Mục đích của đề tài Thông qua khảo sát tinh̀ hinh̀ trình bày ngữâm trong giáo trinh̀ dạy tiếng Viết ở Trung Quốc giai đo ạn 2000-2010, luâṇ văn góp vào nghiên cứu tình hình ngữ âm tro
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
======================
HÀ DIỄM (HE YAN)
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH TRÌNH BÀY NGỮ ÂM TRONG GIÁO TRÌNH DẠY TIẾNG VIỆT Ở TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 2000-2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội- 2011
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích của đề tài 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Nguồn tài liệu 3
7 Bố cục của luân văn 4
PHẦN NỘI DUNG 5
Chương I: 5
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 5
1 Tóm tắt về ngữ âm tiếng Việt 5
1.1 Âm tiết trong tiếng Việt 5
1.2 Mô tả ngữ âm theo quan niệm âm vị học 7
1.2.1 Thanh điệu 7
1.2.1 Phụ âm đầu……… 8
1.2.3 Vần 9
1.3 Mô tả qua hình thức chữ quốc ngữ 12
1.3.1 Âm chính 13
1.3.2 Âm cuối 13
1.4 So sánh đối chiếu hai cách quan niệm ngữ âm tiếng Việt ………21
2 Tình hình xuất bản sách dạy tiếng Việt ở TQ từ năm 2000-2010 15
2.1 Cuốn 1……… 16
2.2 Cuốn 2 17
2.3 Cuốn 3 17
2.4 Cuốn 4 18
2.5 Cuốn 5 19
2.6 Cuốn 6 19
2.7 Cuốn 7 20
2.8 Cuốn 8 20
Trang 33 Tiểu kết 21
Chương II 22
MÔ TẢ TÌNH HÌNH TRÌNH BÀY NGỮ ÂM TRONG CÁC GIÁO TRÌNH ĐÃ XUẤT BẢN 22
1 Mô tả tình hình trình bày ngữ âm trong các giáo trình 22
1.1 Cuốn 1 22
1.2 Cuốn 2 25
1.3 Cuốn 3 26
1.4 Cuốn 4 28
1.5 Cuốn 5 29
1.6 Cuốn 6 31
1.7 Cuốn 7 32
1.8 Cuốn 8 33
2 Nhận xét chung về tình hình ngữ âm trong các giáo trình 35
2.1 Thanh điệu 35
2.2 Nguyên âm đơn 35
2.3 Nguyên âm đôi 35
2.3.1 Quan niệm nguyên âm đôi 35
2.3.2 Quan niệm nguyên âm ghép đôi 37
2.4 Nguyên âm ba 38
2.5 Bán nguyên âm 39
2.6 Phụ âm 40
2.6.1 Tình hình phụ âm trong giáo trình 40
2.6.2 Đối chiếu tình hình phụ âm trong các giáo trình 41
2.7 Kết cấu vần 42
3 Tiểu kết 44
Chương III 46
THẢO LUẬN VỀ NỘI DUNG NGỮ ÂM TRONG GIÁO TRÌNH………… 46
1 Nguyên âm 47
1.1 Nguyên âm đơn 47
Trang 41.2 Nguyên âm đôi hay nguyên âm ghép đôi 47
1.3 Nguyên âm ba 50
1.3.1 Quan niệm nguyên âm ba 51
1.3.2 Quan niệm nguyên âm ghép ba……… 52
1.4 Bán nguyên âm 53
2 Phụ âm đầu 54
3 Phụ âm cuối ……… 58
Kết luận 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Tài liệu tiếng Việt 67
Tài liệu tiếng Trung 68
Phục lục 70
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ là một loại công cụ giao tiếp xã hội Người ta sử dụng ngônngữ để trao đổi tư tưởng, truyền đạt thông tin, nhằm mục đích hiểu biết lẫnnhau Trong giao tế, một người muốn nói một điều nào đó phải phát ra thànhlời một cái gì, còn người khác muốn hiểu được người ấy thì phải nghe thấy
và nhận biết được một cái gì, “cái gì” đó chính là ngữ âm Trong khi quá trìnhhọc tập một môn ngoài ngữ, phần ngữ âm là bộ phận cơ sở, cũng là khâu quantrọng nhất
Đối với người nước ngoài học tiếng Việt, thứ nhất thì phải học phần ngữ
âm Chúng ta hãy quan sát những giáo trình tiếng Việt Trung Quốc xem, tất cảđều có phần nguyên âm, phụ âm, thanh điệu, phần vần v.v… Nhưng về quanniệm ngữ âm và phương pháp giảng dạy thì lại khác nhau
Tôi là người Trung Quốc, đã học tiếng Việt 7 năm Trong quá trình họctập, phần ngữ âm là bộ phận khó nhất, cũng phải mất thời gian nhiều nhất.Trong quá trình học tập phần ngữ âm, đã gặp nhiều khó khăn, đa số sinh viênchỉ biết đọc và viết theo dạng chữ Không biết phân tích ngữ âm tiếng Việt.Thậm chí, đã tốt nghiệp đại học rồi, nhiều sinh viên còn không hiểu rõ ngữ âmtiếng Việt là cái gì
Hiện nay, tôi là giáo viên dạy tiếng Việt ở Trung Quốc, trong quá trìnhgiảng dạy, thường phát hiện ra những vấn đề, như giáo trình này cho rằngtiếng Việt có nguyên âm ba, nhưng giáo trình khác lại cho rằng tiếng Việt
Trang 6không có nguyên âm ba; giáo trình này cho rằng tiếng Việt chỉ có 3 nguyên
âm đôi, nhưng giáo trình khác lại cho rằng tiếng Việt có hơn 20 nguyên âmđôi Trung Quốc hiện nay đã xuất bản nhiều giáo trình, tuy nhiên trong quátrình giảng dạy, giáo viên không biết nên theo quan niệm nào mới đúng, chọngiáo trình nào mới chính xác Đây đã gây ra nhiều khó khăn cho việc giảngdạy
Thế cũng là ngữ âm tiếng Việt, cũng là 29 chữ cái La-tinh, tại sao cónhững khác biệt lớn như thế này trong các giáo trình khác nhau? Và cái nào làđúng, cái nào không đúng? Chúng ta nên giảng dạy như thế nào? Trong luậnvăn của tôi, tôi sẽ nghiên cứu và trả lời những vấn đề này để tạo điều kiệnthuận lợi nhất định cho việc giảng dạy và học tập tiếng Việt
2 Mục đích của đề tài
Thông qua khảo sát tinh̀ hinh̀ trình bày ngữâm trong giáo trinh̀ dạy tiếng Viết ở Trung Quốc giai đo ạn 2000-2010, luâṇ văn góp vào nghiên cứu tình hình ngữ âm trong các cuốn giáo trình, tìm hiểu vềngữâm tiếng Viêṭ trong cácgiáo trình ở Trung Quốc; phân tích và so sánh phần ngữ âm trong các giáo trình khác nhau; Nêu ra những nội dung không đúng và chưa được thống nhất
so với hai cách quan niệm âm vị học và chữ quốc ngữ Nhận xét phương phápgiảng dạy của các giáo trình Thông qua nghiên cứu của tôi, góp phần vào việc biện soạn, giảng dạy và học tập cho người Trung Quốc
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thu tập các giáo trình có phần ngữ âm đã được xuất bản ở Trung Quốc
2
Trang 7trong giai đọan 2000-2010.
