lịch sử đã hai lần biết tới một sự cấy ghép văn hóa ngoại lai như vậy,nhưng cả hai lần văn hóa Việt Nam đều không mất đi, không bị đồng hóa,trong khi cải biến vẫn giữ được sắc thái riêng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-Bùi Hoàng Yến
KHẢO SÁT SỰ TIẾP NHẬN VĂN HỌC PHÁP TRÊN
NAM PHONG TẠP CHÍ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn Học Việt Nam
Hà Nộ i-2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*******
Bùi Hoàng Yến
KHẢO SÁT SỰ TIẾP NHẬN VĂN HỌC PHÁP TRÊN
Trang 3Lời Tri ân
Luận văn này là kết quả quá trình học tập, nghiên cứu suốt ba nămtrong chương trình đào tạo Thạc sĩ, dưới tay truyền dạy, hướng dẫn nhiệttình, nghiêm túc và khoa học của tập thể thầy cô là các Giáo sư, Phó giáo
sư, Tiến sỹ đáng kính của trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn HàNội Vì thế, trước tiên tôi xin kính gửi đến quý thầy cô lời tri ân sâu sắc vềnhững tri thức và tình cảm mà các thầy cô đã dành cho tôi trong thời gianqua!
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đến người thầy - Giáo sư –Tiến sỹ Trần Ngọc Vương, một nhà giáo mẫu mực trong nhân cách, tậntâm trong giảng dạy và nghiêm túc, khách quan trong khoa học, người đãtận tình hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này!
Nhân đây, tôi cũng xin gửi đến gia đình, bạn bè và những đồng nghiệpthân thiết của tôi – những người đã động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiệntốt nhất cho tôi, trong thời gian học tập và thực hiện công trình khoa họcđầu tiên của mình – lời cảm ơn chân thành, thắm thiết!
Hà Nội ngày 09 tháng 02 năm 2015
Bùi Hoàng Yến
Trang 4MỤC LỤC
A - MỞ ĐẦU
1 Lý do chọ đề tài
2 Mục đích nghiên cứu – Ý nghĩa thực tiễn của luận văn 2.1 Mục đích nghiên cứu:
2.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
3 Lịch sử vấn đề
3.1 Trước cách mạng tháng tám
3.2 Sau cách mạng tháng Tám
3.3 Từ năm 1975 đến nay
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
B NỘI DUNG
1. Chương 1 Nam Phong tạp chí với những bước thăng trầm của lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 12
1.1 Thực dân Pháp – Sự chuyển đổi chính sách xâm lược 12
1.2 Sự thay đổi của đội ngũ trí thức Việt Nam khi thực dân Pháp xâm lược 13
1.3 Công cuộc đổi thay chuyển mình của nền văn học 15
Chương II NAM PHONG TẠP CHÍ CÙNG VỚI SỰ TIẾP NHẬN VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY 26
2.1 Nam Phong ra đời và tiến triển 26
2.1.1 Bối cảnh báo chí Việt Nam trước khi Nam Phong tạp chí ra đời. 26
2.1.2 Nam Phong tạp chí 32
2.2 Quá trình phát triển của Văn học Việt Nam qua sự tiếp nhận văn học Pháp 35
2.2.1 Sự đóng góp các tác phẩm, công trình dịch thuật của các diễn giả tiêu biểu trên Nam Phong 35
Trang 52.2.2 Văn học có những thay đổi mới 41
Trang 6CHƯƠNG 3 CÁC TÁC GIẢ ĐÓNG GÓP VÀO VIỆC TRUYỀN BÁ
VĂN HÓA, VĂN HỌC PHÁP – CHÂU ÂU TRÊN NAM PHONG 68
3.1 Chủ nhiệm kiêm chủ bút Phạm Quỳnh (1892 - 1945) 68
3.2 Các tác giả đóng góp trên Nam Phong 74
3.2.1 Nguyễn Bá Trác (1881 – 1845) – Lối văn „ám chỉ” và “hàm súc” 75
3.2.2 Nguyễn Hữu Tiến (1875 – 1941) – Nhà biên khảo, dịch thuật tài năng 77
3.2.3 Nguyễn Trọng Thuật (1993 – 1940) 81
3.2.4 Nguyễn Bá Học (1858 – 1921) 82
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 71 Lý do chọ đề tài.
Văn hóa Việt Nam nói chung và Văn học học Việt Nam nói riêng,trong tiến trình lịch sử của mình đã có những cuộc tiếp xúc, ảnh hưởng lớn,hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp với văn hóa, văn học nước ngoài Trong quátrình tiếp xúc ấy, văn hóa - văn học Việt Nam đã tiếp nhận, chắt lọc tinhhoa của nhân loại để tự làm phong phú bản sắc văn hóa riêng của dân tộc
Để diễn tả những cuộc gặp gỡ kỳ lạ mà cũng hứng thú giữa các nềnvăn hóa khác nhau, ở nhiều nước trên thế giới, các học giả thường sử dụng
khái niệm acculturation Trong tiếng Việt, có người dịch thuật ngữ đó là thụ ứng, hấp thụ, gần đây hơn thấy một số khái niệm hỗn dung, tiếp biến, đan xen, giao thoa v.v…Tuy nhiên thì trong Bách khoa toàn thư Mỹ định nghĩa acculturation “là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người có văn
hóa khác nhau, gây nên sự biến đổi trong dạng thức hóa ban đầu của một
hay cả hai bên” (Dẫn theo Hà Văn Tấn, tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật 4
-1981) Đối chiếu với một định nghĩa nghiêm chỉnh như thế, người ta thấycuộc tiếp xúc giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa phương Tây, trước tiên làvăn hóa Pháp trong một vài thế kỷ gần đây, nhất là cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX, đáng được coi là một hành động acculturation điển hình Trong phạm vi luận văn này, sở dĩ không dùng những giao thoa, đan xen, mà chỉ dùng một chữ khá phổ biến là chữ tiếp nhận Bởi lẽ, rõ ràng là trong quá
trình tiếp xúc mà chúng ta đang quan sát, sự biến đổi chủ yếu xảy ra ở mộtbên (phía Việt Nam), hơn là cả hai bên (cả phía Pháp) Hơn thế nữa, phảinhìn nhận đó là một sự biến đổi quá lớn, biến đổi hẳn trong dạng thức Saukhi tiếp xúc, văn hóa Việt Nam như nhào nặn lại, làm lại hoàn toàn, điều
đó là đương nhiên, theo các nhà lịch sử văn hóa thì hòa nhập vừa là đặctrưng, là tính nội tại, vừa là điều kiện sống còn của văn hóa Lịch sử củamỗi nền văn hóa không chỉ là sự phát triển tự thân của nó, mà còn là lịch
sử của mối quan hệ giữa nó với các nền văn hóa khác Riêng ở Việt Nam
Trang 8lịch sử đã hai lần biết tới một sự cấy ghép văn hóa ngoại lai như vậy,nhưng cả hai lần văn hóa Việt Nam đều không mất đi, không bị đồng hóa,trong khi cải biến vẫn giữ được sắc thái riêng của mình.
Từ cuộc tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa, chúng ta vẫn có những thời
kỳ phát triển độc đáo, như văn hóa Lý – Trần, văn hóa cuối Lê đầuNguyễn, bằng chứng cho thấy sau khi làm một cuộc thay máu hoàn toàndưới ảnh hưởng của văn hóa, văn học Pháp, nền văn chương Việt Nam nửađầu thế kỷ có được những đứa con bụ bẫm như nền tiểu thuyết hiện đại,phong trào thơ mới.v.v Quả thật là những bước đầu Âu hóa đã xảy ra vớimuôn vàn lúng túng, và những điều ấy cũng đúng với công cuộc biến đổitrong văn hóa tinh thần, sự biến đổi xảy ra gián tiếp chậm chạp, có khingười này cấy trồng, người kia gặt hái
Nghiên cứu văn học Việt Nam giai đoạn giao thời, chúng tôi nhận ramột điều, bất kỳ cuốn sách nào, bài viết nào khi đề cập đến văn học giai
đoạn này đều nói đến Nam Phong tạp chí, có những bài nghiên cứu đã khẳng định vai trò của Nam Phong trong quá trình phát triển của nền văn
học mới Và cũng theo sự tìm hiểu của chúng tôi, Phạm Quỳnh và một sốtác giả tân tiến khác được coi là những nhân vật tiêu biểu của quá trình tiếpnhận văn hóa vừa nói ở trên, ít ra là ở giai đoạn đầu của sự tiếp nhận ấy.Người ta chỉ nghĩ đến Phạm Quỳnh như một trong những người có cơ sởTây học vững chắc, song sự thực trong cái môi trường văn hóa Hán Việtrộng lớn lúc ấy Hán học đã thấm vào ông, cả hai nền văn hoa Đông – Tâykết hợp ở ông khá nhuần nhị Tiếp nối sự nghiệp của những Trương Vĩnh
Ký, Huỳnh Tịnh Của, những thành tựu của giai đoạn văn hóa tiền chiến, làkhá rực rỡ, được gợi mở từ nhiều năm trước khi những người như NguyễnVăn Vĩnh, Phan Kế Bính, Tản Đà đều xây nền đắp móng cho nền văn họcmới Tuy có nhiều ý kiến không tích cực đối với Phạm Quỳnh, nhưng khi
lần giở lại Nam Phong, chúng tôi yên tâm khi tìm hiểu những đóng góp
Trang 9của Phạm Quỳnh trong sự tiếp nhận văn hóa phương Tây và góp phần hìnhthành nền văn hóa, văn học mới của dân tộc trong thời hiện đại.
