Trong nhữngnăm 2010, Hàn Quốc nhập khẩu lao động đến từ nhiều quốc gia trên thế giới và chủyếu là lao động đến từ khu vực Đông Á và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.Đặc điểm tiếp theo là
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MÃ SỐ: 60310601
Người hướng dẫn khoa học: TS.HÀ MINH THÀNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan những nội dung trình bày trong bản luận văn này là kết quảthu được từ quá trình khảo sát, tìm hiểu và phân tích của riêng em Bản luận văn này
là thành quả của cá nhân em và không sao chép từ bất kì tài liệu nào khác Nếu cóhành vi gian dối trong quá trình viết luận văn, em xin hoàn toàn chịu trách nhiệmtrước hội đồng kỉ luật
Hà Nội, ngày 19 tháng 10 năm 2019
Học viên thực hiện
Nguyễn Thị Ny
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành luận văn này, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từcác thầy cô giáo, gia đình và bạn bè Em xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡquý báu đó
Trước tiên, với lòng kính trọng và tri ân sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn tới TS
Hà Minh Thành – giảng viên của khoa Đông Phương học, trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn Em xin cảm ơn cô đã hướng dẫn tận tình cho em trong quátrình làm luận văn, giúp em có thể hoàn chỉnh hơn các nội dung trình bày trong luậnvăn của mình
Em xin gửi lời cảm ơn tới tập thể cán bộ Phòng Đào tạo và giảng viên khoaĐông phương học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội vì đã tạo mọi điều kiện để giúp em hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn gia đình và bạn bè, những người đã luôngiúp đỡ và động viên em trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Hà Nội, ngày 19 tháng 10 năm 2019
Học viên thực hiện
Nguyễn Thị Ny
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 16
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
5 Phương pháp nghiên cứu 18
6 Cấu trúc của luận văn 20
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG HÀN QUỐC 22
1.1 Một số khái niệm liên quan 22
1.1.1 Khái niệm “thị trường lao động” 22
1.1.2 Khái niệm “người lao động” 23
1.1.3 Khái niệm về visa D-4-1 26
1.2 Đặc điểm của thị trường lao động Hàn Quốc 30
1.2.1 Tính đa dạng 30
1.2.2 Tính hấp dẫn 32
1.2.3 Tính phức tạp 36
1.3 Tiểu kết 40
Chương 2: THỰC TRẠNG NHẬP CẢNH VÀ LÀM VIỆC CỦA LAO ĐỘNG VIỆT NAM LƯU TRÚ DIỆN VISA D-4-1 41
2.1 Thực trạng nhập cảnh 41
2.1.1 Về số lượng nhập cảnh 41
2.1.2 Về hình thức nhập cảnh 47
1
Trang 62.1.3 Thực trạng nhập cảnh qua điều tra bảng hỏi 50
2.2 Thực trạng lao động 51
2.2.1 Về số lượng lao động 51
2.2.2 Về hoạt động lao động 56
2.2.3 Thự trạng lao động qua điều tra bảng hỏi 63
2.2.4 Các vấn đề tồn tại 64
2.3 Tiểu kết 71
Chương 3: GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ QUẢN LÍ LAO ĐỘNG VIỆT NAM LƯU TRÚ DIỆN VISA D-4-1 TẠI THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG HÀN QUỐC 73 3.1 Nguyên nhân lao động Việt Nam diện visa D-4-1 lưu trú và lao động bất hợp pháp tại Hàn Quốc 73
3.2 Giải pháp đề xuất cho vấn đề quản lí lao động Việt Nam lưu trú diện visa D-4-1 tại Hàn Quốc 77
3.3 Tiểu kết 83
PHẦN KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 1 91
PHỤ LỤC 2 95
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Nhóm người lao động phân loại theo hình thức lao động 24
Bảng 1.2: Một số loại visa du học, tu nghiệp tại Hàn Quốc 29
Bảng 1.3: Một số loại visa lao động của Hàn Quốc 30
Bảng 1.4: Một số loại visa khác visa lao động tại Hàn Quốc 31
Bảng 1.5: Kế hoạch sau khi tốt nghiệp của du học sinh tại Hàn Quốc 33
Bảng 1.6: Tiền lương tối thiểu của Hàn Quốc (từ 2004-2018) 34
Bảng 1.7: Tiền lương tối thiểu của Việt Nam (2004 – 2018) 35
Bảng 1.8: Số người nước ngoài lưu trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc (từ 2004-2018).38 Bảng 2.1: Số du học sinh nước ngoài tại Hàn Quốc (2004-2018) 42
Bảng 2.2: Số du học sinh nước ngoài tại Seoul-Incheon-Gyeonggi 42
Bảng 2.3: Số du học sinh Việt Nam tại Hàn Quốc (từ năm 2004 – 2018) 43
Bảng 2.4: Số du học sinh tại Seoul-Incheon-Gyeonggi theo quốc tịch 43
Bảng 2.5: Số du học sinh Việt Nam tại khu vực Seoul-Incheon-Gyeonggi 44
Bảng 2.6: Số du học sinh nước ngoài tại Hàn Quốc theo chương trình học (2010-2018) 44
Bảng 2.7: Số du học sinh Việt Nam theo visa D-4-1 tại Hàn Quốc (2004-2018) 46
Bảng 2.8: Số du học sinh nước ngoài tại Hàn Quốc theo hình thức du học (2006~2016) 48
Bảng 2.9: Số du học sinh nước ngoài theo diện tự túc tại Hàn Quốc 49
Bảng 2.10: Số lao động nước ngoài tại Seoul – Incheon – Gyeonggi (từ tháng 6.2015 đến tháng 12.2018)
Bảng 2.11: Số người lưu trú visa D-4-1 trên toàn quốc và khu vực Gyeonggi-Seoul-Incheon 53
Bảng 2.12: Số người xin việc nước ngoài tại Hàn Quốc theo tư cách lưu trú 54
Bảng 2.13: Phân bố người lao động nước ngoài lưu trú theo visa khác visa lao động tại khu vực Seoul- Incheon- Gyeonggi (năm 2015)
Bảng 2.14: Tư cách người nhận nhượng quyền đăng ký giấy phép hoạt động ngoài tư cách lưu trú 58
3
Trang 8Bảng 2.15: Một số trường ở Hàn Quốc bị hạn chế cấp visa (năm 2018) 67
Biểu đồ 2.1: Số người nước ngoài lưu trú dài hạn tại Hàn Quốc theo visa lao động.52Biểu đồ 2.2: Tỉ trọng người lao động tại Hàn Quốc theo số giờ làm việc một tuần
(năm 2015) 61
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa về kinh tế xã hội, thị trường lao động Hàn Quốc
đã trở thành một trong những thị trường lao động năng động với quy mô nhập khẩulao động lớn Từ những năm 2000, trên thị trường lao động Hàn Quốc đã tồn tạinhiều thành phần người lao động nước ngoài Trong đó, bộ phận người lao độngnước ngoài tại thị trường lao động của quốc gia này có thể khái quát thành nhữngđặc điểm chính như sau Đặc điểm đầu tiên là đa dạng về quốc tịch Trong nhữngnăm 2010, Hàn Quốc nhập khẩu lao động đến từ nhiều quốc gia trên thế giới và chủyếu là lao động đến từ khu vực Đông Á và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.Đặc điểm tiếp theo là đa dạng về tư cách lưu trú của người lao động nước ngoài.Bên cạnh đó là tồn tại những vấn đề phức tạp đối với việc quản lí thị trường laođộng liên quan tới nhóm này Trong đó, đáng chú ý phải phải kể tới vấn đề ngườilao động nước ngoài tham gia các hoạt động lao động một cách bất hợp pháp Vấn
đề lao động bất hợp pháp của người lao động nước ngoài tại Hàn Quốc, trong đó cólao động Việt Nam là vấn đề được chính phủ Hàn Quốc và Việt Nam đặc biệt quantâm