- Nhận diện phương pháp giảng dạy của phần ngữ âm trong các giáotrình
- Nhận xét chung về tình hình trình bày ngữ âm trong các giáo trình
- Nêu ra ý kiến của tôi về việc biên soạn giáo trình tiếng Việt
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những phần trình bày về ngữ âm
trong giáo trinh̀ d ạy tiếng Viêṭ ở Trung Quốc đã xuất bản trong giai đoạn2000-2010
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ sử dụng thao tác của nhữngphương pháp nghiên cứu: miêu tả, so sánh
Phương pháp miêu tả là hệ thống những thủ pháp nghiên cứu được vậndụng để thể hiện đặc tính của các hiện tượng ngôn ngữ trong một giai đoạnphát triển nào đó của nó Đây là phương pháp phương tích đồng đại, phươngpháp miêu tả có ý nghĩa to lớn đối với việc thực hiện học tập và giảng dạyngôn ngữ Trong luận văn, sử dụng phương pháp miêu tả để trình bày tìnhhình ngữ âm một cách rõ ràng
6 Nguồn tài liệu
Nguồn tài liệu của luận văn là:
- 8 cuốn giáo trình tiếng Việt ở Trung Quốc đã được xuất bản giao đoạn 2000-2010
Trang 87 Bố cục của luân văn
Trong luận văn của tôi, ngoài phần mở đầu và phần kết luận, gồm có 3 chương sau đây:
Chương I: Cơ sở lý luận của luận văn.
Chương II: Mô tả trình bày tình hình ngữ âm trong các giáo trình đã
xuất bản ở Trung Quốc giai đọan 2000-2010
Chương III: Nhận xét chung về nội dung ngữ âm trình bày trong các
giáo trình
Trang 9PHẦN NỘI DUNG
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN
1 Tóm tắt về ngữ âm tiếng Việt
1.1 Âm tiết trong tiếng Việt
Để chuyển đạt một thông tin nào đó, nhiết thiết phải dựa vào một vật chất.Qua đó, ký hiệu mới có thể phát ra, chuyển đạt và nhận được Tác dụng giaolưu của ngôn ngữ là thể hiện qua âm thanh Âm thanh này do bộ máy phát âmcủa con người phát ra, người ta gọi là hình thức âm thanh của ngôn ngữ Vìvậy, ngữ âm là cái vỏ vật chất của ngôn ngữ, là hình thức tồn tại của ngôn ngữ
Ngữ âm được con người phát ra, có thể chia thành những mạch khácnhau, những khúc đoạn, từ lớn đến nhỏ khác nhau Khi phân tích ngữ âm,chúng ta cần phải phân tích từng yếu tố một cách tỉ mỉ Trong tiếng Việt, âmtiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất Dù lời nói chậm đến đâu cũng chỉ tách đượcđến âm tiết là hết Ví dụ như “Cà phê Trung Nguyên” có cả thảy 4 âm tiết.Trong tiếng Việt, phát âm có bao nhiêu tiếng thì là có bấy nhiêu âm tiết Vềphương diện phát âm, âm tiết tiếng Việt có tính toàn vẹn, không thể phân chiađược Bởi vì nó được phát âm bằng một đợt căng của cơ thịt của bộ máy phát
âm Cứ mỗi lần cơ thịt của bộ máy phát âm căng lên rồi chùng xuống là ta cómột âm tiết Có bao nhiêu lần căng - chùng thì có bấy nhiêu âm tiết Khi phát
âm mỗi một âm tiết, các cơ thịt của bộ máy phát âm cũng phải trải qua ba giai
Trang 10đọan: tăng cường độ căng, đỉnh đỉểm căng thẳng và giảm độ căng.
