DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆUBảng 3.1: Nhận thức của sinh viên về các giá trị của nghề dạy họcBảng 3.2: Nhận thức của sinh viên về các phẩm chất cần thiết của giáo viênBảng 3.3: Nhận thức của si
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn: PGS TS Lê Thị Minh Loan
Hà Nội-2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sựhướng dẫn của PGS.TS Lê Thị Minh Loan Các số liệu, kết quả trong luậnvăn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 22 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Hà Thị Minh Đức
Trang 3Lêi c¶m ¬n
Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡnhiệt tình, có hiệu quả của rất nhiều tập thể và các cá nhân Tôi xin được trântrọng cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo đã quan tâm tạo điều kiện thuậnlợi, nhiệt tình ủng hộ giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này
Đặc biệt, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS LêThị Minh Loan, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ và kịp thờikhích lệ động viên tôi trong việc hoàn thiện luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã cổ vũ động viên tôi trongsuốt thời gian học tập vừa qua
Tuy nhiên bởi lý do có hạn về mặt thời gian và khả năng của bản thân
mà đề tài nghiên cứu của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy rấtmong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, bạn bè, đồngnghiệp và những ai quan tâm đến đề tài này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Học viên
Hà Thị Minh Đức
Trang 4DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆUBảng 3.1: Nhận thức của sinh viên về các giá trị của nghề dạy học
Bảng 3.2: Nhận thức của sinh viên về các phẩm chất cần thiết của giáo viênBảng 3.3: Nhận thức của sinh viên về các năng lực cần thiết của giáo viênBảng 3.4: Nhận thức của sinh viên về tính chất của nghề dạy học
Bảng 3.5: Nhận thức của sinh viên về đối tượng của nghề dạy học
Bảng 3.6: Nhận thức của sinh viên về công cụ của nghề dạy học
Bảng 3.7: Nhận thức của sinh viên về sản phẩm của nghề dạy học
Bảng 3.8: Tổng hợp mức độ nhận thức về nghề dạy học của sinh viên trường Cao đẳng Tuyên Quang
Bảng 3.9: Mức độ rèn luyện của sinh viên để đáp ứng được yêu cầu của nghề dạy học
Bảng 3.10: Tác động của nhận thức đến khả năng lựa chọn lại nghề nghiệp của sinh viên
Bảng 3.11: Ảnh hưởng của sự nỗ lực của bản thân đến nhận thức nghề dạy học của sinh viên
Bảng 3.12: Mức độ tìm hiểu của sinh viên trước khi vào trường
Bảng 3.13: Ảnh hưởng của phương tiện truyền thông đại chúng đến nhận thức nghề dạy học của sinh viên
Bảng 3.14: Ảnh hưởng của chính sách xã hội đến nhận thức nghề dạy học củasinh viên
Bảng 3.15: Ảnh hưởng của hoạt động giáo dục nghề nghiệp tại Trường Cao đẳng Tuyên Quang đến nhận thức nghề dạy học của sinh viên
Trang 5ĐLC
Đoàn TNCS HCM:ĐTB
SL
SV
THCS
Trang 61.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1 Khái niệm nhận thức
1.2.2 Khái niệm nghề dạy học
1.2.3 Nhận thức của sinh viên về nghề dạy học
1.2.4 Một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến nhận thức về nghề dạy họcdạy học của sinh viên
Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Một vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu
2.2 Các phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
2.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
2.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
2.2.4 Phương pháp quan sát
2.2.5 Phương pháp thống kê toán học
2.3 Thời gian, tiến trình nghiên cứu
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN
3.1 Thực trạng nhận thức về nghề dạy học của sinh viên trường Caođẳng Tuyên Quang
3.1.1 Mức độ nhận thức về các giá trị nghề dạy học của sinh viên trườngCao đẳng Tuyên Quang
3.1.2 Mức độ nhận thức về những yêu cầu đặc điểm nhân cách đối vớingười giáo viên của sinh viên trường Cao đẳng Tuyên Quang
3.1.3 Mức độ nhận thức về các đặc điểm đặc trưng trong nghề dạy họccủa sinh viên trường Cao đẳng Tuyên Quang
3.1.4 Tổng hợp mức độ nhận thức về các mặt của nghề dạy học của sinhviên trường Cao đẳng Tuyên Quang
3.2 Mối quan hệ giữa nhận thức về nghề dạy học với xu hướng hành vicủa sinh viên trường Cao đẳng Tuyên Quang
3.2.1 Mối quan hệ giữa nhận thức về nghề dạy học với mức độ rèn luyệncủa bản thân sinh viên
3.2.2 Mối quan hệ giữa nhận thức về nghề dạy học với khả năng lựa
Trang 7chọn lại nghề của sinh viên
3.3 Đánh giá của sinh viên đối với một số yếu tố ảnh hưởng đến nhậnthức về nghề dạy học của bản thân
3.3.1 Ảnh hưởng của sự nỗ lực của bản thân đến nhận thức về nghề dạyhọc dạy học của sinh viên
3.3.2 Ảnh hưởng của việc tìm hiểu về nghề trước khi vào học của sinhviên trường Cao đẳng Tuyên Qang
3.3.3 Ảnh hưởng của phương tiện truyền thông đại chúng đến nhận thức
về nghề dạy học dạy học của sinh viên
3.3.4 Ảnh hưởng của chính sách xã hội đến nhận thức về nghề dạy họcdạy học của sinh viên
3.3.5 Ảnh hưởng của hoạt động giáo dục nghề nghiệp tại nhà trường Caođẳng Tuyên Quang đến nhận thức về nghề dạy học dạy học của sinh viênKẾT LUẬN
KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
2
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Nhận thức được Tâm lý học Mác xít xem là một trong ba mặt cơ bảncủa đời sống tâm lý con người, có mối liên hệ chặt chẽ với thái độ và hành vi.Trong đó, nhận thức vừa là cơ sở, vừa là điều kiện, tiền đề, phương tiện hìnhthành thái độ và hành vi Vì vậy, nhận thức luôn là đối tượng của nhiều côngtrình nghiên cứu Tâm lý học, Giáo dục học
Đối với sinh viên trường Cao đẳng Tuyên Quang, là những giáo viêntrong tương lai, trực tiếp đảm nhận công việc đào tạo thế hệ trẻ, đào tạo mộtlớp người phục vụ cho sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá của đấtnước Để làm được điều đó, cần một đội ngũ giáo viên có đủ các năng lực vàphẩm chất nhân cách để đáp ứng được yêu cầu của xã hội, thực sự hiểu được
vị trí, vai trò, của nghề; có nhận thức đúng đắn về nghề dạy học Nếu nhưtrong thời gian ngồi trên ghế nhà trường mà sinh viên không có nhận thứcđúng đắn, đầy đủ về nghề thì sẽ tạo ra những giáo viên hoặc không có đủ nănglực nghề hoặc không có tình yêu, tâm huyết với nghề, thiếu niềm tin trongnghề dạy học
Trường Cao đẳng Tuyên Quang được thành lập chính thức từ năm 1999.Lịch sử phát triển của nhà trường luôn đảm bảo vai trò là “cỗ máy cái” trongviệc đào tạo đội ngũ giáo viên cho tỉnh Tuyên Quang và các tỉnh lân cận Đặcbiệt trong những năm gần đây, lượng đăng ký dự tuyển vào trường tăng rõ rệt vàcác em đến từ nhiều tỉnh, thành phố khác nhau trên toàn quốc, nhưng khi vàohọc tại trường, các em đã nhận thức đúng đắn về nghề của mình hay chưa vàliệu các em có nguyện vọng gắn bó với sự nghiệp giáo dục hay không? Do đó,việc tiến hành tìm hiểu thực trạng nhận thức về nghề dạy học của sinh viêntrường Cao đẳng Tuyên Quang từ đó có biện pháp giúp sinh viên có nhận thứcđúng đắn, sâu sắc về nghề là rất quan trọng và cần thiết
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Nhận thức vềnghề dạy học của sinh viên trường Cao đẳng Tuyên Quang” làm luận văn tốtnghiệp này
Trang 92 Mục đích nghiên cứu.
Phân tích thực trạng nhận thức về nghề dạy học của sinh viên trườngCao đẳng Tuyên Quang, chỉ ra một số yếu tố chủ quan và khách quan ảnhhưởng đến nhận thức đó và đưa ra một số kiến nghị để nâng cao nhận thức vềnghề dạy học của sinh viên
3 Đối tượng nghiên cứu.
Biểu hiện và mức độ nhận thức về nghề dạy học của sinh viên trườngCao đẳng Tuyên Quang
4. Nhiệm vụ nghiên cứu.
4.1 Tổng hợp các công trình nghiên cứu có liên quan đến nhận thức,nhận thức về nghề dạy học;
4.2 Xây dựng các khái niệm cơ bản của đề tài;
4.3 Khảo sát biểu hiện và mức độ nhận thức về nghề dạy học của sinhviên trường Cao đẳng Tuyên Quang và phân tích một số yếu tố tác động đếnnhận thức;
4.4 Đề xuất một số kiến nghị để nâng cao nhận thức về nghề dạy họcnghiệp của sinh viên
5. Khách thể, phạm vi nghiên cứu.
303 sinh viên trường Cao đẳng Tuyên Quang
6 Giả thuyết nghiên cứu.
Đa số sinh viên trường Cao đẳng Tuyên Quang đã có nhận thức chínhxác, đầy đủ về các mặt biểu hiện của nghề dạy học (giá trị nghề, đặc điểmnhân cách đáp ứng yêu cầu của nghề, đặc điểm đặc trưng của nghề) Trong
đó, các đặc điểm nhân cách đối với người giáo viên được sinh viên nhận thứcđầy đủ, chính xác nhất Tuy nhiên, một số mặt còn chưa được sinh viên nhậnthức một cách rõ ràng Mức độ nhận thức về nghề dạy học của sinh viên phụthuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó các yếu tố chủ quan
4
Trang 10là sự nỗ lực rèn luyện của bản thân sinh viên, yếu tố khách quan cơ bản là việc cung cấp thông tin nghề nghiệp của nhà trường Cao đẳng Tuyên Quang.