Bên cạnh những đối tượng nhập cảnh vào Hàn Quốc theo visa lao động, thìcòn có những đối tượng nhập cảnh với tư cách khác (không theo diện visa lao động)nhưng được phép tham gia vào các hoạt động lao động trong giới hạn nhất định theoquy định của pháp luật Trong đó, có nhóm nhập cảnh theo các chương trình đào tạonhư du học sinh, tu nghiệp sinh, và đáng chú ý như nhóm nhập cảnh và lưu trú dướidiện visa D-4-1 Visa D-4-1 được hiểu là một loại giấy phép nhập cảnh được cấpphát dành cho những đối tượng nhập cảnh vào Hàn Quốc theo chương trình họctiếng Hàn (hay còn được hiểu là du học sinh theo chương trình học tiếng Hàn)
Cùng với việc du học sinh nước ngoài tại Hàn Quốc đang gia tăng, thì ngàycàng tồn tại nhiều vấn đề liên quan tới nhóm du học sinh người nước ngoài nói
5
Trang 10chung và nhóm du học sinh người Việt Nam nói riêng, đặc biệt là nhóm lao động duhọc sinh lưu trú dưới diện visa D-4-1 tại Hàn Quốc Những vấn đề như: làm việcvới thời gian vượt quá quy định của pháp luật, hay lao động mà không đăng ký cấpphép hoạt động ngoài tư cách lưu trú, bỏ trốn để lao động bất hợp pháp, vấn đề duhọc sinh bị lừa đảo và bị lợi dụng vì tâm lí mong muốn vừa đi học vừa đi làm lànhững vấn đề được các cơ quan chính sách quan tâm và được các phương tiệntruyền thông khai thác đưa tin Những vấn đề này đặt ra bài toán về quản lí cũngnhư bảo vệ lợi ích của cả 2 phía là quốc gia Hàn Quốc và nhóm lao động du họcsinh nước ngoài Đối với Hàn Quốc, việc du học sinh bỏ trốn và lao động bất hợppháp đã và đang gây ra những khó khăn trong quản lí thị trường lao động Đối vớilao động - du học sinh, đó là nguy cơ bị lừa đảo và bóc lột Theo đó, hoạt động laođộng của nhóm du học sinh nói chung và du học sinh Việt Nam lưu trú diện visa D-4-1 tại Hàn Quốc nói riêng đã trở thành vấn đề được quan tâm đối với cả Hàn Quốc
a) Nhóm nghiên cứu về chính sách pháp luật liên quan tới thị trường lao động và người lao động nước ngoài tại Hàn Quốc
Đối với nhóm nghiên cứu về chính sách pháp luật, các nghiên cứu nổi bật chủ yếu bằng tiếng Hàn và có thể nêu ra một số nghiên cứu như sau
Trang 11Tháng 7/2015, nhà nghiên cứu Choi Hong-yeop đến từ trường Đại học
Choseon đã công bố nghiên cứu với chủ đề “Phân tích những tranh luận liên quan
tới người lao động nước ngoài nhập cảnh theo chương trình xuất khẩu lao động – lấy khai báo biến động tuyển dụng làm trọng tâm”( 고고고 고고 고고고가
고고고고고고 고고 고고 고고- 고고고고고고고 고고고고 ) Bài nghiên cứu đi vào phântích những nội dungpháp lí liên quan tới tuyển dụng và sử dụng lao động nước ngoài ở Hàn Quốc, phân tíchnhững vấn đề tranh luận liên quan tới lao động nước ngoài nhập cảnh vào Hàn Quốctheo chế độ xuất khẩu lao động
Giáo sư Choi Chang-gui đến từ Khoa Luật trường Đại học Seoul đã thực hiện
nghiên cứu với đề tài “Tiền lệ xử án quan trọng theo Luật lao động năm 2010”
(2010 고 고고고 고고 고고 ). Bài nghiên cứu của giáo sư Choi Chang-gui dựa trên cở sở phân
tích những tiền lệ về phán xử các vụ việc liên quan tới Luật lao động để đưa ranhững đánh giá về kết quả của những phán quyết đó Theo đó, giúp chỉ ra nhữngkhiếm khuyết về mặt quy định pháp lý khi áp dụng vào giải quyết các tình huốngthực tế
Vào năm 2016, luận văn thạc sĩ của học viên Bùi Thị Bích Ngọc dưới sựhướng dẫn của giáo sư Kim Kwang-soo đến từ trường Đại học Dae-shin đã được
công bố với đề tài “Nghiên cứu về chính sách và nhận thức về vấn đề xin việc và
điều kiện làm việc của người lao động nước ngoài tại Hàn Quốc (trọng tâm là người lao động Việt Nam)” (고고고고 고고고 고고고고 고고고고고 고고고 고고 고고
những người lao động Việt Nam cư trú tại Hàn Quốc, đã đưa ra những kết quảnghiên cứu chính như sau Thứ nhất, trong số lao động Việt Nam tại Hàn Quốc, thì
tỉ lệ nam giới nhiều hơn nữ giới và chủ yếu là những người trẻ tuổi nằm trong độtuổi từ 20 đến 30 tuổi và thời gian lưu trú của họ ở Hàn Quốc thường từ 3-4 năm.Thứ hai, về sinh hoạt, thì họ thường ở trong phòng trọ khép kín hoặc ở kí túc xá.Thứ ba, vấn đề kí kết hợp đồng tại nơi đang làm việc cũng rất đa dạng Tùy từng nơituyển dụng mà điều kiện lao động của người lao động sẽ bị ảnh hưởng, tức sẽ cónhững nơi tuyển dụng thường vi phạm các nội dung trong hợp đồng tuyển dụng như
7
Trang 12các thỏa thuận về tiền lương và thời gian làm việc Thứ tư, người lao động ViệtNam tại Hàn Quốc phải đối mặt với những vấn đề như bị bạo hành, xâm phạm nhânquyền và xâm phạm lợi ích Nghiên cứu này tập trung vào những vấn đề tiêu cựcliên quan tới người lao động Việt Nam tại Hàn Quốc, nhưng chưa có sự phân biệt rõràng từng nhóm đặc thù trong số các đối tượng điều tra Ví dụ như có bao nhiêungười là người lao động hiện đang lưu trú theo visa lao động, có bao nhiêu ngườiđang lưu trú theo visa khác visa lao động nhưng đang tham gia vào các hoạt độnglao động kiếm tiền, có bao nhiêu người lao động đang lưu trú và lao động bất hợppháp Theo đó, nghiên cứu không đi vào thể hiện rõ đặc điểm riêng của từng nhómtrong số những người Việt Nam đang tham gia hoạt động lao động tại Hàn Quốc,thể hiện những khác biệt về quyền lợi, phạm vi hoạt động theo quy định pháp luật
và nguy cơ phải đối mặt với các vấn đề của từng nhóm đó
Vào năm 2018, thạc sĩ Lee Jeong-mi đã đưa ra luận án tiến sĩ với đề tài
“Nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng tới ý đồ lưu trú bất hợp pháp của người lao động nước ngoài(visa E-9) ”(고고고고고고(E-9))고 고고고고고고 고고고고고 고고 고고) Nghiên cứu này đã đưa
ra một số kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới ý định lưu trú và lao độngbất hợp pháp của người lao động nước ngoài tại Hàn Quốc, cụ thể như sau Thứnhất, về yếu tố chính sách, ý thức đám đông có ảnh hưởng ngày càng lớn thì tỉ lệlưu trú bất hợp pháp càng cao, nhưng chính phủ cùng những chính sách được đưa ralại chưa thể đem lại sức ảnh hưởng đáng chú ý Thứ hai, về yếu tố nội dung chínhsách, những quy định xử phạt càng có tính răn đe mạnh mẽ thì tỉ lệ lưu trú bất hợppháp càng thấp, tuy nhiên tính nhất quán trong chính sách đưa ra và xử phạt thực tếcòn chưa đem lại nhiều hiệu quả Thứ ba, về cơ quan thi hành chính sách, thì các cơquan liên quan chưa có những hoạt động đem đến tác động thực sự lớn tới việc nhậnthức và quyết định của người lao động nước ngoài tại Hàn Quốc liên quan đến lưutrú bất hợp pháp Thứ tư, ảnh hưởng của các yếu tố trên đối với ý định lưu trú bấthợp pháp của người lao động nước ngoài thể hiện ở những mức độ khác nhau.Nghiên cứu này được tiến hành chủ yếu dựa trên điều tra và phỏng vấn thực tế đểtriển khai, giúp đưa ra những tài liệu để làm căn cứ đánh giá về tính hiệu
Trang 13quả của chính sách pháp luật hiện hành và định hướng bổ sung nội dung chính sáchliên quan tới vấn đề lao động nước ngoài lưu trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc Tuynhiên, nghiên cứu này cũng lựa chọn đối tượng nghiên cứu tập trung là nhóm laođộng nước ngoài theo visa E-9.
