Tỏc giả khẳng định tầm quan trong của kỹ năng giao tiếp đối với việcnõng cao hiệu quả giờ lờn lớp, kớch thớch tớnh tớch cực lĩnh hội tri thức và khờugợi lũng khỏt khao hiểu biết ở học si
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn: PGS TS Lê Thị Minh Loan
Trang 3LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đề tài này là do tôi thực hiện Những nội dung trong đềtài tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Thị Minh Loan, cùng vớinhững kiến thức tôi đã được học trong suốt thời gian học tại trường và sự giúp
đỡ nhiệt tình của các bạn cùng khoá
Mọi tài liệu trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng trong phần tài liệutham khảo
Những lời khai trên là đúng sự thật, nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàntoàn trách nhiệm
Hà Nội, tháng 8, năm 2014
Học viên
Cao Thị Huyền
Trang 4Lêi c¶m ¬n
Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡnhiệt tình, có hiệu quả của rất nhiều tập thể và các cá nhân Tôi xin được trântrọng cảm ơn Ban giám hiệu trường ĐHKHXH & NV Hà Nội, các thầy côgiáo khoa Tâm lý học trường ĐHKHXH & NV Hà Nội đã quan tâm tạo điềukiện thuận lợi, nhiệt tình ủng hộ giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này
Đặc biệt, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS LêThị Minh Loan, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ và kịp thờikhích lệ động viên tôi trong việc hoàn thiện luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã cổ vũ động viên tôi trongsuốt thời gian học tập vừa qua
Tuy nhiên, do hạn về mặt thời gian và khả năng của bản thân mà đề tàinghiên cứu của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy rất mongnhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp
và những ai quan tâm đến đề tài này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 08 năm 2014
Học viênCao Thị Huyền
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM KẾT……….i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT……… ….4
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ……… … 5
MỞ ĐẦU……… ……… 6
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP VÀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM 10
1.1 Tổng quan nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp và kỹ năng gao tiếp sư phạm .10
1.1.1 Nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp sư phạm trên thế giới 10
1.1.2 Nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp sư phạm ở Việt Nam……….13
1.2 Các khái niệm cơ bản 15
1.2.1 Giao tiếp sư phạm 15
1.2.2 Kỹ năng giao tiếp sư phạm 29
1.2.3 Kü n¨ng giao tiếp sư phạm của sinh viên sư phạm 26
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng tới kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên sư phạm 44
Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGIÊN CỨU 48
2.1 Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu 48
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 48
2.1.2 Đặc điểm khách thể nghiên cứu 48
2.2 Tổ chức nghiên cứu 49
2.2.1 Mục đích nghiên cứu 49
2.2.2 Nội dung nghiên cứu 50
2.3 Phương pháp nghiên cứu 50
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 50
Trang 62.3.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 51
2.4 Tiến độ triển khai nghiên cứu 55
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM 58
3.1 Thực trạng mức độ thực hiện kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên sư phạm trường Đại học Đồng Nai 58
3.1.1.Kỹ năng định hướng giao tiếp sư phạm 58
3.1.2 Kỹ năng định vị giao tiếp sư phạm 64
3.1.3 Kỹ năng điều chỉnh, điều khiển giao tiếp sư phạm 70
3.2 Tổng hợp mức độ kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên sư phạm 79
3.2.1 Thực trạng mức độ các kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên sư phạm 79
3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên.83 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… … ……… 100
PHỤ LỤC……… 103
Trang 7KNGTSP : Kỹ năng giao tiếp sư phạm
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 3.1 Mức độ kỹ năng định hướng quá trình giao tiếp sư phạm
Bảng 3.2 Mức độ kỹ năng định vị quá trình giao tiếp sư phạm
Bảng 3.3 Mức độ kỹ năng điều khiển, điều chỉnh quá trình giao tiếp sư phạmBảng 3.4 Mức độ các kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên sư phạmBảng 3.5 Tương quan về mức độ thực hiện giữa các kỹ năng giao tiếp sư phạmBảng 3.6 Vai trò của kỹ năng giao tiếp sư phạm trong hoạt động giảng dạyBảng 3.6 Mức độ hứng thú đối với nghề sư phạm của sinh viên sư phạm.Biểu đồ 3.1: Tổng hợp mức độ kỹ năng định hướng giao tiếp sư phạm
Biểu đồ 3.2: Tổng hợp mức độ kỹ năng định vị quá tiếp sư phạm
Biểu đồ 3.3: Tổng hợp mức độ kỹ năng điều chỉnh điều khiển giao tiếp sư phạmBiểu đồ 3.4: Mức độ hình thành kỹ năng giao tiếp sư phạm
Biểu đồ 3.5 Mức độ kỹ năng giao tiếp sư phạm trong hoạt động giảng dạy giữa Nam và Nữ
Biểu đồ 3.6 Mức độ kỹ năng giao tiếp sư phạm trong hoạt động giảng dạy giữa năm 2 và năm 3
Biểu đồ 3.7 Tầm quan trọng của các kỹ năng giao tiếp sư phạm trong hoạt động giảng dạy
Biểu đồ 3.8 Động cơ chọn nghề của sinh viên sư phạm
Trang 9Trong công việc, Đặc biệt là trong giáo dục nói chung và giảng dạy nóiriêng giao tiếp không những có vai trò quan trọng trong sự hình thành và pháttriển nhân cách người giáo viên mà còn là một bộ phận cấu thành hoạt động
sư phạm, là thành phần chủ đạo trong cấu trúc năng lực sư phạm của ngườigiáo viên Giao tiếp là phương thức, công cụ cơ bản nhất để tổ chức hoạt độngdạy học và giáo dục Nếu không có giao tiếp thì không thể hướng các hoạtđộng của thầy và trò vào các mục đích giáo dục Do đó, vấn đề đặt ra đối vớinhiệm vụ đào tạo nghề sư phạm là mỗi sinh viên phải được chuẩn bị và chủđộng tự chuẩn bị cho mình về năng lực giao tiếp sư phạm, để khi bước vàonghề họ nhanh chóng thích ứng với công việc, sẵn sàng giải quyết ngay đượcnhững tình huống trong giao tiếp sư phạm Nhà trường sư phạm là nơi thựchiện nhiệm vụ này Hành trang của sinh viên khi bước vào cuộc sống nghềgiáo ngoài tư cách, phẩm chất đạo đức tốt, niềm tin và bầu nhiệt huyết với sựnghiệp trồng người còn phải vững về chuyên môn giỏi về nghiệp vụ sư phạm,trong đó có kỹ năng giao tiếp Muốn đạt kết quả tốt trong việc chuẩn bị nănglực giao tiếp sư phạm cho sinh viên sau khi ra trường, trước tiên phải có sựđánh giá về đặc điểm, khả năng giao tiếp của họ ở góc độ tâm lí học để làm cơ
sở cho việc xác định chương trình, kế hoạch đào tạo một cách phù hợp
Trang 10Trong thực tế, hiện nay cú rất nhiều giỏo viờn trẻ mới ra trường họ rất
cú khả năng về chuyờn mụn Họ đó từng là những sinh viờn thực sự giỏi vềkiến thức chuyờn mụn khi cũn ngồi trờn giảng đường Nhưng khi trở thànhgiỏo viờn đứng trờn bục giảng thỡ lại lỳng tỳng, họ khụng được học sinh đỏnhgiỏ cao trong việc giảng dạy và quan hệ giao tiếp với học sinh Điều đú phảichăng là do kỹ năng giao tiếp của họ chưa đỏp ứng được yờu cầu của dạy học
và giỏo dục
Hiện nay ở nước ta cũng đó cú nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu về kỹnăng giao tiếp sư phạm của sinh viờn sư phạm và cũng đó đưa ra được cỏcgiải phỏp cụ thể cho vấn đề này Tuy nhiờn tại trường Đại học Đồng Nai thỡchưa cú cụng trỡnh nào nghiờn cứu về kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viờn
sư phạm trờn cơ sở đú đưa ra cỏc biện phỏp thớch hợp trong việc nõng cao kỹnăng này cho sinh viờn Vỡ vậy để chuẩn bị tốt nghề nghiệp tương lai cho sinhviờn thỡ một trong những điều kiện phải chuẩn bị tốt ngay từ bõy giờ cho sinhviờn là kỹ năng giao tiếp sư phạm Chính vì lý do trên đây chúng tôi
mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình là: Kỹ
năng giao tiếp sư phạm của sinh viờn sư phạm trường Đại học Đồng Nai.