7 Phương pháp nghiên cứu:
7.1 Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu
7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
7.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
7.4 Phương pháp quan sát
7.5 Phương pháp thống kê toán ọc
Trang 11Vấn đề nhận thức và nhận thức về nghề dạy học nghiệp của học sinh,
SV là một vấn đề phức tạp và rất phong phú Trong những năm gần đây, vấn
đề nhận thức đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Với mỗi công trìnhnghiên cứu về nhận thức về nghề dạy học nghiệp được xem xét ở mỗi góc độkhác nhau Có công trình trực tiếp nghiên cứu về nhận thức về nghề dạy học,
có những công trình nghiên cứu gián tiếp hoặc có liên quan đến một khía cạnhnào đó của vấn đề nhận thức về nghề dạy học
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài:
Trong tác phẩm Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm của mình,tác giả A.V Pêtrôpxki cho rằng sự lựa chọn nghề nghiệp của học sinh có liênquan đến sự hiểu biết về nghề nghiệp Những kết quả nghiên cứu của ông đãchỉ ra rằng chính tính chất sáng tạo của nghề, ý nghĩa xã hội của nghề là mộttrong những yếu tố đã hấp dẫn học sinh lựa chọn nghề đó [24]
Theo quan điểm của tác giả V.A Cruchetxki trong tác phẩm “Những cơ
sở của tâm lý học sư phạm - tập 2” thì sự kết hợp giữa nguyện vọng, khả năngcủa cá nhân và ý nghĩa xã hội của nghề nghiệp trong sự lựa chọn nghề đó lànhững yếu tố giúp cho quá trình chọn nghề đạt hiệu quả [2]
Cùng quan điểm với tác giả V.A Cruchetxki, tác giả V.V Trêbuseva đãnhận xét: “Học sinh chọn nghề nhưng chưa hiểu đầy đủ ý nghĩa của việc lựachọn đó, khi không có đầy đủ các kiến thức về ngành nghề đã chọn và ngoài
sự hiểu biết đó dù là tối thiểu về nghề đã chọn, còn cần phải đối chiếu vớinhững đặc điểm cá nhân mình với những yêu cầu mà nghề đó đề ra và đó làđiều học sinh thường không tính đến” [25, tr.31]
6
Trang 12Nhìn chung, trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu đến giá trị
và định hướng giá trị nghề nghiệp của thanh niên nhằm chuẩn bị sẵn sàngbước vào cuộc sống
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về nhận thức về nghề dạy học của thanhniên, học sinh và SV không còn là một vấn đề mới mẻ, có những đề tài nghiêncứu về chủ đề có liên quan đến nhận thức về nghề dạy học như: xu hướngnghề của thanh niên có liên quan đến nhận thức về nghề dạy học, việc chọnnghề cũng ít nhiều liên quan đến nhận thức về nghề dạy học của thanh niên,học sinh những đề tài nghiên cứu về nhận thức về nghề dạy học nghiệp của
SV, đặc biệt nhận thức về nghề dạy học của SV còn hạn chế
Năm 1965 – 1966, tác giả Nguyễn Ánh Tuyết nghiên cứu sự lựa chọnnghề nghiệp của học sinh lớp 10 đã chỉ ra mối quan hệ giữa nhận thức về vịtrí của các nghề trong xã hội và nguyện vọng chọn nghề của học sinh: nhậnthức về vị trí xã hội của nghề có ảnh hưởng lớn đến nguyện vọng chọn nghềcủa các em
Cuối những năm 60, đầu những năm 70 của thế kỷ XX, các tác giảPhạm Tất Dong, Lê Đức Phúc… đã nghiên cứu về nguyện vọng nghề của họcsinh, kết quả cho thấy nhận thức về nghề là yếu tố quan trọng trong các nhân
tố tác động đến sự hình thành xu hướng nghề của học sinh
Các công trình nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Thị Xuân Hòa,Nguyễn Thị Bích Hồng, Phạm Thị Dung vào những năm 1986 - 1987 đã đềcập đến lý do chọn nghề của học sinh lớp 12, trong đó sự hiểu biết về nghề là
lý do chủ yếu
- Bên cạnh đó, có một số đề tài, công trình nghiên cứu về giá trị và giá trị nghề nghiệp của học sinh, thanh niên, tiêu biểu là:
- Theo tài liệu công bố năm 1995, tác giả Thái Duy Tuyên đã nghiên
cứu công trình cấp nhà nước về: “Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường” Trong đó ông chỉ ra rằng tâm
Trang 13trạng xã hội của thanh niên về nghề nghiệp vừa là sự phản ánh vị thế xã hộicủa tầng lớp này, vừa là sự phản ánh yêu cầu của xã hội đối với hoạt độngnghề nghiệp của thanh niên Cơ chế thị trường cho thanh niên tự do lựa chọnnghề nghiệp và việc làm lớn hơn so với trước đây Sự tự do chọn nghề kéotheo sự tự do tìm việc Do đó, thanh niên không ngừng hoàn thiện năng lựcchuyên môn Thanh niên có xu hướng chọn nghề theo công việc, họ quan tâmđến việc làm nhiều hơn là quan tâm đến lựa chọn nghề mình hứng thú Xuhướng của thanh niên là biết nhiều nghề, giỏi một nghề, có ý chí vươn lêntăng thu nhập cho bản thân.[27]
Trong công trình nghiên cứu “Thực trạng định hướng giá trị nghề nghiệp của học sinh các trường trung cấp dạy nghề trong giai đoạn hiện nay”
được công bố năm 1995 của tác giả Đặng Trường Xuân cũng chỉ ra rằng việcchọn nghề của học sinh hiện nay mang tính thực dụng như: cơ hội việc làm,thu nhập tiềm năng, môi trường làm việc…, ít học sinh chú ý tới nội dung, ýnghĩa và giá trị xã hội của nghề nghiệp cũng như sự phù hợp của nghề nghiệpvới xu hướng, nguyện vọng của bản thân [30]
Tác giả Đỗ Long (1999) với đề tài “Định hướng giá trị và sự phát triển của thế hệ trẻ” đã đánh giá những mặt tích cực và hạn chế khi so sánh định
hướng giá trị mới của thế hệ trẻ Việt Nam với hệ giá trị truyền thống trướcđây Tác giả nhấn mạnh, tính thiết thực trong định hướng giá trị của thế hệ trẻngày nay không chỉ giới hạn ở những đảm bảo về vật chất mà cả những tiến
bộ về tinh thần, học vấn và tay nghề Thế hệ trẻ cũng có xu hướng độc lập vớigia đình sớm hơn trước đây [19]
Tác giả Lê Hương (2006) trong nghiên cứu “Một số nét tâm lý đặc trưng của lứa tuổi thanh niên” cho rằng lứa tuổi thanh niên có đặc điểm là: hình
thành biểu tượng "cái tôi” có tính hệ thống; Hình thành thế giới quan; nảysinh cảm nhận về "tính chất người lớn" của bản thân [8]
Trên cơ sở cách tiếp cận tâm lý xã hội trong “Một số nét tâm lý đặc trưng về định hướng giá trị của thanh niên hiện nay” tác giả Đỗ Ngọc Hà
8
Trang 14(2006) đã phân chia định hướng giá trị của thanh niên theo cấu trúc: giá trị xãhội và giá trị đối với cuộc sống hàng ngày Với cách phân chia như vậy, tácgiả cũng đã chỉ ra nhiều giá trị đã có sự thay đổi so với truyền thống như viêccoi trọng yếu tố học vấn, nghề nghiệp, coi trong tự do cá nhân, ít lệ thuộc vàogiáo dục gia đình [4]
Phần lớn các để tài nghiên cứu ở trên đã nghiên cứu những vấn đề cóliên quan đến nhận thức về nghề dạy học của thanh niên, học sinh Cho đếnnay, số lượng công trình đi sâu nghiên cứu về vấn đề nhận thức về nghề dạyhọc của SV các trường sư phạm còn chưa phổ biến Chính vì lẽ đó, với việclựa chọn vấn đề nhận thức về nghề dạy học của SV, chúng tôi hy vọng nghiêncứu này sẽ góp phần vào việc giáo dục và nâng cao nhận thức về nghề dạyhọc cũng như lòng yêu nghề cho SV, qua đó nâng cao chất lượng đào tạonghề sư phạm - vốn là truyền thống, là thế mạnh của nhà trường Cao đẳngTuyên Quang trước đây - Đại học Tân Trào ngày nay
1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài
Các nhà Tâm lý học theo quan điểm này cho rằng: Nhận thức là sựphản ánh chủ quan của thế giới khách quan Có hai cấp độ phản ánh: Cấp độ
Trang 15cảm tính và cấp độ lý tính, kết quả của phản ánh cảm tính là những hình ảnhcảm tính, kết quả của phản ánh lý tính là khái niệm.