Về cấu trúc, mỗi âm tiết tiếng Việt ở dạng đầy đủ nhất có hai bậc, bậc thứnhất bao gồm những thành tố trực tiếp: thanh điệu, âm đầu và phần vần Bậcthứ hai bao gồm ba thành tố: âm đệm, âm chính và âm cuối
Âm tiết
Thanh điệu Âm đầu phần vần
Âm đệm Âm chính Âm cuối
Thanh điệu là một âm vị siêu đoạn tính, có chức năng khu biệt âm tiếtnày với âm tiết khác về mặt âm vực hay đường nét; nó có giá trị phân biệtcách phát âm và ý nghĩa của từ Mỗi âm tiết đều mang một trong 6 thanh điệu
Âm đầu có chức năng mở đầu âm tiết Âm tiết này khu biệt âm tiết khácbằng những cách mở đầu khác nhau Trong tiếng Việt, âm đầu là do phụ âmđảm nhiệm
Âm đệm có chức năng biến đổi âm sắc của âm tiết sau lúc mở đầu Trongtiếng Việt, âm đệm là do bán nguyên âm đảm nhiệm
Âm chính có chức năng quy định âm sắc chủ yếu của âm tiết, nó là hạtnhân của âm tiết Trong tiếng Việt, âm chính là do các âm vị nguyên âm đảmnhiệm
Âm cuối có chức năng kết thúc âm tiết Trong tiếng Việt, làm vai trò âmcuối là các âm vị phụ âm và bán nguyên âm
Trang 11Khi phân tích âm tiết tiếng Việt, phải tách ra nó thành các yếu tố nhỏ mộtcách tỉ mỉ Thanh điệu, âm đầu và phần vần là 3 đối tượng nghiêu cứu trongkhi phân tích âm tiết tiếng Việt Khi phân tích một âm tiết nào đó, trước hếtphải tách ra nó thành các yếu tố nhỏ như vậy mới có thể triển khai công việc.Sau khi tách ra từng yếu tố, thì phải phân tích nội dung yếu tố đó đảm nhiệm.Cho nên các yếu tố nguyên âm, phụ âm, bán nguyên âm lại trở thành đốitượng nghiên cứu trong khi phân tích 3 thành tố của hệ thống ngữ âm tiếngViệt.
Trong tiếng Việt hiện đại, về “ hệ thống ngữ âm tiếng Việt ” đang đượclưu hành phổ biến ở Việt Nam, có hai quan niệm khác nhau Quan niệm thứnhất là căn cứ vào âm vị học (GS.TS Đoàn Thiện Thuật) Khác với quan niệm
âm vị học, quan niệm thứ hai là căn cứ vào hình thứ chữ viết, tức là chữ quốcngữ
1.2 Mô tả ngữ âm theo quan niệm âm vị học
Quan niệm này được trình bày chi tiết trong cuốn “Ngữ âm tiếng Việt”của GS.TS Đòan Thiện Thuật xuất bản lần đầu 1977 Quan niệm này sau đóđược trình bảy lại trong nhiều cuốn sách khác nhau viết về ngữ âm tiếng Việtxuất bản ở Việt Nam
Trang 12Về mặt chữ viết, thanh điệu đƣợc ghi bằng các dấu: không dấu “a”, dấu
huyền “à”, dấu sắc “á”, dấu nặng “ạ”, dấu hỏi “ả” dấu ngã “ã” Những âm tiết
không có dấu hiệu thanh điệu nhƣ “a” không phải là không có thanh điệu, mà
là thanh điệu không ghi ra bằng một ký hiệu nào đó nhƣ 5 thanh điệu khác.Nhƣ vậy, theo truyền thống, trừ thanh không dấu, mỗi thanh điệu mang têncủa dấu ghi thanh ấy
chỉ có một kiểu chữ viết: b, m, ph, t, th, đ, n, r, ch, tr, l, h, s, x, kh, nh, v Âm đầu
do phụ âm đảm niệm, âm vị [p] không thể coi là âm vị phụ âm đầu Nó đảm niệmphụ âm đầu trong những âm tiết “từ ngoài lai”, nhƣ “piano”, “pizza”…Trong âmtiết thuần việt, không có một âm tiết nào là do âm vị [p] đảm niệm âm đầu, nhƣvậy, âm vị [p] không nằm trong danh sách phụ âm đầu
Sau đây là sơ đồ của phụ âm đầu theo quan niệm âm vị học:
/ ʔ / anh, em, eo, y
ng, ngh / ŋ / ngủ, ngô, nghi, nghê
Trang 149
Trang 15u và o / w / quả, tuấn, toán, hoàn
+ âm chính
Trong tiếng Việt, âm chính của âm tiết bao giờ cũng do nguyên âm đảmnhiệm Trong tiếng Việt, cả 16 nguyên âm đều có thể đảm nhiệm âm chính.Tức là có bao nhiêu nguyên âm thì có bấy nhiêu âm chính
Theo quan niệm của âm vị học, tiếng Việt có 16 nguyên âm, gồm có 9nguyên âm đơn (trong đó có 4 nguyên âm đối lập ngắn và dài) và 3 nguyên
9 nguyên âm đơn ƣ /ɯ/ tƣ, hƣ, đứng, hứng
ơ /ə/ tơ, mơ, hơn, trơn
Trang 1610
Trang 17o /ɔ/ mong,thóc,hóc,nóng
3 nguyên âm đôi iê, ia, yê, ya /ie/ bia,liêng,tuyên,khuya
uô,ua /uo/ buồn,uống, đua,của
ươ, ưa /ɯə/ mượn,bướm,thừa+ âm cuối
Theo quan niệm âm vị học, trong tiếng Việt có 16 nguyên âm thì lúc ấy
âm cuối kết hợp với nguyên âm để tạo thành vần chỉ có 8 đơn vị Đó là 6 âm
cuối phụ âm và 2 âm cuối bán nguyên âm
Âm cuối Chữ âm vị ví dụ
6 phụ âm âm cuối p / p / hộp, xếp, sắp
2 bán nguyên âm u, o / w / cứu, châu, bao, chào
i, y / j / mai, lợi, may, thấyNhư vậy, tóm tắt lại, theo quan niệm âm vị học, tiếng Việt có danh sách
22 phụ âm đầu, 2 bán nguyên âm, 9 nguyên âm đơn, 4 nguyên âm ngắn và 3nguyên âm đôi Phụ âm đảm nhiệm âm đầu và âm cuối, nguyên âm đảm niệm
âm chính, và bán nguyên âm đảm nhiệm âm đệm và âm cuối
