Với sự đa dạng phong phú về tiềm năng để phát triển du lịchvăn hóa, các làng cổ Bắc Bộ đang ngày càng thu hút du khách đến tham quandu lịch cùng nhiều loại hình: du lịch làng quê, du lịc
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục đích chọn đề tài 7
3 Nhiệm vụ của đề tài 7
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Đối tượng nghiên cứu 13
7 Cấu trúc của luận văn 13
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 14
1.1 Cơ sở lý luận về du lịch 14
1.1.1 Khái niệm du lịch 14
1.1.2 Du lịch văn hóa 15
1.1.3 Văn hóa du lịch. 16
1.1.4.Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động du lịch văn hóa 17
1.1.5 Mối quan hệ giữa cộng đồng dân cư và hoạt động du lịch văn hóa. 18
1.2 Làng cổ Bắc Bộ 20
1.2.1 Khái quát về làng cổ Bắc Bộ 20
1.2.2 Các loại hình làng cổ Bắc Bộ 21
1.2.3 Tiêu chí đánh giá làng cổ. 25
1.2.4 Giá trị vật thể của làng cổ Bắc Bộ 26
1.2.5 Giá trị phi vật thể của làng cổ Bắc Bộ 30
1.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa tại làng cổ ở một số địa phương khác 32
1.3.1 Làng Đông Hòa Hiệp- Tỉnh Tiền Giang 32
1.3.2 Làng cổ Phước Tích- Tỉnh Thừa Thiên Huế 32
Tiểu kết chương 1 34
Trang 2Chương 2 TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI LÀNG CỔ BẮC BỘ NGHIÊN CỨU TẠI LÀNG
ĐƯỜNG LÂM VÀ LÀNG BÁT TRÀNG 35
2.1 Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tại làng cổ Bắc Bộ, làng cổ Đường Lâm và làng cổ Bát Tràng 35
2.1.1 Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tại làng cổ Đường Lâm 35
2.1.2 Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tại làng cổ Bát Tràng 44
2.2 Hiện trạng hoạt động du lịch tại các làng cổ Đường Lâm và làng Bát Tràng 49
2.2.1 Lượng khách du lịch 49
2.2.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động phát triển du lịch 53
2.2.3 Thực trạng về nguồn nhân lực 56
2.2.4.Thu nhập từ hoạt động du lịch. 57
2.2.5.Thực trạng về môi trường 59
2.2.6 Thực trạng về công tác quản lý. 60
2.2.7 Sự giúp đỡ, hỗ trợ từ các tổ chức nước ngoài. 63
2.3 Hướng dẫn du lịch 64
2.3.1 Đến làng cổ Bát Tràng 64
2.3.2 Đến làng cổ Đường Lâm. 65
2.4 Một số chương trình tour du lịch tham quan làng cổ Đường Lâm và làng cổ Bát Tràng 66
2.4.1 Chương trình du lịch tại làng cổ Đường Lâm 66
2.4.2 Chương trình du lịch tại làng gốm Bát Tràng 69
2.5 Một số sản phẩm du lịch đặc trưng của làng cổ Đường Lâm và làng cổ Bát Tràng 72
2.5.1 Sản phẩm du lịch tại làng cổ Đường Lâm 72
2.5.2 Sản phẩm du lịch tại làng cổ Bát Tràng 73
2.6 So sánh thực trạng hoạt động du lịch tại làng cổ Đường Lâm và làng cổ Bát Tràng 74
2.6.1 Giống nhau. 74
2.6.2 Khác nhau 75
Tiểu kết chương 2 75
Trang 3Chương 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI LÀNG
CỔ BẮC BỘ 78
3.1 Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển du lịch văn hóa tại các làng cổ Bắc Bộ 78
3.1.1 Thuận lợi 78
3.1.2 Khó khăn 78
3.2 Giải pháp phát triển du lịch văn hóa tại các làng cổ Bắc Bộ 82
3.2.1 Giải pháp về phát triển sản phẩm du lịch 82
3.2.2 Giải pháp phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 83
3.2.3 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 84
3.2.4 Giải pháp về phát triển thị trường, xúc tiến quảng bá du lịch 84
3.3 Giải pháp phát triển du lịch văn hóa tại làng cổ Đường Lâm 86
3.3.1 Bảo tồn các nhà cổ 86
3.3.2 Phát triển du lịch văn hóa dựa trên lợi ích của người dân 88
3.3.3 Phát triển chất lượng nguồn nhân lực 89
3.3.4 Quảng bá hình ảnh du lịch làng cổ Đường Lâm 90
3.4 Giải pháp phát triển du lịch văn hóa tại làng cổ Bát Tràng 91
3.4.1 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội và cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 91
3.4.2 Giải pháp về quản lý và quy hoạch phát triển du lịch 93
3.4.3 Phối hợp liên kết giữa các công ty du lịch 93
3.4.4 Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch 94
3.4.5 Tăng cường quảng bá, giới thiệu hình ảnh của du lịch Bát Tràng 94 3.4.6 Giải pháp về bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch 95
Tiểu kết chương 3 96
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Danh mục bảng
Bảng 2.4: Đánh giá tổng hợp chỉ tiêu phát triển bền vững ở
làng cổ Đường Lâm 60
2 Danh mục biểu đồ
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Làng cổ Bắc Bộ bao đời nay là nơi cư trú, lao động, sản xuất và sinhhoạt của cư dân Việt, là lãnh thổ khép kín được bao bọc bởi lũy tre làng Dovậy giữa các làng dường như rất ít có mối quan hệ với nhau về mặt tínngưỡng văn hóa Người xưa từng nói: “trống làng nào làng ấy đánh, thánhlàng nào làng ấy thờ” Vì thế mà mỗi làng đều có những nét văn hóa phi vậtthể khác nhau như: Thành Hoàng làng, lệ làng, hội hè đình đám vào riêng mộtngày không làng nào giống làng nào Sự gắn bó giữa con người và con ngườitrong cộng đồng làng quê không chỉ là quan hệ sở hữu trên đất làng, trênnhững di sản hữu thể chung như đình làng, chùa làng mà còn là sự gắn bócác quan hệ về tâm linh, về chuẩn mực xã hội, đạo đức Văn hóa làng chính làcác phong tục, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo tổng hợp thành hệ thống các giátrị tinh thần đi vào ký ức người Việt trở nên gần gũi và thân quen
Trước kia, làng là một tập hợp người sống dựa trên nhiều nguyên lýkhác nhau nên là một tập hợp gồm nhiều tổ chức: theo lĩnh vực cư trú có tổchức là xóm và ngõ; theo quan hệ huyết thống là tổ chức tộc họ và gia đình;theo lớp tuổi của nam giới là tổ chức giáp; theo nghề nghiệp và sở thích là các
tổ chức phường và hội; theo hệ thống hành chính là các tổ chức xã và thôn
Dù nhỏ, làng vẫn là một cộng đồng dân cư đa chức năng, lo đi phu, đi lính, đóng thuế cho triều đình trung ương Còn các việc khác( tranh chấp nội bộ, tang ma, cưới xin- lệ nộp cheo, lễ hội…) thì có tính tự trị, không cần kiện cáo thưa bẩm trước cửa quan [3, tr 145] Ngày nay, làng vẫn là một tổ chức tập
hợp trong đó có nhiều tổ chức khác nhau, tuy không hoàn toàn đồng tâmnhưng vẫn gắn bó với nhau trong cộng đồng làng xã và đều đặn dưới sự quản
lý của tổ chức làng xã
Thực tế cho thấy, các làng cổ Bắc Bộ có rất nhiều tiềm năng để pháttriển du lịch văn hóa Từ giá trị vật chất đến giá trị tinh thần, từ các công trình
Trang 7kiến trúc đến văn hóa tâm linh, từ cảnh quan làng xóm đến sinh hoạt cuộcsống thường ngày đều là những tiềm năng có thể khai thác phục vụ cho hoạtđộng du lịch Với sự đa dạng phong phú về tiềm năng để phát triển du lịchvăn hóa, các làng cổ Bắc Bộ đang ngày càng thu hút du khách đến tham quan
du lịch cùng nhiều loại hình: du lịch làng quê, du lịch nông thôn, du lịch trảinghiệm, du lịch làng nghề, du lịch tâm linh, du lịch lễ hội… Điều này khôngnhững tạo thêm công ăn việc làm cho cư dân địa phương mà còn giới thiệuhình ảnh của các làng cổ Bắc Bộ đến với bạn bè trong và ngoài nước
Tuy nhiên, hiện nay đời sống dân cư tại các làng cổ Bắc Bộ vẫn cònchưa cao, nhận thức về môi trường xã hội vẫn còn hạn chế nên việc khai tháccác giá trị văn hóa sẵn có tại các làng cổ Bắc Bộ vẫn chưa được quan tâmđúng mực Bên cạnh đó nhiều làng cổ Bắc Bộ khai thác giá trị văn hóa chohoạt động du lịch nhưng không chú trọng đến gìn giữ và bảo tồn các giá trịnày đã làm cho những giá trị văn hóa tại đây ngày càng bị mai một đi
Trên cơ sở đó tác giả lựa chọn đề tài ”Phát triển du lịch văn hóa tại cáclàng cổ Bắc Bộ” qua khảo sát hai làng cổ cụ thể là Đường Lâm và Bát Trànglàm luận văn cao học của mình nhằm phát triển hoạt động du lịch văn hóa tạicác làng cổ Bắc Bộ nói chung cũng như đối với làng cổ Đường Lâm và làng
cổ Bát Tràng nói riêng
2. Mục đích chọn đề tài
Đề tài khoa học này giới thiệu các giá trị vật chất và giá trị tinh thần củacác làng cổ Bắc Bộ cũng như các tiềm năng để phát triển du lịch văn hóa Bêncạnh đó, đề tài cũng phân tích thực trạng hoạt động du lịch và đưa ra các giảipháp để đẩy mạnh hoạt động du lịch tại các làng cổ Bát Tràng và làng cổĐường Lâm
3. Nhiệm vụ của đề tài
đến du lịch văn hóa, mối quan hệ giữa văn hóa và cộng đồng dân cư địa
Trang 8phương, các khái niệm liên quan đến làng cổ Bắc Bộ Những bài học từ kinhnghiệm trong việc phát triển du lịch văn hóa tại một số nước Châu Á và địaphương khác trong nước.
Luyện Hồng Anh( 2012), Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh
Vĩnh Phúc, Luận văn Thạc sỹ Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn Hà Nội.