Xét từ góc độ hoạt động; nhận thức là một hoạt động Các nhà Tâm lýhọc theo quan điểm này cho rằng hoạt động nhận thức bao gồm nhiều hànhđộng nhằm chuyển các hoạt động vật chất bên ngoài thành những hoạt độngtâm lý ở bên trong, qua đó con người nhận thức thế giới Hoạt động nhận thứcbao gồm một chuỗi hoạt động liên tục cảm giác, tri giác, tư duy cho kết quả lànhững tri thức
Hoạt động nhận thức có hai dạng: hoạt động nhận thức cảm tính và hoạtđộng nhận thức lý tính Hoạt động nhận thức cảm tính bao gồm hoạt độngcảm giác, tri giác; hoạt động nhận thức lý tính bao gồm hoạt động tư duy,tưởng tượng Kết quả của hoạt động cảm tính là hình ảnh cảm tính, kết quảcủa hoạt động lý tính là khái niệm
Hoạt động nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính có quan hệ chặt chẽvới nhau, bổ xung cho nhau, chi phối lẫn nhau trong cùng một hoạt động nhậnthức thống nhất của con người [5]
Xét từ góc độ thông tin; nhận thức được xem là một quá trình lĩnh hộithông tin
Các nhà Tâm lý học theo quan điểm này cho rằng: Nhận thức là mộtquá trình lĩnh hội, tiếp nhận thông tin và biến nó thành tri thức của bản thân
Về đối tượng của hoạt động nhận thức: đó không chỉ là những thuộctính của sự vật hiện tượng vốn có trong thế giới khách quan mà còn là cảnhững sự vật hiện tượng do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động
và giao tiếp, có nghĩa là con người nhận thức cả thế giới khách quan và bảnthân mình, cả những sự vật cụ thể và những sự vật, hiện tượng trừu tượng
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi xác định sẽ đi sâu nghiên cứu kếtquả của quá trình nhận thức và biểu hiện ra bên ngoài của nhận thức
Chúng tôi nhận thấy rằng, sản phẩm của nhận thức không chỉ dừng lại
ở việc hiểu một sự vật, hiện tượng nào đó, mà còn là việc vận dụng sự hiểu
10
Trang 16biết đó vào cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội Từ đó, chúng tôi xây dựng kháiniệm về nhận thức như sau:
Nhận thức là một quá trình liên tục mà kết quả của nó là con người có thể đạt tới mức độ hiểu biết khác nhau từ thấp đến cao, từ nông đến sau, từ đơn giản đến phức tạp, từ diện hẹp đến diện rộng, từ không đầy đủ và không chính xác đến đầy đủ và chính xác hơn, từ đó con người vận dụng những hiểu biết vào giải quyết những vấn đề khác nhau của cuộc sống.
1.2.1.2 Đặc điểm của nhận thức.
Ở con người, quá trình nhận thức luôn được gắn với mục đích và động
cơ nhất định nên nhận thức được xem như một hoạt động
Đặc trưng nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là tri thức về hiện thựckhách quan Nó không chỉ là những tri thức về các thuộc tính bên ngoài màcòn là tri thức về các thuộc tính bên trong của sự vật hiện tượng
Nhận thức là hoạt động khám phá thế giới xung quanh của chủ thể,nhằm tìm ra chân lý hay sự thật về những thuộc tính và quy luật khách quancủa sự vật hiện tượng Nhận thức đúng làm cơ sở cho tình cảm, ý chí, quanđiểm, lập trường tư tưởng và có hành động đúng
Nhận thức mang bản chất xã hội - lịch sử: Hoạt động nhận thức luônphải dựa vào những kinh nghiệm, những tri thức đã có, dựa vào kinh nghiệmcủa nhân loại đã tích luỹ được từ trước đó, bao gồm trong đó cả ngôn ngữ.Quá trình nhận thức được thúc đẩy bởi nhu cầu của xã hội, nghĩa là ý nghĩcủa con người được hướng vào giải quyết các vấn đề bức xúc xã hội đặt ra.Nhận thức của con người mang tính chất lịch sử, bởi bề rộng của sự khái quát
và chiều sâu của việc phát hiện ra bản chất của sự vật hiện tượng được quyđịnh không chỉ bởi khả năng của cá nhân, mà còn bởi kết quả của hoạt độngnhận thức mà loài người đã đạt được (kinh nghiệm xã hội, lịch sử)
Như vậy, tri thức của mỗi người được hình thành và phát triển trongquá trình hoạt động nhận thức tích cực của bản thân họ, nhưng nội dung và
Trang 17tính chất của tri thức được quy định bởi trình độ nhận thức chung, tồn tạitrong một giai đoạn phát triển của xã hội tại thời điểm đó.
1.2.1.3 Các mức độ của nhận thức
Có nhiều cách xác định khác nhau về mức độ nhận thức Nếu xét theoquan điểm triết học, nhận thức là quá trình với những giai đoạn và hình thứckhác nhau
* Quan điểm Tâm lý học Mac xít về các mức độ của nhận thức:
Theo quan điểm Tâm lý học Mac xít, hoạt động nhận thức của conngười được chia thành nhiều mức độ khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giảnđến phức tạp, từ nhận biết các đặc điểm bên ngoài, chưa bản chất đến việc chỉ
ra được những đặc điểm bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trongcủa sự vật hiện tượng, từ chưa đầy đủ đến đầy đủ, từ nhận thức cảm tính đếnnhận thức lý tính [5,29]
Nhận thức cảm tính gồm hai quá trình: cảm giác và tri giác, đặc điểmchủ yếu của nhận thức cảm tính là nó chỉ phản ánh được các thuộc tính bênngoài, không bản chất, cụ thể của sự vật hiện tượng, chứ chưa phải là thuộctính bên trong, có tính quy luật của sự vật hiện tượng Phương thức phản ánhcủa nhận thức cảm tính là phản ánh trực tiếp bằng các giác quan chứ chưamang tính gián tiếp, khái quát bằng ngôn ngữ Do đó, sản phẩm của nhận thứccảm tính là những hình ảnh cụ thể, trực quan về thế giới chứ chưa phải là kháiniệm và quy luật về thế giới
Nhận thức lý tính gồm hai quá trình: tư duy và tưởng tượng Đặc điểmnổi bật của nhận thức lý tính là mức thang nhận thức cao, mới về chất so vớinhận thức cảm tính, nhưng nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là haimức độ khác nhau nhưng không tách rời nhau mà chúng có quan hệ chặt chẽ,
bổ sung cho nhau, chi phối lẫn nhau trong hoạt động nhận thức thống nhất.Mặc dù ở mức độ nhận thức cao hơn nhưng nhận thức lý tính vẫn phụ thuộcvào nhận thức cảm tính Nhận thức lý tính thường bắt đầu từ nhận thức cảmtính Ngược lại, nhận thức lý tính và sản phẩm của nó cũng ảnh hưởng và triphối đến tính lựa chọn, tính có ý nghĩa và ổn định của tri giác
12
Trang 18Như vậy, hoạt động nhận thức đem lại hiểu biết cần thiết về sự vật,hiện tượng Trong nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới những mức độnhận thức khác nhau từ chưa biết đến biết, từ biết bề ngoài đến biết bản chấtbên trong, từ thấp đến cao, từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính Nhậnthức cảm tính và nhận thức lý tính có quan hệ chặt chẽ, chi phối và bổ sunglẫn nhau.
Bàn về vấn đề nhận thức, V.I.Lênin đã vạch rõ quy luật chung nhất của
hoạt động nhận thức trong tác phẩm “Bút ký triết học”: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” [15, tr.189].
