1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thế giới nhân vật trong truyện ngắn ma văn kháng từ 1986 tới nay

106 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 595,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong luận văn này, chúng tôi quan tâm tới những cống hiến và đóng góp to lớn của Ma Văn Kháng ở mảng truyện ngắn, đặc biệt là thế giới nhân vật vôcùng phong phú trong sáng tác của nhà v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-ĐÀO THỊ MINH HƯỜNG

THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN MA VĂN KHÁNG TỪ

1986 TỚI NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-ĐÀO THỊ MINH HƯỜNG

THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN MA VĂN KHÁNG TỪ

1986 TỚI NAY

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số:

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS Hà Văn Đức

Trang 5

A MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

3 Đối tượng nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Cấu trúc luận văn

B NỘI DUNG

Chương1. Hành trình nghệ thuật của ma văn Kháng và vị trí thể loại

truyện ngắn trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn

1.2 Vị trí thể loại truyện ngắn trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn1.2.1 Khái niệm truyện ngắn

1.2.2 Vị trí thể loại truyện ngắn trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn

Chương 2 Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng

2.1 Giới thuyết về nhân vật và vai trò của nhân vật trong truyện ngắn.

2.1.1 Giới thuyết về nhân vật

2.1.2 Vai trò của nhân vật trong truyện ngắn

2.2 Các kiểu nhân vật chính trong truyện ngắn Ma Văn Kháng2.2.1 Nhân vật người yếu đuối

2.2.2 Nhân vật bi kịch

2.2.3 Nhân vật tha hóa

Trang 6

2.2.4 Nhân vật vượt lên số phận

Chương 3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua yếu tố nhân tướng, nghề nghiệp3.1.1 Yếu tố tướng hình

Trang 7

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

Ma Văn Kháng là nhà văn có vị trí quan trọng trong nền văn học ViệtNam đương đại Bảy mươi tư tuổi đời và trên năm mươi năm cầm bút, với tinhthần miệt mài, cần mẫn, với niềm say mê, đau đáu với nghề, Ma Văn Khángthực sự “giàu có” trong khu vườn văn của mình: với 13 tiểu thuyết, trên 200truyện ngắn, và một hồi ký văn chương đầy đặn…đã phần nào đáp ứng lòngmong mỏi của không chỉ đồng nghiệp mà với cả đông đảo công chúng yêu vănchương ông Có thể nói, văn Ma Văn Kháng luôn thấm đẫm chất đời và manghơi thở cuộc sống, nó không chỉ in đậm dấu ấn phong cách nghệ thuật của nhàvăn, mà ngay từ khi ra đời nó đã dự báo tính thời đại của đời sống văn học vàtinh thần nhân văn mới mẻ

Có được điều ấy chính bởi dòng chảy văn chương của nhà nghệ sỹ đượckhơi từ mạch nguồn ấm áp của chính cuộc sống Mỗi trang viết của ông khôngchỉ thấm đẫm những quan niệm nhân sinh, thế sự mà dường như soi thấu tâmcan, gan ruột con người, mỗi tác phẩm vừa là tiếng nói đồng cảm, sẻ chia vớinỗi đau khổ của con người vừa đấu tranh quyết liệt cho cái đẹp, cái thiện ở cuộcđời

Cùng thời với các nhà văn có nhiều đóng góp cho nền văn học Việt Namtrong giai đoạn văn học sau 1975, đặc biệt là dòng văn học sau Đổi mới nhưNguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn, Ma VănKháng không còn là cái tên xa lạ với cả người yêu văn chương cũng như giớiphê bình nghiên cứu Bởi lẽ, “ngay từ những sáng tác đầu tay, người cầm bút đãđến với người đọc trong tư cách một nhà văn có ý thức về chỗ đứng trongvương quốc văn chương, nghệ thuật” (PGS TS Lã Nguyên) Có thể nói, với sốlượng tác phẩm ra đời đều đặn chính là cách Ma Văn Kháng đáp lại những tình

Trang 8

cảm yêu mến của công chúng đối với ông, cũng như minh chứng những laođộng nghệ thuật nghiêm túc, không ngừng sáng tạo và tìm tòi nhằm xác lập mộthướng đi, một lối ra cho tiểu thuyết và truyện ngắn đương đại của nhà văn.

Thành tựu của Ma Văn Kháng kết tinh ở cả hai thể loại: tiểu thuyết vàtruyện ngắn Đặc biệt là truyện ngắn, một thể loại “giống như một búp chè đượcsao khô, nén chặt lại, nhưng khi dội nước vào thì tở ra, cho cả một đại dươngnước trà thơm” [27; 414] ấy đã đưa nhà văn đến với duyên văn chương và trình

trước làng văn đứa con tinh thần đầu đời của mình, đó là truyện ngắn Phố cụt

(1961) Từ dấu mốc đầu tiên này, truyện ngắn đã tiếp tục góp phần khẳng địnhtên tuổi nhà văn và sau này giúp Ma Văn Kháng gặt hái được những thành côngnhất định: Với Giải nhì (không có giải nhất) – cuộc thi truyện ngắn Báo Văn

Nghệ 1988; Giải “Cây bút vàng” trong cuộc thi truyện ngắn và ký năm 1996 –

1998 do Bộ Công an và Hội Nhà văn Việt Nam đồng tổ chức; giải thưởng vănhọc ASEAN, 1998; giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt I, năm

2001 Những giải thưởng ấy đã ghi nhận những lao động nghệ thuật bền bỉ,sung sức trên cánh đồng văn chương của ông đối với văn học Việt Nam hiệnđại

Trong luận văn này, chúng tôi quan tâm tới những cống hiến và đóng góp

to lớn của Ma Văn Kháng ở mảng truyện ngắn, đặc biệt là thế giới nhân vật vôcùng phong phú trong sáng tác của nhà văn ở thể loại này Đó là sự chọn lựakhông chỉ xuất phát từ tình cảm cá nhân mà còn từ một nhu cầu khoa học thực

sự Thông qua một hiện tượng tiêu biểu cũng như những đóng góp to lớn củamột cá nhân, để qua đó đánh giá được thực tiễn phát triển của thể loại này tronggiai đoạn văn học Đổi mới nói riêng và văn học Việt Nam đương đại nói chung

Đã có không ít bài viết, công trình nghiên cứu về sáng tác của Ma Văn

Trang 9

và hệ thống về thế giới nhân vật, đặc biệt là thế giới nhân vật trong sáng tác củaông ở mảng truyện ngắn sau năm 1986.

Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài luận văn là Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng từ 1986 tới nay, nhằm khảo sát để thấy

được nét đặc trưng của truyện ngắn Ma Văn Kháng và khẳng định sự tìm tòi,đổi mới đối với giá trị nghệ thuật trong sáng tác của Ma Văn Kháng, từ đó gópphần khẳng định tài năng, tâm huyết và đóng góp to lớn của nhà văn đối vớinền văn học Việt Nam đương đại

2 Lịch sử vấn đề:

Nhìn lại sự nghiệp sáng tác của nhà văn chúng ta có thể nhận thấy MaVăn Kháng không chỉ thành công ở mảng tiểu thuyết mà cả ở thể loại truyệnngắn Song hành cùng với chặng đường sáng tác của ông, đặc biệt từ sau khivăn học phất lá cờ đổi mới, các tác phẩm của nhà văn càng thu hút sự quan tâmcủa giới nghiên cứu, phê bình và giảng dạy văn học

Điểm lược các công trình nghiên cứu, các bài báo, từ báo viết đến báo

mạng viết về Ma Văn Kháng, có thể kể đến như: Lã Nguyên – Khi nhà văn đào

bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn, 1999; Nguyễn Đăng Điệp - Cảm nhận về Đầm Sen của Ma Văn Kháng, Tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, số 5, 1998;

Nguyễn Thị Huệ - Tư duy mới về nghệ thuật trong sáng tác của Ma Văn Kháng

những năm 80, Tạp chí Văn học, số 2, 1998; Xuân Tùng, Nhà văn Ma Văn Kháng trả lời phỏng vấn: “Nhà văn cần có cái tâm”, Giáo dục Thời đại, ngày

24/4/1999; Hoàng Yến, Truyện ngắn San Cha Chải – bài ca của Thuyết tính

thiện, Tạp chí Văn hóa văn nghệ Công an, số 11, 1998; Võ Văn Trực- Nhà văn

Ma Văn Kháng: Chi chút như con ong làm mật, http://antgct.cand.com.vn ;

Nguyễn Ngọc Thiện - (2000), Tài năng và bản lĩnh nghệ sĩ, Nxb Hội Nhà văn,

Hà Nội; Nguyễn Ngọc Thiện, Hỏi chuyện nhà văn Ma Văn Kháng, Báo Văn

Trang 10

nghệ thành phố Hồ Chí Minh, số 45, 1998; Đặng Hiển, Một chiều giông

gió-một bài ca lao động, gió-một niềm tin ở con người và sự sống, Báo Giáo dục và thời

đại, số 20, 2003; Bùi Hiển, Vẻ đẹp thuần khiết trong Trăng soi sân nhỏ, Văn nghệ, số 12, 1995; Trần Bảo Hưng, Đọc Heo may gió lộng của Ma Văn Kháng, báo văn nghệ, số 47,1993; Nguyễn Thị Bích - Nhân vật người phụ nữ trong

"Trốn nợ" của Ma Văn Kháng; Đỗ Phương Thảo (2008), Nghệ thuật tự sự trong sáng tác của Ma Văn Kháng, Nxb Văn học, Nguyễn Tiến Lịch (2007)- Thi pháp

truyện ngắn Ma Văn Kháng, Luận văn thạc sỹ - ĐH KHXH &NV, ĐHQG HN,

Trần Thị Thanh Huyền (2007), Tiểu thuyết về đề tài miền núi của Ma Văn

Kháng, Luận văn thạc sỹ - ĐH KHXH &NV, ĐHQG HN, Nguyễn Thị Hoa

(2008)- Tiểu thuyết thế sự đời tư của Ma Văn Kháng, Luận văn thạc sỹ - ĐH

KHXH &NV, ĐHQG HN; Dương Thị Thanh Hương (2009) Phong cách tiểu

thuyết Ma Văn Kháng, Luận văn tiến sỹ - ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN…Các

bài báo, công trình nghiên cứu này đều tập trung khai thác các khía cạnh, cácmảng đề tài, đa diện, đa chiều, nhằm tìm ra những cái đẹp của văn chương MaVăn Kháng, cũng như sự nỗ lực, cống hiến hết mình cho văn chương, nghệthuật của ông Điều này cho thấy Ma Văn Kháng và sáng tác của ông được dưluận chú ý quan tâm và ít nhiều cũng là một hiện tượng nổi bật của văn họcđương đại

