1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát địa danh tỉnh lào cai trên bản đồ bonne (so sánh với bản đồ quốc gia cùng tỉ lệ 1 100 000)

176 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 460,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu cách ghi địa danh Lào Cai trên bản đồ làgóp phần tìmhiểu vấn đề chuẩn hóa bản đồ ở khía cạnh ngôn ngữ học tại một khu vực, mộtvùng lãnh thổ nói riêng vàcủa Việt Nam nói chung.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Văn Hiệu

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bấtkìcông trình nào khác

HàNội, ngày 28 tháng 06 năm 2017

Tác giả luận văn

Đặng Văn Thịnh

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi muốn gửi lời tri ân sâu sắc đến PGS TS.Nguyễn Văn Hiệu – người thầy đã tận tâm chỉ bảo tôi trong quátrình thựchiện vàcung cấp cho tôi nhiều tài liệu khoa học quýbáu

Luận văn này đánh dấu sự hoàn thành của một quátrình học tập, vìvậy tôixin bày tỏ lòng biết ơn tới những người Thầy, Cô đã giảng dạy cá chuyên đềcao học cho lớp Ngôn ngữ khóa K59

Tôi xin chân thành cám ơn Phòng Cung cấp thông tin dữ liệu – Trungtâm Thông tin dữ liệu đo đạc vàbản đồ – Cục Đo đạc vàBản đồ Việt Nam đãtạo mọi điều kiện giúp đỡ để tôi có được những tư liệu quan trọng phục vụcho đề tài nghiê cứu này

Cuối cùng, xin cám ơn gia đình, bạn bè đã sát cánh và động viên tôi rấtnhiều trong suốt quãng thời gian học tập vàhoàn thành luận văn

Vẫn còn nhiều thiếu sót trong luận văn này, vì vậy, kính mong quýThầy,Côtiếp tục chỉ dẫn để luận văn đạt kết quả tốt Xin chân thành cám ơn!

Tác giả luận văn

Đặng Văn Thịnh

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

- / /: phiên âm âm vị học

- [ ]: phiên âm ngữ âm học

- Dấu gạch ngang “ – ” có nghĩa là tương ứng.

- Dấu gạch chéo “ / ” có nghĩa là hoặc là.

- Những chữ trong ngoặc đơn (…) là giải nghĩa.

2. Quy ƣớc về cách viết tắt

Viết tắt

5W5E6W7W14E14W15E15W16W

Trang 6

ĐHTN

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Kết quả thu thập địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne 33

Bảng 2.2 Kết quả phân loại địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne theo

tiêu chítự nhiê – không tự nhiê 34

Bảng 2.3 Kết quả phân loại địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne theo

nguồn gốc ngôn ngữ 38

Bảng 2.4 Kết quả thống kêphụ âm đầu địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ

Bonne đƣợc ghi bằng tổ hợp cá con chữ 40

Bảng 2.5 Kết quả thống kêphụ âm đầu địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ

Bonne không thuộc hệ thống chữ Quốc ngữ 43

Bảng 2.6 Kết quả thống kê một số vận mẫu tiếng Hán điển hình đƣợc giữ

nguyên khi phiên chuyển trên địa danh tỉnh Lào Cai ở Bản đồ Bonne 45

Bảng 2.7 Kết quả thống kêcá phụ âm cuối không cótrong hệ thống chữ

Quốc ngữ đƣợc ghi trên địa danh tỉnh Lào Cai ở Bản đồ Bonne 48Bảng 2.8 Các dạng thức viết tắt thành tố chung trên Bản đồ Bonne 54

Bảng 2.9 Kết quả thống kêsố lƣợng thành tố chung viết tắt – không viết tắt

địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne 55Bảng 3.1 Kết quả thu thập địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Quốc gia 63

Bảng 3.2 Kết quả phân loại địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Quốc gia theo

tiêu chítự nhiê – không tự nhiê 64

Bảng 3.3 Tình hình chuyển hóa phụ âm đầu địa danh tỉnh Lào Cai từ Bản đồ

Bonne sang Bản đồ Quốc gia 69

Bảng 3.4 Tình hình chuyển hóa một số nguyê âm tiếng Pháp trên địa danh

tỉnh Lào Cai từ Bản đồ Bonne sang Bản đồ Quốc gia 72

Bảng 3.5 Tình hình chuyển hóa nguyên âm địa danh tỉnh Lào Cai từ Bản đồ

Bonne sang Bản đồ Quốc gia 72

Bảng 3.6 Tình hình chuyển hóa phụ âm cuối địa danh tỉnh Lào Cai từ Bản đồ

Bonne sang Bản đồ Quốc gia 74

Trang 8

DANH MỤC CÁC M H NH

Mô hình 1.1 Mô hình vị trí địa danh học trong ngôn ngữ học 20Môhình 2.1 Sự phân bố cá loại hình địa danh tỉnh Lào Cai theo tiêu chítự nhiê –không tự nhiê trên Bản đồ Bonne 35

Môhình 2.2 Tỉ lệ giữa cá nguồn gốc địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ

Bonne 38

Môhình 2.3 Tỉ lệ cá thành tố chung viết tắt – không viết tắt địa danh tỉnh

Lào Cai trên Bản đồ Bonne 56

Môhình 3.1 Sự phân bố cá loại hình địa danh tỉnh Lào Cai theo tiêu chítự

nhiê – không tự nhiê trên Bản đồ Quốc gia 65

Trang 9

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU iv

DANH MỤC CÁC M H NH v

PHẦN MỞ ĐẦU 1

I Lýdo chọn đề tài 1

II Lược sử nghiên cứu 2

III Mục tiêu vànhiệm vụ nghiên cứu 8

IV Đối tượng vàphạm vi nghiên cứu 9

V Phương pháp nghiên cứu 10

VI Ý nghĩa của luận văn 12

VII Bố cục luận văn 12

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TƯ LIỆU VỀ ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI 13

1.1 Cơ sở lýthuyết 13

1.1.1 Định nghĩa và phân loại địa danh 13

1.1.2 Vị trícủa địa danh trong ngôn ngữ học 19

1.1.3 Mối quan hệ giữa bản đồ và địa danh 21

1.2 Tư liệu về địa bàn tỉnh Lào Cai 22

1.2.1 Địa lý 22

1.2.2 Lịch sử và địa giới hành chính 25

1.2.3 Dân cư 29

1.3 Tiểu kết 30

Chương 2: KHẢO SÁT CÁCH GHI ĐỊA DANH TỈNH LÀO CAI TRÊN BẢN ĐỒ BONNE 32

2.1 Giới thiệu Bản đồ Bonne 32

2.2 Kết quả thu thập vàphân loại 33

Trang 10

2.2.1 Kết quả thu thập 33

2.2.2 Kết quả phân loại địa danh 33

2.3 Cách ghi địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne 39

2.3.1 Thành phần địa danh 39

2.3.2 Thành tố chung 48

2.4 Giao thoa ngôn ngữ trên cách ghi địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne 58 2.5 Tiểu kết 60

Chương 3: SO SÁNH CÁCH GHI ĐỊA DANH TỈNH LÀO CAI TRÊN BẢN ĐỒ BONNE VỚI BẢN ĐỒ QUỐC GIA 62

3.1 Giới thiệu Bản đồ Quốc gia 62

3.2 Kết quả thu thập vàphân loại 63

3.2.1 Kết quả thu thập 63

3.2.2 Kết quả phân loại địa danh 63

3.3 So sánh cách ghi địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne với Bản đồ Quốc gia 65

3.3.1 Thành phần địa danh 66

3.3.2 Thành tố chung 74

3.4 Tiểu kết 78

KẾT LUẬN 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

PHỤ LỤC 90

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

I Lýdo chọn đề tài

1. Trên mảnh đất ngôn ngữ học, nghiê cứu địa danh luôn làmột đề tàiquan trọng vàcần thiết Nókhông chỉ làm sáng tỏ những đặc điểm cấu tạo,những quy luật kết hợp trong nội bộ của địa danh, góp phần vào nghiê cứungôn ngữ trên một hoặc nhiều khu vực màcòn có ý nghĩa liên quan đến một sốvấn đề khác, đặc biệt làvấn đề chuẩn hóa địa danh trên bản đồ

2. Quốc ngữ hóa địa danh trên bản đồ làmột công việc hết sức đặc biệtcho sự chuẩn hóa ấy Vìhoàn cảnh chiến tranh trước đây nên việc biên soạnđịa danh bản đồ của nước ta không được đồng nhất Để có được các địa danhbằng chữ Quốc ngữ hiện hành trên nhiều bản đồ khác nhau hiện nay phần lớn

là dựa trên những tư liệu địa danh của các bản đồ cũ trước kia Lựa chọnnghiê cứu cách ghi địa danh trên bản đồ trước kia để so sánh với cách ghi địadanh trên bản đồ hiện nay sẽ cho ta thấy diễn tiến của quátrình chuẩn hóa địadanh trên bản đồ Khảo sát địa danh địa danh tỉnh Lào Cai trong trường hợpnày cũng hướng tới giátrị đặc biệt trên

3. Nghiên cứu cách ghi địa danh Lào Cai trên bản đồ làgóp phần tìmhiểu vấn đề chuẩn hóa bản đồ ở khía cạnh ngôn ngữ học tại một khu vực, mộtvùng lãnh thổ nói riêng vàcủa Việt Nam nói chung Tỉnh Lào Cai làranh giớicósự biến động, chia cắt nhiều lần trong lịch sử Vìthế, khảo sát cách ghi địadanh Lào Cai trên Bản đồ Bonne qua đó so sánh với Bản đồ Quốc gia là điềucần thiết

4. Theo hiểu biết của chúng tôi, dùviệc nghiê cứu địa danh Lào Cai đãđược một số nhànghiê cứu quan tâm, tuy nhiên chưa có những công trình nàochúýnghiêm túc tới vấn đề chuẩn hóa địa danh trên bản đồ của địa bàn Nhậnthức được ý nghĩa của vấn đề, bản thân người viết đã chọn đối tượng

này để nghiê cứu

Trang 12

II Lược sử nghiên cứu

1 Vấn đề nghiên cứu địa danh trên thế giới

Trên thế giới, công việc nghiê cứu địa danh đã được hình thành vàphát triển từ rất sớm Đặc biệt làở Trung Quốc, ngay từ thời Đông Hán (32 – 39 sau Công nguyên), Ban Cố đã ghi chép hơn 4000 địa danh, trong đó một số đã được giải thích rõ nguồn gốc và ý nghĩa Đến thời Bắc Ngụy (380 – 535), trong

Thủy kinh chúsớ, Lịch Đạo Nguyên chép hơn 2 vạn địa danh, số được giải

thích ngữ nguyên làtrên 2300 [28, tr 6] Sách ấy ghi các đường sông của TrungQuốc ở cá thời Hán Tấn vàNam Bắc triều,… đến thời Thanh mạt thì cóbản

Thủy kinh chúsớ của Dương Thủ Kính (thành cảo năm 1904) Cùng với Thủy kinh chúnê kể thêm sách Thủy kinh chú đồ cũng của Dương Thủ Kính màvẽ bản đồ cá dòng sông vàsách Thủy kinh chútây nam chư thủy khảo của Trần Phong soạn năm 1847, nghiên cứu về những dòng sông thuộc miền tây nam của Trung Quốc được ghi chép trong Thủy kinh chú[3, tr 15].

