Điều kiện hình thành và phát triển tạo cho Bắc Giang một khối lượnglớn những di tích lịch sử, cách mạng, là tiền đề thuận lợi cho phát triển du lịchvăn hoá.Đã có nhiều nghiên cứu về văn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ của mình một cách hoànchỉnh, bên cạnh sự cố gắng, nỗ lực của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệttình của thầy, cô cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình, bạn bè trongsuốt thời gian học viên học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy PGS.TS Nguyễn PhạmHùng- người đã hết lòng giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thànhluận văn này Xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất của tôi đối với điều màThầy đã dành cho tôi Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quýThầy, Cô trong Khoa du lịch Trường Đại Học KHXH&NV và các thầy côKhoa sau Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình truyền đạt những kiến thứcquý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quátrình học tập, nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Sở Văn hoá Thể thao và Du lịchtỉnh Bắc Giang đã không ngừng hỗ trợ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trongsuốt thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn đến gia đình, các anhchị và các đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập,nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh
Hà Nội, tháng 9 năm 2015Học viên thực hiện
Hoàng Thị Hương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Bố cục luận văn
7 Đóng góp của luận văn
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA VÀ VIỆC NGHIÊN CỨU DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH BẮC GIANG
1.1 Những vấn đề lý luận về du lịch văn hóa
1.1.1 Du lịch văn hóa
1.1.2 Tài nguyên du lịch văn hoá
1.1.3 Điểm đến du lịch văn hóa
1.1.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa
1.1.5 Sản phẩm du lịch văn hóa
1.1.6 Khách du lịch với mục đích văn hóa
1.1.7 Tổ chức, quản lý du lịch văn hóa
1.1.8 Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong du lịch 1.2 Khái quát về điều kiện phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang .
1.2.1 Điều kiện bên trong
1.2.2 Điều kiện bên ngoài
1.3 Bài học kinh nghiệm trong nghiên cứu, phát triển du lịch văn hóa .
1.3.1 Bài học kinh nghiệm nước ngoài .
1.3.2 Bài học kinh nghiệm trong nước .
1.4 Những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu du lịch văn hóa Bắc Giang
1.4.1 Tầm quan trọng của du lịch văn hóa trong hoạt động du lịch Bắc Giang
Trang 51.4.2 Những thuận lợi trong hoạt động du lịch văn hóa Bắc Giang. 52
1.4.3 Những khó khăn trong hoạt động du lịch văn hóa Bắc Giang. 53
Tiểu kết chương 1 54
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH BẮC GIANG
2.1 Thị trường khách du lịch văn hoá tỉnh Bắc Giang
2.1.1 Đặc điểm nguồn khách du lịch
2.1.2 Thực trạng lượng khách du lịch
2.2 Sản phẩm du lịch văn hoá tiêu biểu
2.2.1 Du lịch tham quan, nghiên cứu các di sản văn hoá 2.2.2Du lịch lễ hội
2.2.3 Du lịch làng nghề
2.2.4 Du lịch thưởng thức nghệ thuật
2.3 Cơ sở vật chất phục vụ du lịch văn hóa
2.3.1 Hệ thống cơ sở lưu trú
2.3.2 Hệ thống cơ sở kinh doanh ăn uống
2.3.3 Hệ thống cơ sở kinh doanh lữ hành
2.3.4 Phương tiện vận chuyển khách du lịch
2.3.5 Các trung tâm văn hóa, thể thao phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí
2.4 Nhân lực trong du lịch
2.5 Điểm tuyến du lịch văn hóa Bắc Giang
2.5.1 Các điểm du lịch văn hóa tiêu biểu
2.5.2 Các tuyến du lịch tiêu biểu
