1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao giữa việt nam và nhật bản từ năm 1995 đến 2017

95 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 261,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng giữaViệt Nam và Nhật Bản đã phát triển ngày một nhanh chóng và góp phần quantrọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-DƯƠNG THU PHƯƠNG

HỢP TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO GIỮA VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN TỪ

NĂM 1995 ĐẾN 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

Hà Nội - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-DƯƠNG THU PHƯƠNG

HỢP TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO GIỮA VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN TỪ

NĂM 1995 ĐẾN 2017

Chuyên ngành: QUAN HỆ QUỐC TẾ

Mã số: 60 31 02 06

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS PHẠM HỒNG THÁI

Hà Nội - 2018

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết, ý nghĩa của đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Cấu trúc của luận văn 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN HỆ VIỆT NAM - NHẬT BẢN TRONG LĨNH VỰC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO 8

1.1 Cơ sở lý luận 8

1.1.1 Khái niệm về hợp tác trong quan hệ quốc tế 8

1.1.2 Khái niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao 9

1.2 Bối cảnh quan hệ Việt Nam - Nhật Bản trong lĩnh vực hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao 11

1.2.1 Bối cảnh thế giới 11

1.2.2 Bối cảnh Việt Nam 12

1.2.3 Bối cảnh Nhật Bản 17

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ HỢP TÁC VIỆT NAM -NHẬT BẢN TRONG LĨNH VỰC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TỪ NĂM 1995 ĐẾN 2017 23

2.1 Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo 23

2.2 Hợp tác Việt Nam - Nhật Bản trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao 29

2.2.1 Quan điểm của hai quốc gia trong hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao 29

Trang 4

2.2.2 Các hoạt động nổi bật trong hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chất

lượng cao giữa Việt Nam và Nhật Bản 33

CHƯƠNG 3: TRIỂN VỌNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUAN HỆ VIỆT NAM - NHẬT BẢN TRONG HỢP

3.1 Các thành tựu đã đạt được 57

3.2 Đánh giá triển vọng trong hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng

cao giữa Việt Nam và Nhật Bản. 58

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Xu hướng dân số Nhật Bản 19Bảng 2.1 Số lượng sinh viên nước ngoài tại Nhật Bản năm 2016 24Bảng 2.2 Số học viên, cơ sở đào tạo, giáo viên tiếng Nhật tại Việt Nam 26Bảng 2.3 Kết quả phải cử tình nguyện viên sang Việt Nam tính đến tháng 3năm 2018 35Bảng 2.4 Các đối tác của ĐHQGHN trong khu vực Châu Á 44

Trang 6

MỞ ĐẦU

Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế,mỗi quốc gia đều cần tăng cường những nguồn lực cho sự phát triển Đó lànhững nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn và thị trường, vốn tri thứckhoa học – công nghệ, dân cư và nguồn lao động, các chính sách và cơ sở hạtầng Trong đó, nhân lực chất lượng cao đóng vai trò then chốt trong sự pháttriển của mỗi quốc gia, và Việt Nam cũng không nằm ngoại lệ

Trong những năm gần đây, quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng giữaViệt Nam và Nhật Bản đã phát triển ngày một nhanh chóng và góp phần quantrọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam.Nhật Bản làmột trong những nước nước tài trợ ODA nhiều nhất cho Việt Nam.Hai nước

đã kí rất nhiều thỏa thuận hợp tác về nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có

“chương trình hợp tác chiến lược về giáo dục và đào tạo”.Nhật Bản luôn tíchcực trong việc hỗ trợ, giúp đỡ đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tạiViệt Nam với những thành tựu rất đáng ghi nhận

Nghiên cứu về quan hệ hợp tác Việt Nam – Nhật Bản trong đào tạonguồn nhân lực chất lượng cao có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.Nhật Bản làmột nước vô cùng thành công trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực vớitrình độ cao.Thực tế đã cho thấy, Nhật Bản là một nước nghèo về tài nguyênthiên nhiên, bênh cạnh đó lại có những bất lợi vì hay gặp thiên tai như độngđất, núi lửa Đặc biệt sau Chiến tranh Lạnh, Nhật Bản đã gặp nhiều khó khăn

do kinh tế suy thoái Tuy nhiên, Nhật Bảnkhông ngừng nỗ lực vươn lên với đểkhẳng định vị thế cường quốc hàng đầu thế giới và coi nguồn nhân lực chấtlượng cao chính là là một trong những động lực then chốt cho sự phát triểnmạnh mẽcủa mẽ của đất nước trong thế kỷ XXI

Ở nước ta hiện nay, yếu tố con người có một vai trò vô cùng quan trọngđối với của sự phát triển, của công cuộc xây dựng và bảo Tổ quốc.Việt Nam

1

Trang 7

xác định được rằng nguồn nhân lực có trình độ cao chính là yếu tố mang tínhquyết định, ảnh hưởng tới quá trình đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội bởi

“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”

Chương trình hợp tác chiến lược về giáo dục giữa Việt Nam và NhậtBản đã khẳng định quyết tâm của hai nước về việc tập trung cho hợp tác trongphát triển nguồn nhân lực giữa Việt Nam và Nhật Bản Mối quan hệ hợp tácnày đã, đang và vẫn sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tạo đà cho việc thúc đẩy

sự đi lên của Việt Nam

Vì thế, việc nghiên cứu quan hệ hợp tác trong phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao giữa Việt Nam và Nhật Bản sẽ giúp chúng ta hình dung đượcmối quan hệ gắn bó lâu dài, hỗ trợ nhau giữa hai nước, đồng thời thấy đượcnhững đóng góp của mối quan hệ này đối với sự phát triển của Việt Nam Bêncạnh đó, có thể chỉ ra những yếu tố tác động đến sự phát triển nguồn nhân lựctại Việt Nam.Qua đó, có thể chỉ ra những ưu điểm cũng như những hạn chế

mà chúng ta đang gặp phải.Từ đó, nghiên cứu sẽ đóng góp thêm được nhữnggiải pháp hữu ích đối với Việt Nam góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hộicủa đất nước

Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản luôn là một đề tài nhậnđược nhiều sự quan tâm với nhiều nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau.ỞViệt Nam, hiện nay đã nhiều cuốn sách đề cập đến quan hệ Việt Nam – NhậtBản Trong đó có nhắc tới các chính sách, đường lối ngoại giao của hai quốcgia, cũng như vấn đề về hợp tác trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, vănhóa - giáo dục Những công trình nghiên cứu về quan hệ ngoại giao giữa ViệtNam và Nhật Bản rất đa dạng và phong phú

Có thể kể đến những cuốn sách như “Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản 40năm nhìn lại và định hướng tương lai” (GS TS Nguyễn Quang Thuấn, TS.Trần Quang Minh, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2014), “Thúc đẩy

Trang 8

quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam- Nhật Bản trong bối cảnh mới ở ĐôngÁ”(TS Trần Quang Minh, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, HàNội,2015) Ở những công trình này, các tác giả đề cập đến những đặc trưngnổi bật, những vấn đề trong hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản, bên cạnh đócung cấp cho người đọc những hiểu biết toàn diện về quan hệ giữa hai nướctrong các lĩnh vực như an ninh, chính trị, văn hóa, kinh tế xã hội Đồng thời,những cuốn sách trên còn nêu lên những triển vọng hợp tác, những cơ hội vàthách thức cho Việt Nam.Đây là những nguồn tham khảo hữu ích cho các nhànghiên cứu, các học giả và những nhà hoạch định chính sách về quan hệ ViệtNam – Nhật Bản.

Ngoài ra còn có những công trình hợp tác nghiên cứu chung giữa hainước, ví dụ như cuốn sách “Những bài học về quan hệ Việt Nam – Nhật Bản”(Kimura Hiroshi, Furuta Motoo, Nguyễn Duy Dũng, Nhà xuất bản Thống Kê,

Hà Nội, 2005) được dịch sang Tiếng Việt.Cuốn sách đề cập đến lịch sử quan

hệ giữa hai quốc gia, phân tích những chính sách và ảnh hưởng của chúng đốivới quan hệ hai bên, những sự kiện quan trọng và quá trình thay đổi nhận thứccủa hai nước

Những cuốn sách trên đề cập tới quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bảntrên nhiều lĩnh vực, tuy nhiên quan hệ hợp trong đào tạo nguồn nhân lực chấtlượng cao thường được lồng ghép chung trong mối quan hệ hợp tác về giáodục và đào tạo

Mặc dù chưa nhiều, nhưng chủ đề về hợp tác Việt Nam – Nhât Bảntrong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, nhất là đào tạo nguồn nhân lực chất lượngcao cũng đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu trong thời giangần đây Đa phần các công trình loại nàychủ yếu viết về kinh nghiệm trongviệc phát triển nguồn nhân lực tại Nhật Bản Ví dụ như “Phát triển nguồnnhân lực trong các công ty Nhật Bản hiện nay” (TS Trần Thị Nhung,PGS.TS Nguyễn Duy Dũng, Nhà xuất bản Khoa học xã hôi, Hà Nội, 2005),

3

Trang 9

cuốn sách “Quản lí nguồn nhân lực ở doanh nghiệp Nhật Bản và bài học kinhnghiệm cho doanh nhân Việt Nam”, T.S Phạm Quý Long, Nhà xuất bản Khoahọc xã hội, Hà Nội, 2008) Những cuốn sách trên đề cập tới thực trạng nguồnnhân lực tại Nhật Bản, về đào tạo nguồn nhân lực, mô hình và hệ thống quản

lý nhân lực độc đáo của Nhật Bản gần đây, từ đó mang lại những bài học sátthực và kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam trong đào tạo và quản lý nhânlực Đây là những tài liệu bổ ích cho các nhà quản lý doanh nghiệp của ViệtNam trong tiến trình hội nhập quốc tế hiện nay