Về mức độ nhận thức, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã cho rằng: vấn đề
mọi người tiếp thu cái gì, nhận thức cái gì cần phải: "hiểu kỹ, nhớ lâu, vận dụng tốt" những vấn đề đặt ra; công tác huấn luyện cán bộ cần đạt được mục tiêu: "hiểu kỹ, nhớ lâu, vận dụng tốt" Người đã viết: "Tri thức là hiểu biết muốn trở thành người tri thức hoàn toàn, thì phải đem cái tri thức đó
mà áp dụng vào cuộc sống" [21, tr.235]
* Quan điểm của B.S.Bloom về đánh giá các mục tiêu nhận thức
B.S Bloom là nhà sư phạm người Mỹ, ông và cộng sự đã biên soạn tài
liệu "Hệ phân loại các mục tiêu sư phạm, lĩnh vực nhận thức" trong đó đã
đưa ra 3 lĩnh vực đánh giá: Nhận thức, thái độ, hành vi Ông chia nhận thứcthành nhiều mức độ phát triển khác nhau từ thấp đến cao, mỗi mức độ đặctrưng cho một hoạt động trí tuệ [22, tr.22] đó là:
Mức 1: Biết: Là việc đưa vào trí nhớ và phục hồi lại thông tin của cùng
một đối tượng nhận thức, ghi nhớ, có thể nhắc lại các sự kiện, định nghĩa kháiniệm, nội dung các định luật
Mức 2: Hiểu: Là việc có thể thuyết minh, giải thích, chứng minh những
tri thức đã lĩnh hội
Trang 19Mức 3: Vận dụng: Là việc có thể áp dụng kiến thức vào những tình
huống mới, khác với trong bài học Sử dụng các quy tắc, nguyên tắc, các phác
đồ để giải quyết một vấn đề nào đó
Mức 4: Phân tích: Biết phân chia một chỉnh thể thành các bộ phận, một
vấn đề lớn thành những vấn đề nhỏ hơn, làm sáng tỏ những mối quan hệ giữacác bộ phận, đồng nhất những cái bộ phận tạo nên cái tổng thể Từ đó phânbiệt các ý tưởng trong đối tượng đó
Mức 5: Tổng hợp: Biết sắp xếp các bộ phận thành chỉnh thể thống nhất,
ghép các vấn đề nhỏ thành các vấn đề lớn hơn, tạo thành một tổng thể mới
Mức 6: Đánh giá: Có thể nhận định, phán đoán về giá trị, ý nghĩa của
mỗi kiến thức
Hai mức đầu là nhận thức ở mức thấp, bốn mức sau là nhận thức ở mứccao Thành công của hệ phân loại này là đã giúp khá nhiều các nhà sư phạm,các nhà đào tạo tìm thấy các thang đánh giá nhận thức để sử dụng, cho phép
họ đào sâu các mục tiêu giảng dạy Mặt hạn chế trong cách phân loại củaB.S.Bloom là ở ba mức sau: phân tích, tổng hợp và đánh giá rất khó để táchbạch trong nhận thức và do đó rất khó có thể chỉ ra chính xác đâu là phân tích,đâu là tổng hợp, đâu là đánh giá, mặc dù ông đã giới thiệu cách đánh giá mụctiêu nhận thức [23, tr.86]
Từ những phân tích các quan điểm về nhận thức, cách đánh giá cácmức độ nhận thức của các nhà tâm lý học Mác xít, của B.S.Bloom, chúng tôicho rằng có thể xác định các mức độ nhận thức, và xây dựng 3 mức độ nhậnthức mang sắc thái Tâm lý học để đánh giá kết quả nhận thức như sau:
Mức 1: Nhận biết chưa đầy đủ, chưa chính xác về đối tượng: Ở mức
độ này, chủ thể chỉ nhận biết được đối tượng, nắm được một số ít các đặc thùcủa đối tượng Đây là mức độ biết được những biểu hiện cơ bản bên ngoài,chưa hiểu sâu sắc đối tượng Kết quả nhận thức ở mức độ này còn thiếu,nhầm lẫn nên chưa lý giải được bản chất của đối tượng nhận thức
14
Trang 20Mức 2: Hiểu khá đầy đủ, chính xác về đối tượng: Chủ thể nắm được
tương đối đầy đủ, chính sác về các đặc điểm của đối tượng Nêu được thuộctính bản chất, nhưng chưa chỉ đúng các thuộc tính bản chất nhất của đốitượng Do đó, dẫn đến hiểu quá rộng, hoặc quá hẹp về đối tượng; lý giảiđược phần nào những nguyên nhân khách quan của đối tượng
Mức 3: Hiểu đầy đủ, chính xác về đối tượng: Ở mức độ này, chủ thể
nắm được những đặc tính chung, bản chất và những mối liên hệ, quan hệ cótính quy luật của đối tượng, chỉ rõ nguyên nhân, ý nghĩa, cơ chế của đốitượng Đồng thời, hiểu đúng, đầy đủ giúp chủ thể có thể liên hệ được giữa lýluận với thực tiễn, giải quyết những tình huống trong thực tiễn có liên quanđến đối tượng
Như vậy, ở hai mức độ đầu, chủ thể có thể nhận thức được vấn đề ởmức độ tái tạo lại thông tin được tiếp nhận, có cải biên nhưng không nhiều,chủ yếu là theo khuôn mẫu Mức độ sau, khi chủ thể nhận thức sâu hơn đã có
sự chế biến thông tin và sử dụng thông tin trong tình huống cụ thể, cấu trúc lạinội dung thông tin và tạo nên một cách hiểu riêng, phù hợp với vốn kinhnghiệm của bản thân Việc phân ra ba mức độ nhận thức như trên chỉ mangtính tương đối, để thuận lợi hơn cho việc nghiên cứu vấn đề Trên thực tế, cácmức độ có mối liên hệ hữu cơ với nhau và nhiều khi khó phân biệt được cácmức độ một cách rõ ràng, mạch lạc Do đó, quá trình nhận thức là sự kết hợpmột cách linh hoạt, nhuần nhuyễn giữa các mức độ nói trên
1.2.2 Khái niệm nghề dạy học
1.2.2.1 Khái niệm nghề
Nghề nghiệp, theo tiếng Anh là “Profession” có nghĩa là một công việcchuyên môn, khác với “job” là việc làm, khi nói đến “Profession” là nói đếncông việc của mình như một dạng hoạt động lao động, nghề nghiệp đòi hỏitrình độ học vấn nhất định
Tác giả E A Klimov đã định nghĩa: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sửdụng sức lao động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạncần thiết cho xã hội, nó tạo ra khả năng cho con người sử dụng lao động của
Trang 21mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển”[14, tr.10].
Trong từ điển Tiếng Việt cũng định nghĩa: “Nghề là công việc chuyênlàm theo phân công lao động trong xã hội” Như vậy, nói đến nghề là nói đếncông việc chuyên môn và làm theo sự phân công của xã hội trong đó ngườilàm nghề cần có yêu cầu nhất định về phẩm chất, năng lực và được xã hội đápứng các điều kiện đề hành nghề
Từ những phân tích ở trên, chúng tôi có thể kết luận rằng: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực trong đó con người sử dụng sức lao động vật chất hoặc tinh thần tùy theo sự phân công lao động của xã hội Nó giúp cho con người sử dụng sức lao động của mình đề tạo ra sản phẩm cần thiết cho sự phát triển của xã hội, nhờ đó con người có thể thỏa mãn những nhu cầu cần thiết cho việc tồn tại và phát triển của bản thân”.
Nghề nghiệp là một phạm trù xã hội lịch sử nên có những ngành nghề
ra đời từ rất sớm và phát triển cho đến ngày nay thành các ngành nghề truyềnthống nhưng cũng có những ngành nghề mới ra đời và phát triển theo sự tiến
bộ của khoa học kỹ thuật đã đem lại hiệu quả sản xuất vô cùng to lớn
* Phân loại nghề nghiệp
Nghề nghiệp là một phạm trù xã hội lịch sử vì nghề nghiệp được nảysinh, tồn tại và phát triển cùng với sự nảy sinh, tồn tại và phát triển của xã hộiloài người Có rất nhiều cách phân loại nghề nghiệp khác nhau dựa theo cáctiêu chí khác nhau:
+ Căn cứ theo đối tượng quan hệ trực tiếp của từng nghề, tác giả
E.A.Klimov [11, 17, 22] đã phân loại thành các nhóm nghề khác nhau:
1. Nhóm nghề “người tự nhiên” như: Nghề làm vườn, bác sĩ thú y, chăn nuôi, địa chất, nông học, sinh vật, nuôi ong…
2. Nhóm nghề “người – kỹ thuật” như: Thợ nguội, thợ điện, thợ máy,
kỹ sư xây dựng…
16
Trang 223. Nhóm nghề “người – hệ thống tín hiệu” như: Nhân viên đánh máy, nhân viên máy tính, nhân viên rađa; nhân viên điện báo…
4. Nhóm nghề “Người – nghệ thuật” như: Họa sĩ, ca sĩ, diễn viên điện ảnh, người mẫu…
5. Nhóm nghề “người – người” như: Nhân viên bán hàng, bác sĩ, quản
lý, giáo viên, hướng dẫn viên du lịch…
Trong đó, giáo viên thuộc nhóm nghề “người – người”
+ Căn cứ theo hình thức lao động, tác giả Phạm Tất Dong chia nghề theo hai lĩnh vực khác nhau:
* Lĩnh vực quản lý, lãnh đạo gồm 10 nhóm nghề: lãnh đạo các cơ quan hành chính, sự nghiệp; lãnh đạo doanh nghiệp; cán bộ khoa học giáo dục…
* Lĩnh vực sản xuất gồm 23 nhóm nghề: công nhân, nông dân…
Trong đó, nghề giáo viên thuộc nhóm nghề “Cán bộ khoa học giáo dục”thuộc lĩnh vực “quản lý, lãnh đạo”
+ Cũng theo tác giả Phạm Tất Dong, có thể phân loại nghề theo yêu cầucủa nghề đối với người lao động, theo đó có 7 nhóm nghề, cụ thể là:
- Những nghề thuộc lĩnh vực hành chính: Công việc trong nghề hành chính mang tính chất sắp đặt, bố trí, trình bày, phân loại, lưu trữ
- Những nghề thuộc lĩnh vực tiếp xúc với con người: nhân viên bán hàng, thầy thuốc, thầy giáo, phục vụ khách sạn, cán bộ tổ chức v.v…
- Những nghề thợ (công nhân): Tính chất nội dung lao động của nghề thợ rất đa dạng
- Những nghề trong lĩnh vực kỹ thuật: Nghề kỹ thuật rất gần với nghề thợ Đó là nghề của các kỹ sư thuộc nhiều lĩnh vực sản xuất
- Những nghề trong lĩnh vực văn học và nghệ thuật: Văn học, nghệthuật…
Trang 23- Những nghề thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học: Đó là những nghềtìm tòi, phát hiện những quy luật trong đời sống xã hội, trong thế giới tự nhiêncũng như trong tư duy con người.