Vũ Thị Thúy( 2010), Nghiên cứu phát triển du lịch làng gốm Phù Lãng
ở Bắc Ninh, Luận văn Thạc sỹ Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn Hà Nội;
Trần Thành Công( 2012), Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh
Hải Dương, Luận văn Thạc sỹ Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn Hà Nội;
Nguyễn Quang Dũng ( 2012), Phát triển du lịch làng quê vùng đồng
bằng sông Hồng giáp Hà Nội góp phần thu hút khách du lịch và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, Luận văn Thạc sỹ Đại học Khoa học Xã hội và
nhân văn Hà Nội
Nguyễn Thị Thu Thủy( 2012), Nghiên cứu phát triển sản phẩm du lịch
văn hóa tỉnh Nam Định, Luận văn Thạc sỹ Đại học Khoa học Xã hội và nhân
văn Hà Nội
Trang 9Lê Thị Hải Lý( 2013), Mối quan hệ giữa văn hóa du lịch và du lịch văn
hóa- những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sỹ Đại học Khoa học
Xã hội và nhân văn Hà Nội
Trần Thị Kim Oanh( 2013) Phát triển du lịch văn hóa tỉnh Ninh Bình,
Luận văn Thạc sỹ Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn Hà Nội;
Lê Trung Thu( 2013), Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Bắc
Ninh, Luận văn Thạc sỹ Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn Hà Nội.
Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu dựa vào những tiềm năng sẵn
có, những tài nguyên của từng vùng, từng địa phương được các tác giả khaithác và giới thiệu tới khách du lịch Những tiềm năng, tài nguyên này có thể làgiá trị vật chất hay giá trị tinh thần khác nhau đều nhằm mục đích phục vụ chohoạt động du lịch Các tác giả đã đi sâu vào khai thác những tài nguyên tựnhiên như tài nguyên địa hình, khí hậu, sinh vật, cảnh quan để thấy đượcnhững giá trị nổi bật của từng vùng, địa phương, từ đó tìm ra những khác biệtđộc đáo để có thể phục vụ cho hoạt động phát triển du lịch Bên cạnh nhữngtài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn cũng được tìm tòi và nêu ra để thấyđược những giá trị phi vật thể quý giá cần phải được khai thác và bảo tồn.Ngoài ra, các đề tài trên còn phân tích hiện trạng hoạt động du lịch tại vùng vàđịa phương như: hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ dulịch, công tác quản lý của chính quyền, nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch,hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch, tác động của môi trường đến hoạt động
du lịch đến vùng, địa phương được nghiên cứu…Từ những tiềm năng và hiệntrạng hoạt động du lịch, các tác giả xác định giải pháp phù hợp cho từng vùng
và từng địa phương cụ thể nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển du lịch nóichung cũng như du lịch văn hóa nói riêng Những giải pháp này có thể là giảipháp trước mắt cần được ưu tiên hoặc cũng có thể là giải pháp lâu dài tiếnhành trong nhiều năm về sau Dù là giải pháp trước mắt hay lâu dài thì những
Trang 10giải pháp này đều có những ưu điểm góp phần trong việc đẩy mạnh hoạt động
du lịch văn hóa tại khu vực đó nhằm thu hút mạnh mẽ khách du lịch đến thamquan và khám phá
Mặc dù đề tài phát triển du lịch văn hóa tại các địa phương, các vùnghay các ngành nghề truyền thống có khá nhiều nhưng hiện nay chưa có một
đề tài nào nghiên cứu về phát triển hoạt động du lịch văn hóa tại các làng cổtại Bắc Bộ Có thể nói khi nhắc tới làng cổ Bắc Bộ chúng ta sẽ cảm nhận được
sự thanh bình, yên lành và trong mát Chỉ khi được đắm mình vào không gian
ấy, chúng ta dường như được trở về với tuổi thơ, về nơi chôn nhau cắt rốn củamình Hình ảnh làng cổ Bắc Bộ bao đời nay như cây đa, bến nước, sân đình…
đã ăn sâu vào tâm trí của bao người nhất là những người con xa quê Theo
GS TS Phạm Đình Việt nhận diện một ngôi làng được coi là làng cổ khi có các yêu tố sau: Thứ nhất căn cứ những yếu tố vật chất còn tồn tại một cách rõ rệt Đó là: cấu trúc không gian cảnh quan, các công trình kiến trúc Thứ hai các yếu tố phi vật thể như: lối sống( tập tục), tín ngưỡng, lễ hội.
- Cấu trúc không gian của làng thể hiện ở hệ thống đường xá của làng Vấn đề này theo các nhà nghiên cứu thì nổi bật là hệ thống đường xương cá.
Trong làng có một số đường chính và tư đây có các đường nhánh chia vào các cụm nhà( các nhánh này thường là nhánh cụt) Lũy tre bao quanh làng cũng là một dạng tạo nên cấu trúc đặc trưng của làng Bắc Bộ; những cụm nhà nằm ngoài lũy tre thường gọi là trại hoặc ấp đây là nơi cư trú của người được làng cho ra ở hoặc cấp thêm đất Trong làng còn gặp những ao nhỏ kề với nhà ở, đây là dấu tích còn lại khi người dân lấy đất để đắp nền nhà đồng thời tạo ra một mặt nước nhỏ để nuôi cá và trữ nước tưới vườn- nét đặc trưng của lối sống tự cung cấp ngày xưa.
- Cảnh quan của làng được thể hiện ở lũy tre hàng rào giếng nước, cây
đa cây gạo bến nước, cổng làng Những yếu tố này tạo nên hình ảnh chung
Trang 11của một làng quê Bắc Bộ nhưng nó cũng rất riêng cho từng làng vì những chi tiết của nó.
- Các công trình kiến trúc của làng là cổng làng đình làng, nhà thờ họ nhà ở ngoài ra một số làng còn có các công trình tín ngưỡng như nhà thờ chùa miếu.
Những yếu tố này càng rõ nét thì giá trị của làng về phương diện quy hoạch và kiến trúc sẽ cao.
Các yếu tố phi vật thể đến nay đã có nhiều thay đổi, nhiều hủ tục bị bãi
bỏ để cuộc sống phù hợp với sự phát triển Nhưng những hoạt động mang tính cộng đồng nặng về biểu hiện của văn hóa lịch sử cần được duy trì như hội làng, thờ những người anh hùng các vị có công với nước với dân Bên cạnh đó tình làng nghĩa xóm- lối sống này là nét đẹp của người nông dân nên cần lưu giữ vì nó sẽ tạo nên nhịp sống của nông thôn [ 53]
Với những nét đẹp và giá trị truyền thống vô cùng quý báu đó, nhữngngười dân tại các làng quê Bắc Bộ vẫn đang hàng ngày gìn giữ và bảo tồn đểcon cháu về luôn thấy tự hào và trân trọng Thực tế hiện nay cho thấy, dukhách trong nước đặc biệt là du khách nước ngoài đang có xu hướng thích đi
du lịch và tìm hiểu những vùng đất vẫn giữ được nét cổ truyền độc đáo đó.Tuy nhiên, các hoạt động du lịch tại các làng cổ Bắc Bộ vẫn đang còn mangtính tự phát do các cá nhân hay hộ gia đình đơn lẻ tự kinh doanh du lịch nhưphục vụ ăn uống tại chỗ cho du khách khi có nhu cầu hay cải tạo một vài vị trítrong gia đình để làm nơi lưu trú cho khách du lịch hay chỉ đơn giản là buônbán một vài sản phẩm vùng quê cho du khách Vì vậy, tác giả chọn và nghiêncứu đề tài” Phát triển du lịch văn hóa tại các làng cổ Bắc Bộ( nghiên cứu làng
cổ Đường Lâm, làng cổ Bát Tràng) để mong muốn giới thiệu những giá trị vậtchất, giá trị tinh thần đẹp đẽ cần được khai thác và bảo tồn tại các làng cổ Bắc
Trang 12Bộ Ngoài ra, đề tài cũng như đưa ra một số giải pháp mang tính chất kịp thời
để hoạt động du lịch tại các làng cổ ngày càng có hiệu quả
Trong rất nhiều làng cổ Bắc Bộ, tác giả chọn nghiên cứu làng cổ ĐườngLâm và làng cổ Bát Tràng vì đó có thể coi là hai trong số những ngôi làng cổnhất ở Bắc Bộ Làng cổ Đường Lâm tiêu biểu cho nền văn hóa cổ xưa khilàng vẫn còn giữ được hình ảnh của làng quê Việt cổ Hình ảnh những ngôinhà, ngôi chùa, mái đình đến những kiến trúc độc đáo hay những phong tụctập quán vẫn luôn được người dân làng Đường Lâm hàng ngày gìn giữ vàphát huy những giá trị tốt đẹp Còn khi nói đến làng Bát Tràng chắc không ai
là không biết tới đó là một làng nghề truyền thống cổ xưa vẫn còn được tồntại đến ngày nay Những sản phẩm gốm nơi đây tuy có nhiều cải tiến và thayđổi nhưng cách làm gốm, quy trình chọn đất, nặn, vẽ, nung gốm thì vẫn còngiữ đến ngày nay
Bên cạnh những thuận lợi mà tự nhiên và con người nơi đây có được,những khó khăn, những hạn chế cũng được đề tài đề cập đến để chúng ta cócái nhìn toàn diện trong việc phát triển du lịch văn hóa tại các làng cổ Bắc Bộ.Điều này không những thu hút khách du lịch đến với các làng cổ Bắc Bộ ngàycàng nhiều hơn mà còn tạo ra những lợi ích trước mắt và lâu dài cho chínhcộng đồng dân cư nơi đây
5 Phương pháp nghiên cứu
Đây là một đề tài nghiên cứu về hoạt động du lịch văn hóa nên tác giả
đã sử dụng một số phương pháp nguyên cứu sau nhằm nâng cao chất lượng vàhiệu quả của đề tài:
học khác nhau trong nghiên cứu khoa học như xã hội học, lịch sử,
văn hóa, địa lý… để giải quyết một cách toàn diện, khách quan và hiệu quả nhất những vấn đề liên quan đến đề tài
Trang 13- Phương pháp phân tích tổng hợp: Đề tài có sử dụng những phân tích số liệuthu thập được trong chương 2 để đánh giá hiện trạng hoạt động du lịch của hailàng cổ Đường Lâm và Bát Tràng rồi tổng hợp lại nhằm xây dựng các giảipháp cho phát triển du lịch văn hóa.