Trên cơ sở tìm hiểu các công trình nghiên cứu, phê bình và các bài báoviết về Ma Văn Kháng, chúng tôi xin điểm lại một số khuynh hướng đề cập đếnđặc điểm truyện ngắn, sự thể hiện phong cách văn chương, quan niệm nghệthuật về con người cũng như thế giới nhân vật trong sáng tác của Ma VănKháng, ở cả hai giai đoạn trước và sau Đổi mới

Với những sáng tác những năm 1986 trở về trước, thực tế cách phân

Trang 11

này, tuy nhiên chỉ mang tính tương đối và chứa đựng mục đích nghiên cứu củangười viết Vì thực chất dòng chảy văn chương của Ma Văn Kháng là một mạchnguồn xuôi chiều, tiếp nối và phát triển Nói tới những sáng tác của ông ở giaiđoạn này, đặc biệt, khi quan tâm tới thế giới nhân vật của Ma Văn Kháng, nhànghiên cứu Lã Nguyên cho rằng: “Đời sống con người và xã hội vùng biên ảigắn chặt với trình độ văn hóa, một giới hạn văn minh Thế giới ở thời mới khaithiên là nơi ngự trị của cái hoang sơ, rừng rú Vô khối con người ở đây không ýthức được hành vi của mình Cho nên, không phải ai có dính líu với địch đều là

kẻ thù của nhân dân Có lẽ Ma Văn Kháng đã viết Giàng Tả để nói lời minh oancho những con người như thế”[23;12] Trước Đổi mới, Ma Văn Kháng tập trungviết về đề tài miền núi, giai đoạn này cũng là sự thử nghiệm của ngòi bút nêncác tác phẩm của ông chưa thực sự nổi bật, các bài viết về nhà văn cũng thưathớt

Xa Phủ là tập truyện ngắn đầu tay của Ma Văn Kháng Sự xuất hiện của

tập truyện đã gây chú ý và có một số bài viết đánh giá Có thể kể đến bài viếtđầu tiên của tác giả B.V.N đăng trên Báo Nhân dân ngày 5/7/1970 Theo B.V.N

thì Xa Phủ nhắc đến cái cũ để thấy được bản chất tốt đẹp của xã hội ta, phản

ánh một cách tập trung sự đổi mới của các dân tộc ít người vùng Tây Bắc”

Khi khái quát những sáng tác của Ma Văn Kháng về miền biên ải LãNguyên nhận định: “Mọi sự chú ý của nhà văn đều hướng về vùng biên ải

Vùng biên ải là nhan đề một cuốn tiểu thuyết của Ma Văn Kháng Các truyện

ngắn Giàng Tả, kẻ lang thang, Vệ sỹ của quan châu, Ông lão gác vườn và con

chó Phúm, Mã Đại Câu – người quét chợ Mường Cang, Móng vuốt thời gian, Thím Hoóng… đều là những truyện ngắn đặc sắc viết về vùng biên ải Đây mới

đúng là mảnh đất cung cấp nhiều chất liệu giúp Ma Văn Kháng đưa ra nhữngkhái quát nghệ thuật mới mẻ”; “Sáng tác của Ma Văn Kháng gợi dậy ở người

Trang 12

đọc tình cảm xót xa, vừa giận vừa thương: xót xa những kiếp người không đượclàm người, thương cho sự hoang sơ, mông muội và giận thay cho sự bạo tàn,man rợ mang “hình sắc của thời mới khai thiên” [23; 14] Nhìn chung, khi bàn

về tác phẩm của Ma Văn Kháng trong giai đoạn trước Đổi mới, giới nghiên cứuphê bình đều thống nhất khẳng định sáng tác của nhà văn hầu như tập trung vào

đề tài miền núi, những con người miền núi, những vùng đất, những cảnh đờiông đã chứng kiến và đi qua trên miền biên ải còn nhiều hoang sơ của “thời mớikhai thiên” này

Sáng tác của Ma Văn Kháng thành công hơn ở những năm sau Đổi mới,thế nên số lượng, chất lượng của các bài nghiên cứu ở hai thời kỳ này cũng có

sự khác biệt Sau năm 1986, vẫn tiếp tục mảng đề tài về miền núi Tây Bắc, tuynhiên, giai đoạn này, ngòi bút của Ma Văn Kháng không chỉ hướng tới nhữngvấn đề xã hội, con người của miền núi mà văn chương ông đã dành phần lớn

“mối quan hoài” về con người, tình đời trong đời sống xã hội vùng thành thị vànông thôn đang thay đổi từng ngày cùng công cuộc đổi mới của đất nước nhìndưới góc độ đạo đức, nhân sinh Với nhãn quan tinh tế, thái độ bao dung và tấmlòng nhân ái, Ma Văn Kháng đã bóc dần những lớp lang của đời sống xã hội thểhiện trong từng cảnh sinh hoạt đời thường, những quan hệ, những cách ứng xửphô bày sự lựa chọn theo lợi ích cá nhân của con người trước trục xoay biến ảocủa nền kinh tế thị trường; “sự đốn mạt, ma quái, tà ngụy của cuộc đời từ góc

độ nhân tính” [23; 18]; “sự thiếu hụt nhân tính, thói vụ lợi tầm thường, thói đạođức giả, thói đố kỵ ghen ghét, tính ích kỷ thâm căn, khả năng không thể thươngyêu người khác ngoài mình, ngoài huyết thống, căn bệnh lãnh cảm… là nhữngnguyên nhân đang từng ngày, từng giờ giết chết con người Các truyện ngắn

Người đánh trống trường, Trăng soi sân nhỏ, Bồ nông ở biển, Chọn chồng, Cô

Trang 13

nhiều toát lên tinh thần ấy Về phương diện này, truyện Mảnh đạn có nhiều hàm

ý Thiên truyện để lại trong lòng ta một niềm day dứt khôn nguôi, người ta hóađiên vì vết thương chiến tranh để lại hay vì xú khí của thói ích kỷ và căn bệnhlãnh cảm đang vây bọc quanh mình?” [23; 18]

Có thể nói, “mảng truyện ngắn viết về thành thị của Ma Văn Khángkhông phải là những tiếng reo hân hoan trước sự thăng hoa của tình đời, tìnhngười Đằng sau câu chữ của những tác phẩm ấy, người đọc nhận ra tiếng nóingậm ngùi, cảm khái chứa đựng tình thương và nỗi buồn mênh mông trước mộtnhân thế đang phai lạt nhân tình” [23; 19]

Có thể khẳng định rằng, sau năm 1986, sự nghiệp sáng tác của Ma Văn

Kháng thực sự nở rộ với hàng loạt những tập truyện Ngày đẹp trời (1986), Heo

may, gió lộng (1992), Vòng quay cổ điển (1997), Cỏ dại (2002), Truyện ngắn chọn lọc Ma Văn Kháng (2002), Trốn nợ (2009)… Và ngay lập tức gây xôn

xao dư luận Nhiều bài báo, bài viết, bài phê bình nghiên cứu về truyện ngắncủa Ma Văn Kháng tập trung khám phá

Theo tác giả Bùi Việt Thắng, Ngày đẹp trời (1986) là tập truyện mà

“Ma Văn Kháng đã khéo léo khai thác những truyện đời thường mà không rơivào tầm thường vô vị…mỗi truyện ngắn viết ra như một “nhát cắt ngang” sắcgọn làm nổi rõ hình hài đời sống trong những hình thái phong phú phức tạp củanó” [35; 3] Là một chuyên gia về truyện ngắn, tác giả bài viết có những nhậnxét sâu sắc: “Truyện ngắn của Ma Văn Kháng thuộc loại truyện có cốt truyện,

dễ kể lại, dễ nhớ, nhưng không lấy cốt truyện làm mục đích, dù nó là điển hình,

mà có nới rộng kích tấc của truyện ngắn tạo nên sức liên tưởng lớn ở người đọcđến những vấn đề thiết thân trong đời sống xã hội và mỗi con người” [35; 3].Tuy nhiên, để xây dựng chân dung nhân vật, bên cạnh những yếu tố khác, “MaVăn Kháng cũng rất coi trọng yếu tố ngoài cốt truyện, thường sử dụng ở đầu

Trang 14

tác phẩm trong phần giới thiệu vùng đất và chân dung nhân vật một cách trang

trọng (như Đồng bạc trắng hoa xoè, San Cha Chải)”[67].

Nhận xét về tập truyện Đầm sen (1997), tác giả Nguyễn Đăng Điệp

nhận định: “Trong cái thế giới biến dạng và quay đảo này, con người rất dễ bịtha hóa biến chất” Tác giả bài viết nhấn mạnh “thứ văn đầy chất đời, đầy ắphơi thở của sự sống, sắc sảo biến hóa và tài hoa”[7]

Trong lời giới thiệu về tuyển tập Truyện ngắn chọn lọc Ma Văn Kháng

Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2002, Lã Nguyên lại đề cập đến đặc điểm truyệnngắn Ma Văn Kháng, đó là “một triết luận hết sức nhất quán Triết luận ấy lấytình người, tính người và sự hồn nhiên làm mẫu số để nhà văn trò truyện về conngười và cuộc đời”, “Những truyện hay nhất của Ma Văn Kháng là nhữngtruyện nói về “dòng đời”, “mạch sống”, “Đó là cảm hứng trước vẻ đẹp nhânbản, vừa mang tinh thần thuần khiết phương Đông, vừa phồn thực, cường trángthấm đẫm cảm quan hiện đại” [23; 9]

Và trong thế giới nhân vật ấy, nhà văn thực sự thành công ở việc xâydựng nhân vật nữ, họ “đời” nhất trong thế giới nhân vật của ông

Trốn nợ, tập truyện ngắn gần đây nhất của Ma Văn Kháng (Nxb, Phụ nữ,

2008), mở ra trước mắt người đọc một không gian rộng lớn: từ miền rừng núihoang sơ đến nơi thành thị phồn hoa; từ miền sông nước Nam Bộ đến nhữngvùng rẻo cao Trong không gian đó hiện hữu một thế giới nhân vật phong phúthuộc nhiều tầng lớp và thế hệ từ những người quý phái, sang trọng đến người