Bên cạnh đó, nhiều ấn phẩm đề cập về nguồn nhân lực cũng được xuấtbản, như “Phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam trước làn sóng đầu tư mớicủa các công ty xuyên quốc gia Nhật Bản” (Đinh Trung Thành, Viện NghiênCứu Đông Bắc Á, 2013), bài viết về thực trạng nguồn nhân lực Việt Namtrong các công ty xuyên quốc gia Nhật Bản hoạt động tại Việt Nam, chỉ rathực trạng về nguồn lao động, những ưu thế cũng như hạn chế của lao độngViệt nam Thêm vào đó, tác giả cũng nêu ra những giải pháp nhằm nâng caochất lượng của lao động Việt Nam trong bối cảnh mới

Về đề tài hợp tác trong lĩnh vực giáo dục giữa Việt Nam và Nhật Bản,

có thể kể đến những bài viết như “Xây dựng hợp tác giáo dục Việt Nam –Nhật Bản bền vững” (Minh Hà, Báo Giáo dục thời đại, 2017), “Quan hệ ViệtNam – Nhật Bản trong lĩnh vực giáo dục những năm gần đây” (Trần Mỹ Hoa,Viện Nghiên Cứu Đông Bắc Á, 2016),“Hợp tác giáo dục và đào tạo nguồnnhân lực giữa Việt Nam và Nhật Bản” (Th.s Ngô Hương Lan, Viện NghiênCứu Đông Bắc Á, 2013).Các tác giả đã nêu lên vấn đề cần quan tâm và đưa ranhững nhận xét tổng quan về quan hệ hợp tác trong lĩnh vực giáo dục giữa hainước trên nhiều cấp độ từ tiểu học, trung học đến đại học và đào tạo nguồnnhân lực, giúp người đọc hình dung một cách khái quát về hợp tác giữa ViệtNam và Nhật Bản trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.Ngoài ra còn có rất

Trang 10

nhiều bài báo nói về tầm quan trọng của việc hợp tác đào tạo nguồn nhân lực,tuy nhiên chưa có những nghiên cứu chuyên sâu về đề tàinày.

Có thể thấy, những nghiên cứu về quan hệ Việt Nam và Nhật Bản tậptrung vào vấn đề kinh tế là chủ yếu Vấn đề hợp tác trong giáo dục và đào tạogiữa Việt Nam và Nhật Bản hiện nay cũng đã được quan tâm hơn, tuy nhiên hầunhư chưa có những đề tài nghiên cứu, và phân tích chuyên sâu về vấn đề này

Mặc dù vậy, các công trình nêu trên chủ yếu tập trung nghiên cứu vềkhía cạnh thực tiễn, chính sách, những bài học rút ra từ quá trình giáo dục vàđào tạo nói chung cũng như giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực chất lượngcao của Nhật Bản Việc nghiên cứu, đề cập đến chủ đề hợp tác Việt Nam –Nhật Bản trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao vẫncòn là chủ đề còn chưa được quan tâm đến một cách có hệ thống, nhất là làm

rõ nó từ góc độ nghiên cứu khoa học

3.1 Mục đích của luận văn

Phân tích quan hệ hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực chất lương caogiữa Việt Nam và Nhật Bản trong thời gian qua Trên cơ sở đó, luận văn làm

rõ vị trí, vai trò của hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong quan

hệ Việt Nam – Nhật Bản; bước đầu đánh giá những thành tựu, hạn chế và nêumột số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng của việc hợp tác giữahai nước trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lương cao trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ chính của luận văn

- Làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của quan hệ hợp tác Việt Nam –Nhật Bản trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

- Đánh giá tổng quan mối quan hệ hợp tác Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn từ 1995 đến 2017

5

Trang 11

- Đánh giá thành tựu, chỉ ra hạn chế của quan hệ hợp tác Việt Nam –Nhật Bản trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

- Đánh giá triển vọng và bước đầu đưa ra một số giải pháp nhằm nângcao hiệu quả, chất lượng trong hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao giữa Việt Nam và Nhật Bản

Đối tượng nghiên cứu chính là quan hệ hợp tác trong đào tạo nguồnnhân lực chất lượng cao giữa Việt Nam và Nhật Bản

Phạm vi về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích thựctrạng, những yếu tố tác động và những triển vọng trong hợp tác đào tạo nguồnnhân lưc chất lượng cao giữa hai nước Bên cạnh đó, để thấy được rõ hơntổng thể quan hệ hợp tác giữa hai bên, luận văn cũng đề cập đến một số lĩnhvực hợp hợp tác trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo nói chung làm cơ sở choquan hệ hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao giữa Việt Nam vàNhật Bản

Phạm vi về thời gian: Trọng tâm nghiên cứu của đề tài là từ năm 1995đến năm 2017

Lý do chọn mốc thời gian từ năm 1995:

Hai nước Việt Nam – Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao từ ngày21/9/1973 Tuy nhiên trong giai đoạn từ 1979 đến 1990, Nhật Bản đã tạmdừng các khoản viện trợ cho Việt Nam vì vấn đề biên giới Campuchia Từnăm 1992, Nhật Bản mới mở lại viện trợ cho Việt Nam Năm 1995 là một cộtmốc quan trọng khi Nhật Bản là nước G-7 đầu tiên đón Tổng Bí thư Việt Namđến thăm Từ đó đến nay, quan hệ giữa hai nước không ngừng được mở rộng,củng cố và phát triển

Trang 12

Luận văn được tiến hành dựa trên việc tìm hiểu và nghiên cứu nhữngtài liệu đề cập đến quan hệ giữa hai nước Việt Nam – Nhật Bản, đặc biệt làtrong lĩnh vực giáo dục – đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng

và trình độ cao.Bởi vậy, trong luận văn sẽ sử dụng phương pháp phân tích VÀtổng hợp những nguồn chính thống và tài liệu của các học giả có liên quanđến vấn đề này

Ngoài ra, các phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích, phươngpháp so sánh và các phương pháp quan hệ quốc tế khác cũng được sử dụngtrong luận văn này

Luận văn cũng kế thừa một số kết quả phân tích, đánh giá từ nhữngnghiên cứu đi trước trên những khía cạnh có liên quan đến chủ đề nghiên cứu

Với những mục tiêu nêu trên, ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mụctham khảo, luận văn sẽ được trình bày theo bố cục sau:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của quan hệ hợp tác Việt Nam –Nhật Bản trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

Chương 2: Thực trạng quan hệ hợp tác Việt Nam – Nhật Bản trong lĩnhvực đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao từ năm1995 đến 2017

Chương 3: Triển vọng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả,chất lượng quan hệ Việt Nam – Nhật Bản trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhânlực chất lượng cao

7

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN HỆ VIỆT NAM – NHẬT BẢN TRONG LĨNH VỰC ĐÀO TẠO NGUỒN

NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm về hợp tác trong quan hệ quốc tế

Trong bối cảnh Thế giới hiện nay, toàn cầu hóa đang trở thành một xuhướng tất yếu có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi quốc gia.Toàn cầu hóa đã dẫntới những mạng lưới liên kết toàn cầu, thị trường giao thương, thương mạigiữa các nước ngày càng được mở rộng Thông qua quá trình toàn cầu hóa, sựphụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia tăng lên và cũng xuất hiện những vấn đềtoàn cầu mà chỉ một quốc gia đơn lẻ thì không giải quyết được, ví dụ như tìnhtrạng nóng lên toàn cầu, chủ nghĩa khủng bố Điều này đã dẫn tới sự cần thiếttrong hợp tác giữa các quốc gia

Song hành cùng tiến trình phát triển của lịch sử, hợp tác đã tồn tại cùngcác cộng đồng sơ khai Theo GS.TSHoàng Khắc Nam: “Hợp tácđã tồn tạingay từ đầu lịch sử loài người, cùng với sự hình thành các cộng đồng sơ khainhư bầy đàn, công xã, thị tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc Khi xuất hiện các chủthể quan hệ quốc tế tức là khi quốc gia và dân tộc hình thành, hợp tác đã trởthành hợp tác quốc tế”.1Từ đó đến nay, hợp tác quốc tế đã dần dần phát triển

về hình thức, lĩnh vực, cũng như quy mô

Trong quan hệ quốc tế, hợp tác là hành vi tương tác hòa bình giữa cácchủ thể quan hệ quốc tế (bao gồm các chủ thể quốc gia và các chủ thể phiquốc gia) nhằm thực hiện một mục đích chung.Trong đó, chủ thể quốc gia làchủ thể cơ bản và có vai trò lớn nhất.Mục đích của hợp tác quốc tế chính lànhằm đảm bảo hòa bình và lợi ích của các quốc gia.Hợp tác không những

1 GS.TS Hoàng Khắc Nam, Giáo trình Nhập môn Quan hệ Quốc tế, Nhà xuất bản Đại Học Quốc gia Hà Nội, trang 222

Trang 14

đem lại những lợi ích cho các bên tham gia, mà còn làm giảm nguy cơ xung đột giữa các quốc gia.

