Ta có thể thấy được sự ảnh hưởng yếu tố thơ cadân gian, đã chiếm một vị trí quan trọng trong sự nghiệp sáng tác thơ ca của Tố Hữu.Điều đó, đã trở thành một phần của đời sống tinh thần tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA THƠ CA DÂN GIAN
TRONG THƠ TỐ HỮU
LUẬN VĂN THẠC SĨChuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội-2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA THƠ CA DÂN GIAN
TRONG THƠ TỐ HỮU
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lưu Khánh Thơ
Hà Nội-2014
Trang 3CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
XÁC NHẬN SỬA CHỮA LUẬN VĂN THẠC SỸ SAU BẢO VỆ
Tôi là: PGS.TS Lý Hoài Thu, chủ tịch Hội đồng chấm luận văn Thạc
sỹ cho học viên Nguyễn Thị Hải Yến
Đề tài luận văn: Sự ảnh hưởng của thơ ca dân gian trong thơ Tố Hữu
Trang 4Nhân dịp này em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Thầy giáo chủ nhiệm lớpĐại học Bùi Việt Thắng – giảng viên khoa Văn học Đại học KHXH&NV – ĐHQG
Hà Nội cùng bác Nguyễn Ngọc Thành (PGS.TS) Khoa triết học – Đại họcKHXH&NV – ĐHQG Hà Nội
Em xin gửi lời cám ơn chân thành tới BGH trường Đại học KHXH&NV, Thầy
Cô phòng Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Văn học, tập thể Thầy Cô khoa Văn học(đặc biệt là các Thầy Cô tổ Văn học Việt Nam hiện đại) đã giảng dạy và giúp đỡ tạođiều kiện cho em trong khóa học và trong thời gian làm luận văn tại trường
Cuối cùng, em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và em Bùi VănNgân – ĐHQG Hà Nội thời gian qua đã đồng hành bên em, động viên, khích lệ emtrong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Hà Nội, năm 2014
Học viên cao học
Nguyễn Thị Hải Yến
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
Chương 1: Sự ảnh hưởng thơ ca dân gian trong thơ Việt Nam hiện
đại và con đường sáng tạo của nhà thơ Tố Hữu.
1.1 Ảnh hưởng thơ ca dân gian trong thơ Việt Nam hiện đại qua các
thời kỳ
1.1.1 Thơ Mới
1.1.2 Thơ ca thời kỳ kháng chiến chống Pháp
1.1.3 Thơ ca thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước
1.2 Con đường sáng tạo của nhà thơ Tố Hữu
1.2.1 Vài nét về tiểu sử của nhà thơ Tố Hữu
1.2.2 Con đường sáng tạo của nhà thơ Tố Hữu
1.2.2.1 Thời kỳ trước cách mạng 1945: Từ ấy
1.2.2.2 Thời kỳ 30 năm chiến tranh cách mạng (1945 – 1975)
1.2.2.3 Thời kỳ sau 1975:“Một tiếng đờn” (1979 – 1992) – “Ta với
ta” (1993 – 1999) 1.2.3 Quan niệm của Tố Hữu về thơ
1.2.3.1 “Thơ là chuyện đồng điệu – Tiếng nói đồng ý, đồng tình
Trang 61
Trang 7Chương 2: Thơ ca dân gian và những mạch nguồn cảm xúc trong thơ
Tố Hữu.
Chương 3: Sự ảnh hưởng thơ ca dân gian trong nghệ thuật thơ Tố
3.3.1 Khái niệm ngôn ngữ
3.3.2 Ngôn ngữ thơ Tố Hữu
Trang 82
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
1.1 Tố Hữu là một trong những ngọn cờ đầu của nền thơ ca cách mạngViệt Nam Ông xuất thân từ một thanh niên trí thức tiểu tư sản, và được giác ngộ lýtưởng cộng sản từ sớm
Thơ Tố Hữu chan chứa chất trữ tình, đường cách mạng đường thơ gắn bó chặtchẽ và xuyên suốt trong sự nghiệp của ông Trọn cuộc đời với lý tưởng cách mạng,thi sĩ Tố Hữu chưa bao giờ tách biệt khỏi nhà chính trị Tố Hữu Bởi, con đường sángtác thơ ca của Tố Hữu luôn luôn song hành với con đường cách mạng mà ông đã lựachọn
1.2 Sự trưởng thành của tài năng thơ Tố Hữu luôn gắn liền với sự nghiệp cách
mạng của dân tộc Tập thơ đầu tay Từ ấy ra đời năm 1937, đã khẳng định vị trí quan
trọng của ông trên văn đàn Kể từ đó, con đường sáng tạo của Tố Hữu là một quá
trình phát triển phong phú, đa dạng, với các tập thơ: Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu
và hoa Tiếp sau đó, từ sau năm 1978 – nhà thơ vẫn tiếp tục sự nghiệp sáng tác của
mình Với các bài thơ ở thời kỳ này đã được tập hợp trong Một tiếng đờn – (1992, Giải thưởng Asean) và Ta với ta (1999) Hòa lẫn cùng hào khí thiêng liêng của đất
nước, những vần thơ Tố Hữu chất chứa sự trầm lắng và suy tư, nhưng vẫn toát lênyếu tố kiên định lập trường với những niềm tin sắt son trong công cuộc đổi mới củaĐảng, của đất nước và dân tộc Tố Hữu được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Vănhọc nghệ thuật (1996)
1.3 Nói đến thơ Tố Hữu, bạn đọc đương thời của chúng ta đều có chung sựcảm nhận: “Thơ là tấm gương của tâm hồn” – Đó là những trải nghiệm của tâm hồnngười chiến sĩ cộng sản, suốt một đời hy sinh và đấu tranh cho lẽ sống, tình đời – tìnhngười, nhưng mang tính thời sự và đậm chất hiện đại
Tố Hữu là một trong số những nhà thơ Việt Nam hiện đại thành công nhất vớiviệc vận dụng hình thức nghệ thuật dân tộc vào sáng tác của mình Thơ Tố Hữu đãtiếp thu ảnh hưởng của yếu tố thơ ca dân gian – âm hưởng cũng như nhịp điệu
Trang 10của thể thơ dân gian luôn nhẹ nhàng, êm ái, phù hợp với tâm hồn con người ViệtNam.
1.4 Đã có nhiều công trình khoa học, bài viết đề cập tới Tố Hữu Song cònthiếu những đề tài nghiên cứu thơ Tố Hữu một cách hệ thống và chuyên sâu về ảnhhưởng của yếu tố thơ ca dân gian Ta có thể thấy được sự ảnh hưởng yếu tố thơ cadân gian, đã chiếm một vị trí quan trọng trong sự nghiệp sáng tác thơ ca của Tố Hữu.Điều đó, đã trở thành một phần của đời sống tinh thần trong nhiều thế hệ bạn đọc vàcũng có ảnh hưởng đối với nền thơ ca Việt Nam hiện đại
Thơ Tố Hữu đã được chọn giảng ở cấp bậc Đại học và bậc THPT Là một giáoviên dạy văn ở bậc THPT – tôi rất yêu thích, tìm hiểu và nghiên cứu về thơ Tố Hữu
Tất cả những lý do trên đây, đã khiến cho bản thân tôi quyết định chọn đề tài:
Sự ảnh hưởng của thơ ca dân gian trong thơ Tố Hữu.
2 Mục đích, ý nghĩa của đề tài:
Với việc nghiên cứu đề tài luận văn này, chúng tôi sẽ tìm hiểu và nghiên cứumột cách hệ thống, toàn diện, khái quát về sự ảnh hưởng của yếu tố dân gian trongthơ Tố Hữu – từ nội dung lẫn hình thức thể hiện và đi đến sự đánh giá tài năng nghệthuật của Tố Hữu qua các sáng tác trong từng giai đoạn
Qua đó, luận văn của chúng tôi sẽ góp phần khẳng định sự đóng góp của thơ
Tố Hữu đối với nền văn học Việt Nam hiện đại
Bản thân tôi cũng hy vọng qua luận văn này, sẽ giúp cho chính mình trongviệc dạy và học về Tố Hữu ở bậc THPT
3 Nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu:
Luận văn khảo sát yếu tố thơ ca dân gian trong thơ Tố Hữu
Đối tượng chính là nghiên cứu toàn bộ thơ Tố Hữu trong các chặng đườngsáng tác Bên cạnh đó, luận văn cũng sẽ khảo sát và tìm hiểu một số tập thơ của cáctác giả khác, để từ đó có sự so sánh, đối chiếu, nhằm làm nổi bật vấn đề trong từngkhía cạnh của đề tài luận văn
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trang 11Trong luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thi pháp học:
Nghiên cứu hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học – đặt nó trong các mốiquan hệ với nội dung; chỉ ra các đặc trưng của nhà thơ Tố Hữu
5 Lịch sử vấn đề:
Trên thi đàn văn học Việt Nam hiện đại, Tố Hữu luôn được coi là một trong
số tác gia lớn tiêu biểu Số lượng các công trình khoa học, cũng như các bài viết vềtác giả, sự nghiệp sáng tác của Tố Hữu rất lớn Cùng với sự sưu tầm và lĩnh hội vềcác tư liệu trong các bài nghiên cứu, chuyên luận của các nhà nghiên cứu văn học về
Tố Hữu, chúng tôi tổng hợp lại thành những mục sau đây:
5.1 Các công trình nghiên cứu khái quát về Thơ Tố Hữu:
Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra những nhận xét và đánh giá vềnhà thơ Tố Hữu một cách sâu sắc, rõ nét Qua đó, khẳng định Tố Hữu luôn được độcgiả quan tâm và đề cập tới nhiều
Chế Lan Viên trong Suy nghĩ và bình luận (NXB Văn học – Hà Nội 1971) đã
khẳng định: “Nói đến Tố Hữu – về thơ, phải nói vai trò mở đầu và hiện vẫn là dẫnđầu của anh trong nền thơ ca hiện thực xã hội chủ nghĩa của chúng ta Sự thành côngcủa anh trước cách mạng đã xúc tiến sự hình thành của thơ hiện thực xã hội chủ nghĩasau cách mạng Khi chúng ta đang tìm đường, nhận đường thì đã thấy một ví dụ sốngtrên đường là tác phẩm của Tố Hữu đây rồi” Trong cuộc đời sáng
Trang 12tác Tố Hữu luôn được đề cao là một tác gia hàng đầu của nền thơ Việt Nam hiện đại.