“dưới đáy” xã hội; “nương theo cốt truyện nhẹ nhàng là những dòng suy tưthầm lặng của nhân vật Mỗi truyện chỉ là lát cắt của đời sống nhưng nhữngdòng tâm tưởng của nhân vật lại có sức khái quát về con người và đời sống xãhội Ma Văn Kháng thường đặt nhân vật vào những tình huống thử

Trang 15

thách” [65] Tác giả Nguyễn Thị Bích nhấn mạnh: đó là một bức tranh thu nhỏ

về cõi nhân gian thời hiện đại

Chính nhà văn đã tự bộc bạch: “Thôi thúc tôi viết bao giờ cũng là cái đẹpxúc động, thật cao cả, thật khiêm nhường và thật lớn lao trong những hoàn cảnhđau buồn nhất Tôi gửi gắm tin yêu của tôi vào tất cả những cay đắng xót xa củacác thân phận Bằng cách đó tôi biểu lộ tình yêu với cái đẹp của cuộc sống”[52]

Có thể khái quát rằng, từ sau 1986, thể loại truyện ngắn của Ma VănKháng được các cây bút nghiên cứu quan tâm ở hai vấn đề chính: khát vọnghoàn thiện con người và lòng cảm thương, ưu ái đối với thân phận con người

Nhìn chung, những đánh giá, ghi nhận của các học giả, nhà nghiên cứu

và công chúng về tác phẩm cũng như chặng đường sáng tác của Ma Văn Kháng

là đồng thuận và thống nhất Ông được cả bạn đọc chuyên nghiệp và khôngchuyên đón nhận nhiệt thành cũng như dõi theo từng bước cống hiến cho nghệthuật của nhà văn Tuy nhiên, chưa thực sự có một công trình mang tính hệthống hoặc khảo sát một cách kĩ lưỡng về mảng truyện ngắn, đặc biệt là thế giớinhân vật trong truyện ngắn của nhà văn từ Đổi mới đến nay Phần nhiều các nhànghiên cứu mới đi vào một khía cạnh hoặc nghiêng về đào sâu tiểu thuyết Vìvậy, luận văn này hi vọng sẽ góp phần truy tìm căn cội bản thể con người, nghệthuật xây dựng nhân vật, thế giới nhân vật phong phú cùng những quan điểmnghệ thuật về con người qua việc đi sâu tìm hiểu về thế giới nhân vật trongtruyện ngắn của Ma Văn Kháng, nhằm hướng tới một cái nhìn toàn diện vàkhách quan hơn Thông qua những nghiên cứu này sẽ đánh giá được vai trò vàđóng góp của Ma Văn Kháng trong quá trình cách tân hiện đại hoá nghệ thuậtxây dựng nhân vật trong thể loại truyện ngắn Việt Nam đương đại

Trang 16

Điểm lại lịch sử vấn đề, có thể thấy thế giới nhân vật trong sáng tác của

Ma Văn Kháng được giới nghiên cứu phê bình đề cập tới một cách trực tiếphoặc gián tiếp ở những mức độ nhất định Tất cả những bài viết, công trìnhnghiên cứu trên đây ít nhiều đều đem lại những gợi ý cần thiết cho chúng tôitrong quá trình triển khai và thực hiện đề tài luận văn

3. Đối tượng nghiên cứu:

- Thế giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn

Ma Văn Kháng từ năm 1986 tới nay: đối tượng nghiên cứu chính

- Nhân vật trong truyện ngắn của một số nhà văn khác (cùng thời hoặc khác): đối tượng để đối chiếu so sánh

4. Phương pháp nghiên cứu

Mục đích khoa học của luận văn là khảo sát, khám phá thế giới nhân vậtđầy phong phú, được bao chứa bởi một cái vỏ khổng lồ là cuộc sống xã hội vớinhiều tầng vỉa, đa đoan đa sự, qua đó góp phần khẳng định chiều sâu tư tưởng,giá trị nhân văn và những đóng góp to lớn trong sáng tác của Ma Văn Khángđối với nền văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới

Để làm nổi rõ những vấn đề liên quan đến đề tài Luận văn, chúng tôithực hiện một số phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp so sánh, phươngpháp hệ thống, phương pháp tổng hợp, phương pháp đặc trưng thể loại, phươngpháp thống kê … để có cái nhìn tổng quan hơn về đối tượng nghiên cứu

5 Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm ba phần, ngoài phần mở đầu và kết luận thì phần nộidung chính gồm 3 chương

Chương 1: Hành trình nghệ thuật của Ma Văn Kháng và vị trí thể loạitruyện ngắn trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn

Chương 2: Các kiểu nhân vật chính trong truyện ngắn Ma Văn Kháng.Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn

Trang 17

B PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Hành trình nghệ thuật của Ma Văn Kháng và vị trí thể loại truyện ngắn trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn

Từ lúc khởi nghiệp cho tới khi trở thành một nhà văn có tên tuổi trên vănđàn, với mỗi nhà nghệ sỹ là khác nhau Có thể với người này được bắt đầu từmột thành công nho nhỏ, một đứa con tinh thần đầu đời, để rồi sau đó đánh dấumột bước ngoặt cuộc đời – đi theo nghiệp viết; có thể với người khác, ướcnguyện và tâm hồn ngay từ buổi đầu đã ươm mầm với văn chương nghệ thuật;nhưng cũng có người luôn tâm niệm “sống rồi mới viết, quan trọng là sự trảinghiệm của bản thân, của suy ngẫm trước cuộc sống” (Ma Văn Kháng), toàntâm toàn ý dành cho lý tưởng, thực hiện lý tưởng lớn lao của cuộc đời mình vàhoàn toàn nghe theo tiếng gọi của con tim: cống hiến trí lực của mình cho tổquốc Đinh Trọng Đoàn – Ma Văn Kháng là một trường hợp như vậy Ở ông,khởi thủy là lý tưởng cháy bỏng của thời thanh niên sôi nổi: “Đây là thời kỳ

mỗi lần miệng cất lên câu hát Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian là một lần con

tim rộn ràng sôi sục, là như có lửa thốc ở trong lòng Đây là thời kỳ trong môitrường tập thể đâu đâu cũng có thể bắt gặp các câu chuyện nói đến, trước hết là

Paven Coócsaghin trong Thép đã tôi thế đấy của N Ôxtrốpxky, rồi đến Paven Vơlátxốp trong tiểu thuyết Người Mẹ của M Goócky Sau nữa là Đankô với trái

tim bốc lửa móc ra từ lồng ngực Là Chim báo bão Là Dôi-a, nữ anh hùng dukích Liên Xô, là Matrôxốp chiến sĩ Xô Viết lấp lỗ châu mai Là Mariétxép anhhùng phi công thương binh cụt chân trong chiến tranh vệ quốc vĩ đại Sao tôiyêu thế tuổi thanh niên ra chiến trường chống quân bạch vệ của N.Ôxtrốpxky vàtuổi trẻ cần lao phong trần của Mácxim Goócky! Những mẫu hình đẹp nhất củaphẩm giá con người thời ấy sao mà phong phú, và có sức thôi miên con ngườiđến thế!"[27; 36] Và lý tưởng ấy đã dẫn đường cho ông đi tới mảnh đất

Trang 18

địa đầu tổ quốc để gieo mầm tương lai – người lái đò tri thức Như thấu hiểu tớitâm can đồng nghiệp của mình, sau này, chính Bùi Bình Thi khẳng định: “Tôidám chắc những năm chập chững đầu đời này, Ma Văn Kháng không hề nghĩđến mơ ước rồi sau này sẽ viết văn Không đâu, nếu vậy đã không còn gì làchập chững Nhưng có điều này, ở đời, dẫu bất cứ là nghề nào khi nó thànhnghiệp, nhất là nó lại trở nên là nghiệp chướng nữa, thì người đời nghĩ đến ngaycái nghề ấy, cái nghiệp chướng ấy nó có linh hồn”

1.1 Hành trình nghệ thuật của Ma Văn Kháng

Hành trình nghệ thuật của một nhà văn luôn song hành và gắn bó vớicuộc đời Văn được chắt, cất và tinh lọc từ cuộc đời mà ra Với Ma Văn Khángcũng không là ngoại lệ, văn ông tự nhiên, tuôn chảy từ mạch nguồn cuộc sống,

từ sự trải nghiệm và cống hiến cho cuộc đời một cách nghiêm cẩn nhất Nói nhưGabrien Máckét, đại ý: Nhà văn phải sống với toàn bộ đời sống hiện thực, vớicác biến cố và huyền thoại của nó, đồng thời phải dùng chính đời sống để giải

thích đời sống [27; 42] Đây có thể xem là một yếu tố cốt tử, một nguyên tắc

bất biến đối với nhà nghệ sỹ khi họ muốn kiến tạo nên đứa con tinh thần củamình Với Ma Văn Kháng, đó chính là sự ngầm định cho hướng đi, trên conđường duy nhất - văn chương - thứ “nghiệp chướng” vô vàn khổ hạnh nhưngcũng hết sức thiêng liêng, lớn lao và hạnh phúc trọn vẹn đối với ông Nói như

Võ Văn Trực: “Ma Văn Kháng đã biến tất cả những thứ thu lượm được thànhnăng lượng tâm hồn và trào chảy ra đầu ngòi bút” [51]

Nói tới thành công hôm nay của Ma Văn Kháng, bạn đọc vốn đã yêu mếnnhà văn không thể nào quên hình ảnh một thanh niên Hà Nội, trong dáng thưsinh, trong trẻo, nhưng đầy hoài bão và lý tưởng cách mạng sục sôi cùng câyđàn ghita - hành trang lên đường, vượt qua trên một trăm cây số đường núi đầy