1.3 Mô tả qua hình thức chữ quốc ngữ
11
Trang 18Chữ quốc ngữ là sử dụng tự mẫu La Tinh, một hệ thống văn tự phản ánhcấu trúc âm vị học Theo quan niệm chữ quốc ngữ, tiếng Việt có 6 thanh điệu,
22 phụ âm đầu, 2 bán nguyên âm đảm nhiệm âm đệm và âm cuối, 14 nguyên
âm ( bao gồm 9 nguyên âm đơn, 2 nguyên âm ngắn và 3 nguyên âm đôi) đảm nhiệm
âm chính và 8 phụ âm đảm nhiệm âm cuối
Thành tố thanh điệu và phụ âm đầu cũng giống quan niệm âm vị học, chỉ
có âm chính (nguyên âm) và âm cuối (phụ âm, bán nguyên âm) khác với quanniệm âm vị học
1.3.1 Âm chính
Âm chính do nguyên âm đảm niệm, theo quan niệm chữ quốc ngữ, tiếngViệt có 14 nguyên âm, gồm có 9 nguyên âm đơn (trong đó có 2 nguyên âmđối lập ngắn và dài), và 3 nguyên âm đôi
Nguyên âm Chữ viết Âm vị Ví dụ
9 nguyên âm đơn u /u/ hút, đùng,mù,núi
ô /o/ bỗng,cố,hôn, ôm
Trang 192 nguyên âm ngắn â /â/ mân,mâu,mấy,thầy
ă /ă/ mắng, thắt,máy, thay
3 nguyên âm đôi iê, ia, yê, ya /ie/ bia,liêng,tuyên,khuya
uô,ua /uo/ buồn,uống, đua,của
ươ, ưa /ɯə/ mượn,bướm,thừa
So với quan niệm âm vị học, hình thức chữ quốc ngữ chỉ chấp nhận cóhai nguyên âm ngắn /â/ và /ă/, không có /ε / và /ɔ/ như âm vị học
1.3.2 Âm cuối
Theo quan niệm chữ quốc ngữ, khi cho rằng tiếng Việt có 14 nguyên âmthì lúc này âm cuối kết hợp với nguyên âm để tạo thành âm cuối sẽ có 10 đơn
vị, đó là 8 âm cuối phụ âm và 2 âm cuối bán nguyên âm Cụ thể là:
Trang 20i, y /j/ mai,lợi, thấy, mây1.4 So sánh đối chiếu hai quan niệm ngữ âm tiếng Việt
So sánh hai cách quan niệm, chúng ta thấy rằng, nội dung không đƣợcnhất trí là âm chính (nguyên âm) và âm cuối Quan niệm âm vị học cho rằng,tiếng Việt có 16 nguyên âm, gồm 9 nguyên âm đơn (trong đó có 4 nguyên âmđơn đối lập dài - ngắn) và 3 nguyên âm đôi Khi cho rằng tiếng Việt có 16nguyên âm thì âm cuối kết hợp với nguyên âm để tạo thành vần chỉ có 8 âmcuối, đó là 6 âm cuối phụ âm và 2 âm cuối bán nguyên âm
Hình thức chữ quốc ngữ khác với quan niệm trình bày trong cuốn “Ngữ
âm tiếng Việt” của GS.TS Đoàn Thiện Thuật Theo quan niệm này, tiếng Việtchỉ có 14 nguyên âm, gồm 9 nguyên âm đơn (trong đó chỉ có 2 nguyên âm đốilập dài - ngắn) và 3 nguyên âm đôi Khi cho rằng tiếng Việt có 14 nguyên âmthì âm cuối kết hợp với nguyên âm để tạo thành vần sẽ có tới 10 đơn vị Đó là
8 âm cuối phụ âm và 2 âm cuối bán nguyên âm
Sau đây là sơ đồ đối chiếu hai quan niệm ngữ âm tiếng Việt:
/ɯ/ /ə/ /a/ /i/ /e/ /ε/ /ə/ /a/ /i/ /e/ /ε/ /ε/
H /ε/(ngắn) /â/ /ă/ /ie/
/uo/ / ɯə/
Trang 2114
Trang 22C /u/ /o/ /ɔ/ /ɯ/ /ə/ /a/ /u/ /o/ /ɔ/ /ɯ/ /ie/ /uo/ /ɯə/ /p/ /t/ /c/ /k/ Q
N /i/ /e/ /ε/ /â/ /ă/ /ie/ /ə/ /a/ /i/ /e/ /ε/
2 Tình hình xuất bản sách dạy tiếng Việt ở TQ từ năm 2000-2010
Hiện nay, ở Trung Quốc đã có nhiều trường như các trường đại học,
trường cao đẳng, trung tâm đào tạo đã mở chuyên ngành tiếng Việt để đào tạo
nhân tài tiếng Việt, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự giao lưu về mặt kinh
tế, văn hóa và chính trị giữa hai nước Trung Quốc và Việt Nam Đặc biệt
trong 10 năm gần đây, chỉ riêng năm 2010, thì đã có khoảng 7 trường mở
chuyên ngành tiếng Việt Ngoài ra, còn có nhiều người đang tự học hoặc mời
gia sư để học tiếng Việt
Tùy theo người học tiếng Việt ngày càng tăng nhiều thì sự yêu cầu đối
với giáo trình cũng tăng thêm Tính đến 2010, ở Trung Quốc đã xuất bản mấy
chục cuốn sách tiếng Việt, có những giáo trình dành cho sinh viên đại học,
giáo trình cho học sinh cao đẳng, những người làm kinh doanh, du khách, đi
công tác như “Đi du lịch ở Việt Nam”, “Tiếng Việt Kinh tế và Thương mại”,
“ Hội thoại tiếng Việt”, “Tiếng Việt 300 câu”, “Tiếng Việt 400 câu”… Người
ta căn cứ vào nhu cầu của mình lựa chọn giáo trình phù hợp
Đối với học sinh chuyên ngành tiếng Việt, thì phải chọn những giáo trình
có đẩy đủ các bộ phận nghe, nói, đọc, viết Cho nên, tuy có nhiều cuốn sách
về tiếng Việt, nhưng những giáo trình không có phần ngữ âm, không xứng
Trang 23đáng làm giáo trình cho học sinh học ngành tiếng Việt tại trường, chỉ đượccoi là tài liệu tham khảo đối với người học tiếng Việt Vì đề tài của tôi là “Khảo sát tình hình trình bày ngữ âm trong giáo trình dạy tiếng Việt ở TrungQuốc giai đọan 2000-2010”, cho nên những cuốn không có phần ngữ âm vàthời gian xuất bản ngoài 10 năm này đều không nằm trong phạm vi nghiêncứu của tôi.