2.6 Tổ chức, quản lý du lịch văn hoá
2.6.1 Cơ quan quản lý cấp Trung ương về du lịch
2.6.2 Chính quyền địa phương và Ban quản lý du lịch
2.7 Tuyên truyền, quảng bá du lịch văn hóa
Tiểu kết chương 2
Trang 6Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA
TỈNH BẮC GIANG 92
3.1 Những căn cứ đề xuất giải pháp 92
3.1.1 Định hướng phát triển theo ngành 92
3.1.2 Định hướng về phát triển sản phẩm du lịch đặc thù 94
3.1.3 Định hướng phát triển theo không gian, lãnh thổ 96
3.1.4 Những mặt mạnh và mặt yếu rút ra từ thực trạng du lịch văn hóa 100
3.2 Những giải pháp cụ thể 101
3.2.1 Giải pháp về thị trường khách du lịch 101
3.2.2 Giải pháp về sản phẩm du lịch đặc thù 105
3.2.3 Giải pháp về phát triển cơ sở vật chất phục vụ du lịch văn hóa 107
3.2.4 Giải pháp về phát triển nhân lực du lịch văn hoá 109
3.2.5Giải pháp tổ chức, quản lý hoạt động du lịch văn hoá 112
3.2.6 Giải pháp về xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch văn hoá 117
3.2.7 Giải pháp bảo tồn di sản văn hoá và tài nguyên du lịch văn hoá 119
Tiểu kết chương 3 122
KẾT LUẬN 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
PHỤ LỤC 131
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: So sánh sự khác nhau giữa sản phẩm văn hóa và sản phẩm du lịch
Bảng 2.1: Mục đích du lịch của khách du lịch nội địa đến Bắc Giang
Bảng 2.2: Mục đích đi du lịch của khách du lịch quốc tế đến Bắc Giang
Bảng 2.3: Doanh thu du lịch Bắc Giang giai đoạn 2005- 2015
Bảng 2.4: Số khách du lịch đến Bắc Giang giai đoạn 2005- 2015
Bảng 2.5: Số lượng cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Bảng 2.6: Hiện trạng phân bố cơ sở lưu trú tại các huyện đến năm 2014
Bảng 2.7: Hiện trạng chất lượng cơ sở lưu trú của tỉnh Bắc Giang từ năm 2011- 2015
Bảng 2.8: Hiện trạng đơn vị kinh doanh lữ hành tại Bắc Giang
Bảng 2.9: Hiện trạng cơ sở vật chất phục vụ vui chơi giải trí tỉnh Bắc Giang
Bảng 2.10: Lao động du lịch của tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011- 2015
Bảng 2.11: Thực trạng nguồn lao động trực tiếp trong du lịch của tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn 2010- 2015
Bảng 2.12: Thực trạng và nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng nhân lực du lịch tỉnh Bắc Giang năm 2014
Bảng 2.13: Hiện trạng đầu tư phát triển tuyến, điểm du lịch
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ - BIỂU ĐỒ
Sơ đồ1.1: Quy trình bảo tồn di sản 25
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang
Trang 10MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Du lịch là một nhu cầu thiết yếu của tất cả mọi người trong xã hội hiệnnay, khi mà tài nguyên thiên nhiên đang dần cạn kiệt thì du lịch văn hoá đượcxem như một sản phẩm đặc thù của các quốc gia, đặc biệt là các nước đangphát triển Với nền tảng quy mô, nguồn lực không lớn, các nước phát triểnchưa có đủ nguồn lực để xây dựng những điểm du lịch đắt tiền, những trungtâm du lịch tầm cỡ, hiện đại như những nước phát triển mà thường dựa vàonhững tài nguyên tự nhiên và sự đa dạng của bản sắc văn hoá dân tộc, coi đó
là vốn để phát triển du lịch Hơn nữa phần lớn hoạt động du lịch ở các nướcđang phát triển gắn liền với địa phương, cũng là nơi còn tồn tại cái đói nghèo.Bởi thế, thu hút khách tham quan du lịch văn hoá tức là tạo ra dòng chảy mới
và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương Đối với nước ta, du lịchvăn hoá cũng được coi là một trong những loại hình du lịch đặc thù, có thếmạnh và tiềm năng phát triển phong phú, thu hút khách du lịch trong nước vàquốc tế