Chúng tôi chọn Nam Phong tạp chí nhưng không phải bàn mọi điều
về Nam Phong mà chỉ chọn một đối tượng nghiên cứu chuyên ngành hẹp,
là khảo sự tiếp nhận của văn học Pháp trên tạp chí Xét trong lịch sử báochí thì Nam Phong không phải là tờ tạp chí ra đời đầu tiên, nhưng nó lại cóvai trò nhiều mặt trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam trong vàichục năm đầu thế kỷ XX Xét về qui mô, dung lượng, mức độ sâu rộng củakiến thức phản ánh thì không có tạp chí nào đầu thế kỷ XX có thể so sánh
với nó Tuy lượng thông tin và qui mô rộng vậy nhưng Nam Phong vẫn
dành phần trang trọng nhất, lưu ý nhất cho văn học như : Du kí, du hành,tiểu thuyết, tản văn, truyện ngắn, thơ ca, lý luận phê bình.v.v.Với lịch sử
văn học Việt Nam giao thời, dù muốn dù không Nam Phong đã để lại những dấu ấn đáng kể Trong Nam Phong số 1, năm 1917, Phạm Quỳnh
đã nói đến chủ trương văn hóa của ông “Cái mục đích của bản báo là muốn gây lấy một nền văn học mới để thay vào cái nho học cũ, cùng đề xướng lên một cái tư trào mới hợp với thời thế cùng trình độ dân ta Cái tính cách của sự học vấn mới cùng cái trào mới ấy là tổ thuật cái học vấn
tư tưởng của Thái Tây, nhất là của nước đại Pháp, mà không quên cái quốc túy trong nước” Trong bài viết “Bới tìm kho tư liệu của báo Nam Phong” của Nhân Nghĩa viết năm 1941 đã từng thừa nhận “Trong suốt 18
năm trời, từ 1917 đến 1934, với 210 tập báo dày dặn đã chứng minh điều
Thiếu Sơn đã nói về báo Nam Phong “Có nhiều người không biết đọc văn Tây, văn Tàu, chỉ nhờ Nam Phong vun đúc cũng có được cái tri thức phổ thông tạm đủ sinh hoạt ở đời” Trong hơn 17 năm, Nam Phong đã giới
thiệu 49 truyện và chùm truyện ngắn dịch từ nước ngoài, trong đó có 25truyện và chùm truyện ngắn Trung Hoa và 24 truyện ngắn phương Tây,trong đó có 22 truyện ngắn của Pháp Truyện ngắn nước ngoài trên tạp chíNam Phong, có đóng góp nhất định trong việc giới thiệu văn học phương
Trang 10Tây, văn học Trung Quốc và rèn luyện câu văn Quốc ngữ ở buổi đầu hìnhthành nền văn học mới Nam Phong thực sự trở thành vườn ươm cho quátrình hiện đại hóa nền văn học nước nhà Ý thức được vai trò to lớn của
Nam Phong, càng thôi thúc chúng tôi lựa chọn đề tài “ Khảo sát sự tiếp
nhận văn học Pháp trên Nam Phong tạp chí” làm đối tượng nghiên cứu
khoa học để thực hiện luận văn
2 Mục đích nghiên cứu – Ý nghĩa thực tiễn của luận văn 2.1 Mục đích nghiên cứu:
Năm 1975, sau cuộc đại thắng mùa Xuân, dân tộc Việt Nam, cáchmạng Việt Nam bước sang thời kỳ mới Đại hội Đảng Cộng sản Việt Namlần thứ VI – 1986 nêu vấn đề đổi mới toàn diện đất nước, đưa đất nướcnhanh chóng hội nhập vào khu vực và thế giới Trong không khí ấy, cácnhà nghiên cứu được khích lệ nhìn vào sự thật để đánh giá đúng chân giátrị của các vấn đề thực tiễn phức tạp, tư duy và hành động theo quy luật củakhách quan Trên tinh thần đổi mới ấy, văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX đãđược nghiên cứu, nhìn nhận và đánh giá một cách thỏa đáng Và cũng xuất
phát từ tinh thần ấy mà Nam Phong tạp chí cũng được các nhà nghiên cứu
quan tâm mặc dù xưa nay tạp chí này được coi là công cụ của thực dânPháp nhằm tuyên truyền phục vụ cho cuộc xâm lăng của chúng, PhạmQuỳnh chủ nhiệm tờ báo được gọi là “bồi bút tay sai” và Nam Phong tạpchí là tờ báo “nô dịch”
Mặc dù vậy khi tìm hiểu chúng tôi vẫn nhận thấy trong việc đánh giá
về Nam Phong tạp chí cả trước và sau Cách mạng tháng Tám, các nhà nghiên cứu vẫn có những điểm gặp gỡ nhau: “Trong lịch sử văn học hiện đại, người ta sẽ không thể nào quên được tạp chí Nam Phong Vì nếu ai đọc toàn bộ tạp chí này cũng phải thừa nhận là rất đầy đủ, có thể giúp cho người học giả một phần to tát trong việc soạn một bộ bách khoa toàn thư bằng quốc văn”[31-119] Sau này Lại Văn Hùng trong cuốn Truyện ngắn Nam Phong (tuyển) có nhận xét: “Nam Phong tạp chí là một tờ báo tuy do
Trang 11Pháp chủ trương nhưng về khách quan vẫn có những đóng góp đáng ghi nhận vào sự chuyển hướng của văn hóa, văn học Việt Nam trong ba mươi năm đầu thế kỷ” Và hiện nay, các nhận định của các nhà nghiên cứu đều
nhất trí với nhận xét trên
Viết luận văn này, mục đích của chúng tôi là muốn khảo một cáchkhách quan về vai trò của trí thức Việt Nam trong quá trình tiếp nhận vănhóa phương Tây đầu thế kỷ XX Cụ thể là các tác phẩm, học giả đăng tảitrên Nam Phong tạp chí trong 17 năm tồn tại Tạp chí đã xây dựng đượcmột đội ngũ sáng tác văn học mới cho thế hệ 1913 – 1932 và cả thế hệ sau,
mở ra một giai đoạn mới cho văn học, tạo đà cho văn học thời kỳ sau đổimới phát triển đạt nhiều thành tựu giá trị
2.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn.
Xem xét và đánh giá Nam Phong tạp chí trong tiến trình phát triển,đổi mới văn học đầu thế kỷ XX, cần phải đặt nó trong tiến trình phát triểnbáo chí giai đoạn này chúng ta mới thấy được sự đóng góp của Nam Phongcho văn học Việt Nam
Các tài liệu nghiên cứu cho thấy, Nam Phong so với các tạp chí mang tính văn học cùng thời thì có “văn hoạt động học” nổi bật hơn cả, chính vì
vậy tạp chí đã trở thành tư liệu không thể thiếu khi tìm hiểu và nghiên cứuvăn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX
Mặc dù chỉ quan tâm đến phương diện học thuật và văn học trên NamPhong tạp chí, song chúng tôi cũng cố gắng ý thức một cách thật rànhmạch về tính chất hai mặt của tạp chí Mục đích chính của Nam Phong tạpchí là phục vụ cho âm ưu xâm lược bằng văn hóa, văn học của thực dânPháp, muốn “Pháp hóa” tinh thần người Việt Nam để dễ bề cai trị trongtình trạng cuộc “chiến tranh võ trang” đã hoàn thành Thực tế cho thấy rấtnhiều nhà nghiên cứu ở các thời điểm khác nhau đã chỉ ra, Nam Phongthực tế có tác động hai mặt Chính sách xâm lược văn hóa không thể nhưsúng đạn, bắn là trúng đích, hoặc đạn nổ là mục tiêu gục ngã, bởi vậy mặt
Trang 12thứ hai như C.Marx nói “Công cụ lịch sử không tự giác” của Nam Phong
biến nó thành tạp chí vừa phục vụ cho chủ nghĩa thực dân vừa muốn
“tranh thủ”, “lèo lái” ngòi bút hướng tới một thứ “chủ nghĩa yêu nước xấu hổ” và “vụng trộm” Chính chức năng thứ hai này đã tạo ra những sản
phẩm giá trị cho giai đoạn văn học đầu thế kỷ Tuy vậy đóng góp này chỉ
được xem xét trên tinh thần “phát sinh” của “công cụ lịch sử” chứ không hoàn toàn thuộc về chủ đích của Nam Phong tạp chí.
mà cũng hiểu đôi cái tinh thần văn hóa Á Đông” Trong cuốn “Việt Nam văn hóa sử cương” (1938) đánh giá về Phạm Quỳnh, Đào Duy Anh viết:
“Về phương diện văn học thì Nam Phong tạp chí theo một tôn chỉ với Đông Dương tạp chí, dùng Việt ngữ để truyền đạt học thuật cổ kim và du nhập tư tưởng Đông Tây, chứng rằng Việt ngữ không những chỉ thích dụng
về các lối văn chương suông mà có thể dùng viết văn về sử học, triết học
và khoa học nữa” Trong cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài
Chân
(1942) trong phần mở đầu Một thời đại trong thi ca, Hoài Thanh viết:
“Những tư tưởng phương Tây đầy rẫy trên Đông Dương tạp chí, trên Nam Phong tạp chí, và từ hai cơ quan ấy thấm dần vào các hạng người có học…Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỷ đã chia sẻ vui buồn với cha ông Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt Tiếng Việt là tấm lụa đã hứng vong hồn những thế hệ đã qua Đến lượt họ, họ cũng muốn mượn tấm hồn bạch chung để gửi nỗi băn khoăn riêng…Chưa
Trang 13bao giờ như bây giờ họ hiểu câu nói can đảm của ông chủ báo Nam Phong: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”[4-52] Trong các nghiên cứu viết về Nam Phong thời kỳ này, có lẽ cuốn Nhà văn hiện đại (1942) của Vũ Ngọc Phan giành nhiều tâm lực và thời gian
nhất Trong hai tập sách với tổng số 1179 trang giới thiệu 79 nhà văn tiêubiểu tham gia sáng tác từ cuối thế kỷ XIX đến đầu những năm 1940 củathế kỷ XX bằng chữ quốc ngữ có 7 tác giả của Nam Phong tạp chí : PhạmQuỳnh (Thượng Chi); Nguyễn Bá Học; Nguyễn Hữu Tiến (Đông Châu);Nguyễn Trọng Thuật (Đồ Nam Tử); Lâm Tấn Phác (Đông Hồ); Tương Phố(Đỗ Thị Đàm); Phạm Duy Tốn với 101 trang sách Vũ Ngọc Phan coi tạp
chí Nam Phong là “bách khoa toàn thư” và các nhà văn trên tạp chí thuộc
“các nhà văn lớp đầu” thời kỳ mới có chữ quốc ngữ
Trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm cũng đã có
cảm nhận khá sắc sảo về các bước chuyển biến của văn học Việt Nam từ
trung đại chuyển sang hiện đại cũng như vai trò của Nam Phong, ông đã giới thiệu các phần mà tạp chí trình bày và đánh giá “Đã có công dịch thuật các học thuyết của Thái Tây và luyện cho tiếng Nam có thể đạt được các ý tưởng mới”
3.2 Sau cách mạng tháng Tám.
Năm 1949, trong cuốn Việt Nam văn học sử (trích yếu), tác giả Nghiêm Toản đã đánh giá cao công lao của Nam Phong tạp chí và Đông Dương tạp chí trong việc chuẩn hóa chữ quốc ngữ, đưa việc sử dụng chữ
quốc ngữ vào các lĩnh vực khoa học, văn học, triết học.v.v.v
… “Ảnh hưởng của Nam Phong rất lớn, không những gâp dựng cho tiếng ta cho đủ chữ phô bày hết mọi tính tình, ý niệm lại phổ thông hóa những điểu đại cương thiết yếu trong các học thuật Đông, Tây, mới, cũ và những điểm chính trong văn hóa cổ học như nghi lễ, phong tục, văn chương…” [35-247].
