Thực tế các nước trênthế giới và Việt Nam trong thời gian gần đây đã cho thấy tâm lý học đườngđóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề nói trên.Ngoài công việ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-ĐÀO LAN HƯƠNG
NHU CẦU ĐƯỢC TRỢ GIÚP TÂM
LÍ HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH
THPT BẮC NINH
Chuyờn ngành: TÂM LÍ HỌC
Mã số : 60 31 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ MINH HẰNG
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Đối tượng nghiên cứu 7
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Khách thể nghiên cứu 8
6 Giả thuyết nghiên cứu 8
7 Phương pháp nghiên cứu 9
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 10
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 10
1.1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 10
1.1.1.Lịch sử nghiên cứu TLHĐ tại nước ngoài 10
1.1.2.Lịch sử nghiên cứu TLHĐ tại Việt Nam 13
1.2.Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu 16
1.2.1.Khái niệm “Nhu cầu” 16
1.2.1.1.Các lý thuyết nghiên cứu nhu cầu 16
1.2.1.2.Định nghĩa “Nhu cầu” 22
1.2.1.3.Đặc điểm của nhu cầu 24
1.2.1.4.Mối quan hệ giữa nhu cầu và nhận thức 26
1.2.2 Khái niệm “Tâm lý học đường” 26
1.2.3 Khái niệm “ Trợ giúp tâm lý học đường” 27
1.2.3.1 Định nghĩa “Trợ giúp tâm lý học đường” 27
1.2.3.2 Nội dung của hoạt dộng trợ giúp TLHĐ 27
1.2.3.3.Yêu cầu đối với nhà TLHĐ 29
1.2.4 Khái niệm “Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường” 30
1.2.5 Khái niệm “Học sinh THPT” và đặc điểm tâm lý học sinh THPT
1
Trang 31.2.5.1 Khái niệm “học sinh THPT” 31
1.2.5.2 Đặc điểm tâm lý học sinh THPT 31
1.2.5.3 Những khó khăn tâm lý học sinh THPT thường gặp phải 34
1.3 Các tiêu chí để đánh giá nhu cầu được trợ giúp TLHĐ của học sinh THPT 36
Chương 2: Tổ chức nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 38
2.1 Tổ chức nghiên cứu 38
2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 38
2.1.2 Đặc điểm khách thể nghiên cứu 40
2.1.3 Quá trình nghiên cứu và những khó khăn thuận lợi trong quá trình nghiên cứu 41
2.2.Phương pháp nghiên cứu 42
2.2.1.Phương pháp nghiên cứu tài liệu 42
2.2.2.Phương pháp quan sát 43
2.2.3.Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 44
2.2.4.Phương pháp phỏng vấn sâu 45
2.2.5.Phương pháp thống kê toán học 47
Chương 3: Kết quả nghiên cứu 48
3.1.Thực trạng những KKTL mà học sinh THPT Bắc Ninh gặp phải trong cuộc sống 48
3.1.1.Thực trạng những KKTL của học sinh 48
3.1.1.1 Nhóm khó khăn trong học tập 50
3.1.1.2 Nhóm khó khăn trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai 53
3.1.1.3 Nhóm khó khăn từ phía bản thân 57
3.1.1.4 Nhóm khó khăn trong các mối quan hệ 60
3.1.2.Các phương thức giải quyết KKTL của học sinh 71
3.2.Nhận thức của học sinh Bắc Ninh về hoạt động trợ giúp TLHĐ 75 3.3.Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh THPT Bắc Ninh 82
Trang 43.3.1 Nhu cầu của khách thể đối với các hoạt động trợ giúp TLHĐ
nói chung 83
3.3.2.Nhu cầu được trợ giúp tâm lý của học sinh đã sử dụng dịch vụ 87
3.3.3.Xu hướng tìm đến sự trợ giúp TLHĐ trong tương lai 89
3.3.4.Nhu cầu của học sinh về nội dung trợ giúp TLHĐ 94
3.3.5.Nhu cầu của học sinh về hình thức trợ giúp TLHĐ 105
3.3.6.Nhu cầu của học sinh về thời gian địa điểm trợ giúp tâm lý 114
3.3.7.Mong đợi của học sinh đối với các chuyên gia tâm lý 116
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 120
Danh mục tài liệu tham khảo 123
Phiếu điều tra 127
Câu hỏi phỏng vấn sâu 135
Phụ lục 137
3
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh biến đổi xã hội hơn hai thập kỷ qua cùng với cuộckhủng hoảng kinh tế toàn cầu từ năm 2008 đến nay nhà trường và gia đìnhViệt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức Từ các vấn đề như rốinhiễu cảm xúc (lo âu, trầm cảm, tức giận…) đến rối nhiễu hành vi (chống đối
xã hội, bạo lực học đường…) cho đến lạm dụng game online, nghiện rượu, matuý, có thai tuổi vị thành niên, bỏ học, tự tử… đều cần các giải pháp phòngngừa về mặt lâu dài hoặc can thiệp giúp đỡ khẩn cấp Thực tế các nước trênthế giới và Việt Nam trong thời gian gần đây đã cho thấy tâm lý học đườngđóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề nói trên.Ngoài công việc tham vấn tâm lý tại các thành phố lớn ở Việt Nam mà các cánhân và tổ chức đang làm, tâm lý học đường có thể tham gia công tác sàng lọcđánh giá chẩn đoán tâm lý học sinh gặp khó khăn, dự phòng và phát triển tâm
lý học sinh, tham vấn tâm lý, can thiệp, trị liệu cho những học sinh gặp khókhăn về tâm lý, điều phối, phối hợp với các cơ quan tổ chức nhằm thiết kế cácchương trình phòng ngừa và can thiệp ở cấp độ trường hoặc rộng hơn…Tất cảcác hoạt động này đều trực tiếp đóng góp cho việc xây dựng chương trình
“ngôi trường thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ giáo dục đang phát động
và giúp giáo viên, học sinh vượt qua những thách thức và khó khăn mà chúng
ta đang phải đối mặt
Học sinh trung học phổ thông gồm đa số các em từ 16 đến 18 tuổi, độtuổi vị thành niên Đây là giai đoạn phát triển đặc biệt của cuộc đời con người,
là bước trung chuyển từ một con người “tí hon” trở thành người lớn trưởngthành, cũng là giai đoạn tuổi dậy thì với những biến đổi về tâm – sinh lý, thểchất đến mức nhiều người coi đây là giai đoạn “khủng hoảng” đầu đời Giaiđoạn này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các điều kiện văn hoá, giáo dục, kinh
tế của gia đình, nhà trường và xã hội Bên cạnh đó, áp lực học hành thi cử,việc thích ứng với cuộc sống ngày càng biến động, tiếp thu nhiều nền văn
5
Trang 7hoá khác nhau khiến nhiều học sinh gặp không ít khó khăn trong học tập,trong việc tìm và định hướng lý tưởng sống cho mình…
Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, số lượng học sinh chán học, lườihọc chiếm tỷ lệ không nhỏ trong các trường dẫn đến tình trạng học lực ngàycàng kém Bên cạnh đó, các em học sinh có những lúng túng, khó khăn tronghọc tập, trong các quan hệ xã hội, khó khăn trong việc giao tiếp ứng xử vớibạn bè, thầy cô, vướng mắc trong quan hệ với cha mẹ và khó khăn trong việclựa chọn nghề nghiệp tương lai…Những điều này có thể khiến các em bịstress, lo âu, trầm cảm hoặc có những hành vi lệch chuẩn
Chính vì vậy, các em rất cần được tư vấn, trợ giúp về tâm lý nếu khôngcác em sẽ không đủ sức mạnh để vượt qua chính mình và mất phương hướngtrong cuộc sống và trong công việc tương lai
Trong khi ở các nước đang phát triển, tại mỗi trường học đều có nhữngphòng tư vấn tâm lý học đường thì ở nước ta, tâm lý học đường vẫn chưa thực
sự trở thành một chuyên ngành được đào tạo bài bản, các phòng tâm lý họcđường đã có nhưng phần lớn tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội và thànhphố Hồ Chí Minh Ngay cả những hình thức trợ giúp này cũng mới chỉ ở hìnhthức tham vấn, giải đáp những vướng mắc khó khăn của các em thôi chứ chưathực sự trở thành dịch vụ tâm lý học đường chuyên nghiệp và ngay cả việcthực hiện các phòng tư vấn tâm lý trong trường học cũng gặp rất nhiều khókhăn
Thực tế cho thấy, khi các trường phổ thông tổ chức những buổi về thamvấn, tư vấn tâm lý trực tiếp, những buổi nói chuyện chuyên đề về tâm lý đãthu hút rất nhiều các em học sinh tham gia, điều này chứng tỏ các em cũng rấtquan tâm đến vấn đề này và có nhu cầu được chia sẻ, giúp đỡ từ các chuyêngia tâm lý Tuy nhiên để đánh giá nhu cầu được trợ giúp TLHĐ của học sinhđến đâu nhằm đáp ứng nhu cầu này thì cần phải có những nghiên cứu cụ thể
Trang 8Rõ ràng, việc thực hiện duy trì các phòng TLHĐ còn gặp rất nhiều khókhăn Và theo quan sát của chúng tôi, ở mỗi một địa phương mỗi vùng miềnthì có cách thức tổ chức, trợ giúp khác nhau và nhu cầu được trợ giúp TLHĐcủa học sinh trung học phổ thông cũng rất khác nhau.