với các cá nhân đoàn thể của làng cổ, tác giả đã đưa ra và thu thập về
các phiếu điều tra khảo sát để có được những đánh giá khái quát về hiện trạng
du lịch và ý kiến những người trong cuộc cũng như của khách du lịch đếntham quan tại hai làng cổ Đường Lâm và Bát Tràng
6. Đối tƣợng nghiên cứu
như tại hai làng cổ Đường Lâm và Bát Tràng phục vụ cho phát triển du lịchvăn hóa
Lâm và Bát Tràng từ xưa đến nay phục vụ cho phát triển hoạt động du lịchvăn hóa Số liệu sử dụng trong luận văn từ năm 2005 đến năm 2013
thực trạng cũng như đề ra các giải pháp cho phát triển du lịch văn
hóa tại các làng cổ Bắc Bộ nói chung và nghiên cứu cụ thể tại làng cổ Bát Tràng và làng cổ Đường Lâm
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mục lục, Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và phầnPhụ lục, luận văn có cấu trúc 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và các khái niệm liên quan đến đề tài
Chương 2: Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tại làng
cổ Bắc Bộ nghiên cứu tại làng Đường Lâm và làng Bát Tràng
Chương 3: Giải pháp góp phần phát triển du lịch văn hóa tại các làng cổ Bắc Bộ
Trang 14Theo Luật Du lịch, du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đicủa con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầutham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới( World Tourist Organization), một tổchức thuộc Liên hiệp quốc: du lịch gồm tất cả các hoạt động của những người
du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trảinghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đíchhành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng khôngquá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các duhành với mục đích kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng độngtrong môi trường sống khác hẳn nơi định cư
Hội nghị LHQ về du lịch họp tại Roma- Italia ngày 21/8/1963, các chuyêngia đưa ra định nghĩa về du lịch: du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng
và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhânhay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mụcđích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ
Năm 1985, I.I Pirogionic đưa ra khái niệm “ du lịch là một dạng hoạt
động của dân cư trong thời gian nhàn rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu
Trang 15lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa”.
Như vậy, du lịch là một khái niệm có nhiều định nghĩa khác nhaunhưng nhìn chung đều mang lại cho con người sự nghỉ ngơi và hưởng thụngoài những việc làm thường xuyên hàng ngày của mình
1.1.2 Du lịch văn hóa
Theo Luật Du lịch, du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản
sắc văn hóa với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống [29, tr.12]
Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễhội truyền thống của dân tộc kể cả những phong tục tín ngưỡng… để tạo sứchút đối với khách du lịch bản địa của như khách quốc tế Với những khách dulịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địathì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ
Tổ chức Du lịch Thế giới( UNWTO) định nghĩa du lịch văn hóa bao gồm các hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu nghệ thuật biểu diễn, về các
lễ hội và các sự kiện khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương.
Theo quan niệm của Hội đồng Quốc tế các di chỉ và di tích( ICOMOS)
thì du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá những di tích
và di chỉ Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy tu, bảo tồn, tôn tạo Loại hình này trên thực tế đã chứng minh cho những nỗ lực bảo tồn và tôn tạo, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng vì những lợi ích văn hóa- kinh tế- xã hội.
điểm vùng miền: Du lịch Điện Biên( Lễ hội văn hóa Tây Bắc kết
Trang 16hợp sự kiện chính trị: 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ); con đường Di sảnmiền Trung( Lễ hội dân gian kết hợp tham quan những di sản văn hóa đượcUNESCO công nhận)… là những hoạt động của du lịch văn hóa thu hút nhiềukhách du lịch trong và ngoài nước Ngoài ra, du lịch văn hóa còn là đi thamquan thắng cảnh tự nhiên kết hợp tham quan di tích- di sản văn hóa Ví dụ: Dulịch Lào Cai ngoài đến SaPa du khách vẫn kết hợp khám phá văn hóa nhiềudân tộc như H’Mông, Dao Đỏ, Thái…, mua thổ cẩm, thăm cửa khẩu HàKhẩu; đến Quảng Ninh du khách sẽ tham quan hang Đầu Gỗ, núi Bài Thơ, tìmhiểu về sự hình thành Vịnh Hạ Long.
Tóm lại, du lịch văn hóa chính là một loại hình của du lịch và được dựatrên việc khai thác các tài nguyên nhân văn để phục vụ cho hoạt động du lịch
1.1.3 Văn hóa du lịch.
Văn hóa du lịch được coi là hệ thống những ứng xử trong hoạt độngkhai thác và kinh doanh du lịch dựa trên các nguyên tắc giao tiếp, ứng xửtrong hoạt động du lịch Đó chính là văn hóa do du khách và người làm côngtác du lịch tích lũy được trong hoạt động du lịch Tính văn hóa của du lịchđược thể hiện ở quá trình thưởng thức du lịch Ý thức của khách du lịch đốivới nhu cầu du lịch thể hiện rõ trình độ văn hóa nhất định và nhu cầu xã hội
về nhiều mặt của mọi người Những quan niệm về giá trị, hình thức tư duy,tính thẩm mỹ, tính cách, tình cảm… sẽ được bộc lộ trong hoạt động du lịch và
nó phản ánh tâm lý dân tộc Ngoài ra nó còn được thể hiện qua hành vi du lịchbiết hướng tới cái đẹp, trân trọng và nâng niu cái đẹp
Tính văn hóa trong du lịch còn được thể hiện qua các giá trị mà tàinguyên du lịch có thể cung cấp cho du khách, những giá trị về thẩm mỹ vệsinh, môi trường về khả năng nâng cao thể chất và tri thức cho du khách Ví
dụ một tài nguyên du lịch là một di tích lịch sử văn hóa, giá trị thẩm mỹ ở đây
là phải trân trọng tính xác thực, việc trùng tu, tôn tạo làm biến dạng di tích,làm mất đi vẻ đẹp nguyên sơ ban đầu của nó, vi phạm tính nguyên gốc lịch sử
Trang 17của di tích đó có thể được coi là một hành vi không văn hóa Điều đó khôngthu hút được khách du lịch đồng thời còn làm tổn hại đến hình ảnh của điểm
du lịch, hình ảnh chung về nền văn hóa của quốc gia
Văn hóa du lịch và một phạm trù rộng, thể hiện những giá trị văn hóacủa toàn bộ hoạt động du lịch Tất cả các sản phẩm du lịch cũng như hoạtđộng trong quá trình tạo dựng đều hướng tới nét đặc trưng riêng mang bản sắcvăn hóa dân tộc, điều đó sẽ giúp hình thành nên một văn hóa du lịch đặc trưngcho đất nước
1.1.4.Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động du lịch văn hóa
Nguồn tài nguyên du lịch văn hóa nhân văn luôn giữ vai trò quan trọngtrong việc đón tiếp khách du lịch Đó là lòng hiếu khách của người làm dulịch và cư dân địa phương, các phong tục tập quán , di sản văn hóa, kiến trúcđịa phương, lễ hội, ẩm thực, chợ địa phương…
Quỹ thời gian nhàn rỗi của dân cư: Hiện nay quỹ thời gian nhàn rỗi củadân cư và người lao động đang có xu hướng tăng lên bởi Nhà nước ở hầu hếtcác nước đều thừa nhận quyền được nghỉ phép năm đối với người lao động.Người dân cũng có xu hướng sử dụng hữu ích thời gian nhàn rỗi tạo điều kiện
đi du lịch nhiều hơn
Yếu tố kinh tế- xã hội: Khi thu nhập cá nhân ngày càng tăng lên sẽ chophép người dân đi du lịch ngày càng nhiều hơn và con người luôn mong muốntìm hiểu cái hay, cái tốt bên ngoài xã hội
Yếu tố dân số: Nơi định cư, tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn, hoàncảnh gia đình, số lượng con cái… chi phối đáng kể việc quyết định các kỳnghỉ và lựa chọn loại hình du lịch
Yếu tố sở thích: Mỗi một lứa tuổi, giới tính, trình độ học vấn… lại cónhững sở thích du lịch khác nhau: thanh niên thích du lịch mạo hiểm, khámphá; người trung niên thích du lịch kết hợp công việc; người già thích du lịch
Trang 18nghỉ dưỡng, chăm sóc đặc biệt; càng trình độ học vấn cao thì nhu cầu du lịchcàng rõ.
Cơ sở hạ tầng du lịch: gồm những công trình xây lắp ngầm như hệthống cung cấp nước sạch, hệ thống xử lý nước thải, cáp điện…, những côngtrình xây lắp nổi trên mặt đất như đường cao tốc sân bay, đường bộ, đường xelửa… Các khu nghỉ mát và khách sạn là yếu tố cũng quan trọng trong cơ sở hạtầng du lịch Chúng cần phải được quy hoạch và xây dựng sao cho hài hòa vớicảnh quan tự nhiên, với kiến trúc địa phương
Các loại hình vận chuyển du khách: máy bay, tàu, thuyền, ô tô, tàu hỏa
và những phương tiện khác
Tổ chức, xúc tiến du lịch nơi nhận khách: Phát triển du lịch văn hóa,Nhà nước không chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt như thu nhập của ngành
du lịch và nguồn thuế thu được từ du lịch mà còn quan tâm đến sự phát triển
du lịch dài hạn như tiến hành công tác quy hoạch du lịch, lập quỹ phát triển dulịch, tham gia đào tạo nghề nghiệp du lịch, bảo vệ quyền lợi của người tiêudùng du lịch; kiểm soát hoạt động du lịch trong mối quan hệ với tài nguyên dulịch và bản sắc văn hóa dân tộc
1.1.5 Mối quan hệ giữa cộng đồng dân cư và hoạt động du lịch văn hóa.
1.1.5.1 Sự tham gia của cộng đồng dân cư trong phát triển du lịch
Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 đã nêu rõ về sự tham gia của cộngđồng dân cư trong phát triển du lịch [ 29, tr.15]
Cộng đồng dân cư có quyền tham gia và hưởng lợi ích hợp pháp từ hoạt động du lịch; có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên du lịch, bản sắc văn hóa địa phương; giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường để tạo sự hấp dẫn du lịch.
Cộng đồng dân cư được tạo điều kiện để đầu tư phát triển du lịch, khôi phục và phát huy các loại hình văn hóa, nghệ thuật dân gian, ngành, nghề thủ
Trang 19công truyền thống; sản xuất hàng hóa của địa phương phục vụ khách du lịch, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân địa phương.