2 Mục đớch nghiờn cứu
Trờn cơ sở một số vấn đề lớ luận về kỹ năng giao tiếp sư phạm, đề tài đisõu, Tỡm hiểu thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viờn sư phạmtrường Đại học Đồng Nai và Phõn tớch một số yếu tố ảnh hưởng, đề xuất một
số kiến nghị nhằm nõng cao kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viờn trườngĐại học Đồng Nai
Trang 113 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các quan điểm lý luận liên quan đến các vấn đề nghiên cứu của đề tài
- Khảo sát thực trạng một số kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên
Sư phạm- trường Đại học Đồng Nai
- Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng của thực trạng kỹ năng giao tiếp
sư phạm của sinh viên sư phạm trường Đại học Đồng Nai
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao năng lực giao tiếp sư phạm của sinh viên sư phạm
4 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Mức độ kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên sư phạm trường Đại học Đồng Nai
4.2 Khách thể nghiên cứu
- 50 học sinh ở các lớp do SVSP kiến tập, thực tập dạy
- 10 GVHD thực tập tại các trường có SVSP thực tập
5 Giả thuyết khoa học
møc trung b×nh Sinh viên năm thức 3 có kỹ năng giao tiếp sư phạm tốt hơn nămthứ 2
trong đó các yếu tố cơ bản là: Nhận thức của sinh viên về KNGTSP, động cơchọn nghề của sinh viên, hứng thú đối với nghề của sinh viên, thái độ của họcsinh nơi sinh viên sư phạm thực tập và sư quan tâm giúp đỡ của trường nơiSVSP thực tập
Trang 126 Giới hạn nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn nghiện cứu: Đề tài tập trung làm rõ thực trạng một số kỹnăng giao tiếp sư phạm của sinh viên Sư phạm - Trường Đại học Đồng Nai baogồm: KN định hướng giao tiếp, KN định vị giao tiếp và KN điều chỉnh, điều khiểngiao tiếp ở hai khối sư phạm tự nhiên và sư phạm xã hội
Nai, một số trường trung học cơ sở nơi có sinh viên sư phạm thực tập kiến tập
7 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi đã sử dụng phối hợp cácphương pháp sau:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Trên cơ sở phân tích,
khái quát hóa các tài liệu thuộc lĩnh vực nghiên cứu chúng tôi đi xây dựng cơ
sở lí luận cho đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu bằng bảng hỏi: phương pháp này được
thực hiện thông qua việc phát phiếu điều tra cho đối tượng nghiên cứu để thuthập thông tin cho đề tài
7.3 Phương pháp phỏng vấn sâu: Phương pháp này thực hiện thông
qua việc trao đổi trực tiếp với một số giáo viên hướng dẫn thực tập, sinh viên
sư phạm và học sinh nơi sinh viên sư phạm thực tập
7.4 Phương pháp quan sát: Việc quan sát được thực hiện tại lớp học
mà SVSP giảng dạy Chúng tôi sử dụng phương pháp này để đưa ra kết luậnđầy đủ hơn cho quá trình điều tra bằng bảng hỏi
7.5 Phương pháp thống kê toán học: Để xử lý số liệu thu được, nhằm
đưa ra được những kết luận chính xác, khách quan cho đề tài nghiên cứu,
Trang 13chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê trong toán học: tính %, tính trung bình cộng, sử dụng excel và phần mền SPSS.
7.6 Phương pháp giải quyết tình huống sư phạm
Phương pháp này thực hiện thông qua việc, chúng tôi đưa ra một số tình huống giao tiếp giả định để sinh viên sư phạm giải quyết
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP VÀ KỸ NĂNG GIAO
TIẾP SƯ PHẠM 1.1 Tổng quan nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp và kỹ năng gao tiếp sư phạm
1.1.1 Nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp sư phạm trên thế giới
Vấn đề nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp sư phạmtrên thế giới hiện nay có thể phân những công trình nghiên cứu thành haihướng: nghiên cứu lý luận giao tiếp và nghiên cứu giao tiếp ứng dụng
* Hướng nghiên cứu lí luận giao tiếp.
Từ xa xưa giao tiếp đã là một vấn đề được nhiều nhà khoa học quantâm nghiên cứu Tất cả các tâm lý học trên thế giới đều gặp nhau tại một điểmtrong phạm trù giao tiếp – khẳng định vai trò quyết định của giao tiếp đối vớicuộc sống xã hội và sự hình thành nhân cách con người
Ngay từ thời kì cổ đại Arixtôt (384-322 TCN) trong cuốn sách “Bàn vềtâm hồn”, cuốn sách đầu tiên của loài người bàn về tâm lý học đã quan tâmđến kỹ năng hoạt động nói chung Theo ông nội dung phẩm hạnh là: “Biếtđịnh hướng, biết làm viêc, biết tìm tòi”, điều đó có nghĩa con người có phẩmhạnh là con người có kỹ năng làm việc
Năm 1956 ba tác giả người Mỹ: Johnson, Lgrrison, M.Schlekamp đãviết cuốn sách về “giao tiếp” , đề cập đến mối quan hệ giữa kỹ năng giao tiếpvới sự tiến bộ trong trường đại học của sinh viên, cách biểu lộ tình cảm, kỹnăng bình luận
Năm 1960 Bavelas (Pháp) tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về cấutrúc giao tiếp, đưa ra khái niệm “khoảng cách” được xác định như là một mắtxích giao tiếp cần thiết để một thông điệp tới được người khác bằng con
Trang 15Đến những năm đầu thế kỉ XX, tâm lý học hành vi ra đời với đại diệnlà: Watson, Skinner và Thordai…cũng bàn tới vấn đề rèn luyện kỹ năng trongviệc tạo lập hành vi.
Các nhà tâm lý học Xô viết cũng giành nhiều thời gian nghiên cứu về
kỹ năng trong đó có kỹ năng giao tiếp như: Rudic, Makarenco… Đặc biệttrước những năm 1970 khi lý thuyết hoạt động của Leonchiev ra đời, dưới ánhsáng của lý thuyết hoạt động hàng loạt các công trình nghiên cứu về kỹ năng,
kỹ xảo được tuyên bố
Xavier Rogier Xem kỹ năng như một biểu hiện của năng lực và không
có kỹ năng nào tồn tại dưới dạng thuần khiết Mọi kỹ năng đều biểu hiệnthông qua những nội dung cụ thể, theo ông thì kỹ năng được phân ra làm hainhóm: nhóm kỹ năng nhận thức và nhóm kỹ năng hoạt động tay chân Nhưngthực tế sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối vì dù lao động chân taynhưng hoạt động của con người vẫn được nhận thức ở mức độ nào đó
V.P Dakharov đã giành nhiều thời gian tâm huyết và làm việc củamình để phân loại các nhóm kỹ năng giao tiếp Trong trắc nghiệm giao tiếpcủa mình ông đã đưa ra 10 nhóm kỹ năng giao tiếp Đó là sự phân định khá rõràng mạch lạc, nghiên cứu của ông tới nay vẫn còn giá trị lớn, Đặc biệt trắcnghiệm này hiện nay vẫn còn được sử dụng tại Việt Nam
* Hướng nghiên cứu giao tiếp ứng dụng.