Thành tựu của thơ ông luôn là một tấm gương sáng ngời, luôn tỏa sáng tronglòng độc giả - đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay Thơ ông như một trang đời, trường tồnvới thời gian lịch sử
Chính trang thơ của Tố Hữu, phần nào đã để lại niềm tôn kính, cảm phục với
thi sĩ Bla-ga Đi mi trô va trong Ngày phán xử cuối cùng (NXB Thanh niên – Hà Nội
1973) Bà đã đưa ra những lời nhận xét xác thực để khẳng định giá trị trường tồn, bất
hủ về thơ của Tố Hữu: “Giống như căng được một sợi dây đàn từ mặt đất lên bầu trời
và gẩy lên bài ca mà cả mặt đất lẫn bầu trời đều hiểu được, vì nhà thơ ấy muốn làtiếng nói của dân tộc mình”
Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan trong Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam (NXB
KHXH Hà Nội) cũng đã tổng kết lại một cách cô đọng và súc tích khi nói về Tố Hữu:
“Tố Hữu, nhà thơ lớn của ta, đã vận dụng một cách sáng tạo ngôn ngữ và nghệ thuật
ưu tú của văn học dân gian vào sáng tác của mình”
GS Hà Minh Đức với công trình nghiên cứu của mình trong Tố Hữu – Cách
mạng và thơ (NXB ĐHQG Hà Nội, 2004) đã có những lời đánh giá một cách triệt để,
sâu sắc về Tố Hữu “một tài năng thơ ca thuộc về nhân dân và dân tộc” [10, 173]
Công trình nghiên cứu Tố Hữu – thơ và cách mạng (NXB Hội nhà văn 1996) đã tập
trung rất nhiều các bài viết về Tố Hữu trong các khía cạnh biểu hiện cụ thể
Với rất nhiều công trình nghiên cứu về Thơ Tố Hữu, GS Hà Minh Đức ở bài
viết Từ ấy đến Một tiếng đờn (Nhà văn nói về tác phẩm – NXB Văn học, Hà Nội
1994) cũng đã khái lược một cách tổng quan về sự trường tồn của các tập thơ trong
hình thức và phương diện biểu hiện cụ thể: “Từ ấy là một tập thơ mang rõ nét tình
cảm ban đầu chân thực, trong sáng của tuổi trẻ đến với cách mạng, cái tôi tìm đến
cuộc đời chung, đến lẽ sống đẹp để hòa nhập Một tiếng đờn cũng là một khúc riêng
chung, là những chiêm nghiệm nghĩ suy của một đời trên nửa thế kỷ đấu tranh, quabao buồn, vui, được mất hồn thơ đang lắng lại với thời gian và tuổi tác và gợi mởnhiều tâm sự của tác giả”
Trang 13Chuyên luận Thơ Tố Hữu (NXB ĐH và THCN, 1979) – Lê Đình Kỵ cũng khái
quát một cách trọn vẹn về hình thức và nội dung thể hiện; qua các tập thơ trong từngthời kỳ lịch sử Đó là một sự nhìn nhận, đánh giá – khẳng định giá trị trường tồn tậpthơ Tố Hữu
Đặc biệt trong chuyên luận “Thi pháp Thơ Tố Hữu” – Trần Đình Sử cũng đã
chỉ ra được những đặc sắc trong việc tìm hiểu, nghiên cứu về thơ của Tố Hữu TrầnĐình Sử cũng khẳng định trong công trình nghiên cứu của mình về thơ Tố Hữu đềcập tới khía cạnh biểu tượng; hình ảnh qua tác phẩm
Biểu tượng mà Trần Đình Sử đề cập trong thi pháp thơ Tố Hữu là “conđường”, đó là: con đường là biểu tượng của sự thống nhất của không gian và thờigian, là không gian vận động, không gian của con người đi tới” [41, 171]
Tác giả Trần Đình Sử đã chỉ rõ những biểu tượng con đường trong các tập thơcủa Tố Hữu qua các thời kì sáng tác Trần Đình Sử đã viết: “Sự tổng hợp thơ Tố Hữunằm trong loại thơ trữ tình chính trị cũng là một điều hợp quy luật của sự phát triểncủa thơ ca cách mạng Việt Nam và của thơ nói chung” [41, 29]
Đỗ Quang Lưu (tuyển chọn), nghiên cứu – bình luận thơ Tố Hữu: Đến với thơ
Tố Hữu: Đó là những sự suy nghĩ, những cảm xúc – hồi tưởng khi đọc thơ Tố Hữu:
“Thơ Tố Hữu giữa những ngày tháng đầy sôi động của cách mạng tháng Tám, lớp trẻchúng tôi chợt thấy như lóe sáng lên trong tâm tư mình một điều gì đó bấy lâu mìnhcũng hằng ấp ủ trong tiềm thức mà chưa kịp nhận thức, chưa hình dung ra được thật
cụ thể Đến lúc này chợt thấy nó như rất gần gũi, rất hiển nhiên và dĩ nhiên cũng giàusức lôi cuốn biết mấy đối với chúng tôi - lớp đầu xanh tuổi trẻ vốn luôn luôn khaokhát cái mới, nay bỗng cảm thấy tràn đầy ước vọng về cuộc sống; về tự do; nhưngkhông chỉ là cuộc sống và tự do của cá nhân mình, mà còn là của cả một cộng đồng,một xã hội ngột ngạt quanh mình đang kết thành một khối nhất tề đứng lên trong ánhsáng chói chang của cách mạng! ” [28, 243]
Lưu Khánh Thơ trong Thơ và một số gương mặt thơ Việt Nam hiện đại – đã khái quát về sự ảnh hưởng của tập thơ Từ ấy với phong trào Thơ mới: “Tư tưởng, tình
cảm cách mạng ở một tâm hồn thi sĩ, đòi hỏi phải được thể hiện bằng một hình
Trang 14thức nghệ thuật mới Trong thời điểm đó thì “Thơ mới là hình thức thích hợp và cóhiệu quả nhất” Nhà thơ Xuân Diệu đã nhận xét rất chính xác rằng: “Tố Hữu đã dùngnhững yếu tố của phong trào Thơ mới lãng mạn đang thịnh hành đương thời, đem vàothơ của mình và diễn đạt cái tinh thần cách mạng lối mới, cách mạng vô sản… cáiphong cách lãng mạn kia, tức là cảm xúc đầy rẫy, đồng thời với việc cá thể hóa”.Cảm xúc đầy rẫy và cá thể hóa, có lẽ đó là những đặc điểm lớn nhất tạo nên sức hấp
dẫn đặc biệt của Từ ấy Điểm khác biệt lớn nhất của Thơ mới và Từ ấy là thế giới
quan và nhân sinh quan của chủ thể sáng tạo” [54, 18-19]
Về sự vận động từ cái tôi đến cái ta trong thơ Tố Hữu, Nguyễn Bá Thành đãnhận xét: “Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu vẫn giữ vị trí “tiền đạo” trong những bàithơ viết trực tiếp về kỷ niệm quê hương hay những vùng gắn bó Nhưng ngay ở vị tríquan trọng đó thì cái tôi cũng đã bắt đầu hòa lẫn vào trong các nhân vật trữ tìnhkhác” [50, 250]
“Ta có thể nói rằng trong thơ Tố Hữu, đã có một tiến trình vận động của cáitôi, từ cái tôi trực tiếp đến cái tôi gián tiếp, đến cái tôi phương tiện Đó là quá trìnhthơ từ bộc lộ cái tôi, đến phản ánh cái ta hay là từ cái tôi tự biểu hiện đến cái tôi nhândanh, cái tôi thành viên Sau này lại có thời gian trở về với cái tôi tự biểu hiện” [50,251]
Có rất nhiều các ý kiến bàn luận đề cập đến các vấn đề cơ bản: Con đường
thơ, phong cách thơ và quan niệm về thơ của Tố Hữu Điểm then chốt của các ý kiến
bàn luận này chủ yếu là những bài viết:
Bài viết của PIÈRREEMMANUEL Máu và hoa – Con đường của nhà thơ Tố Hữu trong lời tựa tập thơ Máu và hoa – Con đường của nhà thơ Tố Hữu, bản tiếng
Pháp, Xuân Diệu dịch 8/7/1975, cũng có những lời nhận xét: “Một nhà thơ hiện đạiViệt Nam kể lại đời mình vừa đọc lên và bình luận những bài thơ của mình Cuộc đời
ấy là một cuộc chiến đấu, nhưng những bài thơ của anh là bấy nhiêu khúc hát ântình” [15, 355]
Trong định hướng tư duy và quan hệ chủ thể trong thơ cách mạng 1945 –
1985 Ở vấn đề tư duy thơ hướng ngoại, Nguyễn Bá Thành đã đưa ra sự tổng kết về
Trang 15con đường thơ Tố Hữu qua các sáng tác: “Từ tập Việt Bắc trở đi, thơ Tố Hữu chủ yếu
là hướng ngoại” [50, 217]
Sự khẳng định rõ nét của Nguyễn Đăng Mạnh trong bài viết Con đường thơ
của Tố Hữu (in trong Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, NXB Giáo
dục, tháng 4/1994) đã chỉ ra được những mặt mạnh cũng như mặt hạn chế của thơ TốHữu với những nhận xét khái quát về các tập thơ trong sáng tác:
“Thành công của thơ Tố Hữu, xét đến cùng là do sự gặp gỡ may mắn giữadòng thơ tuyên truyền chính trị của những người cộng sản với một tài năng thực sự,
một thi sĩ thực sự, khiến cho, nói như Sóng Hồng, “Thơ chính trị” cũng có thể là
“Thơ trăm phần trăm, như các thơ khác” Thơ Tố Hữu nhiều khi không tránh khỏi
phải trả giá cho những sự thiếu thống nhất nào đó giữa chính trị và chân lý đời sống,giữa ý chí, ước mơ và hiện thực