1.1.5.2 Quan hệ giữa cộng đồng dân cư và hoạt động du lịch văn hóa
Du lịch là hoạt động luôn có sự tác động qua lại giữa khách du lịch,người làm du lịch và cộng đồng dân cư địa phương Chúng ta có thể dễ dàngnhận thấy những tác động tích cực từ hoạt động du lịch mang lại cho cộngđồng dân cư Trình độ dân trí của cộng đồng dân cư tại nơi du lịch được nângcao đó là cơ hội tốt để người dân trau dồi, bổ sung kiến thức cần thiết nhưngoại ngữ, giao tiếp, văn hóa…Chính những hoạt động du lịch đã làm nảysinh quá trình giao thoa giữa các nền văn hóa, nghệ thuật khác nhau mà dukhách là cầu nối trung chuyển Các nhà cung ứng phục vụ cho hoạt động kinhdoanh du lịch đã đầu tư, góp phần cho việc phục hồi, duy trì các di tích, lễ hội,sản phẩm làng nghề tại các điểm du lịch Hoạt động du lịch cũng làm giảmbớt nạn thất nghiệp, tăng cơ hội tìm việc làm, nâng cao mức sống cho ngườidân Những nhu cầu về hàng hóa tăng nhanh tạo sự phát triển mạnh mẽ chocác ngành kinh tế có liên quan như nông nghiệp, công nghiệp chế biến
Bản chất của các hoạt động du lịch là sự giao lưu, tiếp xúc giữa các cáthể, các cộng đồng có cùng thế giới quan, quan niệm sống, phong tục tậpquán, tín ngưỡng, tôn giáo… không đồng nhất Vì thế, theo thời gian, thái độcủa cộng đồng dân cư địa phương đối với du khách thay đổi theo hướng tiêucực Giai đoạn đầu, du khách xuất hiện sẽ được dân địa phương tiếp đón rấtnồng nhiệt, hứng khởi nhưng theo thời gian, khách đông, quan hệ giữa dukhách và người dân sẽ giảm dần Về sau, dân địa phương tỏ ra khó chịu đốivới du khách vì có nhiều du khách có những cử chỉ khác lạ, lố bịch xâm hạiđến thuần phong mỹ tục của cộng đồng dân cư địa phương Tồi tệ hơn khixuất hiện tư tưởng và hành động từ chối đối với du khách
Khi xuất hiện những yếu tố tiêu cực sẽ dẫn đến phản ứng tâm lý củadân địa phương đối với du khách Nhóm chấp nhận lối sống của khách thìngười dân vẫn giữ nguyên lối sống của mình, không khó chịu trước lối sống
Trang 20của du khách Nhóm những người có thái độ dè dặt thì luôn giữ khoảng cáchnhất định đối với du khách Nhóm những người có thái độ né tránh thì mộtmặt vẫn phụ thuộc vào lợi ích kinh tế từ du lịch mang lại nhưng không chấpnhận lối sống của du khách Ngoài ra còn có nhóm người có thái độ cực đoannhất là thái độ chống đối, đó là những người tham gia quan hệ với du kháchsong lại dùng thủ đoạn lừa gạt nhằm làm hại du khách.
Mối quan hệ tác động qua lại giữa cộng đồng dân cư và hoạt động dulịch còn gặp những mặt hạn chế Từ quá trình giao tiếp giữa người tiêu dùng
du lịch và cộng đồng dân cư tại nơi làm du lịch là môi trường để các ảnhhưởng tiêu cực thâm nhập vào xã hội một cách nhanh chóng Nạn nghiện hút,mại dâm, trộm cướp gia tăng đáng kể Du khách có những hành vi, cử chỉxâm hại đến thuần phong mỹ tục của người bản xứ, thay đổi lối sống, cáchnghĩ của thanh niên bản địa Vì lợi ích kinh tế, nhiều hoạt động văn hóatruyền thống được trình diễn thiếu chuyên nghiệp, thiếu tự nhiên Xây dựngkết cấu hạ tầng làm cho cảnh quan tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên bị xuốngcấp, ô nhiễm trầm trọng Hoạt động du lịch làm suy thoái tài nguyên du lịch tựnhiên như tài nguyên nước, tài nguyên không khí, đất, sinh học Hoạt động dulịch cũng gây ra lạm phát cục bộ
1.2 Làng cổ Bắc Bộ
1.2.1 Khái quát về làng cổ Bắc Bộ
Làng là đơn vị xã hội, là cơ sở của nông thôn Bắc Bộ, tế bào sống của
xã hội Việt Tiến trình lịch sử đã làm cho làng Việt Bắc Bộ là một tiểu xã hộitrồng lúa nước, một xã hội của các tiểu nông theo cách nói của PGS Nguyễn
Từ Chi đó là một “xã hội tiểu nông tư hữu” Do đó, quan hệ giai cấp ở đây
chưa phá vỡ tính cộng đồng, tạo ra một lối sống ngưng đọng của nền kinh tế
tư cấp tự túc Sự gắn bó giữa con người và con người trong cộng đồng làngquê không chỉ là quan hệ sở hữu trên đất làng, trên những di sản của làng nhưđình làng, chùa làng… mà còn là sự gắn bó các quan hệ tâm linh, về chuẩn
Trang 21mực, đạo đức xã hội… Chính những đặc điểm ấy, những quan hệ ấy của làng cổBắc Bộ đã góp phần tạo ra những đặc điểm riêng của vùng văn hóa Bắc Bộ.
Theo Bùi Xuân Đính,” làng là đơn vị tụ cư truyền thống của người
nông dân Việt, có địa vực riêng, cơ cấu tổ chức, cơ sở hạ tầng, các tục lệ( về cheo cưới, tang ma, khao vọng) thờ cúng riêng, tâm lý tính cách riêng và cả thổ ngữ” ( tiếng làng) riêng, hoàn chỉnh và tương đối ổn định trong quá trình lịch sử”[ 14, tr 97] Làng chính là đơn vị xã hội cơ sở và bền vững ở Việt
Nam, là không gian sống của con người Việt Nam Tổ chức làng Việt Nam nóichung và làng cổ Bắc Bộ nói riêng mang đậm tinh thần cộng đồng và tự trị
Do tính cộng đồng đã dẫn con người đến chỗ đồng nhất và sống dân chủ, bìnhđẳng với nhau Tính cộng đồng, dân chủ và bình đẳng cao nhất trong làng xãđược thể hiện ở ngày hội làng Nó là sự tổng hòa của tất cả những quyền lợichính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của những con người sống chung với nhautrên một địa vực cư trú Đó cũng chính là sức mạnh của con người Việt nam.Tinh thần tự trị càng làm tăng thêm tính năng động và sự tương thân, tương ái,tương trợ giữa các thành viên trong một làng xã Tuy nhiên, tinh thần cộngđồng làng xã cũng đã dẫn đến tư tưởng bình quân, cào bằng theo lối” hòa cảlàng”, thủ tiêu ý thức cá nhân, cá tính, cá vị, cá thể, chủ trương” an phận thủthường”, dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể, thiếu trách nhiệm cá nhân, đố kỵ, ghenghét Tính tự trị cũng lại dẫn đến tư tưởng cục bộ, địa phương chủ nghĩa, tháiđộ” đóng cửa dạy nhau”, không công bằng, mất dân chủ, nặng cảm tính, xuềxòa; đồng thời còn mở đường cho tính độc đoán, dung túng thói cường hào ác
bá, tệ nạn ngôi thứ, đầu óc gia trưởng
Trong công cuộc xây dựng làng xã văn hóa hiện nay, chúng ta có thể khaithác được những mặt mạnh của làng xã cổ truyền như tinh thần cộng đồng, tựquản, tự chủ, năng động; khai thác cơ chế tổ chức của xóm ngõ, tộc họ, phườnghội trong các hoạt động kinh tế, an ninh, vệ sinh, văn hóa, giáo dục
1.2.2 Các loại hình làng cổ Bắc Bộ
Trang 22Các loại hình làng Việt gồm có làng thuần nông do chủ yếu làng Việt ởđồng bằng châu thổ sông Hồng đều là làng thuần làm nông nghiệp trồng lúanước Ngoài ra có một số làng nghề như làng Chuông (Thanh Oai - Hà Nội)làm nón, làng Vân Chàng (Nam Trực - Nam Định) làm nghề rèn, làng BátTràng (Hưng Yên) làm gốm sứ, làng Vạn Phúc (Hà Nội) làm nghề dệtlụa….và một số làng buôn như làng Phù Lưu (Từ Sơn - Bắc Ninh)….là nhữnglàng chuyên làm một nghề, cha truyền con nối hết đời này qua đời
và mưa bão Sông Hồng mang đến một lượng phù sa dồi dào hàng năm nhưnglại gây ra những trận lụt lớn làm ảnh hưởng tới đời sống và sản xuất củangười dân Do đó hệ thống đê điều đã được xây dựng để chống lại lụt lội.Chính vì điều này nên khi nói về vùng đồng bằng Bắc Bộ người ta cho rằngnền nông nghiệp lúa nước cùng với hệ thống đê điều là những đặc trưngkhông thể thiếu của vùng đồng bằng này
Khi nhắc đến làng thuần nông ở đồng bằng Bắc Bộ thường gợi chochúng ta nhớ đến hình ảnh của cây đa, giếng nước, sân đình, đồng lúa phìnhiêu, dòng sông bao bọc quanh làng gắn liền với thời thơ ấu Người xưa có
câu:” Nhất cận thị, nhị cận giang” để nói về lợi thế của những nơi chốn gần
với các khu đô thị và cận kề với các dòng sông thuận lợi cho việc làm ăn buôn
Trang 23bán, giao thông đi lại Đối với những cư dân đồng bằng Bắc Bộ quanh năm
đầu tắt mặt tối, luôn phải chịu cảnh:” Cấy cắn răng, gặt há mồm” mà vẫn
không đủ ăn thì việc làm thêm kinh tế phụ và chạy chợ là lẽ đương nhiên Banngày làm việc đồng áng, tối tranh thủ xếp hàng để 1-2 giờ sáng đem đi bán.Những sản vật quen thuộc của làng quê như quả bí, mớ rau, con cá, nải chuối,ngô, khoai giờ được người nông dân đem ra chợ bán Ngoại trừ một số ngườibuôn bán chuyên nghiệp, có lều quán ở chợ hoặc chuyên đưa hàng ra thànhphố bán, còn lại đa số người nông dân chạy chợ trong cái cảnh” đòn gánh vechai, lấy công làm lãi” mỗi lúc nông nhàn
Trong những năm gần đây, rất nhiều du khách đặc biệt du khách nướcngoài ưa chuộng loại hình du lịch về các vùng nông thôn Bắc Bộ để đượcsống và làm việc cùng nông dân Du khách rất thích thú khi được gặt lúa,trồng khoai, tát nước, giã gạo…hay làm những công việc rất đỗi bình thường
và thân quen với họ Đây cũng là một yếu tố cần được khai thác và xây dựngnhững tour du lịch đến các làng thuần nông ở Bắc Bộ
1.2.2.2 Làng nghề
Theo tiêu chí của Bộ NN&PT NT, Việt Nam hiện có 11 nghề thủ côngchính: nhóm ngành nghề gốm sứ thủy tinh, nghề cói, nghề sơn mài, nghề mâytre đan, nghề thêu ren, nghề dệt, nghề gỗ, nghề chạm khắc đá, nghề giấy thủcông, nghề tranh in khuôn gỗ, nghề kim khí đúc đồng, chạm bạc… Trong đólàng nghề mây tre đan là 713( 35,24%), làng có nghề dệt là 432( 21,41%),làngsản xuất đồ gỗ là 342( 16,95%), làng thêu ren là 341( 16,90%) còn 189 làngthuộc các ngành nghề khác Đây thực sự là những con số minh chứng cho vịtrí của làng nghề đối với nền kinh tế Việt Nam Nước ta có hơn 2000 làngnghề trong đó miền Bắc có 1594 làng nghề chiếm 79% làng nghề của cả nướcvới những sản phẩm nổi tiếng: lụa Vạn Phúc, đồ gỗ Đồng Kỵ, đồ đồng ĐạiBái, tranh Đông Hồ, gốm Bát Tràng, cốm Vòng…
Trang 24Các làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ hầu hết là những làng nghề lâuđời ở những làng cổ dựa trên hai yếu tố rất cơ bản là vùng nguyên liệu và điềukiện giao thông Ví như làng gốm Bát Tràng có lịch sử hình thành đã hơn 6thế kỷ; làng Giấy Yên Thái( Bưởi) có cách đây 800 năm, làng Kim hoàn ĐịnhCông có cách đây 1400 năm và làng Dệt lụa Vạn Phúc có hơn 1700 năm cólẻ…Những dòng sông như sông Hồng, sông Lô, sông Cầu, sông Thương,sông Chu, sông Đuống, sông Đáy, sông Thái Bình… đã tạo ra sự gắn kết giữacác làng nghề để cùng tồn tại và phát triển trong việc cung cấp nguyên liệu vàtiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường cả nước.