Song song với việc nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về giao tiếpcác nhà nghiên cứu đã đi sâu vào nghiên cứu hiện tượng giao tiếp theo tínhchất và đặc trưng nghề nghiệp Trong đó giao tiếp của người thầy giáo đã trởthành đối tượng quan tâm đặc biệt của nhiều nhà tâm lý học sư phạm Chúng
ta có thể dễ dàng nhận thấy những quan điểm khác nhau về giao tiếp sư phạmtrong các giáo trình tâm lý học sư phạm và tâm lý học lứa tuổi Nếu như trongcuốn “tâm lý học trẻ em và tâm lý học sư phạm” của Lêvitốp (NXB Giáo dục
Trang 16Hà Nội) và cuốn “tõm lý học lứa tuổi và tõm lý học sư phạm” do Petrốpxkichủ biờn, giao tiếp sư phạm được xem như là năng lực truyền thụ tri thức cúhiệu quả, làm cho trẻ lắm vững và nhớ lõu tài liệu, thỡ ở trong cuốn “nhữngphảm chất tõm lý của người giỏo viờn” của B.N Gụnụbụlen (NXB Giỏo dục
Hà Nội, 1976) và cuốn “những cơ sở của tõm lý học sư phạm” của Kruchetxki(NXB Giỏo dục Hà Nội, 1976) giao tiếp sư phạm được xem như là năng lựctiếp xỳc, sự khộo lộo đối sử sư phạm…của người thầy giỏo đối với học sinh.Nhưng dự tiếp cận với giao tiếp sư phạm ở gúc độ nào cỏc tỏc giả này đềuđỏnh giỏ cao vai trũ của nú trong quỏ trỡnh hỡnh thành nhõn cỏch cho học sinh.Những năm gấn đõy tỏc giả Muđrich trong bài “tiềm lực của giao tiếp sưphạm” (tạp chớ giỏo dục học Xụ Viết thỏng 7, 1985) và A.T Curibanụva
“những cơ sở của giao tiếp sư phạm” xem giao tiếp như là tỏc động sư phạmcủa thầy giỏo và những người quản lý giỏo dục Bờn cạnh việc xem xột bảnchất của giao tiếp sư phạm, cỏc tỏc giả cũng ớt nhiều đề cập đến kỹ năng giaotiếp của người thầy giỏo Mặc dự cú những ý kiến khỏc nhau nhưng nhỡnchung cỏc tỏc giả này đều xuất phỏt từ quan điểm của Macarenkụ về kỹ nănggiao tiếp sư phạm Bằng cuộc đời hoạt động sư phạm của mỡnh, nhà giỏo dụchọc, tõm lý học thực hành Macarenkụ đó đề ra một loạt những yờu cầu đối vớigiao viờn khi tiến hành giao tiếp với học sinh Theo ụng, khi giao tiếp ngườithầy giỏo phải cú kỹ năng quan sỏt tinh tế, biết đỏnh giỏ đỳng đối tượng vàđặc biệt phải biết làm chủ giọng núi, biết kiềm chế trạng thỏi tõm lý của bảnthõn Những ý kiến này của Macarenkụ phự hợp hoàn toàn với lý thuyết củatõm lý học hiện đại về giao tiếp
Nh- vậy, việc nghiên cứu kỹ năng nói chung, kỹ năng giao tiếp nói riêng của các tác giả n-ớc ngoài ở một mức nào đó đã thu đ-ợc những hiệu quả nhất định Kết quả cung cấp cho chúng ta những tri thức khoa học trong
Trang 17việc nhìn nhận vai trò cụ thể của kỹ năng đối với một hoạt động, với một lĩnhvực lao động bất kỳ trong xã hội.
1.1.2 Nghiờn cứu về kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp sư phạm ở Việt Nam
Tại Việt Nam, tõm lý học là khoa học cũn non trẻ Vấn đề giao tiếpđược đi sõu nghiờn cứu từ năm 1970 - 1980 Việc nghiờn cứu giao tiếp phỏttriển mạnh mẽ và đi theo xu hướng khỏc nhau, thể hiện cỏc cụng trỡnh nghiờncứu lớ luận và thực tiễn
* Cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu về mặt lớ luận.
Nguyễn Quang Uẩn trong “ Tâm lý học đại c-ơng” 1995, đãquan niệm Tri thức- Kỹ năng- Kỹ xảo là điều kiện cần thiết để hìnhthành năng lực trong một lĩnh vực nào đó [33, tr.29]
Tác giả Ngô Công Hoàn, Hoàng Thị Anh đặc biệt đi sâunghiên cứu cấu trúc của 3 nhóm kỹ năng giao tiếp s- phạm đó là nhóm
* Cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu về mặt thực tiễn.
- “Đặc điểm giao tiếp của sinh viờn trường Cao Đẳng sư phạm QuảngTrị” - Nguyễn Thị Diễm Đề tài đó chỉ ra: Giao tiếp của sinh viờn sư phạm cú đặcthự riờng, thể hiện cụ thể là nhu cầu giao tiếp khỏ cao và chịu ảnh hưởng của thờigian theo học tại trường sư phạm, kỹ năng giao tiếp trung bỡnh, nội dung giao tiếpmang đặc trưng của lứa tuổi thanh niờn
- “Tỡm hiểu một số kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viờn”, của tỏcgiả Nguyễn Thị Thanh Bỡnh, khoa Tõm lý giỏo dục- trường Đại học sư phạm
Trang 18Hà Nội Tỏc giả khẳng định tầm quan trong của kỹ năng giao tiếp đối với việcnõng cao hiệu quả giờ lờn lớp, kớch thớch tớnh tớch cực lĩnh hội tri thức và khờugợi lũng khỏt khao hiểu biết ở học sinh….Kỹ năng giao tiếp là một trongnhững điều kiện quan trọng cho sự thành cụng của sinh viờn trong thực tập sưphạm, đồng thời gúp phần hỡnh thành nhõn cỏch của người thầy giỏo trongtương lai.
- Nguyễn Thị Thanh Bỡnh trong luận ỏn “Nghiờn cứu một số trở ngạitõm lý trong giao tiếp của sinh viờn với học sinh khi thực tập tốt nghiệp”, đó chỉ rakhú khăn như hiểu biết chưa đầy đủ về học sinh, chưa làm chủ được trạng thỏi tõm
lý của bản thõn
- “Thực trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viờn sỹ quan”, 2005, đề tài sosỏnh đỏnh giỏ mức độ sử dụng cỏc nhúm kỹ năng giao tiếp với nhau ở sinh viờn sỹquan chưa chỉ ra được hiệu quả của việc sử dụng kỹ năng giao tiếp đối với hoạtđộng chớnh của sinh viện sỹ quan Núi chung nghiờn cứu chỉ dừng lại
ở việc mụ tả thực trạng
- Hoàng Anh trong cuốn: “Kỹ năng giao tiếp s- phạm của sinh viên”, luận
án PTS tâm lý học đã nêu ra 03 nhóm kỹ năng giao tiếp s- phạm [5, tr.38]:
Đề tài “kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viờn” đi sõu vào phõn tớch,xem xột và đưa ra nhận xột “kỹ năng giao tiếp sư phạm là khả năng nhận biếtkịp thời cỏc biểu hiện tõm lý bờn ngoài và bờn trong của bản thõn và đốitượng giao tiếp, trong quỏ trỡnh giao tiếp tạo ra và vận hành mối quan hệ giaotiếp giữa mỡnh và người khỏc gúp phần tạo ra mối quan hệ tối ưu cho quỏtrỡnh dạy và học”
Trang 19- Cụng trỡnh nghiờn cứu trẻ em phạm phỏp trẻ em vị thành niờn ở khớacạnh từ nguyờn nhõn sang thoỏi nhõn cỏch Phạm Minh Hạc đó nờu lờn định nghĩa :
“giao tiếp là hoạt động vận hành và xỏc lập cỏc quan hệ người -người để thực hiệnhúa cỏc quan hệ xó hội giữa ta với nhau”
- Đặng Trần Hoài cựng với tổ Tõm lý học giỏo dục- nhõn cỏch thuộcviện khoa học giỏo dục tiến hành thực nghiệm sư phạm, trong đú đó thu hỳt họcsinh cấp II và cấp III tham gia cỏc hỡnh thức tập thể dưới dạng tự quản, xem đú làbiện phỏp giỏo dục chủ yếu đến mặt đạo đức của nhõn cỏch học
sinh Từ thực nghiệm này cỏc tỏc giả đó rỳt ra nhận định: giao lưu là hoạtđộng tất yếu tạo nờn sự hiểu biết lẫn nhau sự ăn ý, sự thụng cảm, sự hối hợphành động…
kỹ năng giao tiếp ở các chiều, các khía cạnh khác nhau Chủ thể của các kỹ
năng lại khá đa dạng họ ở nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực trong cuộc sống, chưa đi sõu vào nghiờn cứu kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viờn sư phạm Vỡ vậy những giải phỏp mà họ đưa ra khụng thể ỏp dụng chung cho cụng tỏc
đào tạo
- Với đề tài này chúng tôi đi sâu nghiên cứu mức độ hình thành kỹ năng giao tiếp sư phạm của SV sư phạm tr-ờng Đại học Đồng Nai trong hoạt
động, học tập, kiến tập và thực tập
1.2 Cỏc khỏi niệm cơ bản
1.2.1 Giao tiếp sư phạm
1.2.1.1 Vấn đề chung về giao tiếp
Giao tiếp là vấn đề quan trọng và phức tạp cú nhiều mặt và nhiều mức
độ Giao tiếp cú liờn hệ với nhiều tỏc động đa phương trong đời sống tõm lýcon người Hiện nay cú thể phõn những cụng trỡnh nghiờn cứu thành hai dũng:nghiờn cứu lý luận giao tiếp và nghiờn cứu giao tiếp ứng dụng
Trang 20* Nhóm giao tiếp ứng dụng: Nghiên cứu áp dụng lý thuyết tâm lý học