Trang 14Tử khoảng 1954 – 1975 các học giả, nhà nghiên cứu văn học, cả hai
miền Nam Bắc đều có những công trình nghiên cứu về Nam Phong tạp chí:
Ở miền Nam có Thanh Lãng với cuốn: Biểu nhất lãm văn học cận đại
(1682 – 1945) tập I (1958); Bảng lược đồ văn học Việt Nam (1976) Ở cả hai cuốn sách này, Thanh Lãng đã đánh giá khá cao Nam Phong tạp chí
trong tiến tình văn học Việt Nam Nếu ở cuốn thứ nhất ông đánh giá chung
về Phạm Quỳnh “là một tập sự của thế hệ văn học 1862 – 1913 để biến thành một tay chỉ đạo trong thế hệ văn học 1913 – 1930 rồi biến ra một
bóng bù nhìn trong thế hệ văn học 1930 – 1945” thì ở cuốn thứ hai ông đãgiới thiệu khá tỉ mỉ đến từng tiểu loại văn học cùng một số bỉnh bút của tạpchí
Trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Phạm Thế Ngũ (1961)
đã nêu vấn đề bước đầu của văn quốc ngữ Ông đánh giá Nam Phong tạp chí và Đông Dương tạp chí mặc dù còn vướng nhiều về quá khứ song cũng
đã có cố gắng trong việc dung hòa Âu Á
Nguyễn Văn Trung trong một chuyên luận giành riêng cho đề tài này
là cuốn Chủ đích Nam Phong (1975) đã nêu vấn đề Nam Phong tạp chí cả
về văn học và chính trị, ông đã tố cáo tính chất lừa bịp và mê hoặc của cácchính sách thực dân qua Nam Phong – một công sụ tuyên truyền của thựcdân; Về văn học ông cũng khách quan đánh giá một số đóng góp của tạpchí này Ngoài ra còn một số cuốn như: Mục lục phân tích Nam Phong
1917 – 1934 của Nguyễn Khắc Xuyên (1986) đã cung cấp danh mục các
bài viết trên Nam Phong trong suốt 17 năm, chia hai phần mục lục chuyên ngành và mục lục tên tác giả Cuốn Lịch sử báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945 của Huỳnh Văn Tòng (tái bản 1992) giành khá nhiều trang giới thiệu Nam Phong tạp chí nêu các vấn đề về chính trị và văn học, cả phê phán Nam Phong và nêu những đóng góp của tạp chí.
Ở miền Bắc giai đoạn 1945 – 1975 có một số công trình nghiêncứu
có đề cập trực tiếp tới Nam Phong tạp chí tiêu biểu như: Đại cương về văn
Trang 158
Trang 16học sử Việt Nam của Nguyễn Khánh Toàn (1954); Sơ thảo lịch sử văn học của nhóm Văn sử địa (gồm các tác giả Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đổng chi, Hồng Phong, Văn Tân), Nhà xuất bản Văn – Sử - Địa, 1957; Lược thảo lịch sử văn học của nhóm Lê Quý Đôn biên soạn, Nhà xuất bản xây dựng 1957; Giáo trình văn học Việt Nam của trường Đại học sư phạm Hà Nội
(1963) Nhìn chung các công trình nghiên cứu này đều có chung quan
điểm: “Phạm Quỳnh là tên tay sai đắc lực của đế quốc Pháp trên lãnh vực văn học, một tên Việt gian lợi hại chống cách mạng” [41 – 137]; “Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí tuyệt nhiên không có công lao gì đối với văn học dân tộc cả” [49 – 109].
3.3 Từ năm 1975 đến nay.
Các công trình nghiên cứu về Nam Phong tạp chí có hai xu hướng:
Xu hướng thứ nhất thể hiện qua các cuốn giáo trình văn học Việt Namđược in lại hoặc mới in trong đó các tác giả vẫn giữ quan điểm đánh giáNam Phong tạp chí về phương diện chính trị là tạp chí “tay sai bồi bút liêmsỉ…” hoặc coi việc “xây đắp nền quốc văn” như là thực hiện “chủ nghĩa áiquốc bằng quốc ngữ”
Xu hướng thứ hai đó là một số đánh giá có xu hướng đổi mới như tácgiả Nguyễn Lộc cho rằng “Phạm Quỳnh là người đã kiên trì đề ra việc sửdụng chữ quốc ngữ và làm phong phú nó…Ông cũng là người kiên trì gópphần xây dựng nền văn học dân tộc, thúc đẩy nó phát triển theo chiềuhướng hiện đại của thế giới” [46 – 193]
Giáo sư Nguyễn Đình Chú trong công trình: “Tác giả Việt Nam” tập I,
Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội 1990 cũng có những đánh giá khách quan
hơn về Nam Phong tạp chí: “…Nói cho công bằng thì “văn nghiệp” của Phạm Quỳnh, ngoài phần độc tố gây hại ra, không phải không có những điều có tác dụng khách quan đáng kể, góp phần vào công cuộc hiện đại hóa văn hóa, văn học Việt Nam trong thời cận đại này” [5-173].
Trang 17Tìm hiểu về Nam Phong tạp chí có nghiên cứu của con gái Thượng chi Phạm Quỳnh là bà Phạm Thị Ngoạn (1993), Nguyên tác Pháp văn đã đăng trong tập kỷ yếu đệ nhị và đệ tam cá nguyệt 1973 của Hội nghiên cứu các vấn đề Đông Dương Công trình này nhằm giới thiệu bảng mục lịch
phân tích của tạp chí Nam Phong và mô tả một vài nét chính diện mạo củanhững nhân vật đã từng tích cực góp phần vào nếp sống của tạp chí, xét vềmọi phương diện xã hội , chính trị hay văn chương Đồng thời xác định vaitrò của Nam Phong từ năm 1917 đến 1934, và giải thích tại sao NamPhong có thể coi như biểu hiện cho một thời đại trong lịch sử Việt Nam.Qua sơ lược trình bày các công trình nghiên cứu văn học bàn về NamPhong tạp chí, chúng tôi nhận thấy, các vấn đề nêu trong các công trình tuy
ở mức độ nông, sâu, rộng hẹp khác nhau, tinh thần khen ngợi hoặc phêphán hoặc chống Nam Phong tạp chí thì vẫn có một thực tế không thể phủnhận đó là:
Người ta không thể nghi ngờ rằng Nam Phong đã đánh dấu một thờiđại, cũng như nó đã hoàn tất một sứ mệnh thuần túy đối với lịch sử ngônngữ của dân tộc Trong những lĩnh vực khác, Nam Phong đã lưu lại nhữngnét chính yếu về nếp sinh hoạt phức tạp, nếp sống dồi dào về văn chươngthời kỳ đó
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu.
Vận dụng quy luật khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử, nhìn nhận đánh giá sự vật, sự việc con ngườitheo quá trình phát triển và phủ định đồng thời kết hợp với quan điểm lịch
sử đó là các nguyên tắc mà chúng tôi thực hiện khi tìm hiểu và khảo sát
Nam phong tạp chí, một tờ báo xưa nay được coi là phức tạp.
Quan điểm của chúng tôi là: Khảo sát sự tiếp nhận văn học Pháp
trên Nam Phong tạp chí, nhằm chỉ ra cụ thể đóng góp quan trọng của nó
đối với tiến trình phát triển văn học mới Tìm hiểu thêm về quan hệ giao
Trang 18lưu Đông - Tây, về vai trò của tri thức Việt Nam trong quá trình tiếp nhậnvăn hóa, văn học phương Tây đầu thế kỷ XX.
Khảo sát sự tiếp nhận văn học Pháp trên Nam Phong, chúng tôi xác
định tính chất của luận văn là nghiên cứu văn học sử Vì là vấn đề nghiêncứu văn học sử nên trong quá trình nghiên cứu chúng tôi buộc phải tìmhiểu các yếu tố liên quan đến tạp chí như: Bối cảnh lịch sử xã hội, văn hóa,tinh thần, tư tưởng, ảnh hưởng của lịch sử, chính trị đến quá trình phát triển
của văn học nước nhà trên Nam Phong tạp chí.