Ở các nước phương Tây, bộ môn địa danh học chính thức ra đời ở cuối thế

kỷ XIX Năm 1872, J.J Êgi (Thụy Sĩ) viết Địa danh học và năm 1903 J.W Nagl (người Áo) cũng cho ra đời tác phẩm Địa danh học Những năm 90

của thế kỉ XIX và 20 năm đầu của thế kỉ XX, hàng loạt Ủy ban địa danh củacác nước như Mỹ, Thụy Điển, Anh được ra đời Thời kỳ đầu, cá tác phẩm địadanh học chútrọng khảo chứng nguồn gốc địa danh Từ thế kỷ XX, bước vàogiai đoạn nghiê cứu tổng hợp về địa danh J Gill Gilliénon (1854 - 1926) đã

viết Atlá ngôn ngữ Pháp, nghiê cứu địa danh theo hướng phát triển địa lýhọc Năm 1926, A Dauzat (người Pháp) đã viết Nguồn gốc vàsự phát triển địa danh, đề xuất phương pháp văn hoá địa lýhọc để nghiê cứu cá lớp niên đại

của địa danh [28, tr 7]

Mở đầu trong lĩnh vực xây dựng một hệ thống lýluận về lýthuyết địnhdanh, giữa những năm 60 của thế kỷ XX, các nhà địa danh học XôViết đã cho

ra hàng loạt cá công trình Một trong những đại diện của thời kì đầu tiên đóchính là công trình nghiên cứu địa danh của các nhà địa danh học XôViết

Trang 13

như E.M Muzaev (1964) với Những khuynh hướng nghiê cứu địa danh, trong cùng năm 1964 đó Iu.A Kapenco cũng có cuốn Bàn về địa danh học đồng đại Với những tiền đề đó, vào năm 1982 Smolisanaja, G.L., Gorbanebskij, M.V., Toponimija Moskvy đã đi tới nghiê cứu thực tế với Địa danh Moskva Đặc biệt, A.V Superanskja (1985) với Địa danh làgìđã đặt ra những vấn đề vừa

mang tình cụ thể, vừa mang tình khái quát, tổng hợp cao Trong nội dung trìnhbày, tác giả đi sâu vào những vấn đề cóliên quan thiết thực đến việc nhận diệnvàphân tích địa danh Ngoài cách hiểu về khái niệm địa danh, tác giả còn quantâm đến cá vấn đề khác như tính liên tục của tên gọi, không gian tên riêngvàcá loại địa danh (địa danh kíhiệu, địa danh mô tả, địa danh đăng kí, địa danhước vọng) cũng như tên gọi các đối tượng địa lý theo loại hình,… Có thể nóiđây là công trính có giá trị tổng kết những kết quả nghiê cứu mới, làm cơ sởvững chắc cho sự nghiê cứu địa danh tiếp theo ở Liên bang XôViết trước đây

Ngoài các nhà địa danh XôViết, những người nghiê cứu địa danh ở cánước khác cũng đã góp phần cho sự phong phú, đa dạng về những vấn đề

nghiê cứu trong lĩnh vực này Chẳng hạn, Ch Rostaing (1965) với Les noms

de lieux đã chú trọng trong việc nêu ra hai nguyê tắc nghiê cứu địa danh là

phải tìm ra cá hình thức cổ của cá từ cấu tạo địa danh vàmuốn biết từ nguyêcủa địa danh thìphải dựa trên kiến thức ngữ âm học địa phương Đây làmộtchuyên luận bổ sung thêm cho vấn đề màA.I Popov đã đưa ra trước đó [28, tr.8]

2 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam

Vấn đề nghiê cứu địa danh ở Việt Nam được quan tâm từ khásớm

Nhưng chủ yếu làtừ cá tài liệu Tiền Hán thư, Địa líchí, Hậu Hán thư, Tấn thư trong thời Bắc thuộc Chúng đề cập đến địa danh Việt Nam nhưng các tài liệu

này đều do người Hán viết nhằm phục vụ trực tiếp cho mưu đồ xâm lượcnước ta

Trang 14

Sau thời Bắc thuộc, đặc biệt từ thế kỷ XV trở đi, việc nghiê cứu địa danhmới được cá nhànghiê cứu Việt Nam thực hiện Lúc này, địa danh được thu

thập chủ yếu là dưới góc độ địa lívàlịch sử Cóthể kể đến Dư địa chí(1435) của Nguyễn Trãi, Lịch triều hiến chương loại chí(1821) của Phan Huy Chú, Đại Nam quốc Cương giới Vựng biên (1886) của Hoàng Hữu Xứng, Phương Đình

dư địa chí(1900) của Nguyễn Văn Siêu,… Cóthể nói rằng từ đầu đời Nguyễn,

môn địa lýhọc đã được cá nhàsử học bắt đầu chúý Vìthế, Dương Thị The –Phạm Thị Thoa nhận xét “thuận lợi lớn của cá nghiê cứu địa danh sau nàychính là thư tịch Hán Nôm chúng ta còn giữ được ít nhiều bộ sách quý có ghichép địa danh cá thời đại trước Cách mạng tháng Tám” [43, tr 11] Đếnkhoảng những năm mười của thế kỉ XX thìnhà Hán học H Maspéro cónhữngbài nghiê cứu về địa lýhọc lịch sử nước ta về nhiều đời khác nhau Sau đó,

năm 1923 thì L Aurousseau có bài nghiê cứu lại vấn đề Vị trí Tượng Quận, trước Cách mạng tháng Tám một nhàhọc giả Nhật Bản là Tá Bá Nghĩa Minh

cũng nghiên cứu về vấn đề vị trí Tượng Quận,… [3, tr 7] Cuối thế kỷ XIX

cócuốn Tên làng xãViệt Nam đầu thế kỉ XIX (Nghệ An trở ra) của Dương Thị The, Phạm Thị Thoa dịch 1981 NgôVi Liễn năm 1982 cũng dịch Tên làng xã

và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ Dưới góc độ lịch sử cócá nghiê cứu của Đào Duy Anh (1964) với Đất nước Việt Nam qua các đời và của Nguyễn Quan Ân (2003) với Việt Nam - những thay đổi địa danh và địa giới hành chính 1945 – 2002.

Không nằm ngoài sự phát triển của ngành ngôn ngữ học trên thế giới, từgiữa thế kỉ XX, địa danh ở Việt Nam đã được soi sáng dưới góc nhì của cánhàngôn ngữ học Đã có một số hướng nghiê cứu địa danh khátiêu biểu như:

-Nghiên cứu địa danh theo khuynh hướng Ngôn ngữ học so sánh – lịch

sử, đây cũng là khuynh hướng đã đặt nền móng cho việc nghiê cứu địa danhdưới góc nhì ngôn ngữ học tại Việt Nam Tiêu biểu làHoàng Thị Châu đánh

dấu với bài viết Mối liên hệ ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông (1964) [9, tr 105 – 129] Sau đó Hoàng Thị Châu tiếp tục có những

Trang 15

công trình khác mang giátrị cao như: Từ nguyê của tên sông Bạch Đằng (1995) [9, tr 148 – 150], Hãy trả lại tên cho những dòng sông (2006) [9, tr.

169 – 170],… Nối tiếp khuynh hướng này, hiện nay nổi bật làTrần TríDõi với

cuốn sách Giáo trình lịch sử tiếng Việt, cuốn sách đề cập đến nhiều nội dung quan trọng về địa danh học cũng như về một số địa danh cụ thể: Về địa danh cónguồn gốc Nam Đảo được lưu giữ từ cổ xưa trong vùng cư dân thuần Việt hiện nay (địa bàn HàNội), Về địa danh làtên gọi một số con sông quan trọng

ở địa bàn miền Bắc Việt Nam (sông Lam, sông Hồng) [12, tr 234 –

235], hay Địa danh sông Hồng, một chứng tích “đa dạng văn hóa” trong lịch

sử người Việt [13, tr 100 – 113],…

- Cónhiều nghiê cứu hướng tới việc chuẩn hóa cách ghi địa danh trong

đó có địa danh trên cá bản đồ Ở hướng nghiê cứu này Hoàng Thị Châu tiếptục làmột trong những người đi đầu vàcó nhiều đóng góp quan trọng với

những nghiê cứu quan trọng như: Đặc điểm cách ghi địa danh Tây Nguyên trên một số bản đồ địa hình (1992) [9, tr 130 – 136], Địa danh Tây Nguyên trên bản đồ: Chiếc cầu nối giữa địa danh Việt Nam vàthế giới (1994) [9, tr.