Chúng ta có nhiều cách để phân loại hợp tác quốc tế

- Phân loại theo lĩnh vực hoạt động: hợp tác chính trị, hợp tác về văn hóa, kinh tế…

- Phân loại theo quy mô: hợp tác khu vực (EU, ASEAN), hợp tác toàncầu (UN, WTO)

- Phân loại theo số lượng chủ thể tham gia: hợp tác song phương, hợptác đa phương

Với phạm vi của luận văn, tác giả đề cập chủ yếu đến hợp tác giữa 2chủ thể chính là Việt Nam và Nhật Bản, trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhânlực chất lượng cao

1.1.2 Khái niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao

Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: “Nguồn nhân lực là tất cả nhữngkiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người cóquan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”.Còn theo Ngânhàng Thế Giới, thì nguồn nhân lực là “toàn bộ vốn con người, bao gồm thểlực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân”

Như vậy, theo các tổ chức quốc tế thì nguồn nhân lực chính là toàn bộlực lượng lao động cùng với tất cả những năng lực về sức mạnh thể chất, trítuệ, tinh thần của từng cá nhân được huy động để phục vụ cho quá trình pháttriển của một xã hội, quốc gia

9

Trang 15

Theo GS.TS Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềmnăng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động đượcchuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao độngnào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung),bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu laođộng, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.Theo cáchhiểu này, nguồn nhân lực chính là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động củamột địa phương hay một quốc gia, sẵn sàng tham gia và có khả năng tham gialao động ở các mức độ, yêu cầu khác nhau trong quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa của đất nước.

Có thể định nghĩa nguồn nhân lực chính là tổng thể về số lượng, chấtlượng, và cơ cấucủa lực lượng lao động, trong đó bao gồm những yêu cầu vềkhả năng lao động, phẩm chất đạo đức, tinh thần, trí tuệ, thể lực đáp ứng đượcyêu cầu trong lao động, sản xuất và phát triển của mỗi quốc gia

Nguồn nhân lực chất lượng cao

Theo TS Hoàng Minh Lợi: “Nguồn nhân lực chất lượng cao được xem

là một bộ phận của lực lượng lao động có khả năng đáp ứng được những yêucầu phức tạp của công việc, từ đó tạo ra năng suất, hiệu quả trong công việc,

có những đóng góp đáng kể cho sự tăng trưởng và phát triển của cộng đồngnói riêng, toàn xã hội nói chung”.2

Những yếu tố cốt lõi quyết định đến chất lượng của nguồn nhân lực:

Trang 16

thuật cao và được đào tạo bài bản, có những kỹ năng lao động vượt trội, cókhả năng sáng tạo và có thể vận dụng những kiến thức đã có vào trong côngviệc, trong lao động sản xuất để tạo ra năng suất cao Nguồn nhân lực chấtlượng cao còn là những lao động có khả năng thích ứng tốt với công việc,đem lại hiệu quả cao và có những phẩm chất đạo đức, tính kỷ luật tốt.

Hiện nay, với xu thế toàn cầu hóa, hợp tác và hội nhâp quốc tế ngàycàng phát triển đa dạng thì nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ cần đápứng những yêu cầu trong phạm vi của một quốc gia, mà cần có những kiếnthức về chuyên môn, nguồn nhân lực chất lượng cao cũng cần có những kỹnăng có thể đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động quốc tế như trình độngoại ngữ, kĩ năng làm việc nhóm…

1.2 Bối cảnh quan hệ Việt Nam – Nhật Bản trong lĩnh vực hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chất lƣợng cao

Tuy nhiên, sự cạnh tranh giữa các quốc gia ngày cũng ngày một giatăng.Các quốc gia ngoài việc tập trung vào thúc đẩy phát triển kinh tế, còn tậptrung vào nâng cao nâng lực cạnh tranh của mình.Trong xã hội hiện nay, khoahọc – công nghệ đã có những bước tiến vượt bậc, thương mại cũng được mởrộng, nền kinh tế tri thức ngày càng chiếm ưu thế, đòi hỏi những yêu cầu đặcbiệt về nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao Một trong những yếu

tố quan trọngcó thể giúp phát huy năng lực cạnh tranh giữa các quốc gia chính

11

Trang 17

là việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đảm bảo với yêu cầu của sự pháttriển khoa học công nghệ trong thời kỳ mới Chính vì lẽ đó, nhiều nước nướctrên thế giới đã có những chính sách nhằm phát triển nguồn nhân lực trongnước và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao đến từ nước ngoài Ngay trongkhu vực Châu Á và Đông Nam Á, đã có những nước được đánh giá cao vềnguồn nhân lực như Singapore, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philipines.

Hợp tác và cạnh tranh tưởng chừng như là hai khía cạnh tương phảnnhau, nhưng thực tế đã cho thấy rằng hai quá trình này cũng gắn liền với nhaubởi toàn cầu hóa khiến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng tăngcao.Nếu chỉ có cạnh tranh mà không hợp tác thì sẽ rất dễ nảy sinh ra nhữngmâu thuẫn và ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của các quốc gia.Bởi vậy,nhu cầu hợp tác cùng phát triển giữa các quốc gia trên mọi lĩnh vực là vô cùngcấp bách.Để các quốc gia có thể phát triển nói chung và đặc biệt là trong lĩnhvực phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng thì thì việc hợp tác làyêu cầu vô cùng quan trọng Bởi hợp tác chính là “cách tương tác có lợi cho

sự phát triển”.Không một quốc gia nào có đủ tiềm lực để phát triển nếu không

có hợp tác, muốn phát triển thì phải có hợp tác.3

1.2.2 Bối cảnh Việt Nam

Tính đến năm 2018, tức là sau hơn 30 năm Đổi Mới, nền kinh tế củaViệt Nam được đánh giá là đang trên đà phát triển Trong hội thảo "Triểnvọng kinh tế Việt Nam năm 2018 và đến năm 2020", Bộ trưởng Bộ KH&ĐT

Nguyễn Chí Dũng cho biết: “Thành tựu nổi bật nhất của năm 2017 là lần đầu tiên sau rất nhiều năm hoàn thành tất cả các chỉ tiêu kinh tế-xã hội mà Quốc hội giao; đạt được kết quả toàn diện, đồng đều trên tất cả lĩnh vực; các khu

3 GS.TS Hoàng Khắc Nam, “Giáo trình nhập môn Quan hệ Quốc Tế”, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội.

Trang 18

vực kinh tế như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ đều có mức tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực.”4

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánhgiá cao vai trò và trách nhiệm trong hội nhập và thực hiện các cam kết quốc

tế, thông qua việc tổ chức thành công nhiều sự kiện man tầm cỡ quốc tế như:APEC 2017, Hội nghị Thượng đỉnh Hợp tác Tiểu vùng Mekong mở rộng(GMS) lần thứ 6 năm 2018, Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN 2018

Đồng thời, từ những chia sẻ từ Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng: thứ hạngcủa Việt Nam trên các bảng xếp hạng quốc tế được cải thiện đáng kể Có thể

kể đến một số thành công bước đầu như: Chỉ số Năng lực cạnh tranh tăng 5bậc, Chỉ số Môi trường kinh doanh tăng 9 bậc, Chỉ số Đổi mới sáng tạo tăng

12 bậc Hơn thế nữa, xếp hạng về triển vọng của Việt Nam cũng được nâng

từ mức “ổn định” lên “tích cực”

Trong Hội thảo này, Bộ trưởng cũng nhận định: “Những thành tựu này

có ý nghĩa thiết thực khẳng định nước ta đã lớn mạnh, không còn là nước nhỏ,kém phát triển Góp phần đưa đất nước tham gia vào „sân chơi‟ mới của thếgiới một cách chủ động Đóng góp vào sự thịnh vượng chung của khu vực vàthế giới Đây là dấu ấn tích cực sau nhiều năm nỗ lực, phấn đấu”5

Ngoài những thành tựu đã đạt được trong phát triển về mọi mặt củaViệt Nam,chúng ta còn có những thế mạnh mà không phải quốc gia nào cũng

có được, đó chính là Việt Nam đang ở thời kỳ dân số vàng

Dụa theo biểu đồ của Tổng Cục thống kê chúng ta có thể thấy, từ Quý

II năm 2012 đến Quý II năm 2017, dân số của Việt Nam Trong độ tuổi từ 15 tuổi trở lên và lực lượng lao động đều có sự tăng trưởng

4 Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2018 và đến năm 2020, http://www.mpi.gov.vn/ Pages/tinbai.aspx?idTin=39716&idcm=49

5 Nhiều lý do để tin vào triển vọng kinh tế Việt Nam năm

2018,http://baochinhphu.vn/Kinh-te/Nhieu-ly-do-de-tin-vao-trien-vong-kinh-te-Viet-Nam-nam-2018/336433.vgp

13

Trang 19

(Đơn vi ̣tính: nghìn người)

Biểu đồ1: Dân số15 tuổi trởlên vàlưc ̣ lương ̣ lao đông ̣

ViêṭNam Q2/2012, Q 2/2017

(Nguồn: Điều tra lao động việc làm, Tổng Cục Thống Kê) Cũng theo Tổng

cục Thống kê, dân số Việt Nam hiện ở mức 94-95 triệu người và dự báo sẽ

giữ ổn định ở mức 104 triệu vào năm 2030 Điều này cũng

có ý nghĩa rằng tỷ lệ số người trong độ tuổi lao động hiện nay là khoảng 75%

Quốc gia nào có cơ cấu dân số đạt mức trên được gọi là thời kỳ “dân sốvàng” và Việt Nam đã có khoảng 10 năm ở thời kỳ này.Vì vậy, Việt Nam cần

cố gắngtận dụng tối đa những ưu thế về nguồn nhân lực để có thể phát huyđược tiềm lực về nguồn lao động sẵn có của mình và tránh khỏi tình trạng

“chưa giàu đã già”