giao tiếp vào các loại giao tiếp cụ thể trong các hóm xã hội cụ thể Họ viết sáchdạy các thành viên trong nhóm giao tiếp hiệu quả hơn
Từ các ngành tâm lý học ứng dụng, các liên ngành tâm lý học du lịch,tâm lý học kinh doanh, tâm lý học trị liệu, tâm lý học tuyên truyền, tâm lý học
y học Hầu hết các nhà tâm lý học ứng dụng khi nhìn nhận khái niệm giaotiếp đều đề cập tới hai vấn đề sau:
- Nhấn mạnh đến vấn đề thông tin, thông báo trong giao tiếp
- Tính đến hiệu quả mang tính đặc thù trong lĩnh vực riêng biệt đó.+ Tâm lý học kinh doanh xem giao tiếp là một quá trình, một kích thíchdưới dạng một thông điệp được một bộ phát truyền đi nhằm tác động và gây hậuquả khi đi tới bộ thu
+ Tâm lý học ứng dụng coi giao tiếp là một tập hợp quá trình truyền đạt
và tri giác các thái độ, niềm tin và ý định, dựa vào bộ máy sinh học, tâm lý chungcủa loài người làm sao cho đôi bên đối thoại hiểu được nhau và đạt được mục tiêugiao tiếp
+ Tâm lý học y học: xem xét giao tiếp là quan hệ giữa thầy thuốc vàbệnh nhân; thầy thuốc và thầy thuốc; bệnh nhân - bệnh nhân trong bệnh viện nhằmtạo sự tin tưởng ở khả năng chữa trị cho bệnh nhân
* Nhóm nghiên cứu lý luận giao tiếp: lại có thể được phân nhóm theo
Trang 21Chủ thể
Hoạt động
Đối tượngNhư vậy chủ thể, tác động vào khách thể thông qua đối tượng Đặctrưng cơ bản của hoạt động là tính đối tượng Con người- chủ thể tác động lênđối tượng-khách thể trong thực tiễn và hoạt động này được gọi là hoạt độngbên ngoài Ngoài ra con người con thực hiện những thao tác tư duy- hoạt độngbên trong
Hoạt động có thành phần cơ bản là hành động Hành động của hoạtđộng luôn có mục đích Ngoài mục đích, hành động còn được cấu thành bởicác thao tác
Hoạt động được gắn với động cơ Kết quả của hoạt động là khách thể(đối tượng) được biến đổi và nhận thức của chủ thể được cải tạo
Rất nhiều nhà tâm lý học có tên tuổi của Liên Xô như: B.G Ananhev,P.Ia Galprein, G.M Andreeva, A.A Bodalev…đã theo quan điểm là mộthình thức của hoạt động Họ áp dụng nó vòa nghiên cứu một số lĩnh vực trongđời sống của con người và gặt hái được một số thành tựu Tuy nhiên theoquan điểm này đôi khi trong thực tế lại chỉ có thể coi giao tiếp là điều kiện củahoạt động hoặc khía cạnh của hoạt động
Định nghĩa của A.A Leonchev đưa ra trong thấp kỷ 70 của thế kỷ XX
đã thâu tóm được quan điểm của các nhà tâm lý học Liên Xô coi giao tiếp làdạng của hoạt động Theo ông, “Giao tiếp là một hệ thống những quá trình cómục đích, có động cơ bảo đảm sự tương tác giữa người này với người kháctrong hoạt động tập thể, thực hiện các mối quan hệ xã hội và nhân cách, cáchoạt động tâm lý và sử dụng những phương tiện đặc thù, trước hết là ngônngữ” [1, tr.23]
Quan điểm thứ hai: Quan điểm coi giao tiếp là một phạm trù riêng, độc
lập với phạm trù hoạt động
Trang 22Khác với A.A.Leonchev, B.Ph.Lomov cho rằng giao tiếp không phải làmột dạng đặc biệt của hoạt động mà là một phạm trù độc lập, đồng đẳng vớihoạt động.
Theo Lomov trong quá trình giao tiếp, hình thức đặc trưng của sự tácđộng qua lại giữa người này với người khác đã diễn ra sự trao đổi qua lại cáchoạt động, các phương pháp và kết quả, giữa các biểu tượng, các tư tưởng,các tâm thế, các hứng thú, các cảm xúc…
Giao tiếp là hình thức độc lập và đặc thù của tính tích cực của chủ thể.Kết quả của nó không phải là đối tượng được cải tạo (vật chất hay tinh thần)
mà là các quan hệ với người khác, với những người khác
Cơ sở lý luận để Lomov đưa vào tâm lý học phạm trù giao tiếp độc lậpvới phạm trù hoạt động gồm hai luận điểm sau:
+ Luận điểm dầu tiên là: “nhiệm vụ quan trọng nhất của tâm lý học lý luận là vạch ra sự thống nhất trong tính đa dạng của hiện tượng tâm lý”
+ Luận điểm thứ hai: khoa học tâm lý phải được xây dựng trên cơ sởmột hệ thống các phạm trù Việc chuyển đổi hóa một phạm trù nào đó sẽ dẫn đếnviệc “lược tính nhiều mặt có thực của đời sống con người”
Tóm lại, B.Ph lomov cho rằng hoạt động và giao tiếp là hai mặt của sựtồn tại xã hội con người Hai mặt này gắn liền với nhau trong lối thống nhất.Giữa chúng luôn có sự chuyển hoá lẫn nhau và nhiều khi giao tiếp để hoạtđộng và hoạt động giao tiếp, giao tiếp được thực hiện bằng phương thức củahoạt động, hoạt động được tiến hành bằng phương thức của giao tiếp, giữachúng luôn có chuyển hoá giữa cái này sang cái kia
Như vậy, khi coi giao tiếp là phạm trù đồng đẳng với hoạt động,Lomov đã khắc phục được những lúng túng của các nhà tâm lý học trườngphái hoạt động trong việc xác định vai trò, đối tượng, động cơ, chiều hướng
Trang 23cũng mở ra được lĩnh vực nghiên cứu mới cho giao tiếp Đó là tương tác liênnhân cách (tương tác đồng chủ thể) thông qua giao tiếp Tuy nhiên, hạn chếcủa Lomov là ông không đánh giá đúng mức vai trò của các yếu tố văn hóa vàtâm lý cá nhân.
Quan điểm thứ ba: Quan điểm truyền thông tin
Moles, nhà tâm lý học theo quan điểm truyền thông tin cho rằng: Giao tiếp
là lý luận về các hệ thống phức hợp tự kiểm soát, thông tin không chỉ bao gồmngôn ngữ nói và viết mà còn cả các mã và tín hiệu Giao tiếp là một quá trìnhphát và nhận tin, trao đổi thông tin có thể diễn ra trực tiếp hoặc gián tiếp…
Quan điểm này được ra đời vào giữa thế kỉ XX trong lĩnh vực liên ngànhcủa điều khiển học, lý thuyết thông tin và lý thuyết hệ thống với tâm lý học Đạidiện của quan điểm này là N.Wiener (1948), C Senen (1949), Moles (1971)
Quá trình giao tiếp có thể mô tả bằng quá trình truyền tin qua bộ mãhóa thông tin, bộ phát thông tin, môi trường truyền thông tin, bộ nhận thôngtin, bộ giải mã và quá trình phản hồi Thông tin nhận được có thể bị biến đổi
do nhiễu hoặc do giải mã không tương thích với mã hóa Người nhận thôngtin có thể dùng phản hồi để nhận được thông tin chính xác hơn
Việc gạt bỏ các yếu tố tâm lý cá nhân, văn hóa, xã hội ra khỏi quá trìnhgiao tiếp của quan điểm truyền thông tin đã làm đơn giản hóa quá trình giaotiếp, giúp các nhà nghiên cứu đi sâu và khía cạnh trao đổi thông tin nhưng lạilàm cho việc lý giải sự biến dạng thông tin trở nên khó khăn vì yếu tố nhậnthức, động cơ, nhu cầu của cá nhân cũng như phẩm chất tâm lý của họ gópphần vào cơ chế lọc tin Ngoài ra, nếu xem xét giao tiếp như quá trình truyềnthông tin thì chúng ta đã đánh mất một tính chất quan trọng nhất của giao tiếp
là đặc trưng xã hội của nó
Trong đề tài này chúng tôi xem xét giao tiếp theo mặt nhân cách,
trong đó dựa trên quan điểm của Leonchev
Trang 24Theo quan điểm của Leonchev: Vị trí quan trọng nhất khi phân tíchhoạt động thuộc về động cơ và mục đích Động cơ có liên quan đến nhu cầu,kích thích hoạt động, mục đích liên quan đến đối tượng mà hoạt động hướngđến, đối tượng cần phải ở trong quá trình thực hiện hoạt động và bị biến đổithành sản phẩm Động cơ của giao tiếp xuất phát từ nhu cầu tiếp xúc vớingười khác Mỗi con người ai cũng có nhu cầu giao tiếp lẫn nhau để chiếmlĩnh đối tượng Hoạt động thường được thực hiện như là hệ thống các hànhđộng triển khai liên tục, mỗi hành động giải quyết một phần nhiệm vụ và cóthể xem như là một “bước” hướng đến mục đích Hành động triển khai trongthực tiễn là nhờ vào kỹ năng Việc hình thành kỹ năng hành động là hìnhthành ở con người khả năng triển khai thao tác theo đúng logic phù hợp vớimục đích khách quan [33, tr.18].