Bắc Ninh là một tỉnh giáp ranh với thành phố Hà Nội Từ trung tâmthành phố Bắc Ninh đến thủ đô Hà Nội chỉ vẻn vẹn 30km Được coi là thànhphố vệ tinh của thủ đô Hà Nội, Bắc Ninh đang có sự phát triển mạnh mẽ vànhanh chóng với hàng loạt các khu công nghiệp bao quanh tỉnh cùng với sựđầu tư của các tập đoàn kinh tế lớn như Samsung, Canon…đã khiến cho bộmặt kinh tế của Bắc Ninh có nhiều khởi sắc kéo theo đời sống nhân dân đượccải thiện và phát triển Khi đời sống vật chất được nâng cao kéo theo nhữngnhu cầu mới về mặt tinh thần cũng như áp lực cuộc sống ngày càng tăng Conngười cũng cần có nhu cầu được chia sẻ được giúp đỡ khi có các áp lực vềmặt tâm lý, đặc biệt là thế hệ trẻ Bắc Ninh những người đang hàng ngày, hànggiờ chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ của cuộc sống và chịu ảnh hướng trựctiếp từ sự thay đổi ấy Câu hỏi được đặt ra là, ở một tỉnh nhỏ như Bắc Ninhcác em học sinh đã được sử dụng các dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường chưa vànhu cầu được trợ giúp TLHĐ của các em như thế nào?
Chính vì những lý do nêu trên mà chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề
tài “Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh trung học phổ
thông Bắc Ninh”.
2 Mục đích nghiên cứu:
trung học phổ thông Bắc Ninh, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phầnđáp ứng nhu cầu đó của học sinh THPT ở Bắc Ninh trong điều kiện hiện nay
3 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài có đối tượng nghiên cứu là nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường
7
Trang 94 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài có những nhiệm vụ cụ thể sau:
4.1 Nghiên cứu lý luận:
đó xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài
tâm lý học đường, nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường
cho nghiên cứu thực tế
4.2 Nghiên cứu thực tiễn:
Đánh giá thực trạng nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của họcsinh trung học phổ thông hiện nay ở một số trường học trên địa bàn tỉnh BắcNinh
4.3 Đề xuất kiến nghị Trên
cơ sở kết quả nghiên
nhằm nâng cao tính hiệu quả và
đường trong các trường THPT
cứu thực tiễn sẽ đề tính thiết thực của
xuất một số kiến nghị các phòng tâm lý học
5 Khách thể nghiên cứu
Tổng số lượng khách thể nghiên cứu là 366 học sinh lớp 10 và lớp 11tại hai trường THPT Hàn Thuyên, Thành phố Bắc Ninh và THPT Tiên Du I,huyện Tiên Du, Bắc Ninh
Trong đó:
6 Giả thuyết khoa học
- Sự phát triển tâm lý, cùng với những khó khăn, áp lực trong học tậpcũng như trong cuộc sống dẫn đến các em học sinh lúng túng, lo lắng, căngthẳng, do đó phần lớn các em đều có nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường
là khá cao
Trang 10- Tuy nhiên, phần lớn học sinh vẫn có nhận thức chưa đầy đủ về các dịch vụ trợ giúp tâm lý học đường
nhau ở
mỗi lứa tuổi, giới tính và địa bàn sinh sống
7 Phương pháp nghiên cứu:
7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
7.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
7.4 Phương pháp quan sát
7.5 Phương pháp thống kê toán học
9
Trang 11NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu tâm lý học đường tại nước ngoài:
Tâm lý học đường là một nhánh của ngành Tâm lý học được ra đời đầutiên tại Mỹ vào đầu thế kỷ XX
Linghtner Witmer, cha đẻ của ngành Tâm lý học lâm sàng đã mở phòngkhám tâm lý đầu tiên vào năm 1896 tại trường đại học Pennsylvania Phòngkhám của Witmer đã cung cấp các dịch vụ bao gồm giáo giục và can thiệp lâmsàng Nhân viên phòng khám đã điều trị cho các trẻ em có khó khăn tâm lýtrong học tập bằng cách điều trị trực tiếp cho những đứa trẻ tại phòng khám
và tư vấn cho các nhà giáo dục tại trường Tuy nhiên, sự chuyên nghiệp củangành tâm lý học đường phát triển mạnh ở Mỹ vào đầu thế kỷ 20 từ khi có sự
ra đời của đạo luật phổ cập giáo dục cho trẻ em Những đạo luật này đã dẫntới hàng loạt trẻ em có các vấn đề về thể chất và tinh thần trong trường học.Cùng thời gian đó, những sinh viên cá biệt được giáo dục trong các cơ sởriêng dẫn đến nhu cầu cần các chuyên gia để hỗ trợ cho việc giáo dục này.Cũng trong thời gian này, những bài kiểm tra đo lường trong giáo dục đượcxây dựng mà tiêu biểu là test IQ của Simon – Binet được thử nghiệm ở Pháp.Chính Binet được giới tâm lý học tôn vinh là cha để của tâm lý học họcđường Test của Binet đã được mang đến Mỹ vào những năm 1900 và đượcchuẩn hoá vào năm 1916 bởi Lewis Terman của trường đại học Standford,ngày nay đó là thang đo trí thông minh Standford-Binet Vai trò chính của cácnhà tâm lý học đường thời đó là thực hiện và dịch chuẩn hoá các trắc nghiệm,tham vấn với giáo viên và phụ huynh học sinh về khó khăn trong học tập,động cơ, hành vi là những vai trò thứ yếu trong nghề nghiệp của họ.(Wikipedia, 2009)
Frank Parsons (1854 – 1908) được xem là cha đẻ của ngành hướng dẫn
tư vấn nghề ở Mỹ Ông đã cho ra đời cuốn sách “Cẩm nang hướng nghiệp”
Trang 12(Vocational Bureau) nhằm trợ giúp các cá nhân trong việc lựa chọn nghềnghiệp, tìm ra cách bắt đầu xây dựng một nghề nghiệp thành công và hiệuquả Ông thực sự mong muốn công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp đượcđưa vào trường học (Lê Thị Lan Phương,2003)
Năm 1909, cuốn sách “ Chọn lựa một nghề” (Choosing a Vocation)được xuất bản được coi là sự cống hiến lớn lao cho công tác hướng dẫn tư vấn
nghề Boston trở thành địa điểm tổ chức “Hội nghị công tác hướng dẫn tư vấn
nghề nghiệp” đầu tiên và kết quả của hội nghị này đánh dấu sự ra đời của
“Hiệp hội tư vấn hướng nghiệp quốc gia Mỹ” năm 1913, tổ chức tiền nhiệm của “Hiệp hội tham vấn Mỹ” sau này.
Frank Parsons đã hình dung ra công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp
có hệ thống trong trường học Ông cũng thấy được tầm quan trọng của côngtác tham vấn cá nhân Nguyên tắc của ông trong công tác hướng dẫn tư vấnnghề đã ảnh hưởng sâu sắc đến những lĩnh vực rộng lớn hơn của công táctham vấn Mục đích chính của Parsons đối với công tác hướng dẫn tư vấnnghề được thể hiện trong 3 quá trình:
(1) Sự thấu hiểu một cách rõ ràng về bản thân, về khả năng thích hoàibão, nguồn lực cũng như những hạn chế của bạn đối với nghề, động lực thúcđẩy bạn chọn nghề
lợi và khó khăn, sự đền bù; những cơ hội và những triển vọng phát triển tronggiới hạn khác nhau của công việc
Sau này, mặc dù công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp trong trườnghọc được phát triển, song nhiều người đã tán thành việc cần có một cách tiếpcần rộng hơn với tham vấn trong trường học Những người này cho rằngnhững chuyên gia tư vấn hướng nghiệp không nên chỉ tập trung quan tâm vềngành nghề mà còn nên chú ý đến sự khác biệt lớn trong những nhu cầu về
11
Trang 13tâm lý và giáo dục của học sinh Nói cách khác những chuyên gia tư vấnhướng nghiệp phải là những nhà tham vấn tâm lý.