Bắc Giang là một tỉnh Trung du và miền núi Bắc Bộ có tài nguyên dulịch văn hoá đa đạng phong phú Hiện nay du lịch văn hoá là một thế mạnhcủa du lịch tỉnh nhà Theo thống kê, Bắc Giang có 2.230 di tích lịch sử - vănhoá, có gần 500 di tích được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia, và hơn
1000 di tích cấp tỉnh Các di tích lịch sử được phân bố ở khắp các huyệntrong tỉnh, tạo nên các sản phẩm du lịch đặc sắc, hấp dẫn du khách
Về địa lý nhân văn, Bắc Giang cũng có những điểm riêng Bắc Giangngoài những cư dân sinh sống tại chỗ, nơi đây còn có nhiều cư dân từ các địaphương khác đã tới đây sinh tụ, chung sức chung lòng dựng làng, trinh phụcthiên nhiên, ý chí một lòng, tự cường, tự lực, mãnh liệt, một tinh thần đánhgiặc ngoại xâm Chính trên cơ sở kết hợp các nhân tố đặc biệt về thiên nhiên
và con người mà trong lịch sử dựng nước và giữ nước oai hùng của dân tộc,
Trang 11Bắc Giang là nơi sản sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt, nhiều danh nhân vănhoá có công với đất nước Bắc Giang còn là một trong những địa phương cóphong trào cách mạng mạnh mẽ, là một thành cổ chống giặc ngoại xâm tronglịch sử Điều kiện hình thành và phát triển tạo cho Bắc Giang một khối lượnglớn những di tích lịch sử, cách mạng, là tiền đề thuận lợi cho phát triển du lịchvăn hoá.
Đã có nhiều nghiên cứu về văn hoá và du lịch Bắc Giang, ví dụ như “
Du lịch Bắc Giang tiềm năng và triển vọng”, “Bắc Giang: Bảo tồn và phát huycác giá trị văn hoá Lý- Trần” của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Bắc Giang,
… Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên chưa nghiên cứu riêng về du lịchvăn hoá tỉnh Bắc Giang, chưa nghiên cứu tổng thể, toàn diện về du lịch vănhoá tỉnh Bắc Giang Cùng với nó hoạt động thực tiễn hoạt động du lịch vănhoá Bắc Giang hiện nay cho thấy sản phẩm du lịch Bắc Giang còn nghèo nàn,đơn điệu, chưa tương xứng với tiềm năng, chưa mang tính đặc trưng của địaphương, chưa tạo được tính cạnh tranh trên thị trường, vì thế chưa thoả mãnđược nhu cầu tìm hiểu của du khách Nhiều dự án đầu tư du lịch đã được tiếnhành và đi vào hoạt động nhưng nhìn chung hầu hết vẫn ở quy mô nhỏ lẻ, tựphát, chưa có tính đồng bộ cao hoặc có những dự án lớn nhưng vẫn còn trongtình trạng dang dở
Căn cứ vào thực trạng và tính cấp bách của vấn đề, tác giả đã chọn đề
tài “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hoá tỉnh Bắc Giang” nhằm tìm ra
những định hướng và giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả khai thác sảnphẩm du lịch văn hoá của tỉnh trong thời gian tới, đưa du lịch văn hoá thànhloại hình chủ đạo đem lại nhiều lợi ích về kinh tế và xã hội cho Bắc Giang
2. Lịch sử nghiên cứu
Ở Việt Nam, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá Trong
đó, mỗi tỉnh lại có các tác giả nghiên cứu sâu về những nét đặc trưng của vănhoá mình Ví dụ như: “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hoá tỉnh Bắc Ninh”-
Trang 12Luận văn thạc sỹ của Lê Trung Thu, tác giả đã nêu bật lên được nền văn hoálâu đời gắn với những tên tuổi khác nhau của các vị vua thời Lý, di sản phi vậtthế giới Quan họ Bắc Ninh, hàng trăm ngôi chùa và làng nghề nổi tiếng …Hoặc luận văn “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hoá tỉnh Thái Bình” củaThạc sỹ Phạm Thị Bích Thuỷ Tác giả đã tập trung nghiên cứu về những đặctrưng văn hoá của một tỉnh đồng bằng bắc bộ, có rất nhiều di sản văn hoá tuynhiên lại chưa được khai thác tốt trong việc bảo tồn và phát triển du lịch.