144 – 147], Quá trình mã hóa địa danh ngày xưa và chuẩn hóa cách viết địa danh tiếng dân tộc thiểu số ngày nay (2002) [9, tr 151 – 161], Tiến tới chuẩn hóa cách viết địa danh các vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam (2004) [9, tr 162

– 168],… Để chuẩn hóa các địa danh một cách khách quan vàchính xác, đặcbiệt từ khi chữ Quốc ngữ thịnh hành, Quốc ngữ hóa địa danh chính làmộttrong những bước đi hợp lý Nhất làtrong tình hình hội nhập, phát triển ởnước ta – một đất nước đa văn hóa, đa dân tộc, màtiếng Việt lại được sửdụng với tư cách như một ngôn ngữ quốc gia [29] Nắm bắt được những yêucầu bức thiết ấy, Nguyễn Văn Hiệu đã cho ra nhiều công trình ýnghĩa như cáctài liệu [21], [22],…

- Ngoài ra, còn cómột số luận án Tiến sĩ nghiên cứu về đặc điểm vàcấutạo, ý nghĩa địa danh như của cá tác giả: LêTrung Hoa với tài liệu [23] đã đưa

ra những vấn đề lýthuyết làm cơ sở cho sự phân tích vàchỉ ra các đặc

Trang 16

điểm về cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa,… của thành phố Hồ Chí Minh Đến

1996, Nguyễn Kiên Trường với luận án Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng đã tiếp tục bổ sung thêm những vấn đề lýthuyết màLêTrung Hoa

đã đưa ra trước đó Tiếp sau đó là luận án tiến sĩ của Từ Thu Mai trong

Nghiên cứu địa danh tỉnh Quảng Trị (2004), Phạm Xuân Đạm trong Khảo sát địa danh Nghệ An (2005) cùng nhiều cá công trình khảo sát địa danh ở nhiều

địa phương đã được công bố

- Những cuốn sách như của Nguyễn Văn Âu ở tài liệu [6], của Đinh

Xuân Vịnh ở tài liệu [46], Sổ tay địa danh Việt Nam (1998) của Nguyễn Dược

– Trung Hải, Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng (1998) Ngô Đăng Lợi (chủ biên), Từ điển thành phố Sài Gòn – thành phố Hồ ChíMinh (2003) của

LêTrung Hoa – Nguyễn Đình Tư [36, tr 12] hay cả một số bài báo trên tàiliệu [24], [41], [42]… cũng đều mang những giátrị nhất định

Tất cả những công trình khoa học trên đã lí giải tại sao nghiê cứu địadanh ở Việt Nam lại phong phúvàthu hút cá nhànghiê cứu tới vậy Đây lànhững nguồn tư liệu quý giá giúp định hướng cho cá công trình nghiê cứu vềsau

3 Vấn đề nghiên cứu địa danh tỉnh Lào Cai

Đất nước ta lần đầu tiên xuất hiện đơn vị hành chính gọi làtỉnh từ năm

1831 dưới thời vua Minh Mệnh Các triều thần bàn luận đề nghị nê theo cáchphân chia tỉnh của nước Trung Hoa hồi đó Vua Minh Mệnh chấp thuận vàtừ

đó ở ngoài Bắc đã ra đời cá tỉnh sau đây (tính từ Ninh Bình trở ra): Ninh Bình,HàNội, Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Yên, Sơn Tây, Bắc Ninh,Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn Vậy làít nhấttrước đó vẫn chưa có tỉnh Lào Cai Nhưng tất nhiên đất và người màsau đómang tên Lào Cai vẫn tồn tại hiện thực vàchắc chắn phải thuộc một trong cátỉnh vừa kể trên Đó chính là tỉnh Hưng Hóa [55]

Thư tịch cũ như Hưng Hóa Phong thổ lục (1778) của Hoàng Trọng

Chính cónói về hai động Phong Tho (Phong Thổ) và Bình Lư của châu Chiêu

Trang 17

Tấn mà sau này đã có thời gian nóthuộc về tỉnh Lào Cai (hiện nay thuộc tỉnh

Lai Châu) Hưng Hóa ký lược (1856) của Phạm Thận Duật, Đồng Khánh dư địa chí(1886 – 1888) do quan chức cá tỉnh biên soạn theo sắc chỉ của vua Đồng Khánh vàHưng Hóa tỉnh phú (1897) của Vũ Phạm Hàm cũng trong tình

hình tương tự

Rõràng, do sự phân chia cá cấp hành chính khác nhau đã khiến việcnghiê cứu về địa danh tỉnh Lào Cai trước kia làhoàn toàn không có Tuynhiên, thực tế sau này phần lớn địa bàn tỉnh Lào Cai chính phần đất thuộc cáđịa danh mànhững thư tịch trên nhắc tới

Theo những tài liệu chúng tôi có được thìĐại Nam nhất thống chí(1909)

của Quốc sử quán triều Nguyễn là thư tịch đầu tiên cónhắc đến địa danh “Lão

Nhai” – một trong nhiều tên gọi của Lào Cai Sau đó cóthể nói tới làcuốn Đất nước Việt Nam qua các đời (1964) của Đào Duy Anh, cuốn sách còn nhắc tới một tên gọi khác nữa là “Lao Cai”; Đi thăm đất nước (1978) của Hoàng Đạo

Thúy không chỉ nhắc tới “Lao Cai” mà còn cả các địa danh như: Phố Lu, dãynúi Con Voi, Sa Pa, Si Ma Cai, Làng Thíp,…

Một số cuốn sách sau này cũng có nhắc tới cá địa danh địa bàn như:Cốc Lếu, Cốc Mít, dãy núi Yên Ngựa, Lào Cai, La Pan Tẩn, Lao Chải, Tả

Thàng, Nậm Pung,… Đó là: Cẩm nang du lịch Sapa (2003), Truyện kể địa danh Việt Nam (tập 1) (2013) của Quang Dũng, Việt Nam – văn hóa và du lịch (2013) của Trần Mạnh Thường, Từ điển địa danh Bắc Bộ (quyển 1, 2) (2016)

của LêTrung Hoa Tuy nhiên, tất cả những cuốn sách trên chỉ dừng lại ở việcgiải thích địa danh nơi đây dưới góc nhìn văn hóa, lịch sử

Dưới góc nhì ngôn ngữ học khi nghiê cứu về địa danh địa bàn tỉnh LàoCai duy nhất chỉ cóNguyễn Văn Hiệu với cá công trình được công bố như tàiliệu [16], [17], [18], [20], [21], [22],… Trong các nghiên cứu này, NguyễnVăn Hiệu tập trung vào việc tìm hiểu mối liên hệ giữa tiếng Hán Quan thoạiTây Nam với các địa danh nơi đây trên phương diện ngữ âm và quá trìnhQuốc ngữ hóa các địa danh có nguồn gốc Hán Quan thoại Tây Nam

Trang 18

trên địa bàn hiện nay Đây đều lànhững công trình có giá trị, đặt nền móngcho việc nghiên cứu địa danh tỉnh Lào Cai dưới góc nhì ngôn ngữ học.

Tuy nhiên, người viết nhận thấy rằng, dưới góc độ ngôn ngữ học, vấn đềtìm hiểu địa danh tỉnh Lào Cai trên các bản đồ vẫn còn bỏ ngỏ Ý thức được

điều này, người viết đã chọn đề tài “Khảo sát địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản

đồ Bonne (so sánh với Bản đồ Quốc gia cùng tỉ lệ 1/100.000)” để tiếp tục mở

rộng và đóng góp thêm một góc nhì mới mẻ nữa trong việc nghiê cứu địadanh nơi đây

BI. Mục tiêu vànhiệm vụ nghiên cứu

1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu làm việc của chúng tôi trong đề tài này làkhảo sát cách ghi địadanh tỉnh Lào Cai trên tấm Bản đồ Bonne qua đó đối chiếu với tình hình ghiđịa danh trên Bản đồ Quốc gia hiện nay Những kết đạt được cóthể là tư liệuđóng góp vào việc giải quyết cho một số vấn đề còn tồn tại trong cách ghi địadanh địa bàn trên Bản đồ Quốc gia nói riêng vàcá bản đồ khác hiện nay nóichung

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau đây:

+ Thu thập tài liệu bước đầu nghiên cứu các vấn đề lý luận về địa danh và

có liên quan đến quá trình nghiên cứu địa danh trên bản đồ Các vấn đề đó thuộc

về lý thuyết định danh như định nghĩa về địa danh, bản đồ, mối quan hệ giữa địadanh và bản đồ, chuẩn hóa địa danh, địa bàn nghiên cứu,… Tất cả sẽ đượcnghiên cứu kỹ để làm sơ cở cho việc tìm hiểu tình hình ghi địa danh trên

bản đồ nơi đây

+ Khảo sát, thống kê cứ liệu để hệ thống địa danh thuộc các loại hình,đối tượng địa lý khác nhau Qua đó miêu tả và phân tích nhằm có đượcnhững đánh giá chung trước khi tìm hiểu cách ghi địa danh địa bàn khảo sát.+ Tìm hiểu tình hình ghi địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne đượcthể hiện như thế nào ở thời gian trước kia trên phương diện phụ âm đầu,

Trang 19

nguyên âm và âm cuối, từ đó làm cơ sở để so sánh với tình hình ghi địa danh hiện có trên Bản đồ Quốc gia.

IV Đối tượng vàphạm vi nghiên cứu

1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiê cứu của luận văn là cách ghi địa danh địa bàn tỉnh LàoCai trên hai bản đồ bản đồ cócùng tỉ lệ 1/100.000, đó là: Bản đồ Bonne và Bản

đồ Quốc gia Chi tiết về thông tin xuất xứ của hai bản đồ này chúng tôi sẽ bànriêng ở mỗi chương khảo sát về chúng

2 Phạm vi nghiên cứu

- Chúng tôi tập trung khảo sát các địa danh chỉ loại hình địa hình tự nhiêvàcá địa danh chỉ loại hình các đơn vị dân cư địa bàn tỉnh Lào Cai trên haibản đồ, tất cả được khoanh vùng nghiê cứu như sau:

+ Địa bàn Lào Cai trên Bản đồ Bonne gồm: 2 Phủ: Phủ de Thủy-Vỵ(Phủ de Thủy-Vy) vàPhủ Bảo-Thắng; 3 Châu: Chau de Ba-Xat, Châu de Pa-Kha, Châu de Cha-Pa Với 10 mảnh bản đồ được ghép nối: 5W (PHONG THỔ ouest); 5E (PHONG THỔ est); 6E (PA-KHA est); 6W (PA-KHA ouest); 7W (HÀ-GIANG ouest); 14E (LAI-CHÂU est); 14W (LAI-CHAU ouest); 15E(LAO-KAY est); 15W (LAO-KAY ouest) và 16W (LỤC-AN-CHÂU ouest)

+ Địa bàn Lào Cai trên Bản đồ Quốc gia gồm 8 huyện và1 thành phố:huyện Bát Xát, huyện Mường Khương, huyện Sa Pa, huyện Bảo Thắng,huyện Bắc Hà, huyện Si Ma Cai, huyện Văn Bàn, huyện Bảo Yên; thành phốLào Cai Với 7 mảnh bản đồ được ghép nối: BẮC HÀ (F-48-29); BÁT XÁT(F-48-28); LÀO CAI (F-48-40); T.T.NT LIÊN SƠN (F-48-53); PHỐ LU (F-48-41); THAN UYÊN (F-48-52) vàYÊN THẾ (F-48-42)