Nhược điểm này thực ra chẳng phải là riêng của Tố Hữu Chẳng qua là vì TốHữu chủ yếu chỉ làm thơ chính trị nên nhược điểm ấy đã lộ ra rõ hơn mà thôi Nhìn
chung, thơ Tố Hữu, từ bài đầu tiên đến tập thơ cuối cùng (Máu và hoa) đều được
sáng tác trong cảm hứng lãng mạn chủ nghĩa Có thể nói Tố Hữu là nhà thơ tiêu biểu
nhất của “Cái thời lãng mạn” (Nguyễn Khải) trên đất nước ta” [23, 268]
Về Phong cách thơ Tố Hữu, cũng có khá nhiều bài viết đề cập tới Song có thể thấy bài viết của tác giả Nguyễn Văn Hạnh Phong cách nghệ thuật của Tố Hữu
– một bài viết thể hiện khá đầy đủ, trình bày rõ nét về hình thức nghệ thuật của cáctập thơ trên nhiều phương diện và chỉ ra được những đặc điểm lớn trong phong cáchnghệ thuật của Tố Hữu “Phong cách của Tố Hữu rất đa dạng, bút pháp của anh linhhoạt và luôn luôn phát triển Tố Hữu vừa hùng tráng vừa tha thiết, vừa sảng khoáivừa xót xa, vừa yêu thương vừa căm giận Hiện tượng bao giờ cũng phong phú hơnquy luật Đây chỉ mới là những nét tương đối ổn định và dễ nhận thấy trong phongcách nghệ thuật của anh.” (1967 – 1969, Nội san nghiên cứu văn học, Trường ĐHSP
I, Hà Nội, số 3/1970) [32, 57]
Bài viết Quan niệm của Tố Hữu về thơ của Mai Hương; được trích lọc qua
một số bài viết, bài nói, và sáng tác thơ, in trong Tạp chí Văn học, số 4/1975 Bài
Trang 16viết này là một sự tổng kết những ý kiến trong quan niệm của Tố Hữu về thơ vớinhững nội dung và hình thức nghệ thuật Từ đó tác giả Mai Hương khẳng định “trênnhững chặng đường thơ, những chặng đường hoạt động của anh, về thơ ngày càngsáng rõ, sâu sắc và phát triển lên Nói chung, những ý kiến của anh về đường hướng
và nhiệm vụ của thơ ca như quan hệ giữa chính trị và thơ, quan hệ giữa đời sống vàthơ, vấn đề kế thừa và tiếp thu, về phong cách, đặc trưng của thơ… Có thể coi lànhững ý kiến cơ bản, có ý nghĩa quan trọng”… [33, 457]
5.2 Các công trình nghiên cứu về các tập thơ của Tố Hữu:
Đặng Thai Mai (Mấy ý nghĩ) in trong sách Từ ấy, NXB Văn học, H_1959
(trang 9) – có nhận xét: “Tố Hữu là nhà thơ chỉ viết để phục cách mạng từ trước đếnsau”
Khi giới thiệu về tập thơ của Tố Hữu, tác giả Trần Huy Liệu trong bài viết tạithành Hoàng Diệu 23/06/1946 – sau 9 tháng kháng chiến ở Nam Bộ cũng đã chỉ rõtrong việc nhìn nhận về đời và thơ của Tố Hữu:
“Lịch trình tiến triển về thơ của Tố Hữu đi song song với lịch trình tiến triển
về tư tưởng và trình độ giác ngộ, về sức hoạt động cách mạng của Tố Hữu
Thơ Tố Hữu không phải là một trò tiêu khiển mà là một khí cụ đấu tranh, mộtcông tác vận động của người cách mạng Người Tố Hữu là một thi sĩ, một chiến sĩ,nhưng chúng ta đừng quên cốt cách của nó là một thi sĩ”
K và T trong Tố Hữu – nhà thơ của tương lai [70] - tại Báo Mới số 1, tháng
5/1939 Đó là những điều khẳng định những đóng góp về giá trị của thơ Tố Hữu ởphương diện nội dung và hình thức biểu hiện
Bài nhận xét về tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu – Hà Xuân Trường in trong Báo
Nhân Dân, số 329 – 24/01/1955: “Đây chính là phần mà nhà thơ Tố Hữu hấp dẫn bạnđọc nhiều nhất, nâng cao tình cảm của chúng ta nhiều nhất Và đây cũng chính là
phần sáng tươi nhất trong tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu”.
Tác giả Lê Đình Kỵ, Từ ấy với phong trào Thơ mới (in trong Tạp chí Văn nghệ, số 32 tháng 1/1960) Lê Đình Kỵ đã đánh giá cao về giá trị của tập thơ Từ ấy
trong nền cách mạng Việt Nam và qua đó tác giả cũng đi đến khẳng định “sự ảnh
Trang 17hưởng” của nền thơ Tố Hữu đối với phong trào Thơ mới – chỉ ra được mối tươngquan của tập thơ với Thơ mới không chỉ hàm chứa ở hình thức mà còn biểu đạt ở mặt
phong cách sáng tác thơ Từ ấy Vấn đề này Xuân Diệu cũng nhận định: “Tố Hữu đã
dùng những yếu tố của phong trào thơ lãng mạn đang thịnh hành đương thời, đemvào thơ của mình và diễn đạt cái tinh thần cách mạng lối mới, cách mạng vô sản…Cái phong cách lãng mạn kia, tức là cảm xúc đầy rẫy, đồng thời với việc cá thể hóa”(Bài của Xuân Diệu, trang 28 đến 30 – Tạp chí Văn học – số 28)
Hoài Thanh trong Tạp chí Nghiên cứu Văn học tháng 05/1960 cũng có bài
nghiên cứu đề cập tới tập thơ Từ ấy, thể hiện tiếng hát của một người thanh niên, một người cộng sản Hoài Thanh đã khái quát đầy đủ giá trị nội dung của tập Từ ấy và khẳng định Từ ấy là một tập thơ đầu tay của Tố Hữu khi đón nhận lý tưởng của Đảng.
Trong một bài viết về Gió lộng – Hoài Thanh có nhận xét: “Gió lộng, một
bước tiến mới của Thơ Tố Hữu, một tập thơ mang khí thế mới của cách mạng Việt
Nam (Tạp chí nghiên cứu Văn học, số 8/1962) “Gió lộng trước hết là một tiếng ca vui
của nhân dân ta trên miền Bắc sau khi hòa bình lập lại”
“Có thể nói Gió lộng vẫn tiếp tục cái gan dạ của Từ ấy trong một hoàn cảnh
mới”
Rất Tố Hữu mà không đơn điệu Từ bài này sang bài khác, phong cách thường
vẫn khác nhau Có thể nói riêng một tập Gió lộng có khá nhiều loại thơ Đặc biệt có hai loại rất khác nhau: loại Bài ca mùa xuân 1961 và loại Ba mươi năm đời ta có
Đảng… Những lời nhận xét tưởng chừng đơn giản, song nó hàm chứa được những
vấn đề trọng tâm của Hoài Thanh khi nhắc tới tập Gió lộng trong thời điểm trước bối
cảnh đổi thay của đời sống đất nước sau chiến tranh
Bảo Định Giang trong Mấy ý nghĩ về tập thơ Gió lộng in trong Tạp chí Văn nghệ số 66, tháng 11/1962, đã khái quát một cách sắc nét: “Gió lộng là một tập thơ
trữ tình mang tính chất hiện thực và tính chất thời đại rất lớn Đó là một thành công
mới của Tố Hữu Gió lộng có những đặc biệt riêng chỉ có trong thời kỳ xây dựng
Trang 18chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu trang thống nhất nước nhà, trong khung cảnhchung của cách mạng thế giới ngày càng thắng lợi”.
Tác giả Nguyễn Phú Trọng trong Tạp chí Văn học số 11 – 1968 cũng đã tổngkết sâu sắc một cách cô đọng về sự ảnh hưởng của ca dao, dân ca trong thơ Tố Hữu.Bài viết với nội dung sâu sắc, dẫn dắt người đọc hiểu được sự ảnh hưởng của thơ TốHữu với cội nguồn văn hóa dân gian, đậm chất dân tộc
Sự gặp gỡ của tác giả Hoàng Xuân Nhị trong bài viết Mấy suy nghĩ về thơ sau
cuộc gặp mặt đầu xuân với nhà thơ Tố Hữu (Tạp chí Văn học số 6, 1977)
Tác giả Hoàng Xuân Nhị đã đúc kết lại những nhận thức, ý tưởng và nhận xétkhái quát về thơ Tố Hữu một cách khách quan:
“Bước vào thế giới thơ Tố Hữu không dễ! Tâm trạng tôi lúc này, đầu xuânĐinh Tỵ, nghiền ngẫm về thơ của đồng chí, là vừa hăm hở vừa băn khoăn…”
Hoàng Xuân Nhị cũng đã đề cập tới chủ đề bao trùm thơ Tố Hữu là cách mạngViệt Nam Ông đã định nghĩa về cách mạng và chỉ ra đặc điểm ở Tố Hữu qua sángtác
Trịnh Bá Đĩnh (Tạp chí Văn học, số 10/1997), ghi lại một cách cụ thể và sắcnét về sự ảnh hưởng thơ ca dân gian trong tâm hồn nhà thơ Tố Hữu với sự chắt lọccủa nhiều phương diện nghệ thuật và nội dung các tập thơ một cách khác nhau
Những ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước là những gợi ý hết sức quý báutrong việc nhìn nhận, đánh giá về sự ảnh hưởng của thơ ca dân gian trong Tố Hữu.Mặt khác cũng đã xác định cho chúng tôi có một hướng nghiên cứu khi xử lý đề tàiluận văn của mình
6. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được cấu tạo thành 3 chương:
Chương 1: Sự ảnh hưởng thơ ca dân gian trong thơ Việt Nam hiện đại và con đường sáng tạo của nhà thơ Tố Hữu
Chương 2: Thơ ca dân gian và những mạch nguồn cảm xúc trong thơ TốHữu
Trang 19Chương 3: Sự ảnh hưởng thơ ca dân gian trong nghệ thuật thơ Tố Hữu.