b) Nhóm nghiên cứu về thực trạng và đề xuất giải pháp cho các vấn đề liên quan tới thị trường lao động và người lao động nước ngoài tại Hàn Quốc
Hàng năm, các cơ quan công vụ của Hàn Quốc như Bộ tư pháp, Cục Xuấtnhập cảnh Hàn Quốc, Cục Thống kê Hàn Quốc đều thực hiện nhiều những điều tra
đa dạng liên quan tới nhóm người lao động nước ngoài đang cư trú tại Hàn Quốchoặc nhập cảnh mới Trong đó, có những nhóm nhập cảnh theo visa lao động hoặcnhững nhóm nhập cảnh theo visa khác visa lao động nhưng được phép tham gia vàomột số hoạt động lao động trong phạm vi nhất định theo quy định của pháp luật HànQuốc với những nghĩa vụ liên quan phải thực hiện Đáng chú ý, một số cơ quan như
Bộ giáo dục và Sở giáo dục có những điều tra với những con số thống kê tập trunghơn vào nhóm người nước ngoài nhập cảnh dưới các loại hình visa theo mục đíchchính là học tập, đào tạo nhưng được phép tham gia một số hoạt động lao động, ví
dụ như nhóm visa D-4-1
Bên cạnh các thống kê số liệu thường niên của các cơ quan công vụ ở HànQuốc, thì trong giai đoạn từ những năm 2000 đến 2018, tại Hàn Quốc có nhiềunghiên cứu liên quan tới người lao động nước ngoài và các vấn đề liên quan tớiquản lí thị trường người lao động nước ngoài tại Hàn Quốc
Năm 2002, Viện Nghiên cứu Lao động Hàn Quốc có đưa ra bài nghiên cứuliên quan tới thị trường lao động và người lao động nước ngoài tại Hàn Quốc Ví dụ
như nghiên cứu của tác giả Yu Gil-sang và Lee Gyu-yong với tiêu đề “Thực trạng
tuyển dụng và bài toán chính sách đối với người lao động nước ngoài ” (고고고 고고고고 고고고고 고 고고 고고) Bài nghiên cứu đưa ra những cơ sở lý luận chặt chẽ về thị trường lao
động quốc tế, thị trường lao động Hàn Quốc; thực trạng tuyển dụng đối với lao độngnước ngoài tại Hàn Quốc; các vấn đề tồn tại và đề xuất chính
9
Trang 14sách đối với các vấn đề liên quan tới người lao động nước ngoài ở Hàn Quốc Tuynhiên, nghiên cứu cũng thực hiện trên cái nhìn khái quát về người lao động nướcngoài nói chung mà không đi sâu vào một loại đối tượng người lao động cụ thể vớinhững điểm đặc thù.
Tháng 12 năm 2002, tác giả Jang Jun-oh đã đưa ra nghiên cứu chuyên sâu về
nghiên cứu tương đối đầy đủ về vấn đề lao động nước ngoài bất hợp pháp tại HànQuốc trong giai đoạn chủ yếu từ năm 1997 đến năm 2001 Tác giả đã phản ánh hiệntrạng của lao động nước ngoài bất hợp pháp tại Hàn Quốc thông qua các nguồn sốliệu từ cơ quan thống kê và thông qua điều tra bảng hỏi, phỏng vấn sâu một cáchtrực tiếp Dựa trên những kết quả điều tra đó, những vấn đề liên quan tới lao độngnước ngoài bất hợp pháp đã được khái quát lên Bên cạnh đó, những đề xuất chínhsách để giải quyết các vấn đề đó cũng được thể hiện trong nghiên cứu, thông quaviệc liên hệ và đối chiếu với chính sách nhân lực nước ngoài của các quốc gia nhưĐài Loan, Singapore, Nhật Bản theo các phương diện: nội dung tổng quát của chínhsách quản lí nhân lực nước ngoài và vấn đề còn tồn tại trong hoạch định chính sách.Tuy nhiên, nghiên cứu này được thực hiện với phạm vi nghiên cứu chủ yếu tronggiai đoạn từ năm 1997 đến năm 2001, nên còn thiếu những cập nhật số liệu thống kêmới để phù hợp với hiện trạng thực tế hiện nay Trong phạm vi khảo sát của nghiêncứu này với những số liệu cũ của cuối những năm 90, thì vấn đề lao động quốc tịchViệt Nam lưu trú và lao động bất hợp pháp tại Hàn Quốc cũng chưa thể hiện rõ ràngnhư những năm 2010 Bên cạnh đó, bài nghiên cứu của Jang Jun-oh chủ yếu tậptrung vào nhóm đối tượng điều tra là nhóm lưu trú theo visa lao động, chứ khôngphải nhóm lưu trú theo diện visa khác visa lao động nhưng được phép tham gia vàocác hoạt động lao động trong phạm vi nhất định (ví dụ như visa D-4-1)
Năm 2010, Viện Nghiên cứu Lao động Hàn Quốc đã đưa ra nghiên cứu của tác
giả Geum Jae-ho với tiêu đề “Cấu tạo và đặc điểm của thị trường lao động Hàn
Quốc” (고고 고고고고고 고고고 고고). Bài nghiên cứu tập trung phân tích vào hiện trạng, vấn đề
và tương lai phát triển của thị trường lao động Hàn Quốc Khía cạnh
Trang 15mà bài nghiên cứu tập trung là phân tích tình hình tuyển dụng và thực trạng việclàm trong nước của Hàn Quốc chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2000~2010; thôngqua những chỉ số liên quan tới người lao động như tỉ lệ lao động theo lứa tuổi, giớitính, tỉ lệ thất nghiệp, mức thu nhập để chỉ ra những ưu điểm và nhược điểm củathị trường lao động Hàn Quốc Bên cạnh đó, nhấn mạnh vào tính năng động, linhhoạt và mềm dẻo của thị trường này trong bối cảnh toàn cầu hóa Bài nghiên cứunày lấy đối tượng nghiên cứu là người lao động trên lãnh thổ Hàn Quốc nói chung
và những vấn đề liên quan, chứ không tập trung riêng vào một nhóm người lao độngnước ngoài nào Tuy nhiên, thông qua nghiên cứu này, có thể nắm bắt được một sốđặc điểm của thị trường lao động tại Hàn Quốc để giải thích những yếu tố liên quantới nhóm người lao động nước ngoài tại Hàn Quốc Dù là người lao động nướcngoài hay người lao động của nước sở tại thì cũng cũng đều chịu ảnh hưởng từ cácđặc điểm chung của thị trường lao động của quốc gia đó
Bên cạnh đó, năm 2010, tác giả Lee Gyu-yong lại đưa ra nghiên cứu về “Thực
trạng tuyển dụng người lao động nước ngoài” (고고고 고고고고 고고고고) với những số liệu
được cập nhật mới hơn, đặc biệt là nhấn mạnh phân tích các nội dung liên quan tớituyển dụng người lao động nước ngoài cho các nghề nghiệp 3D và mức lương dànhcho người lao động nước ngoài
Năm 2015, tác giả Yoon Jeong-hye đã công bố nghiên cứu “Hiện trạng và vấn
đề tuyển dụng người nước ngoài lưu trú tại Hàn Quốc ”(고고 고고 고고고고 고고고고 고 고고고).Bài nghiên cứu này đã dựa theo nguồn số liệu của Bộ Tư pháp Hàn Quốc để đưa ranhững số liệu thống kê về số lượng người nước ngoài nhập cảnh và lưu trú tại HànQuốc theo từng loại visa chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015, vớinhững số liệu được cập nhật mới hơn so với những nghiên cứu trước đó Bài viết cónhững tổng kết về hiện trạng hoạt động lao động của người lao động nước ngoài tạiHàn Quốc trên các khía cạnh như độ tuổi và lĩnh vực lao động, tỉ lệ xin việc vàtuyển dụng theo từng loại nghề nghiệp; bên cạnh đó là đưa ra một số vấn đề như tỉtrọng xin việc đang ngày càng tăng cao tại khu vực đô thị của nhóm nhập cảnhkhông theo visa lao động hay visa xin việc, vấn đề chênh lệch tiền lương
11
Trang 16Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng chỉ lấy đối tượng người lao động nước ngoài nóichung tại thị trường lao động Hàn Quốc Mặc dù nghiên cứu có đề cập tới trườnghợp của những lao động lưu trú dưới diện visa khác visa lao động mà là visa học tập,đào tạo; nhưng nhóm visa học tập, đào tạo được tập trung ở đây là nhóm lưu trú theovisa D-2, chứ chưa đề cập nhiều tới nhóm lưu trú theo visa D-4-1.