Việt Nam có một nguồn nhân lực dồi dào, tuy nhiên chất lượng củanguồn nhân lực còn khá khiêm tốn.điều này được thể hiện qua những chỉ sốnhư: tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chỉ chiểm 17,9%; tỷ lệ nhân lực được đào

Trang 20

tạo trình độ cao (từ đại học trở lên) trong tổng số lao động qua đào tạo là 6,9%vào năm 2013.6

Theo nghiên cứu của Viện Khoa học Lao Động và Xã Hội, cơ cấu vàchất lượng lao động trình độ cao của Việt Nam chưa được như mong đợi ViệtNam chưa có đủ điều kiện để đào tạo và sử dụng lực lượng lao động có trình

độ chuyên môn cao một cách hợp lý và hiệu quả Việc sử dụng lãng phí nguồnlực quan trọng nhất của đất nước sẽkhiến cho sức cạnh tranh của nền kinh tếtrở nên yếu kém.7Thực trạng nguồn nhân lực của Việt Nam thực sự chưa đápứng được những yêu cầu trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước

Theo Th.S Tô Bình Minh, giảng viên Trường đại học ngoại thương - cơ

sở 2 tại TP Hồ Chí Minh, Giám đốc Trung tâm hợp tác nguồn nhân lực ViệtNam - Nhật Bản (VJCC) TP.Hồ Chí Minh: “ Nguồn nhân lực của Việt Nam

so với Nhật Bản hiện nay còn có khoảng cách rất xa Ngay cả với nhiều nướctrong khu vực ASEAN, như: Thái Lan, Singapore, Malaysia chúng ta cũngkém họ về nguồn nhân lực, thậm chí có nghiên cứu còn đánh giá nhân lực củaViệt Nam thua cả Lào ở một vài tiêu chí”.8

Vì vậy, Việt Nam rất coi trọng việc đào tạo, phát triển và nâng cao chấtlượng của nguồn nhân lực.Đảng và Nhà nước đã xác định được vai trò quantrọng của nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế Tại Ðại hội XI của Ðảng, Ðảng ta

đã xác định ba mục tiêu chiến lược: “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng

6 TS Đặng Xuân Hoan,Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2015-2020 đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ,

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu- giai-doan-20152020-dap-ung.aspx

Traodoi/2015/32972/Phat-trien-nguon-nhan-luc-Viet-Nam-7 Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Lao động trình độ cao: Nhân tố quyết định để phát triển bền vững đất nước, http://ilo.org/wcmsp5/groups/public/ -asia/ -ro-bangkok/ -ilo- hanoi/documents/publication/

wcms_428973.pdf

8Hương Giang, Nguồn nhân lực Việt Nam còn thua kém nhiều nước khác,

http://vjcchcmc.org.vn/tin-tuc/298/23-nguon-nhan-luc-viet-nam-con-thua-kem-nhieu-nuoc-khac.html

15

Trang 21

đồng bộ; và phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chấtlượng cao” để đạt được đã đề ra "đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thànhnước công nghiệp theo hướng hiện đại".Bên cạnh đó “phát triển, nâng caochất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực; phát triển khoahọc, công nghệ và kinh tế tri thức” là một trong những nhiệm vụ chủ yếu củaĐất nước.9

Trong thời gian qua, Viêt Nam đã tích cực đẩy mạnh việc đào tạonguồn nhân lực chất lượng cao thông qua “Chiến lược phát triển nhân lựcViệt Nam thời kỳ 2011- 2020” ban hành kèm theo Quyết định số 579/ QĐ-TTg ngày 19/4/2011 của Thủ tướng Chính phủ và “Quy hoạch phát triển nhânlực Việt Nam giai đoạn 2011 -2020” ban hành kèm theo Quyết định số 1216/QĐ- TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ

Hơn thế nữa, Việt Nam luôn tích cực đẩy mạnh hợp tác quốc tế tronglĩnh vực đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.Có thể nói rằng, ViệtNam đang rất có nhu cầu trong hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượngcao.Trong các hoạt động hợp tác quốc tế văn hóa – giáo dục những năm qua,Việt Nam đã cử được nhiều cán bộ đi giảng dạy, nghiên cứu, nâng cao trình

độ ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, qua đó chúng ta đào tạo đượcnguồn nhân lực chất lượng cao Bên cạnh đó, nhiều chương trình, nhiều quỹhọc bổng nhằm đào tạo và phát triển nguồn nhân lượng chất lượng cao cũngđược ký kết với nhiều nước trên Thế giới.Trong đó, Nhật Bản luôn là một đốitác tin cậy, hỗ trợ rất nhiều cho Việt Nam trong lĩnh vực này.Hợp tác với NhậtBản trong đào tạo nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực chất lượngcao nói riêng sẽ đem lại nhiều lợi ích cho Việt Nam Thứ nhất, Việt Nam cóthể tận dụng những ưu thế về khoa học công nghệ và nền giáo dục

9 Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng,

http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ThongTinTongHop/noidungvankien daihoidang?categoryId=10000716&articleId=10038382

Trang 22

phát triển của Nhật Bản, từ đó học hỏi những kinh nghiệm quý báu, tiếp thunhững tinh hoa từ nền tri thức của quốc gia này Thứ hai, Nhật Bản là quốcgia có nhiều tiềm lực về kinh tế, có thể hỗ trợ về tài chính cho Việt Nam để

mở rộng quy mô cũng như phát triển các cơ sở, các chương trình,mô hình đàotạo chất lượng cao Bên cạnh đó, hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượngcao với Nhật Bản sẽ mở ra một thị trường lao động hứa hẹn, và tăng thêmnhiều cơ hội cho sinh viên, người lao động của Việt Nam có thể học tập, rènluyện và làm việc trong một môi trường chuyên nghiệp

1.2.3 Bối cảnh Nhật Bản

Nhật Bản là một quốc gia không có nhiều tài nguyên thiên nhiên, đấtđai hạn hẹp, hay gặp nhiều thiên tai, đây là đất nước duy nhất trên thế giới bịtàn phá nặng nề bởi hai quả bom nguyên tử, tuy nhiên, Nhật Bản vẫn có mộtsức trỗi dậy vô cùng mạnh mẽ và trở thành một trong những cường quốc trênthế giới Một trong những lý do quan trọng cho sự phát triển mạnh mẽ củaNhật Bản chính là bởi quốc gia này sở hữu một nguồn tài nguyên đặc biệtcho

sự phát triển, đó chính là con người Hay nói cách khác, chính là lực lượng laođộng và nguồn nhân lực chất lượng cao

Dựa theo báo cáo của Liên Hợp Quốc về chỉ có phát triển con ngườiHDI (Human Development Index) năm 2016, Nhật Bản là quốc gia xếp thứ

17 với tổng điểm 0,903 trên thang điểm 1,0 Chỉ số này được đánh giá dựatrên một số tiêu chí như sức khỏe, tri thức, thu nhập, bình đẳng giới, môitrường cho sự phát triển bền vững cùng nhiều tiêu chí khác.Hơn thế nữa, từnăm 1990 đến nay, chỉ số phát triển con người của Nhật Bản luôn có xuhướng gia tăng.10

Nguồn nhân lực của Nhật Bản cũng luôn được đánh giá cao, chỉ sốnhân lực HCI (Human CapitalIndex) của Nhật Bản do diễn đàn kinh tế Thế

10 United Nations: Human Development Report , http://hdr.undp.org/en/countries/profiles/JPN#

17

Trang 23

giới (World Economic Forum) đánh giá những năm gần đây đều nằm trongtop đầu trên Thế giới (năm 2015: xếp thứ 5, năm 2016: xếp thứ 4).11

Nhật Bản đã sớm ban hành những đạo luật, cơ sơ sở pháp lý và nhữngchính sách cần thiết cho việc đào tạo nguồn nhân lực, những mô hình đào tạochất lượng cao mà Việt Nam có thể học hỏi.Để đáp ứng được những yêu cầu

về chất lượng của nguồn nhân lực trong thời kỳ mới, Bộ Giáo dục Nhật Bản

đã tiến hành cải cách về giáo dục.Có thể kể đến như cải cách kết nối giáo dụctrung học phổ thông và đại học (高大接続改革), tăng cường học tập tích cực(アクティブ・ラーニング), nâng cao năng lực cạnh tranh trên quy mô quốc

tế của các trường đại học Nhật Bản luôn chú trọng vào việc tạo ra một môitrường giáo dục chất lượng, giúp cho người học có khả năngtư duy, đổi mới,sáng tạo Bên cạnh đó còn tăng cường tạo ra những cơ hội học tập hoặc đàotạo, nâng cao năng lực cho những người đang đi làm Mục đích của nhữngchính sách này là để “thúc đẩy công cuộc cải cách giáo dục đại học, đáp ứng

kỳ vọng đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao đóng góp cho sự phát triểncủa xã hội”.12

Tuy có một nguồn nhân lực chất lượng cao, nhưng Nhật Bản lại đangphải đối mặt với một vấn đề nghiêm trọng và liên tục được nhắc tới gần đây,

đó chính là già hóa dân số

Từ thế kỷ 18 cho tới nửa đầu thế kỷ 19, dân số Nhật Bản giữ ở mức 30triệu người Bắt đầu từ thời kỳ Phục hưng Meji vào năm 1868, dân số củaNhật Bản đã gia tăng một cách đáng kể chỉ trong một thời gian ngắn Năm

1967, dân số của Nhật Bản đạt mức 100 triệu người.Tuy nhiên, sự gia tăngdân số của Nhật Bản trong những năm gần đây đã có dấu hiệu sụt giảm Tỷ lệ