Trang 20CHƯƠNG 1
Sự ảnh hưởng thơ ca dân gian trong thơ Việt Nam hiện đại và con
đường sáng tạo của nhà thơ Tố Hữu.
1.1 Ảnh hưởng thơ ca dân gian trong thơ Việt Nam hiện đại qua các
thời kỳ:
Từ thuở xa xưa, thơ ca dân gian luôn là một nguồn cội tinh thần trong đờisống mỗi con người Việt Nam Chính điều đó, đã hình thành nên những nhà thơ cónhững tiếng nói riêng trong nền văn học dân tộc, được rèn giũa và tôi luyện trongnhiều giai đoạn văn học Có thể thấy được mối quan hệ của sự ảnh hưởng thơ ca dângian đối với thơ ca hiện đại Đây là mối quan hệ tương tác hai chiều, nó phát triểnsong song tồn tại, gắn bó mật thiết với nhau Đặc biệt ở mối quan hệ này nó vừamang tính quy luật cũng vừa mang tính phổ quát của thơ ca dân gian đối với thơ caViệt Nam hiện đại Một trong những nét tinh túy nhất ở từng giai đoạn lịch sử nhấtđịnh, cũng là bước mở đường tinh anh cho lịch sử văn học phát triển và đạt đượcnhiều thành tựu đáng kể của nền thơ hiện đại Việt Nam qua các thời kỳ
Điều đó, đã dần dần khẳng định vị trí của nền văn học Việt Nam mang đậm đàbản sắc dân tộc, luôn là điểm tựa cho sự kế thừa và phát huy “bầu sữa mẹ nuôidưỡng” từ xưa và nay
Chúng ta có thể nói đến những nét kế thừa và phát huy đó được tiếp tục pháttriển trong dòng thơ hiện đại Việt Nam, ở phương diện sự ảnh hưởng thơ ca dân gianvới thơ hiện đại Việt Nam
Theo Hegel: “Thơ dân gian xem như một trong những dạng thức chính của thơ
ca trữ tình” [17, 1002] Đó là vấn đề cơ bản phong phú, đa dạng, nhiều chiều trênnhiều phương thức thể hiện Suy rộng ra thì thơ ca dân gian chính là nghệ thuật ngôn
từ dân gian Việt Nam và cũng là nơi lưu giữ những giá trị truyền thống của văn họcdân tộc
Tuy nhiên cũng có thể khẳng định lịch sử văn học là lịch sử tâm hồn dân tộc.Nghiên cứu và tìm hiểu thơ ca dân gian cũng là tiếp nhận “những tinh hoa quá trìnhsáng tạo nghệ thuật đầy cam go của mình” [5, 107] Bởi vậy, cho nên việc tìm hiểu
Trang 21nghiên cứu về lĩnh vực thơ ca dân gian có ảnh hưởng như thế nào đối với dòng thơhiện đại Việt Nam, là một việc cần thiết.
1.1.1 Thơ mới:
Điểm khởi sắc của phong trào Thơ mới là đã nói lên được “Một nhu cầu lớn
về tự do và về phát huy bản ngã” (Tố Hữu) Phong trào Thơ mới đã thực sự góp phầnrất quan trọng trong việc đưa văn học Việt Nam tiến thẳng vào thời kỳ hiện đại Và
đó cũng là một cuộc đánh giá lại về các thể thơ cũ, tiếp thu những tinh hoa của truyềnthống, đồng thời học tập một cách sáng tạo thơ ca nước ngoài, nhất là thơ Pháp Thơmới có nhiều khả năng diễn đạt hơn hẳn lối “thơ cũ”, là nhờ ở thể cách linh hoạt củaThơ mới trong cách hiệp vần phong phú, nhạc điệu dồi dào, lối ngắt nhịp sinh động,ngôn ngữ gợi cảm, đầy hình tượng…
Đúng như nhận xét của Hoài Thanh trong thi nhân Việt Nam: “Ngày người láibuôn phương Tây thứ nhất đặt chân lên xứ ta, người ấy đã mang theo cùng với hànghóa phương Tây, cái mầm để sau này nảy nở thành Thơ mới” Ý tưởng chủ đạo củaHoài Thanh đó là sự thể hiện một cách biện chứng trong cách nhìn nhận về phongtrào Thơ mới khi nó xuất hiện và ra đời
Chính sự đổi mới của phong trào Thơ mới (1932 – 1945), thực sự đem lại
“một cuộc cách mạng” trong lĩnh vực thơ ca – nhiều tên tuổi rạng ngời, mang phongcách dấu ấn riêng của nền thơ ca hiện đại Việt Nam thế kỷ XX: Thế Lữ, Lưu Trọng
Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính… Đó là sự khởinguồn chất dân gian ở lĩnh vực thơ ca của mình trong sáng tác Bằng tài năng và sựsáng tạo nghệ thuật của mình, các nhà Thơ mới đã tạo nên sự tiếp nối giữa thơ ca dângian với thơ ca hiện đại trong nền văn học dân tộc
Theo thời gian của sự trường tồn và sự xuất hiện trên thi đàn văn học, phongtrào Thơ mới đã thực sự gắn liền hương vị dân gian trong sáng tác của các nhà thơ.Phần lớn các nhà thơ vẫn tiếp tục sáng tác với số lượng khá dồi dào và có nhữngthành tựu đạt tới đỉnh cao trên những chặng đường mới – con đường thơ ca của riêngmình Trước hết có thể thấy: Thế Lữ - người “khởi điểm của những khởi điểm” Têntuổi của Thế Lữ luôn gắn kết với tiến trình hiện đại nền văn học Việt
Trang 22Nam ở nửa đầu thế kỷ XX Là một trong những tác giả tiêu biểu của phong trào Thơmới (1932 – 1945) Bản thân Thế Lữ có ít nhiều chịu ảnh hưởng của thơ ca dân gian,tuy không đậm đặc như Nguyễn Bính, Anh Thơ, Bàng Bá Lân… nhưng trong thể tàisáng tác, đặc biệt thể thơ truyền thống dân tộc cũng ít nhiều mang dư vị dân gian.
Thế Lữ với Mấy vần thơ – 1935, trong đó có những bài thơ nổi tiếng: Nhớ
rừng – Tiếng sáo Thiên Thai – Cây đàn muôn điệu Trong khí thế của phong trào Thơ
mới, các thi nhân đã sáng tạo ra một nhịp điệu mới trên sự kế thừa và phát huy; thiđiệu dân gian Thi điệu dân gian luôn lấy lục bát làm thước đo trong dung lượng câuchữ Thế Lữ đã vận dụng thơ lục bát để tạo ra những trang Thơ mới của thời đại mộtcách tinh tế và sống động
Thơ lục bát vốn là thể thơ được hình thành và tồn tại từ xa xưa và khi đến Thế
Lữ, như một phép màu nhiệm được khắc, tạc theo một phong cách riêng đầy mới lạ:
Trời cao xanh ngắt – ô kìa!