- Những nghề tiếp xúc với thiên nhiên: Đó là những nghề chăn nuôi giasúc, gia cầm, thuần dưỡng súc vật, nghề trồng trọt…
- Những nghề có điều kiện lao động đặc biệt: lái máy bay thí nghiệm,
du hành vũ trụ, khai thác tài nguyên dưới đáy biển, thám hiểm [03, tr.24-29]
Theo cách phân loại trên thì nghề dạy học được xếp vào nhóm nghềthứ 2: nhóm nghề thuộc lĩnh vực tiếp xúc với con người
Tóm lại, thế giới nghề nghiệp vô cùng phong phú và đa dạng Xã hội càngphát triển cao thì càng xuất hiện nhiều nghề mới Trong các cách phân loại nghềnói trên, mỗi cách đều dựa trên các dấu hiệu và mục đích của nghề để phân loại.Nhưng những cách phân loại trên chỉ có tính chất tương đối vì một nghề nào đó
có thể được xếp vào loại này nhưng theo tiêu chí khác có thể được xếp vào loạikhác Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đồng
ý và sử dụng với cách phân loại của tác giả Phạm Tất Dong
1.2.2.2 Khái niệm nghề dạy học
* Khái niệm, giá trị của nghề dạy học
Trong bất kỳ thời đại nào, xã hội nào thì nghề dạy học đều vô cùng cầnthiết và quan trọng Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục là quốc sách hàngđầu vì giáo dục là nền tảng văn hóa của một quốc gia, là sức mạnh tương laicủa một dân tộc Người giáo viên do đó có một vai trò to lớn trong quá trìnhgiáo dục thế hệ trẻ Người giáo viên cũng là người quyết định chất lượng đàotạo, và là cái “dấu nối” giữa nền văn hóa nhân loại và dân tộc
Nghề dạy học từ xưa đến nay luôn được cha ông ta coi trọng và đề cao
“Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” Nó được đánh giá là nghề cao quý nhất trongnhững nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất trong những nghề sáng tạo, “Dướiánh sáng mặt trời không có nghề nào cao quý hơn nghề dạy học”(J.A.Cômenski)
18
Trang 24Xã hội Việt Nam truyền thống luôn coi trọng đạo lý tôn sư trọng đạo vàxem đó như là kim chỉ nam cho hành động của con người “không thầy đốmày làm nên” là câu châm ngôn lâu đời của người Việt Nam để nói lên tầmquan trọng của người giáo viên và của nghề dạy học, đó là nghề giúp tái tạosức lao động cho xã hội ngày càng có trình độ, phẩm chất cao hơn, đáp ứngđược yêu cầu ngày càng cao của xã hội.
Trong xã hội có giai cấp đối kháng, nghề dạy học chỉ dành cho số ítngười và cũng không nhiều người được hưởng lợi từ nghề này Tuy nhiên,nhiều nhà hoạt động xã hội, nhiều nhà giáo dục tiến bộ đã ca ngợi ý nghĩa cao
cả của nghề dạy học và vai trò cao quý của người giáo viên
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, vai trò của nghề dạy học và người giáoviên được đánh giá cao Thầy giáo là một mắt xích quan trọng trong sợi dâychuyền nối liền các thế hệ, các thời đại Người thầy là người trao lá cờ hiệntại cho tương lai Điều đó khiến cho nghề dạy học thực sự hấp dẫn và luônmang tính sáng tạo
Trong thời đại ngày nay, thời đại của khoa học kỹ thuật phát triển mạnh
mẽ cùng với sự bùng nổ thông tin khiến người học phải biết lựa chọn nhữngthông tin nào cần thiết cho bản thân Người giáo viên không chỉ giúp họ trang
bị cho mình tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và những phẩm chất cần thiết của ngườilao động trong tương lai mà còn giúp họ tiếp nhận và xử lý cá thông tin từnhiều nguồn khác nhau để theo kịp sự phát triển của xã hội nói chung, củanghề nghiệp nói riêng K.D.Usinxky cũng đã đánh giá rất cao vai trò củangười giáo viên: “Sự nghiệp của giáo viên trông bề ngoài thì bình thường,nhưng đó là sự nghiệp vĩ đại nhất trong lịch sử”
Hoặc như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn nhà giáo: “Vì lợi íchmười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”
Từ những phân tích ở trên, chúng tôi rút ra cách hiểu như sau về nghềdạy học:
Nghề dạy học là một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt của người giáo viên theo sự phân công của xã hội, trong đó, người giáo viên sử dụng những
Trang 25phẩm chất và năng lực của mình để giáo dục người học trở thành người có ích cho xã hội.
* Một số yêu cầu về đặc điểm nhân cách của người giáo viên
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi thống nhất quan điểm với các tácgiả Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan về các yêu cầu của nghề dạy học đối vớingười giáo viên Theo quan điểm này, người giáo viên cần đáp ứng hai nhómyêu cầu như sau:
Một số phẩm chất nhân cách của người giáo viên
+ Thế giới quan khoa học: Tại điều 19, Luật Giáo dục đã quy định:
"Không truyền bá tôn giáo, tiến hành các nghi thức tôn giáo trong các trường, cơ sở giáo dục khác của hệ thống giáo dục quốc dân, của cơ quan hành chính nhà nước, của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, của lực lượng vũ trang nhân dân"[20] Chính những quy định trên đã đòi hỏi người
giáo viên cần có thế giới quan khoa học - thế giới quan duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử về các quy luật phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Thếgiới quan khoa học của người giáo viên không phải là bản tính tự nhiên củanhà giáo, mà nó được hình thành trong quá trình học tập của bản thân thôngqua nhà trường và quá trình tự rèn luyện trong đời sống hàng ngày
+ Lý tưởng nghề nghiệp: là sự phản ánh, sự thể hiện triết lý giáo dụccủa nhà giáo Đó là tư tưởng, linh hồn, là lẽ sống của nhà giáo dục được hìnhthành trong quá trình từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường sư phạm cho đếnsuốtquá trình làm nghề Hạt nhân ấy đã giúp cho nhiều nhà giáo vượt qua mọikhó khăn trong nghề, có thể từ bỏ vinh hoa phú quý để dành chọn cuộc đờicho nghề dạy học, hi sinh cả cuộc đời cho sự nghiệp dạy học ở vùng cao,vùng sâu
+ Lòng tin yêu học sinh, yêu nghề: Lòng tin yêu học sinh và lòng yêunghề luôn gắn bó chặt chẽ với nhau và tạo thành động lực của nhà giáo, "Yêungười bao nhiêu ta càng yêu nghề bấy nhiêu" Lòng tin yêu học sinh, yêunghề thôi thúc người giáo viên hành động vì mục tiêu giáo dục học sinh, vìhọc sinh thân yêu, nhà giáo sẵn sàng đầu tư thời gian, công sức cho hoạt động
20
Trang 26giáo dục học sinh Tâm lý học coi đó là động cơ chân chính của nhà giáo.Phẩm chất này thường được biểu hiện như: Say sưa làm việc hết mình, sẵnsàng hi sinh cả lợi ích cá nhân cho công việc giáo dục học sinh; có những biệnpháp cụ thể để khắc phục khó khăn, quyết tâm thực hiện bằng được kế hoạchgiáo dục của nhà trường, của lớp phụ trách; gần gũi, yêu thương học sinh, có
sự quan tâm chăm sóc cụ thể đối với những học sinh có hoàn cảnh khó khăn,những học sinh tật nguyền, tin tưởng vào khả năng tiến bộ của học sinh; sống
và làm việc vì học sinh, vì nghề dạy học, quan tâm giúp đỡ, hợp tác với đồngnghiệp trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục…
+ Đạo đức, lối sống của người giáo viên: Người giáo viên tác động đếnhọc sinh không chỉ bằng lời nói, hành động của mình mà bằng cả sự mẫumực, thái độ và hành vi của mình đối với thế giới xung quanh Để làm đượcđiều đó, người giáo viên phải biết lấy các quy luật khách quan làm chuẩn mựccho các tác động sư phạm của mình, mặt khác, phải có những phẩm chất đạođức và phẩm chất ý chí cần thiết như: tinh thần nghĩa vụ, tinh thần "mình vìmọi người", tinh thần nhân đạo, lòng tôn trọng con người, thái độ công bằng,chính trực, tính ngay thẳng, giản dị và khiêm tốn, tính mục đích, tính nguyêntắc, tính kiên nhẫn, kỹ năng điều khiển tình cảm, cảm xúc
Năng lực của người giáo viên
Bên cạnh những năng lực trí tuệ là năng lực cần thiết cho mọi hoạtđộng của con người thì nghề dạy học cũng yêu cầu có những năng lực chuyênbiệt cho công việc dạy học và giáo dục, đó là:
+ Năng lực dạy học: biểu hiện ở việc người giáo viên hiểu học sinh về
cả đặc điểm tâm lý và sinh lý; nắm vững kiến thức khoa học mà mình đượcphụ trách; tổ chức hoạt động học của học sinh theo phương pháp thích hợp;ngôn ngữ và kỹ thuật dạy học; xử lý tình huống
+ Năng lực giáo dục: thể hiện việc người giáo viên biết cụ thể hoá mụctiêu hình thành nhân cách học sinh; năng lực giao tiếp sư phạm và cảm hoáhọc sinh; năng lực ứng xử sư phạm: năng lực huy động các lực lượng giáodục học sinh
Trang 27+ Năng lực tổ chức các hoạt động sư phạm: được thể hiện trong việcngười giáo viên biết tổ chức, cổ vũ cho cả lớp và từng học sinh thực hiện cácnhiệm vụ học tập và giáo dục khác nhau trong giờ lên lớp cũng như ngoài giờlên lớp; Biết gắn kết học sinh của lớp mình phụ trách thành một tập thể thốngnhất, lành mạnh, có kỷ luật, có văn hoá, đảm bảo cho mọi hoạt động của lớpdiễn ra thuận lợi, làm cho tập thể trở thành nhân tố giáo dục và tự giáo dục.;Biết vận động cha mẹ trẻ, nhân dân và các tổ chức đoàn thể xã hội tham giagiáo dục thế hệ trẻ theo mục tiêu giáo dục, phương pháp giáo dục phù hợp