11 World Economic Forum, Human Capital Index 2016,

12 Thạc sĩ Ngô Hương Lan, Chính sách và giải pháp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tại Nhật Bản,

http://cjs.inas.gov.vn/index.php?newsid=1171

Trang 24

gia tăng dân số trong những năm 1960 so với những năm 1970 không có sựthay đổi đáng kể Từ năm 1980 đến nay, tỷ lệ gia tăng dân số của Nhật Bản đã

bị thuyên giảm Tổng dân số Nhật Bản vào năm 2015 là hơn 127 triệu người,đến năm 2016 chỉ còn khoảng 126,93 triệu người, trong đó số người cao tuổichiếm khoảng 27,3% tổng dân số Dự báo đến năm 2020, con số này chỉ cònkhoảng 125,325 triệu người với tỷ lệ người cao tuổi chiếm khoảng 28,9% trêntổng dân số

Với tỷ lệ người cao tuổi như vậy, Nhật Bản đang thực sự đối mặt vớimột vấn đề nghiêm trong vấn đề lao động và nguồn nhân lực

(Nguồn: Bộ Nội Vụ và Truyền thông Nhật Bản)

13 Tác giả tổng hợp dựa theo báo cáo của Statistics Bureau Ministry of Internal Affairs and Communications Japan http://www.stat.go.jp/english/data/handbook/pdf/2017all.pdf

Trang 25

19

Trang 26

Để có thể duy trì một xã hội phát triển bền vững, Nhật Bản cần đảmbảo được nguồn nhân lực của mình cả về số lượng lẫn chất lượng đáp ứngđược những yêu cầu cho phát triển kinh tế, xây dụng đất nước Trong bối cảnhthiếu hụt trầm trọng lực lượng lao động, thì nguồn lao động nước ngoài chính

là giải pháp cho vấn đề này Ngoài những chính sách chú trọng việc giáo dục,đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước, Nhật Bản còn mở rộngnhững chính sách để thu hút nguồn lực từ nước ngoài

Theo số liệu của chính phủ Nhật Bản, cho tới cuối tháng 10 năm 2017,

có 1.278.670 người nước ngoài đang làm việc tại các công ty Nhật Bản, tăng18% (194 000 người) so với năm trước đó Đây cũng là mức tăng kỷ lục kể từkhi Nhật Bản bắt đầu thu thập số liệu vào năm 2008 Vào tháng 6 năm 2018,chính phủ Nhật Bản đã quyết định sẽ tiếp nhận hơn 500.000 người lao độngnước ngoài từ nay đến năm tài chính 2025, nhằm khắc phục tình trạng thiếuhụt nhân lực tại quốc gia này.14

Chính phủ Nhật Bản đang muốn biến đất nước này thành một điểm đếnhứa hẹn cho nguồn nhân lực chất lượng cao trên toàn thế giới, khuyến khích

sự đóng góp của các nhân lực có tay nghề cao vào sự phát triển kinh tế và cáclợi ích khác của Nhật Bản Ngày 1 tháng 4 năm 2015, nhân lực chất lượng cao(高度人材) đã trở thành một loại visa ở Nhật LoạiVisa dành cho nhân lựcchất lượng cao được thiết lập nhằm cho phép các chuyên gia có trình độ caođến từ nước ngoài có thể nhập cư vào Nhật Bản một cách dễ dàng hơn so vớitrước đây Trong đó đặc biệt chú trọng vào ngành nghiên cứu, giáo dục, ngànhcông nghệ thông tin và y tế, nhà đầu tư, người quản lí kinh doanh Bộ tư phápNhật Bản đã xây dựng một hệ thống tính điểm bao gồm: độ tuổi, bằng cấp,thành tích học tập, kinh nghiệm làm việc, thu nhập hàng năm, trình độ tiếngNhật, và một số các yếu tố khác, để tính tổng số điểm cho từng

14 Phan Cao Nhật Anh, Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản, Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, Nhật Bản tăng cường tiếp nhận người lao động nước ngoài, http://cjs.inas.gov.vn/index.php?newsid=1373

20

Trang 27

ngườitrong từng lĩnh vực cụ thể, từ đó xem xét việc cấp visa cho những người

có số điểm đạt yêu cầu (từ 70 điểm trở lên) Người lao động ngước ngoài cóvisa này sẽ được nhận rất nhiều đãi ngộ tốt như: được hoạt động trong nhiềulĩnh vực, thời hạn lưu trú 5 năm, có thể đưa bố mẹ, thậm chí cả người giúpviệc sang sống cùng.15

Đặc biệt hơn nữa, từ cuối tháng 3 năm 2017 nhân lực chất lượng cao ởNhật có thể được cấp vĩnh trú chỉ sau một năm sinh sống tại Nhật Đây là mứcthời gian được coi là ngắn nhất trên thế giới để người nước ngoài lấy vĩnh trú

ở một quốc gia Nếu như trước đây, thời gian để một người lao động nướcngoài có thể xin cấp vĩnh trú ở Nhật là 10 năm sống và làm việc tại Nhật, thì

với chính sách mới này, người nước ngoài đủ điều kiện đánh giá là “nhân lực chất lượng cao” ở Nhật sẽ có thể xin cấp vĩnh trú chỉ sau 3 năm Nhân lực

chất lượng cao với số điểm từ 80 trở lên có thể xin vĩnh trú chỉ sau 1 năm.16

Bênh cạnh những chính sách nhằm thu hút nhân tài, Nhật Bản cũng rấttích cực trong việc hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao với cácnước trên thế giới và trong khu vực, trong đó có Việt Nam.Việt Nam và NhậtBản có nhiều nét tương đồng về văn hóa, hơn thế nữa lại có mối quan hệ lâuđời, đây chính là nền tảng tốt đẹp để thúc đẩy hiểu biết lẫn nhâu, gia tăng hợptác từ đó thắt chặt hơn nữa quan hệ Việt Nhật trong tương lai Nguồn lao độngdồi dào của Việt Nam sẽ giúp khắc phục vấn đề thiếu hụt nhân lực trầm trọngcủa Nhật Bản

Đặc biệt hơn, trong những năm gần đây, tình hình thế giới nói chung cónhiều thay đổi và biến động không ngừng: sự nổi lên của chủ nghĩa dân túy,chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch; tranh chấp trên Bi ển Đông, biển Hoa Đông, vấn

15どのような優遇措置が受けられる優遇措置が受けられるが受けられる受けられるけられる,Cục xuất nhập cảnh Nhật Bản, Những quyền lợi ưu tiên dành cho người có Visa Nhân lực Chất lượng cao,

http://www.immi- moj.go.jp/newimmiact_3/en/preferential/index.html

16 高度人材ポイント制による出入国管理上の優遇制度制による出入国管理上の優遇制度による出入国管理上の優遇制度の優遇制による出入国管理上の優遇制度度, Cách tính điểm ưu tiên nhập cảnh cho Nhân lực chất lượng cao, Cục xuất nhập cảnh Nhật Bản,

http://www.immi- moj.go.jp/newimmiact_3/en/pdf/171110_leaflet.pdf

Trang 28

đề an toàn hàng hải tất cả những điều này đang đặt ra nhiều thách thức đốivới trật tự thế giới đã từng tồn tại trong suốt hơn 70 năm qua , cũng như đốivới Nh ật Bản và các nước Đông Nam Á Bên cạnh đó, tại Châu Á, nhữngcăng thẳng về việc tranh chấp lãnh thổ giữa Nhật Bản và hai nước láng giềng

là Trung Quốc và Hàn Quốc khiến cho tình hình ngày càng trở nên nguyhiểm.17Các nước lớn đều muốn bảo vệ và nâng cao vị thế của mình.Việt Nam

có một vị trí địa lý chiến lược đặc biệt quan trọng, vì vậy luôn nhân đượcnhiều sự quan tâm từ các nước lớn Thêm vào đó,Việt Nam còn là một đối táctin cậy, chia sẻ nhiều lợi ích với Nhật Bản Việc Nhật Bản tăng cường hợp tácvới các nước ASEAN, và đặc biệt là với Việt Nam, sẽ giúp Nhật Bản tăngcường sức mạnh về nhiều mặt: kinh tế, an ninh, chính trị, xã hội

Tiểu kết

Bước vào thời kỳ mới, toàn cầu hóa và cách mạng khoa học- công nghệdiễn ra ngày càng mạnh mẽ, đòi hỏi mỗi quốc gia phải tích cực chú trọng vàonguồn nhân lực chất lượng cao để đảm bảo cho sự phát triển bền vữn củamình Tại Việt Nam, nguồn nhân lực nước ta tuy dồi dào nhưng chất lượnglao động còn nhiều hạn chế Mặt khác, Nhật Bản là một quốc gia phát triển và

sở hữu một nền giáo dục tiên tiến Tuy nhiên, quốc gia này đang gặp phảinhững vẫn đề cấp bách do già hóa dân số, thiếu hụtlaođộng trầm trọng.Hợptác đào tạo nguồn nhân lực chính là một xu thế tất yếu, mang lại lợi ích cho cảhai bên Việc hai nước Việt Nam – Nhật Bản hợp tác đào tạo nguồn nhân lựcchất lượng cao đã mở ra một cơ hội cho hai nước, bước đầu giải quyết các vấn

đề về thiếu hụt lao động tại quốc gia mình, vừa tạo cơ hội để phát triển trongtương lai

17 Trần Mỹ Hoa, Tranh chấp lãnh thổ gây căng thẳng trong quan hệ Nhật- Trung-Hàn

http://cjs.inas.gov.vn/index.php?newsid=1328

22

Trang 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ HỢP TÁC VIỆT NAM NHẬT BẢN TRONG LĨNH VỰC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC

-CHẤT LƯỢNG CAO TỪ NĂM 1995 ĐẾN 2017

2.1 Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo

Từ năm 1995 đến nay, quan hệ hợp tác trong giáo dục – đào tạo giữahai nước ngày càng phát triển và mở rộng với quy mô ngày một lớn.Quan hệhợp tác giữa Việt Nam – Nhật Bản trong lĩnh vực giáo dụctuy không diễnmạnh mẽ và sôi nổi như trong lĩnh vực kinh tế, thương mại.Tuy nhiên, trongnhững năm gần đây, giáo dục đã dần trở thành một lĩnh vực quan trọng vàluôn nhận được sự quan tâm đặc biệt từ chính phủ hai nước

Hợp tác trong lĩnh vực giáo dục giữa Việt Nam và Nhật Bản chủ yếudiễn ra thông qua các chương trình hỗ trợ vốn ODA của Nhật Bản giúp ViệtNam xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho công cuộc giáo dục, các học bổngdành cho học sinh viên, và giảng dạy tiếng Nhật, giao lưu trao đổi văn hóa,tăng cường hiểu biết lẫn nhau, tổ chức các hội thảo về giáo dục, đẩy mạnhcông tác nghiên cứu về Nhật Bản tại Việt Nam và ngược lại.18

Viện trợ của Nhật Bản dành cho giáo dục và đào đạo tại Việt Nam

Viện trợ văn hóa không hoàn lại của Nhật Bản dành cho Việt Nam đượcthực hiện từ năm 1983 nhằm mục đích “phát huy việc bảo tồn tài sản văn hóa và

di sản văn hóa, biểu diễn, trưng bày liên quan đến văn hóa và hỗ trợ giáo dục,nghiên cứu”.19Kể từ đó, các dự án hỗ trợ được thực hiện với số lượng ngày càngnhiều và quy mô ngày một lớn hơn Hiện nay, Nhật Bản cũng là nước viện trợlớn nhất trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo tại Việt Nam.20 Nhờ vào sự giúp đỡ củaNhật Bản, Việt Nam đã cải tạo, xây dựng đượchàng

18 TS.Trần Quang Minh – TS.Phạm Quý Long, “Xây dựng đối tác chiến lược Việt Nam – Nhật Bản”, NXB

Từ điển Bách Khoa, trang 360.

19 Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, http://www.vn.emb-japan.go.jp/itpr_ja/Vn_VientroBaoton.html

20 Tài liệu cơ bản về Nhật Bản và quan hệ Việt Nam - Nhật Bản, Bộ Ngoại giao Việt Nam,

http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/cn_vakv/ca_tbd/nr040818111106/ns140708192556

Trang 30

trăm trường học tại các tỉnh vùng sâu vùng xa, những nơi vùng núi còn nhiềukhó khăn, giúp cải thiện điều kiện và nâng cao chất lượng, môi trường học tậpcho trẻ em Việt Nam.21

Hàng năm, chính phủ Nhật Bản, các quỹ hỗ trợ và các công ty của NhậtBản thường xuyên cấp học bổng cho sinh viên, nghiên cứu sinh của ViệtNam Số lượng người Việt Nam được nhận học bổng của Nhật Bản tăng dầntheo từng năm 22 Số lượng người Việt Nam chọn Nhật Bản làm điểm đến choviệc du học cũng tăng mạnh mẽ trong những năm gần đây Nếu năm 2013, chỉ

có khoảng 6,290 sinh viên Việt Nam theo học tại Nhật Bản và đứng thứ 3 về

số lượng sinh viên nước ngoài tại đây 23 Thì tính tới năm 2016, số lượng duhọc sinh của Việt Nam tại Nhật Bản lên đến53,807 người, chiếm 22,5% trêntổng số sinh viên nước ngoài tại Nhật Bản,đứng thứ 2 chỉ sau Trung Quốc(98,483 người).24

22 Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, http://www.vn.emb-japan.go.jp/document/pdf/thongtinhocbong.pdf

23 Japan Student Services Organization, International Students in Japan 2013,

https://www.jasso.go.jp/en/about/statistics/intl_student_e/2013/index.html

24 Japan Student Services Organization, International Students in Japan

2016,https://www.jasso.go.jp/en/about/statistics/intl_student_e/2016/ icsFiles/afieldfile/2018/02/23/data16_ e.pdf

25 Tác giả tự tổng hợp theo báo cáo của JASSCO

24

Trang 31

( Nguồn: Japan Student Services

Organization ) Về hoạt động dạy và học tiếng Nhật tại Việt Nam

Tiếng Nhật cũng được giảng dạy tại Việt Nam từ khá lâu từ những năm

1970 tại trường Đại học Ngoại Thương và Đại học Ngoại Ngữ Hà Nội nay làĐại học Hà Nội Số lượng người Việt Nam học tiếng Nhật trong những nămgần đây cũng có sự gia tăng mạnh mẽ

Theo Thống kê của Quỹ Giao lưu Quốc tế Nhật Bản, năm 1998 chỉ cókhoảng 10,000 người theo học Tiếng Nhật với khoảng 300 giáo viên, sau 10năm tức là vào 2008, số lượng người học tiếng Nhật là 30,000 với khoảng

1000 giáo viên.26Trong năm 2015, con số này đã tăng lên đến là 64,863người Việt Nam là quốc gia đứng thứ 8 trong 10 nước có số lượng người họcTiếng Nhật đông nhất trên thế giới, và đứng thứ 2 ở Đông Nam Á (sauIndonesia và Thái Lan).27Nhân dịp dịp kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệngoại giao Việt Nam-Nhật Bản, Đại sứ quán Nhật Bản tại Hà Nội và Bộ Giáodục và Đào tạo Việt Nam đã cùng hợp tác xúc tiến “Chương trình thí điểmdạy và học tiếng Nhật trong bậc THCS và THPT” vào năm 2003 Đến nay,quy mô về số lượng các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông củaViệt Nam giảng dạy tiếng Nhật và số học sinh theo học tiếng Nhật ngày mộtgia tăng.28

26 Shibahara Tomoyo, 2003, Đào tạo tiếng Nhật tại Việt Nam và triển vọng Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 1/2003.

27 Cao Lê Dung Chi, Dạy và Học tiếng Nhật trong thời đại toàn cầu,Tạp chí Khoa học, Trường ĐH Sư Phạm

28 Từ Lương , Kết quả thí điểm đưa tiếng Nhật vào trường học

http://baochinhphu.vn/Hoat-dong-dia-phuong/Ha-Noi-Ket-qua-thi-diem-dua-tieng-Nhat-vao-truong-hoc/170602.vgp

Trang 32

Bảng 2.2 Số học viên, cơ sở đào tạo, giáo viên tiếng Nhật tại Việt Nam29

Bên cạnh đó, từ ngày 15 tháng 9 năm 2016, đã có thêm 1 trường tiểuhọc của Thành phố Hồ Chí Minh và 4 trường tiểu học của Hà Nội (bao gồm 3

29 Quỹ giao lưu Quốc tế Nhật Bản, http://www.jpf.go.jp/e/project/japanese/survey/result/survey15.html

30 Nguyễn Ngọc Phương Trang, Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, Những sự kiện giao lưu văn hóa Việt Nam

- Nhật Bản nổi bật năm 2013, http://cjs.inas.gov.vn/index.php?newsid=756

26

Trang 33

trường công lập và 2 trường tư thục) bắt đầu khai giảng lớp học tiếng Nhậtdành cho học sinh lớp 3 Đây là thành công bước đầu trong những nỗ lực hợptác giữa hai nước để thực hiện việc đưa tiếng Nhật vào giảng dạy tại ViệtNam từ bậc tiểu học Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam cùng với Bộ Giáodục và Đào tạo Việt Nam với sự hợp tác của Trung tâm giao lưu văn hóa NhậtBản tại Việt Nam – Quỹ giao lưu quốc tế Nhật Bản sẽ tiếp tục phối hợp thựchiện, và dự kiến sẽ nhân rộng chương trình ra trên cả nước, thúc đẩy sự pháttriển của việc dạy và học tiếng Nhật tại Việt Nam.31

Tháng 9 năm 2017, “Phân hội Nghiên cứu Nhật ngữ học và Giảng dạytiếng Nhật” đã được thành lập và ra mắt tại Trường Đại học Hà Nội.Việcthành lập Phân hội Nghiên cứu Nhật ngữ học và Giảng dạy tiếng Nhật với quy

mô toàn quốc tại Việt Nam là một bước tiến mới trong quan hệ hợp tác giữahai nước, và được kỳ vọng sẽ “kết nối các nhà nghiên cứu về giáo dục tiếngNhật, các giảng viên tiếng Nhật trên toàn lãnh thổ Việt Nam, cùng chia sẻnhững thành quả và đưa ra những vấn đề đang được quan tâm, góp phần nângcao chất lượng đào tạo tiếng Nhật”, từ đó, góp phần cho sự phát triển mạnh

mẽ của việc giảng dạy và học tiếng Nhật tại Việt Nam.32

Bộ môn Tiếng Việt cũng được đưa vào giảng dạy tại các trường Đạihọc tại Nhật Bản Từ những năm 1960, đã có những nhà nghiên cứu Việt NamHọc mở lớp giảng dạy tiếng Việt tại 2 trường đại học của Nhật Bản là Đại họcngoại ngữ Tokyo và Đại học Keio.33Việc giảng dạy và học tiếng Việt tại NhậtBản trong thời kỳ này chưa thực sự phát triển, thậm chí trong khoảng thờigian từ những năm 1970 đến 1980 còn bị gián đoạn do quan hệ hai nước

31 Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, Về việc bắt đầu đưa tiếng Nhật vào giảng dạy tại các trường tiểu học

ở Việt Nam, 2016,

http://www.vn.emb-japan.go.jp/itpr_ja/20160914_Vn_Culture_DaytiengNhat_tieuhoc.html

32 Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam , Lễ thành lập Phân hội Nghiên cứu Nhật ngữ học và Giảng dạy tiếng Nhật , 2017,

http://www.vn.emb- japan.go.jp/itpr_ja/Leramat_Phanhoinghiencuunhatnguhocvagiangdaytiengnhat.html

33 TS.Trần Quang Minh – TS.Phạm Quý Long, “Xây dựng đối tác chiến lược Việt Nam – Nhật Bản”, NXB

Từ điển Bách Khoa, trang 366.