Trước chiến tranh thế giới thứ hai, tâm lý thực hành chưa được phânchia thành lâm sàng, tham vấn, tâm lý học đường như ngày nay Chiến tranhthế giới thứ hai kết thúc kéo theo những hậu quả tâm lý nặng nề làm nảy sinhnhu cầu rất lớn các trắc nghiệm tâm lý và nó tác động một cách trực tiếp đếnhoạt động hướng nghiệp trong trường học (Ngô Minh Uy, 2008)
Năm 1927, chuyên ngành TLHĐ đầu tiên được đào tạo tại trường Đạihọc New York bao gồm đào tạo đại học và sau đại học
Năm 1930 thì đào tạo tiến sỹ TLHĐ đầu tiên và nhà nước Mỹ đã cấpgiấy chứng nhận nhà tâm lý học đường tại New York và Pensylvania
Sau những năm 30 của thế kỷ 20 thì Hiệp hội các nhà tâm lý học Mỹ(American Psychological Asociation) được thành lập nhưng loại trừ các nhàtâm lý học đường vì không có bằng tiến sỹ, một yêu cầu đối với những thànhviên
Đến năm 1969 thì Hiệp hội các nhà tâm lý học đường quốc gia đượcthành lập (The National Association of School Psychologist) Đây cũng là tổchức lớn nhất có ảnh hưởng tới nghề nghiệp của tổ chức tâm lý học đường
Năm 1980, các nhà tâm lý học đường đã thay đổi chức năng và vai tròcủa nhà tâm lý học đường từ “đánh giá và đánh giá chuyên sâu” (assessmentand placement intensive) sang “đánh giá và can thiệp sâu đối với những nhóm
có nguy cơ ở trường phổ thông” (preferential assessment, interventions and atleast secondary prevention for at risk groups) Những thay đổi này đã làm cho
nỗ lực đáp nhu cầu của sinh viên, học sinh cũng như phụ huynh học sinh, giáoviên và cộng đồng ngày được nâng cao
Đến năm 1997, tiêu chuẩn quốc gia dành cho các chương trình tư vấnhọc đường, kể từ đó ngành Tâm lý học đường được xem như là đã hoàn thiện
Hiện nay, Hiệp hội các nhà tâm lý học đường Mỹ được xem như lànguồn tham khảo và kiểu mẫu cho các chương trình tâm lý học đường của hầu
Trang 14hết các nước trên thế giới Ngày nay, các dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường đãtrở nên phổ biến trong các trường học ở nhiều nước trên thế giới.
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu tâm lý học đường tại Việt Nam
Tâm lý học đường trên thế giới hiện nay đã có một quá trình phát triểnlâu dài Tuy nhiên, ở nước ta nó vẫn còn là một lĩnh vực khá mới mẻ, các hoạtđộng trợ giúp tâm lý học đường cho học sinh còn chưa được đầu tư và quantâm đúng mức
Trước năm 1975, tại miền nam Việt Nam đã có chương trình khải đạotrong trường học Sau ngày thống nhất với sự thay đổi hoàn toàn cách thứcgiáo dục thì chương trình khải đạo không còn tồn tại theo đúng nghĩa của nónữa
Năm 1984, trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em và tâm bệnh lý NT dobác sỹ Nguyễn Khắc Viện thành lập trở thành nơi đầu tiên thực hành, pháttriển nghề tham vấn trong đó có lĩnh vực tâm lý trẻ em và gia đình Phươngchâm nghiên cứu của trung tâm là chiết trung, không suy tôn một trường pháinào, không lấy một học thuyết nào làm chính thống Phương pháp nghiên cứuchủ yếu là nghiên cứu sâu từng trường hợp Ngoài nghiên cứu ứng dụng,trung tâm còn biên soạn nhiều đầu sách, chương trình đào tạo, dịch và phổbiến một số phương pháp nghiên cứu tâm lý trẻ em (Vũ Dũng, 2009)
Trong vòng 10 năm trở lại đây, tình trạng học sinh tự tử, có những rốinhiễu về tâm lý, bỏ học, sa ngã vào các tệ nạn xã hội… đã khiến các nhà giáodục, các nhà tâm lý có cái nhìn quan tâm nhiều hơn đến việc phải cung cấpcho học sinh, sinh viên các dịch vụ trợ giúp tâm lý học đường Chính vì vậy,thông tư số 9971/BGD-DT, Bộ giáo dục đào tạo đã gửi các cơ sở đào tạo và
trường học về việc “triển khai công tác tư vấn cho học sinh, sinh viên”, đồng thời Bộ giáo dục cũng phát động việc xây dựng “ngôi trường thân thiện, học
sinh tích cực” trong trường học Điều này chứng tỏ các cấp lãnh đạo ngành
giáo dục đã bước đầu quan tâm đến việc phát triển và cung cấp các dịch vụ trợgiúp tâm lý học đường cho học sinh, sinh viên nhằm giúp các em ngoài
13
Trang 15việc được trang bị tốt về văn hoá còn có một sức khoẻ tinh thần khoẻ mạnh vàlành mạnh.
Có lẽ cũng chính mục tiêu đó mà nhiều trường đã kết hợp với các tổchức, các viện, trường đào tạo, nghiên cứu về tâm lý để mở ra các phòng tâm
lý học đường cho học sinh sinh viên Ở thành phố Hồ Chí Minh, tính đến nay
đã có hơn 50 trường từ bậc tiểu học, THCS đến PTTH Bắt đầu từ năm 2009,
sở giáo dục thành phố sẽ tuyển tham vấn viên tâm lý Ở Hà Nội có khoảnggần 10 trường THPT có phòng tham vấn học đường (Kỷ yếu hội thảo “Nhucầu định hướng và đào tạo tâm lý học đường tại Việt Nam”,Tr.428) nhữngtrường đi tiên phong trong vấn đề này như trường THPT Đinh Tiên Hoàng,tiếp theo đó là các trường như THPT Trần Hưng Đạo, THPT Trần NhânTông…
Bên cạnh đó, nhiều cuộc hội thảo đã được tổ chức nhằm xác định mụctiêu, vai trò, nhiệm vụ, nội dung của tâm lý học đường như:
Hội thảo “Nhu cầu tư vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh” do
viện nghiên cứu giáo dục, đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh tổ chức
năm 2003; Hội thảo “Kinh nghiệm bước đầu thực hiện mô hình tham vấn
trong trường học” do Văn phòng tư vấn trẻ em thành phố HCM tổ chức năm
2005; Hội nghị toàn quốc về “Tư vấn tâm lý, giáo dục, thực tiễn và định
hướng phát triển” do Hội khoa học tâm lý giáo dục TPHCM tổ chức năm
2006; Hội thảo khoa học “Hỗ trợ tâm lý cho học sinh sinh viên” do Hội khoa học tâm lý tỉnh Đồng Nai tổ chức năm 2007; Hội thảo “Tâm lý học đường
triển khai và ứng dụng thực tiễn vào nhà trường Việt Nam” tổ chức năm 2008
do Trường Đại học sư phạm Hà Nội và Viện nghiên cứu sư phạm tiến hành;
và gần đây nhất là hội thảo khoa học quốc tế “Nhu cầu định hướng và đào tạo
tâm lý học đường tại Việt Nam” do nhiều cơ quan tổ chức nghiên cứu và đào
tạo tâm lý diễn ra ngày 3 -4 tháng 8 năm 2009…
Ngoài những cuộc hội thảo toạ đàm về tâm lý học đường, những cơquan tổ chức nghiên cứu và đào tạo chuyên ngành tâm lý học cũng đã có
Trang 16những nghiên cứu về các vấn đề tâm lý học đường ở các cấp độ khác nhau.