- Phạm vi nội dung trong đề tài này của chúng tôi làkhảo sát cách ghi địadanh trên bản đồ Đây làcông việc trọng tâm, mang ý nghĩa thiết thực cho việcđánh giá tình hình ghi địa danh giữa hai bản đồ trên địa bàn Lào Cai, cũngnhư thấy được phương hướng chuẩn hóa địa danh bản đồ hiện nay

Trang 20

V Phương pháp nghiên cứu

1. Tư liệu vàxử lý tư liệu

1.1. Nguồn tư liệu

Với mong muốn cố gắng phản ánh tương đối đầy đủ, có cơ sở vàhệthống với cá nội dung được đặt ra khi đối chiếu cách ghi địa danh giữa haibản đồ trên địa bàn tỉnh Lào Cai, chúng tôi đã thu thập và sưu tầm tư liệu qua

cá nguồn sau:

+ Các mảnh bản đồ thuộc địa bàn Lào Cai trên hai tấm bản đồ: Bản đồBonne vàBản đồ Quốc gia (được thành lập năm 2003 tại Nhàxuất bản Bảnđồ) cùng tỉ lệ 1/100.000 Theo Thông tư số: 29/2013/TT-BCA, cá bản đồ tỉ lệ

1/100.000 hiện nay đều nằm trong Danh mục bímật nhà nước độ Mật trong lĩnh vực tài nguyê vàmôi trường, vìvậy trong quá trình đi thu thập tài liệu

chúng tôi đã gặp phải khánhiều khó khăn Nhưng được sự giúp đỡ nhiệt tìnhcủa Phòng Cung cấp thông tin dữ liệu – Trung tâm Thông tin dữ liệu đo đạcvàbản đồ – Cục Đo đạc vàBản đồ Việt Nam, cuối cùng chúng tôi cũng cóđược trong tay những mảnh bản đồ cần thiết cho việc nghiê cứu Đây lànguồn tư liệu quan trọng nhất, có tính pháp lý đảm bảo tính trung thực củanhững vấn đề được trình bày trong luận văn

+ Ngoài những tài liệu, bài viết, sách báo, tạp chícóliên quan về vấn đềnghiê cứu được chúng tôi thu thập, ghi chép phục vụ cho cá nội dung lý thuyếtđịa danh, bản đồ vàcách phân loại về địa danh thì chúng tôi cũng cố gắng sưutầm, tìm hiểu cóchọn lọc cá tài liệu liên quan tới địa bàn tỉnh Lào Cai

1.2 Xử lýtư liệu

Địa danh địa bàn tỉnh Lào Cai trên hai bản đồ được chúng tôi tập hợp,thống kêgồm 2825 địa danh Cụ thể, trên Bản đồ Bonne là 1407 địa danh, trênBản đồ Quốc gia là 1418 địa danh Chúng tôi tin rằng, với số lượng cứ liệutrên cóthể đáp ứng được vấn đề nghiê cứu màluận văn theo đuổi

Trang 21

Để đảm báo tính chính xác và đầy đủ, địa danh thuộc địa bàn tỉnh LàoCai được lấy ra từ hai bản đồ theo trình tự lần lượt từ trên xuống dưới Sau

đó, chúng được sắp xếp thành: 1 Địa danh (tên gọi đối tượng); 2 Loại hìnhđịa danh (thành tố chung chỉ đối tượng); 3 Mảnh bản đồ chứa địa danh

Sau khi có được những bước xử lý tư liệu như vậy, chúng tôi tiến hànhtổng hợp thành cá biểu bảng, môhình với số lượng vàtỉ lệ cần thiết theo mụcđích yêu cầu của từng nội dung sẽ được trình bày trong luận văn Trên cơ sở

đó chúng tôi miêu tả, phân tích và so sánh để rút ra những nhận xét từ cụ thểtới khái quát vào từng phần, từng chương, mục của luận văn

1.3 Phương pháp nghiên cứu

- Thủ pháp thống kê

Thu thập tư liệu làcông việc đầu tiên của người nghiê cứu địa danh Thủphá này cho phé chúng tôi thu thập các địa danh tỉnh Lào Cai được ghi trênmỗi tấm bản đồ Ngoài ra, cá sách lýluận về địa danh học, ngôn ngữ học cũngnhư nguồn tư liệu từ cá loại từ điển, sách báo địa phương cũng rất cần thiếtcho việc nghiê cứu của đề tài

- Phương pháp miêu tả vàphân tích

Khi đã có đủ những cứ liệu cần thiết, người nghiê cứu sẽ sử dụngphương pháp miêu tả, phân tích theo định tính, định lượng đối với cách ghiđịa danh trên mỗi bản đồ Đây là phương pháp quan trọng, cho phép ngườinghiê cứu tiếp cận vàtrình bày một cách khoa học vàcósức thuyết phục

- Thủ pháp so sánh

Sử dụng thủ phá so sánh, đối chiếu lịch đại làđể tìm hiểu những biến đổimang tính quy luật trong cách ghi của địa danh tỉnh Lào Cai trên mỗi bản đồkhảo sát

Địa danh vốn mang trong mình nhiều mặt khác nhau về ngôn ngữ, vănhóa, lịch sử, xãhội,… vì vậy, nghiê cứu địa danh cần áp dụng phương phápnghiê cứu tổng hợp, liên ngành, đa ngành Có như vậy, kết quả nghiê cứu mớiđầy đủ, rõràng vàmang tính khoa học

Trang 22

VI Ý nghĩa của luận văn

- Thực tiễn: Thực hiện đề tài này chúng tôi muốn cho thấy thực tế tình

hình chuyển hóa địa danh giữa hai bản đồ khảo sát thuộc địa bàn Lào Caikhảo sát thông qua cách ghi ở mỗi bản đồ Từ đó, đánh giá được tình hình ghiđịa danh trên Bản đồ Quốc gia, tạo cơ sở để tiếp tục hoàn thiện công việcchuẩn hóa địa danh trên bản đồ hiện nay tại địa bàn vàcá khu vực tương tự

- Lýluận: Với đề tài này, chúng tôi muốn cung cấp thêm những tư liệu

nghiê cứu địa danh địa bàn Hệ thống hóa các phương pháp nghiên cứu địadanh nhằm phản ánh bức tranh nghiê cứu địa danh nói chung vànghiê cứu địadanh trên bản đồ nói riêng

VII Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu vàkết luận, luận văn gồm 3 chương với cá nội dung chính như sau:

Chương 1: Cơ sở lýthuyết vàtư liệu về địa bàn tỉnh Lào Cai

Chương 2: Khảo sát cách ghi địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ BonneChương 3: So sánh cách ghi địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne với Bản đồ Quốc gia

Trang 23

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TƯ LIỆU VỀ ĐỊA BÀN

TỈNH LÀO CAI 1.1 Cơ sở lýthuyết

1.1.1 Định nghĩa và phân loại địa danh

1.1.1.1 Định nghĩa về địa danh

Địa danh là một thuật ngữ có nguồn gốc từ một tiếng Hy Lạp cổ Toponima hay Topoma, cócấu tạo gồm hai bộ phận topos (địa điểm, vị trí) và

omoma/onyma (tên gọi) [14, tr 11] Gần đây, thuật ngữ này được thay bằng

một từ ghép place – names, với ý nghĩa “tên gọi vị trí hay điểm địa lý”.

Khái niệm địa danh cần phải được hiểu đúng theo phạm vi xuất hiện của

nó Nếu chỉ đơn thuần hiểu theo lối chiết tự thì địa danh là tên đất Tuy nhiên,làmột đối tượng nghiê cứu của một ngành khoa học, khái niệm này cần phảiđược hiểu ở mức độ rộng và khái quát hơn Cụ thể, địa danh không chỉ làtêngọi của các đối tượng địa lýgắn với từng vùng đất cụ thể màlàtên gọi của cảcác đối tượng địa lýtồn tại trên trái đất Chúng cóthể làtên gọi của các đốitượng chỉ địa hình tự nhiê, đơn vị dân cư hay làcá công trình xây dựng docon người tạo ra

Trong vốn từ vựng của mỗi ngôn ngữ địa danh luôn cócho mình một vịtríhết sức đặc biệt Đây là một bộ phận của từ vựng cónguồn gốc và ý nghĩariêng được dùng để đặt tên, gọi tên các đối tượng địa lý Vìvậy nóhoạt độngvàchịu sự tác động, chi phối của cá quy luật ngôn ngữ về cá mặt ngữ âm, từvựng – ngữ nghĩa và ngữ phá

Hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất về địa danh, mỗi nhànghiêcứu lại đưa ra những khái niệm của riêng mình Nhàngôn ngữ học Nga A.V

Superanskaja trong Địa danh học làgì? cho rằng: “Tên gọi các địa điểm được

biệu thị bằng những từ riêng Đó là tên gọi địa lý, địa danh hay toponimia”[33, tr 19] vàchỉ rõ “Những địa điểm, mục tiêu địa lý đó là những thể hiện tựnhiê hay nhâ tạo với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất, từ cá vật thể lớnnhất (cá lục địa và đại dương) cho đến những vật thể nhỏ nhất (những

Trang 24

ngôi nhà, vườn cây đứng riêng rẽ) đều cótên gọi” [33, tr 20] Như vậy, theoA.V Superanskaja thì địa danh lànhững từ ngữ biểu thị địa điểm, đối tượngđịa lýcóvị tríxác định trên bề mặt trái đất.