Bên cạnh đó, có những nghiên cứu về thị trường du học sinh với những liên hệ
về vấn đề du học sinh nước ngoài tham gia vào các hoạt động xin việc và lao độngtại Hàn Quốc, như nghiên cứu của nhóm tác giả Heo Jae-joon, Kim Se-um, No
Yong-jin, Oh Gye-taek, Randall, W.Green, Seo Hwan-joon với tiêu đề “Thị trường
du học sinh: Thực trạng và bài toán chính sách ”(고고고 고고고 고고고 고고고고) được công bố
vào năm 2010 Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung vào nhóm đối tượng du họcsinh theo diện visa D-2 (theo chương trình đại học và cao học), chứ không hướngvào nhóm đối tượng du học sinh học tiếng và lưu trú dưới diện visa D-4-1
Năm 2012, nhóm sinh viên trường Đại học Kinh tế do TS Đỗ Thị Hương
hướng dẫn đã công bố nghiên cứu với đề tài “Xuất khẩu lao động Việt Nam sang
Hàn Quốc, thực trạng và giải pháp” Nghiên cứu phân tích những nội dung cơ bản
bao gồm: đặc điểm thị trường lao động Việt Nam – Hàn Quốc; thực trạng xuất khẩulao động sang Hàn Quốc; định hướng và giải pháp tình trạng xuất khẩu lao độngsang Hàn Quốc Bài nghiên cứu mang một cấu trúc khoa học khi đi từ cơ sở lý luận,tới phân tích thực trạng và giải pháp cho những vấn đề liên quan tới lao động ViệtNam tại Hàn Quốc Tuy nhiên, nội dung bài nghiên cứu hướng tới đối tượng chính
là những lao động Việt Nam đi theo chương trình xuất khẩu lao động EPS, tức chủyếu là diện visa E-9, chứ không đề cập tới thành phần lao động lưu trú dưới diệnvisa D-4-1 với những đặc thù riêng khác với nhóm người lao động theo diện visa E-9
Năm 2019, thạc sĩ Lê Vi đã công bố luận án tiến sĩ với đề tài “Nghiên cứu
thực chứng về lao động du học sinh nước ngoài (trọng tâm là hiện trạng sinh hoạt
Trang 17và lao động của du học sinh Việt Nam” ( 고고고 고고고 고고고 고고 고고고고 : 고고고
trường Đại học Sunggonghoe Nghiên cứu hướng vào phân tích các vấn đề mà các
du học sinh Việt Nam gặp phải trong đời sống sinh hoạt xã hội và quá trình laođộng, đồng thời đưa ra giải pháp Nghiên cứu này được triển khai dựa trên phươngpháp nghiên cứu chính là điều tra phỏng vấn các du học sinh Việt Nam đang cư trútại các khu vực Seoul Luận án đã đưa ra một số kết quả nghiên cứu như sau Thứnhất, về vấn đề khó khăn trong quá trình nhập học Các du học sinh nước ngoài gặpphải nhiều những khó khăn trong quá trình chuẩn bị thủ tục để có thể đi du học, nhưtốn kém về tài chính cho kinh phí du học Thứ hai, trong sinh hoạt xã hội, du họcsinh nước ngoài cũng chịu những phân biệt về mặt đối xử, đãi ngộ phân biệt vềvùng miền, chủng tộc hay sự thiếu sót về mặt ngôn ngữ Thứ ba, có nhiều những du
thường không tuân thủ theo luật lao động Trong quá trình lao động, du học sinhphải làm việc và đối mặt với những nguy cơ như bị quỵt tiền lương, lương thấp, tainạn lao động, bệnh tật, bị ép lao động nhiều giờ, bị bạo hành và bị đe dọa Nghiêncứu này giúp phản ánh một sự thật về vấn đề du học sinh Việt Nam tại Hàn Quốctập trung vào việc lao động kiếm tiền hơn là chuyên tâm vào việc học tập; đồng thờinhìn nhận về sự cần thiết của việc xây dựng một phạm trù trung gian là “du học sinh– người lao động”, và kèm theo đó là sự đòi hỏi về sự hiệu quả và toàn diện hơnnhững yếu tố như chính sách và cơ chế quản lí Tuy nhiên, nghiên cứu này đượctriển khai chủ yếu dựa trên lập trường về lợi ích của du học sinh Việt Nam, chứkhông đánh giá hai chiều về những ảnh hưởng không chỉ đối với bản thân du họcsinh, mà còn có những ảnh hưởng đối với phía quốc gia Việt Nam và Hàn Quốc donhững vấn đề nảy sinh liên quan tới du học sinh nước ngoài nói chung, du học sinhViệt Nam tại Hàn Quốc nói riêng, và đáng chú ý là nhóm du học sinh có xu hướngcao tham gia vào các hoạt động lao động là nhóm lưu trú theo visa D-4-1
13
Trang 18Bên cạnh những nghiên cứu sâu mang tính chất học thuật, còn có những bàiviết và phóng sự đưa tin phản ánh những thông tin liên quan tới lao động Việt Namtheo chương trình xuất khẩu lao động, lao động du học sinh và các vấn đề như lưutrú và lao động bất hợp pháp Những bài viết này thường đưa ra những số liệu cóghi trích nguồn từ nguồn số liệu chính thức của các cơ quan công vụ của Hàn Quốc,hoặc Việt Nam Tuy nhiên, do đặc điểm của bài viết đăng báo nên những bài viếtnày chỉ mang tính chất thông tin ngắn gọn mà thiếu phân tích toàn diện, chuyên sâu.
Vào tháng 1/2018, trong bài viết trên báo Tuổi trẻ với tiêu đề “Du học Hàn
Quốc để kiếm tiền trả nợ, làm giàu?”, bài viết có đưa ra số liệu thống kê về số
lượng du học sinh Việt Nam ở Hàn Quốc (theo nguồn của Bộ tư pháp Hàn Quốc).Bên cạnh đó, có đề cập tới một số quy định của Cục xuất nhập cảnh Hàn Quốc đốivới vấn đề làm thêm của du học sinh nước ngoài Bài viết hướng tới nhóm đốitượng là những du học sinh tìm đến con đường du học do áp lực về kiếm việc làm
và tài chính sau khi tốt nghiệp cấp 3 Bài viết tiếp cận phân tích hoàn cảnh của các
du học sinh và vấn đề lao động kiếm tiền ở Hàn Quốc ở phương diện: thực trạng vànguyên nhân
Trong bài viết được đăng tải vào tháng 3/2018 “Áp lực giảm tỷ lệ lao động
Việt Nam tại Hàn Quốc bỏ trốn” của Nhật Anh trên Báo Nhân dân, bài viết đã dựa
trên những số liệu cụ thể để đưa ra nhận định về tính nghiêm trọng của vấn đề laođộng Việt Nam bỏ trốn ở Hàn Quốc và hiện trạng kết quả còn hạn chế của các biệnpháp và chính sách cho vấn đề này Bài viết tiếp cận các thông tin về biện phápchính sách của Việt Nam và Hàn Quốc để hướng tới giảm tỷ lệ lao động Việt Nam
bỏ trốn ở Hàn Quốc; tuy nhiên mới chỉ dừng ở mức mô tả thông tin chứ không đưa
ra đề xuất mới để hoàn thiện chính sách nhằm thúc đẩy tính hiệu quả Trong đó,Việt Nam càng phải quyết tâm trong việc thực hiện cam kết giảm thiểu lao động bỏtrốn tại thị trường Hàn Quốc để có thể giúp thị trường lao động Hàn Quốc có thể mởcửa rộng rãi hơn đối với Việt Nam trong tương lai
Trang 19c) Nhận xét
Tóm lại, những nghiên cứu trên đây có sự trải đều ở các chủ đề nghiên cứubao gồm nghiên cứu chính sách, phân tích hiện trạng, vấn đề và đề xuất giải phápcho những vấn đề liên quan tới người lao động nước ngoài tại Hàn Quốc
Về phía các nhà nghiên cứu người Hàn Quốc, các nghiên cứu của họ thườngthể hiện lập trường và góc nhìn đa dạng khi lấy trọng tâm nghiên cứu bao gồm cảphía Hàn Quốc và phía người lao động nước ngoài Bên cạnh đó, các nghiên cứu tậptrung và đi theo cả hai hướng nghiên cứu nêu trên Bên cạnh việc nghiên cứu thựctrạng nhập cảnh và hoạt động lao động của người lao động nước ngoài tại Hàn Quốc,thì việc nghiên cứu và phân tích các chính sách hiện hành cũng như đề xuất các giảipháp về thi hành pháp luật liên quan tới quản lí lao động nước ngoài và thị trườnglao động tại Hàn Quốc cũng được chú ý
Về phía các nhà nghiên cứu nước ngoài, khi nghiên cứu về người lao độngnước ngoài tại Hàn Quốc, thì các nghiên cứu có xu hướng lấy trọng tâm phân tích làngười lao động đến từ quốc gia của họ