* Các đặc trưng của nghề dạy học
+ Đối tượng của nghề dạy học: Nghề dạy học có một nhiệm vụ vôcùng quan trọng và lớn lao là nhằm phát triển, hoàn thiện nhân cách conngười Chính vì vậy, đối tượng của nghề dạy học rất đặc biệt Đó là nhữngcon người đang trong thời kỳ chuẩn bị, đang trong giai đoạn hình thành vàphát triển những phẩm chất và năng lực của con người mới đáp ứng được yêucầu của xã hội đang phát triển Xã hội mạnh hay yếu, phát triển hay trì trệ, tùythuộc vào nội dung và chất lượng của thời kỳ này J.A.Cômenxki đã nhận xét:
“Đứa trẻ là một bảo vật quý hơn vàng, mỏng hơn thuỷ tinh, thật dễ dàng làmcho nó tức giận căm ghét Đó là điều vô cùng có hại” Thực chất thời kỳ này
là thời kỳ hình thành phẩm chất, năng lực của người công dân theo yêu cầucủa xã hội đang phát triển Đối tượng của lao động sư phạm là nhân cách conngười mới – con người trong độ tuổi trưởng thành với các đặc điểm tâm lý,sinh lý chung của lứa tuổi và của riêng mỗi cá nhân rất phong phú, đa dạng.Bên cạnh đó, mỗi người học lại là một chủ thể tích cực của việc tiếp nhận cáctác động sư phạm Vì vậy, nghề sư phạm đòi hỏi phải được tiến hành mộtcách khéo léo và có nghệ thuật A.Dixtecvec đã khẳng định: “Đối tượng của
sự chăm sóc của giáo viên không phải là hòn đất mà là con người Giáo viêncần bồi dưỡng những tâm hồn, phải làm nảy nở ý chí Chính giáo viên gieonhững hạt giống, không có giáo viên thì thế giới này sẽ trở về thời đại dãman”
+ Công cụ của nghề dạy học: Công cụ lao động của người giáo viêncũng rất độc đáo Đó chính là toàn bộ nhân cách của người giáo viên K.D
22
Trang 28Usinxki đã khẳng định: “Dùng nhân cách để giáo dục nhân cách” [7;tr 189].Người giáo viên tồi sẽ huỷ hoại những nhân cách tốt đẹp đàn trong quá trìnhhoàn thiện “Những nhân cách tốt sẽ tạo ra được nhứng nhân cách tốt” Vìvậy, người giáo viên phải không ngừng trau dồi nhân cách của mình Nghềdạy học có sản phẩm là nhân cách phát triển của học sinh Do đó, nó khôngphải là tổng cộng của các tri thức, các kỹ năng thuộc lĩnh vực khoa học nào
đó Mà tri thức ấy phải biến thành thái độ, tư tưởng, tình cảm đúng và đượcthể hiện ra bên ngoài theo yêu cầu của xã hội Vì lẽ đó, mà trong giáo dục vàdạy học, thầy giáo phải dùng toàn bộ nhân cách của chính mình Nghề dạyhọc là nghề lao động nghiêm túc, không được phép tạo ra thứ phẩm, đúngnhư K.D Usinxki đã nói: “Trong việc giáo dục, tất cả phải dựa vào nhân cáchngười giáo dục, bởi vì sức mạnh của giáo dục chỉ bắt nguồn từ nhân cách củacon người mà có được Không một điều lệ, chương trình, không một cơ quangiáo dục nào dù có được tạo ra một cách khôn khéo như thế nào cũng khôngthể thay thế được nhân cách của con người trong sự nghiệp giáo dục Khôngmột sách giáo khoa, không một khuyên răn nào, một hình phạt, một khenthưởng nào có thể thay thế ảnh hưởng cá nhân của người giáo viên đối vớihọc sinh” [30;tr 63] Để làm được điều đó, người giáo viên phải tự tạo rabằng chính sự nỗ lực học tập, rèn luyện và lao động của bản thân “Ngườigiáo viên, một mặt là cống hiến, mặt khác học như một thứ bọt biển, thấm hútvào mọi tinh hoa của dân tộc và thời đại, của cuộc sống và khoa học và rồi họlại cống hiến những tinh hoa này cho trẻ” [2;tr 62]
+ Tính chất của nghề dạy học: Lao động của người giáo viên là laođộng mang tính sáng tạo, tính khoa học và nghệ thuật cao Mỗi người họcsinh là một chủ thể có tính cách, nhân cách với đặc điểm tâm lý riêng Vì vậy,thầy giáo không thể áp dụng phương pháp giáo dục một cách máy móc và dậpkhuôn với tất cả học sinh mà phải vận dụng các phương pháp linh hoạt mềmdẻo với từng học sinh trong từng thời điểm khác nhau Dieterveg, một nhà sưphạm học Đức đã nhấn mạnh: “Người giáo viên tồi là người mang chân lýđến sẵn, còn người giáo viên giỏi là người biết dạy học sinh đi tìm chân lý”[13;tr 198]
Trang 29+ Sản phẩm của nghề dạy học: Lao động sư phạm có đối tượng là conngười và sản phẩm cũng là con người phát triển (nhân cách người học sinh).
Đó là một loại hình lao động đặc biệt không giống bất cứ một loại hình laođộng nào khác Sản phẩm của người giáo viên là nhân cách, là sự chuyển biến
về chất bên trong con người của học sinh Đó là những phẩm chất, năng lực
và sự phát triển tâm lý của học sinh Điều đặc biệt là khi chúng đã được hìnhthành mà không được tiếp tục nuôi dưỡng, bồi bổ thì sẽ bị mai một đi, vì vậy,đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng làm việc vì học sinh, vì thế hệ trẻcủa đất nước
Tóm lại, Lao động sư phạm là lao động đặc biệt, lao động sản xuất phi
vật chất Đối tượng, sản phẩm lao động là con người, nhân cách con người
xã hội chủ nghĩa Chính điều này đã đòi hỏi người giáo viên không chỉ có trithức, tầm hiểu biết, những năng lực đặc trưng nghề mà còn phả có nhân cáchtrong sáng, có tâm huyết với nghề, hết lòng vì học sinh
1.2.3 Nhận thức về nghề dạy học của sinh viên
1.2.3.1 Một số đặc trưng tâm lý của sinh viên
Thuật ngữ sinh viên có nguồn gốc từ tiếng Latinh “Student” với ý nghĩa
là người học tập, người nghiên cứu, khai thác tri thức, khám phá kho tàng trithức nhân loại một cách nhiệt tình, hăng say
SV cũng được hiểu là những người đang học ở bậc đại học, cao đẳng
để phân biệt với học sinh phổ thông và học sinh học trung cấp
SV, được hiểu là những người đang học tập, rèn luyện trong cáctrường đại học và cao đẳng sư phạm Nhiệm vụ chính của SV là học tập vàrèn luyện để chuẩn bị làm giáo viên, người “Kỹ sư tâm hồn”
Lứa tuổi SV từ 17 đến 24 tuổi, đây là lứa tuổi có sự phát triển cao về tự
ý thức, các em tự giác, tích cực thực hiện những kế hoạch hoạt động của bảnthân Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, SV có thể tự học và tự hoàn thiệnnhân cách của mình một cách hiệu quả nhất Quá trình học tập của SV là quátrình lĩnh hội tri thức theo mục tiêu của ngành sư phạm với hoạt động chủ đạo
24
Trang 30là học tập theo định hướng nghề dạy học, gắn liền với rèn luyện nghiệp vụ sưphạm, trở thành nhà giáo dục.
Một số đặc trưng tâm – sinh lý lứa tuổi sinh viên: Đặc điểm cơ bản củalứa tuổi thanh niên là cơ thể các em đã qua thời kỳ phát triển nhiều biến động,căng thẳng, mất cân đối và bước vào thời kỳ phát triển bình thường, cân đốihài hòa, đạt đến mức phát triển của người trưởng thành
Đặc biệt, hoạt động của tuổi thanh niên trong nhà trường phức tạp hơnnhiều so với lứa tuổi thiếu niên Nội dung học tập rất phong phú, tính trừutượng và hệ thống cao hơn ở bậc học phổ thông Những nội dung học tập nàykhông chỉ trang bị tri thức khoa học hoàn chỉnh, sâu sắc mà còn hình thànhthế giới quan, nhân sinh quan cho các em Nhiệm vụ học tập nặng nề, căngthẳng hơn, phương pháp giảng dạy, hình thức dạy học của giáo viên khác vớinhà trường trung học
Ở tuổi thanh niên, tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quátrình nhận thức Tri giác có mục đích đạt tới mức cao Quan sát trở nên có hệthống và toàn diện Quá trình quan sát đã chịu sự điều khiển của hệ thống tínhiệu thứ hai nhiều hơn và không thể tách rời khỏi tư duy ngôn ngữ
Ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ có ý nghĩa ngày càng tăng (các embiết sử dụng các phương pháp ghi nhớ tốt hơn, biết tóm tắt ý chính, so sánhđối chiếu…)
Về mặt tư duy, các em phát triển tư duy lý luận, tư duy trừu tượngmột cách độc lập, sáng tạo những đối tượng đã được học hoặc chưa đượchọc ở trường Tư duy chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn, đồng thời,tính phê phán của tư duy cũng phát triển Những đặc điểm đó tạo cho thanhniên thực hiện các thao tác tư duy phức tạp để có thể nắm được các mối liên
hệ nhân quả trong tự nhiên và trong xã hội…
Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong sự phát triển tâm lýcủa lứa tuổi thanh niên Sự phát triển của hứng thú nhận thức đối với nhữngvấn để chung nhất của vũ trụ, những quy luật phổ biến của tự nhiên – xã hội
và tồn tại của xã hội loài người…là những chỉ số đầu tiên của sự hình thành
Trang 31thế giới quan Chỉ số thứ hai được thể hiện trong phạm vi nội dung SV quantâm nhiều hơn đến các vấn đề có liên quan đến con người, vai trò của conngười, quan hệ của con người và xã hội giữa quyền lợi và nghĩa vụ, tráchnhiệm và tình cảm.