Như vậy chúng tôi có thể rút ra định nghĩa giao tiếp làm công cụ nghiên
cứu cho đề tài này như sau: Giao tiếp là quá trình tiếp xúc tâm lý giữa con
người với con người, trong một quan hệ xã hội nhất định nhằm nhận thức, trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm, tri thức, kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp qua đó có ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau [1, tr.35].
1.2.1.2 Vấn đề chung về giao tiếp sư phạm
Cũng giống như khái niệm giao tiếp, khái niệm giao tiếp sư phạm cũng
có rất nhiều quan điểm khác nhau Mặc dù giao tiếp sư phạm là một thực tế cóthể quan sát và thử nghiệm được, song cách tiếp cận với giao tiếp sư phạmcủa các nhà nghiên cứu có khác nhau Có người xem giao tiếp sư phạm nhưmột loại hình của một hoạt động sư phạm Có người xem giao tiếp sư phạmnhư một phạm trù quan trọng và độc lập của tâm lý học sư phạm Vì vậy hiệnnay trong tâm lý học sư phạm chưa có một định nghĩa thống nhất về giao tiếp
sư phạm Trong hệ thống các định nghĩa về giao tiếp sư phạm có thể tạm thời
Trang 25- Thứ nhất: Coi giao tiếp sư phạm là năng lực của người giáo viên, gồm
các tác giả:
+ F.N.Gônobôlin cho rằng: “giao tiếp sư phạm là năng lực truyền đạt
một cách dễ hiểu để các em nắm vững và ghi nhớ bài học”.
+ N.D Lêvitốp quan niệm: “giao tiếp sư phạm chính là giao tiếp và
truyền đạt tri thức cho trẻ bằng cách trình bày rõ ràng, hấp dẫn”.
+ T.V Trakhov: “giao tiếp sư phạm là những năng lực tiếp xúc với
học sinh, kĩ năng tìm được cách đối xử đúng đắn với trẻ, thiếtt lập mối quan
hệ hợp lí theo quan điểm sư phạm”.
+ A.I Sevbacov cho rằng: “năng lực giao tiếp sư phạm giúp xác lập
nên các mối quan hệ qua lại đúng đắn với đặc điểm cá nhân và lứa tuổi học sinh”.
- Thứ hai: Coi giao tiếp sư phạm là quá trình tiếp xúc tâm lý giữa giáo
viên và học sinh nhằm giúp học sinh lĩnh hội được những tri thức khoa học,vốn kinh nghiệm sống, nhằm xây dựng và phát triển nhân cách toàn diện củahọc sinh Bao gồm các tác giả:
+ A.N.Leonchev: giao tiếp sư phạm là loại giao tiếp có tính chất nghề
nghiệp giữa giáo viên và học sinh trong và ngoài lớp, là điều kiện đảm bảo cho hoạt động sư phạm.
+ Hai tác giả A.T.Curơbavôna và R.M.Rankmatulia đã đưa ra một định
nghĩa được nhiều nhà nghiên cứu giao tiếp chú ý: “Giao tiếp sư phạm là giao tiếp
nghề nghiệp của giáo viên với học sinh trong quá trình giảng dạy và giáo dục Nó
có ảnh hướng tới việc hình thành và phát triển nhân cách một cách toàn diện hơn, cho phép điều khiển quá trình tâm lý xã hội trong tập thể, củng cố bầu không khí thuận lợi, lành mạnh trong lớp, tạo điều kiện để hình thành sự tác động qua lại có hiệu quả giữa giáo viên và học sinh ảnh hưởng trực tiếp tới sự thành công của hoạt động học tập” [37, tr.43].
Trang 26+ Ngô Công Hoàn: Giao tiếp sư phạm là sự tiếp xúc giữa giáo viên và
học sinh nhằm truyền đạt và lĩnh hội những tri thức khoa học, vốn kinh nghiệm sống, kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp, xây dựng và phát triển nhân cách toàn diện ở học sinh [18, tr.12].
+ Phan Văn Lê: Giao tiếp sư phạm là sự tiếp xúc trao đổi giữa giáo
viên và học sinh, sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, nhằm thực hiện nhiệm vụ giảng dạy có hiệu quả.
Từ những định nghĩa trên, có thể thấy được tính chất phức tạp, khókhăn khi nghiên cứu giao tiếp sư phạm Cần thiết phải đặt nó trong bản thânquá trình sư phạm, trong mối quan hệ gắn bó, khăng khít giữa giao tiếp sưphạm và hoạt động sư phạm
cho rằng: Giao tiếp sư phạm là một quá trình tiếp xúc tâm lý giữa giáo viên và học
sinh, trong đó diễn ra sự trao đổi với nhau về thông tin, cảm xúc, nhận thức, tác động qua lại lẫn nhau và cũng là quá trình người giáo viên xây dựng và phát triển nhân cách học sinh [33, tr.19].
Có thể nói sư phạm là một nghề đặc biệt, nó chỉ có thể xảy ra trong nhàtrường trong đó chủ yếu là sự giao tiếp giữa giáo viên và học sinh Giáo viên
là người tổ chức điều khiển quá trình giáo dục trong nhà trường được gọi làchủ thể giao tiếp với nghĩa chung nhất, còn học sinh là người lĩnh hội tri thứckhoa dọc, kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp do giáo viên truyền đạt cho, với nghĩanày học sinh là khách thể trong hoạt động sư phạm Tuy nhiên để quá trìnhdạy học và giáo dục đạt hiệu quả cao thì học sinh còn là chủ thể có ý thức tiếpnhận tri thức khoa học mà thầy cô truyền đạt lại
Giao tiếp sư phạm có một đặc thù là giáo viên không chỉ giao tiếp vớihọc sinh qua nội dung bài giảng tri thức khoa học, mà họ phải là tấm gương
Trang 271.2.1.3 Khái niệm về giao tiếp sư phạm
Từ những khái niệm mà các tác giả đã đưa ra, trong phạm vi nghiêncứu của mình chúng tôi xin chọn khái niệm giao tiếp sư phạm của NguyễnThạc- Hoàng Anh làm khái niệm công cụ cho đề tài
Giao tiếp sư phạm là một quá trình tiếp xúc tâm lý giữa giáo viên và học sinh, trong đó diễn ra sự trao đổi với nhau về thông tin, cảm xúc, nhận thức, tác động qua lại lẫn nhau và cũng là quá trình người giáo viên xây dựng
và phát triển nhân cách học sinh [17, tr.19].
1.2.1.4 Đặc trưng của giao tiếp sư phạm
- Trong giao tiếp sư phạm, giáo viên không chỉ giao tiếp với học sinhqua nội dung bài giảng và tri thức khoa học, mà còn là tâm gương mẫu mực vềnhân cách cho học sinh noi theo, đúng với yêu cầu của xã hội quy định Nghĩa là, ởthầy giáo thì bao giờ cũng có sự thống nhất giữa lời nói và việc làm Tấm gươngcủa thầy có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh
- Giao tiếp sư phạm là thầy giáo chỉ được dùng các biện pháp giáo dụctình cảm để thuyết phục, vận động học sinh, không được đánh đập, hành hạ, trùdập học sinh, không dùng bất cứ hình thức áp bức nào Đây là yếu tố kích thíchviệc giáo dục và giảng dạy đạt hiệu quả cao nhất, là thái độ ân cần chăm sóc họcsinh, tin cậy học sinh và đề ra yêu cầu đúng đắn với học sinh
Tóm lại, chúng ta thấy rằng để giao tiếp sư phạm đạt được hiệu quảcao phải tạo ra được bầu không khí tâm lý giao tiếp giữa giáo viên và họcsinh Bầu không khí giao tiếp được tạo nên bởi những yếu tố tâm lý của cả haiphái giáo viên và học sinh, nảy sinh trong quá trình tiếp xúc với nhau Để chobầu không khí giao tiếp sư phạm góp phần tích cực vào quá trình dạy học vàgiáo dục, giáo viên phải thực sự là chủ thể có ý thức tổ chức, xây dựng mốiquan hệ này
Trang 281.2.1.5 Các nguyên tắc giao tiếp sư phạm
Nguyên tắc giao tiếp sư phạm là hệ thống những quan điểm nhận thứcchỉ đạo, địnhhướng hệ thống thái độ, hành vi ứng xử của giáo viên đối vớihọc sinh và ngược lại Nguyên tắc giao tiếp sư phạm mang tính chất bềnvững, ổn định nhưng vẫn có độ dao động nhất định để bảo đảm kết quả củamột quá trình giao tiếp Trong giao tiếp sư phạm, cần bảo đảm các nguyêntắc sau:
* Tính mô phạm trong giao tiếp (Nhân cách mẫu mực trong giao tiếp)
Trong giao tiếp, thầy cô giáo phải bảo đảm tính mô phạm, bởi vì:
- Giáo viên hàng ngày giao tiếp với học sinh, mọi hành vi, cử chỉ, cáchnói năng… của thầy, cô dù có chủ định hay không đến tác động trực tiếp với
các em
- Học sinh lứa tuổi nhỏ thường bắt chước cả cái hay lẫn cái dở về hành
vi, cử chỉ, cách nói năng của thầy cô Nhân cách của giáo viên phải là
nhân cách mẫu mực để học sinh noi theo
Nhân cách mẫu thực thể hiện ở:
+ Sự mẫu mực trong trang phục, hành vi, cử chỉ, hành vi ngôn ngữ nói + + Thái độ và những biểu hiện của thái độ phải phù hợp với các chuẩn hành vi.+ Khi nói năng phải chọn từ sao cho có văn hóa; phong cách ngôn ngữ phong phú, phù hợp với tình huống, nội dung và đối tượng giao tiếp
* Tôn trọng nhân cách trong giao tiếp
Tôn trọng nhân cách trong giao tiếp là:
- Trong giao tiếp phải coi học sinh là con người với đầy đủ các quyềnđược học tập, vui chơi, lao động… với những đặc trưng tâm lý riêng, bình đẳngvới mọi người trong các quan hệ xã hội
- Trong giao tiếp, giáo viên không áp đặt, ép buộc học sinh tuân theo ý
Trang 29điểm nhận thức, thái độ và có kiểu hành vi ứng xử riêng.