Các làng nghề ở Bắc Bộ còn tạo nên những giá trị tinh thần đậm nétđược phản ánh qua các tập tục, tín ngưỡng, lễ hội Trước tiên phải nói tới đó
là những quy ước, luật lệ để gìn giữ bí quyết nghề, bảo tồn nghề của dòng họhay của cộng đồng làng xã Việc giữ” bí quyết nghề” không chỉ đơn thuần làgiữ nghề mà còn chi phối cả các mối quan hệ xã hội khác nhau như hôn nhân,không lấy người địa phương khác hoặc việc truyền nghề trong dòng họ Vínhư làng chạm bạc Đồng Xâm coi quy chế” hôn nhân nội hạt” là bất biến Cácluật lệ này được hình thành từ những ước lệ đến quy ước miệng rồi thành vănnhư hương ước và lệ làng Hầu như làng nghề nào cũng có tục thờ cúng tổnghề và gắn liền với lễ hội cùng các hoạt động văn hóa dân gian khác: làngchạm bạc Đồng Xâm( Thái Bình) thờ tổ nghề Nguyễn Kim Lâu vào ngày 5/1
âm lịch hàng năm; làng kim hoàn Châu Khê( Hải Dương) thờ tổ nghề LưuXuân Tiến từ 1 đến 12 tháng hai âm lịch hàng năm Gắn với nghi thức thờ tổnghề là phần hội mang màu sắc văn hóa dân gian Như vậy, ở các làng nghềBắc Bộ ngoài yếu tố sản xuất còn mang yếu tố văn hóa và phần nào còn cónhững yếu tố tâm linh phù hợp vì làng nghề ngoài phạm vi là đơn vị sản xuất
và đơn vị hành chính còn có đặc trưng riêng biệt là tính cộng đồng cư trú,cộng đồng lợi ích và cộng cảm rất cao
Trang 25Khi phát triển làng nghề, đời sống của người dân sẽ được cải thiện hơnnhiều nhất là những khi nông nhàn Các làng nghề đã đem lại những giá trị, bảnsắc văn hóa riêng cho từng vùng góp phần phục vụ nhu cầu tham quan của dukhách khi đến địa phương cũng như tăng thêm thu nhập cho người dân.
Mỗi một làng quê Bắc Bộ phát triển làng nghề để tăng thu nhập và tạoviệc làm cho nông dân vào những ngày nông nhàn Điều thú vị đối với dukhách trong các tour du lịch làng nghề là du khách được trải nghiệm cuộcsống nơi đây Ví dụ khi đến làng gốm Bát Tràng, du khách có thể tự mìnhnhào nặn, nung, vẽ lên các sản phẩm gốm từ đất, được hòa quyện giữa nước
và lửa và tâm hồn vào từng sản phẩm gốm Đến làng nghề Phú Vinh, dukhách sẽ được gặp những người già, con trẻ đang say sưa thoăn thoắt bênnhững sản phẩm mây tre đan và nụ cười luôn thường trực trên môi Hay khibạn đến làng lụa Vạn Phúc sẽ được nghe những âm thanh quen thuộc của thoiđưa dệt lụa Dưới bàn tay khéo léo của những người thợ, làng lụa Vạn Phúc
đã đưa những sản phẩm lụa đẹp mắt và đầy sáng tạo đến với du khách Ngoài
ra khi tiến hành khai thác du lịch tại các làng nghề, người nông dân khôngnhững có việc làm mà còn đưa sản phẩm cổ truyền đến du khách
- Giá trị về tuổi, dựa trên yếu tố thời gian, thông thường lấy mốc là 100 năm.
- Giá trị về sử dụng liên quan tới chức năng gốc của làng Làng thuần nông hay làng có nghề phụ và các không gian cũng như công trình phục vụ
cho các chức năng này Hoạt động của cư dân sẽ làm nên sức sống của làng
Trang 26nên sự hiện hữu của các chức năng gốc càng rõ nét thì giá trị của nó càng cao.
- Giá trị về không gian liên quan tới mối quan hệ giữa hệ thống đường xá, các không gian mang tính cộng đồng, các công trình kiến trúc và các trạng thái
tự nhiên cần được tôn trọng Do vậy đặc điểm cấu trúc không gian của các làng đóng một vai trò quan trọng tạo nên hình ảnh của làng cổ.
- Giá trị về vật chất của các công trình gắn với vật liệu xây dựng truyền thống
và những đặc điểm cấu tạo của công trình.
- Giá trị về nghệ thuật được biểu hiện ở hai khía cạnh chính, đó là nghệ
thuật bố cục trong cấu trúc không gian chung của làng và của từng công trình kiến trúc Trong đó biểu hiện nghệ thuật kiến trúc, trang trí, điêu khắc của các công trình qua từng giai đoạn phát triển cho đến nay vẫn còn lưu giữ được.
- Giá trị về khảo cổ liên quan đến những khu vực chứa đựng những vết tích, các công trình do con người tạo nên có liên quan tới khu vực bảo tồn.