Với trường hợp các nhà nghiên cứu Việt Nam khi nghiên cứu về thị trường laođộng Hàn Quốc, có nhiều nghiên cứu lấy trọng tâm là người lao động Việt Nam tạiHàn Quốc Các nghiên cứu tập trung theo hướng phản ánh hiện trạng và vấn đề liênquan tới người lao động Việt Nam tại thị trường lao động Hàn Quốc Trong đó, cómột số nguyên cứu chuyên sâu phân tích vấn đề liên quan, nhưng đa số là những bàiviết chỉ dừng ở mức phản ánh hiện trạng, vấn đề; mà không phân tích sâu và đề xuất
về giải pháp cho vấn đề liên quan Tuy nhiên, các nghiên cứu đó thường tập trungvào nhóm người lao động Việt Nam nhập cảnh và lưu trú theo diện visa lao động.Mặc dù có một số nghiên cứu về lao động Việt Nam nhập cảnh và lưu trú theo diệnvisa khác visa lao động như lao động du học sinh, tuy nhiên thường tập trung vàonhóm visa du học D-2 Đặc biệt là chưa có nghiên cứu thực sự tập trung vào nhómnhập cảnh và lưu trú tại Hàn Quốc theo chương trình học tiếng Hàn với visa D-4-1
15
Trang 20Vì vậy, nghiên cứu này sẽ không đi vào phân tích thực trạng của nhóm đốitượng nhập cảnh với mục đích visa lao động như nhóm visa E-9, E-10; mà sẽ hướngvào nhóm đối tượng nhập cảnh với mục đích visa du học nhưng có tỉ lệ lớn đangtham gia vào hoạt động lao động tại Hàn Quốc, trong đó tập trung nhóm đối tượnglao động mang quốc tịch Việt Nam lưu trú diện visa D-4-1 Lao động thuộc nhómnày mặc dù không chiếm số lượng lớn nhất trong số các đối tượng mang quốc tịchViệt Nam tham gia vào hoạt động lao động tại Hàn Quốc, nhưng đây là nhóm đốitượng được đánh giá là gây ra nhiều vấn đề gây khó khăn đối với việc quản lí laođộng tại Hàn Quốc và đặt ra những bài toán về đảm bảo quyền lợi của hai bên làHàn Quốc và bản thân du học sinh Việt Nam, đặc biệt là nhóm lao động du học sinh.Bên cạnh đó là việc gợi ý đề xuất các giải pháp để khắc phục các vấn đề tồn tại phùhợp với đặc thù của nhóm đối tượng này.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu hướng tới mục tiêu chính là: (1) tìm hiểu thực trạng lao động ViệtNam lưu trú diện visa D-4-1 tại Hàn Quốc; (2) gợi ý đề xuất giải pháp cho các vấn
đề liên quan tới quản lí lao động nước ngoài tại thị trường lao động Hàn Quốc
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đó, nghiên cứu sẽ đi vào giải quyết cácnhiệm vụ nghiên cứu sau:
Thứ nhất, phân tích khái quát về thị trường lao động Hàn Quốc: đặc điểm,
chính sách lao động và môi trường lao động của Hàn Quốc đối với người lao độngnước ngoài nói chung; quy định pháp luật lao động đối với đối tượng lưu trú diệnvisa D-4-1
Thứ hai, phân tích thực trạng nhập cảnh và làm việc của lao động Việt Nam
lưu trú diện visa D-4-1 tại Hàn Quốc về quy mô, các vấn đề tồn tại
Thứ ba, phân tích các nguyên nhân dẫn tới các vấn đề tồn tại liên quan tới lao
động Việt Nam lưu trú diện visa D-4-1 tại thị trường lao động Hàn Quốc
Trang 214 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Về đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là nhóm lao động nhập cảnh vào Hàn Quốc mang quốctịch Việt Nam lưu trú theo diện visa D-4-1 (hay nói cách khác là nhóm lao động duhọc sinh Việt Nam theo chương trình học tiếng Hàn tại Hàn Quốc)
Hiện nay, đối với trường hợp của Việt Nam, trong số du học sinh nhập cảnhvào Hàn Quốc, thì nhóm đối tượng du học sinh nhập cảnh theo diện visa D-4-1 lànhóm đối tượng đông đảo và có xu hướng cao về làm thêm ngoài trường học vìnhiều nguyên nhân, trong đó có áp lực chi trả cho khoản chi phí du học Bên cạnh
đó, đặc thù của nhóm này là thời gian tham gia các khóa học tiếng tại trường khôngnhiều, theo đó có điều kiện thời gian để làm các công việc khác
Về phạm vi không gian nghiên cứu:
Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung vào khu vực đô thị lớn của HànQuốc là Seoul, Incheon, Gyeonggi Khu vực đô thị với nhiều trường đại học quy tụ
và có hoạt động kinh tế phát triển chính là nơi hội tụ đủ các điều kiện để nhóm laođộng là du học sinh có thể phát triển về mặt số lượng
고고고 고고 고고) của Sở thống kê Gyeong-in (고고고고고고고) công bố ngày 22/12/2016 thì sốlượng du học sinh nước ngoài trên toàn quốc tăng thêm 63% từ năm 2008 (63.952người) đến 2016 (104.262 người) Trong khi đó, tính riêng ở khu vực đô thịGyeonggi-Incheon-Seoul thì số lượng du học sinh nước ngoài tăng lên 105,3% từnăm 2008 đến năm 2016 (khoảng 59.000 người)
Về phạm vi thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được triển khai với phạm vi thời gian khảo sát là từ năm 2004 đếnnăm 2018 Vào năm 2004, chính phủ Hàn Quốc bắt đầu đưa chế độ tuyển dụng
17
Trang 22người nước ngoài vào áp dụng1 Bên cạnh đó, vào năm 2004, Việt Nam và HànQuốc ký thoả thuận mới về việc đưa lao động Việt Nam sang Hàn Quốc theo Luậtcấp phép lao động (EPS) của Hàn Quốc; bên cạnh đó là việc chấm dứt chính sáchdành cho tu nghiệp sinh Việt Nam tại Hàn Quốc Từ những năm đầu của thế kỉ 21cho đến nay, Hàn Quốc luôn coi trọng nhìn nhận về tầm quan trọng trong vị trí củaViệt Nam đối với vai trò đối tác hợp tác cùng phát triển Điều này đã giúp chonguồn nhân lực nghiên cứu, lao động tri thức và lao động chân tay trao đổi giữa haiquốc gia ngày càng được thúc đẩy mạnh mẽ, kèm theo đó là những hiệp ước vàchính sách liên quan tới việc trao đổi và dịch chuyển nguồn nhân lực giữa hai quốc
Theo đó, kể từ thời điểm năm 2004, sau khi chế độ tuyển dụng người nướcngoài được áp dụng thì thị trường lao động Hàn Quốc có những sự thay đổi về chấtvới thành phần nhân lực người lao động nước ngoài tại Hàn Quốc ngày càng tăng và
đa dạng Cùng với đó là tồn tại nhiều những vấn đề liên quan tới người lao độngnước ngoài, không chỉ gồm những lao động nhập cảnh với visa lao động theochương trình xuất khẩu lao động mà còn bao gồm cả những lao động nhập cảnhtheo visa khác visa lao động nhưng được phép tham gia vào các hoạt động lao độngtrong phạm vi nhất định theo quy định của pháp luật (trong đó có visa D-4-1)
5 Phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu.
Thông qua việc tổng hợp các tài liệu nghiên cứu và bài viết liên quan tới laođộng Việt Nam tại Hàn Quốc và du học sinh Việt Nam tại Hàn Quốc; tổng hợp cácvăn bản Luật của Hàn Quốc liên quan tới lao động nước ngoài nói chung và du họcsinh nói riêng (các văn bản Luật của Bộ tư pháp Hàn Quốc, Cục Xuất nhập cảnhHàn Quốc ), nghiên cứu sẽ xây dựng các cơ sở lý luận và có những đối chiếu so
1 Chế độ tuyển dụng người nước ngoài là chế độ mà người lao động của quốc gia đã ký hiệp định
về xuất khẩu lao động với chính phủ Hàn Quốc có thể xin việc và làm việc một cách hợp pháp tại các doanh nghiệp Hàn Quốc đã được phép tuyển dụng lao động nước ngoài.
2 Viện nghiên cứu kinh tế hiện đại(2017), Cơ hội và thách thức của việc xúc tiến chính sách hướng
Bắc mới (고고고고고 고고고 고고고 고고 고고), Hàn Quốc
Trang 23sánh phù hợp với những tư liệu đã có để phát triển những lập luận riêng Phươngpháp được thực hiện thông qua các thao tác nghiên cứu như sau.