Thái độ tôn trọng nhân cách học sinh có biểu hiện:
+ Tạo điều kiện để học sinh bộc lộ nét tính cách, nguyện vọng của các em.+ Biết lắng nghe ý kiến, tôn trọng ý kiến, điệu bộ… của các em.+ Giọng điệu, cách phát âm, cách dùng từ sao cho bảo đảm tính văn hóa.+ Hành vi, cử chỉ, điệu bộ luôn ở trạng thái cân bằng, tránh những cử chỉ,hành vi bột phát
+ Trang phục lịch sự, gọn gàng, sạch sẽ, đúng kiểu cách
* Có thiện ý trong giao tiếp
- Trong giao tiếp sư phạm thầy cô luôn luôn nghĩ tốt về học sinh củamình, luôn o điều kiện thuận lợi nhất, ưu ái nhất để học sinh học tập, lao động tốt,tạo niềm vui cho các em, không nên có thành kiến
- Giáo viên cần biết thông cảm và hiểu biết học sinh
- Phải luôn tin tưởng học sinh Nếu ở học sinh còn có mặt nào chưa tốtthì thầy cô nên nghĩ rằng đó là nét tính cách chưa hoàn thiện và học sinh có thểsửa chữa được
- Luôn động viên, khích lệ tinh thần của học sinh , điều đó có ý nghĩa rất lớn đối với sự tiến bộ của học sinh
- Thiện ý của giáo viên thể hiện rõ nét trong việc chuẩn bị bài và khi lên lớp; thầy cô dốc hết tài năng và trí lực của mình phục vụ cho học sinh
- Phải công bằng khi cho điểm, nhận xét, đánh giá
- Thiện ý còṇ thể hiện trong khi giao việc để giúp học sinh sửa chữa lỗi lầm, để học sinh có điều kiện phát huy khả năng, sửa chửa lỗi lầm…
- Thiện ý cũng thể hiện trong khen chê, trách phạt, phán xử chuyện quan hệ giữa học sinh với nhau
* Đồng cảm trong giao tiếp
- Thầy cô biết đặt mình vào vị trí của học sinh khi tiếp xúc, giải quyết
Trang 30các tình huống giao tiếp sư phạm: nếu mình ở vị trí của học sinh thì mình sẽứng xử như thế nào? Có như vậy, thầy cô mới sống cùng niềm vui, nỗi buồncủa học sinh và sẽ xử sự phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của các em.Nhờ đồng cảm với học sinh mà giáo viên tạo ra được sự gần gũi, thân mậtvới học sinh và tạo ra được cảm giác an toàn nơi học sinh.
- Thầy cô có biện pháp giảng dạy, giáo dục có hiệu quả
- Giáo viên có cơ sở để hình thành hành vi ứng xử nhân hậu, độ lượng,khoan dung Để có thể đồng cảm với học sinh, giáo viên phải quan tâm tìm hiểunắm vững hoàn cảnh gia đình của học sinh
1.2.2 Kỹ năng giao tiếp sư phạm
[24, tr.26] Trong cấu trúc của KN không chỉ có tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà còn có cả tư duy sáng tạo
- Theo A.V Pªt«vxki, từ diển tâm lý học, 1990 “KN là cách thức thựchiện hành động đã được chủ thể tiếp thu, được đảm bảo bằng tập hợp các tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo đã được lĩnh hội”
Trang 31- Theo tỏc giả A.V.Covaliov: “kỹ năng là phương thức hành động thớchhợp với mục đớch và những điều kiện hành động” Theo ụng kết quả của hànhđộng phụ thuộc vào năng lực của con người chứ khụng đơn giản là nắm vững cỏchthức hành động thỡ sẽ đem lại kết quả tương ứng [20, tr.56 ].
- Trong cuốn Tõm lý học lứa tuổi và tõm lý học sư phạm, A.V.Petroxki
và V.A.Cruchetxki cho rằng: kỹ năng là phương thức thực hiện hành động đó đượccon người nắm vững khụng cần tớnh đến kết quả hành động, cơ sở hỡnh thành KN
là tri thức KN được hỡnh thành bằng con đường luyện tập KN tạo khả năng chocon người thực hiện hành động khụng chỉ trong những điều kiện quen thuộc mà cảtrong những điều kiện đó thay đổi
“ Kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động Con ng-ời nắm đ-ợc cách hành
động tức là có kỹ thuật hành động và có kỹ năng” [9, tr.32]
Cỏc tỏc giả như Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Trần QuốcThành cũng quan niệm: “kỹ năng là một năng lực của con người trong việcthực hiện một cụng việc cú kết quả”
Trong “từ điển Tõm lý học” do Vũ Dũng chủ biờn định nghĩa: “kỹ năng
là năng lực vận dụng cú kết quả tri thức về phương thức hành động đó đượcchủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng”
Tuy khỏi niệm KN được soi chiếu và bàn luận dưới cỏc gúc độ khỏcnhau nhưng nhỡn chung KN kỹ năng được hỡnh thành thiờn về hai quan điểmnhư sau:
+ Quan điểm thứ nhất: kỹ năng được định nghĩa thiờn về mặt kỹ thuậtcủa thao tỏc hay hành đụng hoạt động Theo quan điểm này cú cỏc tỏc giả
V.X Radic, V.A Cruchextki, A.G Covaliôv, Trần Trọng Thuỷ Cỏc tỏcgiả này thống nhất ở quan điểm cho rằng KN là phương tiện hành động màcon người đó nắm vững
Trang 32+ Quan điểm thứ hai: kỹ năng được xem xét nghiêng về mặt năng lực củacon người Theo quan điểm này có các tác giả: N Lªvit«v, K.K Plat«n«v,
G.G.G«lubÐv, NguyÔn Quang UÈn, Ng« C«ng Hoµn…Các tác giả nàycho rằng KN thể hiện năng thực hiện một hành động có kết quả với chấtlượng cần thiết và thời gian tương ứng trong điều kiện xác định
Riêng chúng tôi đồng ý với quan điểm thứ hai: kỹ năng là thuật ngữ chỉmức độ thành thạo áp dụng tri thức trong hành động, trong các thao tác hành
động Nói cách khác “kỹ năng chính là năng lực của chủ thể vận dụng những
hiểu biết của tri thức về phương thức thực hiện hành động phù hợp với những điều kiện hiện có nhằm đạt mục đích đề ra” Quan niệm KN nghiêng về năng
lực của con người không phủ nhận quan điểm thứ nhất mà đó là việc mở rộngthêm thành phần cấu trúc của KN cũng như đặc tính của chúng Như vậyngười có KN về một hành động nào đó phải đạt được một số yêu cầu sau:
Trang 33hành động đó Trong ý nghĩa đó, K.K Platonov khẳng định: “cơ sở tâm lýcủa KN là sự thông hiểu mối quan hệ giữa mục đích hành động, các điều kiện
và phương thức thực hiện hành động”
Khi xem xét kỹ năng cần phải lưu ý những điểm sau:
- Tính đúng đắn, sự thành thạo, linh hoạt mềm dẻo là tiêu chuẩn quantrọng để hình thành và phát triển kĩ năng Một hành động chưa thể gọi là KN nếucòn mắc nhiều lỗi và vụng về, các thao tác diễn ra theo khuôn mẫu cứng nhắc
- Kỹ năng không phải là bẩm sinh mà là sản phẩm của hoạt động thựctiễn, đó là kết quả vận dụng những tri thức và kinh nghiệm vào hoạt động thực tiễn
để đạt được mục đích đề ra
Như vậy khái niệm KN được hiểu là “KN chính là năng lực của chủ
thể thực hiện hành động phù hợp với những điều kiện hiện có nhằm đạt mục đích đề ra” [17, tr.14].