Hai con hạc trắng bay về bồng lai
Thế Lữ là người đầu tiên trong phong trào Thơ mới đã đem đến cho thể thơlục bát – một lối thơ vắt dòng theo kiểu phương Tây Số tiếng trong dòng thơ lục bát,gần như không có thay đổi, nhưng mối quan hệ dòng thơ đã dẫn đến sự phá bỏ khuônmẫu cũ Đó là sự thay đổi quá mới của thơ Thế Lữ - dẫn đến sự cảm nhận quá mới về
tư duy cùng cảm nhận người đọc đối với lối diễn đạt quen thuộc gần gũi đời thường
Thế giới Nàng thơ của Thế Lữ còn bộc lộ những cảm xúc về tự nhiên; khônggian vũ trụ Thơ ông luôn hàm chứa một thế giới đơn sơ, hoang dã, cỏ sắc… tất cảđều chứa đựng rung cảm hồn thơ luôn hòa trộn trong sự cảm nhận tinh tế Không chỉđắm say trong những cảm xúc lãng mạn, “Cây đàn muôn điệu” – như một tuyên ngônnghệ thuật, một khẩu khí của thời thế bấy giờ
Tôi là kẻ bộ hành phiêu lãngĐường trần gian xuôi ngược để vui chơi
Trang 23Tìm cảm giác hay trong tiếng khóc câu cười
… Anh dù bảo: tính tình tôi hay thay đổiKhông chuyên tâm, không chủ nghĩa, nhưng cần chi ?Tôi chỉ là khách tình si
Ham vẻ đẹp có muôn hình, muôn thểMượn lấy bút nàng Ly Tao, tôi vẽ
Và mượn cây đàn ngàn phím, tôi ca…
Nhà thơ đã có sự hòa đồng giữa tâm hồn và cây đàn ngàn phím – trong vẻ đẹptoàn mỹ ngoại giới, thanh sắc của dương gian, thái độ thoát ly thực tại vô tráchnhiệm Song đều có sự gắn kết giữa cõi tiên trong hư ảo, thực tại mang đậm sắc tháicủa thi nhân
Có thể thấy trong cách kết cấu bài thơ, câu thơ, Thế Lữ đã xuất phát từ nhữnglàn điệu thơ dân tộc trong văn học dân gian, có sự ảnh hưởng kết hợp thơ Pháp ở lốithơ vắt dòng; điều đó đã tạo nên thể thơ uyển chuyển và biến hóa không cùng với tâmtrạng trước thời thế bấy giờ
Nếu như Thế Lữ là người “khởi điểm của những khởi điểm”, thì Lưu Trọng Lư cũngthuộc lớp thi sĩ “Thơ mới” đầu tiên Ông là người có công đầu trong việc thiết lập và
để Thơ mới được hình thành và phát triển Thơ ông không thật mới và lạ, song giọngthơ luôn gần gũi và quen thuộc hồn thơ dân tộc Bắt mạch cảm xúc đó trong mọi hìnhảnh, tứ thơ, âm thanh cuộc sống được chuyển vào thế giới mơ mộng, trong tiềm ẩn
“vang bóng một thời” của văn hóa cổ truyền dân tộc Đó cũng là một cách tân trongsáng tác để tránh sự nhàm chán theo cái cũ lỗi thời rập khuôn Nhiều sáng tác của
Lưu Trọng Lư đều có ảnh hưởng giọng điệu thơ ca dângian:
Rồi ngày lại ngàySắc màu: phai
Lá cành: rung
Ba gian: trốngXuân đi
Trang 24Chàng cũng điNăm nay xuân còn trở lạiNgười xưa không thấy tới
(Vắng khách thơ)
Hồn thơ của Lưu Trọng Lư, luôn chứa đựng những thở dài tuyệt vọng Trongcuộc đời bao lần mơ, bao lần ước và những xốn xang trong tình yêu đều rơi vào sựtrớ trêu, bi đát Năm tháng tuổi thanh xuân qua đi, Lưu Trọng Lư vẫn chưa thể thoát
ra khỏi những mộng mị của cuộc đời và thơ ca, để trở về đời sống thực thụ
Hoài Thanh đã đưa ra nhận định để khẳng định vị trí của Xuân Diệu: “nhà Thơmới nhất trong các nhà Thơ mới” Thơ Xuân Diệu luôn thu hút và tiếp nhận nhữngtinh hoa đặc sắc của thơ ca dân gian Bằng chính ngòi bút của mình, ông đã chắt lọcnhững tinh túy nhất để tạo ra những vần thơ hay, tiêu biểu mang dáng dấp thơ ca dângian Điều đó, có thể bắt gặp trong những vần Thơ mới hình ảnh con người và hàmchứa hình ảnh về những làng quê nơi đồng bằng Bắc Bộ Đây cũng là một điều dễhiểu, cảm xúc được thăng hoa và được sáng tác với những gì chân chất, mộc mạcnhất nơi thôn dã
Mây biếc về đâu bay gấp gấpCon cò trên ruộng cánh phân vân
(Thơ duyên – Xuân Diệu)
Nhà thơ đã vận dụng nhiều yếu tố truyền thống, tái tạo lên những vần thơ chanchứa của lòng mình “Mây biếc” là một hình ảnh phi lý, tìm đâu ra được mây biếc.Điều này trên thực tế là Xuân Diệu đã kế thừa từ thơ ca dân gian
Bản thân Xuân Diệu tạo ra những thủ pháp “đánh tráo ngôn từ” Vì vậy, từ thơ
ca dân gian bay vào Thơ mới, hồn thơ Xuân Diệu lẫn áng mây đã tô vẽ lại với gammàu tươi mới
Con cò được ca dao dân ca nhắc đến rất nhiều trong làn điệu hát ru con củaĐồng bằng Bắc Bộ:
Con cò bay lả bay laBay từ cửa phủ bay ra cánh đồng…
Trang 25Đến hình ảnh “con cò trên ruộng” trong thơ Xuân Diệu có sự tiếp nối và khácbiệt giữa truyền thống và hiện đại, giữa phương Đông và phương Tây Sự bình yêntrước đây, đang dần từng bước thay cho sự suy tư, trăn trở, băn khoăn tìm kiếm lẽđời… Từ thơ ca dân gian đến Thơ mới luôn luôn tạo ra khoảng cách – sự gạch nốicủa nhiều thế kỷ Khoảng cách này, theo thời gian dần được thu hẹp lại – cốt cách nộilực dân tộc chính là nguồn cội dân gian luôn hằn in trong sáng tác của nhà thơ.
Nhà thơ Huy Cận trong sáng tác của mình cũng đã viết những câu Thơ mớimang đậm bản sắc thôn quê với sự thanh tao trong trẻo của hương đồng gió nội: hoadại, rơm khô, nắng vàng, gió thoảng… Để rồi hòa điệu ngân vang trong một sự xaoxuyến khôn cùng trước những hoang sơ thôn dã:
Một buổi trưa không biết ở thời nàoNhư buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao
Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ
(Đi giữa đường thơm)
Thơ mới đã kế thừa và phát triển những đặc sắc của thơ ca dân gian Vì vậy,nhiều nhà Thơ mới trong sáng tác của mình, hình ảnh thôn quê được gợi lên với cảnhđẹp, tâm tình nơi thôn dã, thật gợi cảm, thiết tha…
Hàn Mặc Tử cũng là một trong số gương mặt của Thơ mới 1932 – 1945.Những vần thơ chan chứa niềm đau đều gợi lên xúc cảm thi nhân trước cuộc đời bểkhổ Cũng giống như các nhà thơ khác của phong trào Thơ mới, Hàn Mặc Tử có sựảnh hưởng của lối thơ dân gian trong cách sử dụng cách tân lối hiệp vần liền để sángtác những vần thơ đạt hiệu quả thẩm mỹ cao
Trong Mùa xuân chín, Hàn Mặc Tử viết:
Chị ấy năm nay còn gánh thócDọc bờ sông trắng, nắng chang chang
Cách hiệp vần với hai tiếng nắng – trắng đã gợi cho người đọc chúng ta thấyđược một tín hiệu cao trong hiệu quả nghệ thuật – và cũng từ đó có thể mường tượngđược cái nắng, chói lòa đang dần xuất hiện trực tiếp trước mắt
Trang 26Tác giả Lê Đình Kỵ đã nhận xét về bài thơ Mùa xuân chín, không xa lạ với
những trình tự quê hương vào loại trong sáng nhất của Thơ mới
Anh Thơ là tác giả những bức tranh quê thuộc vùng Kinh Bắc trước năm 1945 Cóthể thấy, đó là những bức tranh thiếu vắng người qua lại, hàm chứa những nỗi buồn
vô vọng trong không gian cuộc sống thường nhật: Sông mênh mông buồn mênh
môngĐêm dài thăm thẳm buồn trông hướng nào
Bức tranh quê được hiện lên sinh động trong khung cảnh quá gần gũi nhưchính cuộc sống thường ngày của thôn quê Nữ thi sĩ Anh Thơ đã khái quát được hiệnthực đời sống xung quanh trong những khung cảnh ngày xuân Cảnh sắc thôn quêtrong lễ tết, hội hè gợi niềm vui tươi mới hẹn ước:
Có người qua xóm nhìn ngon mắtXuân chín trên cành, cam lẳng lơ
Đời sống sinh hoạt văn hóa dân gian cũng được các nhà Thơ mới đưa vàotrong sáng tác của mình Trường hợp “cái cổng làng” – một sự thể hiện của văn hóalàng đã trở thành xúc cảm nghệ thuật thơ ca trong Thơ mới:
Sáng hồng lơ lửng mây sonMặt trời thức giấc, véo von chim chàoCổng làng rộng mở, ồn àoNông phu lững thững đi vào nắng mai
… Ngày mùa lúa chín thơm đưa…
Rồi đông gầy chết Xuân chưa vội vàngMừng xuân ngày hội cổng làng
Là nơi chen chúc bao nàng thơ ngây
Trang 27Các bà đồng khăn đỏ chạy lăng quăngĐón các khách thập phương về dự hộiMột chiếc kiệu đương đi dừng bước lại.
Rồi thình lình quay tít mãi như bayMột bà già kính cẩn chắp hai tayĐứng vái mãi theo đám người bí mật,Trên bãi cỏ dưới trời xuân bát ngátMột chị đương đu ngửa tít trên không
Cụ lý già đứng lại ngửng đầu trôngMắt hấp háy nhìn qua đôi mục kỉnh…
(Đêm hội – Đoàn Văn Cừ)
Ở phần trích trên, nhà thơ đã dẫn dắt người đọc chúng ta trong lễ hội dân giansinh động Đó là cảnh lễ hội dân gian, đặc biệt trong cách dùng từ ngữ dân gian:khách thập phương, du ngửa, mục kỉnh… đều đã để Thơ mới có sự tụ hội, du nhậpcuộc sống thường nhật ở nơi làng quê thanh tịnh này Trang thơ Đoàn Văn Cừ cũng
để người đọc chúng ta đi vào đời sống ngày mùa – thôn quê trong một hình ảnh thực,tinh tế chứa đựng nhiều vẻ đẹp tính chất lãng mạn của quê hương đất nước:
Lúa trải vàng như bể kén tơ,Từng đôi chim sẻ tới nô đùa,
Mổ từng bông một trong khi gióBốc nhẹ mùi thơm phảng phất đưa
(Ngày mùa – Đoàn Văn Cừ)
Từ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Anh Thơ,Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ - đã có ít nhiều sự ảnh hưởng thơ ca dân gian – có lẽNguyễn Bính là nhà thơ chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa dân gian – một nhà thơdân gian hiện đại Nguyễn Bính đã có sự tài ba trong vận dụng văn hóa dân gian, nhất
là ca dao dân ca, trong lối suy nghĩ quen thuộc của người thôn quê
Trang 28Hoài Thanh phải thốt lên: “Giá Nguyễn Bính sinh ra ở thời trước, tôi chắcngười đã làm những câu ca dao mà dân quê vẫn hát quanh năm” [52, 343].