Trang 34

đóng băng Tuy nhiên, trong những năm gần đây, mối quan hệ Việt Nam –

Nhật Bản ngày càng phát triển và gắn kết, vì vậy, tiếng Việt dần trở thành mộttrong những ngôn ngữ được quan tâm tại Nhật Bản, phong trào học tiếng Việtcủa người Nhật và đặc biệt là sinh viên Nhật Bản ngày càng nở rộ và trở thànhmột “cơn sốt” Tại các trường đại học của Nhật Bản hiện nay, điểm thi đầuvào của ngành tiếng Việt cũng như số lượng sinh viên theo học cũng tăng lênhàng năm.34

Hiện nay, có rất nhiều trường Đại học của Nhật Bản có Khoa TiếngViệt hoặc chuyên ngành Việt Nam học Có thể kể đến như Đại học Ngoại ngữTokyo, Đại học Ngoại ngữ Osaka, Đại học Ngoại ggữ Kanda, Đại họcTakushoku, Đại học Kobe, Đại học Waseda… Đặc biệt hơn nữa, trường Đạihọc Ngoại ngữKanda còn tổ chức thường niên “Cuộc thi hùng biện bằng tiếngViệt” Tính đến tháng 11 năm 2017, Đại học ngoại ngữ Kanda đã tổ chứcthành công 11 lần cuộc thi này, đây không chỉ là một cuộc thi hùng biện dànhcho các bạn sinh viên giỏi thể hiện tài năng, mà còn là nơi giao lưu học tập,tôn vinh những nét đẹp của văn hóa Việt Nam, tiếp thêm động lực và thúc đẩymạnh mẽ phong trào học tiếng Việt tại Nhật Bản, làm khăng khít hơn mốiquan hệ tốt đẹp giữa hai nước.35

Về giao lưu học thuật, nghiên cứu giữa hai nước

Ngoài sự gia tăng của việc dạy và học tiếng Nhật tại Việt Nam, thì hoạtđộng nghiên cứu về Nhật Bản tại Việt Nam, và nghiên cứu về Việt Nam tạiNhật Bản trong những năm gần đây cũng có xu hướng phát triển cả về sốlượng lẫn chất lượng Nếu như trước đây, vào năm 1993 chỉ có duy nhất mộtTrung tâm nghiên cứu Nhật Bản – nay là Viện nghiên cứu Đông Bắc Á, trựcthuộc Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam và Khoa Đông Phương học

34 Lưu Thị Thu Thủy, Học tiếng Việt tại Nhật Bản, ban.html

http://www.inas.gov.vn/357-hoc-tieng-viet-tai-nhat-35 Bảo Trân, Báo Sài Gòn Giải Phóng, Cơn sốt học tiếng Việt ở Nhật Bản, hoc-tieng-viet-o-nhat-ban-447157.html

http://www.sggp.org.vn/con-sot-28

Trang 35

của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn có giảng dạy và nghiêncứu về Nhật Bản, thì đến sau, sau khoảng 15 năm phát triển, đã có hàng chục

cơ sở nghiên cứu Nhật Bản, và nhiều trường Đại học trên khắp Việt Namgiảng dạy về Nhật Bản.36 Số lượng và chất lượng của những cán bộ làm côngtác nghiên cứu về Nhật Bản của Việt Nam cũng gia tăng dần Hàng năm, Quỹgiao lưu Quốc tế Nhật Bản tại Việt Nam đều có các chươngtrình, hoạt động

để hỗ trợ, thúc đẩy việc giao lưu, nghiên cứu giữa hai nước.37

Về ngành nghiên cứu Việt Nam tại Nhật Bản, thực chất đã có từ rất lâu

từ những năm cuối của thế kỷ 19.Hội Nhật Bản nghiên cứu Việt Nam đã đượcthành lập từ tháng 12 năm 1987.Hiện tại, số học giả nghiên cứu về Việt Nam

đã lên tới hơn 100 người.Quan hệ của hai nước Việt Nam – Nhật Bản từ năm

1995 đến nay có nhiều bước phát triển mạnh mẽ, hai quốc gia ngày càng trởnên gắn kết, điều này đã tạo điều kiện cho những hoạt động giao lưu, trao đổihọc thuật và nghiên cứu giữa hai nước được diễn ra thường xuyên Các nhànghiên cứu Việt Nam học tại Nhật bản có nhiều cơ hội để tiếp cận với nhữngthông tin về Việt Nam, từ đó am hiểu hơn về đất nước, con người, và văn hóaViệt Nam.38

2.2.Hợp tác Việt Nam – Nhật Bản trong đào tạo nguồn nhân lực chất lƣợng cao

2.2.1 Quan điểm của hai quốc gia trong hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

Xuyên suốt chiều dài lịch sử quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và NhậtBản, hai nước luôn tích cực đẩy mạnh hợp tác trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt làkinh tế, thương mại Trước đây, trong những Tuyên bố chung giữa Việt Nam

36 Ngô Hương Lan, 2013, Hợp tác và giao lưu văn hóa – giáo dục Việt Nam – Nhật Bản trong bối cảnh mới, Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á, (số 11) 153

37 Quỹ giao lưu Quốc tế Nhật Bản, http://jpf.org.vn/about-us/message-from-director/

38 Giáo Sư Tiến Sĩ Furuta Motoo, Tại sao ở Nhật Bản có nhiều nhà Việt Nam học,

http://repository.vnu.edu.vn/bitstream/VNU_123/20115/1/024.pdf

Trang 36

và Nhật Bản, hợp tác về mảng giáo dục và đào tạo chưa chiếm phần nhiều,hầu hết các hoạt động hợp tác chỉ ở mức giao lưu văn hóa, viện trợ của Nhậtcho ngành giáo dục, và đào tạo tiếng Nhật tại Việt Nam Tuy nhiên, trongnhững năm gần đây, do những thay đổi trong khoa học công nghệ, trong nềnkinh tế cũng như trong chính trị-an ninh thế giới và khư vực, hai nước đã chútrọng hơn trong việc hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đóng gópcho sự phát triển bền vững của cả hai quốc gia.

Từ năm 2000, hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao giữa ViệtNam và Nhật Bản bắt đầu nhận được nhiều sự quan tâm hơn từ cả hai chínhphủ thông qua Học bổng Phát triển nguồn nhân lực Nhật Bản dành cho nhữngsinh viên, cán bộ xuất sắc của Việt Nam 39Tính đến nay, số lượng người ViệtNam nhận được Học bổng danh giá này đã lên tới 573 người.40Từ năm 2018,nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng tăng tạiViệt Nam, Chính phủ Nhật Bản đã quyết định cấp thêm học bổng dành cho hệđào tạo tiến sĩ và tăng gấp đôi số lượng học bổng thạc sĩ dành cho Việt Namlên tối đa 60 học bổng /năm.41

Trong chuyến thăm Nhật Bản của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáodục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân vào tháng 3 năm 2008, đại diện của hainước đã ký “Bản ghi nhớ về việc Nhật Bản giúp Việt Nam đào tạo 1000 tiến

sỹ cho Việt Nam đến năm 2020”, đảm bảo nguồn nhân lực chất lượng cao choViệt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Việc ký kết bảnghi nhớ này là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu một nấc thangmới trong quan hệ hợp tác giáo dục giữa hai nước Qua bản ghi nhớ này, BộGiáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản cũng khẳng

39 TS Hoàng Minh Lợi, Hợp tác Việt Nam – Nhật Bản trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á Số 2(144) 2-2013

40 The Project for Human Resource Development Scholarship by Japanese Grant Aid ,

http://jds-scholarship.org/country/vietnam/

41 Bản tin văn phòng JICA Việt Nam, số 33, tháng 8 năm 2018

https://www.jica.go.jp/vietnam/vietnamese/office/others/c8h0vm00009oa54f-att/2018_08.pdf

30

Trang 37

định sẽ tiếp tục tăng số lượng học bổng hàng năm cấp cho học sinh, sinh viênViệt Nam Việt Nam cũng đã cam kết tạo nhiều điều kiện để mở rộng, nângcao chất lượngcủa chương trình giảng dạy tiếng Nhật và văn hóa Nhật Bản ởtrong nước, giúp cho du học sinh Việt Nam có đủ năng lực ngoại ngữ để cóthể học tập, nghiên cứu tại Nhật Bản.42Việt Nam cũng đề nghị về việc hainước sẽ hợp tác phát triển trường đại học chất lượng cao tại Việt Nam, NhậtBản đã quyết định chọn 4 trường để hỗ trợ nâng cấp là Đại học Quốc gia HàNội, Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Đại học Cần Thơ, và Đại học Đà Nẵng.43

Năm 2009, sau 36 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, lần đầu tiên hainước tổ chức Hội nghị Hiệu trưởng Đại học Việt Nam - Nhật Bản với chủ đề