Theo thống kê, từ năm 2000 đến 2010, đã có 8 cuốn sách có phần ngữ
âm tiếng Việt được xuất bản và đang được lưu hành ở các trường đại họcTrung Quốc Cụ thể là:
Giáo trình này có khoảng 4000 từ vựng Tổng cộng có bốn tập, “ Tập 1”
là tập ngữ âm, có 15 bài, trong đó 11 bài ( bài 1-bài 11) giảng dạy về phần ngữ
âm, một bài (bài 12) giảng dạy về cách đọc của từ ngoại lai, còn lại ba bài (bài13-bài 15) là bài ôn lại ngữ âm tiếng Việt “ Tập 2” là tập cơ sở của tiếng Việt,
Trang 24tổng cộng có 18 bài, chủ yếu giảng dạy về ngữ pháp cơ bản, luyện tập khẩungữ, ngoài ra còn có một số bàn văn ngắn để dần dần đào tạo khả năng đọc bàicủa sinh viên “ Tập 3” và “ Tập 4” đều là tập bài văn, tổng cộng có 18 bài,mỗi bài chia thành hai phần: phần hội thoại và phần bài văn.
II là phần ngữ pháp, trong bài là những bài văn ngắn và hội thoại thường ngày.Còn tập 2, 3, 4 là tập bài văn, mỗi tập có 15 bài và khoảng 1300 từ mới, mỗi
bài có bài văn, ngữ pháp, bài tập và bài đọc thêm 4 bộ phận cấu thành
Trang 25được chia thành 4 bộ phận, phần I là phần ngữ âm, tổng cộng có 14 bài Nộidung trong bài bao gồm ngữ âm, chữ cái, từ mới, bài văn, bài tập….Phần II làphần luyện khẩu ngữ, có 7 bài, sau khi sinh viên học hết ngữ âm thì có thể họcthêm một số hội thoại hàng ngày, nội dung trong bài bao gồm hỏi thăm, giớithiệu, hẹn nhau, nhà trường , nhà ăn, đi phố Phần III là phần thành ngữ, tụcngữ, trong phần này là những thành ngữ tục ngữ dễ hiểu Còn lại tập 2, 3, 4 mỗitập gồm có 14 bài Tập 2 là phần ngữ pháp, có khoảng 1300 từ mới, mỗi bài baogồm câu, ngữ pháp, bài văn, khẩu ngữ thường ngày, bài tập Tập 3 có khoảnghơn 1000 từ mới, mỗi bài bao gồm bài văn, ngữ pháp và bài, nội dung của bàivăn liên quan tới các mặt như văn hóa, giáo dục, ẩm thực, phong tục tậpquán…Tập 4 có khoảng 1200 từ mới, nội dung bao gồm kinh tế, chính trị, côngviệc, du lịch, văn học…
2.4 Cuốn 4
“Giáo trình Hội thoại và Ngữ âm tiếng Việt” do Thạch Bảo Khiết, TôThái Quỳnh biên sọan, Nhà xuất bản Thế giới xuất bản vào năm 2008 LàGiáo trình của Đại học Ngoại thương và Ngoại ngữ Quảng Đông
Đối tượng của bộ giáo trình này là sinh viên học ngôn ngữ thứ hai, và họcviên của trung tâm đào tạo Giáo trình có bốn tập, ngoài tập này, còn ba tập khác
là do Hoàng Dĩ Đình, Lâm Minh Hoa biên sọan Tập này có ba phần, phần 1 làphần ngữ âm, tổng cộng có 10 bài, bài 1- bài 9 là giảng dạy về ngữ âm và bài 10
là ôn tập Phần II và phần III đều là hội thoại về các mặt trong đời sống hàngngày, như chào hỏi, giới thiệu, thăm hỏi, du lịch, ngày lễ… Còn
Trang 263 tập khác mỗi tập có 17 bài, mỗi bài bao gồm bài văn, từ mới, chú thích, ngữ pháp, bài tập…
2.5 Cuốn 5
“Giáo trình Cơ sở tiếng Việt”do Lữ Sĩ Thanh biên soạn, Nhà xuất bảnĐại học Vân Nam xuất bản vào năm 2003 Là một trong những giáo trình củaĐại học Dân tộc Vân Nam
Đối tƣợng của bộ giáo trình này là sinh viên đại học mới bắt đầu tiếp xúctiếng Việt Giáo trình này có 4 tập Tập 1 là phần cơ sở ngữ âm của tiếng Việt,tổng cộng có 10 bài Cả quyền đều giảng dạy về ngữ âm, mỗi bài đều có ngữ
âm, khẩu ngữ, từ mới, bài tập bốn bộ phận Còn lại 3 tập là tập bài văn baogồm ngữ pháp, từ mới, bài đọc thêm, bài tập…
từ mới, bài tập Tập 2 có 15 bài, trên cơ sở học xong ngữ âm trong tập
Trang 27một, bổ sung thêm phần luyện tập khẩu ngữ và văn hóa Việt Nam Làm chongười học càng có hướng thú về học tiếng Việt hơn nữa.