Để có vần thơ đơn sơ, mộc mạc đậm chất dân dã – Nguyễn Bính đã dựa từ:Ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày của người dân quê Sự vận dụng sáng tạo trong lời nóinghệ thuật của thơ ca dân gian một cách tinh tế, tự nhiên, đậm đà bản sắc làng quêtrong sáng tác của mình
Nguyễn Bính thường lấy những mảng đề tài về tâm tình – chuyện tình đôi lứacủa các cô gái thôn dã – người phụ nữ nơi miền quê ở các lễ hội dân gian – đêm hộichèo của làng:
Bữa ấy mưa xuân phơi phới bayHoa xoan lớp lớp rụng vơi đầyHội chèo làng Đặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”
(Tương tư – Nguyễn Bính)
Có những hình ảnh, từ ngữ thơ trong ca dao dân ca, nhưng ở đây được nói quacách diễn đạt lời thơ rất hiện đại và là đóng góp mới mẻ của Nguyễn Bính: thônĐông, thôn Đoài; chín nhớ mười mong, tương tư Hình ảnh các cô thôn nữ, các chàngtrai quê từ trong ca dao dân ca cũng đã được cách tân hóa trong sinh hoạt văn hóa,chứa đựng những suy nghĩ, tâm trạng theo thời gian, đời sống thời đại thay đổi maulẹ:
Hôm qua em đi tỉnh vềĐợi em ở mãi con đê đầu làng
Trang 29Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi…
Có người giả chín quan tiền lại thôi
(Giấc mơ anh lái đò)
Hôm nay dưới bến xuôi đòThương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau;
Anh đi đấy, anh về đâu?
Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, canh buồm…
(Không đề - Nguyễn Bính)
Đọc những câu thơ trên, người đọc chúng ta như lạc bước vào thơ ca dân gian, chắchẳn thơ Nguyễn Bính luôn có đậm chất ca dao cổ Đó là sự ảnh hưởng của văn hóadân gian nói chung và ca dao nói riêng, đã đem đấn cho Thơ mới một khởi sắc hồnhậu trong tâm hồn Việt Nam
Xuất phát từ những cội nguồn dân tộc, từ những tình cảm chân thành, mộcmạc đã nảy sinh thứ tình cảm chung thủy với cảnh sắc và con người thôn quê QuaNguyễn Bính – làn điệu thơ đó đã nâng lên bởi chính tư duy ngôn ngữ đậm màu sắcdân gian: vườn rau, vườn chè, vườn chanh… ao bèo, giậu mồng tơi… đời sống thônquê trong những sinh hoạt đơn sơ, nhưng rất hữu tình:
Sáng giăng chia nửa vườn chèMột gian nhà nhỏ đi về có nhau
Trang 30(Thời trước)
Tuy không phải là người duy nhất trong phong trào Thơ mới sáng tác theo lốithơ ca dân gian So với Anh Thơ, Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ… Nguyễn Bính củachúng ta có phần đậm đặc hơn, am hiểu gần gũi đời sống thường nhật thôn quê trongsinh hoạt văn hóa dân gian
Nguyễn Đăng Điệp đã nhận xét: “Nếu các nhà thơ khác chủ yếu tập trungkhắc họa bức tranh quê, nhìn những nếp quê bằng cái nhìn thưởng ngoạn thì NguyễnBính đi xa hơn nhiều: ông chạm tới linh hồn làng mạc” [6, 321]
Dù bao thập kỉ trôi qua, nhưng thơ Nguyễn Bính vẫn giữ được sự cảm tình củađộc giả đương thời Và Nguyễn Bính luôn luôn có một vị trí quan trọng trong khôngkhí “hương đồng gió nội” Ông là nhà thơ chịu ảnh hưởng thơ ca dân gian rõ nét củaphong trào Thơ mới Việt Nam vốn có nhiều khởi sắc và thành tựu đáng kể
Văn hóa dân gian nói chung và ca dao nói riêng là một trong những nguồnquan trọng đã góp phần sinh thành và tạo ra diện mạo cùng những đặc điểm của Thơmới
Những trang mở đầu của thơ hiện đại Việt Nam, ảnh hưởng lớn nhất và quantrọng nhất là nó đã góp phần tạo nên cái “hồn dân tộc”, cái “tính cách Việt Nam” củaThơ mới [56, 64]
Các nhà thơ dù viết về vấn đề gì với những tâm trạng phức tạp thế nào thì vẫnnằm trong “văn mạch dân tộc” như Xuân Diệu khẳng định Đóng góp quan trọng vàtrước hết của Thơ mới là ở tư tưởng, tình cảm mới Và mặt khác là sáng tạo nhữngcâu thơ nghệ thuật hơn trên cơ sở giọng điệu và cấu trúc thơ ca dân tộc
Nói cách khác, công lao của Thơ mới là làm bùng nổ những tư tưởng mớitrong những cái áo khoác mới, được kết bằng những chất liệu quen thuộc truyềnthống [4, 492]
1.1.2 Thơ ca thời kỳ kháng chiến chống Pháp:
Nền văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám đó là nền văn học hướng
về đại chúng và dân tộc Do vậy, nền văn học mới của ta luôn phải tìm tòi,
Trang 31kế thừa phát huy những giá trị truyền thống vốn có từ xa xưa của văn học dân gian vàvăn học cổ điển.
Thơ ca kháng chiến được hình thành phát triển theo hướng dân tộc đại chúng,
đã tìm về với các thể thơ quen thuộc của dân tộc, như lục bát, thơ năm chữ… Phong
vị ca dao không chỉ thể hiện ở thể thơ, mà còn hiện ra trong những lối so sánh, vívon, diễn đạt, xây dựng từ ngữ hình ảnh…
Chính Hữu là một nhà thơ trưởng thành trong quân đội Bài thơ Đồng chí
được Chính Hữu sáng tác năm 1948 – trong thời điểm nhà thơ đang cùng đồng độitham gia chiến dịch Thu Đông – Việt Bắc 1947 Thể tự do mà Chính Hữu sử dụng
trong bài Đồng chí, vốn đã xuất hiện ở phong trào Thơ mới – song chưa có những
thành tựu đáng kể Chỉ đến thơ kháng chiến chống Pháp, thì thể thơ tự do được xuấthiện phổ biến và đạt được nhiều thành công, và luôn gần gũi với quần chúng Nhà thơChính Hữu đã sử dụng thể thơ này một cách phổ biến trong việc sử dụng xen kẽ thơ
tự do với thơ cách luật và tạo ra bài thơ có tính chất hợp thể Vì vậy, cho nên với thể
thơ tự do, bài thơ Đồng chí – được coi là tác phẩm tiêu biểu của văn học thời kỳ
kháng chiến chống Pháp
Bài thơ được xây dựng trên những hình ảnh, ngôn ngữ chân thực, giản dị –giàu sức biểu cảm – đã được Chính Hữu viết lên từ sự trải nghiệm của bản thân – để
từ đó khắc sâu trong lòng độc giả về hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ thời kỳ chống Pháp:
Quê hương anh nước mặn đồng chuaLàng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Đó thực là những lời tâm sự của những người lính cùng chung cảnh ngộ:
“nước mặn đồng chua” Có thể đó là một vùng đồng bằng chiêm trũng đất phèn, đấtmặn “Đất cày lên sỏi đá” gợi nhắc tới một vùng trung du khô cằn – “chó ăn đá, gà ănsỏi” Tác giả đã sử dụng tài tình những cụm từ giản dị quen thuộc trong văn học dângian, để gợi lên hình ảnh những con người có xuất thân từ những miền quê nghèokhổ, tần tảo, lam lũ, sự hòa nhập cảnh ngộ của đất nước trong cảnh nô lệ lầm thandưới gót giầy xâm lược kẻ thù Kiểu câu có kết cấu sóng đôi, đối ứng nhau
Trang 32“quê hương anh” – “làng tôi”, nước mặn đồng chua, tạo nên sự đồng điệu giữa nhữngngười lính trong kháng chiến Bằng ngôn ngữ giản dị, hàm súc, gần gũi với tâm tưngười lính – có sự kết hợp với chất liệu dân gian – tạo nên dòng thơ mang tính chấthiện thực đậm chất lãng mạn của hình tượng người lính kiên cường dũng cảm Đấtnước non sông mờ cát bụi, họ không tiếc thân mình sẵn sàng ra đi trong đoàn quânchiến đấu bảo vệ đất nước, Tổ quốc thân yêu của mình.