Để làm tốt công việc trên chúng tôi sử dụng các phương pháp: Sosánh, phân tích tổng hợp, phương pháp liên ngành Đây là những phươngpháp tích cực giúp chúng tôi khảo sát và đánh giá toàn bộ sự tiếp nhận vănhọc phương Tây cụ thể là văn học Pháp đối với văn học nước nhà và làmnổi bật cũng như thành tựu bước đầu đổi mới của nó
Trang 19B NỘI DUNG
1 Chương 1
Nam Phong tạp chí với những bước thăng trầm của lịch sử
Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
1.1 Thực dân Pháp – Sự chuyển đổi chính sách xâm lược.
Cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp trong cuộc xâm lượcViệt Nam đã biến đất nước Việt Nam từ một dân tộc thuộc vùng ĐôngNam Á trở thành một bộ phận của thế giới trong tình thế hoàn toàn mấtquyền tự chủ Bằng kinh nghiệm đi xâm lược các nước thuộc địa ở châuPhi, thực dân Pháp đem kinh nghiệm ấy để đồng hóa dân tộc Việt Nam(bằng mọi hình thức) nhằm cắt đứt mọi quan hệ của người Việt Nam vớitruyền thống quá khứ, để họ quên đi nỗi nhục vong quốc nô, an phận vớicuộc sống hiện tại Chính sách “đồng hóa” về văn hóa của Pháp ở ViệtNam đã không thực hiện được như đối với nhiều nước thuộc địa ở châuPhi
Đầu thế kỷ XX, bạo lực quân sự của thực dân Pháp ở Việt Nam đãhoàn thành nhiệm vụ, người Việt Nam đã bị đánh bại Nhưng tuy bị đánhbại song Việt Nam là một dân tộc không cam chịu Có vô số biểu hiện bứcxúc trong đời sống tinh thần Vũ khí theo nghĩa đen đã bị tước bỏ, kể cảviệc thực dân Pháp cho sục sạo để thu nhặt hết các đồ dùng bằng sắt có khảnăng giúp vào việc tái tạo vũ khí Nhưng còn phải tiến hành một cuộcchinh phục tinh thần: phải thống trị về văn hóa Ở cấp độ này thực dânPháp đã tỏ ra không thành công dễ như quân sự Sự đổ vỡ của tư tưởngtrực trị, đồng hóa buộc Pháp phải hướng tới “chính sách hợp tác” Nhưng
“hợp tác” có nghĩa là làm sao vẫn phải bảo đảm sự “hướng dẫn”, phục vụ
ý đồ của chủ nghĩa thực dân Nam Phong tạp chí thay cho Đông Dương tạp
chí đã „lỗi thời” Với tư cách là công cụ văn hóa thực hiện sách lược “lỗ
thoát hơi cần thiết” của Pháp ở Việt Nam đã trở thành nơi tập hợp các nho
sĩ, văn sĩ Việt Nam để ở đó họ hoạt động văn hóa, văn học tùy theo mục
Trang 20đích, khả năng riêng của từng người Ngoài chức năng “công cụ xâm lược, khai hóa” của thực dân Pháp, Nam Phong cũng có chức năng “công cụ không tự giác” mà chính nó không làm sao kiểm soát được Từ chức năng
này làm thay đổi bộ mặt văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX Tạomột không khí sáng tác văn học theo quan điểm thẩm mỹ và lý luận hiệnđại, phong trào nghiên cứu, khảo cứu, dịch thuật đưa nền văn học dân tộc
từ qui mô vùng hội nhập với văn học thế giới theo xu thế hiện đại, mở ra
“một thời đại mới” cho thi ca, văn học
1.2 Sự thay đổi của đội ngũ trí thức Việt Nam khi thực dân Pháp xâm lƣợc.
Chuyển chính sách xâm lược từ “đồng hóa” sang “hợp tác” là cả mộtbài toán mà thực dân Pháp đã tính rất chu đáo “Hợp tác” nhưng làm saovẫn phải bảo đảm sự “hướng dẫn” của chính phủ bảo hộ, Đông Dương tạpchí lúc này đã “lỗi mốt” bởi cách phát ngôn của ông chủ tờ báo quá “hỗnxược” và Nam Phong tạp chí thay thế cho nó để thực hiện vai trò “hướngdẫn” tiếp tục Trước sự thay đổi về chính sách xâm lược của thực dânPháp, giới trí thức Việt Nam, sau thất bại của phong trào Cần Vương rồicủa phong trào Duy Tân, phân hóa rất mạnh mẽ và có tâm lí rất phức tạp.Ngoài số ít các nhà yêu nước giám đối mặt với kẻ thù như Phan Bội Châu,Phan Châu Trinh còn lại đa phần là giới trí thức không giám “trực diện”đấu tranh với kẻ thù Họ chỉ muốn „yêu nước an toàn” bằng hình thức hoạtđộng văn hóa để bóng gió gửi gắm tâm sự hoặc gìn giữ những tài sản tinhthần mà ông cha để lại Đấu tranh bạo lực là điểu mà phần lớn trí thức đềukhông muốn, họ do dự, một mặt muốn giữ gìn sao cho cuộc sống đượcbình yên, mặt khác cũng đau đớn trước tình trạng vong quốc nô của dântộc, tóm lại họ muốn “yêu nước ôn hòa” Trong tình trạng chưa xuất hiệnkhả năng đấu tranh vũ trang, chưa có lực lượng chính trị mới về chất (phảisau 1925), nên mọi “ngọn cờ” đều chỉ nhân danh dân tộc nói chung và mức
độ phải là “ôn hòa”, “mềm dẻo” (lực lượng của giai cấp tư sản lẫn giai cấp
Trang 21vô sản đều chưa có sức mạnh đáng kể) Trong tình hình này Nam Phongtạp chí ra đời thật đúng lúc, nó lại đánh đúng vào tâm trạng phức tạp của
đa số giới trí thức Việt Nam
Khi các nhà văn sĩ tài danh như Nguyễn Bá Học, Nguyễn Văn Tố,Phạm Duy Tốn, Nguyễn Tường Tam, Trần Trọng Kim, Tương Phố, Đỗ ThịĐàm, Đông Hồ Lâm Tấn Phác…đã tập hợp đông đủ nơi Nam Phong tạpchí cũng là lúc lối sống, lối làm việc, nghiên cứu, học tập của phương Tây
đã du nhập vào Việt Nam làm thay đổi hẳn cách làm việc, cách tư duy,cách sinh hoạt ở các đô thị lớn Lối làm việc, nghiên cứu và tư duy Tây Âuthể hiện rõ nét làm thay đổi hẳn tư duy do dự, ngại triết lý, tránh xa lý luậncủa người Việt Nam trước đây Đặc biệt sự đổi thay tư duy của lớp trí thứctân học lẫn cựu học được thể hiện rất rõ
Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, đội ngũ trí thức là lớp nhàNho nguyên hợp, đồng nhất hóa tư tưởng từ trên xuống dưới theo mộtkhuôn mẫu gần như công thức của “nhà Nho hành đạo”, họ chỉ chăm lo rèn
“Tâm, Chí, Đạo”, không có ai có hứng thú đi vào những vấn đề tư tưởngtriết học, thậm chí họ “không có hứng thú tìm hiểu, tiếp nhận” Trong tìnhtrạng tư duy lý luận không phát triển, những vấn đề nhận thức, loogic,phương pháp không được bàn bạc, đội ngũ nhà Nho đa phần hướng thượnggắn bó với cung đình, số ít gắn bó với làng xã thường bị động, họ không có
sự liên kết mà cô độc, không có sức mạnh xã hội Từ đặc điểm ý thức hệ trìtrệ ấy làm cho xã hội Việt Nam thời phong kiến không có trí thức chuyênngành, không có đội ngũ trí thức về triết học, khoa học, kỹ thuật để cáchtân đổi mới đất nước Tóm lại lớp trí thức nhà Nho dưới chế độ xã hộiphong kiến bảo thủ đa phần là thụ động, họ không có nhu cầu “tư duy lôgic”, “tư duy khoa học” khám phá và sáng tạo Đặc tính này dẫn đến tìnhtrạng trì trệ, kém phát triển về mọi mặt trong xã hội
Thực dân Pháp đến xâm lược Việt Nam đã làm thay đổi nếp sinh hoạtnếp suy nghĩ của người Việt Nam theo chiều hướng cả tích cực lẫn tiêu
Trang 22cực Việc “hiện đại hóa”, “chuyên nghiệp hóa” đội ngũ trí thức Việt Nam,
sự phân công lao động nội tại của tầng lớp trí thức đã xảy ra, xuất hiện loạitrí thức mà trước đây chưa từng có, như ký giả, văn sĩ chuyên nghiệp, cácnhà khoa học, nhà kỹ thuật, doanh nhân trí thức như Bạch Thái Bưởi,những nhà tư tưởng cách mạng chuyên nghiệp như Phan Bội Châu, PhanChâu Trinh, thậm chí ngay trong nội bộ giới văn nghệ sĩ cũng có sự phâncông khác trước như: nhà văn, nhà thơ, diễn viên, họa sĩ, nhạc sỹ, trướcđây các yếu tố này thường tồn tại trong một người: nhà nho tri thức Sựthay đổi này làm cho văn đàn Việt Nam thật phong phú và đa dạng về độingũ sáng tác, phong cách sáng tác nghiên cứu, dịch thuật, khảo cứu Lúcnày các văn sĩ nói riêng, giới trí thức nói chung đã tích cực chủ động và cónhu cầu học hỏi, tìm hiểu kể cả những vấn đề về học thuật tư tưởng, nhữngvấn đề mang tính lý thuyết Họ không chỉ quan tâm đến văn học, mà còntập trung nghiên cứu triết học, mỹ học, kinh tế học, sử học Nghĩa là nghiêncứu theo chuyên ngành và định hướng chuyên nghiệp hóa theo chiều sâu
và đặc biệt quan tâm đến lý luận sáng tác cảm thụ văn học hiện đại “phong cách trí thức mới này” cộng với “tâm lý phức tạp” trên kia đều được Nam
Phong tạp chí đáp ứng ở mức độ tương đối nhất, họ có thể “bằng lòng” vớiNam Phong tạp chí trong giai đoạn hiện tại này Sẽ có lúc cả lực lượng tưsản, cả lực lượng vô sản đều “không bằng lòng” với Nam Phong tạp chí,
nhưng đó là điều xảy ra chủ yếu sau 1930 Trong khoảng “tranh tối tranh sáng này” Nam Phong tạp chí là nơi các trí thức tạm thời vừa lòng để “hoạt
động văn hóa, văn học” đồng thời cũng là nơi mà những người sáng lập ra
nó tạm thời “tập hợp” đội ngũ trí thức để thực hiện mục đích “khai thác
văn hóa” của mình Một lớp trí thức như vậy đã tập trung đông đảo trên
Nam Phong tạp chí.
1.3 Công cuộc đổi thay chuyển mình của nền văn học.
Trước khi bị người Pháp xâm lược và đô hộ thì Việt Nam đã là mộtquốc gia có nền văn học phát triển với bản sắc độc đáo gắn với bề dày
Trang 23hàng ngàn năm văn hiến của lịch sử dân tộc.