Cũng có quan niệm như vậy, nhóm chuyên gia Liên hơp quốc về địa danh(United Nations Group of Experts on Geographical Names – UNGEGN) cho rằng: “Địa danh làtên gọi của một đối tượng trên mặt đất Về mặt nguyê tắc, địa danh làtên riêng (gồm một từ, nhiều từ hoặc ngữ) được dùng một cách nhấtquán trong ngôn ngữ để chỉ một địa điểm, một đối tượng hoặc một vùng cụ thểcóvị trícóthể nhận biết được trên trái đất Các đối tượng cóthể là các điểm dân

cư (ví dụ thành phố, thị trấn, làng), các đơn vị hành chính lãnh thổ (vídụ bang, tỉnh, huyện), các đối tượng tự nhiê (vídụ sông, núi, mũi đất, hồ, biển), các đối tượng xây dựng (vídụ đập, sân bay, đường sá), cá địa điểm hay vùng córanh giới không xác định (vídụ cánh rừng, ngư trường)” [10, tr 10 – 11] Tuy nhiên, lúc này UNGEGN đã phân địa danh chi tiết hơn ra thành các đối tượng lớn (dân cư, lãnh thổ, tự nhiên,…) chứa các đối tượng cụ thể (làng, huyện, sông,…)

Tác giả cuốn Tên làng xãViệt Nam đầu thế kìXIX – thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra cho rằng: “Địa danh của một vùng hay của một nước làtổng

thể các tên riêng đặt ra để gọi các đơn vị địa lýtự nhiên hay nhân văn củavùng ấy hay nước ấy” [43, tr 11]

Nhìn chung, cá tác giả nước ngoài chỉ mô tả một cách khái quát địa danh

và xem địa danh làtên gọi các đối tượng địa lý

Ở Việt Nam, cá nhànghiê cứu địa danh học đã chia thành hai nhóm nghiêcứu lànghiê cứu địa danh theo góc độ địa lý– văn hóa và nghiên cứu địa danhtheo góc độ ngôn ngữ học Vìthế, ở mỗi góc nhì cá nhànghiê cứu lại cónhữngquan niệm khác nhau:

+ Với điểm nhìn theo hướng địa lý – văn hóa, Nguyễn Văn Âu quanniệm: “Địa danh là tên đất, gồm tên sông, tên núi, làng mạc hay tên các địa phương, các dân tộc” [5, tr 15]

Trang 25

+ Với cách tiếp cận theo hướng ngôn ngữ học, Hoàng Thị Châu định nghĩa: “Địa danh hay là tên địa lý(toponym, geographical name) làtên vùng, tênsông, tên núi, làtên gọi các đối tượng địa hình khác nhau, tên nơi cư trú, tên hành chính,… được con người đặt ra” [9, tr 179 - 190] LêTrung Hoa cho rằng

“Địa danh lànhững từ hoặc ngữ cố định được dùng làm tên riêng của cá địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, cá vùng lãnh thổ (không córanh giới rõràng) vàcá công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều Trước địa danh ta cóthể đặt một thành tố chung chỉ loại địa danh đó: sông Sài Gòn,

đường Ba Tơ, ấp Bàu Trăm, ” [25, tr 21], Nguyễn Kiên Trường định nghĩa

“Địa danh làtiên riêng của các đối tượng địa lýtự nhiên và nhân văn có giá trị xác định trên bề mặ trái đất” [25, tr 16] Từ Thu Mai đồng tình theo cách hiểu địa danh của A.V.Superanskaja, vànói theo tác giả thì “địa danh lànhững từ ngữchỉ tên riêng của các đối tượng địa lýcóvị trí xác định trên bề mặt trái đất” [25,

tr 21] Hoàng Tất Thắng trong bài báo Địa danh học vàviệc nghiê cứu địa danh các tỉnh Trung Trung Bộ cho rằng: “Địa danh làtên gọi của địa hình thiên

nhiên, cá công trình xây dựng, các đơn vị hành chính, cá vùng lãnh thổ nào đó”[54] Còn Nguyễn Văn Loan trong luận án của mình lại quan niệm: “Địa danh

là tên riêng được thể hiện bằng từ ngữ cố định, dùng để chỉ các đối tượng địa lýkhác nhau, tồn tại trên bề mặt trái đất, chiếm một vị trí nhất định trong khônggian vật lý” [31, tr 11]

Ngoài ra, trong một số từ điển của nước ta địa danh thường định nghĩa

đơn giản theo lối chiết tự có nghĩa là đất Như Đào Duy Anh trong cuốn Hán Việt từ điển cho rằng địa danh là “tên các miền đất (nom de terre)” [1, tr 268].

Từ điển bách khoa Việt Nam giải thích: “Địa danh làtên gọi cá lãnh thổ, cá

điểm quần cư (làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố), các điểm kinh tế (vùng nôngthôn, khu công nghiệp), cá quốc gia, cá châu lục, các núi, đèo, cao nguyên,thung lũng, đồng bằng, châu thổ, sông, hồ, vũng, vịnh, biển, eo biển, đạidương có tọa độ địa lýnhất định ghi lại trên bản đồ Địa danh cóthể phản ánh

Trang 26

quátrình hình thành, đặc điểm của cá yếu tố địa lýtự nhiê vàlịch sử với những nét đặc sắc về kinh tế, xãhội của cá lãnh thổ” [27, tr 780].

Từ những kiến giải của cá tác giả trong và ngoài nước như đã nêu trên,

chúng tôi xin trình bày cách hiểu của mình về địa danh như sau: Địa danh là tên riêng được ghi trên bản đồ theo nguyê tắc nhất định, dùng để chỉ địa hình

tự nhiê vàcác đơn vị dân cư khác nhau Trước địa danh làmột thành tố chung chỉ loại địa danh ấy Đây cũng chính là nội hàm nghiê cứu trong luận văn này.

Tức là, luận văn sẽ nghiê cứu cách ghi tên riêng của loại hình địa hình tự nhiêvàđơn vị dân cư cùng một số nguyê tắc nhất định thể hiện khi ghi thành tốchung trên bản đồ Sự thống nhất cách định nghĩa trên của chúng tôi là để phục

vụ quátrình nghiê cứu Ở chiều ngược lại, kết quả nghiê cứu có được sẽ đónggóp trở lại tới phần định nghĩa cho khái niệm địa danh Sự tương tác này thểhiện được giátrị lýluận chung trong việc nghiê cứu địa danh cũng như giá trịcủa kết quả nghiê cứu đối với việc xây dựng một lý luận chung về một bộ mônkhoa học

1.1.1.2 Phân loại địa danh

- Một số cách phân loại địa danh của các tác giả nước ngoài

Phân loại địa danh làmột vấn đề phức tạp Do đó, hiện nay vẫn chưa cómôhình phân loại tối ưu nào phổ biến cho mọi công trình nghiê cứu với cátiếp cận, quan điểm nghiê cứu khách nhau mà người ta thường chỉ quan tâmđến một vài loại đối tượng cụ thể theo hướng khai thác của từng cánhâ Trongtrường hợp này, việc hệ thống lại cá cách phân loại đã có sẽ giúp người nghiêcứu địa danh có được cách phân loại phù hợp với mục tiêu nghiê cứu củamình

Trong tài liệu [49] A Dauzat không lập bảng phân loại địa danh nhưngkhi đi vào nghiên cứu, tác giả đã chia địa danh cụ thể làm bốn phần vàmỗiphần đều gắn với vấn đề nguồn gốc ngôn ngữ Bốn phần đó là: 1 Về nhữngvấn đề cơ sở tiền Ấn – Âu; 2 Các địa danh từ tiền Latinh về nước trong thủy

Trang 27

danh học; 3 Các từ nguyê Gô-loa – La mã; 4 Địa danh học Gô-loa – La mã của vùng Auvergne vàVelay.

Charles Rostaing trong tài liệu [51] cũng phân loại theo nguồn gốc ngônngữ, nhưng ông lại lấy tiêu chícủa sự hỗn hợp giữa nguồn gốc và đối tượng

để chia ra làm 11 chương, nghiên cứu từng vấn đề cụ thể Sự phân loại củaCharles Rostaing như sau: 1 Những cơ sở tiền Ấn – Âu; 2 Các lớp tiền Xên-tích; 3 Lớp Gô-loa; 4 Những phạm vi Gô-loa – La mã; 5 Các sự hình thành

La mã; 6 Những đóng góp của tiếng Giéc-manh; 7 Các hình thức của thờiphong kiến; 8 Những danh từ cónguồn gốc tôn giáo; 9 Những hình thái hiệnđại; 10 Các địa danh và tên đường phố; 11 Tên sông vànúi

Như vậy, tuy không trực tiếp phân loại địa danh nhưng cả hai tác giả đều

chia địa danh thành loại theo ngữ nguyê của nó[25, tr 9 – 10].

Với mức độ sâu và khái quát hơn, các nhà địa danh học Xô– Viết đã dựavào nội dung của địa danh để phân loại, nghĩa là chia địa danh theo đối tượng

mà địa danh biểu thị

A.V Superanskaja chia địa danh thành tám loại: 1 Phương danh; 2 Thủydanh; 3 Sơn danh; 4 Phố danh; 5 Lộ danh; 6 Viên danh; 7 Đạo danh; 8 Nơi

- Một số cách phân loại địa danh của các tác giả trong nước

Việt Nam, với hai tài liệu Địa danh Việt Nam vàMột số vấn đề về địa danh Việt Nam của Nguyễn Văn Âu đã phân loại địa danh theo đối tượng địa

lýtự nhiê vàkinh tế – xãhội ng chia địa danh thành 2 loại, 7 kiểu và12 dạng

địa danh Loại địa danh: 1 Địa danh tự nhiê như sông Hồng, Trường

Sơn, Côn Đảo,…; 2 Địa danh kinh tế – xãhội như làng Thượng Cát, huyện

Sa Pa Các kiểu địa danh: 1 sơn danh; 2 lâm danh; 3 làng; 4 xã; 5 huyện;

Trang 28

6. thị xã; 7 thành phố vàquốc gia Các dạng địa danh như: sông ngòi; hồ đầm;đồi núi; hải đảo; rừng rú; truông, trảng; làng xã; huyện, quận; thị trấn; tỉnh;thành phố; quốc gia [5, tr 30 – 32], [6, tr 38 – 41].