Ở Bắc Giang, các công trình nghiên cứu về văn hóa Bắc Giang cũngkhá phong phú, ví dụ như: “Du lịch Bắc Giang tiềm năng và triển vọng”,
“Bắc Giang: Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá Lý- Trần” của Sở Vănhoá, Thể thao và Du lịch Bắc Giang, thông qua các hội thảo như “ Liên kếtphát triển du lịch Thái Nguyên- Bắc Giang- Hải Dương- Quảng Ninh”, “Hộithảo xây dựng, phát triển sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh- sinh thái vùngTây Yên Tử”, “ Hội thảo phát triển du lịch tại Khe Rỗ”,… Các công trìnhnghiên cứu, luận văn thạc sỹ về đề tài văn hóa phục vụ cho khách du lịch cònkhá khiêm tốn, chỉ đơn thuần là những luận văn dừng lại ở việc thống kê cáctài nguyên du lịch nói chung hoặc tập trung vào vấn đề sưu tầm và bảo tồncác giá trị văn hóa có chăng chỉ nghiên cứu một khía cạnh nào đó để phục vụcho việc phát triển du lịch, còn việc nghiên cứu tổng thể các giá trị văn hóatỉnh Bắc Giang nhằm bảo tồn và phục vụ phát triển du lịch, đặc biệt là du lịchvăn hóa thì chưa có một công trình nào được công bố Chính vì lẽ đó, tác giả
đã chọn đề tài của mình theo hướng nghiên cứu tổng thể các giá trị văn hóa ởBắc Giang để phục vụ du lịch
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn khi thực hiện là góp phần phát triển du lịchvăn hoá tỉnh Bắc Giang cũng như bảo tồn các di sản văn hoá trong kinhdoanh du lịch của tỉnh
Để đạt được mục đích trên, luận văn đã giải quyết các nhiệm vụ chính là:
Trang 13- Nghiên cứu cơ sở lý luận về du lịch văn hoá như: tài nguyên du lịchnhân văn, điểm đến du lịch văn hoá, thị trường, nguồn khách… để từ đó xâydựng sản phẩm du lịch, tổ chức thực hiện và quản lý chúng nhằm mục đíchphát triển du lịch và bảo tồn văn hoá.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng khai thác sản phẩm du lịch văn hoá của tỉnh Bắc Giang
- Nêu ra những đề xuất góp phần phát triển du lịch văn hoá và bảo tồn
di sản văn hoá tỉnh Bắc Giang
4. Đối tượng và phạm vi nghiên
cứu Đối tượng nghiên cứu
- Thực tiễn hoạt động du lịch văn hoá tỉnh Bắc Giang, cụ thể về các vấnđề: cơ sở vật chất phục vụ du lịch văn hoá, nhân lực du lịch, sản phẩm du lịchvăn hoá, thị trường khách du lịch, công tác tổ chức, quản lý du lịch văn hoá,hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch Bắc Giang…
- Những kinh nghiệm trong việc bảo tồn, phục hồi, khai thác tài nguyênvăn hoá vào mục đích kinh doanh du lịch
Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu các di sản văn hoá, tài nguyên dulịch văn hoá trên địa bàn tỉnh Bắc Giang Trong đó luận văn tập trung nghiêncứu một số luận điểm du lịch có quy mô tương đối lớn, có khả năng hìnhthành điểm du lịch thu hút khách của Bắc Giang
- Phạm vi thời gian: Số liệu, tài liệu sẽ thu thập từ năm 2005 trở về đây,các định hướng phát triển du lịch văn hoá của tỉnh và các giải pháp được đưa
ra trong thời gian tới
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp sau để thực hiện nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát thực địa: được sử dụng trong việc đánh giátiềm năng và hiện trạng di tích Tiếp cận thực tế bằng đo đạc, quay phim, chụpảnh… phối hợp với các cơ quan quản lý trong khu vực nghiên cứu
Trang 14- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin, số liệu: Luận văn sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp
+ Thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp từ các kết quả nghiên cứu, sách báotạp chí, các trang web điện tử, các tài liệu, báo cáo các cơ quan quản lý du lịch