Có thể kể ra đây một số nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến vấn đề màchúng tôi đang nghiên cứu như:
Luận văn thạc sỹ “Nhu cầu được giáo dục sức khoẻ sinh sản của học
sinh trung học phổ thông” của Nguyễn Hà Thành năm 2007 Ở luận văn này
tác giả đã chỉ ra thực trạng giáo dục sức khoẻ sinh sản ở các trường phổ thôngcòn nhiều bất cập và hạn chế mặc dù học sinh rất có nhu cầu được giáo dục vềlĩnh vực này Từ kết quả nghiên cứu thu được, tác giả đã đưa ra những đề xuấtkhuyến nghị để thực hiện hình thức giáo dục này có hiệu quả nhằm đáp ứngnhu cầu chính đáng của các em học sinh
Nghiên cứu về “Thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh –
sinh viên Việt Nam hiện nay” của Bùi Thị Xuân Mai cho thấy có trên 90% số
người được hỏi cho là cần và rất cần các dịch vụ tham vấn Nhóm khách thể ởlứa tuổi vị thành niên thì có nhu cầu tham vấn về học tập, quan hệ bạn bè,trạng thái tâm lý không cân bằng…nhóm lứa tuổi thanh niên lại quan tâmnhiều hơn đến vấn đề như công việc, tình bạn, tình yêu, sức khoẻ trong đó có
cả trạng thái tâm lý không cân bằng
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mùi và cộng sự về đề tài “Nhu cầu
tham vấn của học sinh một số trường trung học trên địa bàn thành phố Hà Nội” cho thấy “sự hài lòng, rất yên tâm” của các em về cuộc sống hiện tại chỉ
chiếm 3,2% trong khi mức độ “hài lòng và lo lắng” pha trộn với “thườngxuyên lo lắng, không yên tâm” là trên 65% Điều này phản ánh cuộc sống củacác em có quá nhiều áp lực Các em rất cần có sự trợ giúp tư vấn kịp thời đểvượt qua những áp lực, khó khăn tâm lý
Ngoài những luận văn, khoá luận nghiên cứu về nhu cầu tư vấn tâm lýcòn có các khoá luận, luận văn khác của sinh viên, học viên cao học trườngĐại học KHXH&NV nghiên cứu về những khó khăn, rối nhiễu tâm lý mà học
sinh thường gặp phải như: Khoá luận tốt nghiệp “Tìm hiểu một số nguyên
nhân tâm lý của hiện tượng kém thích nghi học đường ở học sinh lớp 6” của
15
Trang 17Nguyễn Thị Thuý (2002); Khoá luận “Bước đầu phát hiện và đánh giá rối
nhiễu tăng động giảm chú ý của học sinh THCS” của Trần Quang Minh
(2002); Khoá luận tốt nghiệp “Bước đầu tìm hiểu về rối nhiễu lo âu, trầm cảm
của học sinh PTTH” của Lê Thị Hà (2003); Khoá luận tốt nghiệp “Tìm hiểu những rối nhiễu hành vi và một số yếu tố liên quan đến rối nhiễu hành vi ở trẻ vị thành niên” của Nguyễn Thị Ánh Nguyệt (2004)…
Những nghiên cứu trên đã cho thấy những khó khăn, rối nhiễu tâm lý
mà học sinh hay gặp phải là rất đa dạng, và phong phú Học sinh ở bất kỳ cấphọc nào cũng đều có nguy cơ mắc phải những rối nhiễu này Điều này chứng
tỏ trợ giúp tâm lý học đường là rất cần thiết, với những hiệu quả mà dịch vụmang lại chắc chắn sẽ góp phần giúp các em giải quyết các khó khăn tâmlý,hạn chế tối đa những rối nhiễu tâm lý mà các em có thể gặp phải, đảm bảo
sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần
Như vậy, rõ ràng tuy ở nước ta chưa hình thành một phân ngành tâm lýhọc đường chính thức nhưng việc nghiên cứu cũng như ứng dụng về các lĩnhvực tâm lý học đã và đang được tiến hành và thực hiện có hiệu quả Chắcchắn trong một thời gian không xa việc nghiên cứu, đào tạo, ứng dụng tâm lýhọc đường sẽ được phổ biến một cách rộng rãi
1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu:
1.2.1 Khái niệm “nhu cầu”:
1.2.1.1 Các lý thuyết nghiên cứu nhu cầu:
Nhu cầu đã được bắt đầu tiến hành nghiên cứu từ thế kỷ thứ 19 bởiW.Kohler E thorndile, N.E.Miller Các ông nghiên cứu nhu cầu ở động vật,các kiểu hành vi của con vật được thúc đấy bởi nhu cầu Họ đã giải thích mốiliên hệ giữa kích thích và phản ứng của cơ thể bằng cái gọi là “luật hiệu ứng”
và từ đó khẳng định nhu cầu cơ thể quyết định hành vi (Hoàng Thị Thu Hà,2003)
Trang 18Vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, các nhà khoa học phương Tây chiathành nhiều các trường phái nghiên cứu khác nhau và họ bắt đầu tiến hànhnghiên cứu nhu cầu cơ thể của con người.
Luận thuyết xung năng của Clark Hull đề xướng theo cách tiếp cận sinhhọc để giải thích về nhu cầu động cơ Hull cho rằng các nhu cầu sinh lý chiphối đời sống con người Tuy nhiên, ông cũng không phủ nhận sự có mặt củanhu cầu động cơ khác nhau Luận thuyết xung năng đã sinh vật hoá hệ thốngnhu cầu động cơ của con người, xem nhu cầu là những xung năng mang tínhsinh vật nảy sinh từ sự thiếu hụt thức ăn, không khí, nước uống Vì vậy ông đãquy gán cho các nhu cầu nội tâm và nhu cầu xã hội đều do nhu cầu sinh vậttạo ra
Nghiên cứu của K Lewin lại cho rằng nhân tố thúc đẩy hoạt động conngười không chỉ có nhu cầu cơ thể (xung năng) mà còn có cả nhu cầu xã hội.Khi xuất hiện một nhu cầu nào đó đồng thời xuất hiện những liên tưởng cóliên quan đến nhu cầu đó ở chủ thể Mọi ý nghĩ của con người đều liên quanđến các nhu cầu khác nhau vì vậy tạo ra một chuỗi những căng thẳng là nguồngốc của tính tích cực hoat động và chính hoạt động sẽ làm giảm trạng tháicăng thẳng đó
Các nhà Tâm lý học hành vi như J Watson, Skinner không quan tâmnghiên cứu những yếu tố xảy ra bên trong con người như ý thức, vô thức,động cơ nhu cầu…mà theo họ nhiệm vụ của tâm lý học là nghiên cứu hành vi,phân tích mối quan hệ giữa cơ thể và môi trường qua phân tích tập hợp cáccặp đôi “kích thích - phản ứng” (S-R) để tìm ra những quy luật nhất định củahành vi Tuy nhiên qua các nghiên cứu của họ ta thấy các thực nghiệm đãnghiên cứu khá rõ và kỹ về các nhu cầu đặc biệt là các nhu cầu cụ thể, nhucầu sinh lý Mặc dù vậy, họ lại đồng nhất hoá nhu cầu của con người và nhucầu con vật
Trong lý thuyết phân tâm của mình S Freud đã đề cập đến vấn đề nhu
cầu của cơ thể trong “Lý thuyết bản năng của con người” Ông khẳng định,
17
Trang 19Phân tâm học coi trọng nhu cầu tự do cá nhân như các nhu cầu tự nhiên, đặcbiệt là nhu cầu tình dục Việc thoả mãn nhu cầu tình dục sẽ giải phóng nănglượng tự nhiên, và như thế, tự do cá nhân thực sự được tôn trọng, ngược lại,kìm hãm nhu cầu này sẽ dẫn đến hành vi mất định hướng của con người Khátdục trong Phân tâm học không có ý nói đến việc thoả mãn những khát khaothông thường mà là sự đòi hỏi thoả mãn những khát khao mãnh liệt Nhữngmong muốn này được thoả mãn sẽ đem lại cho con người những khoái cảmđặc biệt và sẽ tạo ra một trạng thái tâm lý sung sướng, khoan khoái, dễ chịu.Khi một khát vọng nào đó chưa được thoả mãn thì sự căng thẳng về mặt tâm
lý lên đến tột đỉnh (Phạm Minh Lăng, 2004 )
Erich Fromm nhà phân tâm học mới quan niệm rằng: “Nhu cầu tạo ra cái tự nhiên của con người Đó là những nhu cầu:
Những nhu cầu này tạo là thành phần tạo nên nhân cách”
Nhà tâm lý học Mỹ A Maslow đã đưa ra luận thuyết thứ bậc về nhucầu, động cơ vào năm 1954 Theo ông con người có 5 nhu cầu gốc (nhữngnhu cầu khác đều là phái sinh từ những nhu cầu này) mang tính bẩm sinhđược sắp xếp thành thứ bậc từ thấp lên cao, chúng hoạt hoá và điều khiểnhành vi con người:
(1): Nhu cầu sinh lý: ăn uống, tình dục
(2): Nhu cầu an toàn: sự an toàn, trật tự và ổn định
(3): Nhu cầu được chấp nhận và yêu thương
(4): Nhu cầu được tôn trọng
(5): Nhu cầu tự thể hiện
Trang 20Maslow mô tả những nhu cầu này như bản năng tự nhiên (chịu ảnhhưởng lớn của di truyền) Những nhu cầu này tuy là bẩm sinh nhưng nhữnghành vi mà ta thực hiện để thoả mãn chúng thì ở mỗi người mỗi khác và phảiđược học tập, rèn luyện Maslow đưa ra hình ảnh cái thang để diễn tả lýthuyết này vì theo ông muốn phát triển nhu cầu ở bậc cao hơn thì ít nhất nhucầu ở bậc thấp hơn (liền kề) phải được thoả mãn đến mức độ nhất định Việcthoả mãn nhu cầu ở bậc thang thấp hơn sẽ kích thích người ta nghĩ tới việcphải thoả mãn nhu cầu ở bậc thang cao hơn Vì vậy theo ông, về nguyên tắc ởcùng một thời điểm chỉ có một nhu cầu chiếm vị trí nổi trội trong nhân cáchcủa mỗi người Sự phát triển của mỗi nhu cầu trong thang đều phụ thuộc vàonhững nhu cầu khác có được thoả mãn hay không Maslow gọi những nhu cầu