mà tiếng Việt gọi rặng tre là Lũy, thành lũy)
Theo Piere Gourou, học giả đầu tiên ghi chép vài dòng ngắn ngủi về
cổng làng Bắc Bộ như sau” Cổng làng thường xây bằng gạch trổ cổng lớn đủ
cho hai con trâu đi qua Hai cánh bằng gỗ được đóng lại buổi tối và không có
gì khó bằng đi vào làng sau giờ giới nghiêm Cổng đó thường có lầu để tuần đêm canh gác Phải là làng nghèo lắm mới không có cổng bằng gạch và ban
Trang 27đêm thường phải bịt lối đi qua lũy tre bằng những rào tre cắm xuống đất”
[ 16] Trước kia, xây cổng làng phải có thầy địa lý xem phong thổ, xem địa
thế Cổng làng phải dựa vào thế đất có long quỳ hổ phụ hoặc bụng con cá mới mong có được uy vũ và sự sinh sôi Nếu dựa đúng vào thế bị gậy thì không hay [ 9, tr.47] Về sau, cổng làng thường là một tam quan xây gạch,
không to lắm cũng không lớn lắm Ở những vùng quê nghèo, cổng làngthường mộc mạc chỉ là hai bên trụ gạch thấp nhỏ đỡ một tấm xà cũng bằnggạch, không một nét vẽ trang điểm, không màu mè nhưng chính chiếc cổng đótrở nên thân thiết gắn bó vô cùng Có những làng dựng hai cổng gồm cổngtiền và cổng hậu Cổng tiền thường hướng về phía Đông Nam, hướng của giólành, hướng mặt trời mọc, để đón niềm vui sinh sôi trong lao động và hạnhphúc, còn cổng hậu thường hướng ra phía Tây, hướng mặt trời lặn để tiễn đưanhững vướng bận buồn rầu
Để vào được trong làng thì phải đi qua cổng làng, cổng làng là cầu nốigiữa làng với bên ngoài, một số làng để ra được bên ngoài làng không chỉbằng cổng làng mà còn bằng thuyền qua sông với những làng Việt giáp sông.Nhưng cổng làng vẫn là con đường chính, làng không chỉ có một cổng mà đôikhi còn có nhiều cổng: cổng tiền, cổng hậu hay cổng chính, cổng phụ để thuậntiện cho việc đi làm đồng Cổng làng có thể coi là biểu tượng cho tính chất
“nửa hở” (từ dùng của GS Trần Quốc Vượng) hay tính “cộng đồng” (từ dùng
của GS Trần Ngọc Thêm) Bởi lẽ thường thì mỗi làng, bên cạnh cổng làng làmột hoặc hai cây đa hay cây gạo là nơi nghỉ mát, gặp gỡ của những người đilàm đồng sau những giờ lao động nặng nhọc vất vả hay của những khách quađường Cổng làng cũng là một nét văn hóa đặc sắc của làng quê Bắc Việt, đôikhi cũng là biểu tượng của cái làng ấy.Vào buổi sáng, cổng làng được mở, dânlàng đi làm, đến tối mặt trời lặn, sau khi dân làng về thôn thì cổng làng đượcđóng lại” nội bất xuất, ngoại bất nhập”
Trang 28Mỗi một làng đều có những nét kiến trúc riêng làm tâm điểm trong cái
bố cục hài hòa với không gian của con đường làng, lũy tre xanh, cây đa, giếngnước, ao làng và những cánh đồng lúa chín Kiến trúc cổng làng xưa ở Bắc Bộkhông cầu kỳ, phô trương mà chỉ nhằm khẳng định chỗ đứng của mình trongkhoảng không gian làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ, vốn” nửa kín, nửa hở”trong đó giới hạn của nó chỉ mang tính tượng trưng
Tam quan cổng làng được dùng như một quy ước không gian hơn làmột giới hạn địa lý của làng Người ta thường nói làng không cổng như nhàkhông cửa Nó như cột mốc đánh dấu trong và ngoài không gian làng- đóchính là một phần văn hóa làng
Phía sau cánh cổng làng chính là sự kết nối cộng đồng gia tộc làng xã, lànhững nét chung về phong tục, tập quán, văn hóa riêng biệt không làng nàogiống làng nào Những đám rước, đám hội, thương nhau cũng hò hẹn ở chốncổng làng, rồi khi về làm dâu, bước qua cổng làng về nhà chồng, trở thành mộtthành viên trong cộng đồng dân cư như đều được bắt đầu hay kết thúc ở đây
1.2.4.2 Chùa làng cổ Bắc Bộ
Chùa là nơi thờ Phật để dân làng lễ bái, tu thân, trau dồi đạo đức Đó làđời sống tinh thần của mỗi người Việt Nam mà nếu không có chùa thì sẽ mất
đi ý nghĩa của làng, của một dân tộc lâu đời Tuy mỗi chùa có một vẻ đẹp khác
nhau, nhưng tất cả đều có một điểm chung là đều có một khung cảnh thiên nhiên tĩnh lặng, đưa con người vào cõi thiền để tu thân tích đức, làm điều thiện, tránh cái ác Bao đời nay, tiếng mõ cầu kinh, tiếng chuông chùa đã để lại ấn tượng mạnh trong tâm khảm con người Việt Nam, vừa có ý nghĩa tâm linh vừa có ý nghĩa nhân văn sâu sắc [30]
Chùa làng ở Bắc Bộ thường làm theo kiểu chữ đinh, chữ công hay chữtam, gian trước thường là nơi thờ hộ pháp, gian trong là chánh điện thờ các vịPhật, Bồ tát( Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Địa Tạng) Trước chùa có cổngTam quan là ngôi nhà nhỏ nằm ngang, nối liền bốn cây cột, chia thành ba cửa:
Trang 29cửa giữa và hai cửa hai bên Có khi không có nhà mà chỉ là bốn cây cột dựngthẳng lên và gắn các cánh cổng Cửa chùa thường khi rộng mở nhất là nhữngngày rằm mồng một hoặc dịp giỗ tổ nhưng cũng có lúc đóng lại và khóa kín.Nơi dựng chùa phải có cảnh trí thiên nhiên đẹp đẽ, có đồi núi hồ ao sôngngòi không quá gần dân làng để tránh sự ồn ào náo nhiệt, không quá xa dânlàng vì việc tu học cần có sự giúp đỡ của dân cũng không khó khăn cho mọingười đi lễ bái và vãn cảnh chùa.
1.2.4.3 Đình làng cổ Bắc Bộ
Đình làng ở các làng quê Bắc Bộ là trung tâm tín ngưỡng thờ Thànhhoàng Đây là một nhân vật vừa mang chất liệu huyền thoại, vừa mang chấtliệu lịch sử đan xen hòa quyện cả hai yếu tố “ hư” và “ thực” để chung đúcnên diện mạo thống nhất của vị thần” linh thiêng” bảo vệ làng xã Thànhhoàng làng cũng có thể là người có công trong việc lập làng, hoặc khởi xướngmột ngành nghề Đình làng cũng có thể thờ những anh hùng cái thể của dântộc, từ vua chúa đến các danh nhân Dù là thiên thần hay nhân thần thì Thànhhoàng làng vẫn biểu trưng cho thần quyền của cư dân trong một làng xã
Đình làng là nơi giải quyết những vấn đề chính trị xã hội của làng xã vàcòn là nơi hội họp giải quyết mọi chuyện vui, buồn của xã thôn, hòa giảinhững bất đồng trong xã hội Vì vậy, mọi thành viên trong làng đều có tráchnhiệm xây dựng và bảo vệ Đình làng trở thành biểu tượng về mọi mặt củacuộc sống làng xã, tỏa chiếu quyền uy của nền quân chủ, tác động vào tâmhồn và tình cảm người nông dân cả những mặt tốt, mặt xấu tạo nên hình ảnhđặc sắc về nền quân chủ làng mạc muôn thủa Đình làng cũng là nơi diễn ranhững trò chơi được tổ chức trong dịp hội làng: đấu vật, cướp cờ, bịt mắt bắtngười Thông qua các trò chơi, trai làng xác lập mối quan hệ giữa cá nhânvới cá nhân, củng cố những sợi dây tình cảm giữa những con người trong làng
xã Điêu khắc phổ biến của đình làng Bắc bộ là tứ quý, tứ linh hoặc tách ra
Trang 30từng cá thể: long, ly, quy, phượng; thông, mai, cúc, trúc; hoạt cảnh dân gian,những hình ảnh thân thuộc ở làng quê.
Trong khuôn viên của đình thường có: sân đình, hồ nước, hoặc bếnsông và chợ làng Sân đình ngoài chức năng tạo sự bề thế thì còn là nơi diễn
ra những trò diễn dân gian cũng như những việc chung của cộng đồng
1.2.5 Giá trị phi vật thể của làng cổ Bắc Bộ
Hội làng Bắc Bộ gồm hai phần lễ và hội thường được tổ chức tại đìnhlàng Trong phần lễ thể hiện lòng ngưỡng mộ, sùng bái anh hùng tôn vinhdanh nhân, người có công với dân, tổ nghề, có thể là những thần, thánh, phật,mẫu, những nhân vật siêu phàm, những đại diện cho tôn giáo, người bảo trợtinh thần và đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho cộng đồng Lễ thườnggồm các hoạt động rước nước và mộc đục, rước và tế… Hội là dịp thể hiệnnhững sinh hoạt văn hóa cộng đồng từ múa, hát giao duyên, thơ, các diễnxướng sân khấu cổ truyền, các cuộc thi tài mang tính thượng võ( bơi chải- hộilàng Đăm, chạy cờ- làng Triều Khúc, thú chơi cờ người- làng XuânPhương…), các trò diễn phong tục( thổi cơm thi- làng Thị Cấm, bơi cạn vàbắt chạch trong chum- làng Hồ, trình nghề- làng Sài Đồng, thú chơi thi thơ,thú chơi tạo cây cảnh, con giống bằng sáp nến, thú chơi chọi gà, vùngBưởi…)
Trang 31Hội làng đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu trong cáclàng quê Việt Nam Nó tạo thành một sợi dây gắn kết những con người từphương xa trở về cũng như lưu truyền và gìn giữ những tinh hoa ngàn đời củacha ông ta để lại.
1.2.5.2 Văn hóa ẩm thực Bắc Bộ
Mô hình bữa ăn của người Việt ở Bắc Bộ là: cơm + rau + cá nhưngthành phần cá ở đây chủ yếu hướng tới các loại cá nước ngọt Hải sản đánhbắt ở biển chỉ giới hạn ở các làng ven biển, còn các làng ở sâu trong đồngbằng, hải sản chưa phải là thức ăn chiếm ưu thế Người Việt Bắc Bộ thườngkhông dùng các gia vị có tính chất cay, chua, đắng như cư dân Trung Bộ, NamBộ
Món ăn ở Bắc Bộ thường có vị thanh, không nồng gắt và nhất là tôntrọng tính tự nhiên của nó Sự đa dạng đó bắt nguồn từ vị trí địa lý, phong tụctập quán và quan trọng là bắt nguồn từ sự kỹ càng, khéo léo và cầu kỳ trongcách chế biến, nhất là trong những dịp lễ tết thì sự khéo léo ấy càng được thểhiện rõ hơn với những” mâm cao cỗ đẫy”, mỗi mâm phải đủ” bốn bát sáu đĩa”được chế biến cầu kỳ, ngon miệng và cũng rất bắt mắt Ẩm thực Bắc Bộkhông chỉ chú trọng vào những món trong ngày lễ tết mà còn đặc trưng ởnhững món quà bánh Quà bánh không phải là những món ăn để no nhưng nólại đem tới cho người ta nhiều háo hức và lưu giữ nhiều kỷ niệm đẹp trongtuổi thơ của mỗi người dân xứ Bắc này
Người dân Bắc Bộ ăn uống theo mùa, theo thời điểm, có những mónchỉ xuất hiện vào buổi sáng, buổi trưa hay có những món phải đến tối mớiđược đem ra bán Khi đêm xuống, những con phố bắt đầu thưa người qua lạithì có thể ai đó lại muốn ăn vặt có thể tìm đến những hàng ốc, hàng ngônướng, khoai nướng…Chính đặc trưng vùng chiêm trũng đã sáng tạo ra nhiềumón ăn dân dã mà đối với những người Việt Nam hay cả du khách nước ngoàikhi ăn một lần sẽ nhớ mãi, chẳng thể nào quên
Trang 321.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa tại làng cổ ở một số địa
phương khác.