Sự phát triển tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhâncách Đặc điểm quan trọng trong sự tự ý thức của thanh niên là sự tự nhậnthức của họ xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống xã hội và hoạt động của họtrong xã hội, do địa vị mới mẻ của họ đem lại nội dung của tự ý thức cũngkhá phức tạp, các em không chỉ nhìn nhận về cái tôi của mình trong hiện tại
mà còn nhận thức về vị trí của mình trong tương lai
Trong sự phát triển nhân cách của SV cũng có những đặc điểm riêng:
Về mặt cơ bản, nhân cách của SV là nhân cách của người trí thức tương lai.Các thuộc tính nhân cách của SV có liên quan chặt chẽ tới phẩm chất nghềnghiệp và có vai trò quan trọng đến việc hình thành chuyên gia tương lai cótrình độ học vấn cao Đây là giai đoạn hình thành và ổn định về tính cách, đặcbiệt khi họ là lực lượng bổ xung cho đội ngũ trí thức, là nguồn nhân lựcphong phú, dồi dào nhất
Vào học tại trường Cao đẳng, Đại học, SV đã định hình cho mình một
xu hướng nghề nghiệp nào đó và đã có những nhận thức nhất định về nghềnghiệp mình đã chọn Quá trình học tập tại trường của SV là quá trình họcnghề, SV bắt đầu tập dượt nghiên cứu khoa học, nghiên cứu tài liệu Do đó,đòi hỏi ở SV tính tích cực rất cao Hoạt động nghề nghiệp là một trong nhữngnhân tố cơ bản quyết định đến cuộc đời họ Vì vậy, nét đặc trưng cơ bản củahoạt động học tập của SV là sự căng thẳng về trí tuệ, sự hứng thú, mong muốnđược tham gia vào tất cả các hoạt động của tập thể, nhu cầu thành đạt rất cao
Từ sự phân tích ở trên, chúng tôi cho rằng nhận thức về nghề dạy học của sinh viên là một quá trình liên tục mà kết quả của nó là sinh viên có thể đạt tới mức độ hiểu biết khác nhau từ thấp đến cao, từ nông đến sâu, từ đơn giản đến phức tạp, từ diện hẹp đến diện rộng, từ không đầy đủ, không chính
26
Trang 32xác đến đầy đủ, chính xác hơn về giá trị của nghề dạy học, những yêu cầu yêu cầu đặc điểm nhân cách đối với người giáo viên và đặc điểm đặc trưng của nghề dạy học Từ đó sinh viên vận dụng những hiểu biết đó vào quá trình học tập và rèn luyện của bản thân.
1.2.4 Một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến nhận thức về nghề dạy học của sinh viên
Thông thường nhận thức về nghề dạy học của SV bị chi phối bởi cảnhững yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan Một mặt họ hướng tới sự thoảmãn nhu cầu hoạt động, phù hợp với khả năng, hứng thú, sở thích, nguyệnvọng của bản thân Mặt khác, họ chịu sự chi phối của những tác động từ ngoạicảnh xã hội mà họ đang sống và hoạt động Vì thế, những yếu tố chủ quan vàkhách quan tác động lẫn nhau chi phối sự nhận thức về nghề dạy học của SV
1.2.4.1 Yếu tố chủ quan:
Đó là những yếu tố thuộc chính bản thân chủ thể có tác dụng chính vàquyết định trực tiếp đến quá trình nhận thức về nghề dạy học của con người.Thường đó là các yếu tố như: sự tự giác tìm hiểu về nghề trước khi vào học,
sự nỗ lực của bản thân trong học tập và rèn luyện
* Việc tìm hiểu về nghề trước khi đăng ký học tại trường:
Đối với lứa tuổi thanh niên, học sinh, SV, trước khi lựa chọn một ngànhnghề nào đó để theo học, không ít các em đã có sự tìm hiểu trước về triểnvọng của nghề nghiệp, cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp, hoặc vị trí hiện tạicủa nghề nghiệp trong xã hội…thông qua các mối quan hệ cá nhân, các kênhthông tin khác nhau các em có thể có những thông tin về nghề nghiệp mìnhlựa chọn Do đó, việc tìm hiểu thông tin về nghề nghiệp trước khi đăng kýhọc tại trường cũng là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng, có ảnhhưởng không nhỏ đến tính tự giác, nhiệt tình học tập của các em Bên cạnhhoạt động chủ đạo là hoạt động học tập, thì hoạt động, giao lưu với bạn bèchiếm vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của các em Do đó ý kiến, lờikhuyên bảo, sự góp ý, phân tích của bạn bè cũng là một trong
Trang 33những lý do góp phần vào việc nhận thức về nghề dạy học một cách đúng đắn
Bên cạnh đó, sự tích cực của bản thân trong việc tìm hiểu, khám phánghề cũng là một nguyên nhân rất quan trọng giúp SV có được nhận thứcđúng đắn về nghề Đó không đơn thuần là sự tích cực, năng động, sáng tạotrong học tập mà còn là sự tích cực tham gia các hoạt động ngoại khóa, tracứu các tài liệu tham khảo và các tài liệu khác có liên quan đến nghề nghiệpmình đã chọn Từ đó thấu hiểu được các giá trị cao quý của nghề, tạo đượclòng yêu nghề, yêu trẻ Thông qua việc tự tìm hiểu nghề mà các em nhận thứcđược khả năng và các đặc điểm tâm lý của bản thân từ đó giúp các em lựachọn nghề phù hợp
1.2.4.2 Yếu tố khách quan: Bao gồm những tác động bên ngoài có ảnh
hưởng nhất định đến nhận thức về nghề dạy học của SV Đó là những yếu tốnhư: các phương tiện thông tin đại chúng, các chính sách xã hội, giáo dụcnghề nghiệp, thầy cô giáo, bạn bè, …
* Các phương tiện truyền thông đại chúng đến nhận thức về nghề dạy học của sinh viên:
Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ - kỹthuật đã dẫn đến sự xuất hiện vô cùng phong phú, đa dạng và đóng vai tròngày càng lớn của các phương tiện truyền thông đại chúng như: đài, báo in,báo điện tử, truyền hình, internet… Đây là những phương tiện rất hữu ích
28
Trang 34trong việc rèn luyện nghề nghiệp Những tấm gương cao cả của các thầy côgiáo ưu tú đầy tâm huyết với nghề nghiệp với những phẩm chất đạo đức vànăng lực xuất chúng đang được đăng tải hàng ngày trên các phương tiện nóitrên đã góp phần giúp các em có nhận thức đúng đắn, đầy đủ hơn về nghề dạyhọc chính điều này là một trong những nhân tố làm co các em có ấn tượng vàtình cảm sâu sắc với nghề dạy học, từ đó các em có sự cố gắng nỗ lực tronghọc tập, quyết tâm đi theo nghề nghiệp mình đã lựa chọn.
* Chính sách xã hội đối với nghề dạy học đến nhận thức về nghề dạy học của sinh viên:
Nhận thức về nghề của SV trước hết bị tri phối bởi dư luận xã hội, đó
là sự đánh giá của xã hội đối với nghề Sự đánh giá đó được thể hiện trongchính sách của Đảng, Nhà nước trong việc đãi ngộ các chính sách đào tạocũng như việc làm sau khi ra trường của SV
Nghề dạy học từ xưa đến nay luôn được đánh giá là nghề cần thiết,quan trọng và cao quý Trước đây, nghề dạy học chưa được coi trọng trongđiều kiện nền kinh tế xã hội khó khăn, xã hội chưa có sự quan tâm thỏa đáng
về cả vật chất và tinh thần cho người thầy, đồng thời có sự đánh giá chưađúng về vai trò của người giáo viên Chính điều này đã có ảnh hưởng khôngnhỏ đến nhận thức về nghề dạy học của SV Vì vậy mà những năm trước đây
số lượng các em đăng ký vào trường sư phạm có phần hạn chế
Trong những năm gần đây, xã hội ngày càng phát triển khiến mức sốngcủa người dân thay đổi Do đó, cách nhìn nhận và đánh giá của xã hội đối vớinghề dạy học cũng có những thay đổi Nghề sư phạm dần dần được quan tâmhơn và có một vị trí xứng đáng trong xã hội Giáo dục được coi là “Quốc sáchhàng đầu”, là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân
* Các hoạt động giáo dục nghề nghiệp tại trường CĐTQ đến nhận thức
về nghề dạy học của sinh viên:
Trong quá trình học tập ở nhà trường phổ thông, học sinh đã được giáodục nghề nghiệp Đồng thời, việc học tập ở nhà trường phổ thông giúp các emđược tiếp xúc với các thầy cô giáo với những phẩm chất, năng lực nghề
Trang 35nghiệp thì các em đã có được một phần nào những hiểu biết về nghề dạy học.