ra sự thiếu hụt cho cơ thể) Trái lại những nhu cầu ở bậc thang cao do ít cầnthiết cho sự tồn tại nên việc thoả mãn những nhu cầu này có thể trì hoãn(không nhất thiết phải thoả mãn ngay) Tuy nhiên, việc thoả mãn những nhucầu ở bậc thang cao lại quan trọng cho sự phát triển của cá nhân nên Maslowgọi các nhu cầu này là nhu cầu phát triển Nó có tác dụng kích thích sự xuấthiện những nhu cầu mới hướng tới sự hoàn thiện con người qua sự tham giavào những hoạt động có tính thách thức ngày một nhiều hơn (Lê Khanh,2006)
Tuy những đóng góp của Maslow khi nghiên cứu về nhu cầu là rất quantrọng nhưng nhiều ý kiến không tán thành quan điểm của ông cho rằng, nhucầu và động cơ của con người là bẩm sinh, có bản chất sinh học Ngoài raquan niệm của ông về thứ tự thoả mãn nhu cầu lần lượt từ thấp đến cao theokiểu “leo thang” là một quan niệm máy móc và cứng nhắc không phù hợp vớithực tế diễn ra trong đời sống tâm lý con người
Carl Rogers nhà trị liệu tâm lý nổi tiếng với liệu pháp “thân chủ trọngtâm” trong nghiên cứu của mình đã đề cập đến vai trò của nhu cầu về sự quan tâm tích cực tới việc phát triển ‘cái tôi’ của đứa trẻ Nhu cầu về sự quan tâm
19
Trang 21tích cực được hiểu là nhu cầu được thừa nhận, được yêu thương, được ủng hộ
từ những người khác, đặc biệt từ mẹ và những người thay thế khi trẻ ở tuổi sơsinh Hành vi của trẻ được điều khiển tuỳ thuộc vào tính chất, nội dung vàmức độ của sự thừa nhận, yêu thương và ủng hộ mà trẻ nhận được từ nhữngngười khác Ông cũng nhấn mạnh, nhu cầu về sự quan tâm tích cực có tínhchất tương hỗ Khi một người tự đòi hỏi mình phải làm việc để đáp ứng nhucầu của ai đó về sự quan tâm tích cực thì ngược lại chính họ cũng cảm thấynhu cầu của mình về sự quan tâm tích cực cũng được người đó làm thoả mãn.(Lê Khanh, 2006)
Henry Murray khi nghiên cứu vấn đề nhu cầu thì khẳng định nhu cầu làmột tổ chức cơ động hướng dẫn và thúc đẩy hành vi Nhu cầu ở mỗi ngườikhác nhau về cường độ, mức độ, đồng thời các loại nhu cầu chiếm ưu thếcũng khác nhau ở mỗi người Ông đưa ra bảng phân loại nhu cầu của conngười bao gồm 20 nhu cầu cụ thể như nhu cầu thành đạt, tôn trọng, vui chơi,
tự vệ, an toàn…Do ảnh hưởng của phân tâm học ông đã cho rằng nhu cầu quyđịnh xu hướng nhân cách đều xuất phát từ những libido vô thức Tuy nhiên,ông đã đưa ra một quan điểm tiến bộ về nhu cầu: thể nghiệm ban đầu của nhucầu là cảm giác băn khoăn luôn ám ảnh như con người có thiếu thốn một cái
gì đó Nó là sự cần thiết của chủ thể cần cho hoạt động sống và vì thế gây chochủ thể một mức độ tích cực nhất định (Hoàng Thị Thu Hà, 2003)
Các nhà tâm lý học Liên Xô khi nghiên cứu về nhu cầu khẳng định nhucầu là yếu tố bên trong, quan trọng đầu tiên thúc đẩy con người hoạt động;khác hẳn với con vật, mọi nhu cầu của con người (kể cả những nhu cầu sơđẳng) đều có bản chất xã hội
Uznatze là người đầu tiên trong tâm lý học Xô Viết nghiên cứu về nhucầu Ông là người khám phá ra mối quan hệ giữa nhu cầu và hành vi Ông chorằng không có gì có thể đặc trưng cho một cơ thể sống hơn sự có mặt của nó ởnhu cầu, đó là cội nguồn của tính tích cực Nhu cầu là yếu tố quyết định tạo ratính tích cực, nhu cầu xây dựng xu hướng, hành vi
Trang 22X.L Rubinstein khẳng định nhu cầu của con người thể hiện mối quan
hệ của con người với thế giới xung quanh Con người luôn phải hoạt độngnhằm đáp ứng những nhu cầu nhất định, nhu cầu là sự đòi hỏi về cái gì đónằm ngoài chủ thể “Cái gì đó” chính là đối tượng của nhu cầu, có khả năngđem lại sự thoả mãn nhu cầu thông qua hoạt động của chủ thể Vì vậy, theoông phải thống nhất yếu tố khách quan với yếu tố chủ quan trong quá trìnhhoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu Khả năng đáp ứng những đòi hỏi ấy vừaphụ thuộc vào đối tượng trong những điều kiện cụ thể vừa phụ thuộc vào nănglực của chính chủ thể Nhu cầu con người vừa mang tính thụ động vừa mangtính tích cực Tính thụ động của nhu cầu thể hiện ở chỗ khả năng thoả mãnnhu cầu lệ thuộc vào chính thế giới, đối tượng tồn tại trong hiện thực kháchquan Tính tích cực của nhu cầu thể hiện nhu cầu thúc đẩy chủ thể tích cựchoạt động tìm kiếm cách thức, phương tiện, điều kiện, đối tượng nhằm thoảmãn nó Tính tích cực của nhu cầu thể hiện cao thấp tuỳ thuộc vào mức độcủa nhu cầu Ở mức độ ý hướng tính tích cực thấp nhất, cao hơn là mức độ ýmuốn và cao nhất là mức độ ý định
A.N.Leonchiep cho rằng: cũng như những đặc điểm tâm lý khác củacon người, nhu cầu cũng có nguồn gốc trong hoạt động thực tiễn Theo ông,nhu cầu thực sự bao giờ cũng có tính đối tượng: “Một nhu cầu thực sự bao giờcũng là nhu cầu về một cái gì đó” Nói cách khác, một nhu cầu thực sự baogiờ đối tượng của nó cũng được xác định rõ ràng Khi mới xuất hiện, nhu cầuchỉ là một trạng thái thiếu thốn về một cái gì đó còn chưa được chủ thể xácđịnh một cách rõ ràng mà ông gọi là “trạng thái có tính chất nhu cầu” chứchưa phải là “một nhu cầu thực sự” Lúc này nhu cầu còn “chưa biết đến” đốitượng của nó, đối tượng này phải được chủ thể phát lộ ra Chỉ chờ kết quả của
sự phát lộ này nhu cầu mới có được tính vật thể (tính đối tượng, nội dung tâmlý) của nó, mới trở thành “một nhu cầu thực sự”
Nhu cầu, với tính chất là sức mạnh nội tại thì chỉ có thể được thực thitrong hoạt động Lúc đầu nhu cầu chỉ xuất hiện như là một điều kiện, một tiền
21
Trang 23đề cho hoạt động, chỉ đến khi chủ thể thực sự bắt đầu hành động với đốitượng thì lập tức xảy ra sự biến hoá của nhu cầu, nó không còn tồn tại mộtcách tiềm tàng Sự phát triển của hoạt động càng đi xa bao nhiêu thì nhu cầucàng chuyển hoá bấy nhiêu thành kết quả của hoạt động Ông phê phán việctách nhu cầu ra khỏi hoạt động vì như vậy sẽ coi nhu cầu là điểm xuất phátcủa hoạt động Mối liên hệ giữa hoạt động với nhu cầu được ông mô tả bằng
sơ đồ: Hoạt động – Nhu cầu – Hoạt động Ông cho rằng, để hiểu bản chất củanhu cầu con người thì khi nghiên cứu nó không được tách nó ra khỏi nhữngđiều kiện vật chất của nó, khỏi phương thức thoả mãn nó, và do đó cũngkhông được tách nó khỏi hoạt động mà trong đó diễn ra sự biến đổi của nhucầu (Leonchiev, 1989)
Khi xem xét mối quan hệ giữa nhu cầu với động cơ, ông cho rằng: khi
mà đối tượng của nhu cầu xuất hiện, cái mà được nhận biết (được cảm nhận,được hình dung, hoặc được tư duy) thì có được chức năng thúc đẩy, hướngdẫn hoạt động, tức là trở thành động cơ Hay, nội dung đối tượng của nhu cầuchính là động cơ của hoạt động Một hoạt động diễn ra bao giờ cũng hướngvào việc đạt mục đích đạt kết quả nhất định nào đó Động cơ của hoạt độngchính là cái nhu cầu đã được đối tượng hoá và được hình dung trước dướidạng các biểu tượng của kết quả hoạt động
1.2.1.2 Định nghĩa nhu cầu:
Có rất nhiều các quan niệm khác nhau về nhu cầu, tiêu biểu là các quanniệm mà chúng ta đã xem xét trong phần lịch sử nghiên cứu về nhu cầu Vậynhu cầu là gì?
Theo nghĩa từ nhu cầu hiểu một cách chung nhất là sự đòi hỏi tất yếu,cần được thoả mãn để tồn tại và phát triển Nhu cầu là trạng thái của cá nhânxuất phát từ chỗ nhận thấy cần những đối tượng cần thiết cho sự tồn tại vàphát triển của mình và đó là nguồn gốc tính tích cực của cá nhân
Trong cuốn Từ điển tâm lý, Nguyễn Khắc Viện định nghĩa: “Nhu cầu là
điều kiện cần thiết để đảm bảo tồn tại và phát triển, được thoả mãn thì dễ
Trang 24chịu, thiếu hụt thì khó chịu, căng thẳng, ấm ức Có nhu cầu của con người, có nhu cầu chung của tập thể, khi hoà hợp, khi mâu thuẫn, có nhu cầu cơ bản, thiết yếu, có nhu cầu thứ yếu, giả tạo Nhu cầu do trình độ phát triển của xã hội mà biến đổi”.