1.3.1 Làng Đông Hòa Hiệp- Tỉnh Tiền Giang
Làng Đông Hòa Hiệp thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tạo được nétđặc trưng miền sông nước với mạng lưới kênh rạch chằng chịt Làng nằmcạnh tỉnh Vĩnh Long và Bến Tre nên rất thuận lợi cho việc kết nối các điểm dulịch với các địa phương lân cận để phát triển du lịch Hệ thống giao thôngđường thủy và đường bộ tại đây cũng rất thuận tiện để thu hút khách du lịchsinh thái và du lịch vườn theo đường thủy
Đông Hòa Hiệp đang được lên kế hoạch để trở thành một điểm du lịchlàng cổ với bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa truyền thống của các tỉnh phíaNam Việt Nam Chương trình du lịch sẽ gồm: chợ nổi kết hợp với vườn cây
ăn quả cung cấp các loại trái cây phong phú, thăm nhà cổ như nhà ông Kiệt,ông Ba Đức Ngôi nhà cổ của ông Kiệt đã được phục hồi trong khuôn khổ hợptác kỹ thuật của tổ chức JICA vào năm 2002 Ngôi nhà của ông Ba Đức là mộttrong những ngôi nhà cổ điển được khai thác phát triển du lịch trong làngthông qua việc cung cấp dịch vụ” sống tại nhà dân” Để thiết lập một hệ thống
du lịch văn hóa, du lịch sinh thái và dựa vào cộng đồng tại làng cổ Đông HòaHiệp, dự án đã đề cập đến; 1 Thành lập một nhóm cộng đồng cho phát triểnnông thôn của Đông Hòa Hiệp, 2 Đánh giá nguồn tài nguyên địa phương vàhiểu được lợi thế vị trí địa lý, 3 Xây dựng một chương trình xúc tiến du lịchbao gồm cả sản phẩm trái cây, 4 Chương trình quảng bá du lịch sông CửuLong với khu vực công và khu vực tư nhân, 5 Đào tạo hướng dẫn viên tạilàng, 6 Phát triển bản đồ hướng dẫn du lịch và các công vụ quảng bá
1.3.2 Làng cổ Phước Tích- Tỉnh Thừa Thiên Huế
Làng Phước Tích cách thành phố Huế 40km về phía Bắc gần quốc lộ1A Nằm trên Hành lang kinh tế Đông Tây kết nối với các nước châu Á khác,
Trang 33và được xác định là một phần của các tour du lịch trọng điểm” Con đường disản miền Trung”.
Làng Phước Tích được hình thành vào thế kỷ 15 dưới triều vua LêThánh Tông Với một lịch sử gần 550 năm, mặc dù bị ảnh hưởng bởi chiếntranh và khí hậu khắc nghiệt trong một thời gian dài, làng Phước Tích vần cònlưu giữ được một không gian văn hóa độc đáo của một làng cổ ở miền TrungViệt Nam Nơi đây còn nổi tiếng với đồ gốm là một ngành thủ công truyềnthống của làng Các sản phẩm gốm của làng đã đáp ứng được nhu cầu củangười dân Hơn thế nữa, nhiều sản phẩm gốm tinh vi đã được các gia đìnhhoàng gia dưới triều Nguyễn sử dụng Chúng cũng được sử dụng trong xâydựng, trang trí cho các công trình kiến trúc ở Cố đô Huế
Được vinh danh là một làng di sản, Phước Tích có nhiều lễ hội truyềnthống như lễ hội cung đình, lễ hội trò chơi truyền thống, lễ hội tôn giáo đểphát huy truyền thống văn hóa lâu đời Phước Tích là trung tâm của những nétđộc đáo về phong cách sống, trang phục, nghệ thuật ẩm thực, và các ngànhnghề truyền thống Các giá trị nói trên cho thấy một tiềm năng lớn cho pháttriển du lịch, góp phần phát triển kinh tế xã hội tổng thể
Ngoài những điểm mạnh trên, làng Phước Tích vẫn còn phải đối mặtvới khó khăn và trở ngại Nhiều di tích có giá trị bao gồm cả sản phẩm gốmtiếp tục xuống cấp do thiếu đầu tư của các gia đình cũng như của Chính phủ.Các sản phẩm và dịch vụ du lịch kém phát triển Đầu tư vào thủ công mỹ nghệ
và xây dựng thương hiệu, như cho gốm Phước Tích là không xứng tầm
Trong bối cảnh như vậy, có một số đề xuất giải pháp để vực dậy làngngành nghề truyền thống địa phương( lò nung) và thiết lập một hệ thống dulịch phù hợp dựa trên kinh nghiệm thu được từ ngành nghề địa phương 1.Thành lập một nhóm cộng đồng cho xúc tiến ngành nghề truyền thống 2.Đánh giá giá trị của ngành thủ công ( gốm) và phát triển một kế hoạch xúctiến cho nó 3 Hỗ trợ xây dựng lại cơ sở vật chất xúc tiến các sản phẩm thủ
Trang 34công ( gốm) 4 Phát triển và huy động tiếp thị các sản phẩm gốm 5 Đẩymạnh các kênh tiếp thị và du lịch phối hợp với khu vực nhà nước và công tybản đồ hướng dẫn du lịch và các công cụ quảng bá du lịch.
Tiểu kết chương 1
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận cơ bản và các khái niệm có liên quan đến
đề tài, có thể thấy rằng du lịch văn hóa là một hoạt động mang tính cộng đồng
xã hội rất cao Để có thể phát triển du lịch văn hóa không chỉ đòi hỏi nhữngyêu cầu cụ thể của riêng ngành du lịch mà còn là sự kết hợp của rất nhiềungành trong xã hội: kinh tế, giao thông vận tải,…cùng với chính quyền và dân
cư địa phương Các làng cổ Bắc Bộ có nhiều tiềm năng và thế mạnh để pháttriển du lịch đặc biệt là du lịch văn hóa Những giá trị văn hóa cả về mặt vậtchất và tinh thần đều cần được phát huy để phát triển hoạt động du lịch Bằngkinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa trong khu vực Châu Á cũng như ở một
số vùng đất khác nhau tại Việt Nam, làng cổ Bắc Bộ sẽ rút ra được những bàihọc kinh nghiệm quý báu để phát triển du lịch văn hóa nhưng vẫn gìn giữ vàbảo tồn được những nét đẹp vốn có của hình ảnh làng quê thuần Việt
Trang 35Chương 2 TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI LÀNG CỔ BẮC BỘ ( LÀNG ĐƯỜNG LÂM VÀ LÀNG BÁT TRÀNG) 2.1 Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tại làng cổ Bắc Bộ, làng cổ Đường Lâm và làng cổ Bát Tràng
Làng cổ Bắc Bộ nói chung mang những nét văn hóa đặc sắc riêng củanhững người dân Bắc Bộ Với tính chất một cộng đồng dân cư sống trongmiền quê” nửa kín, nửa hở” đã tạo nên một hình ảnh rất đỗi bình dị và thânquen đối với bất kỳ người dân Bắc Bộ nào, một hình ảnh mà dù đi xa biết mấynhưng ai cũng phải nhớ về Hình ảnh “ cây đa, bến nước, sân đình, lũy trexanh, cổng làng “ luôn là những hình ảnh không thể nào quên của con ngườinơi đây Hiện nay, dưới tác động của quá trình đô thị hóa, số lượng làng cổ tạiBắc Bộ không còn nhiều tuy nhiên trong đó làng cổ Đường Lâm và làng cổBát Tràng là hai trong những làng cổ nhất ở Bắc Bộ vẫn giữ được những nétđẹp truyền thống cổ xưa Ngoài chức năng chính là nơi sinh sống và an cư,ngày nay những nét văn hóa bình dị, độc đáo làng cổ Đường Lâm và làng cổBát Tràng đã được khai thác các giá trị văn hóa vật chất, tinh thần cho hoạtđộng du lịch nhằm quảng bá hình ảnh của làng quê Bắc Bộ không chỉ đến dukhách trong nước mà còn đối với du khách nước ngoài
2.1.1 Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tại làng cổ Đường Lâm
địa lý
Làng cổ Đường Lâm nằm bên hữu ngạn sông Hồng, cạnh đường quốc
lộ 32 tại ngã ba giao cắt với đường Hồ Chí Minh thuộc thị xã Sơn Tây, HàNội Xưa kia, làng gồm có 9 làng thuộc tổng Cam Giá Thịnh huyện Phúc Thọtrấn Sơn Tây trong đó 5 làng Mông Phụ, Đông Sàng, Cam Thịnh, Đoài Giáp
và Cam Lân liền kề nhau Làng Đường Lâm phía tây giáp xã Cam Thượng( huyện Ba Vì), phía tây nam giáp xã Xuân Sơn, phía Nam giáp xã Thanh Mỹ,
Trang 36phía Đông Nam giáp phường Trung Hưng, phía Đông giáp phường PhúThịnh, phía bắc giáp huyện Vĩnh Tường( Vĩnh Phúc) Diện tích 7,87km2 vàdân số là 8.329 người( năm 1999).