và chính quyền địa phương Dựa trên cơ sở đó đưa ra những đánh giá vànhững giải pháp để phát triển sản phẩm du lịch văn hóa Bắc Giang
+ Thu thập dữ liệu sơ cấp bằng việc khảo sát thực địa, phỏng vấn các cán
bộ chuyên trách du lịch Bắc Giang và một số người dân địa phương ở nơi
có tài nguyên du lịch văn hóa
- Phương pháp bản đồ: là phương pháp đánh giá tiềm năng và hiệntrạng di tích một cách hệ thống và tổng quát, trên cơ sở phân tích, đối chiếucác thông số, hình ảnh… trên bản đồ địa hình, bản đồ cắt lớp…
- Phương pháp phân tích- tổng hợp: phương pháp phân tích một cách
hệ thống nhằm nhận biết rõ vai trò ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành nênsản phẩm du lịch văn hóa để hệ thống hóa và tổng hợp thành các vấn đề tiêubiểu, đặc trưng của du lịch văn hóa vùng nghiên cứu Từ đó đề xuất cácnguyên tắc và giải pháp phát triển du lịch văn hóa cho vùng nghiên cứu
- Phương pháp dự báo: là phương pháp để đoán định các xu hướng sẽxảy ra trong tương lai (bao gồm định tính và định lượng), để có các địnhhướng tổ chức kinh doanh du lịch văn hóa của tỉnh cho phù hợp với tương lai
6. Bố cục luận văn
Luận văn bao gồm 3 chương (ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục)
Chương 1.Một số vấn đề lý luận về du lịch văn hóa và việc nghiên cứu
du lịch văn hóa tỉnh Bắc Giang
Chương 2 Thực trạng hoạt động du lịch văn hoá tỉnh Bắc Giang
Chương 3 Một số giải pháp phát triển du lịch văn hoá tỉnh Bắc Giang
Trang 157. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về du lịch văn hoá
- Hệ thống hoá giá trị nguồn tài nguyên du lịch văn hoá tỉnh Bắc Giang
- Nghiên cứu, khảo sát thực tế hoạt động du lịch văn hoá của tỉnh Trên
cơ sở đó, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của du lịch văn hoá tỉnh Bắc Giang
- Đề suất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch văn hoá tỉnh Bắc Giang
Trang 16CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA
VÀ VIỆC NGHIÊN CỨU DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH BẮC GIANG
1.1 Những vấn đề lý luận về du lịch văn hóa
1.1.1 Du lịch văn hóa
Bên cạnh những loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch khámchữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục , du lịch văn hóa hiện nayđang là xu hướng phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới, bởi nó đem lạigiá trị lớn cho cộng đồng xã hội Du lịch văn hóa cũng là một khái niệm mà
có nhiều định nghĩa và cách hiểu về nó
“Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá những ditích và di chỉ Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp nỗlực vào bảo tồn và tôn tạo đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, vì những lợi íchvăn hóa- kinh tế- xã hội” (ICOMOS)
“Du lịch văn hóa là loại hình du lịch chủ yếu hướng vào việc quyhoạch, lập trình, thiết kế các tour lữ hành tham quan các công trình văn hóa cổkim”.1
“Du lịch văn hóa là loại hình du lịch dựa trên cở sở khai thác các giá trị
di sản văn hóa dân tộc và được tổ chức một cách có văn hóa” 2
Ở nhiều nước, nhất là Đông Nam Á, về mặt lý thuyết người ta xếp loạihình du lịch văn hóa (Cultural Tourism) vào loại hình du lịch sinh thái (EcoTourism) bởi cho rằng sinh thái học (Escology) bao gồm cả sinh thái học vànhân văn học (Human Ecology)
Như vậy du lịch văn hóa là một loại hình du lịch lấy việc khai thác tài nguyên văn hóa làm mục đích, khai thác các giá trị văn hóa vào phát triển và
1 Trần Thúy Anh, Nguyễn Thu Thủy, Nguyễn Thị Anh Hoa (2010), Ứng xử văn hóa trong du lịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 22.