Đó là những tấm gương cao cả về đức hi sinh, tinh thần trách nhiệm, lòngnhân ái, tinh thần cống hiến trong nghề… của nghề dạy học
Khi vào học trong trường, các em được thầy cô quan tâm đến việcnâng cao hiểu biết nghề, nâng cao kỹ năng và trình độ chuyên môn nghiệp vụ
về nghề như tổ chức cuộc thi nghiệp vụ sư phạm, các buổi thảo luận về thuậnlợi, khó khăn của nghề, tổ chức các cuộc giao lưu với các trường sư phạmkhác… Vì vậy, có thể nói rằng nhà trường, thầy cô giáo có ảnh hưởng khôngnhỏ đến nhận thức về nghề dạy học của học sinh, SV
Trên đây là một số yếu tố khách quan có ảnh hưởng đến việc nhận thức
về nghề dạy học dạy học của SV Những yếu tố khách quan đó tác động đếncon người giúp các em có những hiểu biết nhất định về nghề, có tình cảm đốivới nghề, từ đó có quan điểm, đánh giá về sự phù hợp của bản thân với cácyêu cầu của nghề tạo cho các em thái độ tích cực trong việc học tập và rènluyện nghề
30
Trang 36Ngày 11/02/1999, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số TTg thành lập Trường Cao đẳng Sư phạm Tuyên Quang; ngày 30/6/2011,trường Cao đẳng Sư phạm Tuyên Quang được Bộ GD&ĐT ký Quyết định số2651/QĐ-BGDĐT đổi tên thành trường CĐTQ; ngày 14/8/2013, Thủ tướngChính phủ đã ký Quyết định số 1404/QĐ-TTg nâng cấp trường CĐTQ thànhtrường Đại học Tân Trào.
18/1999/QĐ-Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, để thống nhất với tên
đề tài đã được trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốcgia Hà Nội phê duyệt, chúng tôi xin được sử dụng tên gọi cũ của nhà trường
là trường CĐTQ trong toàn bộ đề tài
Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đối với 303
SV đến từ 3 ngành học khác nhau: Giáo dục Mầm non, Sư phạm Tiểu học,ngành THCS (gồm SV Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Khoa học Xã hộinhân văn) của nhà trường, cụ thể là:
- Ngành Tiểu học: 100 SV: 50 SV năm thứ nhất, 50 SV năm thứ hai
- Ngành Mầm non: 109 SV: 54 SV năm thứ nhất, 55 SV năm thứ hai
- Ngành THCS: 94 SV: 50 SV năm thứ nhất, 44 SV năm thứ hai
Phần lớn các em đều ở lứa tuổi 18-23 tuổi - lứa tuổi hoàn thiện của sựphát triển cả về thể chất Về đặc điểm xã hội của các em có nhiều điểm tươngđồng do phần lớn các em đều đến từ Tuyên Quang và những tỉnh miền núi
Trang 37phía Bắc như: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc,
Hà Giang, Bắc Giang… Các em có chung mục đích học tập và rèn luyện đểtrở thành giáo viên, để ngày mai lập nghiệp
Đồng thời, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu với 09 giảng viên trựctiếp giảng dạy và 01 cán bộ công tác tại phòng Đào tạo, 02 cán bộ công tác tạiphòng công tác học sinh – sinh viên, để thu thập thông tin của đề tài
2.2 Các phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu cứu tài liệu
2.2.1.1 Mục đích: Xây dựng cơ sở lý luận, xác định các quan điểm chủ
đạo của luận văn
2.2.1.2 Nội dung nghiên cứu: Tổng hợp, phân tích, hệ thống về mặt lý
luận các nghiên cứu về nhận thức nghề dạy học của SV ở trong và ngoài nướcnhằm xác định những vấn đề trong việc nghiên cứu, đồng thời xác định nhữngvấn đề cần nghiên cứu: nhận thức, nghề dạy học, nhận thức nghề dạy học, cácbiểu hiện và mức độ của nhận thức về nghề dạy học của SV cũng như các yếu
tố ảnh hưởng đến nhận thức nói trên
2.2.1.3 Cách thức tiến hành
- Thu thập những tài liệu, văn bản có liên quan tới đề tài
- Đọc và ghi ghép lại các tài liệu quan trọng
- Nguồn tài liệu: Sách, báo, tạp chí, từ điển, văn bản, công trình nghiên cứu (luận án, luận văn, bài báo, thông tin từ mạng internet…)
Bên cạnh đó chúng tôi còn sử dụng phương pháp chuyên gia, phỏngvấn, xin ý kiến các chuyên gia tâm lý học, giáo dục học về việc sử dụng, tậphợp tư liệu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài, nhằm làm rõ các quan điểmkhác nhau về các khái niệm trong phần lý luận
32
Trang 382.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
2.2.2.1 Mục đích sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
-Tìm hiểu mức độ nhận thức về nghề dạy học của SV theo từng mặt:nhận thức về giá trị nghề, nhận thức về yêu cầu nhân cách đối với người giáoviên và nhận thức về các đặc trưng của nghề dạy học
-Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức nói trên của SV
2.2.2.2 Nội dung cơ bản của bảng hỏi (Phụ lục 1).
Bảng hỏi tập trung tìm hiểu 5 nội dung sau:
- Nội dung 1: Nhận thức về giá trị nghề dạy học của SV.
- Nội dung 2: Nhận thức về yêu cầu của nghề dạy học đối với nhân
cách người giáo viên của SV
- Nội dung 3: Nhận thức về các đặc trưng nghề dạy học của SV.
- Nội dung 4: Mối quan hệ giữa nhận thức về nghề dạy học với xu
2.2.2.3 Cách thức tiến hành xây dựng bảng hỏi
- Xây dựng nội dung bảng hỏi theo mục đích nghiên cứu của đề tài,
- Xin góp ý của các chuyên gia
- Tiến hành điều tra thử
Trang 39- Hoàn thiện bảng hỏi và tiến hành điều tra chính thức.
2.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
2.2.3.1 Mục đích
Thu thập, bổ sung, kiểm tra và làm rõ những thông tin đã thu được từphương pháp khác để có thể đánh giá trung thực, khách quan các biểu hiện vàmức độ nhận thức về nghề dạy học của SV trường Cao đẳng Tuyên Quang
Bộ câu hỏi phỏng vấn sâu này giúp cho chúng tôi có cái nhìn từ baphía: SV; giảng viên trực tiếp giảng dạy và cán bộ các phòng, ban có liênquan đến hoạt động học tập, rèn nghề của SV: phòng Đào tạo, phòng Công táchọc sinh – SV, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh của trường Cao đẳng Tuyên Quang
2.2.3.2 Nội dung phỏng vấn
Với SV: Chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu đối với 30 sinh viên thuộc
3 ngành nói trên, trao đổi để tìm hiểu sâu hơn, thu thập nhiều thông tin hơn vềnhững hiểu biết của các em về ngành nghề các em đang theo học, những suynghĩ, tình cảm của các em đối với nghề dạy học
Đối với giảng viên, cán bộ: Chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu đối với
09 giảng viên và 03 cán bộ nhằm tìm hiểu những khó khăn, thuận lợi trongcông tác giảng dạy và rèn luyện SV, về những kinh nghiệm của thầy cô trongcông tác giáo dục SV về các phẩm chất và năng lực của người giáo viên cũngnhư trong công tác rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV
Trang 402.2.4 Phương pháp quan sát
2.2.4.1.Mục đích: nhằm phát hiện thực trạng mức độ biểu hiện nhận
thức về nghề dạy học của SV cũng như mức độ rèn luyện bản thân của SVtrong và ngoài nhà trường (thông qua hoạt động rèn nghề, hoạt động thực tập
sư phạm ) Các kết quả thu được từ quan sát được xem là có ý nghĩa quantrọng để đánh giá thực trạng về mặt định tính mức độ biểu hiện các mặt củanhận thức về nghề dạy học của SV
2.2.4.2 Nội dung quan sát: Quan sát các biểu hiện và mức độ biểu hiện
các mặt trong nhận thức về nghề dạy học của SV và mức độ rèn luyện bảnthân trên cơ sở nhận thức về nghề dạy học Các tiêu chí quan sát như sau:
+ Nhận thức về giá trị của nghề dạy học: Quan sát cách sử dụng hành viphi ngôn ngữ: tư thế, tác phong, diện mạo, ánh mắt từ khi SV tìm hiểu các giátrị cá nhân, giá trị xã hội cũng như giá trị tinh thần, giá trị vật chất mà nghềdạy học đem lại; quan sát mức độ chú ý, hứng thú của SV thể hiện về giá trịnghề dạy học trong thời gian rèn luyện nghề nghiệp
+ Nhận thức về yêu cầu đặc điểm nhân cách đối với người giáo viên:Quan sát sự chú ý, hứng thú của SV khi tìm hiểu về những yêu cầu đặc điểmnhân cách đối với nhà giáo; cách rèn luyện nghề nghiệp của SV để đáp ứngnhững yêu cầu nói trên;
+ Nhận thức về đặc điểm đặc trưng trong nghề dạy học: Quan sát sốlượng thông tin; thái độ, cảm xúc của SV khi tìm hiểu về đối tượng, công cụ,sản phẩm cũng như tính chất của nghề dạy học; mức độ tự giác,
+ Sự chủ động của SV trong thực hành rèn luyện nghề nghiệp dựa trên
cơ sở nhận thức đó