Vị trí địa lý của làng cổ Đường Lâm rất thuận lợi cho việc phát triển dulịch văn hóa Từ trung tâm Hà Nội, khách du lịch đi theo đường 32 qua huyệnHoài Đức, Đan Phượng, Phúc Thọ( Hà Nội) qua thị xã Sơn Tây khoảng 2km
sẽ có biển chỉ dẫn vào làng Tính từ Hà Nội, du khách chỉ mất khoảng hơnmột giờ đồng hồ với 45km để đến được với làng cổ Đường Lâm Do đó,khách du lịch rất dễ dàng chọn nhiều loại phương tiện giao thông cho hànhtrình của mình: ô tô, xe máy, xe buýt
Điều kiện tự nhiên
Làng cổ Đường Lâm là một trong những làng lớn nhất của tỉnh Hà Tâynay thuộc Hà Nội với diện tích tự nhiên là 800,25ha trong đó có 415ha đấtcanh tác, 385,25ha đất thổ cư, dân số 9337 nhân khẩu với 1.937 hộ gia đình.Vùng là nơi chuyển tiếp giữa đồng bằng và trung du Bắc Bộ, phía Tây và phíaNam giáp với Thượng du và Trung du nên có nhiều đồi núi và nhiều đá ongtạo nên nét đặc trưng sinh thái xứ Đoài Đường Lâm có địa hình đồi núi nốitiếp nhau như bát úp với ba mặt nước sông bao bọc, có nham thạch cứng như
đá ong Vùng nằm trên bậc thềm phù sa cổ không bằng phẳng gồm nhiều dảiđất uốn cong uyển chuyển hợp thành từ các mỏm đồi gò liên tiếp từ chân núi
Ba Vì với độ cao trung bình so với mặt nước biển là 18m, trung tâm là đồiCấm có độ cao 48m
Đường Lâm có nền khí hậu phân hóa theo hướng các sườn núi Nhiệt
1800-2000mm nhưng phân bố không đều, lượng mưa mùa khô chỉ bằng 12-13%lượng mưa trong mùa mưa Vùng có hệ thống sông Hồng và sông Tích chảyqua địa bàn trên tổng diện tích đất tự nhiên là 800,25ha Đường Lâm là vùngđất cổ và cũng là” tứ giác nước” được bao bọc bởi sông Đà, sông Tích- một
Trang 37chi lưu nôi sông Đà với sông Đáy nên mang nhiêu đặc tính của sông miềntrung du như chế độ thủy văn rất phức tạp, phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ mùamưa của vùng lưu vực các nhánh sông và chế độ thủy văn của sông Đà
Có thể nói, điều kiện tự nhiên của làng cổ Đường Lâm rất điển hình chocác làng cổ Bắc Bộ và đều khá thuận lợi cho các hoạt động du lịch Du khách
có thể được thưởng thức không khí mát mẻ thanh bình của mùa hè vùng Bắc
bộ hay cái lạnh “ cắt da cắt thịt” vào mùa đông Mỗi mùa, mỗi kiểu thời tiếtđều sẽ mang lại cho du khách những trải nghiệm thú vị về cuộc sống và cảnhvật nơi đây
* Tài nguyên du lịch văn hóa
Đình Mông Phụ
Theo các nhà nghiên cứu, đình Mông Phụ tại làng cổ Đường Lâm đượcxây dựng vào thời kỳ Hậu Lê và đầu thời nhà Nguyễn thờ Tản Viên SơnThánh( Sơn Tinh)- vị thần đứng đầu trong Tứ bất tử( Sơn Tinh, thánh mẫuLiễu Hạnh, Thánh Gióng và Chử Đồng Tử) của người Việt Tản Viên SơnThánh cũng là Thành hoàng của làng Đình được xây dựng ở vị trí đẹp nhấtlàng trên một khu đất cao ráo, thoáng đãng, rộng khoảng 1.800m2 Đình quayhướng tây nam, mang ý nghĩa đề cao đức Thành hoàng làng và hướng về cáiđẹp, cái thiện trên nền tảng trí tuệ Đình được xây dựng theo kiểu chữ Cônggồm Nghi Môn, Tả Mạc, Hữu Mạc và Đại Đình Đáng quan tâm nhất là kiếntrúc của tòa Đại Đình được dựng theo kiểu” ba gian hai chái”, sáu hàng châncột đặt trên một nền đất thấp, trên có sàn bằng ván gỗ, xung quanh chỉ có lancan gỗ kiểu chấn song nên rất thông thoáng Bộ khung đình được trạm khắcchủ yếu là các họa tiết rồng, lân, cá chép, chim, hoa lá… Mái đình to, bè, hơivõng nhẹ, bờ nóc hơi cong trên các góc mái được trang trí bởi các con vậtthuộc hàng” tứ linh” như rồng, lân, phượng và hổ với những vân xoắn lớn.Những họa tiết trang trí khiến cho mái đình, thân đình và dưới đất hợp thànhmột thể thống nhất Đình chính là tâm điểm của cả làng, mọi ngõ xóm lan tỏa
Trang 38trong làng đều được quy tụ về con đường này Đặc biệt, dù xuất phát ở bất kỳđiểm nào trên đường làng, không bao giờ quay lưng lại một cách trực diện vớihướng chính của đình Chính lối kiến trúc này đã gia tăng tính kết nối cộngđồng của người dân và tạo một không gian thoáng mát cho cả làng.
Chùa Mía
Chùa Mía tên hiệu là” Sùng Nghiêm Tự” nằm trong các làng thuộc tổngMía, cũng là quê hương của cung phi Ngô Thị Ngọc Diệu( phi tần của chúaTrịnh Tráng- người đã có có công kiêu gọi tôn tạo lại chùa) nên người dân gọi
là chùa Mía Điều nổi bật nhất của chùa Mía là số lượng tượng phật nghệthuật khổng lồ Chùa có 287 pho tượng lớn nhỏ gồm 6 pho tượng đồng, 106pho tượng gỗ và 174 pho tượng làm bằng đất nung được sơn son thiếp vàng.Tất cả đều có giá trị lớn về nghệ thuật
Thế kỷ XVII, chùa bị hư hỏng và đổ nát Năm 1632, Cung phi NguyễnThị Ngọc Dung đã đứng ra khuyên mộ nhân dân tại làng Đông Sàng và cáclàng lân cận cùng tu bổ lại Cung phi Ngọc Dung còn gọi là Ngô Thị NgọcDiệu, là phi tần trong phủ chúa Trịnh Tráng vốn là người Nam Nguyên( NamAnh) Nhân dân trong vùng mến mộ uy đức của bà đã tạc tượng bà đem thờ ởchùa và tôn bà là” Bà Chúa Mía” Mặc dù đã được tu bổ nhiều lần nhưng đếnnay kiến trúc của chùa vẫn gần như nguyên vẹn Tấm bia dưới gác chuông ghinăm Vĩnh Tộ thứ bà( 1621) nói về việc lập chùa
Chùa Mía ở làng cổ Đường Lâm không phải là ngôi chùa cổ nhất ở Bắc
Bộ nhưng mang đậm nét kiến trúc cũng như văn hóa của người dân Bắc Bộ.Hoạt động tâm linh tại đây vẫn diễn ra theo truyền thống và mang tính cộngđồng rất cao mà con người nơi đây vẫn gìn giữ được
Đền thờ Ngô Quyền và đền thờ Phùng Hưng
Đường Lâm là một vùng quê có truyền thống lâu đời, hiếm có nơi nàotrên nước ta như ở mảnh đất này, riêng một thôn Cam Lâm mà có tới hai ôngvua, cả hai ông đều có công rất lớn đối với nhân dân và đất nước thì thời xa
Trang 39xưa trong quá khứ đó là Phùng Hưng( thế ký VIII) và Ngô Quyền( thế ký X).Theo sử sách còn ghi lại, sau khi hai vị vua trên qua đời đến ngày nay, ngườidân thôn Cam Lâm đã tỏ lòng biết ơn và tôn kính cho xây dựng lên đền- lăngNgô Quyền tại quê Đường Lâm( Cam Lâm), lăng Phùng Hưng ở TôngBình( Hà Nội).
Đền thờ Ngô Quyền nằm trên làng Cam Lâm có tổng diện tích gần
phong, chiếu thủy Tại đây, trước kia, vua Ngô Quyền từng dùng rặng Ruối đểbuộc voi chiến trước khi xuất trận
Đền thờ vua Phùng Hưng còn được gọi là Bố Cái Đại Vương được xâydựng tại thôn Cam Lâm Ông đã từng oai hùng hạ gục hổ dữ cứu dân lành tạiđồi Hùm và được người dân tưởng nhớ dựng đền thờ và ngày mùng 8 thánggiêng âm lịch hàng năm mở hội
Cổng làng Mông Phụ
Thôn Mông Phụ có cổng làng cổ xưa nhất Cổng làng Mông Phụ là một ditích điển hình, một chiếc cổng duy nhất còn xót lại trong hệ thống cổng làngtừng tồn tại ở Đường Lâm Cổng làng được xây dựng từ năm 1833, phía trên tựadòng chữ” Thế hữu hưng ngợi đại”, tạm dịch là thời nào cũng có người tài Cổnglàng Mông Phụ không có gác trên mái với những vòm cổng cuốn tò vò mà đơngiản chỉ là một ngôi nhà hai mái dốc đứng án ngữ trên trục chính của con đườngdẫn vào làng Khi bước chân qua cổng làng, chúng ta có cảm giác như được trở
về với làng quê êm ả, bình yên của nông thôn Việt Nam
Cổng làng Mông Phụ án ngữ một cách cổ kính trên trục đường chínhdẫn vào làng và dựa theo lối cổ truyền Phần mộc là đinh, lim, sến, táu, bốncây cột cái đứng choãi chân trên những phiến đá xanh Đông Triều tròn vànhvạnh như bốn chiếc cối đá đại đặt úp Những chiếc hoành tròn được gác trênhai vì” chồng giường, kẻ truyền” tạo nên hai mái cân kiểu nhà tiền tế Phần nềtường xây đá ong trền chít mạch, không” đao, đấu, diềm, mái” Cổng làng là
Trang 40một hình ảnh độc đáo của các làng quê Bắc Bộ Bất kỳ một du khách nào khiđến đây đầu tiên đều phải đi qua cổng làng, được chiêm ngưỡng những nétđẹp độc đáo và đầy sự sáng tạo của những người xây dựng nên Cổng làngĐường Lâm còn là nét tiêu biểu của văn hóa làng Bắc Bộ đã tồn tại hàngnghìn đời nay.
Nhà cổ ở Đường Lâm
Đây là những ngôi nhà cổ được xây dựng bằng đá ong, có lịch sửkhoảng 300-400 năm Đường Lâm có 956 ngôi nhà hơn 150 tuổi Trong đó,thôn Đông Sàng có 441 nhà, Mông Phụ có 350 nhà, Cam Thịnh có 165 nhà,Đoài Giáp có 8 căn, Phụ Khang có 13 căn Nhiều ngôi nhà được xây dựng từnăm 1649, 1703, 1850…Ngôi nhà cổ nhất ở Đường Lâm được xây dựng từnăm 1649 đến nay đã hơn 360 năm tuổi Ngoài ra còn có nhà của gia đình ông
Hà Văn Lâm, Hà Nguyên Huyến, Cao Văn Toàn, bà Vũ Thị Ấm, bà DươngThị Lan đều thuộc những ngôi nhà cổ điển hình tại đây Để đảm bảo bộ mặtcủa ngôi làng cổ mang đầy đủ dáng vẻ truyền thống, những con đường làngđược lát gạch nghiên và những bức tường xây bằng đá ong, đất nệm một loạivật liệu sẵn có tại địa phương lại càng làm tăng vẻ cổ kính của mảnh đất đậmchất truyền thống này Nhà cổ được xây chủ yếu bằng đá ong, gạch mộc, gắnkết với nhau bằng đất trộn với trấu Cột trụ và trần nhà bằng gỗ xoan Mái nhàđược lợp ngói mũi theo lối lợp chen vai, cài cánh, đan xít vào nhau như vẩyrồng Trong nhà vẫn còn lưu giữ được bài văn cúng tế bằng chữ nho được viếtbằng mực tàu trên một tấm ván Các ngôi nhà cổ ở Đường Lâm đều có cổngnhà hình quai giỏ, mềm mại về đường nét và vững chắc nhờ chất liệu đá ong.Mỗi một ngôi nhà là một đồ gia bảo, là lịch sử, văn hóa và cũng là nơi thờ tựthiêng liêng của mỗi dòng họ ở đây Những ngôi nhà cổ tại Đường Lâm đều
có nét tiêu biểu về kiến trúc, vật liệu chính là gỗ, đá ong, lợp ngói ri… vớingoại thất và nội thất vẫn còn giữ nguyên kiểu dáng kiến trúc ban đầu có niênđại hàng trăm năm Các nhà cổ này đều có cổng, tường rào, sân, vườn, bình