Trang 19

người: Tây Bắc Đến đây, người viết lại hình dung: có lẽ, chính thực tế cuộcsống, niềm khát khao đến cháy bỏng của lớp lớp trí thức trẻ ngày ấy đã trở

thành biểu tượng đi tới trong Tiếng hát con tàu của cố thi sỹ Chế Lan Viên ở

giai đoạn lịch sử này

Với Ma Văn Kháng, cái ấn tượng như khảm khắc vào tâm hồn con ngườikhông thể nào nguôi quên ở cái buổi ban đầu ấy lại chính là hiện thực cuộc sốngcòn khó khăn ở miền miên viễn này Có thể nói, hoàn cảnh làm nên con người,càng khó khăn bao nhiêu, sức mạnh tiềm tàng trong con người càng trở nênmạnh mẽ, quyết liệt bấy nhiêu Đinh Trọng Đoàn đã để lại sau lưng cái vinh dựđược trở về tiếp quản Thủ đô ngày ấy, vinh dự mà không phải thanh niên ưu túnào cũng có được, để đến mảnh đất dường như chưa bứt ra khỏi hậu quả củachiến tranh Ông vừa tham gia dựng trường, dựng lớp, vận động đồng bào chocon em đến trường, vừa tham gia các hoạt động dân sinh, đến những nơi bà concần tới cán bộ, cần tới tri thức nhất Với Ma Văn Kháng, những công việc íchdụng như vậy là việc không nề hà Sự thâm nhập cuộc sống vừa như tự thân,vừa như riết róng ấy đã giúp Đinh Trọng Đoàn - Ma Văn Kháng nắm bắt sâusắc nhiều tầng vỉa của cuộc sống; thấu hiểu và thực sự trải nghiệm; đồng cảmđược với nhiều mảnh đời và số phận con người; điều đó càng khiến ông thêmgắn bó với con người, cuộc đời này; và sau tất cả, như có một tiếng nói từ bêntrong, lớn lao, thôi thúc ông mãnh liệt: viết về cuộc sống ấy Có thể nói, cuộcsống là thứ kết dính giữa lý tưởng, lẽ sống và tâm hồn ông với văn chương nghệthuật Nói như nhà văn trẻ Phạm Duy Nghĩa: “cuộc sống gợi những nỗi niềmnhân văn quá nên tự nhận lòng phải viết” Và như nhà văn Nguyễn Kiên từngbộc bạch: “ Tôi nghĩ, những ai đã có duyên nợ với văn chương không dễ rờihẳn mảnh đất này Khi đã qua những trải nghiệm cuộc sống, lòng yêu vănchương sẽ thôi thúc người viết cầm bút trở lại” Đúng vậy, từ cuộc sống hiện

Trang 20

thực ngày ấy đã bắt rễ cho một khát khao mới, lớn dần và đang cựa mình trongtâm hồn nhà giáo trẻ, tạo nên bước ngoặt lớn lao, quyết định tới sự hình thànhnhen nhóm nên một nhà văn lớn trong tương lai, điều mà trong sự lựa chọn củamình, Đinh Trọng Đoàn – Ma Văn Kháng không bao giờ hình dung tới Cuộcsống và viết đã khiến Ma Văn Kháng luôn thức nhận: “Một khi kiến văn được

mở rộng, vốn sống trực tiếp được bổ sung bằng vốn sống gián tiếp và lí luậndẫn dắt, những con chữ sẽ trở nên cứng cáp, sức lực dồi dào, vóc dáng mạnh mẽnhư con người” [46; 339] Ông luôn ý thức rằng “Để có những trang viết sâusắc, cảm động, phải nỗ lực rất nhiều, phải có hiểu biết mang tính chất học thuậtsâu sắc” [8] Cùng với những ý thức về nghiệp viết hết sức nghiêm túc ấy làmột nguyên tắc dường như không thay đổi của Ma Văn Kháng: “Ngày nào cũngviết Không viết cái dài thì viết cái ngắn Không viết cái ngắn thì viết đề cương.Không viết đề cương thì viết ý nghĩ chợt đến ” [49]

Đúng như nhận định của nhà văn Nguyễn Ngọc Thiện: “Con đường màĐinh Trọng Đoàn từ một chàng trai đầy nhiệt huyết, nuôi dưỡng hoài bão lớntrong lập thân, lập nghiệp, qua cương vị nhà giáo trẻ tận tâm, tận lực với nghềdạy văn ở bậc phổ thông và có đôi chút năng khiếu văn chương đến sự khẳngđịnh tài năng của cây bút trẻ Ma Văn Kháng vào những năm 60, 70 – thậtkhông dễ dàng chút nào! Được khích lệ, anh vững tâm cầm bút, quyết chí đeođuổi nghiệp văn, trở thành một cây bút vững vàng, có nghề trong khi vẫn đảmnhiệm công việc của một viên chức nhà nước (nhà giáo, trợ lý – thư ký của Bíthư Tỉnh ủy, nhà báo và sau này nhà quản lý trong cơ quan xuất bản)” [48]

Có thể khẳng định rằng, hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng được

đánh dấu từ truyện ngắn Phố cụt in trên Báo Văn nghệ năm 1961 Tuy nhiên,

truyện ngắn có tính chất ghi dấu ấn sâu sắc đối với Ma Văn Kháng, theo đó, đã

Trang 21

Phủ (1969) Chính nhà văn từng bộc bạch: “Xa Phủ, cái mốc son trên con

đường đi với văn chương của tôi! Cảm hứng từ truyện ngắn này được nuôidưỡng, trở thành xung lực mãnh mẽ khiến tôi viết được cả loạt truyện ngắn tiếptheo với nhân vật, cuộc sống là vùng đồng bào các dân tộc, để năm 1969 tôiđược Nhà xuất bản Văn học in cho tập truyện ngắn đầu tay cũng mang tên XaPhủ” [27; 184]; và liền ngay sau đó, ông tiếp tục cho ra đời 4 tập truyện ngắn:

Mùa mận hậu (1972); Người con trai họ Hạng (1972); Bài ca trăng sáng

(1972); Cái móng ngựa (1974) Năm 1974 Ma Văn Kháng trở thành hội viên

Hội Nhà văn Việt Nam Một năm sau khi đất nước thống nhất, năm 1976, MaVăn Kháng tạm biệt mảnh đất Lào Cai - miền đất Tây Bắc của tổ quốc, để vềchính nơi ông được sinh ra: Hà Nội Có thể nói, 22 năm ấy “biết bao là tình”nhưng cũng còn đó không ít “nhọc nhằn”, “nhớ thương” Có lẽ, khi đã tạm biệtmảnh đất Tây Bắc rồi, nhìn lại chặng đường đã qua, để bắt đầu đi tới, Ma VănKháng đã không thể dự cảm hết được những khó khăn đang chờ ông trước mắt

Về Hà Nội, có thể là cơ hội to lớn mở ra với bao người, song cuộc đời vốn vẫnmuốn thách thức ông, một con người luôn cháy ngời lý tưởng đẹp đẽ và tìnhyêu cuộc sống đến không cùng, ông đã phải đối mặt với bao nỗi nhọc nhằn mưusinh, thế sự dường như là quá sức đối với con người Nhưng có lẽ, chính nhữnggiai đoạn đan kết bao khó khăn khắc nghiệt và đáng nhớ nhất này cộng vớikhoảng thời gian trên hai mươi năm sống tại Lào Cai đã thôi thúc mạnh mẽ ngòibút ông ghi lại: đó là những câu chuyện thấm đẫm chất đời, tình người và dưvang của một thời kỳ lịch sử xã hội còn chưa thoát ra khỏi những nỗi đau, sựnhọc nhằn Chính nhà văn thừa nhận, đại ý: thời kỳ này dù có quá nhiều khókhăn trong cuộc sống đối với tôi, song nhìn lại, tôi thấy đó là một may mắn.May mắn là ở chỗ, tôi được tôi luyện trong một thời kỳ lịch sử quan trọng – đấtnước tiến hành đổi mới - giai đoạn mở ra nhiều vấn đề lớn lao cho người sáng

Trang 22

tác khơi dòng, cộng với sự trải nghiệm của hai mươi năm cầm bút và sự thayđổi mang tính bước ngoặt trong mĩ cảm của nhà nghệ sỹ (so với những quanniệm học thuật còn ấu trĩ của giai đoạn trước Đổi mới, như nhà văn từng thừanhận), hơn thế, khi ấy cộng với độ chín của tuổi nghề đã giúp tôi có sức bật lớn.

Vì vậy, có thể khẳng định rằng: đây là thời kỳ nở rộ của truyện ngắn Ma VănKháng Hàng loạt tác phẩm đã ra đời trong giai đoạn này và để lại nhiều dư

vang trong lòng người đọc, như: Ngày đẹp trời (truyện ngắn 1986), Vệ sĩ của

Quan Châu (truyện ngắn 1988), Trái chín mùa thu (truyện ngắn 1988), Côi cút giữa cảnh đời (tiểu thuyết 1989), Đám cưới không có giấy giá thú (tiểu thuyết,

1989), Chó Bi, đời lưu lạc (tiểu thuyết 1992), Heo may gió lộng (truyện ngắn 1992), Trăng soi sân nhỏ (truyện ngắn 1994), Ngoại thành (truyện ngắn 1996),

Truyện ngắn Ma Văn Kháng (tuyển tập 1996)…Mỗi con chữ như mặn xót mồ

hôi, nước mắt, chắt ra qua nghiền ngẫm và trải nghiệm từ chính dòng đời, mạchsống của nhà văn và được chuyển vào tác phẩm ở cả hai thể loại truyện ngắn vàtiểu thuyết, đặc biệt là sự thể hiện hình ảnh và bức tranh cuộc đời tác giả một

cách trung thực trong hồi ký văn chương Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ

thương ở những năm cuối của thập kỷ đầu tiên trong thế kỷ 21 này.

Tựu trung, nhìn lại những chặng đường lớn trong đời viết văn quá nửathế kỷ của Ma Văn Kháng, với 22 năm ở Lào Cai (Tây Bắc), trải qua các cương

vị công tác như: hiệu trưởng trường cấp 2, 3 Lào Cai; Thư ký Bí thư Tỉnh ủyLào Cai; phóng viên, Phó Tổng biên tập Báo Lào Cai; từ năm 1976 đến nay ởThủ đô Hà Nội; lần lượt trải qua các cương vị công tác như: Phó Tổng biên tậpNhà xuất bản Lao động, Uỷ viên Ban chấp hành, Uỷ viên Đảng đoàn Hội Nhàvăn khoá V, Tổng biên tập Tạp chí Văn học nước ngoài…thì điều sau chót, có ýnghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi nhà văn nói chung, Ma Văn Kháng nói

Trang 23

con người, cuộc đời cũng như sức sống của chúng trong lòng độc giả Thànhquả trong hành trình nghệ thuật trên nửa thế kỷ của nhà văn Ma Văn Kháng, cóthể xem là đồ sộ: trên 200 truyện ngắn, tạp văn, 13 tiểu thuyết (tiểu thuyết mớinhất xuất bản năm 2009, do Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành và đã đạt giải thưởnglớn của Hội Nhà văn Hà Nội), và một hồi ký văn chương (2009) Đó có lẽ lànhững cống hiến lớn lao nhất ông dành cho nghệ thuật và cũng là những mónquà quý nhất nhà văn đáp lại một cách chân thành đối với lòng yêu mến củacông chúng đã đón nhận văn chương Ma Văn Kháng trong mấy chục năm qua.