Văn học viết Việt Nam chính thức ra đời từ thế kỷ X cùng với nền độclập, tự chủ của dân tộc và từ đó trở thành một bộ phận quan trọng, khôngthể thiếu của nền văn hóa dân tộc Trong tiến trình ngót mười thế kỷ xâydựng và phát triển, văn học viết Việt Nam, một mặt chủ động tiếp thu mộtcách có chọn lọc những yếu tố ngoại lai, mặt khác kế thừa những thành quảcủa văn hóa, văn học dân gian dân tộc, đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ,kết tinh trong sáng tác của những tên tuổi lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn
Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Trần TếXương,…
Tuy đã đạt được những thành tựu lớn về nhiều phương diện, nhưngcho đến cuối thế kỷ XIX, nhìn chung văn học viết Việt Nam vẫn như mộtdòng sông nhỏ hiền hòa, êm trôi giữa đôi bờ của vùng đất văn hóa Trungđại phương đông, phong kiến, cổ truyền, chở nặng trong mình những hạtphù sa của tư tưởng văn hóa ấy và vẫn còn quẩn quanh trong vùng châu thổgià cỗi này mà chưa vươn mình ra biển lớn của văn học thế giới; nó vẫnnằm trong quĩ đạo của văn hóa – văn học khu vực Đông Á, mà Trung Hoa
là nền văn hóa – văn học hạt nhân Nói một cách cụ thể, đó vẫn là một nềnvăn học chịu ảnh hưởng và sự chi phối sâu sắc của văn học và văn hóaphương Đông, mà chủ yếu là của Trung Hoa, về nhiều phương diện:
Tư tưởng học thuật, quan niệm văn học, hệ thống thi pháp, thể loại,ngôn ngữ, chữ viết,…Chính sự chi phối và ảnh hưởng ấy mà trên đại thể,văn học Việt Nam thời Trung đại có những đặc điểm nổi bật sau đây:
Về phương diện nội dung tư tưởng, văn học Trung đại Việt Nam chịuảnh hưởng sâu sắc các hệ tư tưởng Phật giáo, Lão giáo, và đặc biệt là Nhogiáo
Yêu nước trong văn học Trung đại Việt Nam luôn gắn liền với tưtưởng trung quân, ở những thời đoạn giai cấp phong kiến có vai trò tích
Trang 24cực xứng đáng đại diện cho bản lĩnh và quyền lợi dân tộc đã đành, đến khichế độ phong kiến suy thoái, giai cấp phong kiến đã trắng trợn bộc lộ sựphản động, quay lưng lại với dân tộc, thì trong sáng tác của các nhà nho, tưtưởng ấy vẫn ngự trị, dù cho các tác giả có giả tưởng chuyển hướng lýtưởng vào một vị minh quân nào đi chăng nữa Thế kỷ XV, Nguyễn Trãi
khăng khăng giữ tấm lòng “Trung lẫn hiếu, mài chẳng khuyết nhuộm chẳng đen” Đến cuối thế kỷ XIX, Nguyễn Đình Chiểu vẫn viết Lục Vân Tiên với tuyên ngôn:
“Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”
(Lục Vân Tiên)
Ngay cả khi triều đình Tự Đức quay lưng lại với dân chúng, nhẫn tâmbán rẻ Nam Kỳ cho thực dân Pháp thì trong sáng tác của nhà thơ được xem
là lá cờ đầu của dòng văn học yêu nước chống thực dân Pháp vào cuối thế
kỷ XIX vẫn thấy xuất hiện những dòng thơ, những câu văn cảm động đếntuyệt vọng về tư tưởng trung quân:
“Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ
ấm đủ đền công đó”(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc).
Hay:
“Bao giờ thánh đế ân soi thấu
Một trận mưa nhuần rửa núi sông”(Xúc cảnh).
Nhân đạo cũng là một nội dung lớn của văn học Trung đại Việt Nam
Đó là tình cảm tự nhiên, thiết tha trân trọng những giá trị nhân sinh, chânthành xúc cảm trước sự vui buồn của con người, căm phẫn những thế lựcgian tà chà đạp quyền lợi nhân dân và tổ quốc Những tình cảm đó tùyhoàn cảnh lịch sử – xã hội và tùy vào từng tác giả mà có sắc thái khác nhau
ở mỗi tác phẩm nhưng, hoặc nhạt hoặc đậm, có chịu ảnh hưởng tư tưởng từ
bi bác ái của Phật giáo hoặc là tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo
Trang 25Về phương diện hình thức, văn học viết Trung đại Việt Nam là mộtnền văn học song ngữ, một bộ phận viết bằng chữ Hán và một bộ phận viếtbằng chữ Nôm Buổi đầu xây dựng nền văn học viết nước nhà, do chưa cóvăn tự riêng nên cha ông ta lâm thời buộc phải vay mượn chữ Hán để sángtác Bộ phận văn học chữ Hán vì vậy ra đời trước Đã vay mượn chữ Hánthì buộc phải vay mượn luôn cả hệ thống kinh nghiệm văn học do các thế
hệ thi văn nhân Trung Hoa đúc rút qua thực tiễn hàng ngàn năm sáng tác,bao gồm từ quan niệm văn học, loại thể, cho đến thủ pháp nghệ thuật vànguồn thi văn liệu,… Tuy vay mượn văn tự và thi pháp Trung Hoa nhưngsuốt trong quá trình sáng tác, mỗi một tác giả đều luôn có ý thức Việt hóasáng tác của mình để tác phẩm là của dân tộc Đến thế kỷ XIII, chữ Nômbắt đầu được sử dụng để sáng tác và dưới thời Trần căn bản chỉ mới ở mức
độ ứng dụng kinh nghiệm đúc rút được từ sáng tác văn thơ chữ Hán vàosáng tác thơ văn chữ Nôm Sau nhiều thế kỷ bền bỉ nỗ lực, đến thế kỷXVIII, XIX các tác giả mới có điều kiện vận dụng một cách trực tiếp vàrộng rãi kinh nghiệm văn học dân gian dân tộc vào sáng tác văn học chữNôm, đưa văn học tiếng Việt phát triển đạt được nhiều thành tựu rực rỡ
Một đặc điểm quan trọng nữa về mặt hình thức của văn học Việt NamTrung đại đó là tính quy phạm khá rõ rệt Tính quy phạm thể hiện trước hết
ở quan điểm nghệ thuật coi trọng mục đích giáo huấn của văn chương, xemvăn chương là công cụ chuyển tải đạo lý, là phương tiện phục vụ cho việc
“sửa sang việc đời” Quan niệm “Văn dĩ tải đạo” (Văn để chở đạo) và
“Thi ngôn chí” (Thơ nói chí) có địa vị thống soái, chi phối quá trình văn
học từ sáng tác đến tiếp nhận Chúng ta dễ dàng nhận thấy quan niệm ấyđược phát biểu công khai qua sáng tác của nhiều tác giả:
“Đao bút phải dùng tài đã vẹn,
Chỉ thư nấy chép việc càng chuyên Vệ Nam mãi mãi ra tay thước,
Trang 26Điện Bắc đà đà yên phận tiên.”
(Nguyễn Trãi) “Học theo ngòi bút chí công,
Trong thơ cho ngụ tấm lòng Xuân Thu.”
(Nguyễn Đình Chiểu) “Chở bao nhiêu đạo thuyền không
khẳm, Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.”
(Nguyễn Đình Chiểu)
Cái gốc của văn chương là đạo lý:
“Văn và đạo tuy có tên khác nhau nhưng nội dung của nó thì bắt nguồn từ đạo” (Nguyễn Văn Siêu).
“Văn của thánh nhân là để chở đạo, văn của văn nhân là để luận đạo Cho nên bàn về văn của thánh nhân – như sự trong sáng, tinh tế của Chu dịch, sự thông thoát chí lý của Thượng thư, sự uyển chuyển trung hậu của Kinh thi, sự cung kính trang nghiêm của Kinh lễ, sự khen chê có cân nhắc của sách Xuân Thu – văn đến năm kinh là tột đỉnh…” (Nguyễn Tư
Giản)
Về quy mô và phạm vi kết tinh, văn học trung đại có phạm vi kết tinh
ở văn vần hơn là văn xuôi; quy mô kết tinh vừa và nhỏ Quy mô nghệthuật này sẽ thiên về bút pháp chấm phá, điểm nhãn, gợi hơn là tả Các tácgiả văn học thời kỳ này thường hướng về cái đẹp trong quá khứ, thiên vềcái đẹp xinh xắn, thanh cao, tao nhã Do vậy, trong sáng tác của mình, họluôn thể hiện kiểu tư duy nghệ thuật giàu khả năng nắm bắt cái bản chất,cái tinh túy, cái thần của sự vật, của tâm trạng con người hơn cái vẻ bềngoài của sự vật
Văn học Việt Nam cho đến đầu thế kỷ XX mới thực sự bước vào thời
kỳ hiện đại hóa để hình thành nên một nền văn học mới Đó là một nền vănhọc phát triển trong xu hướng tiếp cận cùng văn học thế giới với những nét
đặc thù Nói như Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên, đó là “hầu như tân tạo trong một giai đoạn lịch sử
Trang 27mới”, khác hẳn với văn học trung đại cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức thể loại.
