh sự hòa nhập giữachúng Sự linh hoạt càng được đẩy nhanh thì mục tiêu đạt được sự thích nghicàng rút ngắn lại Trong một chừng mực nhất định thì tính linh hoạt cũng cóthể hiểu là cách thức để loại bỏ từ từ cái cũ nhằm tạo điều kiện cho cái mớiđược tiến vào để “cắm rễ” và phát triển
Trong một tổ chức có nhiều cá nhân, tùy theo khả năng của từng cánhân mà sự thích nghi của các cá nhân khác nhau, dẫn đến sự thích nghinhanh chậm của tổ chức và ngược lại tổ chức sẽ tác động ngược lại tới từng
cá nhân khi định ra mục tiêu để vươn tới sự thích nghi với các thay đổi ở môitrường bên ngoài để duy trì sự tồn tại của tổ chức Do đó quá trình thích nghicủa tổ chức cũng là quá trình thanh lọc các cá nhân không có khả năng thíchnghi với những thay đổi của tổ chức và cũng ngược lại là tổ chức sẽ bị pháhủy khi các cá nhân không có khả năng thích nghi hoặc không chịu thích nghihoặc thích nghi quá chậm với sự thay đổi
1.3.2 Sự biến đổi của các Trung tâm Dịch vụ KH&CN công lập dưới tác động của Nghị định 115/2005/NĐ-CP
Năm 2005, chính phủ ban hành Nghị định 115/2005/NĐ-CP về cơchế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập Các trungtâm dịch vụ KH&CN công lập cũng nằm trong những đối tượng tác động củaNghị định này Với tư cách là một tổ chức, các trung tâm có đầy đủ các tínhchất của một hệ thống trong đó cần chú ý đến tính biến đổi (tái cấu trúc) để
Trang 39thích nghi với môi trường dưới tác động của các chính sách Tiếp theeo Nghịđịnh 35-HĐT, Nghị định 115/2005/NĐ-CP đã tạo ra một sự thay đổi khác hẳnđối với cách thức làm cũ từ trước tới nay ở các tổ chức KH&CN Nghị định115/2005/NĐ-CP thúc đẩy mạnh mẽ các tổ chức KH&CN hướng tới nhu cầuthị trường bằng việc khẳng định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm là quyềnvốn có của mọi thể nhân và pháp nhân trong đó có các tổ chức KH&CN nóiriêng Đây được xem như một tác động trực tiếp tích cực (impact) của Nghịđịnh này với triết lý hãy để thị trường điều tiết tất cả.
Tuy nhiên, đi trước một bước, cần nhấn mạnh rằng quá thiên về thịtrường thì cũng nguy hiểm không kém bao cấp quá độ Đo các thiết kế đi kèmkhông có hoặc có nhưng bị triệt tiêu bởi các quy định hiện hành cộng với tưtưởng “bỏ thương vương tội” của các cấp quản lý nên hậu quả là đã hơn 10năm nay các tổ chức KH&CN chưa thể chuyển đổi được, trong khi các nghiêncứu dài hơi, nghiên cứu công nghệ nền đâng bị bỏ ngỏ 10 năm ít nhất đã là 2chu kỳ công nghệ Có thể đây là các hậu quả (outcome) khó đánh giá hết mức
độ nghiêm trọng của nó
Trước Nghị định 115/2005/NĐ-CP, các trung tâm dịch vụ KH&CN hoạtđộng theo cơ chế bao cấp, kinh phí do nhà nước cấp Đối với các trung tâmnày, nhà nước vẫn xác lập vị trí chủ sở hữu tuyệt đối Trong các trung tâmdịch vụ KH&CN, mọi phương hướng hoạt động, kế hoạch phát triển, địnhhướng hợp tác đầu tư đều nhất nhất thực hiện theo ý định của Nhà nước hoặc
ý chí của chính phủ để ra, hoặc theo kế hoạch của Chính phủ thông qua cácmệnh lệnh nhận được từ cấp trên Những cán bộ trong các trung tâm chỉ lànhững người thừa hành nhiệm vụ được giao từ cấp trên giao xuống
Khi Nghị định 115/2005/NĐ-CP về cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm
ra đời, các trung tâm này nằm trong đối tượng quy định về chuyển đổi cơ chế
Trang 40hoạt động Mục tiêu của Nghị định 115/2005/NĐ-CP là trao quyền tự chủ và
tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức KH&CN trong đó có các trung tâm dịch
vụ KH&CN đồng thời định ra cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho cáctrung tâm này Về bản chất của việc trao quyền này là nhà nước chia sẻ bớtquyền của chủ sở hữu chỉ giữ vai trò điều tiết vĩ mô và quyền định đoạt, nhànước chuyển giao quyền sử dụng và một phần quyền chiếm giữ thông quaviệc đầu tư ban đầu và rót một phần kinh phí Có một vấn đề trong việc traoquyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm Đó chính là nhà nước vẫn là chủ sở hữu,
kể cả việc sở hữu cơ sở hạ tầng nhưng chủ thể thực hiện quyền sử dụng (baogồm khai thác, hưởng hoa lợi một phần) lại không phải là nhà nước mà chính
là tổ chức KH&CN thì liệu tổ chức KH&CN có được quyền sử dụng hoàntoàn Theo đúng tinh thần cũng như các quy định trong Nghị định115/2005/NĐ-CP, thì chính phủ tạo điều kiện tối đa để các tổ chức khoa họcđược sử dụng quyền sử dụng hoàn toàn thông qua các chính sách vĩ mô nhưcho phép vay vốn, được giao và sử dụng tài sản, được hỗ trợ ưu đãi, đượcthanh lý và mua sắm tài sản bằng vốn tự có, được mở tài sản để giao dịch vàquan trọng hơn đó là được góp vốn vào các hoạt động KH&CN theo đúng quyđịnh của pháp luật Việc góp vốn cho thấy nhà nước chấp nhận chia sẻ mộtphần quyền được chiếm giữ thông qua những chính sách tạo ưu đãi cho gópvốn và các quy định về góp vốn trong Nghị định 115/2005/NĐ-CP Đây chính
là sự điều chỉnh về quan hệ phân phối nhằm khuyến khích sự tham gia hơnnữa của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Phần quan trọng của cơ chế tự chủ chính là tự chủ về tài chính Chínhphủ đã đưa ra những quy định mang tính ưu đãi cho các tổ chức KH&CN cóthể tự phát triển, tự thực hiện những dịch vụ, tham gia các hoạt động hợp tác
đa bên trong lĩnh vực KH&CN nhằm tăng cường nguồn thu để các trung tâmnói trên có thể tự chủ hoàn toàn về tài chính