Theo Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ, Phạm Minh Hạc trong cuốn Tâm lý
học thì cho rằng“ Nhu cầu là đòi hỏi ở môi trường xung quanh những cái cần
thiết (không thể thiếu) cho sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân.”
Trần Hiệp trong Tâm lý học xã hội cho rằng: “Nhu cầu là một trạng
thái tâm lý xuất hiện khi cá nhân cảm thấy cần phải có điều kiện nhất định để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mình Trạng thái tâm lý đó kích thích con người hoạt động nhằm đạt được những điều mình mong muốn.”
Mã Nghĩa Hiệp trong Tâm lý học kinh doanh lại cho rằng “Nhu cầu là
yêu cầu của cá thể hoặc quần thể hữu cơ đối với sự vật khác quan (để tồn tại
và phát triển) trong điều kiện sinh hoạt nhất định Đối với loài người nhu cầu
là yêu cầu và ước muốn, theo phương thức phù hợp với điều kiện sinh tồn của con người đối với sự vật khách quan để duy trì và phát triển đời sống của mình Do vậy, về thực chất, nhu cầu của con người là phản ánh nhu cầu khách quan của con người và xã hội trong não người.”
Theo Leonchiev thì “Nhu cầu là một trạng thái của con người cần một
cái gì đó cho cơ thể nói riêng và con người nói chung để sống và hoạt động Nhu cầu luôn có đối tượng Đối tượng của nhu cầu có thể là vật chất hoặc tinh thần chứa đựng khả năng thoả mãn nhu cầu Nhu cầu có vai trò định hướng đồng thời là động lực bên trong kích thích hoạt động của con người.”
Tóm lại tuy cách diễn đạt khác nhau ở mỗi nhà nghiên cứu nhưng tựuchung lại ta có những ý chính sau: Nhu cầu là trạng thái tâm lý của con ngườithể hiện sự cần thiết thoả mãn về một đối tượng cụ thể cần thiết cho sự tồn tạo
và phát triển của chủ thể Sự thoả mãn ấy là điều kiện để chủ thể nhu cầu tồntại và phát triển Nếu nhu cầu được thoả mãn thì chủ thể cảm thấy thoải mái
dễ chịu ngược lại thấy bứt rứt khó chịu Nhu cầu vừa là tiền đề vừa là kết quả
23
Trang 25của hoạt động Thoả mãn nhu cầu thực chất là quá trình con người chiếm lĩnhmột hình thức hoạt động nhất định trong xã hội Nhu cầu thể hiện ở động cơ,cái thúc đẩy con người hoạt động và động cơ trở thành hình thức thể hiện củanhu cầu.
Như vậy, ta có thể hiểu nhu cầu là trạng thái tâm lý của con người
biểu hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thoả mãn để tồn tại và phát triển với tư cách là một nhân cách.
1.2.1.3 Đặc điểm của nhu cầu:
Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng cụ thể Theo X.L.Rubinstein ở cấp
độ tâm lý nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng xác định Đối tượng của nhu cầunằm ngoài chủ thể lại là nơi chứ đựng khả năng thoả mãn nhu cầu ấy Bảnthân đối tượng đáp ứng nhu cầu luôn tồn tại một cách khách quan và không tựbộc lộ ra khi chủ thể có cảm giác thiếu hụt hay đòi hỏi Nó chỉ bộc lộ ra khichủ thể tiến hành hoạt động nhờ vậy mà nhu cầu có tính đối tượng và chínhbản thân vật thể được nhận biết lại trở thành động cơ có chức năng địnhhướng thúc đẩy hoạt động
Nhu cầu thực sự là một sức mạnh khi nó gặp đối tượng, từ đó làm xuấthiện những mối liên hệ cơ động giữa các nhu cầu với vật thể Chính quá trìnhgặp gỡ giữa nhu cầu và vật thể đã làm nảy sinh động cơ và hướng dẫn hoạtđộng của chủ thể Ở con người đối tượng đáp ứng yêu cầu cũng như bản thâncác trạng thái nhu cầu đều được phản ánh vào đầu óc con người dưới dạngbiểu tượng với tính chất là một hiện tượng tinh thần Ở đây, sự biến đổi có ýnghĩa quan trọng nhất đặc trưng cho sự chuyển tiếp sang cấp độ tâm lý là sựxuất hiện những mối liên hệ cơ động giữa nhu cầu và đối tượng thoả mãn nhucầu
mãn
nó quy định Phương thức thoả mãn nhu cầu chính là hoạt động
Trang 26Theo tâm lý học hoạt động của Leonchiev tâm lý con người nói chung
và nhu cầu nói riêng được nảy sinh từ hoạt động thực tiễn Hoạt động và chỉduy nhất thông qua hoạt động mà thôi nhu cầu mới được cụ thể hoá
Trong xu thế vận động, nhu cầu có thể xuất hiện lặp lại khi sự đòi hỏi gây ra nhu cầu tái thiết Ở cấp độ tâm lý, nhu cầu có tính ổn định
Nhu cầu bao giờ cũng mang tính tích cực Nó thúc đẩy cá nhân tiếnhành hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu của mình Chính thông qua hoạt động
mà tâm lý, ý thức, nhân cách của con người mới nảy sinh và hình thành
Nhu cầu là những đòi hỏi của con người cần được thoả mãn Khi đượcthoả mãn, nhu cầu sẽ thúc đẩy cá nhân hăng say hoạt động nhằm thoả mãnnhững nhu cầu tiếp theo của mình, tính tích cực của con người càng đượcnâng cao hơn Còn nếu những nhu cầu của con người không được thoả mãnthì cá nhân sẽ xuất hiện tâm trạng bứt dứt, khó chịu
Nhu cầu thường đi kèm với trạng thái ý chí, cảm xúc đặc biệt khi nhucầu ở mức độ cao Những trạng thái cảm xúc tiêu biểu như tính hấp dẫn củađối tượng có liên quan đến một nhu cầu nhất định, sự hài lòng khi nhu cầuđược thoả mãn hay trạng thái căng thẳng lo âu, chán nản khi nhu cầu khôngđáp ứng Trạng thái cảm xúc này thúc đẩy con người đi tìm phương thức hànhđộng mới để thoả mãn nhu cầu của mình Do đó nhu cầu trở thành một trongnhững động cơ mạnh mẽ nhất thúc đẩy chủ thể tiến hành hoạt động Khi nhucầu được thoả mãn thì những trạng thái cảm xúc sẽ biến mất hoặc chuyểnsang trạng thái ngược lại
Nhu cầu của con người bao giờ cũng mang tính xã hội và tính lịch sử nhất định Tuy nhu cầu là những đòi hỏi, mong muốn của cá nhân nhưng nó
25
Trang 27lại bị quy định bởi hoàn cảnh xã hội, thông qua các mối quan hệ xã hội, hoạtđộng giao tiếp xã hội mà con người tham gia Nền văn hoá cũng quy định tính
xã hội của nhu cầu
1.2.1.4 Mối quan hệ giữa nhu cầu và nhận thức
Nhu cầu bao giờ cũng là nhu cầu về một cái gì đó Cái đó nó được cánhân nhận thức ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn về ý nghĩa của nó đối với sựtồn tại và phát triển của cá nhân Lúc đó, nhu cầu trở thành động lực thúc đẩy
cá nhân hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu
Nhận thức có một vị trí đặc biệt đối với nhu cầu:
Thứ nhất, nhận thức giúp nhu cầu chuyển thành động cơ thúc đẩy hànhđộng
Thứ hai, nhận thức giúp cá nhân tìm ra phương thức và cách thức thoảmãn nhu cầu phù hợp với nền văn hoá xã hội đương đại
Thứ ba, nhận thức giúp cá nhân xác định được các công cụ, điều kiệnthoả mãn nhu cầu
Thứ tư, nhận thức giúp cá nhân lựa chọn nhu cầu cơ bản, thường trựctrong thời điểm hiện tại để thoả mãn và kìm nén một số nhu cầu khác
Ngược lại, nhu cầu có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động nhận thứccủa cá nhân Nhu cầu thôi thúc con ngưòi nhận thức, khám phá thế giới xungquanh, giúp hoạt động nhận thức của cá nhân có tính mục đích, có tính lựachọn cao Và cũng chính trong quá trình nhận thức mà nhu cầu được pháttriển
1.2.2 Khái niệm “Tâm lý học đường”:
Tâm lý học đường (TLHĐ) hay tâm lý học trường học có tên tiếng anh
là “School psychology”
Hiện có rất nhiều các quan niệm khác nhau về khái niệm tâm lý họcđường
Có khái niệm cho rằng tâm lý học đường là một lĩnh vực của tâm lý học
áp dụng nguyên tắc của tâm lý học lâm sàng và tâm lý học giáo dục để chẩn
Trang 28đoán và điều trị cho trẻ em và thanh thiếu niên có những vấn đề trong hành vi
và học tập.( Wikimedia, 2009).