Ở phương diện nội dung, nếu như văn học trung đại chịu ảnh hưởng
và chi phối chủ yếu bởi tư tưởng, học thuật Trung Hoa; luân lý, đạo đứcKhổng Mạnh, thì sang thế thế kỷ XX, văn học hiện đại chủ yếu chịu ảnhhưởng của tư tưởng, học thuật phương Tây với những lý thuyết về dân chủ,
về ý thức cá nhân,… Do vậy, tuy vẫn tiếp thu và kế thừa những truyềnthống lớn của văn học dân tộc đó là yêu nước và nhân đạo, nhưng văn họchiện đại đã phát huy lên một bước mới: tinh thần dân chủ
Về nội dung yêu nước, văn học hiện đại không còn bị ràng buộc bởicái vòng kim cô của tư tưởng trung quân như trong văn học trung đại nữa
mà đã thực sự giải phóng với sự biểu hiện phong phú trên tinh thần dânchủ Các tác giả là những nhà cách mạng theo xu hướng tư sản, chẳng hạn
như Phan Bội Châu, ngay từ đầu thế kỷ đã quan niệm: “Dân là dân nước, nước là nước dân” Các tác giả thuộc bộ phận văn học cách mạng vô sản
thì gắn chủ nghĩa yêu nước với lý tưởng xã hội chủ nghĩa Với bộ phận vănhọc hợp pháp, do nhiều lý do khách quan, tinh thần yêu nước được thể hiệnmột cách kín đáo hơn nhưng cũng không kém sâu sắc và cảm động quatình yêu đối với những đường nét, dáng vẻ đáng yêu của con người và cảnhvật của đất nước; cái đẹp của văn hóa dân tộc và đặc biệt là đối với ngônngữ dân tộc Ở khía cạnh này, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh là những lànhững gương mặt tiêu biểu
Tinh thần dân chủ cũng đem đến cho nội dung nhân đạo của văn họchiện đại những biểu hiện mới mẻ Đối tượng chủ yếu của văn học hiện đại
là những con người bình thường trong xã hội Chủ nghĩa nhân đạo trongvăn học hiện đại còn gắn liền với sự thức tỉnh về ý thức cá nhân của ngườicầm bút Do vậy mà trong nhiều tác phẩm văn học thời kỳ này, ta thấy sựthể hiện khá sâu sắc khát vọng sống, sự đề cao tài năng, phẩm giá của mỗicon người; sự đấu tranh không khoan nhượng
Trang 28với luân lý, lễ giáo phong kiến để bảo vệ hạnh phúc cá nhân, đặc biệt là cácvấn đề về tình yêu đôi lứa, hôn nhân, gia đình…
Ở phương diện hình thức thể loại, nếu văn học trung đại chỉ tập trungchủ yếu vào các thể loại văn vần với những hình thức chật hẹp và quyđịnh khắc khe, nghiêm ngặt về niêm luật; văn xuôi có thì cũng là loại vănbiền ngẫu và phương tiện sáng tác là chữ Hán, chữ Nôm, rất khó khăn cho
sự tiếp nhận của công chúng bình dân, thì ở văn học hiện đại, ta thấy có sựphát triển hết sức đa dạng các thể loại Bên cạnh các thể thơ cũ, đã thấyxuất hiện các thể thơ tự do, thơ văn xuôi được sáng tác bằng chữ quốc ngữ.Đặt biệt là sự xuất hiện của các thể loại văn xuôi quốc ngữ như tiểu thuyết,truyện ngắn, phóng sự, bút ký, tùy bút, lý luận phê bình văn học cũng nhưcác thể kịch là dấu hiệu của một nền văn học hiện đại
Tuy nhiên để có một nền văn học hiện đại phát triển trong xu hướngtiếp xúc, hòa nhập với văn học thế giới, mang những nét đặc thù như đã nói
ở trên, văn học Việt Nam đã phải trải qua một quá trình cách tân, hiện đạihóa hết sức lâu dài và phức tạp với nhiều giai đoạn Mà mỗi một giai đoạncách tân là kết quả của biết bao nhiêu tâm huyết, tài năng của các thế hệcầm bút Về đại thể, văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX cho đến Cáchmạng tháng Tám năm 1945, là một nền văn học đang ở trong quá trình hiệnđại hóa, mà thời gian từ năm 1900 đến 1930 là những giai đoạn đầu củaquá trình ấy Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi chủ yếu chỉ tậptrung khái quát tình hình văn học Việt Nam trong ba mươi năm đầu của thế
kỷ XX
Như đã nói ở trên, văn học Việt Nam trong khoảng ba mươi năm đầuthế kỷ XX là nền văn học đang ở trong tiến trình hiện đại hóa Tiến trìnhnày trải qua hai chặng đường chủ yếu:
Chặng đường thứ nhất, diễn ra trong khoảng hai mươi năm đầu thế kỷ
XX Quá trình hiện đại hóa bắt đầu bằng sự hình thành các thể văn xuôiquốc ngữ Chữ quốc ngữ vốn do các giáo sĩ phương Tây sáng tạo
Trang 29ra vào khoảng thế kỷ XVII nhằm phục vụ cho mục đích truyền giáo Saugần ba thế kỷ phát triển, với sự tham gia cải tiến, sáng tạo của của các thế
hệ giáo sỹ phương Tây và trí thức Việt Nam, cho đến cuối thế kỷ XIX, chữquốc ngữ về cơ bản đã hoàn thiện và từ địa hạt tôn giáo, nó chuyển dầnsang lĩnh vực văn hóa, văn học Đầu thế kỷ XX, ý thức được sự thuận tiệncũng như tầm quan trọng của nó trong việc truyền bá tư tưởng văn minh
phương Tây, nâng cao dân trí, chấn hưng đất nước, các sỹ phu trong Duy tân hội và Đông kinh nghĩa thục cũng như một số trí thức Tây học có tâm
huyết như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh v.v…ra sức hô hào, vận độngcho việc truyền bá và học chữ quốc ngữ Nói về tầm quan trọng cũng như
sự tiện lợi của chữ quốc ngữ, thơ Đông kinh nghĩa thục có đoạn viết:
“Trước hết phải học ngay quốc ngữ, Khỏi đôi đường tiếng, chữ khác nhau Chữ ta, ta đã thuộc làu, Nói ra nên tiếng, viết câu nên bài Sẵn cơ sở
để khai tâm trí…”
Năm 1907, cùng với sự vận động, hô hào tích cực của phong trào Duy tân, Nguyễn Văn Vĩnh đã vận động đổi tờ báo chữ Hán Đại Nam Đồng Văn nhật báo thành tờ báo quốc ngữ Đăng Cổ tùng báo với hai tôn chỉ:
truyền bá học thuật phương Tây và cổ động cho chữ quốc ngữ Tiếp theo
Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh và phái Nam Phong cũng tích cực ra sức truyền bá chữ quốc ngữ Năm 1917, trên tạp chí Nam Phong số ra đầu tiên, Phạm Quỳnh đã có hẳn một bài luận thuyết bàn về Văn quốc ngữ.
Chính sự truyền bá rộng rãi chữ quốc ngữ như vậy đã tác động tíchcực đến sự hình thành tầng lớp công chúng văn học mới cũng như sự ra đời
và phát triển nền văn xuôi nước ta
Nhưng điều kiện quan trọng hơn cho sự phát triển của văn xuôi quốcngữ ở giai đoạn này phải kể đến sự xuất hiện và phát triển của báo chí cũngnhư phong trào dịch thuật Từ văn thông tin báo chí và văn dịch thuật màcâu văn xuôi nghệ thuật tiếng Việt ra đời, trưởng thành và phát triển
Trang 30Thực ra mầm mống của văn xuôi nghệ thuật tiếng Việt đã xuất hiện
vào cuối thế kỷ XIX với một số sáng tác như bài ký Chuyến đi thăm Bắc
Kỳ năm Ất Hợi của Trương Vĩnh Ký (1876), truyện Thầy Lazaro Phiền của
Nguyễn Trọng Quản (1887)…Nhưng phải đến đầu thế kỷ XX thì mới cóhẳn một phong trào viết văn xuôi quốc ngữ, đặc biệt là ở miền Nam Năm
1910, Trần Thiện Trung đã cho ra đời cuốn tiểu thuyết Hoàng Tố Anh hàm oan viết theo lối mới khá chững chạc Tuy nhiên những sáng tác văn xuôi
trong giai đoạn này cũng mới chỉ là những thử nghiệm bước đầu chứ chưathực sự có giá trị cao về mặt nghệ thuật và phạm vi phát triển của nó cũngmới chỉ thu hẹp ở một số đô thị ở miền Nam Văn xuôi giai đoạn này chủyếu vẫn tập trung ở mảng dịch thuật
Nhìn một cách tổng quát, sự phát triển của văn học Việt Nam tronggiai đoạn này vẫn gắn với những tên tuổi của những tác giả thuộc phong
trào Duy tân, Đông kinh nghĩa thục như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu,
Nguyễn Thượng Hiền, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can,
Lê Đại…Với tư tưởng canh tân, họ kêu gọi nâng cao dân trí, khai thôngdân khí, hô hào thực nghiệp, bỏ hư văn, học khoa học, phổ biến chữ quốcngữ, mở rộng báo chí…Qua đó, họ đã tạo nên cả một phong trào sáng tácthơ văn tuyên truyền cổ động có nội dung chính trị mới mẻ, mang hơi thở
và khí phách thời đại Tuy nhiên bộ phận văn học này cũng chỉ mới thểhiện sự đổi mới về tư tưởng chính trị, xã hội và học thuật mà chưa có sựđổi mới thực sự về tư tưởng thẩm mỹ
Tóm lại là ở giai đoạn này, văn học đã có sự đổi mới về nội dung tưtưởng Chẳng hạn về ý thức hệ, văn học chủ yếu chịu sự chi phối của ýthức hệ tư sản; về lý tưởng chính trị xã hội, chủ nghĩa yêu nước đã gắn với
lý tưởng cách mạng dân chủ tư sản, khác với văn học trung đại chủ nghĩayêu nước không thể tách rời lý tưởng tôn quân Về mặt nghệ thuật, vănhọc giai đoạn 1900 – 1920 vẫn chưa có những đổi mới đáng kể Các tác giảchỉ dừng lại ở mức độ cách tân nghệ thuật sáng tác của nhà nho
Trang 31trước kia Tiêu biểu nhất là thơ văn yêu nước và cách mạng Còn nhiều tácphẩm thể hiện những vấn đề mới của cách mạng bằng hình thức nghệ thuật
cũ Các tác giả còn ít dùng chữ quốc ngữ để sáng tác, chưa bỏ được lối vănbiền ngẫu, thơ vẫn là loại thể được ưa chuộng, ngôn ngữ vẫn còn mangtính chất cầu kỳ, bóng bẩy
Chặng thứ hai, diễn ra từ khoảng năm 1920 đến năm 1930 Quá trìnhhiện đại hóa đã đạt được nhiều thành tựu Văn học không chỉ đổi mới vềnội dung mà cả nghệ thuật cũng đã khác trước rất nhiều
Văn xuôi nghệ thuật đã phát triển mạnh hơn trước với sự phong phúcủa nhiều thể loại Ở thể loại tiểu thuyết, phải kể đến những gương mặttiêu biểu như Hồ Biểu Chánh ở trong Nam với hàng chục tiểu thuyết dày
dặn; Hoàng Ngọc Phách, Trọng Khiêm ở ngoài Bắc với các tác phẩm Tố Tâm, Kim Anh lệ sử Truyện ngắn ở giai đoạn này cũng đã phát triển với
những tên tuổi tiêu biểu như Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Nhất Linh
Về thể bút ký, có sự góp mặt của những gương mặt tiêu biểu như PhạmQuỳnh, Tương Phố, Đông Hồ… Phần lớn những tác giả kể trên thuộc lớptrí thức Tây học đầu tiên do vậy tác phẩm của họ chịu ảnh hưởng rõ rệt tiểuthuyết, truyện ngắn của Pháp
Trên lĩnh vực thi ca, “cái Tôi” cá nhân đã bắt đầu cựa quậy từ cuối
thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX với những cá tính độc đáo như Hồ XuânHương, Nguyễn Du, Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ, thì đến giai đoạn này
nó càng tự khẳng định mạnh mẽ hơn với Trần Tuấn Khải, đặc biệt là Tản
Đà với hồn thơ phóng túng, tràn đầy tình cảm và cảm xúc Tuy nhiên, thơ
ca giai đoạn này cũng chỉ mới dừng lại ở chỗ khẳng định “cái Tôi” cá nhân
về mặt nội dung cảm xúc và khai thác những thể điệu tự do trong thơ cổ,xét về mặt hình thức thể hiện, mà chưa thực sự cách tân một cách triệt để
Ở giai đoạn này, văn học Việt Nam thấy xuất hiện một loại hình văn
học mới du nhập từ phương Tây, tuy thành tựu còn khiêm tốn nhưng rất
Trang 32đáng chú ý Đó là thể loại kịch nói với những tác phẩm của các tác giả tiêu
biểu như Chén thuốc độc, Tòa án lương tâm của Vũ Đình Long; Bạn và vợ của Nguyễn Hữu Kim; Ông Tây An Nam của Nam Xương…
Tóm lại, trong ba mươi năm đầu thế kỷ XX, tình hình văn học ViệtNam có nhiều biến động sâu sắc Văn học dân tộc đang trong cơn vật vã dữdội của sự sinh thành, sự lột xác để hòa mình vào với văn học hiện đại thếgiới Sự chuyển mình ấy đã đạt được những thành tựu đáng kể cả về nộidung lẫn hình thức, mặc dù nó vẫn chưa thực sự thoát ra khỏi ảnh hưởngcủa văn học cũ Tuy nhiên, để giai đoạn mở đường của văn học Việt Namtrong quá trình hiện đại hóa có được những thành tựu bước đầu như vậy lànhờ sự cống hiến to lớn và hết mình của những trí thức vừa có tâm, lại vừa
có tài như của một bộ phận nhỏ thế hệ các học giả của Nam Phong tạp chí.