Thứ nhất là thống kê số liệu Nghiên cứu sử dụng các số liệu của Cục thống
kê Hàn Quốc, Bộ tư pháp Hàn Quốc, Cục xuất nhập cảnh Hàn Quốc, Viện quốc gia
về Giáo dục quốc tế của Hàn Quốc để thống kê các con số liên quan tới du họcsinh Việt Nam làm việc tại Hàn Quốc
Thứ hai là phân tích đánh giá Nghiên cứu phân tích thực trạng và nguyên
nhân lao động lưu trú diện visa D-4-1 tại Hàn Quốc; đánh giá về các giải pháp hiệnhành cho các vấn đề tồn tại liên quan tới lao động nước ngoài nói chung và lao độngViệt Nam nói riêng tại thị trường lao động Hàn Quốc, để từ đó rút ra những giảipháp phù hợp với đặc thù của nhóm đối tượng được nghiên cứu
b) Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp điều tra xã hội học được thực hiện thông qua điều tra bảng hỏi.Việc điều tra bảng hỏi được thực hiện với đối tượng điều tra chủ yếu là học sinhmang quốc tịch Việt Nam đang học tập, sinh sống tại khu vực Seoul-Incheon-Gyeonggi, đang hoặc đã có kinh nghiệm lưu trú dưới diện visa D-4-1, trong khoảngthời gian từ ngày 01/09/2018 đến 01/10/2018 Trong đó, 100 phiếu hỏi online trênứng dụng Google Drive được gửi đi thông qua 3 kênh chính là: trung tâm đào tạotiếng Hàn, trung tâm tư vấn – du học Hàn Quốc, hội sinh viên Việt Nam tại trườngđại học của Hàn Quốc Trong số những đối tượng nhận điều tra thì nhóm tuổi nhậpcảnh theo visa D-4-1 chiếm tỉ lệ lớn nhất là từ 20 ~ 25 tuổi (chiếm khoảng 79,2%),xếp sau là nhóm từ 26~29 tuổi (chiếm 18%), nhóm trên 30 tuổi là nhóm chiếm tỉ lệthấp nhất (chiếm khoảng 3%, đây có thể được hiểu là nhóm đã từng có kinh nghiệmlưu trú dưới diện visa D-4-1) Cơ cấu giới tính nam – nữ đảm bảo tỉ lệ nam – nữ duhọc sinh lưu trú tại Hàn Quốc năm 2018 Trong số những người hoàn thành phiếu
3 Theo nguồn: http://kosis.kr/statHtml/statHtml.do?orgId=111&tblId=DT_1B040A14, ngày 01/09/2018
19
Trang 24Điều tra bảng hỏi hướng tới nắm được đặc thù của nhóm lao động Việt Nam
đã hoặc đang lưu trú dưới diện visa D-4-1 tại Hàn Quốc (nhóm lao động du học sinhtheo chương trình học tiếng Hàn), bao gồm 16 câu hỏi với nội dung câu hỏi tậptrung chủ yếu xung quanh các nội dung chính bao gồm:
6 Cấu trúc của luận văn
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG HÀN QUỐC
Nội dung chính của chương 1 là đưa ra những khái niệm liên quan như “thịtrường lao động”, “người lao động”, visa D-4-1 dựa theo các văn bản pháp luật củaHàn Quốc và Việt Nam, cùng một số nghiên cứu của các học giả nước ngoài Bêncạnh đó, đi vào phân tích các đặc điểm của thị trường lao động Hàn Quốc bao gồm:tính đa dạng, tính hấp dẫn và tính phức tạp
Chương 1 đưa ra những nền tảng lí luận để triển khai nội dung của cácchương tiếp theo Cấu trúc của chương bao gồm các phần nội dung như sau:
1.1 Một số khái niệm liên quan
1.2 Đặc điểm của thị trường lao động Hàn Quốc
Trang 25từ các nghiên cứu trước đó, số liệu có được từ điều tra bảng hỏi Cấu trúc củachương bao gồm:
Dựa trên những phân tích về nguyên nhân cùng những đánh giá đối vớinhững quy định liên quan của pháp luật hiện hành, nội dung chương 3 sẽ đưa ranhững gợi ý đề xuất cho vấn đề quản lí lao động lưu trú theo diện visa D-4-1 tạiHàn Quốc Cấu trúc của chương bao gồm:
3.1 Nguyên nhân lao động Việt Nam diện visa D-4-1 lưu trú và lao động bất hợppháp tại Hàn Quốc
3.2 Giải pháp đề xuất cho vấn đề quản lí lao động Việt Nam lưu trú diện visa D-4-1 tại Hàn Quốc
3.3 Tiểu kết
21
Trang 26Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG HÀN QUỐC
1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm “Thị trường lao động”
Theo nghiên cứu của Viện nghiên cứu lập pháp với đề tài “Một số khái niệm
về Lao động và Thị trường lao động”4, tài liệu đã đưa ra một số cách định nghĩa về
“thị trường lao động” Thứ nhất, theo Từ điển Kinh tế học Pengiun, thị trường lao
động là thị trường mà ở đó các yếu tố gồm tiền công, tiền lương và các điều kiện laođộng được xác định trong bối cảnh quan hệ giữa cung và cầu lao động Thông quađịnh nghĩa này, có thể thấy quan hệ tương tác cung - cầu trên thị trường lao động làtiền công, tiền lương và các điều kiện lao động là phương diện được nhấn mạnh
Thứ hai, theo Từ điển kinh tế MIT, thị trường lao động là nơi có sự tác động qua lại
với nhau giữa cung và cầu lao động Thông qua định nghĩa này có thể thấy, giốngnhư bất kì một thị trường nào khác, thì quan hệ cung và cầu của thị trường lao động
cũng được nhấn mạnh và là yếu tố quan trọng Thứ ba là định nghĩa được đưa ra qua Văn kiện Đại hội IX của Đảng, thì thị trường lao động là: “Thị trường mua bán
các dịch vụ của người lao động, về thực chất là mua bán sức lao động, trong mộtphạm vi nhất định Ở nước ta, hàng hóa sức lao động được sử dụng trong các doanhnghiệp tư bản tư nhân, các doanh nghiệp tư bản nhà nước, các doanh nghiệp tiểuchủ, và trong các hộ gia đình neo đơn thuê mướn, người làm dịch vụ trong nhà.Trong các trường hợp đó có người đi thuê, có người làm thuê, có giá cả sức lao
niệm trên về “thị trường lao động”, Viện nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban thường
vụ Quốc hội Việt Nam khóa XIII đã đưa ra định nghĩa về “thị trường lao động” nhưsau: Thị trường lao động (hoặc thị trường sức lao động) là nơi thực hiện các quan hệ
xã hội giữa người bán sức lao động (người lao động làm thuê) và người mua sức lao
4 Nguồn: http://vnclp.gov.vn/ct/cms/Lists/DeTaiNghienCuu/View_Detail.aspx?ItemID=57, ngày cập nhật 21/11/2011
5 Vũ Hữu Ngoạn, Ngô Văn Dụ, Tìm hiểu một số khái niệm trong văn kiện Đại bội IX của Đảng, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2001, tr.165-166.
Trang 27động (người sử dụng sức lao động), thông qua các hình thức thỏa thuận về giá cả(tiền công, tiền lương) và các điều kiện làm việc khác, trên cơ sở một hợp đồng laođộng bằng văn bản, bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thỏa thuận
Như vậy, có thể thấy, thị trường lao động với ý nghĩa là thị trường cung cầu(mua bán) sức lao động, nó mang đặc điểm khác biệt so với các thị trường hàng hóakhác Điểm khác biệt thể hiện ở việc thị trường lao động không chỉ mang ý nghĩa vềmặt kinh tế mà còn mang ý nghĩa về mặt xã hội và chính trị
Về ý nghĩa kinh tế: ý nghĩa kinh tế của thị trường lao động thể hiện ở phươngdiện là việc có được cơ hội sinh sống, tiếp cận với tài nguyên kinh tế, bắt đầu củacác hoạt động sản xuất
Về ý nghĩa xã hội: ý nghĩa xã hội nằm ở việc vị trí và nhiệm vụ của người laođộng được phân bổ, phân chia trên thị trường lao động
Về ý nghĩa chính trị: ý nghĩa chính trị của thị trường này thể hiện qua việc bắtđầu sức mạnh chính trị của người lao động bằng việc phân loại người lao động vàphân chia nhiệm vụ theo từng nghề và ngành trên thị trường lao động
Với việc đồng thời mang cả ý nghĩa kinh tế, chính trị và xã hội, cấu tạo của thịtrường lao động và phương thức vận hành của nó ở mỗi quốc gia được hình thànhdựa theo điều kiện kết hợp của ba phương diện trên Hiện trạng về lưu trú, hoạtđộng lao động và vấn đề tồn tại của người lao động nước ngoài tại Hàn Quốc cũnggắn liền với ba yếu tố này
1.1.2 Khái niệm “người lao động”
Theo Bộ Luật lao động của Việt Nam năm 2012: Người lao động là người từ
đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả
6 Nguồn: http://vnclp.gov.vn/ct/cms/Lists/DeTaiNghienCuu/View_Detail.aspx?ItemID=57, ngày cập nhật 21/11/2011
23
Trang 28lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động Theo đó, có thểphân loại người lao động theo những nhóm sau:
Nhóm một là theo tính phù hợp với quy định của pháp luật, bao gồm: lao độnghợp pháp và lao động bất hợp pháp
Nhóm hai là theo độ tuổi, bao gồm: lao động trẻ em và lao động trưởng thành
Tuy nhiên, bài nghiên cứu lựa chọn cách định nghĩa theo Luật tiêu chuẩn lao
động của Hàn Quốc: Người lao động là người cung cấp sức lao động với mục đích
Việc lựa chọn định nghĩa về “người lao động” theo Luật tiêu chuẩn lao động
của Hàn Quốc để tiếp cận nghiên cứu sẽ giúp định hình một cách đa dạng và rộnghơn về những đối tượng có thể được xếp vào nhóm “người lao động” Tiếp cận theođịnh nghĩa này, có nghĩa là chưa đề cập tới những nội dung cụ thể về độ tuổi laođộng và tính hợp pháp về hợp đồng cùng nội dung các hoạt động lao động, thì tất cảnhững đối tượng cung cấp sức lao động với mục đích tiền lương đều được nhìnnhận là “người lao động”
Người lao động có thể được phân chia một cách đa dạng theo hình thức laođộng Trong đó, hình thức lao động được quy định dựa trên các yếu tố bao gồm: chế
độ hưởng lương, môi trường làm việc và thời gian làm việc Theo cách phân loại của
giáo sư Park Joon-sung trong nghiên cứu “Hình thức lao động của người lao động”
(고고고고 고고고고) năm 2007, người lao động có thể được phân chia như sau.