1.2 Vị trí thể loại truyện ngắn trong sự nghiệp sáng tác của Ma Văn Kháng

Như đã khẳng định, bên cạnh những thành công từ mảng sáng tác ở thểloại tiểu thuyết, Ma Văn Kháng còn tham gia viết tạp văn, phê bình văn học, hồi

ký và đặc biệt là truyện ngắn Có thể nói, truyện ngắn là lĩnh vực đầy sức thuhút đối với Ma Văn Kháng Thực tế là, truyện ngắn đã trở nên gắn bó và là mộtthể loại mà Ma Văn Kháng viết rất khoái hoạt, thường xuyên và cũng dànhđược nhiều sự quan tâm của độc giả Chính nhà văn từng bộc bạch: “Từ thủamới vào nghề tôi đã mê truyện ngắn, thể loại tự sự cỡ nhỏ mà chứa đựng mộtnăng lượng rất ghê gớm này” [27; 414] Truyện ngắn đã đưa nhà văn đến vớiduyên văn chương, và cũng là thể loại đầu tiên Ma Văn Kháng có được nhữngthành tựu nhất định trong suốt hành trình cầm bút của mình Với Ma VănKháng viết truyện ngắn tự nhiên như việc con người hít thở để sinh tồn Mỗicảnh đời ông từng đi qua và chứng kiến đều có thể trở thành một đối tượng đểnhà văn chắt gạn nên hình hài nghệ thuật; và truyện ngắn chính là thể loại giúpnhà nghệ sỹ thỏa sức sáng tạo nên tác phẩm của mình từ muôn vàn mảnh hiệnthực như vậy Nói tới truyện ngắn nói chung, chúng tôi không tham vọng trìnhbày những thành tựu mà nhà văn đạt được ở thể loại này, mà với giới hạn của

Trang 24

luận văn, chúng tôi cố gắng giới thuyết sơ lược về truyện ngắn và vị trí thể loạitruyện ngắn trong sáng tác của Ma Văn Kháng, trong đó luận văn đề cập đếnvấn đề trung tâm mà nhà văn xây dựng trong truyện ngắn là nhân vật và vai tròcủa nhân vật, đặc biệt là nhân vật truyện ngắn sau Đổi mới, để từ đó làm nổi rõmối quan tâm hàng đầu của nhà văn trong mảng sáng tác này.

1.2.1 Khái niệm truyện ngắn

Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầyđặn và rộng lớn của nó, truyện ngắn thường hướng tới việc khắc họa một hìnhtượng nghệ thuật cụ thể, hoặc phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhânsinh, hay khám phá cái bí ẩn trong đời sống tâm hồn con người… Vì thế trongtruyện ngắn thường có ít nhân vật và ít sự kiện phức tạp Vậy, truyện ngắn làgì? Theo Truman Capote cho rằng truyện ngắn “là một tác phẩm nghệ thuật có

bề sâu nhưng lại không được dài” [31; 52] Còn K.Pautốpxki lại định nghĩa vềtruyện ngắn như sau: “thực chất truyện ngắn là gì? Tôi nghĩ rằng truyện ngắn làmột truyện viết ngắn gọn, trong đó cái không bình thường hiện ra như một cáibình thường và cái bình thường hiện ra như một cái không bình thường” (tuyểntập Phan Cự Đệ, Nhà xuất bản Giáo dục, tr 742) Nhà văn Nguyễn Minh Châuhình dung truyện ngắn một cách hình ảnh: “Truyện ngắn như một mặt cắt giữamột thân cây cổ thụ, chỉ liếc qua những đường vân trên các khoanh gỗ tròn kia,

dù trăm năm cũng thấy cả cuộc đời thảo mộc” (Trang giấy trước đèn, tr 267).

Nhà phê bình Bùi Việt Thắng lại khái niệm: “Truyện ngắn là thể loại năng động

ít bị những quy tắc có tính quy phạm gò bó, chi phối Hình thức truyện ngắnluôn vỡ ra, đổi thay lại, luôn tự xác định tính bền vững của mình” [46; 132].Theo Từ điển văn học Việt Nam: “Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dunglượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống: một biến cố hay một

Trang 25

một mặt nào đó của tính cách nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn

đề xã hội” [46; 30] Tuy nhỏ hẹp về quy mô phản ánh thực tại, truyện ngắn vẫn

có khả năng đề cập được những vấn đề xã hội có tính khái quát rộng lớn, sâusắc Tựu trung, có thể khẳng định rằng, truyện ngắn dù viết về thời đại nào, viết

về cái gì, hay được viết bằng thi pháp gì; dù bị phân định, hay chế ước bởi mộtthứ lí thuyết nào, hoặc “dù bị hạn chế về qui mô, bị quy tắc bởi độ nén cao,song chúng vẫn có khả năng khai thác sâu những bước ngoặt của số phận”[50]

Chính yêu cầu về độ nén cao và khả năng khai thác sâu những bướcngoặt của số phận trong truyện ngắn, khiến nhân vật của truyện ngắn cũng nằmtrong guồng quay chi phối căn cốt mang tính thể loại Nhân vật của truyện ngắnthường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội, hoặc trạngthái tồn tại của con người, từ đó đưa đến một cách hoặc trực tiếp hay gián tiếp

để chúng ta hiểu hơn mặt nào đó của thế thái nhân tình Có thể qua nhân vật Hộ

(Đời thừa – Nam Cao) độc giả phần nào hình dung được cái bi kịch đời sống

thế sự của một lớp văn sỹ thành thị ở những thập niên 50 của thế kỷ 20; có thể

qua Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng – Nguyễn Minh Châu), người đọc như được

tiếp thêm một niềm tin vào cuộc kháng chiến, cho dù còn khốc liệt nhưng nhấtđịnh sẽ thắng lợi, và đặc biệt, đằng sau cái nền đầy bão lửa của hoàn cảnh đấtnước có chiến tranh, vẫn lấp lánh vẻ đẹp tâm hồn con người và niềm tin son sắtvào một tình yêu đẹp đẽ đầy nhân bản Hoặc qua cuộc đời của những nhân vật

như thầy Khiển (Thầy Khiển), ông Hoàn (Cái Tý Ngọ), ông Thại (Tóc huyền

màu bạc trắng),… của Ma Văn Kháng, lại đem tới cho độc giả những hình dung

và sự sẻ chia đồng cảm với những thân phận nhỏ bé, hữu hạn của con ngườitrước sự giăng bủa của lưới số phận vô hình

Trong bài viết “Tôi viết truyện ngắn” nhà văn Ma Văn Kháng cho rằng:

“Số phận bất kỳ một nhân vật nào, dù có rắc rối đến đâu, cũng được thu vào và

Trang 26

chói sáng ở một giây phút nhất định: ở giây phút ấy nhân vật phát hiện ra mình

là ai; và tôi cố gắng diễn tả thật kỹ lưỡng cái giây phút hệ trọng ấy của mỗinhân vật trong truyện…tôi cho rằng, ở mỗi truyện ngắn, bao giờ cũng có mộtđiểm rơi ở trọng lực, người viết cần có ý thức (và cả tự do vô thức) về điểm rơi

đó để viết cho hay, để ngòi bút phải thăng hoa xuất thần”[45; 327]

Có thể nói, chỗ khác biệt tương đối rõ nét của truyện ngắn và tiểu thuyếtchính là nhân vật Nếu nhân vật của tiểu thuyết thường là một thế giới thì nhânvật chính của truyện ngắn chỉ là một mảnh nhỏ của thế giới ấy Truyện ngắn làthể loại gần gũi với cuộc sống hàng ngày vì nó rất năng động khi xoáy sâu vàonhững vấn đề nóng bỏng, bức xúc đang được độc giả quan tâm Trong quá trìnhphát triển, truyện ngắn sẽ thâu nạp thêm những đặc điểm mới phù hợp với thểloại và sự phát triển của xã hội hiện đại

Ma Văn Kháng thừa nhận: “Tôi, tựu trung vẫn là một người thích viếttruyện ngắn theo lối cổ điển, vẫn thủy chung một cách rất khó hiểu với nhữngcâu chuyện được viết theo cách truyền thống xưa cũ, tất nhiên là có những yếu

tố biến đổi ở trong đó rồi” [45; 328]

Văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Mỗi tác phẩm vănhọc là một hiện tượng của đời sống được thể hiện qua cái nhìn, qua cách cảmnhận đánh giá mang tính chủ quan của nhà văn Vì vậy, tác phẩm văn học baogiờ cũng thể hiện thái độ, quan điểm, lập trường, tư tưởng, sự sáng tạo của nhàvăn, những cảm xúc tâm trạng ý nghĩ của con người được bộc lộ trực tiếp quanhững lời lẽ bộc bạch, thổ lộ và làm thành nội dung chủ yếu thì ở trong thể loại

Trang 27

tự sự, một thể loại giàu tính khách quan được thể hiện quá rõ trong tính cách,trong đời sống nội tâm của nhân vật.

1.2.2 Vị trí thể loại truyện ngắn trong sáng tác của Ma Văn Kháng Chiếm một vị trí quan trọng và có khối lượng tác phẩm đồ sộ, truyện

ngắn trở thành mảng sáng tác chủ yếu bên cạnh tiểu thuyết của Ma Văn Kháng.Đặc biệt, khi ở vào cái tuổi “xưa nay hiếm”, sức khỏe phần nào không cho phépnhà văn lao tâm khổ tứ trên chặng đường “đi săn hổ giữ” (cách dùng từ của MaVăn Kháng khi nói tới công việc viết tiểu thuyết) thì hầu hết thời gian ông dànhcho truyện ngắn Có thể nói, trên mảnh đất văn chương đầy duyên nợ này, MaVăn Kháng vẫn chiếm lĩnh tâm hồn người đọc bằng một lối đi riêng, không trộnlẫn, khiến ta có cảm tưởng, dù tác phẩm của ông có bị che đi tên tác giả, ngườiđọc vẫn biết đó là văn Ma Văn Kháng Ở thể loại truyện ngắn của Ma VănKháng cũng vậy, dù viết về đề tài gì, viết ở không gian nào, bằng bút pháp gì thìmối quan tâm hàng đầu của nhà văn bao giờ cũng là nhân vật và khắc họa chândung nhân vật Nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng đôi khi phảng phất

cái đẹp thanh khiết, lãng mạn như nhân vật của Pautốpxki (trong Bình minh

mưa), hay Aitơmatốp (trong Giamilia núi đồi và thảo nguyên); có lúc lại lọc lõi,

tinh đời như nhân vật của Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Nam Cao (Chí Phèo, Đôi

mắt); có lúc lại cộc cằn, thô ráp như nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp (Tướng về hưu)…và nói chung đều sinh động và rất “đời”.