Cóthể thấy rằng cách phân loại địa danh của Nguyễn Văn Âu là dựa vàocác đặc điểm địa lý– xãhội chứ không theo tiêu chíngôn ngữ học Do đó,những kết quả phân loại trên còn phức tạp, không có mức độ khái quát đểnghiê cứu địa danh dưới góc độ ngôn ngữ học

LêTrung Hoa trong tài liệu [25] lại căn cứ vào thuộc tính các đối tượngđịa lý(tự nhiê – không tự nhiên) Trong đó loại hình địa danh tự nhiên là địadanh gọi tên các đối tượng địa hình thiên nhiên còn địa danh không tự nhiêbao gồm địa danh gọi tên cá công trình xây dựng, địa danh gọi tên các đơn vịhành chính và các địa danh gọi tên vùng Ông còn dựa theo ngữ nguyê –nguồn gốc ngôn ngữ để phân chia địa danh thành hai nhóm lớn là địa danhthuần Việt và địa danh không thuần Việt

Nguyễn Kiên Trường nhìn chung cũng đã dựa theo những tiêu chí nhưtrên, tuy nhiê còn thêm một tiêu chínữa đó là chức năng giao tiếp của địadanh, cóthể phân chia địa danh thành cá loại: tên gọi chính thức, tên gọi dângian, tên cổ, tên cũ và các tên khác [45, tr 19]

Tác giả Từ Thu Mai trong Nghiên cứu địa danh Quảng Trị, đã phân loại

địa danh như sau:

+ Dựa vào tiêu chítự nhiê – không tự nhiên, chia địa danh ra làm 2 loạihình: 1 Địa danh tự nhiên và 2 Địa danh không tự nhiên Địa danh tự nhiê

gồm: sơn danh, thủy danh, vùng đất nhỏ Địa danh không tự nhiê gồm: đơn vị dân cư vàcác công trình nhân tạo Địa danh đơn vị dân cư gồm: địa danh cho

chính quyền hành chính đặt và địa danh cótừ thời phong kiến Nhóm địa danh

cá công trình nhâ tạo gồm: công trình giao thông, công trình xây dựng

+ Dựa vào nguồn gốc ngôn ngữ của cá yếu tố, tác giả phân chia địa danhlàm 4 loại: Địa danh thuần Việt gồm: Địa danh thuần Việt; Địa danh Hán –Việt; Địa danh kết hợp cá yếu tố thuần Việt vàHán – Việt; Địa danh

Trang 29

thuộc cá ngôn ngữ dân tộc thiểu số Trong loại địa danh thuần Việt, tác giả lạichia ra thành 2 dạng nhỏ là: địa danh thuần Việt toàn dân và địa danh thuầnViệt làtiếng địa phương Quảng Trị.

Tác giả Nguyễn Văn Loan trong luận án Khảo sát địa danh ở Hà Tĩnh

tuy không nêu rõcách phân loại địa danh của mình nhưng khi nghiên cứu vềcác đặc điểm biến đổi vàmột số nét đặc trưng văn hóa trong địa danh Hà Tĩnhtác giả chủ yếu xoay quanh vấn đề nguồn gốc của địa danh cư trú – hànhchính và địa danh tự nhiê

Như vậy, việc phân loại địa danh cũng có rất nhiều tiêu chí Tuy nhiên, tavẫn cóthể nhận ra được một số điểm chung trong số những tiêu chíấy Tùy vàomục đích nghiên cứu, góc độ tiếp cận màcá tác giả lại cónhững cách phân loạikhác nhau Trong đề tài này, để phùhợp với mục tiêu nghiê cứu và cách làmviệc đã đề ra, chúng tôi đồng ývới việc phân chia địa danh theo tiêu chítự nhiê– không tự nhiê các địa danh

1.1.2 Vị trícủa địa danh trong ngôn ngữ học

Ngôn ngữ học cóba ngành chính làngữ âm học, từ vựng học vàngữ pháhọc Mỗi ngành lại cónhững ngành nhỏ khác nhau Trong từ vựng học có một

ngành nhỏ làdanh xưng học (onomasiologie/onomastique), chuyên nghiê cứu

tên riêng Danh xưng học gồm hai ngành nhỏ hơn: nhân danh học và địa danh

học Nhân danh học (anthroponymie) chuyên nghiê cứu tên riêng của người (gồm: họ, tên chính, tên đêm, tự, hiệu, bút danh, bí danh,…) Địa danh học (toponymie) nghiê cứu về nguồn gốc, ý nghĩa và cả những chuyển biến của các

địa danh Trên lýthuyết, trong danh xưng học cóthể có một ngành khoa học

nữa làhiệu danh học, chuyên nghiê cứu tên riêng của cá thiên thể, cá nhã hiệu

sản phẩm, cá biển hiệu,… Nhưng trong thực tế ngành khoa học này khôngphát triển, cólẽ đối tượng của chúng không tập trung như nhân danh học vàđịa danh học màtản mác khắp nơi

Địa danh học chia làm nhiều ngành nhỏ hơn Các ngành chỉ nghiê cứu tênsông rạch (thủy danh: gidronim) và tên núi đồi (sơn danh: oronim) gọi là

Trang 30

thủy danh học (hdronymie) và sơn danh học (oronymie) Ngành chuyên nghiê

cứu về tên của các địa điểm quần cư (phương danh: ojkonmim), được gọi là

phương danh học (ojkonimika) Còn ngành chỉ nghiê cứu các đối tượng trong

thành phố (phố danh: urbanonim) như tên đường, tên phố, tên cá quảng

trường,… gọi làphố danh học (urbanomike) [25, tr 19 – 20].

Chúng ta cóthể môhình hóa vị trícủa địa danh học trong ngôn ngữ họctheo sơ đồ đã được cá nhànghiê cứu xác định trong mô hình 1.1

M h nh 1.1 Môhình vị trí địa danh học trong ngôn ngữ học

NGÔN NGỮ HỌC

NGỮ ÂMHỌC

DANH XƯNG HỌC

NHÂN DANHHỌC

SƠN DANHHỌC

Trang 31

1.1.3 Mối quan hệ giữa bản đồ và địa danh

Cóthể nói bản đồ làcông cụ tốt nhất để thể hiện địa danh và địa danh làmột nội dung rất quan trọng trên bản đồ Trên bản đồ, các địa danh được thểhiện cùng với đối tượng mang địa danh một cách trực quan vàchính xác nhất

Từ bản đồ cóthể xác định loại đối tượng, phân bố của đối tượng, tọa độ địa lýcủa đối tượng mang địa danh, thêm vào đó, người sử dụng còn cóthể chồng(overlay) cá bản đồ cónội dung liên quan (bản đồ địa hình, bản đồ phân bố dântộc, bản đồ hành chính…) để kiểm tra độ xác thực của địa danh

Để thuận tiện cho việc sử dụng Danh mục địa danh, UNGEGN khuyếncáo xuất bản kèm theo danh mục này một bản đồ địa danh – loại bản đồchuyên đề mà trên đó yếu tố địa danh được thể hiện nổi bật trên nền gồm cáyếu tố định hướng khác nhau như sông ngòi, đường sá, ranh giới phân chiahành chính, dân cư,…

Trong khoa học bản đồ cóhẳn một bộ môn gọi làĐịa danh bản đồ học

với những nguyê tắc riêng của nó đối với việc phiên chuyển vàchọn lọc địadanh thể hiện trên bản đồ như sau:

- Các địa danh không trùng lặp vìchúng thuộc một đối tượng địa lýnhấtđịnh vàcótọa độ địa lýcụ thể

- Các địa danh cần cóhình thái ngữ âm không quáxa với nguyê ngữ nếucùng hệ Latinh (vìtất cả địa danh ở cá hệ ngôn ngữ đều phiên chuyển sang hệngôn ngữ Latinh theo nguyê tắc chung của UNGEGN); với cá ngôn ngữ kháccần phải gần với phiên âm quốc tế

- Âm của địa danh đọc lên càng gần với âm của nguyê ngữ vàcàng ítcách đọc càng tốt

- Địa danh sau khi phiên chuyển càng ngắn gọn càng tốt và đẹp về con chữ để người sử dụng dễ tìm, dễ đọc, dễ viết vàdễ nhớ

Không khuyến khích việc viết các địa danh đa âm tiết với gạch nối (vì gạch nối sẽ phávỡ cá yếu tố nét trên bản đồ) Gạch nối chỉ được dùng trong những trường hợp bắt buộc [10, tr 24 – 25]

Trang 32

Mối quan hệ giữa bản đồ và địa danh làmối quan hệ hai chiều, tương hỗ lẫn nhau:

- Địa danh làmột trong những yếu tố quan trọng nhất của bản đồ, làm chobản đồ biết nói, làngôn ngữ của bản đồ Ngôn ngữ đó thường phản ánh

địa hình, cảnh quan đặc trưng nơi cư trú của con người trên một vùng một địa điểm nào đó Nếu như địa danh vàbản đồ làhai mặt của cùng một sự vật thì địa danh lànội dung còn bản đồ làhình thức của sự vật đó, chúng đi đôi với nhau tạo nê một chính thể thống nhất của sự vật Vìvậy, cách ghi địa danh trên bản

đồ cóảnh hưởng quan trọng đến quátrình thu nhận, xử lýthông tin của người sửdụng

- Sau khi đã xây dựng được một bản đồ, người ta cóthể phổ biến nó Bản

đồ trở thành công cụ, phương tiện, quan trọng trong đời sống con người: chỉdẫn đường đi, định vị vị trí cho con người,… Chính vai trò này nó lại quyếtđịnh việc cần phải chuẩn hóa địa danh: vấn đề viết hoa, viết liền, viết rời cá

âm tiết, viết tắt, cách phiên âm, cách ghi địa danh bằng ngôn ngữ dân tộc,…Hiện nay, cónhiều hiện tượng viết vàgọi tên các địa danh chưa thốngnhất Kết quả nghiê cứu địa danh sẽ cung cấp tư liệu chuẩn hóa ngôn ngữtrong tiên riêng địa lý, đóng góp cho việc sửa đổi, thay thế, đặt tên mới chocác địa điểm địa lý, cư dân mới trong thời kìmở cửa Do vậy, chúng ta cầnphải “danh pháp hóa (chuẩn hóa) cá tên gọi cho thống nhất, đảm bảo nguyêtắc: dân tộc, quốc tế, truyền thống, chính trị, thẩm mĩ, lịch sử, địa phương”[45, tr 61]

1.2 Tư liệu về địa bàn tỉnh Lào Cai

Trang 33

- Phía Nam giáp tỉnh Yên Bái Điểm cực Nam 21’51’ vĩ độ Bắc thuộc xã Nậm Tha, huyện Văn Bàn;

- Phía Đông giáp tỉnh Hà Giang Điểm cực Đông 104’38’ kinh độ Đôngthuộc xãViệt Tiến, huyện Bảo Yên;

- Phía Tây giáp tỉnh Lai Châu Điểm cực Tây 103’31’ kinh độ Đông,thuộc xãY Tý, huyện Bát Xát [11, tr 7]

Đặc điểm địa hình tỉnh Lào Cai cóthể phân thành hai vùng tự nhiê khác nhau:

- Vùng cao là vùng có độ cao trên 700 m trở lên, vùng này được hìnhthành do 2 dãy núi chính là dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Con Voi Phía hữungạn sông Hồng là dãy Hoàng Liên Sơn đồ sộ cónhiều đỉnh cao: Phan XiPăng 3.143 m, Tả Giàng Phình 2.850 m, Lang Lung 2.913 m [10, tr 8] Địahình vùng núi cao thuộc khối nâng kiến tạo mạnh có độ chia cắt sâu từ lớnđến rất lớn vàchia cắt ngang từ trung bình tới rất mạnh (từ cấp 1,5 km/km2đến 2,5 km/km2) Độ dốc địa hình khálớn, chủ yếu từ 150 m đến 200 m

- Vùng thấp chủ yếu là thung lũng dọc ven sông, ven suối lớn địa hìnhmãng trũng có bề mặt dạng đồi Bên cạnh thung lũng dọc sông Hồng làcáthung lũng nhỏ hẹp bị bao bọc bởi các sơn nguyên

Về khíhậu, Lào Cai có7 kiểu và12 loại sinh khíhậu, phân thành 10 kiểusinh khíhậu và43 khoanh vi khíhậu Có 3 vành đai sinh khí hậu cơ bản và 2mùa tương đối rõrệt: Mùa khôbắt đầu từ tháng 10 tới tháng 3 năm sau, cònmùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9 Vùng cao nhiệt độ trung bình từ 15

độ C đến 20 độ C, lương mưa trung bình từ 1.800 mm đến 2.000 mm Vùngthấp nhiệt độ trung bình từ 23 độ C đến 29 độ C, lượng mưa trung bình từ1.400 mm đến 1.700 mm

Hệ thống sông ngòi chính làsông Hồng vàsông Chảy, đều chảy theohướng tây bắc – đông nam Sông Hồng bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc),sông Chảy bắt nguồn từ núi Tây Côn Lĩnh (Trung Quốc) tạo thành một hệthống giao thông liên hoàn

Trang 34

Lào Cai có Cửa khẩu quốc tế Lào Cai vàCửa khẩu Quốc gia MườngKhương, có tuyến đường sắt liên vận quốc tế HàNội – Lào Cai – Côn Minhcùng cá tuyến quốc lộ 70, 4E, 79 nối Lào Cai với cá tỉnh phía nam của tỉnh(Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội,…) và với tỉnh Vân Nam (TrungQuốc) ở phía bắc; cá quốc lộ 40, 32 nối Lào Cai với Lai Châu; đường 279 nốiLào Cai với cá tỉnh Hà Giang, Sơn La Ngoài giao thông đường sắt, đường

bộ, Lào Cai còn tham gia vào mạng lưới giao thông đường thủy quan trọngvào bậc nhất ở phía bắc với 130 km sông Hồng chảy qua tỉnh, có đoạn làranhgiới chung giữa Việt Nam vàTrung Quốc trên suốt chiều dài khoảng 50 km[30, tr 13]

Lào Cai cónhiều khoáng sản quývới trữ lượng lớn như quặng apatit, caolanh ở thị xã Cam Đường; quặng sắt ở thị xã Cam Đường, Bảo Yên; graphít ởthị xãLào Cai, quặng đồng ở huyện Bát Xát [26, tr 171]

Hệ thống cấp nước mát phục vụ cho sinh hoạt, hệ thống giếng khoancông cộng, giếng khoan gia đình cấp nước sạch cho 41.2% dân số toàn tỉnh

Tỉ lệ hộ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh là86.78%, tỉ lệ hộ sử dụng điệnsinh hoạt là96.77% [11, tr 473] Mạng lưới bưu chính viễn thông kỹ thuật sốhiện đại, có22 tổng đài điện tử kết nối qua tuyến truyền dẫn vi ba số Phủ sóngthông tin di động tại thành phố Lào Cai, Cam Đường vàhuyện Sa Pa Ướctính sơ bộ năm 2015 Lào Cai có khoảng 622 nghìn thuê bao điện thoại, trong

đó di động là585 nghì thuêbao [11, tr 404]

Với cả về vị trí địa lý đặc biệt, cùng hệ thống cơ sở hạ tầng như trên,Lào Cai trở thành đầu mối thông thương kinh tế, giao lưu văn hóa giữa hainước Việt Nam với Trung Quốc nói nói riêng vàquốc tế nói chung Chắc chắnLào Cai sẽ cónhững bước tiến hơn nữa trong tương lai

Trang 35

1.2.2 Lịch sử và địa giới hành chính

Cóýkiến cho rằng tỉnh Lào Cai được lấy tên từ một làng, để đặt tên tỉnh

Đó là tên của làng Lão Nhai xưa Nhiều người cho rằng Lão Nhai có nghĩa làphố cổ hoặc phố cũ Nhưng cũng có học giả (Madrolle, Phạm Văn Kính,…)cho rằng Lão Nhai làphố, làng lớn của tộc người Lão – một danh xưng của tộcngười Tày – Thái cổ [30, tr 47] Từ cổ “Lão Nhai” trải qua nhiều âm đã biến

âm thành Lào Cai, người Pháp viết là Lao Lay, sau đó nhân dân ta gọi là LàoCai như ngày nay [26, tr 9]

Trong ngàn năm Bắc thuộc, Lào Cai làvùng châu Ki Mi (châu có sự ràngbuộc lỏng lẻo, cóquyền tự trị một phần) của chính quyền phong kiến PhươngBắc Đời nhà Đường, địa vực Lào Cai thuộc đất hai châu Đan Đường (CamĐường), Chu Quý (Văn Bàn)

Trong thời kìphong kiến tự chủ, địa bàn Lào Cai luôn biến đổi với têngọi khác nhau Nhà Lý chia nước ta thành 24 lộ, dưới lộ cócá phủ, châu LàoCai thuộc đất trại Quy Hóa của châu Đăng đời Lý Đến đời nhàTrần, vua TrầnThái Tôn đổi 24 lộ nước ta thành 12 lộ Vùng đất Lào Cai thuộc về trại QuyHóa lộ Đà Giang Cuối đời Trần, năm Quang Thái thứ 10 (1397), Hồ QuýLylàm Phụ chính Thái sư đổi chế độ hành chính, chuyển cá lộ, phủ làm trấn.Vùng đất Lào Cai thuộc huyện Văn Bàn, huyện Thủy Vỹ của châu Quy Hóa,trấn Thiên Hưng Như vậy, cuối đời nhàTrần huyện Văn Bàn, huyện Thủy Vỹđược thành lập Từ đây Thủy Vỹ, Văn Bàn (vùng đất Lào Cai) đã chính thứctrở thành tên đơn vị hành chính của nhà nước phong kiến Đại Việt

Đời nhà Lê, năm Quang Thuận (1466) vua Lê Thánh Tông chia nước tathành 12 đạo Thừa Tuyên, đổi lộ làm phủ, đổi trấn làm châu Năm QuangThuận thứ 7 (1466), châu Lục Yên (vùng phía Bắc làhuyện Bảo Yên ngàynay) được thành lập trực thuộc Thừa Tuyên Tuyên Quang Như vậy, đến thờiLêThánh Tông, Lào Cai thuộc địa phận châu Văn Bàn, châu Thủy Vỹ phủQuy Hóa – Thừa Tuyên Hưng Hóa và một phần châu Lục Yên thuộc Thừa

Trang 36

Tuyên Tuyên Quang Châu Văn Bàn thời đó có 40 động, châu Thủy Vỹ có11động, châu Lục Yên có40 xã.

Đến đời nhàNguyễn năm Minh Mệnh thứ 19 (1838), vua Minh Mệnh cảicách hành chính quản lý đến cấp xã Lào Cai thuộc về châu Thủy Vỹ (có3tổng, 9 xã, 2 trại, 2 phố, 1 vạn), châu Văn Bàn (có 2 tổng, 8 xã, 1 vạn), vùngphía Bắc châu Lục Yên (Bảo Yên ngày nay có2 tổng, 6 xã) [30, tr 47 – 48]

Đến thời Đồng Khánh trong bộ “Đồng Khánh dư địa chí” có ghi các địa

danh của thành phố Lào Cai hiện nay thuộc các đơn vị hành chính thời đónhư sau: Xã Cam Đường, XãLàng Pha, trại Nam Lô, vạn Bảo Thắng, phốBảo Thắng, phố Minh Hương, một phần xãLạc Sơn (vùng Nhạc Sơn, CốcLếu, Kim Tâm, Bắc Cường, Nam Cường, Cốc San), một phần xã Đồng Quán(vùng Đồng Tuyển, Duyên Hải, Cốc Lếu)

Thực dân Pháp đánh chiếm Lào Cai ngày 30/3/1886, bắt đầu cuộc bìnhđịnh kéo dài suốt 20 năm tại Việt Nam Ngày 15/4/1888, thực dân Pháp thànhlập ở khu vực Bắc Kỳ vàThanh Hóa 14 quân khu Lào Cai trực thuộc quânkhu I

Ngày 20/8/1891, toàn quyền Đông Dương sau khi bãi bỏ cá quân khu, raNghị định thành lập 4 đạo quan binh Địa bàn Lào Cai trực thuộc đạo quanbinh Yên Bái Ngày 03/10/1896, đạo lỵ quan binh số 4 chuyển về Lào Cai,ngày 07/11/1899 đạo quan binh số 4 tổ chức lại thành 2 tiểu quân khu làtiểuquân khu Lào Cai vàYên Bái Tiểu quân khu Lào Cai có địa bàn khárộng gồm

4 châu, 13 tổng, 56 xãvới 34.800 dân

- Châu Thủy Vĩ gồm 3 tổng 11 xã, phố như tổng Ngọc Uyển (3 xã, 1 phố,

2 vạn chai); tổng Gia Phú(3 xã); tổng Lạc Sơn (3 xã)

- Châu Văn Bàn gồm 2 tổng, 6 xã, 1 trại như tổng Khánh Yên (3 xã, 1 trại); tổng VõLao (3 xã)

- Châu Chiêu Tấn có2 tổng, 11 xãtrại gồm tổng Phong Thổ (2 xã, 2 trại); tổng Dương Quỳ (5 xã, 2 thôn)

Trang 37

- Châu Lục Yên có6 tổng 27 xãgồm tổng Trúc Lâu (4 xã); tổng Lịch Hạ(6 xã); tổng Lâm Trường Thượng (5 xã); tổng Lâm Trường Hạ (5 xã); tổngLương Sơn (4 xã); tổng Nghĩa Đô (3 xã).