Tuy nhiên, theo chúng tôi thì khái niệm TLHĐ theo T.S Trần Thị Lệ
Thu thì có vẻ đầy đủ hơn cả “Tâm lý học đường (tâm lý học trường học) là
một chuyên ngành thực hiện công việc đánh giá (phòng ngừa) nhằm phát hiện những học sinh có thể có khó khăn về nhận thức, cảm xúc, xã hội hay hành vi, phát triển và thực hiện các chương trình can thiệp tâm lý cho học sinh; cố vấn cho giáo viên, phụ huynh và các chuyên gia/cán bộ chuyên môn có liên quan; tư vấn cho học sinh; tham gia phát triển và lượng giá chương trình; nghiên cứu, giảng dạy, hỗ trợ và giám sát cho những người đang học nghề” (Kỷ yếu hội thảo “Nhu cầu định hướng và đào tạo tâm lý học
đường tại Việt Nam”, Tr.313)
1.2.3 Khái niệm “Trợ giúp tâm lý học đường”
1.2.3.1 Định nghĩa “Trợ giúp tâm lý học đường”
“Trợ giúp tâm lý học đường” là một hoạt động trợ giúp tâm lý cho họcsinh trong môi trường học đường Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái
niệm “Trợ giúp tâm lý học đường” của TS Nguyễn Thị Minh Hằng : “Trợ
giúp tâm lý học đường là một hệ thống các hoạt động mang tính thực tiễn nhằm tạo ra các điều kiện thuận lợi, tối đa giúp cho học sinh có thể tự quyết định hay giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống học đường của mình theo hướng tích cực để phát triển nhân cách toàn diện”.
1.2.3.2 Nội dung của “trợ giúp tâm lý học đường”
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về các dịch vụ trợ giúp tâm lý họcđường Tuy nhiên, trong luận văn này chúng tôi đưa ra cách hiểu về dịch vụtrợ giúp tâm lý học đường của TS Nguyễn Thị Minh Hằng
Theo TS Nguyễn Thị Minh Hằng thì trợ giúp tâm lý học đường là mộtlĩnh vực ứng dụng của tâm lý học vào trường học, có vai trò trung tâm là trợgiúp cho học sinh, ban giám hiệu, và cha mẹ học sinh Hoạt động trợ giúp tâm
lý thường được hình thành trong khuôn khổ các mô hình chăm sóc về y học –
27
Trang 29tâm lý – giáo dục – xã hội dành cho trẻ em nói chung và học sinh nói riêng bao gồm:
trình phát triển của mình
để các
em có điều kiện thực hiện chúng
những điều kiện tốt, lành mạnh, có lợi cho sự phát triển cả về thể chất và tâmlý
Dịch vụ trợ giúp tâm lý học đường diễn ra trong khuôn khổ của mỗitrường, cơ sở đào tạo Người thực hiện các hoạt động dịch vụ gọi là nhà tâm
hướng cho các nhà tâm lý học đường nhằm:
của học sinh
khi các em gặp khó khăn trong học tập, giao tiếp và những khó khăn khác liênquan
học sinh trong quá trình học tập một cách phù hợp nhất
- Hoạt động dự phòng và phát triển tâm lý: Hoạt động này được tiến
hành với tất cả học sinh trong một trường học nhằm tạo ra những điều kiệntâm lý –xã hội thuận lợi để học sinh có thể phát triển tốt nhất về mọi mặt
và nâng cao được chất lượng cuộc sống tinh thần của mình Hoạt động này
Trang 3028
Trang 31+ Phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu ở học sinh hoặc bồi dưỡng các nhân tài, các thần đồng
- Hoạt động trị liệu tâm lý: Với hoạt động này, nhà tâm lý học đường
trở thành nhà trị liệu cho học sinh, giúp học sinh vượt qua các rỗi nhiễu tâm
lý Song đây không phải là một nhiệm vụ ưu tiên của nhà tâm lý học đườngbởi vì chỉ nhà tâm lý học đường không thì không đủ thẩm quyền chuyên môn
để tiến hành công việc này
- Hoạt động điều phối: Với hoạt động này, học sinh, phụ huynh hoặc
giáo viên sẽ được nhận sự giúp đỡ về xã hội – tâm lý của các cơ sở trợ giúpngoài khuôn khổ trường học Hoạt động này chỉ diễn ra khi học sinh, giáoviên, phụ huynh cần sự trợ giúp đặc biệt vượt ra ngoài chức năng, thẩm quyềncủa nhà tâm lý học đường, khi nhà tâm lý học đường không đủ kiến thức, kinhnghiệm để trợ giúp học sinh, khi nhà tâm lý học đường gặp một vấn đề nào đó
mà sự giải quyết vấn đề ấy chỉ có thể thực hiện được khi ở ngoài
không gian trường học, ngoài các mối quan hệ học đường
1.2.3.3 Yêu cầu đối với nhà tâm lý học đường:
Trang 3229
Trang 33đường tại Việt Nam, tr.490) thì chân dung nhà tâm lý học đường được xem
xét với hai cấu trúc: Những đặc điểm về giá trị và những đặc điểm về năng
lực hoạt động.
Những đặc điểm về giá trị bao gồm:
nhất của thân chủ
xúc và tình cảm của thân chủ
thân chủ
Những đặc điểm về năng lực:
hiểu biết nhất định về kinh tế - xã hội – văn hoá – pháp luật
năng thảo luận, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng phản hồi
nghiệm…
1.2.4 Khái niệm “Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh”
Dựa vào khái niệm “Nhu cầu” và khái niệm “Trợ giúp tâm lý học
đường” chúng tôi cho rằng nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của
học sinh là những mong muốn của các em học sinh được tiếp cận với các hoạt động hỗ trợ tâm lý học đường, để được nâng đỡ về mặt tâm lý, giải toả cảm xúc, tư vấn, hỗ trợ các vấn đề liên quan đến học đường để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển nhân cách toàn diện.
Trang 341.2.5 Khái niệm “Học sinh THPT” và đặc điểm tâm lý của học sinh THPT
1.2.5.1 Khái niệm “Học sinh THPT”
Học sinh phổ thông trung học là những người đang theo học từ lớp 10đến lớp 12 trong bậc phổ thông hệ 12 năm
1.2.5.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh PTTH:
Lứa tuổi học sinh PTTH là lứa tuổi đầu thanh niên (15-16) và thanhniên (17- 18) Đây là lứa tuổi có nhiều thay đổi về mặt sinh lý và tâm lý
Về mặt sinh lý: Tuổi đầu thanh niên là thời kỳ đạt được sự trưởng thành
về mặt thể lực, nhưng sự phát triển cơ thể còn kém so với sự phát triển cơ thểcủa người lớn Tuổi thanh niên bắt đầu thời kỳ phát triển tương đối êm ả vềmặt sinh lý Đa số các em đã vượt qua thời kỳ phát dục và nhìn chung đây làlứa tuổi các em có cơ thể cân đối, khoẻ và đẹp
Về mặt xúc cảm, tình cảm: Chất lượng của các rung động, thể nghiệm
trở nên phong phú hơn, phạm vi các khách thể gây nên sự đáp ứng các xúccảm được mở rộng rõ rệt, xúc cảm được phân hoá, khả năng tự kiểm soát và
tự điều chỉnh xúc cảm, hành vi của học sinh cũng được hình thành Các embắt đầu có những rung động sâu sắc đối với các quan hệ qua lại trong giađình, trong sinh hoạt, trong nhà trường
Trong quan hệ tình cảm gia đình thì gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến
sự phấn đấu, sự phát triển nhân cách của các em Do ảnh hưởng giáo dục và
sự trợ giúp của gia đình về các mặt, cuộc sống tình cảm của các em phát triển
Quan hệ bạn bè ở lứa tuổi này giữ vai trò quan trọng trong đời sống tìnhcảm của các em Tình bạn bền vững sâu sắc và ổn định hơn so với lứa tuổithiếu niên Bạn bè đối với các em trở thành chỗ dựa tinh thần hết sức quantrọng, là chỗ tâm tình thổ lộ những vướng mắc thầm kình Lời khuyên của bạnnhiều khi có ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyết những vấn đề quantrọng của các em
31
Trang 35Đặc biệt ở lứa tuổi này tình bạn khác giới, tình yêu nam nữ xuất hiện.Tình cảm lúc này thường mang tính lãng mạn thơ mộng Nhà trường và giađình cần quan tâm cung cấp cho các em những kiến thức về giáo dục giớitính.