Ma Văn Kháng là nhà văn thành công trên nhiều thể loại Nếu như trước

những năm 1986, những cuốn tiểu thuyết như Đồng bạc trắng hoa xòe (1979),

Vùng biên ải (1983), Mùa lá rụng trong vườn (1985)… đã đưa tên tuổi nhà văn

đến với đông đảo công chúng, thì sau Đổi mới, với thành công nở rộ ở mảng

truyện ngắn (tập Ngày đẹp trời (1986) được xem là tập truyện ghi dấu mốc quan

Trang 28

trọng trong thay đổi quan niệm học thuật của nhà văn ở giai đoạn này) với các

tập truyện ngắn và tuyển tập truyện ngắn như: Ngày đẹp trời (truyện ngắn 1986), Vệ sĩ của Quan Châu (truyện ngắn 1988), Trái chín mùa thu (truyện ngắn 1988), Heo may gió lộng (truyện ngắn 1992), Trăng soi sân nhỏ (truyện ngắn 1994), Ngoại thành (truyện ngắn 1996), Truyện ngắn Ma Văn Kháng

(tuyển tập 1996), đã khẳng định vị trí và tầm cỡ của ông trên văn đàn Truyệnngắn của Ma Văn Kháng đã thực sự để lại những ấn tượng sâu đậm nhất tronglòng bạn đọc và cũng là đề tài trao đổi khá thú vị giữa các nhà văn, nhà phêbình, nghiên cứu văn học vào những năm đầu của Đổi mới đến nay

Nhìn lại hành trình nghệ thuật của nhà văn Ma Văn Kháng, ta thấy truyệnngắn chiếm ưu thế hơn hẳn về số lượng so với tiểu thuyết và các thể loại khác;thêm nữa, được in và tái bản nhiều lần ở các tập truyện, tuyển tập truyện ngắnchọn lọc, trên các báo, tạp chí, trang web Tính cả những tác phẩm viết trước

và sau 1986, Ma Văn Kháng đã công hiến cho nghệ thuật với trên 200 truyệnngắn, tiêu biểu phải kể đến các tập truyện như:

- Ngày đẹp trời (1986),

- Vệ sĩ của Quan Châu (1988)

- Trái chín mùa thu (1988)

- Heo may gió lộng (1992)

- Trăng soi sân nhỏ (1994)

- Ngoại thành (1996)

- Truyện ngắn Ma Văn Kháng, Nhà xuất bản Công an nhân dân (1996)

- Truyện ngắn chọn lọc Ma Văn Kháng, Nhà xuất bản Hội Nhà văn (2002)

-50 truyện ngắn chọn lọc Ma Văn Kháng, Nhà xuất bản Văn hóa sài gòn (2006)

- Trốn nợ, Nhà xuất bản Phụ nữ (2009)

Trang 29

Có thể nói, so với nhiều nhà văn khác, thành tựu của Ma Văn Kháng ởmảng truyện ngắn là tương đối đồ sộ Đó là một nhà văn không chỉ luôn cầnmẫn mà ông còn là một nghệ sỹ có sức viết khỏe, đều đặn và một tinh thần cốnghiến vì nghệ thuật thật hiếm có Sáng tác của Ma Văn Kháng đã và đang thực sựvượt qua được sự sàng lọc khắc nghiệt của thời gian và trở thành phần tài sản cógiá trị không chỉ của nhà văn mà còn của cả nền văn học Việt Nam đương đại.

Có được thành quả như thế là bởi Ma Văn Kháng rất tâm đắc với truyện ngắn

Là một nhà văn mẫn cảm tinh tế trước nhân tình thế thái; nắm bắt nhanh nhạynhững biến chuyển bên trong của đời sống xã hội và số phận con người Là nhàvăn, hơn ai hết, Ma Văn Kháng hiểu “truyện ngắn là thể loại rất nhanh đạt tớihiệu quả, nó cho phép ngày hôm nay viết ngay về sự kiện ngày hôm qua (KôbôArê) nên nhà văn đã chọn thể loại này để có thể trả lời kịp thời những vấn đề

của đời sống, những truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ, Thầy Khiển, Heo may gió

lộng, Ngày đẹp trời,… đã đi thẳng vào những vấn đề nhân tình thế thái, những

mối quan hệ gia đình, thân tộc đang trở nên lỏng lẻo, những vấn đề xã hội đặt rabức bối, qua đó, nhà văn muốn gián tiếp đưa ra lời đề nghị về cách sống và sự

tự đánh giá nhìn nhận bản thân của mỗi con người

Tiểu kết:

Khái quát lại, tổng quan hành trình nghệ thuật của Ma Văn Kháng có thểkhẳng định rằng: cùng với tiểu thuyết, truyện ngắn chiếm một vị trí quan trọngtrong hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng Có thể nói, ông đã phát huy đượchết năng lực khi lựa chọn truyện ngắn - “cái thể loại văn học bé bỏng” (MaiNgữ) nhưng lại là thể loại có ưu thế nhất để khám phá và thể hiện cuộc sống.Chính từ đó, Ma Văn Kháng đã gieo vào mảnh đất văn chương của mình mộtmầm sống nghệ thuật mới từ những luống cày đầu tiên còn non nớt trở thành

Trang 30

những đường cày đầy vâm váp, khỏe khoắn, đa sắc mầu và tạo nên những sảnphẩm có phong cách riêng độc đáo Cùng với thế hệ nhà văn tiên phong của caotrào đổi mới văn học như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải,… và sau này làcác nhà văn Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Tạ DuyAnh,… Ma Văn Kháng đã góp phần không nhỏ tạo nên một diện mạo mới chovăn học Việt Nam hiện đại Có lẽ, chưa thời kỳ nào, truyện ngắn nở rộ đầy khỏekhoắn và thấm đẫm chất đời như giai đoạn này Con người được lật xới ở nhiềulớp lang, hình khối khác nhau và không còn được “vuốt tròn” để trở thànhnhững nhân vật lý tưởng như văn học giai đoạn trước 1975 Thân phận conngười được khám phá ở tầng sâu nhân bản.

Có thể nói, truyện ngắn cũng là thể loại theo suốt hành trình nghệ thuậtcủa nhà văn, từ khi khởi bút gia nhập vào làng văn và giờ đây, khi đã ở cái tuổixưa nay hiếm, trở thành lớp nhà văn cựu trào của văn học Đổi mới, Ma VănKháng vẫn dành sự tận tâm, lòng say mê nghệ thuật và đau đáu với nghiệp viết,ông đã và đang tiếp tục có những đóng góp đáng kể cho nền văn học đương đạiViệt Nam Chính thể loại này đã đưa tên tuổi nhà văn trở thành một trong nhữngtác giả tiêu biểu và có nhiều đóng góp nhất trong giai đoạn văn học Đổi mớiđến nay

Trang 31

Chương 2: Các kiểu nhân vật chính trong truyện ngắn Ma Văn Kháng 2.1 Giới thuyết về nhân vật và vai trò của nhân vật trong truyện ngắn

2.1.1 Giới thuyết về nhân vật

Nhân vật là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực, khái quát

tính cách con người Chính vì vậy, theo Từ điển thuật ngữ văn học: “nhân vật

thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người”,

vì thế, “nhân vật luôn luôn gắn chặt với chủ đề của tác phẩm” [40; 65] Văn họckhông thể thiếu nhân vật, bởi vì đó là hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu

tả thế giới một cách hình tượng Tuy nhiên, khái niệm nhân vật văn học có khiđược sử dụng như một ẩn dụ và không chỉ một con người cụ thể nào cả Nóđược xem như là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ và không thể đồng nhất

nó với con người có thật trong đời sống

Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách của conngười Do tính cách là một hiện tượng xã hội, lịch sử nên chức năng khái quáttính cách của nhân vật văn học cũng mang tính lịch sử Nói tới nhân vật vănhọc, Phêđin cho rằng: nhân vật là một công cụ- một công cụ tinh vi sắc bén

Văn hào Đức W.Gớt có nói: “Con người là điều thú vị nhất đối với conngười và con người cũng chỉ hứng thú với con người” Con người là nội dungquan trọng nhất của văn học Vì thế có lần M.Gorki khuyên các nhà văn trẻ:

“Anh hãy bỏ nghề viết đi Đấy không phải là công việc của anh, có thể thấy rõnhư thế Anh không có khả năng miêu tả con người cho sinh động, mà đấy lại là

điều chủ yếu”(Bàn về văn học) Nhân vật văn học, đó chính là hình tượng nghệ

thuật về con người Văn học lấy nhân vật làm đơn vị nghệ thuật cơ bản để phảnánh hiện thực và thể hiện quan niệm của nhà văn về con người Gắn với thựctiễn sáng tác của mỗi thời đại khác nhau việc thể hiện nhân vật cũng đánh dấunhững xu hướng tiến hoá riêng của tư duy nghệ thuật Nhân vật văn học có thể

Trang 32

ví như chiếc chìa khoá dẫn dắt người đọc khám phá thế giới nghệ thuật tácphẩm Nói như nhà phê bình Bùi Việt Thắng: “Nhân vật là nơi duy nhất tậptrung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác”[46; 249] “Văn họckhông thể thiếu nhân vật, vì đó là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiệnthực một cách hình tượng…Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào mộtthế giới riêng của đời sống trong một thời kỳ lịch sử nhất định” [8].