Trang 33Chương II.
NAM PHONG TẠP CHÍ CÙNG VỚI SỰ TIẾP NHẬN VĂN HỌC
PHƯƠNG TÂY 2.1 Nam Phong ra đời và tiến triển.
2.1.1 Bối cảnh báo chí Việt Nam trước khi Nam Phong tạp chí ra đời.
Mầm mống báo chí đã có ở nước ta từ lâu, thể hiện dưới nhiều hìnhthức hết sức đa dạng, phong phú Đó là những câu vè lưu truyền trong dân
gian, những lời rao của mõ làng, những cuộc “giảng thập điều” trong trong sinh hoạt làng xã… cho đến những hình thức “thông tin chính thức” của nhà nước phong kiến bằng cách yết bảng văn ở Quảng Văn Đình thời
Lê Thánh Tông hay Quảng Minh Đình thời Nguyễn Gia Long…
Nói về nguồn gốc báo chí, trong bài Nước ta xưa có được tự do ngôn luận không? đăng trên tạp chí Tri Tân, số 206 (04/ 10/ 1945), Ứng Hòe
Nguyễn văn Tố cho biết:
“Khâm định Việt sử (quyển 14, tờ 15a) chép lại rằng: “Nguyên trước, những chiếu, lệnh của nhà vua, lâm thời bộ đem yết bảng, đến năm Tân Hợi (1491), vua Lê Thánh Tông cho dựng một cái đình ở ngoài cửa Đại Hưng (tức cửa Nam thành Thăng Long) để làm nơi niêm yết những phép tắc trị dân, đặt tên là Quảng Văn Đình… Ba chữ “Quảng Văn Đình” nghĩa là một cơ sở để thu nhặt giấy tờ ở các nơi Đến đời Gia Long (1802 – 1819), làm đình ở phường Nam Hưng (tức Cửa Nam bây giờ), trên có đặt tên là Quảng Minh Đình… cũng để dán những huấn lệnh của nhà vua Cạnh đó có hai tòa nhà ngói ở cửa Đông Nam gọi là Hiệp Nghị đường (Nhà để họp bàn), phàm dân gian có việc gì uất ức, cho đến bày tỏ, cho nên các đình, ở mé ngoài miếu thờ Thành Hoàng vừa là nơi để tụ họp khi
tế lễ, lúc hương ẩm, vừa để dán những huấn lệnh của nhà vua, cứ ngày Một và Rằm các huynh thứ trong làng ra đọc
Trang 34những huấn lệnh và giảng nghĩa cho dân gian nghe, thường gọi là giảng thập điều”.
Như vậy cái đình tức là báo chí, có định lệ mồng Một và Rằm tức là nhật báo hoặc tuần báo…Báo chí tức là những tờ huấn lệnh dán ở đình làng tựa như tờ Acta diurna của người La Mã đời xưa”.
Cách cắt nghĩa độc đáo trên của Ứng Hòe cho ta ý niệm về một “hình thức báo chí” trong xã hội Việt Nam cổ truyền Tuy nhiên, theo đúng nghĩa
hiện đại, báo chí Việt Nam chỉ thực sự xuất hiện cùng với sự thiết lập chế
độ thuộc địa của Thực dân Pháp trên đất nước ta
Báo chí ở Việt Nam ra đời đầu tiên và trước hết là nhằm phục vụ chomưu đồ xâm lăng và thống trị của thực dân Pháp về nhiều phương diện,đặc biệt là phương diện chính trị và văn hóa Ngay từ khi chiếm được Nam
Kỳ, vào năm 1861, thực dân Pháp đã cho xuất bản tờ công báo đầu tiên
phục vụ cho công cuộc viễn chính của chúng ở xứ này Đó là tờ Bulletin officiel de l'Expédition de la Cochinchine (Kỷ yếu công vụ cuộc viễn chinh
xứ Nam Kỳ) mà nội dung của nó là những nghị định, công văn, đạo luật,các chỉ thị, các bài diễn văn… phát ra từ soái phủ Nam Kỳ Tờ báo đượclưu hành và sử dụng như một phương tiện thông tin và thống nhất chỉ đạocho cuộc đánh chiếm và cai trị của Pháp ở Nam Kỳ Nó đặt nền móng chocác tờ công báo chính thức về sau này của chính quyền thực dân
Cùng với tiến trình đánh chiếm và áp đặt chế độ cai trị của thực dânPháp lên các vùng đất của Việt Nam, hàng loạt tờ báo, tạp chí bằng tiếng
Pháp của chính quyền thực dân đã nối tiếp nhau ra đời: Le Courrier de Saigon (Tin Sài Gòn) ấn hành số đầu tiên vào ngày 01/ 01/ 1864, đến năm
1879 đổi thành Journal Officiel la Cochinchine (Công báo xứ Nam Kỳ), và cuối cùng, năm 1889, mang tên Journal Officiel de l'Indochine (Công báo Đông Dương); những bản Niên giám (An nuaire) được xuất bản hàng năm,
từ năm 1865; Bulletin Officiel du protectorat de l'Annam et
Trang 35du Tonkin (Kỷ yếu công vụ của nền bảo hộ xứ Trung và Bắc kỳ) ấn hành vào năm 1883, đến năm 1886 đổi thành Moniteur du Protectorat de l'Annam et du Tonkin; L'Avenir du Tonkin (Tương lai xứ Bắc Kỳ - 1884); Bulletin du comité agricole et industriel de la Cochinchine (Kỷ yếu của Ủy ban canh nông và kỹ nghệ xứ Nam Kỳ - 1869 – 1881); Bulletin de la Societé Etudes Indochinoise (Kỷ yếu của Hội nghiên cứu Đông Dương – 1883); Revue Indochinoise (Tạp chí Đông Dương – 1892)…
Ở Nam Kỳ (chủ yếu tập trung ở Sài Gòn) có các tờ báo sau đây:
Independance de Saigon (Sài Gòn độc lập – 1870), L'Ere nouvelle (Nhật tân báo – 1879), Journal de Saigon (Nhật báo Sài Gòn – 1880), Le Mékong (Mê Kông – 1883), Le Saigonais (Người Sài Gòn – 1883), L'Indochine (Đông Dương – 1884), Unité Indochinoise (Đông Dương thống nhất – 1884), La Trompette (Kèn đồng – 1884), L'Extrême Orent (Viễn Đông – 1887), L'Independant (Tự lập – 1888), Le Courier Saigonais (Tin Sài Gòn – 1889), Saigon Respublicain (Sài Gòn cộng hòa – 1888), Petites affiches (Rao vặt – 1888), Le Cochinchinois (Dân Nam Kỳ - 1888), Le progres de Saigon (Sài Gòn tiến bộ - 1889), …
Ở Bắc Kỳ, dòng báo chữ Pháp có phần ít ỏi hơn Cuối thế kỷ
XIX, ngoài tờ báo L'Avernir du Tonkin (Tương lai xứ Bắc Kỳ) còn có các
tờ Le Courier d'Haiphong (Tin tức Hải Phòng - 1886), L'Indépendance Tonkinoise (Xứ Bắc Kỳ tự lập - 1889), L'escho du Tonkin (Tiếng vang Bắc
Kỳ - 1896), Le France d'Asie (Pháp – Á, 1893), Le gazette d'Haiphong
Trang 3628
Trang 37Như đã nói ở trên, báo chí ở Việt Nam ra đời trước hết là nhằm phục
vụ cho mưu đồ xâm lăng và thống trị của thực dân Pháp Sau Hòa ước
1862, về cơ bản thực dân Pháp đã hoàn tất việc xâm chiếm và thiết lập chế
độ cai trị ở ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ Nhận thấy đã đến lúc cần phảitruyền bá học thuật và tư tưởng văn hóa Pháp vào Việt nam, nhất là tạo choviệc đưa chữ Quốc Ngữ vào quĩ đạo xâm lăng văn hóa, đánh bại chữ Nho
và văn hóa phương Đông, đầu năm 1865 Soái phủ Nam Kỳ đã quyết định
cho xuất bản tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở nước ta, tờ Gia Định báo Có thể nói đây là tờ báo mở đầu cho nền báo chí Việt Nam.