Lao động
hưởng lương
Có thể phân chia thành người lao động theo ngày, theo giờ; hoặcngười lao động nhận lương theo bất cứ hình thái nào như lươngcứng, lương bổng, lương ngày cho hoạt động lao động của mình
7 Theo nguồn: http://www.law.go.kr/사사/사사사사사, ngày 01/11/2019
8 Theo nguồn: http://web.sungshin.ac.kr/~parkcom/class/labor1002/chap4/4-3, ngày 04/05/2019
Trang 29(1) Lao động Trong hệ thống tuyển dụng lâu dài, ký kết hợp đồng tuyển dụng
Lao động phái cử, lao động sản xuất-tiêu dùng, lao động tuyểndụng đặc biệt, lao động trong gia đình (lao động tại gia), lao độngngày (ngắn hạn)
các đơn vị dựa trên cam kết trên hợp đồng lao động
chỉ huy của đơn vị đó để làm việc tại các đơn vị khác
tự mình quyết định về phương thức và thời gian của hợp đồng laođộng, và thông qua những hoạt động như tuyển dụng cá nhân,
25
Trang 30Nguồn: Park Joon-sung (2007), Hình thức lao động của người lao động (고고고고 고고고고)
1.1.3 Khái niệm về visa D-4-1
Đề cập tới mục đích và quyền hạn của các loại visa lưu trú trên lãnh thổ HànQuốc, thông qua các quy định về pháp luật liên quan trên Cổng thông tin điện tử của
ban cấp visa cho du học sinh nước ngoài tại Hàn Quốc, có thể nắm được các thôngtin pháp luật quy định đối với việc ban cấp visa cho các đối tượng du học sinh baogồm: khái niệm, loại visa và thủ tục cấp phát
a) Khái niệm visa và phân loại visa
“Visa” là từ dùng để chỉ giấy tờ thị thực, một loại giấy tờ cấp phép cho mộtcông dân của quốc gia nào đó nhập cảnh vào quốc gia khác dưới tư cách lưu trú nhấtđịnh trong một khoảng thời gian nhất định và khả năng tham gia những hoạt độngnhất định trong phạm vi quyền hạn tương ứng với tư cách lưu trú được cấp phát
Tư cách lưu trú của người nước ngoài đang lưu trú trên lãnh thổ Hàn Quốc cóthể được chia ra làm 8 loại lớn Diện A là visa liên quan tới ngoại giao, công vụ và
9 Theo cổng thông tin điện tử của Hàn Quốc về Thông tin pháp luật đời sống (고고고고 고고고고고고) là
http://easylaw.go.kr, ngày cập nhật 15/6/2019
Trang 31hợp tác Diện B là miễn trừ thị thực Diện C gồm visa dành cho các đối tượng nhưphóng viên tạm trú, thương mại ngắn hạn, du lịch ngắn hạn, lao động ngắn hạn.Diện D gồm các loại visa văn hóa, nghệ thuật, du học, đào tạo sản xuất, đào tạo tổnghợp, phóng viên thường trú, hợp tác đầu tư, hợp tác thương mại, thử việc Diện Egồm các loại visa giáo sư, giảng viên ngoại ngữ, nghiên cứu, hỗ trợ kĩ thuật, chuyêngia, nghệ thuật giải trí, kỹ sư chuyên ngành, lao động phổ thông, lao động trên tàuthuyền Diện F gồm các loại visa thăm viếng người thân, định cư, diện bảo lãnh,Hàn kiều, định cư vĩnh viễn Diện H là visa lao động ngày lễ Diện G gồm các loại
b) Khái niệm visa D-4-1 và visa học tập – đào tạo
Visa D-4-1 là một loại visa học tập – đào tạo được cấp cho đối tượng nhậpcảnh vào Hàn Quốc theo khóa học tiếng Hàn ngắn hạn hoặc khóa học ngôn ngữ đểchuẩn bị trước về kĩ năng tiếng Hàn cho học viên trước khi chuyển sang học chuyênngành hệ đại học, cao học tại các trường đại học của Hàn Quốc Khi học viên theo
cấp 3) thì có thể chuyển sang học chuyên ngành ở đại học Tuy nhiên, nếu trongvòng 2 năm lưu trú tại Hàn Quốc (tính gộp thời gian gia hạn visa) theo diện visa D-4-1 ở Hàn Quốc mà học viên vẫn chưa đạt chứng chỉ Topik theo yêu cầu nhập họcđầu vào của trường Đại học thì phải xuất cảnh về nước
Những diện visa được cấp cho các đối tượng tham gia vào các hoạt động họctập và được đào tạo ở Hàn Quốc bao gồm visa D-2, D-3 và D-4 Visa D-2 là visađược cấp cho những đối tượng học tập theo chương trình đào tạo chuyên ngành tạicác cơ quan giáo dục, được đào tạo ở các cơ quan học thuật ví dụ như Đại học, Caohọc
10 Topik là chứng chỉ quốc tế công nhận năng lực tiếng Hàn, chia ra làm các cấp độ từ cấp 1 đến cấp 6 Trong đó, chứng chỉ Topik cấp 1~2 tương ứng với trình độ sơ cấp, cấp 3~4 tương ứng trình độ trung cấp, cấp 5~6 tương ứng trình độ cao cấp.
27
Trang 32Trên thực tế, nếu theo mô tả được phía Hàn Quốc quy định để thể hiện trên
nhập cảnh dưới diện visa D-4-1, hầu hết thuộc lứa tuổi 20 và nhập cảnh theochương trình học tiếng Hàn và đều lựa chọn địa điểm học tập là tại các trường đạihọc của Hàn Quốc Đặc biệt, việc nhập cảnh theo chương trình học tiếng Hàn dướidiện visa D-4-1 được xem là giai đoạn đầu của việc chuẩn bị về kĩ năng ngôn ngữ
để có thể đạt tiêu chuẩn về điều kiện tiếng đáp ứng yêu cầu nhập học đầu vào tại cáctrường đại học, và sau đó mới có thể chuyển tiếp sang visa du học D-2 Do đó, vớitrường hợp của Việt Nam, thì nhóm nhập cảnh theo visa D-4-1 có những đặc điểmgần gũi với nhóm du học sinh theo visa D-2, và khác biệt với nhóm tu nghiệp sinh
Quốc được hiểu là những người tu nghiệp tại các công ty, doanh nghiệp tại HànQuốc để học tập kĩ năng nào đó và có kèm theo hợp đồng lao động, tương ứng vớidiện visa D-3 Theo nguồn đăng tải trên vnexpress.net vào ngày 4/12/2006, ôngPhan Văn Minh, Giám đốc Trung tâm lao động ngoài nước, Bộ Lao động Thươngbinh và Xã hội, cho biết, trước khi Chương trình tu nghiệp sinh của Việt Nam sangHàn Quốc bị chấm dứt vào năm 2007, thì mỗi năm, thông qua 8 doanh nghiệp đượcphép đưa lao động sang Hàn Quốc (còn được gọi là quốc gia phái cử), Việt Namđưa 2.500-3.000 tu nghiệp sinh sang Hàn Quốc với thời hạn hợp đồng 2-3 năm Do
đó, đặc thù của nhóm “tu nghiệp sinh” tại Hàn Quốc theo định nghĩa của Việt Namhoàn toàn khác biệt với nhóm visa D-4-1 theo chương trình du học sinh học tiếngHàn Theo quan điểm của nghiên cứu này, nhóm nhập cảnh vào Hàn Quốc theo visaD-4-1 mang quốc tịch Việt Nam được hiểu là nhóm du học sinh theo chương trìnhhọc tiếng (tiếng Hàn) Đối với các cơ quan thống kê khi thực hiện các cuộc khảo sát
về hiện trạng du học sinh nước ngoài tại Hàn Quốc, hay theo góc độ nhìn nhận củaphía các cơ quan và trường đại học của Hàn Quốc, thì diện visa D-
Trang 334-1 theo chương trình học tiếng Hàn (사사사사) tại các trường đại học thường được đưavào hạng mục thống kê chung với visa du học D-2 và được hiểu là diện du học sinhtheo chương trình học tiếng Hàn.