Các địa phương thuộc tỉnh Hưng Hóa (cũ) liên tiếp được tách ra thànhlập tỉnh dân sự Ngày 18/3/1891 thành lập tỉnh Hòa Bình, ngày 01/4/1900thành lập tỉnh Yên Bái, ngày 05/5/1903 thành lập tỉnh Phú Thọ, ngày23/8/1904 thành lập tỉnh Sơn La Ở khu vực thượng du Bắc Kỳ, một số tỉnhdân sự cũng được thành lập như tỉnh Cao Bằng (10/10/1895), tỉnh TuyênQuang và Bắc Cạn (cùng thành lập ngày 01/4/1900), tỉnh Lạng Sơn(20/6/1905) Như vậy đến năm 1905 cả khu vực miền núi phía Bắc chỉ cònLào Cai, HàGiang, Lai Châu, Điện Biên chưa được thành lập Nguyên nhâchủ yếu là do phong trào đấu tranh của đồng bào cá dân tộc nơi đây phát triểnmạnh mẽ, thực dân Pháp chưa dám chuyển từ chế độ cai quản quân sự sangchế độ cai quản dân sự Một nguyê nhâ quan trọng khác làhệ thống giao thôngnối liền cá tỉnh với trung tâm chưa được hình thành, chưa tạo tiền đề pháttriển kinh tế – xãhội

Năm 1906 và đầu năm 1907 các tiền đề thành lập tỉnh Lào Cai đã hìnhthành vàphát triển: hệ thống đường sắt nối liền Lào Cai – HàNội – Hải Phòngđược khai thông ngày 01/2/1906; vào năm 1904, Lào Cai được mở rộng gấp

15 lần trước đây, đô thị Lào Cai phát triển mạnh sang khu vực Cốc Lếu vàkhuPhố Mới hình thành cá bến cảng, nhàga, kho bãi, bệnh viện, nhà trường,nhàthờ,…

Như vậy, nhờ kinh tế phát triển, đường sắt khánh thành, giao thông thuậnlợi, tình hình biên giới ổn định đã tạo tiền đề thành lập tỉnh dân sự Lào Cai.Vàngày 12/7/1907, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định bãi bỏ đạo quan binh

4 Lào Cai, chuyển sang chế độ dân sự thành lập tỉnh Lào Cai Tỉnh Lào Cai baogồm 2 châu Thủy Vỹ ở bên hữu ngạn sông Hồng vàchâu Bảo Thắng

ở bên tả ngạn sông Hồng

Trang 38

Diện tích toàn tỉnh là4.625 km2, dân số 38.000 người, đông nhất là ngườiHmông là 11.000 người, người Mán (Dao) 7.500 người, người Tày 6.340người, người Giáy 5.300 người, người Nùng 3.000 người, người Kinh

3.750 người,… Năm 1930, Lào Cai có 2 châu, 4 đại lý, 1 khu hành chính với

23 xã, 2 khu phố, 585 thôn bản, 5 phố nhỏ [30, tr 50 – 51]

Đến cuối những năm 1910 – đầu những năm 1920, trong thành phần tỉnhLào Cai mới xuất hiện các đại lý Mường Khương, Pa Kha (Bắc Hà), Bát Xát,Phong Thổ và đặc khu Sa Pa Năm 1955, huyện Phong Thổ chuyển sang khu

tự trị Thái – Mèo, về sau thuộc tỉnh Lai Châu

Sau khi đất nước thống nhất, 01/1/1976, Lào Cai hợp nhất với tỉnh YênBái, Nghĩa Lộ thành tỉnh Hoàng Liên Sơn

30/8/1991 Tỉnh ủy Hoàng Liên Sơn ra Nghị quyết chia tách tỉnh HoàngLiên Sơn thành hai tỉnh Lào Cai vàYên Bái

01/10/1991, tỉnh Lào Cai được chính thức tái lập với diện tích tự nhiê là8.044 km2

01/2002 lại sáp nhập thị xãLào Cai vàthị xã Cam Đường thành thị xã LàoCai

Tháng 11/2004, Chính phủ ra Nghị quyết công nhận thị xãLào Cai làthành phố Lào Cai (đô thị loại III) Trải qua quátrình sáp nhập, chia tách từtháng 11/2004 đến nay cơ cấu hành chính tỉnh Lào Cai gồm 8 huyện (BảoThắng, Văn Bàn, Bảo Yên, Mường Khương, Bắc Hà, Sa Pa, Bát Xát, Si MaCai) vàthành phố Lào Cai với 164 xã, phường, thị trấn, diện tích tự nhiê là6.357 km2 [40, tr 30]

Tỉnh dân sự Lào Cai được thành lập vàphát triển làsự kiện lịch sử quantrọng Thành lập tỉnh Lào Cai không chỉ có ý nghĩa đơn thuần làthành lập mộtđơn vị hành chính cấp tỉnh màcòn tạo tiền đề phát triển kinh tế – xãhội ở mộttỉnh biên giới Tây Bắc, Việt Nam Đặc biệt, nócòn tạo đà thúc đẩy trao đổikinh tế, văn hóa giữa vùng Bắc Bộ, Việt Nam với vùng Tây Nam, TrungQuốc Như vậy, hành trình Lào Cai từ một thị tộc nguyê thủy đến một đô thị

Trang 39

sầm uất thành phố Lào Cai – thành phố duy nhất ở Việt Nam nằm ngay đườngbiên giới, cólịch sử hàng nghìn năm phát triển với nhiều thành tựu rực rỡ, tôđậm mốc son trên bản đồ Việt Nam.

1.2.3 Dân cư

Theo số liệu của Niên giám thống kêtỉnh Lào Cai 2015 thìdân số tỉnh LàoCai là 674.530 người Dân cư phân bố không đồng đều, chủ yếu sống ở nôngthôn, mật độ dân số trung bình là 106 người/km2 Thành phố Lào Cai là nơi cómật độ dân số cao nhất với 484 người/km2, huyện Văn Bàn có mật độ dân sốthấp nhất với 60 người/km2

Là địa bàn có nhiều dân tộc cùng chung sống vàtrải qua những biến độngcủa lịch sử và qua các giai đoạn phát triển, do sự gia tăng dân số tự nhiên vàgia tăng cơ học, dân số Lào Cai ngày càng tăng về số lượng và đa dạng vềnhóm ngành dân tộc [40, tr 31]

Đây là những vùng lãnh thổ được cá nhànghiê cứu nhân văn cho rằngvốn cónền văn hóa cổ xưa rất phát triển [13, tr 15 – 16] Sự hình thành cộngđồng dân cư Lào Cai gắn liền với quátrình hình thành, phát triển của nềnnông nghiệp du canh, du cư,…

Theo kết quả điều tra ngày 1/4/1999, tỉnh Lào Cai có 594.364 người.Trong đó lao động xã hội toàn tỉnh là 307.800 người, chiếm 51,78% dân số.Trên địa bàn tỉnh có 27 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh có 196.889 người,chiếm 33,12%; các dân tộc thiểu số như dân tộc Tày có 81.666 người, chiếm13,74%; dân tộc Thái có 52.146 người, chiếm 8,77%; dân tộc Mông có123.778 người, chiếm 20,82%; dân tộc Dao có 74.220 người, chiếm 12,48%;dân tộc Giáy có 24.672 người, chiếm 4,15%; dân tộc Nùng có 22.666 người,chiếm 3,81%; dân tộc khác chiếm 3,11%

Sự đa dạng về cư dân sinh sống trên một địa bàn như vậy dẫn tới việcLào Cai là nơi hội tụ đa dạng sắc màu văn hóa đặc trưng cho các dân tộc vùngTây Bắc, Việt Nam

Trang 40

1.3 Tiểu kết

- Việc nghiê cứu địa danh trong thời gian gần đây là một trong những đềtài hấp dẫn đối với nhiều người làm công tác khoa học Bằng chứng là đãcórất nhiều cuốn sách, bài viết, bài nghiê cứu được công bố rộng rãi từ góc độngôn ngữ – địa lý– văn hóa cho tới góc độ lịch sử Đó là những tài liệu quantrọng không chỉ góp phần vào việc làm dày thêm cá nghiê cứu về địa hạt nàymàcòn làm cứ liệu tham khảo cho cá nghiê cứu về sau Đây là những cơ sởlýthuyết đảm bảo cho việc tiếp cận, nghiê cứu địa danh một cách khoa học

Để bắt tay vào nghiê cứu địa danh ở bất kì hướng tiếp cận nào, ngườinghiê cứu trước nhất phải nắm bắt được khái niệm về địa danh, cùng cáphương pháp nghiên cứu vàtiêu chíphân loại phùhợp với đối tượng, mụcđích Nghĩa là phải có điểm nhìn đa góc độ dựa trên những nền tảng của nhiềungành khoa học liên quan Đây là hướng tiếp cận mang tính hiện đại, thể hiệnđược sự bắt nhịp với các xu hướng nghiê cứu địa danh hiện nay Đứng trướctình hình nghiê cứu địa danh của Việt Nam và để phùhợp với mục đích đề raban đầu, chúng tôi tập trung vào việc tìm hiểu vàcách ghi địa danh tỉnh LàoCai trên Bản đồ Bonne, trên cơ sở đó so sánh với cách ghi trên Bản đồ Quốcgia Từ đó, có thể thấy được tình hình chuẩn hóa địa danh trên bản đồ trên địabàn tỉnh Lào Cai nói riêng vànhững vùng cóđặc điểm tương tự nói chung tạiViệt Nam

- Lào Cai làmột địa bàn cóvị trí địa lý đặc biệt và đa dạng, bao gồm đầy

đủ cá yếu tố như sông, núi, khí hậu đặc trưng Tận dụng được những điềukiện vốn cóấy, Lào Cai hiện nay đã vươn mình trở thành một trong những đôthị biên giới lớn ở phía Bắc – địa đầu của Tổ quốc Việc nghiê cứu địa danh

ở địa bàn này giúp chúng ta phát hiện được những nét thúvị vàphản ánh mộtcách đặc trưng địa hình địa lýcủa chính bản thân nơi này, điển hình đó là sốlượng lớn địa danh thường gắn với cá yếu tố sông suối và đồi núi [25, tr 96]

Ngày đăng: 27/10/2020, 22:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w