Trần Hữu Thung, là một nhà thơ trưởng thành trong phong trào thơ ca quầnchúng – khác Chính Hữu, ông lớn lên từ vùng đồng quê chiêm trũng Ông đã vậndụng thành công các thể thơ linh hoạt Vốn được sinh ra ở miền quê giàu truyềnthống văn hóa, từ thuở trong nôi, cùng sự nuôi dưỡng chăm sóc của cha mẹ, ông đãlớn lên từ những dòng sữa đậm đặc thơ ca dân gian Ký ức đem theo đó là những bàihát ru, câu hát ghẹo, hát ví dặm… đã ảnh hưởng hồn thơ của ông sau này Vì lẽ đó,thơ Trần Hữu Thung luôn có sự dính kết yếu tố thơ ca dân gian
Thăm lúa là bài thơ diễn tả tâm trạng của một chị nông dân có chồng đi bộ
đội… và nỗi nhớ mong của người chồng ra đi chiến đấu mang đậm màu sắc dân gian
Những địa danh vùng quê xứ Nghệ… những đồ dùng phục vụ cuộc sống đềuđược đưa vào trong thơ: cái bồ, cái sọt, cái cày, áo cánh nâu, chiếc đọi, đôi đũa…những thứ bình dị cuộc sống thường nhật đều có mặt trong thơ của Trần Hữu Thung:
Chiếc xắc mây anh mang
Em nách mo cơm nếpLúa níu anh trật dépAnh cúi sửa vội vàng…
Đặc biệt cuộc sống nơi thôn quê đã đi vào thơ ông với nhiều vẻ trong sáng;thanh lọc Họ là những người dân chân chất, giản dị đi tham gia đội du kích để giữbình yên cho làng xóm, đợt dân công tiếp vận tiền tuyến, hòa quyện vào những niềmvui của những người đã đem lại đời sống no ấm, ruộng đất cho dân cày… Chung quy
đó là tâm hồn chan chứa tình cảm dân tộc:
Trang 33Xòe bàn tay bấm đốtTính đã bốn năm ròngNgười ta bao không trông
Ai cũng nhủ đừng mongRiêng em thì em nhớ
(Thăm lúa)
Sự bảo tồn của truyền thống được biểu đạt tinh tế trong ngôn ngữ, nhịp điệu,hình ảnh quen thuộc gần gũi với người dân chúng ta Trong đó sự khác biệt tâm lýdân tộc cũng được gắn kết, hòa nhập trong bài thơ – khiến người đọc chúng ta cótưởng tượng như đã từng gặp trong vốn ca dao dân ca đặc sắc Việt Nam
Sự khởi sắc trong thơ ca kháng chiến chống Pháp còn thấy ở thơ Hữu Loan Hữu Loan đã xây dựng lên những hình ảnh quê hương với vẻ đẹp truyềnthống: “giếng ngọt, cây đa” Những cảnh sinh hoạt của văn hóa đậm chất dân gian,nhân văn: hội vật, đánh đu, kéo hẹ,… dân ca quan họ với lời thề lứa đôi… có đờisống tâm hồn phong phú, lãng mạn trong các sinh hoạt văn hóa cộng đồng Ở bài thơ
Hoa lúa, có 2 câu cuối:
Ta đi đầu sát bên đầuMắt em thăm thẳm đựng màu quê hươngĐây là câu thơ được viết dưới dạng câu lục bát, hình ảnh đôi trai gái bên nhautrong mắt người con gái Bài thơ là lòng tự hào tin tưởng về quê hương và nhữngngười con của quê hương gian khổ, vẫn trữ tình với những giá trị nhân văn được gìngiữ, đã đứng lên đấu tranh tự giải phóng
Văn học dân gian luôn là sự khởi nguồn của chất thơ, được nuôi dưỡng trongbầu sữa mẹ từ thuở trong nôi, luôn là nguồn cảm hứng cho nhiều thi sĩ Thiết tưởngthơ ca hiện đại sẽ ngày một xa rời cội nguồn dân gian để hướng tới hiện tại Nhưngtất cả hành trình cội rễ dân gian ấy lại được khơi nguồn từ chính dòng thơ, nét bút củathơ hiện đại đậm đà hương vị ngọt ngào thơ ca dân gian Có thể khẳng định HoàngCầm là một trong số những nhà thơ độc đáo của nền văn học Việt Nam hiện đại Thơông dẫn dắt chúng ta vào cõi mộng của những khao khát cổ tích trong
Trang 34những huyền thoại dân gian Bên kia sông Đuống, đó là bài thơ tiêu biểu trong thời
kỳ kháng chiến chống Pháp Hoàng Cầm đã gửi vào trang viết của mình tình cảm đốivới một vùng quê bị giặc đóng chiếm
Bên kia sông ĐuốngQuê hương ta lúa nếp thơm nồngCâu thơ đã gợi lên cho người đọc chúng ta về một vùng quê trù phú với hương vịđậm đặc của vùng Kinh Bắc Rồi những giá trị văn hóa dân gian được điểm tô quacác huyền thoại, ca dao và đặc biệt là những hội hè, phong tục tập quán của vùng đấtKinh Bắc Nơi đây là một vùng đất giàu có, phì nhiêu… có truyền thống văn hóanghệ thuật lâu đời với những ngôi đền chùa cổ kính, lễ hội, vùng đất của làn điệu dân
ca quan họ; vùng đất của tranh dân gian Đông Hồ nổi tiếng Đó là nét đặc sắc truyềnthống văn hóa của Kinh Bắc, mà cũng là nơi tiêu biểu cho văn hóa dân gian toànquốc:
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trongMàu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Và tranh Đông Hồ, đó là trí tuệ của dân gian mang bản sắc văn hóa dân tộc.Bức tranh thường miêu tả sinh hoạt dân gian, cảnh đánh vật, đánh ghen, hứng dừa…Qua đó Hoàng Cầm gửi vào đó khát khao khẳng định một cuộc sống thanh bình chongười dân thôn dã từ rất xa xưa, hôm nay bị kẻ thù xâm chiếm
Qua các bài: Thăm lúa – Trần Hữu Thung; Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm;
Hoa lúa – Hữu Loan… đều ghi nhận nguồn ảnh hưởng vô cùng quan trọng và tốt đẹp
của văn hóa dân gian nói chung và ca dao nói riêng đối với thơ Việt Nam hiện đạitrong từng giai đoạn phát triển [56, 64]
Dù sao thơ kháng chiến chống Pháp cũng còn mang nhiều nét “đại chúng”, nétnghiệp dư hơn các giai đoạn sau Điều đó một phần là do thơ kháng chiến được xâydựng lên từ phong trào văn nghệ quần chúng, là nền thơ “từ nhân dân mà ra” Đó lànền thơ còn gắn liền với phương châm “đại chúng” của văn nghệ kháng chiến Nhưngkhác với thơ dân gian; thơ kháng chiến có những định hướng lớn về tư tưởng và tìnhcảm Các tác giả đã có ý thức coi thơ ca cũng là một vũ khí đánh
Trang 35giặc, là sự nhân danh đồng chí, đồng đội để nói lên những tình cảm chung Có thểnói, cái gốc nhân dân, cái nguồn dân gian là cội rễ của thơ kháng chiến chống Pháp.[50, 289]
1.1.3 Thơ ca thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước:
Khác với thơ ca kháng chiến chống Pháp, thơ chống Mỹ phản ánh cuộc đấutranh thống nhất nước nhà “giang san thu về một mối”
Cuối những năm 60, đầu những năm 70, thơ ca thời kỳ chống Mỹ, thực sự đã
có nhiều thành tựu đáng kể Tập trung ở các nhà thơ chuyên nghiệp và nghiệp dư;luồng không khí mới đã nở rộ bởi “tiếng hát át tiếng bom” Rồi thơ ca kháng chiếnchống Mỹ đã dần từng bước vượt khỏi rào cản “phong trào” mà nó đi sâu khái quáthiện thực những năm 70 Các nhà thơ trẻ xuất hiện đã đem đến cho thơ một sức sángtạo mới mẻ, trong sáng – trong đó có những tài năng sớm được khẳng định: PhạmTiến Duật, Nguyễn Duy, Nguyễn Khoa Điềm… Những vần thơ ra đời trong “khói lửabinh đao” của cuộc chiến nhưng sự ảnh hưởng của văn hóa dân gian nói chung, cadao nói riêng càng đậm đặc hơn đối với thơ ca hiện đại
Theo dòng chảy thời gian lịch sử, lớp thơ trẻ cũng xuất hiện bằng những nỗitrăn trở, suy tư Nhưng đều xuất phát từ một hình ảnh hiện thực cụ thể để tạo ra cấu
tứ thơ trong những tình huống sinh động; rồi khái quát lên một tư tưởng mới lạ
Bài thơ Đò Lèn gợi ra một miền quê giàu truyền thống văn hóa dân gian, một
miền quê nghèo chịu nhiều sự tàn phá của kẻ thù
Thơ Nguyễn Duy thường hướng về cái đẹp bình dị của đời sống thường nhật Lời thơ của Nguyễn Duy có sự hòa quyện giữa tính cách dân gian và phong
vị cổ điển Bên cạnh những dòng thơ mộc mạc, giàu chất sinh hoạt đời thường:
Bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
Bà mò cua xúc tép ở Đồng Quan
Bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn…
(Đò Lèn)
là những câu thơ trang trọng, hàm súc, suy tưởng triết lý về nhân thế:
Mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
Trang 36Tôi trong suốt giữa hai bờ hư thựcDòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi…
(Đò Lèn)
Tre Việt Nam là bài thơ khái quát về con người Việt Nam trong lịch sử bao
hàm những phẩm chất cao quý mang tính chất truyền thống từ thuở xa xưa để đượcđúc rút tạo thành những câu lục bát uyển chuyển, nhẹ nhàng:
Chẳng may thân gãy cành rơiCòn nguyên cái gốc truyền đời cho măngNòi tre đâu chịu mọc cong,
Chưa nên đã thẳng như chông lạ thường
Lưng trần phơi nắng phơi sương,
Có manh áo cộc tre nhường cho con
(Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)
Nguyễn Duy đã đưa ra hình ảnh thật cụ thể về cây tre – song bao trùm đó là tưtưởng thời đại lớn “Tre” thành những phẩm chất cao quý người Việt Nam như một
vũ khí đánh giặc; chở che cho người nông dân Nguyễn Duy đã khái quát hóa thơ cadân gian để du nhập trong cội nguồn thơ ca hiện đại có tầm khái quát cao Dù vật đổisao rời thời gian trôi đi, cây tre luôn mãi xanh tươi, tràn trề sức sống con người ViệtNam, Nguyễn Duy ngắt câu cuối cùng:
Mai sauMai sauMai sauĐất xanh tre mãiXanh màu tre xanhPhạm Tiến Duật là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.Chiến trường vào sinh ra tử đã sản sinh và bồi đắp cho hồn thơ Phạm Tiến Duật nhiềuphẩm chất tốt đẹp; hiện thực, phóng túng và tươi trẻ Vấn đề hiện thực chính là tìnhcảm của nhà thơ, đồng đội được hòa nhập trong ngôn ngữ đời sống của quần chúng.Lửa đèn – được xây dựng dựa trên những cảm hứng chủ đạo xoay quanh ánh
Trang 37lửa linh thiêng biểu tượng cho sức sống dân tộc Đó là ánh lửa từ ngàn năm được soi sáng và sưởi ấm cho đất nước, con người.