1.2.2.2 Vấn đề chung về kỹ năng giao tiếp
Tùy vào mục đích nghiên cứu của mình mà mỗi tác giả đưa ra nhữngkhái niệm cụ thể về KNGT vì vậy cho đến nay vẫn chưa có khái niệm phổquát, chung nhất về KNGT
chóng những dấu hiệu bề ngoài, những diễn biến tâm lý bên trong của đối tượnggiao tiếp và bản thân chủ thể giao tiếp Là KN sử dụng các phương tiện ngôn ngữ
và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức điều chỉnh điều khiển quá trình giao” [5, tr.38]
- Trong tài liệu tập huấn cán bộ nữ về giới và kỹ năng lãnh đạo tác giảNguyễn Thị Kỷ viết: “kỹ năng giao tiếp của người quản lý lãnh đạo là KN
29
Trang 34tiếp cận truyền tin, thuyết phục quần chúng, kỹ năng phản hồi nhằm đạt được kết quả mục đích nhất định”.
- Trong luận án tiến sĩ về “kỹ năng giao tiếp của cán bộ quản lý sởgiao dịch Hà Nội thuộc ngân hành Công thương Việt Nam”, 2004 của tác giảNguyễn Thị Tuyết Mai, khoa tâm lý học xã hội, Học viện chính trị quốc gia HồChí Minh thì KNGT được định nghĩa như sau: “kỹ năng giao tiếp là khả năng nhậnbiết, phán đoán, sử dụng phương tiện giao tiếp để định hướng, định vị, điểu chỉnhđiều khiển quá trình giao tiếp” Cụ thể người có kỹ năng giao tiếp là người có khảnăng đoán nhận được diễn biến tâm lý cũng như nhu cầu, mong muốn, tâm trạng,trình độ của đối tượng giao tiếp Xác định đúng vị trí chức năng của mình tronghoạt động giao tiếp, biết thu hút, lôi cuốn, chủ động
trong quá trình giao tiếp, biết chế ngự bản thân và đối tượng trong quá trìnhgiao tiếp Người có KNGT là người làm chủ trạng thái tình cảm, biết lắngnghe, có khả năng thuyết phục và ứng xử thích hợp trong các tình huống đadạng của hoạt động
- Theo tác giả Nguyễn Văn Đính trong giáo trình “tâm lý học và nghệthuật giao tiếp, ứng xử trong kinh doanh du lịch” quan niệm: “KNGT là khả năngnhận biết nhanh nhạy những biểu hiện tâm lý bên ngoài, đoán biết những đặc điểmtâm lý bên trong của con người Đồng thời biết sử dụng các phương tiện ngôn ngữ,phi ngôn ngữ, biết cách định hướng, điều chỉnh điều khiển quá trình giao tiếp đểđạt được mục đích nhất định”
- Trong giáo trình giao tiếp với trẻ em của Trần Văn Lũy và Trần ThịTuyết Hoa viết: “KNGT là mức độ phối hợp, hợp lí nhất các thao tác, cử chỉ, điệu
bộ hành vi đảm bảo đạt kết quả trong quá trình giao tiếp KNGT vừa có tính ổnđịnh, vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo, vừa có tính mục đích Bản chất củaKNGT là sự phối hợp phức tạp giữa chuẩn mực hành vi xã hội và cá nhân với sự
Trang 35hài hũa, hợp lý cú nghĩa là nú mang một nội dung thụng tin nhất định, phựhợp với mục đớch giao tiếp và mang lại hiệu quả trong quỏ trỡnh giao tiếp”[25, tr.15].
Mặc dự cỏc định nghĩa của cỏc tỏc giả núi trờn chưa hẳn đó hoàn toànđồng nhất nhưng theo chỳng tụi những khỏi niệm về KNGT cú những điểmchung sau:
của của mỗi ng-ời về đối t-ợng giao tiếp cụ thể đó chính là việc nhậnbiết nhanh nhạy những biểu hiện tâm lý bên ngoài, đoán biết đ-ợc những
đặc điểm tâm lý bên trong của đối t-ợng giao tiếp
ph-ơng tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ nhằm đạt đ-ợc mục đích giao tiếp mộtcách tốt nhất Hay đó cũng chính là khả năng- năng lực sử dụng các ph-ơngtiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ của chủ thể hành động nhằm thực hiệnmột cách có hiệu quả kỹ năng giao tiếp
- Kỹ năng giao tiếp thể hiện khả năng điều khiển điềuchỉnh, định h-ớng quá trình giao tiếp để sao cho mục đích giao tiếp
đạt đến một cách hiệu quả nhất (Sự điều khiển điều chỉnh ở đây cóthể bao hàm việc cả việc điều khiển, làm chủ cảm xúc hành vi củachính bản thân chủ thể giao tiếp và đối t-ợng giao tiếp)
Từ việc phân tích và tìm ra đặc điểm của kỹ năng giao tiếp
theo chúng tôi nên hiểu kỹ năng giao tiếp nh- sau: Kỹ năng giao tiếp là
năng lực của chủ thể sử dụng hệ thống ph-ơng tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, là khả năng nhận biết nhanh nhạy những biểu hiện tâm lý bên ngoài, đoán biết đ-ợc những đặc điểm tâm lý bên trong của đối t-ợng giao tiếp để làm sao có thể biết cách định h-ớng, điều chỉnh, điều khiển quá trình giao tiếp đạt đ-ợc mục đích nhất định [34, tr.28].
Trang 361.2.2.3 Khái niệm kỹ năng giao tiếp sư phạm
Kỹ năng giao tiếp sư phạm là khả năng nhận thức nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và những diễn biến tâm lý bên trong của học sinh và bản thân, đồng thời sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức, điều chỉnh, điều khiển quá trình giao tiếp nhằm đạt được mục đích giáo dục [32, tr.20].
1.2.2.4 Căn cứ để phân loại kỹ năng giao tiếp sư phạm.
Quá trình giao tiếp sư phạm diễn ra rất đa dạng, phức tạp, hiệu quả củaquá trình này phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau như: phong cách, tâmthế của các chủ thể giao tiếp Hay nói cách khác, trình độ thành thạo của các
kỹ năng giao tiếp sư phạm được xác định bởi sự phong phú, đa dạng của nhâncách chủ thể giao tiếp Như vậy, phân loại các kỹ năng giao tiếp trong mộttình huống cụ thể là một vấn đề hết sức phức tạp Thông thường người ta căn
cứ vào quá trình diễn biến của một pha giao tiếp để xác định các loại kỹ nănggiao tiếp Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu, pha giao tiếp giữa giáo viên
và học sinh được cấu tạo từ ba thành phần chủ yếu sau:
- Hướng sự giao tiếp vào tình huống giao tiếp, nghĩa là hướng vào các điều kiện không gian, thời gian và đối tương giao tiếp
- Quá trình tiếp xúc, phục vụ giao tiếp, dẫn dắt phát triển, truyền đạt tinh thần, nội dung cho đối tượng và kết thúc sự giao tiếp
- Quá trình giao tiếp thực sự, biểu hiện sự thống nhất trong bản thânmình các yếu tố kỹ thuật cũng như các yếu tố nhân cách (mục đích, nội dung,phong cách cá nhân giao tiếp) sự thống nhất này được xác đinh bởi xu hướng
nhân cách
Từ những yếu tố trên có thể vạch ra những kỹ năng chính như sau:+ Phán đoán dựa trên nét mặt, cử chỉ, điệu bộ của đối tượng giao tiếp
Trang 37+ Điều khiển mình và người mình giao tiếp.