“Đẩy mạnh hợp tác giáo dục giữa Việt Nam - Nhật Bản: kinh nghiệm và bài học thực tiễn trong quá trình hội nhập quốc tế” tại Hà Nội 44 Hội nghị này đã

đánh dấu một bước phát triển mới, và mở ra nhiều cơ hội cho các trường đạihọc Việt Nam tiếp xúc, thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm với các trường đại họcNhật Bản, từ đó tìm kiếm các hợp tác song phương nhằm phát triển giáo dụcđại học và sau đại học

Năm 2010, trong cuộc tiếp đón Bộ trưởng phụ trách Chiến lược quốcgia của Nhật Bản – ngài Sengoku Yoshito, đại diện của hai bên đã khẳng địnhluôn luôn coi trọng phát triển quan hệ nhiều mặt , đặc biệt trong những lĩnhvực hai bên có thế mạnh.Vấn đề“Đào tạo nguồn nhân lực” đã được chú trọngsong song cũng với các lĩnh vực kinh tế, đầu tư, năng lượng, quy hoạch vàphát triển đô thị.45

42 Bộ Ngoại giao Việt Nam, Nhật Bản cam kết giúp Việt Nam đào tạo 1.000 tiến sĩ, 2008,

Trang 38

Năm 2012, nối tiếp thành công của lần tổ chức đầu tiên, Hội nghị Hiệutrưởng Đại học Việt Nam - Nhật Bản lần thứ hai tại Kyoto, Nhật Bản với sựtham dự của 150 đại biểu tới từ 43 trường Đại học Nhật Bản và 32 trường Đạihọc Việt Nam Đại học Kyoto và Đại học Quốc gia Hà Nội là hai đơn vị đồng

tổ chức hội nghị, dưới sự bảo trợ của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam(MOET), Hiệp hội xúc tiến Khoa học Nhật Bản (JSPS) và sự hỗ trợ từ phía

Bộ Khoa học và Giáo dục Nhật Bản (MEXT).46Tháng 9 năm 2015, Bộ Giáodục và Đào tạo phối hợp với Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học vàCông nghệ Nhật Bản tổ chức Hội nghị Hiệu trưởng Đại học Việt Nam - NhậtBản lần thứ ba tại Đà Nẵng với sự tham dự của hơn 200 đại biểu đại diện cholãnh đạo của 30 trường đại học Nhật Bản và hơn 40 trường đại học Việt Nam.Hội nghị do Đại học Đà Nẵng và Đại học Kyoto phối hợp tổ chức.47Thôngqua ba lần tổ chức, hội nghị đã góp phần làm phong phú thêm các hoạt độnggiao lưu, tạo ra những cơ hội hợp tácgiữa các cơ sở giáo dục của hai nước, từ

đó thúc đẩy mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước trong lĩnh vực giáo dục, đàotạo, đặc biệt mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong việc nâng cao năng lựcđào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

Trong Tuyên bố chung Việt Nam – Nhật Bản năm 2018, nhân dịp Chủ

tịch nước Trần Đại Quang và phu nhân tới thăm Nhật Bản, các nhà lãnh đạohai bên đã bày tỏ quan điểm của mình trong việc hợp tác đào tạo nguồn nhân

lực chất lượng cao như “tăng cường hợp tác trong lĩnh vực giáo dục, bao gồm

mở rộng mô hình giáo dục kiểu Nhật ở Việt Nam thông qua chương trình phổ biến mô hình giáo dục kiểu Nhật Bản ra nước ngoài (EDU-Port Japan), giao

46 Đại học Quốc gia Hà Nội, Hội nghị hiệu trưởng các trường đại học Việt Nam – Nhật Bản lần thứ 2,

https://www.vnu.edu.vn/ttsk/?C2093/N12553/Hoi-nghi-hieu-truong-cac-truong-dai-hoc-Viet-Nam-%E2%80%93-Nhat-Ban-lan-thu-2.htm

47 Hoài Nam – Lê Hà, Hội nghị Hiệu trưởng Đại học Việt Nam - Nhật Bản: Tăng cường hợp tác giáo dục đại học giữa hai nước http://www.nhandan.com.vn/giaoduc/item/27546902-hoi-nghi-hieu-truong-dai-hoc-viet-nam- nhat-ban-tang- cuong-hop-tac-giao-duc-dai-hoc-giua-hai-nuoc.html

32

Trang 39

lưu giữa các trường Đại học và giao lưu thanh niên” Hai chính phủ cũng đã quyết định sẽ“tăng cường hơn nữa hợp tác trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, bao gồm các chương trình và dự án nghiên cứu chung giữa Nhật Bản và Việt Nam” Các dự án tiêu biểu, được chú trọng trong cuộc trao đổi này bao

gồm:dự án Chương trình Đối tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật vì phát triểnbền vững (SATREPS), chương trình hợp tác nghiên cứu chung quốc tế giữagiới công nghiệp và học thuật và hợp tác củng cố nguồn nhân lực khoa học kỹthuật tương lai thông qua Chương trình giao lưu thanh niên Nhật Bản – Châu

Á về khoa học (Chương trình khoa học Sakura).48Với tuyên bốchung này, hainước đã thể hiện rõ quan điểm và sự quyết tâm trong việc đẩy mạnh hợptác đào tạonguồn nhân lực chất lượng cao

2.2.2 Các hoạt động nổi bật trong hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao giữa Việt Nam và Nhật Bản

Hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao giữa Việt Namchủ yếu diễn ra thông qua các chương trình viện trợ, các quỹ học bổng, cácchương trình trao đổi học thuật, các dự án hợp tác bồi dưỡng cán bộ Trong đó

Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản(JICA), vàViện Phát triển Nguồn Nhân lựcViệt Nam - Nhật Bản (VJCC) là hai tổ chức có vai trò cầu nối quan trọng nhấttrong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao giữa hai quốc gia

JICA là cơ quan duy nhất th ực hiện viện trợ ODA của Chính phủ NhậtBản thông qua 3 hình thức hơp ̣ tác : Hợp tác kỹ thuật, Hợp tác vốn vay vàViện trợ không hoàn lại Thông qua tổ chức này, Nhật Bản đã tích cực hỗ trợViệt Nam trong việc nâng cao chất lượng nguồn lao động, nâng cao năng lựccủa các cán bộ Việt Nam

Từ năm 1992, JICA bắt đầu các hoạt động hợp tác tại Việt Nam thôngqua việc cử chuyên gia Nhật Bản sang Việt Nam và tiếp nhận các học viên

48 Tuyên bố chung Việt Nam – Nhật Bản, http://cjs.inas.gov.vn/index.php?newsid=1361

33

Trang 40

Việt Nam đi đào tạo tại Nhật Bản Các lĩnh vực đào t ạo chủyếu baogồm:quản trị nhà nước , chính sách kinh tế, môi trường, giao thông vâṇ tải , y

tế, nông nghiêp ̣ vàphát triển nông thôn Mỗi năm cókhoảng hơn 600 ngườiViêṭNam tham gia các k hóa đào tạo tại Nhật Bản và sau đó tr ở thành nhữngcán bộ nòng cốt tại các cơ quan của Việt Nam, tiếp tục hỗ trợ cho các hoạtđộng hợp tác của JICA tại các cơ quan hành chính của Việt Nam

Trong lĩnh vực kỹ thuật, thông qua việc cử các chuyên gia và cán bộViệt Nam đi đào tạo tại Nhật Bản, JICA đa ̃triển khai đào taọ nguồn nhân lưc ̣cho ViêṭNam va ch uyển giao cac ky thuâṭ , kinh nghiêṃ cua NhâṭBan đặc

biệt trong các lĩnh vực ưu tiên như : y tế, nông nghiêp ̣ vàphát triển nông thôn ,

và cải thiện môi trường Về lĩnh vưc ̣ y tế, JICA đa ̃liên tuc ̣ cử chuyên gia NhâṭBản đến hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực tại 3 bênḥ viên:̣ Bạch Mai, Bệnh việnTrung ương Huế và Bệnh viện Chợ Rẫy, đây là ba bệnh viện trọng điểm ở bamiền Bắc, Trung , Nam của Việt Nam

Về hoạt động phái cử tình nguyện viên của JICA tại Việt Nam, gồm có

2 chương trình chính là: Chương trình Tình nguyện viên cao cấp (SV) vàChương trình Tình nguyện viên Hợp tác Hải ngoại Nhật Bản (JOCV) Tìnhnguyện viên cao cấp là những người Nhật trong độ tuổi từ 40 đến 69 tuổi, cókinh nghiệm làm việc, chuyên môn kỹ thuật Tình nguyện viên cao cấp tạiViệt Nam đã tích cực hoạt động và hỗ trợ cho công cuộc phát triển trong cáclĩnh vực như: Quản lý Sản xuất, Quản lý Chất lượng, Quản trị Doanh nghiệp,Quản lý Nhà máy, Tiếp thị Tình nguyện viên Hợp tác Hải ngoại Nhật Bản

là những người Nhật trẻ tuổi, sinh sống và làm việc tại các nước đang pháttriển trong vòng 2 năm Những tình nguyện viên JOCV tại Việt Nam chủ yếuhoạt động trong các lĩnh vực như: Giảng dạy tiếng Nhật, Y tế, Thể thao, Pháttriển nông thôn, Giáo dục và dịch vụ thông tin, Du lịch Họ đã đóng gópnhững kỹ năng, kiến thức của mình, góp phần cho sự phát triển xã hội và

34

Ngày đăng: 27/10/2020, 22:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w