Nhưng, ánh lửa đó nay đang bị chính kẻ thù tàn bạo đang từng ngày từng giờ dập tắt:
Trên đất nước đêm đêmSáng những ngọn đènMang lửa tự nghìn năm về trướcLấy từ thuở hoang sơ
Giữ qua đời này đời khácVùi trong tro trong trấu nhà ta
Ôi ngọn lửa đèn
Có nửa cuộc đời ta trong ấy!
Giặc muốn cướp đi,Giặc muốn cướp lửa tim ta đấy…
Kẻ thù cũng không thể cướp được ánh lửa Và cũng từ trong bóng tối, cuộcchiến đấu của quân dân ta vẫn được chuẩn bị khẩn trương, mau lẹ Những ngọn đèn
đã lần lượt thắp sáng lên trong cuộc sống thường nhật:
Nơi ngày đêm giặc điên cuồng bắn pháNhững ngọn đèn vẫn cứ thắp lênChiếc đèn chui vào ống nứaCho em thơ đi học ban đêmChiếc đèn chui vào lòng trái núiCho xưởng máy thay ca rồi vộiChiếc đèn chui vào chiếu vào chăn
Cho những tốp trai làng đọc lá thư thăm
Phạm Tiến Duật đã khái quát hóa thành những nét điển hình đặt trong nhữnghình ảnh tiêu biểu của thực tế chiến đấu chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta; có sứckhái quát – cảm hứng anh hùng cách mạng Nhiều vần thơ có tính chất tạo hình, gợicảm mang đậm chất suy tưởng và phong vị dân gian sâu sắc
Trang 38Giống như Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm cũng là một trong những nhàthơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ ác liệt Nhà thơ chiến đấu ở chiếntrường Bình Trị Thiên Thực tế cuộc chiến tranh gian khổ và ác liệt đã ươm chồi chonhiều nhà thơ về hình ảnh của nhân dân, của đất nước Bằng vốn hiểu biết của mìnhNguyễn Khoa Điềm đã đưa ra được định nghĩa về đất nước dựa trên yếu tố thơ ca dângian.
Nguyễn Khoa Điềm khéo léo sử dụng hàng loạt chất liệu của văn hóa dângian, nhất là các chất liệu được rút từ ca dao, thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, và cácphong tục tập quán của nhân dân
Có thể thấy Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm là sự nâng cấp rõ rệt của tư duy
thơ ca dân gian lên thơ ca hiện đại Và được phát triển; lý giải trọn vẹn, tinh tế thànhhình tượng thơ mà thơ ca dân gian, rất khó có thể tạo được – mặc dù thơ ca dân ca rấtphong phú, sinh động Sự khái quát hóa cao độ của tư duy thơ Nguyễn Khoa Điềm đãphát triển ở mức độ cao trong việc thể hiện khái niệm về đất nước, nhân dân, dân tộc– truyền thống – hiện đại qua từng câu, chữ, hình ảnh cụ thể:
Trong anh và em hôm nayĐều có một phần Đất nướcKhi hai đứa cầm tayĐất nước trong chúng ta hài hòa nồng thắmKhi chúng ta cầm tay mọi người
Đất nước vẹn tròn, to lớn
(Đất nước – Nguyễn Khoa Điềm)
Những bài thơ của lớp trẻ trong thời đại kháng chiến chống Mỹ đã góp phầnnâng cao tầm suy nghĩ cho thơ chống Mỹ Các nhà thơ chú trọng tới thơ ca dân giankhi họ viết về đề tài đất nước, phong tục truyền thống, miêu tả những nhân vật gầngũi với cuộc sống thôn dã
Đây là một bước phát triển mới của tư duy thơ về phía trí tuệ Đến thời kỳchống Mỹ, thơ Việt Nam đã vượt xa những thành tựu ban đầu thời chống Pháp vớinhững đặc điểm khiêm tốn: hồn nhiên, giản dị, đại chúng… Thơ đã tự nâng mình
Trang 39lên rất nhiều để đáp ứng với trình độ công chúng ngày càng cao Các nhà thơ đãkhông coi thường công chúng bằng cách hạ thơ xuống thành những bài ca dao, hò vè,những bài diễn ra lục bát mộc mạc Đã gần “30 năm dân chủ cộng hòa”, đa số côngchúng độc giả đã có trình độ để phân biệt được thơ hay – thơ dở, ngay cả khi nhà thơlàm xiếc với ngôn từ.
Như vậy, từ một nền thơ mở đầu với tính chất đại chúng, tính chất dân gian làchủ yếu, có sự đóng góp của các nhà thơ lớp trước, thơ ca Cách mạng Việt Nam hiệnđại đã vươn lên thành một nền thơ có tầm suy nghĩ lớn Nhưng cũng chính ở giaiđoạn trưởng thành này, nhiều bài thơ đã giảm tính hồn nhiên tươi mát so với buổiđầu [50, 296]
Sự khảo sát ở trên đã cho thấy sự ảnh hưởng của thơ ca dân gian với phongtrào Thơ mới; thơ kháng chiến chống Pháp và thơ kháng chiến chống Mỹ Qua đókhẳng định nguồn ảnh hưởng của văn hóa dân gian nói chung và ca dao nói riêng đốivới thơ ca Việt Nam hiện đại
1.2 Con đường sáng tạo của nhà thơ Tố Hữu:
1.2.1 Vài nét về tiểu sử của nhà thơ Tố Hữu:
Năm 20 của thế kỷ 20
Tôi sinh ra Nhưng chưa được làm người
Nước đã mất Cha đã làm nô lệ
Ôi những ngày xưa mưa xứ HuếMưa sao buồn vậy, quê hương ơi!
Ngẩng đầu lên, không thấy mặt trờiĐất lai láng những là nước mắt
(Một nhành xuân)
Nói tới Tố Hữu (1920 – 2002) trước hết có thể thấy, Tố Hữu là cánh chim tiênphong của nền thi ca cách mạng Việt Nam Tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành Bútdanh Tố Hữu là do một nhà nho, vốn giỏi chữ nghĩa ở Huế tặng
“Tố Như là tên chữ của Nguyễn Du Do chịu ảnh hưởng của giáo lí nhà Phậtnên ông muốn hướng tới cái bản ngã của mình tới chữ “Như” (Chân Như) – sự chân
Trang 40thật, bất biến Chữ Tố có nhiều nghĩa Nghĩa gốc là lụa mộc chưa hề nhúng vào thuốctẩy Nghĩa dẫn thân của nó là chất phác Tố Như nghĩa là cái bản chất của ta là chânthật bất biến như Phật tính vậy Khi tặng bút danh Tố Hữu cho Nguyễn Kim Thành,nhà nho giải thích: Khổng Tử trên đường đi chu du thiên hạ gặp Hạng Thác (lúc đó làmột cậu bé khoảng năm bảy tuổi) đang chơi với một lũ trẻ con Khổng Tử hỏi HạngThác: “Trên trời có bao nhiêu vì sao?” Hạng Thác hỏi lại: “Thưa Phu tử, thế lông miphu tử có bao nhiêu sợi ạ?” Khổng Tử giật mình khen tặng Hạng Thác một câu:
“Ngô nhi tố hữu đại chí”
(Thằng bé của ta vốn có chí lớn)Sau này Hạng Thác trở thành một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc.Nguyễn Kim Thành nhận bút danh Tố Hữu do nhà nho tặng nhưng xin đổi chữ “Hữu”nghĩa là có thành chữ “Hữu” nghĩa là “bạn hữu” Tố Hữu là một người bạn chân tình,trong sáng của mọi người Suốt đời mình Tố Hữu đã trung thành và xứng đáng vớibút danh ấy” (Theo TS Phạm Minh Diệu – Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 11…) Cóthể thấy hồn thơ Tố Hữu được tác động bởi nhân tố quê hương, gia đình và lý tưởngcách mạng
Tố Hữu sinh ra và lớn lên ở làng Phù Lai, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên– Huế Đó là một vùng đất nổi tiếng đẹp, thơ mộng có núi Ngự Bình – có cung điện,lăng tẩm các vua nhà Nguyễn, có sông Hương nước xanh êm ả,hai bên bờ liễu rủ,cónhững cô gái thẫn thờ vê áo mỏng – nghiêng nghiêng vành nón dáng chờ ai trên sông,cũng là nơi sản sinh ra nhiều những làn điệu dân ca đậm chất trữ tình đặc sắc như: Hòmái nhì, mái đẩy, điệu lí, điệu ca nam ai, nam bằng mượt mà Xứ Huế thơ mộng nàyvốn là kinh đô đã được tồn tại suốt mấy trăm năm của triều đại nhà Nguyễn – nên rấtgiàu truyền thống văn hóa sinh hoạt cung đình:
Tiếng hát đâu mà nghe nhớ thươngMái nhì man mác nước sông Hương
(Quê mẹ)