Đối với visa D-4, thì có thể phân chia ra thành visa D-4-1 và D-4-6, D-4-7.Trong đó có thể hiểu visa D-4-1 là visa – thị thực cho phép đối tượng du học sinhtham gia các khóa học tiếng Hàn tại Hàn Quốc, visa D-4-7 dành cho nhóm du họcsinh theo học tiếng Anh Còn visa D-4-6 là visa du học nghề
Bảng 1.2: Một số loại visa du học, tu nghiệp tại Hàn Quốc
Trang 3429
Trang 35hạn hoạt động của các đối tượng thuộc diện visa này tương đối đa dạng (mục đíchnhập cảnh chính là học tập, tuy nhiên được phép tham gia vào các hoạt động laođộng trong giới hạn nhất định theo quy định của pháp luật); 3) mục đích nhập cảnh
và nguyện vọng của nhóm đối tượng này dễ bị tác động và thay đổi
1.2 Đặc điểm của thị trường lao động Hàn Quốc
Thị trường lao động Hàn Quốc đang là đích đến của nhiều quốc gia thực hiệnchương trình xuất khẩu lao động Theo đó, cùng với những chuyển động của hoạtđộng trên thị trường kinh tế và những động thái của việc nhập khẩu lao động, nhữngđặc điểm của thị trường lao động Hàn Quốc được hình thành Trong đó, có thể khái
quát thành một số đặc điểm chính như sau: tính đa dạng, tính hấp dẫn, tính phức
tạp.
Thị trường lao động được tạo bởi những bộ phận chính gồm: cung, cầu về laođộng; giá cả lao động (hay tiền lương) được thỏa thuận giữa hai bên cung cấp và sử
dụng sức lao động Tính đa dạng, tính hấp dẫn và tính phức tạp của thị trường lao
động Hàn Quốc cũng được phân tích theo các bộ phận chính cấu thành của thịtrường lao động
1.2.1 Tính đa dạng
Tính đa dạng của thị trường lao động Hàn Quốc được phân tích dựa trên các
phương diện sau
Về cung cầu sức lao động (hay người lao động):
Tính đa dạng được thể hiện ở các nội dung như: (1) công việc, nghề nghiệp;
cảnh của Hàn Quốc 11 thi hành từ ngày 12/12/2017, có thể đưa ra cách phân chia
11 Nguồn:
http://www.law.go.kr/LSW/LsiJoLinkP.do?docType=JO&lsNm=001000000&languageType=KO
¶s=1#, ngày 12/12/2017
30
Trang 36visa lao động dựa vào nội dung công việc và nghề nghiệp của người lao động nướcngoài tại Hàn Quốc.
Bảng 1.3: Một số loại visa lao động của Hàn Quốc
Tuy nhiên, theo định nghĩa được nêu ra trong Luật tiêu chuẩn lao động của
Hàn Quốc, thì người lao động là những người cung cấp sức lao động với mục đíchtiền lương Theo cách định nghĩa đó, ngoài các đối tượng lao động lưu trú theonhững diện visa như bảng trên, người lao động có thể bao gồm thêm các đối tượnglưu trú dưới những dạng visa khác visa lao động nhưng có thể tham gia vào các hoạtđộng lao động nếu được cấp phép (tham khảo bảng 1.4), trong đó có đối tượngngười lao động lưu trú theo diện visa D-4-1
Bảng 1.4: Một số loại visa khác visa lao động tại Hàn Quốc
Trang 3731
Trang 38Visa Hàn Kiều+ visa F-4 cho người được sinh ra ở Hàn Quốc (cho dù không có bố
3 F-4
mẹ mang quốc tịch Hàn Quốc)
Visa kết hôn
(Người lưu trú theo diện visa kết hôn mặc dù không thuộc visa xin
phép của pháp luật Theo đó, có thể xem nhóm đối tượng lưu trú diện visa kết hôn là nhóm đóng góp vào lực lượng lao động.)
6 D-4-1 Du học sinh chương trình học tiếng Hàn
7 D-4-6 Du học sinh chương trình học nghề
Về phía người sử dụng lao động (cầu lao động):
Tính đa dạng được hiểu ở là những nhóm đặc thù của các nhà tuyển dụng laođộng Theo một số nghiên cứu, ở Hàn Quốc, trong nhóm các nhà tuyển dụng laođộng nước ngoài đến từ các quốc gia đang phát triển, thì nhóm nhà tuyển dụng laođộng cho các ngành 3D chiếm tỷ trọng lớn Tuy nhiên, ở Hàn Quốc, nội dung côngviệc mà các bên sử dụng lao động ở Hàn Quốc yêu cầu ở người lao động nước ngoài
đa dạng hơn rất nhiều Ví dụ với nhóm du học sinh Việt Nam, qua các trang cộngđồng của du học sinh Việt Nam tại Hàn Quốc, có thể nắm bắt được những bài đăngtuyển dụng các công việc với đủ mọi lĩnh vực và ngành nghề như: phiên dịch, bồibàn phục vụ nhà hàng, bán hàng, làm nông nghiệp
1.2.2 Tính hấp dẫn
Tính hấp dẫn của thị trường lao động Hàn Quốc được phân tích dựa trên tương
quan so sánh với thị trường lao động Việt Nam Trong đó, bao gồm các yếu tố về
Trang 39điều kiện lao động, chế độ tiền lương trong mối quan hệ so sánh với mức lương vàmôi trường làm việc ở Việt Nam.
Những phương diện được đánh giá để tạo nên sức hấp dẫn của thị trường laođộng ở một quốc gia nào đó chính là các điều kiện lao động bao gồm: mực độ hàilòng của người lao động về lương, thời gian làm việc, khối lượng công việc, môitrường nơi làm việc và quy tắc nơi làm việc Theo nghiên cứu của Jang Jun-oh đến
từ Viện nghiên cứu chính sách hình sự Hàn Quốc vào năm 2002, có thể thấy ngay từđầu những năm 2000, chỉ số hài lòng về các yếu tố như tiền lương và môi trườnglàm việc hay quy định làm việc là tương đối tốt Đặc biệt, đặt trong mối tương quanvới mức lương và môi trường làm việc của Việt Nam, thì điều kiện làm việc tại HànQuốc có một sức hấp dẫn tương đối lớn Trong những năm gần đây (sau năm 2002),mức độ hài lòng của người lao động Việt Nam đối với thị trường lao động HànQuốc có những sự thay đổi nhất định Tuy nhiên, nhìn chung, sự hài lòng của ngườilao động Việt Nam tại Hàn Quốc đối với thị trường lao động của quốc gia này vấn
có thể ghi nhận ở mức cao hơn so với thị trường lao động trong nước
Thị trường Hàn Quốc có sức hấp dẫn đối với việc lựa chọn nơi lưu trú và làmviệc của du học sinh Theo kết quả điều tra của Cục Thống kê Hàn Quốc về kế hoạchcủa du học sinh sau khi tốt nghiệp trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016, có thểthấy rằng tỉ lệ du học sinh muốn ở lại Hàn Quốc nhiều hơn so với tỉ lệ du học sinh sẽxuất cảnh khỏi Hàn Quốc
Trang 40Xuất cảnh khỏi Hàn Quốc 45% 44% 46%
Nguồn: Cục thống kê Hàn Quốc (2017), “Kế hoạch sau tốt nghiệp của du học
sinh” (고고고 고고 고 고고)
Hiện nay, Hàn Quốc là điểm đến của nhiều lao động và du học sinh nước
ngoài Trong đó, đặc biệt phải kể tới những lao động và du học sinh đến từ các quốc
gia có tương quan chênh lệch về mức thu nhập giữa Hàn Quốc và quốc gia đó Yếu
tố chênh lệch về giá trị thu nhập là một trong những yếu tố tạo lên sức hút của Hàn
Quốc nói chung và thị trường lao động của quốc gia này nói riêng so với nhiều quốc
gia khác trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á Theo thống kê của Quỹ tiền tệ
quốc tế (IMF), thì mức GDP bình quân của Hàn Quốc trong năm 2018 đạt 32.774
USD, và Hàn Quốc được ghi nhận là quốc gia nằm trong nhóm nước có mức thu
lương dành cho người lao động giữa Hàn Quốc và Việt Nam