+ Điều khiển các ý kiến của cuộc giao tiếp
+ Xác định được vị trí của mình trong quá trình giao tiếp
Giữa các kỹ năng này có sự liên quan gắn bó chặt chẽ với nhau và sựbiểu hiện của nó trong một pha giao tiếp không phải là độc lập mà đan chéovào nhau Vì vậy, có thể căn cứ vào bản chất, chức năng và biểu hiện củachúng người ta chia thành ba nhóm sau: Nhóm kỹ năng định hướng, Kỹ năngđịnh vị, Nhóm kỹ năng điều khiển, điều chỉnh quá trình giao tiếp [32, tr.21,22,23]
vào sự tri giác ban đầu về đặc điểm bên ngoài của đối tượng giao tiếp, diện mạo,
cử chỉ, ngôn ngữ, biểu cảm…nó thể hiện trong thời gian và không gian giao tiếp
Từ đó đoán biết diễn biến tâm lý đang diễn ra trong đối tượng để định hướng chođối tượng trong quá trình giao tiếp tiếp theo Thông qua những biểu hiện bên ngoài
để xác định động cơ, nhu cầu, trạng thái tâm lý, mục đích, sở thích của đối tượng.Căn cứ vào kỹ năng tri giác, đặc biệt là tri gaics những biểu hiện phi ngôn ngữ củađối tượng giao tiếp Bởi vì những hành vi, cử chỉ, phi ngôn ngữ rất tự nhiên, conngười không thể che dấu được,
chúng ít có sự tham gia của ý thức
- Kỹ năng định vị: Đó là khả năng xác định đúng vị trí giao tiếp để từ
đó taọ điều cho đối tượng giao tiếp chủ động giao tiếp, cần xác định đúng ai đứngvai trò gì trong quá trình giao tiếp
- Kỹ năng điểu chỉnh, điều khiển giao tiếp: Việc điều chỉnh, điềukhiển quá trình giao diễn ra rất phức tạp và sinh động, bởi lẽ có rất nhiều thànhphần tâm lý tham gia, trước hết là hoạt động nhận thức, tiếp theo là thái độ rồi đếnhành vi ứng xử Sự phối hợp của ba hoạt động này cần nhịp nhàng,
Trang 38hợp lí Để điều khiển quá trình giao tiếp, giáo viên phải biết “đọc được quanét mặt, ngôn ngữ, xúc cảm, biểu cảm, qua cử chỉ, điệu bộ, dáng đi biết họcsinh muốn gì? có nhu cầu gì?
Một số tác giả lại chia KNGT thành 2 nhóm:
tượng giao tiếp thông qua những biểu hiện bên ngoài Hay nói cách khác đó chính
là quá trình chủ thể xác định những đặc điểm tâm lý đặc thù của đối tượng giaotiếp để từ đó đề ra các hình thức giao tiếp thích hợp
- Nhóm KN điều khiển quá trình giao tiếp: là những KN thu hút đối tượng theo ý mình để đạt mục đích giao tiếp
Căn cứ vào các giai đoạn của quá trình giao tiếp người ta chia giao tiếp ra thành các KNGT tương ứng
Theo chúng tôi dù cách chia có khác biệt nhưng đều có nhắc đến cácKNGT chủ yếu như: KN thiết lập mối quan hệ trong giao tiếp, kỹ năng linhhoạt mềm dẻo, kỹ năng tự chủ cảm xúc hành vi, kỹ năng lắng nghe, kỹ năngdiễn đạt Ở đề tài này chúng tôi lựa chọn theo cách chia của tác giả Ngô CôngHoàn và Hoàng Thị Anh KNGT có thể chia thành 3 nhóm: KN định hướng,
KN định vị và KN điều chỉnh điều khiển
1.2.2.5 Vai trò của kỹ năng giao tiếp sư phạm đối với sinh viên sư phạm
Để thành công trong hoạt động của mình, người thầy giáo không nhữngcần thiết lắm vững và am hiểu một cách sâu sắc những kiến thức khoa họcchuyên ngành, cũng như các khoa học liên quan, mà phải lắm vững một hệthống các kỹ năng nghề nghiệp Trong số các kỹ năng đó, kỹ năng giao tiếp sưphạm giữ vai trò quan trọng bậc nhất Nhờ có kỹ năng giao tiếp sư phạmngười thầy giáo dễ dàng thiết lập nên những mối quan hệ gần gũi và thân thiếtvới đối tượng giáo dục, thông qua các lực tham gia quá trình giáo dục
Trang 39Trong thời gian thực tập sư phạm, kỹ năng giao tiếp sư phạm giúp chosinh viên sư phạm hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, đồng thời thông qua đóthiết lập các mối quan hệ thân mật, gần gũi hay xa lánh sau này, góp phầnhình thành kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên sư phạm, hình thành vàphát triển lòng yêu nghề của họ.
Trong quan hệ với học sinh¸kỹ năng giao tiếp sư phạm giúp sinh viên sưphạm thu hút được các em vào các hình thức khác nhau của hoạt động học tập
Đối với hoạt động giảng dạy trên lớp kỹ năng giao tiếp sư phạm giúpcho sinh viên sư phạm dạy tốt hơn, nâng cao hiệu quả giờ học, thể hiện từkhâu chuẩn bị bài, chuẩn bị hành vi và suy nghĩ có tính chất xúc cảm củahành vi, tạo nên tâm thế sẵn sàng, tâm trạng truyền lan kích thích tính tích cựclĩnh hội tri thức, giáo viên biết đặt câu hỏi đúng khơi dậy lòng khát khao hiểubiết của học sinh
Trong quá trình giảng bài giúp cho giáo viên tạo ra không khí tích cựctrong tư tưởng của học sinh Kỹ năng này thể hiện từ khâu tổ chức hoạt độngnhư thế nào cho học sinh, đến việc quan sát trạng thái làm việc của học sinhtrong giờ lên lớp và giải quyết các tình huống xunng đột Khi tổ chức hoạtđộng nhận thức cho học sinh tập chung tư tưởng cao, tích cực tìm tòi suy nghĩnhiệm vụ tri thức đặt ra cho chúng, kỹ năng quan sát giúp cho sinh viên sưphạm theo dõi được những diễn biến tâm trạng của học sinh, kịp thời ngănchặn tình trạng ể oải tạo ra những tình huống thích hợp kích thích học sinhtham gia tích cực Kỹ năng sử dụng các hình thức khen thưởng, trách phạtđúng lúc đòi hỏi phải có nghệ thuật khéo léo, việc đánh giá phải làm cho họcsinh tin ở bản thân mình khiến cho các em vui vẻ, hăng hái, tích cực đi sâuvào tìm tòi, sáng tạo Ngược lại nếu đánh giá học sinh không chính xác, còn
mơ hồ, hời hợt làm cho tính tích cực của các em giảm sút Kỹ năng sư phạm
Trang 40còn giúp sinh viên ngăn ngừa trước sự vi phạm kỷ luật của học sinh hơn làgiải quyết xung đột.
Kỹ năng giao tiếp sư phạm giúp cho sinh viên sư phạm có giọng nóithích hợp, tác phong đúng đắn khi giao tiếp với học sinh và tập thể học sinh.Giọng nói có ngữ điệu, nhịp điệu trong quá trình giảng dạy có tác dụng truyềncảm mạnh mẽ, gây ra những rung động tích cực Nếu giọng nói đều đều hoặcchậm chạp dẫn đến học sinh lơ đãng, không quan tâm Ngược lại ngôn ngữ cótính truyền cảm kích thích tình cảm của học sinh, lôi cuốn học sinh vào trongbài giảng
Kỹ năng giao tiếp sư phạm giúp sinh viên sư phạm dễ dàng thiết lậpmối quan hệ với đồng nghiệp, tạo nên bầu không khí thân mật giữa giáo sinh
và học sinh, giúp sinh viên sư phạm nhanh chóng thâm nhập vào hoạt độnggiảng dạy và giáo dục của nhà trường thống nhất mục đích, phương pháp vànội dung giảng dạy Tạo ra mối quan hệ gần gũi, thân tình giữa các đồngnghiệp với nhau
Kỹ năng giao tiếp sư phạm giúp cho sinh viên sư phạm tranh thủ sựgiúp đỡ của cán bộ lãnh đạo nhà trường, giúp cho hoạt động có nhiều thuậnlợi hơn, sinh viên sư phạm chủ động công tác như một thành viên tích cực củanhà trường, chủ động bàn bạc, góp ý nội dung thực hiện hoạt động với banlãnh đạo, làm cho họ quan tâm chú ý đến hoạt động của mình, giúp sinh viên
sư phạm biết cách làm việc trong tập thể và biết cách hoạt động trong tập thểcác nhà sư phạm
1.2.3 Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên sư phạm
1.2.3.1 Khái niệm sinh viên sư phạm
Sinh viên sư phạm là những người đang học tập, rèn luyện trong cáctrường đại học và cao đẳng sư phạm Họ mang đầy đủ những đặc điểm chung