âm, có 7 bài (từ bài 1-bài7), mỗi bài bao gồm ngữ âm, chữ cái, từ vựng, ngoài
ra, còn có những hội thoại thường ngày và ngữ pháp sơ cấp Phần II là hộithoại, có 5 bài (bài 8-bài 13), nội dung bao gồm những hội thoại thực dụngnhư chào hỏi, giới thiệu…
Trang 28cảnh thường ngày như chào hỏi, mua sắm, ăn cơm…Phần III là phần từ mới,
có khoảng 700 từ mới trong cuốn sách này
3 Tiểu kết
Như trên là tình hình khái quát của 8 cuốn sách dạy tiếng Việt hiện nayđang được lưu hành và sử dụng ở Trung Quốc trong giai đọan 2000-2010.Trong luận văn của tôi, tôi sẽ lấy 8 cuốn sách này làm đối tượng nghiên cứu,căn cứ vào hai cách quan niệm ngữ âm tiếng Việt để trình bày, phân tích, sosánh và nhận xét phần ngữ âm trong 8 cuốn giáo trình này
Trong giáo trình phần đầu đều là phần ngữ âm, và phần ngữ âm chiếmhơn một nửa của tổng số bài Trong các sách dạy tiếng Việt, phần ngữ âmđược trình bày trong phần đầu Về thời gian giảng dạy cũng là phần lâu nhất.Điều này đã chứng tỏ rằng ngữ âm là cơ sở, là yếu tố quan trọng nhất trongquá trình học tập tiếng Việt Trong chương II, tôi sẽ mô tả trình bày tình hìnhngữ âm trong 8 cuốn giáo trình này
Trang 29Chương II
MÔ TẢ TÌNH HÌNH TRÌNH BÀY NGỮ ÂM TRONG CÁC GIÁO TRÌNH
ĐÃ XUẤT BẢN
1 Mô tả tình hình trình bày ngữ âm trong các giáo trình
Đều là ngữ âm tiếng Việt, đều là 29 chữ Latin, nhưng quan niệm về ngữ
âm tiếng Việt còn chưa được thống nhất trong các giáo trình dạy tiếng Việt ởTrung Quốc hiện nay Tùy theo người biên soạn, hầu như mỗi một cuốn đều
có quan niệm riêng của mình Và cách giảng dạy cũng không giống nhautrong các giáo trình khác nhau Dựa vào 8 cuốn giáo trình đã trình bày trongchương I, sau đây tôi sẽ trình bày và mô tả tình hình ngữ âm từng cuốn một.Trong nội dung trình bày ngữ âm của các cuốn giáo trình, vì thanh điệukhông có gì khác nhau giữa các cuốn giáo trình, thống nhất là theo hình thứcchữ quốc ngữ và âm vị học, có sáu thanh điệu: ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã,nặng, cho nên, tôi không trình bày phần thanh điệu trong nội dung mô tả tìnhhình ngữ âm của các cuốn giáo trình
1.1 Cuốn 1
Trong giáo trình, phần ngữ âm được chia thành 6 bộ phận như sau: phầnthanh điệu, nguyên âm đơn, phụ âm, nguyên âm đôi, nguyên âm ba và các lọaivần trong tiếng Việt
+ nguyên âm đơn
Tiếng Việt có 11 nguyên âm đơn:a ă e ê i(y) o ô ơ â ư u
Trang 30+ nguyên âm đôi
Trong giáo trình này, tiếng Việt có 28 nguyên âm đôi Theo đó, khi trìnhbày ngữ âm tiếng Việt, những tổ hợp có hai chữ viết nguyên âm tổ hợp nhau
gọi là nguyên âm đôi Có hai lọai nguyên âm đôi: tiền hưởng(前响)前响)và hậu
hưởng (前响) 后 响 ) Tiền hưởng là tổ hợp hai chữ nguyên âm, khi phát âm, nguyên âm đứng trước mạnh và dài, nguyên âm đứng sau yếu và ngắn Trong ngữ âm tiếng Việt có 13 tiền hưởng nguyên âm đôi: ai, ao eo, êu,ia(ya iê),
iu, oi, ôi, ơi, ui, ưi, ưa(ươ), ua(uô); Ngược lại là hậu hưởng nguyên âm đôi,
có 12 hậu hưởng nguyên âm đôi: ay, au, ây, âu, oa, oe, uê, uy, ươ ,ưu, oo, ôô.
Sau đây là bảng nguyên âm đôi trình bày trong giáo trình:
Trang 31ư ưa ưi ươ ưu
+ nguyên âm ba
Trong giáo trình này, tác giả cho rằng ba chữ nguyên âm tổ hợp nhau gọi
là nguyên âm ba Tiếng Việt có 12 nguyên âm ba Cũng như nguyên âm đôi,dựa theo phương pháp phát âm phân loại nguyên âm ba: tiền hưởng (前响) vàtrung hưởng(中响), không có hậu hưởng nguyên âm ba(后响三元音) 1 tiền
hưởng: iêu( yêu); 11 trung hưởng: oai, oay, oao, oeo, uây, uôi, uya, uyê, uyu,
Trong giáo trình, phần sau có trình bày tới kết cấu vần của âm tiết tiếng
Việt Theo quan niệm trong giáo trình, tiếng Việt có 8 phụ âm cuối: m n nh ng
c ch p t Sau đây là sơ đồ của vần trong âm tiết tiếng Viêt.
nguyên âm đơnnguyên âm đôi/banguyên âm đơn + phụ âm cuốinguyên âm đôi + phụ âm cuốinguyên âm ba + phụ âm cuốiTheo tổng kết và mô tả ngữ âm tiếng Việt của cuốn sách này, tiếng Việt bao gồm 11 nguyên âm đơn, 28 nguyên âm đôi, 12 nguyên âm ba và 23 phụ
Trang 32âm Một chữ cái nguyên âm là nguyên âm đơn, hai chữ nguyên âm là nguyên
âm đôi, ba chữ nguyên âm là nguyên âm ba, và 23 phụ âm theo hình dánh củachữ Nhƣ vậy, chúng tôi có thể kết luận rằng: cuốn này là căn cứ vào chữ viếtnhận diện âm Cách giảng dạy của cuốn này là dạy theo chữ, không phải dạytheo âm
1.2 Cuốn 2
Tập này chia thành hai phần, phần ngữ âm và phần ngữ pháp Phần ngữ
âm bao gồm 6 thanh điệu, 11 nguyên âm đơn, 3 nguyên âm ba, 2 bán nguyên
âm và 19 phụ âm
+ Nguyên âm đơn
11 nguyên âm đơn: a ă e ê i(y) o ô ơ â ư u.