Tựu trung, các nhân vật văn học rất đa dạng Xét về vai trò của nhân vậttrong tác phẩm, có thể nói, dù ở thể loại nào, tiểu thuyết, truyện vừa, hay truyệnngắn…đều không thể thiếu nhân vật Nhân vật đóng vai trò quan trọng trongviệc thể hiện tập trung đề tài, chủ đề và tư tưởng tác phẩm; đồng thời nhân vậtmang lí tưởng, quan điểm tư tưởng và đạo đức tốt đẹp của tác giả, của thời đại

2.1.2 Vai trò của nhân vật trong truyện ngắn

Có thể nói, truyện ngắn “sống” được là nhờ nhân vật, nhân vật chính làyếu tố đầu tiên, có tính cốt tử đối với sự sống còn của truyện ngắn “Nhân vậtchính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong mộtthời kỳ lịch sử nhất định Với ý nghĩa như vậy, Phêđin cho rằng nhân vật là một

công cụ, ông nói điều này khi bàn về tác phẩm Sống lại của L.Tônxtôi:

“Nhêkhliuđốp là một công cụ tinh vi sắc bén – ngoài Nhêkhliuđốp ra, không ai

có thể vạch ra tốt hơn những bí mật của bọn người nhà nước đang nắm giữchính quyền, cũng như những bí mật của tâm hồn người Nga đang bị bóp nghẹtdưới chế độ Nga hoàng… Thay thế Nhêkhliuđốp bằng một nhân vật khác, và

như vậy Sống lại cũng mất theo” [9; 126] Có thể nói, nhân vật văn học chính là

nhân tố làm nên diện mạo của tác phẩm văn học nói chung và làm nên phongcách tác giả nói riêng cũng như đúc nên đứa con tinh thần – thứ cầu nối giữanhà văn – độc giả trong mối quan hệ bền chặt

Trang 33

Nhân vật văn học có thể là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm

văn học và có thể có tên riêng như Chí Phèo (Chí Phèo - Nam Cao), Quỳ (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành- Nguyễn Minh Châu), là Nhiên (Nhiên,

nghệ sỹ múa - Ma Văn Kháng), Seoly (Seo ly, kẻ khuấy động tình trường- Ma

Văn Kháng)…những nhân vật không tên như “tôi” (Đi săn khỉ - Vũ Trọng Phụng), như chị “cả” (Thanh minh trời trong sáng – Ma Văn Kháng), nhân vật

“tôi” (Nhiên nghệ sỹ múa, Trung du chiều mưa buồn, Người giúp việc - Ma Văn

Kháng)… Song cũng cần lưu ý thêm rằng, nhân vật văn học là một đơn vị nghệthuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất con người thật trong đời sống TheoSêkhốp, đại ý: nhân vật truyện ngắn phải được hiểu theo nghĩa rộng, có khi làngười, có khi là vật Cho dù là tồn tại dưới dạng nào thì tất cả các nhân vật đềuhướng tới con người (Nói như Sêkhốp, đại ý: nếu anh cho tôi chi tiết về cáiđèn, ngày mai tôi sẽ có câu chuyện về cái đèn) Như vậy, nhân vật có thể là bất

cứ gì khi nhà văn chọn nó làm đối tượng phản ánh và chuyển tải thông điệp đếnvới công chúng Nhân vật văn học nói chung còn thể hiện quan niệm nghệ thuật

và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người Vì thế nhân vật luôn gắn với chủ

đề tác phẩm Thêm nữa, nhân vật đảm nhiệm vai trò thiết cốt đối với bất cứ tácphẩm văn học nào: đảm nhiệm vai trò dẫn dắt cốt truyện, giải quyết các xungđột, khâu nối các chi tiết, mang chở ý nghĩa tư tưởng, chủ đề tác phẩm, và là

“cái loa phát thanh” cho tư tưởng, quan niệm nghệ thuật của nhà nghệ sỹ Ở

trường hợp này, các nhân vật Độ (Đôi mắt – Nam Cao), Tnú (Rừng Xà nu – Nguyễn Trung Thành), Lão Khúng (Phiên chợ Giát – Nguyễn Minh Châu), Nam (Trăng soi sân nhỏ) là một ví dụ điển hình Độ (Đôi mắt) là đại diện tích

cực cho một lớp văn sỹ đã thấy được thực tiễn và ý nghĩa lớn lao của cuộc cáchmạng, thấy được sức mạnh của quần chúng và xác định con đường duy nhấtđúng đắn là tìm về với nhân dân; đồng thời đặt ra một vấn đề quan trọng đối với

Trang 34

nhà văn đó là vấn đề “nhận đường” trong văn học Tư tưởng “nhận đường” củalớp nhà văn thời ấy là một thực tế đặt ra gắt gao, khẩn thiết, và điều này đã

manh nha từ trong Hồi ký Ở rừng (1947) của nhà văn Cũng giống như Độ, Nam (Trăng soi sân nhỏ), cũng là một nhà văn Tuy nhiên, hoàn cảnh của Nam

khác với Độ, thời đại Nam sống có độ lui vài thập kỷ, khi đất nước đang thựchiện công cuộc đổi mới Là một văn sỹ có tên tuổi, Nam luôn là trung tâm chú ýcủa công chúng và đồng nghiệp, và như vậy, việc các cơ sở có nhã ý mời anhxuống thực tế để viết, để nói chuyện văn chương là chuyện hết sức bình thường,nhưng vốn là người rụt rè, khiêm tốn, Nam luôn giữ kẽ và “chỉ sợ phiền hà chongười khác” Thực tế cuộc sống, đi và viết, Nam gặp nhiều những con ngườiluôn trục lợi, thực dụng, hợm hĩnh và hư vinh (như Bân), những tâm hồn, trí tuệméo mó, bệnh tật (như Thuấn)…đã khiến anh luôn trăn trở: “văn chương làchuyện đời thông qua việc đào bới bản thể mình ở chiều sâu tâm hồn, chứ đâuphải là đi hớt lấy cái váng bọt nổi trên mặt của ngoại vật Đâu có phải cứ lăn lộnxuống cơ sở, gần gụi cái búa, cái bay, sống giữa tiếng máy, mùi than thì mớiviết được văn hay” [23; 442] Suy nghĩ của nhà văn Nam như một lời phản biệnlại sự nhận thức có phần ấu trĩ và nhuốm màu tư lợi của một bộ phận văn sỹđương đại Trở đi trở lại vấn đề đi, viết và sáng tạo nghệ thuật, Ma Văn Khángmuốn đem tới một góc nhìn thẳng đối với quan niệm học thuật và trải nghiệmngòi bút của nhà văn Văn chính là cuộc đời, nhưng văn chương không thể bêcái khối nguyên tảng cuộc đời ấy vào tác phẩm, bởi cùng với các thành tố khác,văn học còn đặt ra vấn đề yếu tố tài năng và sự sáng tạo nghệ thuật của nhànghệ sỹ khi kiến tạo nên đứa con tinh thần của mình

Có thể nói, nhân vật văn học được miêu tả qua biến cố, xung đột, mâuthuẫn và mọi chi tiết các loại Đó là mâu thuẫn nội tâm của nhân vật, mâu thuẫn

Trang 35

Vì vậy nhân vật gắn liền với cốt truyện Nhờ được miêu tả qua xung đột, mâuthuẫn, nên khác với hình tượng hội họa và điêu khắc nhân vật văn học là mộtchỉnh thể vận động, có tính cách được bộc lộ dần trong không gian, thời gian,mang tính chất quá trình Chính vì vậy, “nhân vật là phương tiện khái quát cáctính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng” Đối với Ma VănKháng, hệ thống nhân vật đã phản ánh trung thành, rõ nét quan điểm nghệ thuật

về con người và hiện thực trong các chặng đường sáng tác; phục vụ đắc lực choviệc chuyển tải ý tưởng, thông điệp của nhà văn; qua đó cũng cho thấy sức sángtạo trong cách xây dựng nhân vật nhưng vẫn in đậm dấu ấn diện mạo rất riêngcủa nhà văn Nhân vật có vai trò hết sức quan trọng trong tác phẩm, bởi bảnthân nhân vật đã khái quá hóa cao độ cuộc sống và con người, kiểu người củathời đại Cố nhiên, nhân vật chính là xương sống, là linh hồn của mỗi tác phẩm,nhân vật cũng là người phát ngôn cho tư tưởng, quan niệm nghệ thuật về conngười của nhà văn

Có thể khẳng định rằng, bất cứ sự phân chia nào cũng có tính tương đối.Phân định một số kiểu nhân vật của Ma Văn Kháng, chúng tôi không ngoài mụcđích khảo sát sự thể hiện của nhà nghệ sĩ trong quá trình sáng tạo nhân vật củanhà văn qua những đặc trưng cơ bản của từng kiểu loại

Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng thật sự phong phú

Họ là những công nhân, nông dân, trí thức, những người thợ, những người ở,người đánh xe, công an, người quét chợ, người đánh trống trường, phóng viên,giáo viên, nhà quản lý…tựu trung đều sinh động và rất “đời” trong sáng tác củanhà văn Nói như nhà nghiên cứu Lã Nguyên: “nhân vật của Ma Văn Kháng dùphức tạp đến đâu, có những biểu hiện phong phú như thế nào, sau khi tiếp xúc

ta có thể nhận diện Nếu ở tiểu thuyết, số phận của các nhân vật được trải dàitheo cuộc đời của nhân vật, thì ở truyện ngắn, đôi khi đó là

Trang 36

những mảnh vỡ Mảnh vỡ số phận của con người trong thế giới nhân vật của

Ma Văn Kháng mang đầy màu vẻ, và chúng tôi, đứng ở giác độ nghiên cứu lạimuốn cô chúng trong một số kiểu loại nhân vật, có nghĩa rằng, các kiểu nhânvật của Ma Văn Kháng không gọi tên theo nghề nghiệp, theo chức phận xã hộicủa nó mà được gọi theo một “mô hình con người” [39] Nói như vậy không cónghĩa là mỗi quan niệm về con người của nhà văn sẽ tương ứng với một kiểunhân vật nhất định Tuy nhiên, việc đưa ra những kiểu nhân vật dưới đây, chúngtôi phần nào căn cứ vào tác phẩm cụ thể, đồng thời gắn chúng với những quanniệm của nhà văn về con người trong quá trình xây dựng nên thế giới nhân vậtphong phú này

Có thể khẳng định rằng, thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Ma VănKháng vô cùng đông đảo và đa dạng, nhưng không phải bất cứ nhân vật nàocũng minh họa cho một kiểu nhân vật nhất định Bởi có những nhân vật, có thểcùng một lúc hội tụ một vài tính cách tạo nên một kiểu con người nào đó đượcnhà văn xây dựng, nhưng đôi khi có nhân vật chỉ hiện diện như những “nhânvật đám đông” và không tạo thành một kiểu nhân vật nào cả Xác định như vậy,chúng tôi muốn đưa tới sự nhất quán mang tính tương đối về những mô hình,những kiểu nhân vật được minh họa trong luận văn này Trong thế giới nhân vậtđông đảo ấy, chúng tôi tạm phân định thành bốn kiểu loại nhân vật: Đó là kiểunhân vật người yếu đuối, nhân vật bi kịch, nhân vật tha hóa và nhân vật vượtlên số phận