Nhận thức được sức mạnh lớn lao của công cụ báo chí trong tiến trìnhxâm lăng, đô hộ và đồng hóa, nhưng đồng thời thực dân Pháp cũng ý thứcmột cách sâu sắc “tác hại” ghê gớm của nó đối với an nguy của nền đô hộcủa chúng ở Việt Nam Vì vậy mà trong suốt hơn 80 năm cai trị, thực dânPháp đã thực hiện một chế độ báo chí hết sức khắt khe và không đồng nhất
ở cả ba kỳ trên đất nước ta Ngay cả ở Nam Kỳ, sau các hiệp ước Harmand(1883) và Patenôtre (1884) đã thực sự trở thành xứ thuộc địa trực trị của
Pháp ở Đông Dương, lẽ ra phải được hưởng những điều khoản của Luật thừa nhận tự do báo chí ngày 29 tháng 7 năm 1881 ( Loi du 29 Juiller
1881, sur la liberté de la presse) của Pháp, nhưng thực tế thì hoàn toànngược lại Về phạm vi điều chỉnh, điều 10, đạo luật nói trên cho phép ápdụng tại chính quốc cũng như tại Algérie và các xứ thuộc địa khác Về đốitượng áp dụng, các điều 5, 6, 7 của đạo luật này quy định: dù báo chí xuấtbản bằng tiếng Pháp hay tiếng bản xứ đều tự do, muốn ra báo không cầnphải có một điều kiện nào ngoài việc viên quản lý phải có quốc tịch Pháp,
đã là thành viên và có đăng ký thủ tục với Sở Biện lý Tuy nhiên sớm nhậnthấy chỗ “sơ hở chết người” này, một mặt, thực dân Pháp vẫn cho phép báochí bằng tiếng Pháp được tự do xuất bản, mặt khác, chúng ban hành sắclệnh ngày 30 tháng 12 năm 1898, buộc tất cả các báo tiếng Việt, chữ Hán
và các tiếng khác phải có giấy
Trang 38phép trước khi xuất bản Tất nhiên là đối với Trung Kỳ và Bắc Kỳ thì việcxuất bản báo chí lại càng phức tạp và gắt gao hơn Và một điều mỉa mai làhầu như đa số các tờ báo tiếng Việt, lúc đầu đều do người Pháp đứng tên:
Gia Định báo (1865) với E Poteau, Đồng Văn nhật báo (1893) với F H Schneider, Nông Cổ Mín Đàm (1901) với Cavanaggio…
Do chính sách báo chí bất bình đẳng cùng với chế độ kiểm duyệt gắt
gao như vậy nên từ năm 1865, kể từ thời điểm Gia Định Báo ra đời, cho
đến đầu thế kỷ XX (năm 1900), thời gian ngót ngét gần nửa thế kỷ nhưng
ở Việt Nam chỉ lác đác dăm bảy tờ báo lớn nhỏ, kể cả viết bằng chữ Hán:
Gia Định báo (1865), Phan Yên báo (1868), Nhựt Trình Nam Kỳ (1883), Thông loại Khóa Trình (1888), Đại Nam Đồng Văn nhật báo (1893)…
trong số này, có những tờ phải sớm đình bản vì có hơi hướng yêu nước như
trường hợp Phan Yên báo chẳng hạn Sang đến đầu thế kỷ XX, do áp lực
của phong trào yêu nước ngày một phát triển, đặc biệt là các phong trào
Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục, Đông Du, cùng với tình hình thế giới có
nhiều biến động, thực dân Pháp có nới lỏng chính sách báo chí đôi chút.Chính điều này đã tạo điều kiện cho nhiều tờ báo ra đời, góp phần vào sựphát triển của báo chí Việt Nam cũng như sự phát triển của chữ quốc ngữ
và văn học Tính từ thời điểm đầu thế kỷ XX đến năm 1917, khi Nam Phong tạp chí ra đời, số lượng các tờ báo bằng tiếng Việt so với giai đoạn
trước đó đã có sự gia tăng đáng kể Chỉ trong 17 năm, số lượng các tờ báo
đã gấp ba lần so với nửa thế kỷ trước đó Với sự ra đời nhanh chóng nhưvậy trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của văn hóa và xã hội nước nhà,
có thể nói báo chí trong thời kỳ này đã đóng vai trò “bà đỡ mát tay” cho sự
sinh thành, phát triển của văn học quốc ngữ và đã góp phần hình thành nên
đời sống văn học hiện đại Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, khi nghiên cứu về văn học giai đoạn 1907 – 1932, đã coi
“vai trò tiên phong của báo chí” là một trong năm “yếu tính” của văn học Thanh Lãng trong Bảng lược đồ văn
Trang 39học Việt Nam cũng đặc biệt nhấn mạnh tới tầm quan trọng của báo chí khi nói đến “văn học thế hệ 1913” và dành hẳn một chương cho Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh với hai tờ Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí, hai nhà văn – nhà báo và hai tờ báo theo ông là tiêu biểu đương thời Bùi Đức Tịnh trong Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và thơ mới, Bằng Giang trong Văn học Quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865
– 1930 cũng cho báo chí là một “bộ môn tiên phong của nền văn học mới”
Tuy nhiên, khảo sát chung các tờ báo ra đời trong giai đoạn từ năm
1900 đến năm 1917, trừ Đông Dương tạp chí và Trung Bắc tân văn, ta thấy
chúng vẫn còn nhiều hạn chế so với báo chí phương Tây cả về ngôn ngữ,nội dung, đề tài, phạm vi phản ánh Hầu hết các báo đều ở dạng sơ
khai, chưa thật đúng với nghĩa một tờ báo hiện đại Sở dĩ có hiện tượngtrên là do sự chi phối của những nguyên nhân mà nhà chí sỹ Huỳnh Thúc
Kháng đã phân tích khá khái quát trên tờ Tiếng Dân do ông làm chủ bút:
- Thiếu tài liệu cho Bộ biên tập làm việc: Tài liệu là yếu tố quan trọng cho bất cứ tờ báo nào Muốn viết bài xã luận hay một bài báo đều cần nhiều tài liệu Riêng tờ Tiếng Dân thì tài liệu thiếu thốn quá nhiều.
- Đường giao thông khó khăn: Muốn được độc giả chú ý, tờ báo cần có tin tức hằng ngày Phương tiện giao thông ở xứ ta còn yếu kém, muốn đi từ Nam ra Bắc, phải tốn 5, 7 ngày, vùng thôn quê, vùng sơn cước lại là nơi khó tới lui Như vậy làm sao thu thập tin tức?
- Nạn mù chữ: Báo sống nhờ độc giả Ở Trung Kỳ, ngoại trừ thành thị, chỉ có 10 phần trăm dân chúng ở thôn quê biết đọc Bởi vậy người ta đọc báo rất ít.
- Sự yếu kém về kỹ nghệ và thương mại: Báo phát triển mạnh khi giới doanh thương chú ý đến nó Giới doanh thương cần quảng cáo hàng hóa trên báo và họ cần giúp đỡ cho tờ báo được sống Ở
xứ ta, thương mại và kỹ nghệ hầu như không có vậy thì tờ báo làm sao
Trang 40đứng vững lâu dài nếu thiếu người chịu đăng quảng cáo.
- Hiện tượng tâm lý: Ở những nước tiên tiến, báo chí được phồn thịnh nhờ tất cả mọi người đọc báo, từ kẻ doanh nghiệp đến người lao động, từ văn sỹ đến chính trị gia Báo chí nhờ đó mà trở thành một lực lượng đáng kể Nhưng ở xứ ta, thấy ít nói đến báo chí và thích đọc báo Không được dư luận công chúng biết đến thì báo khó mà sống dai
được
Nhưng Huỳnh thúc Kháng cũng chỉ mới phân tích đến những nguyênnhân kinh tế, xã hội mà chưa đề cập đến một nguyên nhân hết sức quantrọng, kìm hãm sự phát triển của báo chí trong giai đoạn này đó là chínhsách báo chí hà khắc cùng với một chế độ kiểm duyệt vô cùng gắt gao củathực dân Pháp Tất cả những nguyên nhân trên đã kìm hãm sự phát triểncủa báo chí Việt Nam trong thời kỳ này
Tóm lại, cho đến đầu thế kỷ XX báo chí vẫn là một cái gì đó chưađược biết đến một cách rộng rãi trong đời sống Việt Nam Do ảnh hưởngcủa phong trào yêu nước cùng với nhiệt tình, tâm huyết của những nhà tríthức nặng lòng với dân tộc, báo chí Việt Nam từ sau năm 1900 trở đi đã có
phần khởi sắc nhưng phải đợi đến khi Đông Dương tạp chí (1913) và Trung Bắc tân văn (1915) ra đời thì báo chí Việt Nam mới bước sang một
kỷ nguyên mới Và đến năm 1917, với sự ra đời của Nam Phong tạp chí thì báo chí Việt Nam mới thực sự trưởng thành vượt bậc.
2.1.2 Nam Phong tạp chí.
Trong lịch sử nghề làm báo và xuất bản ở Việt Nam, tạp chí Nam Phong có thể xếp ngay sau Đông Dương tạp chí do Schneider sáng lập
năm 1913 và Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương
Cũng như Đông Dương tạp chí, Nam Phong là tiền phong, tiền bối,
nếu ta không muốn nói là ông tổ dìu dắt văn chương Việt Nam với bướctiến mới, trên một chặng đường dài sau khi đã cắt đứt mối liên quan lệthuộc vào văn chương Trung Quốc