+ Nguyên âm đôi
3 nguyên âm đôi: iê (yê ia ya), ươ(ưa), uô(ua)
+ Bán nguyên âm
2 bán nguyên âm: /w/ /j/ Mỗi bán nguyên âm có 2 cách chữ viết:
/ j / : i y/ w /: u o+ Phụ âm
Trang 33bán nguyên âm /-w-/ đảm niệm, 8 âm cuối bao gồm 6 phụ âm /p/ /t/ /k/ /m/ /n// ŋ / và hai bán nguyên âm /-j/ /-w/ Sau đây là kết cấu của vần trong âm tiết tiếng Việt:
nguyên âm đơnnguyên âm đơn + phụ âm cuốinguyên âm đơn + bán nguyên âm âm cuối
âm đệm [-w- ] + nguyên âm đơn
âm đệm [-w- ] +nguyên âm đôi
âm đệm [-w- ]+ nguyên âm đôi/ đơn + phụ âm cuối
âm đệm [-w- ] + nguyên âm đơn + bán nguyên âm âm cuốiTheo mô tả và tổng kết ngữ âm tiếng Việt của cuốn sách nhƣ trên, tiếngViệt bao gồm 11 nguyên âm đơn, 3 nguyên âm ba, 2 bán nguyên âm và 19 phụ
âm Chúng tôi có thể kết luận rằng: cuốn này là vừa theo quan niệm âm vị học,vừa căn cứ vào âm nhận diện chữ viết Cách giảng dạy của cuốn này là dạytheo âm và biểu hiện bằng chữ viết
1.3 Cuốn 3
Giáo trình này bao gồm hai phần, phần ngữ âm và phần hội thoại Trongphần ngữ âm, bao gồm 6 thanh điệu, 11 nguyên âm đơn, 24 phụ âm, 23 hainguyên âm ghép, 12 ba nguyên âm ghép và kết cấu vần
+ nguyên âm đơn
11 nguyên âm đơn: a ă e ê i(y) o ô ơ â ư u.
+ nguyên âm ghép đôi (二合元音)
Trang 34Có 23 nguyên âm ghép đôi Quan niệm trong giáo trình này cho rằngtiếng Việt có những nguyên âm là hai chữ cái nguyên âm tổ hợp nhau, gọi lànguyên âm ghép đôi Dựa theo đặc điểm phát âm chia thành hai loại: tiềnhưởng (前响三合元音) và hậu hưởng nguyên âm ghép đôi (后响三合元音).Khi phát âm, nguyên âm đứng đầu dài và mạnh gọi là tiền hưởng, ngược lại là
hậu hưởng Trong âm tiết tiếng Việt có 12 tiền hưởng nguyên âm ghép đôi: ai,
ao, eo, êu, ia, iu, ơi, oi, ôi, ui, ưi, ưa.11 hậu hưởng nguyên âm ghép đôi: ay,
au, ây, âu, oa, oe, ua, uê, uy, ươ, ưu.
+ nguyên âm ghép ba (三合元音)
Có 12 nguyên âm ghép ba Trên cơ sở hai nguyên âm ghép, giáo trình chorằng ngoài nguyên âm ghép đôi, tiếng Việt còn có nguyên âm ghép ba, tức lànhững nguyên âm do ba chữ cái nguyên âm cấu thành Căn cứ vào đặc điểmphát âm, nó được chia thành ba lọai: tiền hưởng (前响), trung hưởng (中响),hậu hưởng (后响) Trong đó có 2 tiền hưởng: yêu, iêu; 8 trung hưởng: oai,
oao, oeo, uôi, uya, uyu, ươi,ươu; 2 hậu hưởng: oay, uây.
+ phụ âm
24 phụ âm: p b m ph v t th đ l n c(k) kh qu g(gh) ng(ngh) nh h tr ch d gi r
s r
+ kết cấu vần
Theo quan niệm trong giáo trình, tiếng Việt có 8 phụ âm cuối: m n nh ng
c ch p t Sau đây là sơ đồ của vần trong âm tiết tiếng Viêt Kết cấu vần trong
âm tiết tiếng Việt có 5 loại:
Trang 35nguyên âm đơn
nguyên âm ghép đôi/ba
nguyên âm đơn + phụ âm cuối
nguyên âm ghép đôi + phụ âm cuối
nguyên am ghép ba + phụ âm cuối
Theo tổng kết và mô tả ngữ âm tiếng Việt của cuốn sách nhƣ trên, tiếngViệt bao gồm 11 nguyên âm đơn, 24 phụ âm, 23 nguyên âm ghép đôi và 12nguyên âm ghép ba Theo khái niệm của nguyên âm ghép đôi và nguyên âmghép ba, rõ rằng cuốn này là căn cứ vào chữ viết để nhận diện âm Cách giảngdạy của cuốn này là dạy theo chữ
1.4 Cuốn 4
Trong giáo trình, phần trình bày ngữ âm bao gồm 6 thanh điệu, 11nguyên âm đơn, 3 nguyên âm đôi, 2 bán nguyên âm, 22 phụ âm và phần vầncủa âm tiết tiếng tiết
+ Nguyên âm đơn
11 nguyên âm đơn: a ă e ê i(y) o ô ơ â ư u.