2.2 Các kiểu nhân vật chính trong truyện ngắn Ma Văn Kháng

2.2.1 Nhân vật người yếu đuối

Có thể khẳng định rằng, các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Ma VănKháng đều đi từ một đặc điểm chung là hướng về khắc họa những số phận con

Trang 37

và chủ yếu bằng: đó chính là con người Mọi phản ánh dù ở thiên hình vạntrạng, song cuối cùng nó vẫn xoay quanh mối quan tâm tới tâm hồn, số phậncon người và suy cho cùng mọi tác phẩm nghệ thuật đều hướng đến con người.Các nhà nghệ sỹ của mọi thời đại đều tìm đến con người, giải mã cuộc đời, sốphận con người theo những cách riêng của mình - tùy thuộc vào yếu tố thời đại,

xã hội và yêu cầu lịch sử - để đi đến mục đích cuối cùng là hiểu con người hơn,góp phần làm cho cuộc đời nhân bản hơn, tốt đẹp hơn

Cuộc sống luôn chứa đựng những yếu tố phức tạp, vì vậy con người luônphải gồng mình lên để chống chọi lại cái khó khăn, chật hẹp và bon chen củađời sống Hơn ai hết, người nghệ sỹ với khả năng tinh tế vốn có đã nhận ranhững khoảng không bình yên và chứa đầy mâu thuẫn, giằng xé trong tâm hồncon người, sự khuyết thiếu và yếu nhược về bản lĩnh của con người trước hoàncảnh khi chúng trở nên tương đối phức tạp Ma Văn Kháng cùng với các nhàvăn thời kỳ đầu của Đổi mới đã khái quát hiện thực chủ yếu bằng các nhân vậtloại hình Đó là những “nhân vật thể hiện tập trung một loại phẩm chất, tínhcách nào đó của con người hoặc các phẩm chất tính cách, đạo đức của một loạingười nhất định của một thời đại” (theo Từ điển Thuật ngữ văn học) [41; 66].Hạt nhân cốt lõi của kiểu nhân vật này là yếu tố “loại” chứ không phải là cátính Vì vậy, chúng có khả năng khái quát cao Nếu trong văn học trước 1975,các nhân vật loại hình đã thể hiện tập trung những phẩm chất ưu tú của dân tộc,thời đại, trở thành những hình mẫu lí tưởng (nhân vật lí tưởng) của xã hội và

“được miêu tả trong vẻ đẹp kì diệu khác thường” [41; 66]; thì đến văn học Đổimới, trong bối cảnh đất nước hòa bình, con người đã bước ra khỏi ánh hàoquang của chiến thắng để trở về với đời sống xã hội, phải đối diện với mọi nhucầu cá nhân, khi ấy con người đã trở nên thật hơn rất nhiều Thực tế đời sốngkhó khăn, thiếu thốn đã có tác động trực tiếp đến tính cách con người, có thể

Trang 38

biến một bộ phận người này thành một kiểu người trở nên lãnh cảm, trơ lạnh,một bộ phận người kia trở thành người tha hóa, “mòn đi”, “ruỗng ra” hoặc cóthể biến một bộ phận người trở nên yếm thế, chùn bước, hay trung dung, lo sợ

trước những hoàn cảnh dữ dội – kiểu người yếu đuối Kiểu nhân vật yếu đuối

xuất hiện không nhiều trong truyện ngắn Ma Văn Kháng, tuy nhiên, điều đặcbiệt có sức ám ảnh độc giả đối với kiểu nhân vật người yếu đuối là: họ khôngchỉ là “phái yếu” (phụ nữ), càng không phải là những con người ốm yếu về mặtthể chất, mà tính chất ấy nhằm nói đến một kiểu con người yếu đuối về tínhcách, bản lĩnh; và cố nhiên, nhìn ở góc độ nhân vật yếu đuối nó mang một hàmý: đó là những con người có tính cách yếu đuối, thậm chí nhu nhược về mặt tinhthần, ý chí trong cuộc sống Số phận của những người yếu đuối có phần nào đógần với nhân vật bi kịch, những con người luôn tự làm nhỏ bé mình Lươngtâm, phẩm giá của những con người yếu đuối buổi ban đầu luôn tốt đẹp, nhưng,khi cuộc sống mà họ đang kinh qua gặp phải những sóng gió; những mối quan

hệ gia đình, xã hội trở nên phức tạp bắt họ phải đối mặt, đưa họ vào một phépthử, một sự lựa chọn khắc nghiệt, thậm chí là phải trả giá, mất mát…tất thảy họđều thể hiện thái độ trung dung, không quyết liệt và kết cục, số phận của nhữngcon người ấy đều ngả sang một ngã rẽ mang màu sắc bi kịch Trong một loạttruyện ngắn của Ma Văn Kháng, những con người ở vào hoàn cảnh như Bướm

(Cái bướm tung tăng), Quý (Chọn chồng), Lợi, Hào (Lỡ làng), Hoằng, bà cụ

Mạ (Người giúp việc), Lương (Bồ nông ở biển), Đoan (Heo may gió lộng), Thuấn (Trăng soi sân nhỏ),…đều là những con người không vượt qua được

chính mình để thay đổi số phận Những con người này mặc dù đã có sự “bừngngộ” về ý thức kiếm tìm hạnh phúc nhưng cuối cùng đều không vượt qua trởngại quyền lực hay sức cuốn hút của đời sống giầu sang quyền quý cũng như

Trang 39

yêu thời tuổi trẻ đã khiến chị rơi vào lầm lỡ và lấy phải kẻ đầu trộm đuôi cướp(là Kiến) để chịu cuộc đời bất hạnh Đến khi gặp Tốn, một thầy giáo có tâm hồn

và đạo đức tốt, Quý đã tìm thấy tình yêu thực sự với anh nhưng cô không dámgiành lấy hạnh phúc của mình vì e sợ một quyền lực vô hình nào đó Bướm

(Cái bướm tung tăng) cũng có hoàn cảnh tương tự Do hoàn cảnh cuộc đời, do

tự ái với tình yêu thuở ban đầu, Bướm đã ghép cuộc đời mình với một ngườiđàn ông làm nghề đạp xích lô, hắn triền miên say sỉn trong rượu chè và luônchửi bới, đánh đập cô Khi gặp Kha, một thầy giáo có tâm hồn thanh khiết vàgiàu lòng nhân ái bao dung, Bướm đã yêu Kha và tìm thấy ở anh niềm tin vàtình yêu đích thực của cuộc đời mình, nhưng rốt cuộc Bướm đã không dám đấutranh để vượt qua chính mình, để tìm và giữ lấy cái hạnh phúc của cuộc đờimình Cô, một lần nữa, lại rơi về đúng hoàn cảnh do mình tự dăng mắc, buôngxuôi phó mặc cho số phận Có thể nói, các nhân vật nữ này của Ma Văn Khángđều được tự chọn lấy cách sống cho mình nhưng trên hành trình để xác lập mộtbước “vượt rào” về số phận ấy, thì họ lại buông xuôi thoả hiệp khi gặp chướngngại vật Sự thoả hiệp ấy đồng nghĩa với việc họ đầu hàng trước hoàn cảnh vàkhước từ với chính hạnh phúc của mình

Với bà cụ Mạ trong Người giúp việc lại ở hoàn cảnh khác Là người đi ở

cho gia đình Hoằng, gia đình công chức thành thị, bà cụ Mạ luôn tận tụy vớichức phận của mình Vốn là người nhanh nhẹn và thạo việc, bà cụ Mạ đã mauchóng thích nghi với hoàn cảnh nhà Hoằng Bà chăm sóc, nâng niu hai đứa nhỏnhư chính chúng là cháu ruột của bà Bà vun vén, chăm lo nhà cửa cho vợchồng Hoằng Từ cái chum nước luôn đầy Từ những bữa cơm tươm tất…đều

do bàn tay của bà sắp xếp Nhưng lẽ đời lại không xuôi chiều Khi cuộc sốngcủa vợ chồng Hoằng có những mâu thuẫn, từ chỗ xóc máy, chửi bới lẫn nhau,

họ quay ra đổ mọi tội lỗi và trút những xỉ vả lên đầu bà cụ Mạ Vốn là người

Trang 40

hiền lành, “giàu tình thương trẻ, hậu tình, phúc đức” bà cụ Mạ luôn “nhẫn nhịntrong phận tôi đòi, vẫn cúc cung chu đáo không hề giảm sút với chức trách”[23; 359] trước sự lăng mạ vô lối của vợ Hoằng Không dừng lại ở đó, vợ chồngHoằng còn “lập kế hoạch” để đuổi bà cụ khỏi nhà mình và “vỗ tuột món nợ ânnghĩa” với bà cụ Thật đáng thương, nhưng cũng thật đáng giận cho số phận của

bà cụ Mạ Bà chấp nhận “nhịn nhục” để theo đuổi cái công việc tôi đòi, bà coicông việc “ tôi đòi nó là cái số kiếp”[23; 365] mà quên đi sĩ diện và quyền đượctôn trọng tối thiểu đối với bản thân Không còn ở nhà Hoằng, bà cụ Mạ lại đi ởcho nhà khác Kết thiên truyện là lời nói rân rấn trong nước mắt của người congái của bà cụ Mạ: “em không biết nghĩ thế nào Hay tôi đòi nó là cái số kiếp, làcái thói ỷ lại, dựa dẫm, là cái phận, cái thói quen mà mẹ em và ai cũng có không

vào hoàn cảnh…” [23; 280] Khác với những thân phận người phụ nữ không

dám vượt qua hoàn cảnh, trong sáng tác của Ma Văn Kháng, chúng ta lại bắtgặp vô khối những người đàn ông nhu nhược, hèn yếu trước hoàn cảnh, thậm

chí đổ lỗi cho hoàn cảnh Trong truyện ngắn Mất điện, đứng bên lề với tư cách

là người kể chuyện, nhà văn đã để cho chính người vợ Luyến quyết liệt tranhbiện với chồng về cách sống và lẽ phải qua đoạn đối thoại của họ Luyến chorằng “trong thời buổi này tốt nhất là không đụng chạm vào ai cả” và anh đãchọn lẽ sống “tránh đi là cách tự vệ khôn ngoan an toàn nhất”[23; 277] Đáp lạimọi lí lẽ của chồng, vợ Luyến cả quyết “Thế còn lẽ phải thì ai bảo vệ? Chả việc

Ngày đăng: 27/10/2020, 22:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w