2 Nguyễn Văn Bình (2005), Phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa - một công cụ bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, Bảo vệ môi trường du lịch, Tổng cục Du lịch, tr 98.
Trang 17bảo tồn một nguồn tài nguyên du lịch du lịch văn hóa là một phương tiệntruyền tải giá trị văn hóa của một địa phương, một dân tộc, một quốc gia cho
du lịch khám phá, thưởng ngoạn, giao lưu và học tập Nó góp phần đánhthức, làm đậy lên những giá trị văn hóa Thông qua du lịch, các tài sản vănhóa được bảo vệ, tôn tạo và phục hồi những giá trị
Du lịch văn hóa là một hoạt động du lịch lấy tính văn hóa làm mục đích
và xuyên suốt Bởi thế, du lịch văn hóa mang các đặc điểm3
- Du lịch văn hóa mang tính giáo dục nhận thức: Sản phẩm du lịch vănhóa ngoài phần dịch vụ, còn một phần là những di sản vật thể cũng như phivật thể Những di sản này hàm chứa nhiều thông tin về văn hóa, lịch sử củadân tộc cũng như kiến thức thẩm mỹ, nghệ thuật Rõ ràng, du lịch văn hóagiúp du khách hiểu biết hơn về lịch sử văn hóa của quốc gia điểm đến
- Du lịch văn hóa có thị trường khách lựa chọn: Khách lựa chọn du lịchvăn hóa thường đã xác định được mục đích chuyến đi của mình là nhằm tìmhiểu về văn hóa nơi mình đến Thông thường đối tượng khách này cũng cónhững kiến thức xã hội nhất định
- Du lịch văn hóa giúp bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống Để pháttriển được du lịch văn hóa, điều quan trọng là phải bảo tồn được những giá trịvăn hóa mang đậm bản sắc riêng của dân tộc Chỉ có như thế mới thu hútđược du khách
- Du lịch văn hóa là nhịp cầu trao đổi văn hóa giữa các dân tộc: Nhữngtri thức văn hóa thu thập được từ các sản phẩm du lịch văn hóa sẽ góp phầnlàm lan tỏa những giá trị của quốc gia, thẩm thấu vào nền văn hóa khác
1.1.2 Tài nguyên du lịch văn hoá
Du lịch văn hóa sử dụng văn hóa như nguồn lực, hay nói cách khác, văn hóa là nguồn tài nguyên độc đáo của du lịch, là “nguyên liệu” để hình thành
3 Nguyễn Văn Bình (2005), Phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa - một công cụ bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, Bảo vệ môi trường du lịch, Tổng cục Du lịch, tr 98-99.
Trang 18nên hoạt động du lịch Nguồn “nguyên liệu” văn hóa có hai loại cơ bản: vănhóa vật thể và văn hóa phi vật thể Văn hóa vật thể là những sáng tạo của conngười, hiện hữu trong không gian và có thể cảm nhận bằng các giác quan, thịgiác, xúc giác Chẳng hạn như di tích lịch sử văn hóa, hàng thủ công, dụng cụsinh hoạt, sản xuất, các món ăn dân tộc… Còn văn hóa phi vật thể bao gồmcác lễ hội, các loại hình nghệ thuật, cách ứng xử, giao tiếp…, lại được cảmnhận một cách gián tiếp và “vô hình” Dưới góc độ du lịch, người ta xếp cácyếu tố văn hóa vào tài nguyên du lịch văn hoá (phân biệt với tài nguyên tựnhiên như biển, sóng, hồ, núi rừng, hang động…) Cùng với tài nguyên dulịch văn hoá là một trong những điều kiện phát triển du lịch của mỗi quốc gia,mỗi vùng, mỗi địa phương Giá trị của những di sản văn hóa cùng với nhữngthành tựu kinh tế, chính trị, xã hội …là đối tượng cho khách khám phá,thưởng thức Bên cạnh đó nguồn tài nguyên này còn quyết định đến, quy mô,thể loại, chất lượng và hiệu quả của hoạt động du lịch của mỗi vùng, miền; làmột trong 8 yếu tố tạo nên sức hấp dẫn du lịch của một vùng du lịch (theoquan niệm của Barbara Kirshenblatt).