Về đặc điểm phát triển xã hội:
Đây là thời kỳ hình thành người công dân trong mỗi người, là thời kỳ tựxác định về mặt xã hội, thời kỳ gia nhập tích cực vào cuộc sống xã hội, hìnhthành những phẩm chất tinh thần của người công dân Ở lứa tuổi này, sự tự ýthức của học sinh phổ thông trung học mang một tính chất mới về chất, đượcgắn với nhu cầu nhận thức và đánh giá các phẩm chất tâm lý – đạo đức trongnhân cách của mình trên các bình diện cả mục đích và nguyện vọng cụ thểtrong cuộc sống
Thanh niên có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm lý củamình theo quan điểm về mục đích cuộc sống và hoài bão của mình Chínhđiều này khiến các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, phẩm chất nhâncách và năng lực riêng
Thanh niên không chỉ đánh giá những cử chỉ, hành vi riêng lẻ, từngthuộc tính riêng biệt, mà biết đánh giá nhân cách mình nói chung trong toàn
bộ những thuộc tính nhân cách
Thanh niên không chỉ có nhu cầu đánh giá mà còn có khả năng đánhgiá sâu sắc và tốt hơn thiếu niên về những phẩm chất, mặt mạnh, mặt yếu củanhững người cùng sống và của chính mình
Tuổi thanh niên mới lớn là lứa tuổi quyết định của sự hình thành thếgiới quan - hệ thống quan điểm về xã hội, về tự nhiên, về các nguyên tắc vàquy tắc cư xử…Chỉ số đầu tiên của sự hình thành thế giới quan là sự pháttriển của hứng thú nhận thức đối với những vấn đề thuộc nguyên tắc chungnhất của vũ trụ, những quy luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và của sự tồn tại
xã hội loài người Việc hình thành thế giới quan không chỉ giới hạn ở tính tíchcực nhận thức mà còn thể hiện ở phạm vi nội dung nữa Học sinh mới lớn
Trang 36quan tâm nhiều nhất đến các vấn đề liên quan đến con người, vai trò của conngười trong lịch sử, quan hệ giữa con người và xã hội, giữa quyền lợi vànghĩa vụ, nghĩa vụ và tình cảm Họ thường đặt câu hỏi cuộc sống của mình có
ý nghĩa xã hội như thế nào
Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong sự phát triển tâm lýcủa tuổi thanh niên học sinh
Sự phát triển của ý thức nghề nghiệp và sự chuẩn bị cho cuộc sống tương lai
Việc lựa chọn nghề nghiệp đã trở thành công việc khẩn thiết của họcsinh Càng cuối cấp học thì sự lựa chọn càng nổi bật Các em hiểu rằng cuộcsống tương lại phụ thuộc vào chỗ mình có biết lựa chọn nghề nghiệp một cáchđúng đắn hay không Việc quyết định một nghề nào đó ở nhiều em đã có căn
cứ Nhiều em biết so sánh đặc điểm riêng về thể chất, tâm lý, khả năng củamình với yêu cầu nghề nghiệp, dù sự hiểu biết của các em về yêu cầu củanghề nghiệp là chưa đầy đủ
Thanh niên học sinh còn định hướng một cách phiến diện vào việc họctập ở đại học Đại đã số các em hướng dần vào các trường đại học hơn là họcnghề, các em chưa chú ý đến yêu cầu của xã hội đối với các ngành nghề khácnhau và mức độ đào tạo của các nghề khi quyết định nghề nghiệp tương laicho mình Điều là là do công tác hướng nghiệp trong nhà trường và đoàn thểcòn nhiều thiếu sót (Lê Văn Hồng, 2001)
Rõ ràng, với những đặc điểm về tâm lý như vậy, lứa tuổi học sinh phổthông rất dễ gặp phải những khó khăn tâm lý nảy sinh trong cuộc sống Sựđịnh hướng giúp đỡ của gia đình, nhà trường, xã hội, của các hình thức trợgiúp tâm lý học đường khi gặp khó khăn các em sẽ giúp các em có nghi lực,
có niềm tin và phát triển nhân cách toàn diện hơn Chính vì vậy, việc nghiêncứu nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh THPT sẽ giúpchúng ta có cái nhìn rõ ràng hơn về những khó khăn tâm lý mà các em gặpphải, các em cần sự trợ giúp tâm lý nào và hình thức trợ giúp tâm lý ra sao…
33
Trang 371.2.5.3 Những khó khăn tâm lý mà học sinh THPT thường gặp phải
Có rất nhiều cách phân loại các khó khăn tâm lý Trong khuôn khổ luậnvăn này chúng tôi chỉ đưa ra hai cách phân loại các KKTL mà thường đượcnhắc đến nhiều nhất Theo TS Nguyễn Thi Minh Hằng thì có thể phân loạiKKTL theo hai tiêu chí sau:
* Thứ nhất là theo tính chất của khó khăn thì có bốn nhóm KKTL chính
đó là:
học tập, kết quả học tập thấp
hành vi như đánh bạn, cãi nhau, xâm phạm tài sản
Có các dạng rối nhiễu hành vi học đường như sau:
+ Các hành vi liên quan đến hoạt động học tập: bỏ học, trốn tiết, không
làm hoặc không làm đầy đủ bài tập, không ghi chép bài, nói chuyện riêngtrong giờ học, phá rối, chọc bạn, bày trò nghịch ngợm
+ Các hành vi xâm kích/vi phạm nội quy học đường như nói tục, chửi
bậy, xâm phạm tài sản chung của trường lớp, đe doạ bạn, đe doạ giáo viên, cãibạn/chửi thầy cô giáo, đánh bạn, đánh thầy cô giáo, ăn mặc lỗ lăng, hở hangkhông phù hợp với văn hoá học đường, để kiểu tóc kỳ dị không phù hợp vớilứa tuổi và văn hoá học đường, mua/bán các đồ dùng, vận dụng trong trườnghọc, mang đến trường những vận dụng bị cấm (dao, kiếm )
+ Các hành vi phi xã hội (phạm pháp) như ăn trộm, ăn cướp, mua/bán
các chất gây nghiện, môi giới mại dâm, hành nghề mại dâm, đua xe máy, làmmất trật tự trị an đường phố, tàng trữ, mua/bán các loại vũ khí
+ Các hành vi rối nhiễu khác: Bỏ nhà đi, nghiện rượu, nghiện ăn/chán
ăn, nghiện game online, sử dụng ma tuý, quan hệ tình dục bừa bãi, toan tự tử,
tự tử
- Khó khăn trong các mối quan hệ: thầy cô, bạn bè, người khác
Trang 38- Khó khăn có nguyên nhân từ gia đình: Không được bố mẹ chăm sóc,
có bất hoà trong gia đình, có mâu thuẫn, xung đột với bố mẹ, chị em, gia đìnhkhông hoàn thiện, ly tán, ly hôn
Thứ hai là dựa vào tiêu chí lứa tuổi / bậc học:
trường mới, khó khăn trong việc tách mẹ
học, khó khăn trong việc hình thành các kỹ năng tiền học đường
môi trường học đường mới, thường khó khăn của học sinh liên quan đến họctập như vụng đọc, vụng viết, tăng động giảm chú ý
vấn đề
về hành vi do nhân cách hình thành mạnh Xuất hiện mâu thuẫn giữa mongmuốn của bản thân và khả năng hiện có, mâu thuẫn giữa xu hướng muốn độclập và sự kiểm soát của cha mẹ, thầy cô giáo, người lớn nói chung
khăn trong việc định hướng nghề nghiệp tương lai
Dựa trên những tiêu chí phân loại KKTL ở trên chúng tôi cũng đưa ra bốn nhóm KKTL mà học sinh THPT thường gặp phải đó là:
về bản thân, luôn cảm thấy buồn rầu, hay giận dỗi, cãi nhau vô cớ
khó khăn trong việc ghi nhớ, vận dụng kiến thức đã học
học sinh với bạn bè, với cha mẹ, thầy cô, với làng xóm láng giềng
Đây cũng chính là bốn nhóm KKTL chính mà chúng tôi sẽ tiến hành điều tra thực tiễn
35
Trang 391.3 Các tiêu chí để đánh giá nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh
Để đánh giá nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinhTHPT chúng tôi đưa ra ba tiêu chí để đánh giá:
- Nhóm học sinh có nhu cầu cao: Đó là những học sinh đã tìm đến với
các dịch vụ trợ giúp tâm lý học đường hoặc có xu hướng chắc chắn sẽ tìm đếnvới các dịch vụ trợ giúp tâm lý học đường trong tương lai Tần suất lựa chọnmong muốn và rất mong muốn được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh
là hơn 60%
- Nhóm học sinh có nhu cầu trung bình: Đó là những học sinh còn
lưỡng lự, băn khoăn khi tìm đến với các dịch vụ tâm lý học đường Tần suấtlựa chọn nhu cầu trợ giúp là từ 40% đến 60%
- Nhóm học sinh có nhu cầu thấp: Đó là những học sinh cho rằng các
dịch vụ trợ giúp tâm lý học đường là chưa thật sự cần thiết, các em có nhu cầuđược trợ giúp chưa cao Tần suất lựa chọn mong muốn được trợ giúp tâm lýhọc đường là dưới 40%
(Tiêu chí đánh giá dựa theo điểm trung bình sẽ được chúng tôi trìnhbày rõ ở phần phương pháp nghiên cứu)
Dựa vào những tiêu chí đánh giá này, chúng tôi sẽ tiến hành điều trathực tiễn để đánh giá nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinhTHPT Bắc Ninh
Tóm lại, nghiên cứu “nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học
sinh THPT Bắc Ninh” được chúng tôi cụ thể hoá bằng các tiêu chí sau đây:
- Nghiên cứu thực trạng những khó khăn tâm lý của học sinh + Thực trạng những khó khăn tâm lý học đường của học sinh
+ Các phương thức giải quyết khó khăn tâm lý học đường của học sinh
- Nhận thức của học sinh đối với các dịch vụ trợ giúp tâm lý học đường
- Nhu cầu của học sinh đối với các dịch vụ trợ giúp tâm lý học
Trang 4036