+ Nguyên âm đôi
3 nguyên âm đôi: iê (yê ia ya) ươ(ưa) uô(ua)
+ Bán nguyên âm
2 bán nguyên âm: /w/ /j/ Mỗi bán nguyên âm có 2 cách chữ viết:
/ j / : i y
/ w /: u o
Trang 36nguyên âm đơnnguyên âm đơn + phụ âm cuốinguyên âm đơn + bán nguyên âm
âm đệm /w/ + nguyên âm + phụ âm cuối/bán nguyên âmTheo tổng kết và mô tả ngữ âm tiếng Việt của cuốn sách nhƣ trên, tiếngViệt bao gồm 11 nguyên âm đơn, 3 nguyên âm đôi, 2 bán nguyên âm và 22phụ âm Chúng tôi có thể kết luận rằng: cuốn này là căn cứ vào âm để nhậndiện chữ viết Cách giảng dạy của cuốn này là dạy theo âm và biểu hiện bằngchữ viết trong giáo trình
Trong giáo trình, phần trình bày ngữ âm bao gồm 11 nguyên âm đơn, 22phụ âm, 23 nguyên âm đôi, 13 nguyên âm ba và kết cấu vần của âm tiết
+ nguyên âm đơn
11 nguyên âm đơn: a ă e ê i(y) o ô ơ â ư u.
+ nguyên âm đôi
Trang 37Có 23 nguyên âm đôi Căn cứ vào đặc điểm phát âm, nguyên âm đôiđược chia thành ba lọai: tiền hưởng (前响), hậu hưởng (后响) và toàn hưởng(全响) nguyên âm đôi Trong đó có 3 toàn hưởng: ia (iê), ua(uô), ưa(ươ); 15
tiền hưởng: ai, ơi, oi, ôi, ui, ưi, ay, ây, ao,eo, êu, iu, ưu, au, âu; 5 hậu hưởng:
oa(ua), uơ, oe(ue), uê, uy.
+ nguyên âm ba
Có 13 nguyên âm ba Cũng căn cứ vào đặc điểm phát âm, nguyên âm bađược chia thành tiền hưởng (前响), trung hưởng (中响) và hậu hưởng (后响) Trong đó, có 4 tiền hường: iêu, uôi, ươi, ươu; 8 trung hưởng: oai(uai),oao(uao), oay(uay), oau(uau), uây, oeo(ueo), uêu, uiu(uyu); 1 hậu hưởng: uya+ phụ âm
23 phụ âm: p b m n ph v h th t đ l c(k q) kh g(gh) x s ch tr d(gi) r (không
Trang 38nguyên âm ba + phụ âm cuốiCuốn này giống “cuốn 1”, căn cứ vào chữ viết để nhận diện âm Một chữcái nguyên âm là nguyên âm đơn, hai chữ nguyên âm là nguyên âm đôi, bachữ cái nguyên âm là nguyên âm ba Cách giảng dạy của cuốn này là dạy theochữ.
1.6 Cuốn 6
Trong giáo trình, phần ngữ âm bao gồm 11 nguyên âm đơn, 22 phụ âm, 2bán nguyên âm, 3 nguyên âm đôi và các lọai vần
+ nguyên âm đơn
11 nguyên âm đơn: a ă e ê i(y) o ô ơ â ư u.
Trang 39nguyên âm đơn + bán nguyên âm
nguyên âm đơn + phụ âm cuối
nguyên âm đôi + bán nguyên âm
nguyên âm đôi + phụ âm cuối
âm đệm /w/+ nguyên âm đơn/đôi
âm đệm/w/+ nguyên âm+ phụ âm cuối
Theo tổng kết và mô tả ngữ âm tiếng Việt của cuốn sách nhƣ trên, tiếngViệt bao gồm 11 nguyên âm đơn, 3 nguyên âm ba, 2 bán nguyên âm và 22 phụ
âm Chúng tôi có thể kết luận rằng: cuốn này là căn cứ vào âm để nhận diệnchữ viết Cách giảng dạy của cuốn này là dạy theo âm và biểu hiện bằng chữviết trong giáo trình
1.7 Cuốn 7
Trong âm tiết tiếng Việt, có 11 nguyên âm đơn, 22 phụ âm, 2 bán nguyên
âm, 3 nguyên âm đôi Trong giáo trình, phần ngữ âm đƣợc thể hiện bằng âmvị
/p/
/t/
/ b/
/j/
/ m/
/ʐ/
/ n/
/ɲ/
/f/
/ŋ/
/ v/
/ t' / /h/
/ t/
/d/
/l/
/k/
+ bán nguyên âm
Trang 402 bán nguyên âm:
+ nguyên âm đôi
3 nguyên âm đôi: /ie/ /uo/ /ɯə/ + kết cấu của vần
nguyên âm + bán nguyên âmnguyên âm + phụ âm cuối
âm đệm + nguyên âm + phụ âm cuốiTheo tổng kết và mô tả ngữ âm tiếng Việt của cuốn sách như trên, tiếngViệt bao gồm 11 nguyên âm đơn, 3 nguyên âm đôi, 2 bán nguyên âm và 22phụ âm Chúng tôi được kết luận rằng: cuốn này là căn cứ vào âm để nhậndiện chữ viết Cách giảng dạy của cuốn này là dạy theo âm và biểu hiện bằngchữ viết trong giáo trình
Giáo trình này bao gồm hai phần, phần ngữ âm và phần hội thoại Trongphần ngữ âm, bao gồm 6 thanh điệu, 11 nguyên âm đơn, 24 phụ âm, 23nguyên âm ghép đôi, 12 nguyên âm ghép ba và phần vần
+ nguyên âm đơn
11 nguyên âm đơn: a ă e ê i(y) o ô ơ â ư u.
+ nguyên âm ghép đôi (二合元音)
Có 23 nguyên âm ghép đôi Trong âm tiết tiếng Việt có 12 tiền hưởngnguyên âm ghép đôi (前响二合元音): ai, ao, eo, êu, ia, iu, ơi, oi, ôi, ui, ưi,
33