Tuy nhiên không phải yếu tố văn hóa nào cũng trở thành tài nguyên dulịch văn hoá Chỉ có những tài nguyên có sức hấp dẫn với du khách và có thểkhai thác phát triển du lịch để tạo ra hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường mớiđược gọi là tài nguyên du lịch văn hoá Chỉ những sản phẩm văn hóa nào cógiá trị phục vụ du lịch mới được coi là tài nguyên du lịch văn hoá Vì vậy tàinguyên du lịch văn hoá thường là những giá trị văn hóa tiêu biểu, đặc sắc củamỗi địa phương, mỗi quốc gia
Tài nguyên du lịch văn hoá có những tính chất chung là: Đa dạng (làmphong phú sản phẩm du lịch), Hấp dẫn (thu hút khách), Độc đáo (có nét riêng,đặc trưng), Không dịch chuyển (ngay cả có những sản phẩm dự phòng cũngkhông thể thay thế được), và Dễ tổn thất Trong khi tài nguyên du lịch tựnhiên tạm coi là vô hạn (vô hạn tương đối) thì tài nguyên du lịch văn hoá và
Trang 19xã hội là hữu hạn, bên cạnh đó, tài nguyên du lịch văn hoá còn có mối quan hệchặt chẽ với điều kiện tự nhiên, tài nguyên tự nhiên, với các điều kiện tựnhiên, kinh tế, xã hội, chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên, quy luật xãhội… Vì vậy mỗi địa phương, mỗi quốc gia thường có những tài nguyên dulịch văn hoá mang tính đặc sắc, độc đáo, dễ hấp dẫn du khách Du khách đi dulịch là để trải nghiệm, tìm hiểu, hưởng thụ các giá trị về văn hóa, tự nhiên.Song do tính kết tinh, đan xen, hội nhập nên trong quá trình khai thác, sửdụng vào hoạt động du lịch, tài nguyên du lịch văn hoá rất dễ bị mai một, thayđổi, mất bản sắc văn hóa Do vậy trong quá trình bảo tồn, tôn tạo và khai tháctài nguyên du lịch văn hoá vào mục đích du lịch, việc bảo vệ độc đáo, đặc sắc,nguyên vẹn của loại hình tài nguyên này là bí quyết hấp dẫn du khách và pháttriển du lịch bền vững.
1.1.3 Điểm đến du lịch văn hóa
Theo M.Buchvarov (1982) điểm đến du lịch là cấp thấp nhất trong hệthống phân vị gồm 5 cấp: điểm du lịch hạt nhân, du lịch tiểu vùng, du lịch ávùng, du lịch vùng du lịch Về mặt lãnh thổ, điểm đến du lịch có quy mô nhỏ
“ là nơi tập trung một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hóa- lịch sử hoặckinh tế, xã hội) hay một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kếthợp cả hai quy mô nhỏ”4
“Điểm đến du lịch là một thành phố, thị xã, khu vực mà có sự phụthuộc đáng kể vào nguồn lợi nhuận thu được từ du lịch Nó có thể chứa mộthoặc nhiều điểm tham quan du lịch hấp dẫn”5
Điểm đến du lịch cũng trải qua các giai đoạn hình thành, phát triển, suythoái Người ta gọi đó là “vòng đời” của điểm du lịch Ban đầu một điểm đến
du lịch trở nên tiềm năng hấp dẫn với những nhóm nhỏ du khách nhắm đếnmột vài đặc tính nổi bật của điểm đến đó Những đặc tính có thể là di sản văn
4 Nguyễn Minh Tuệ và đồng sự (1999), Địa lý du lịch, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr 113.
Trang 20hóa của điểm đến du lịch, hay di sản thiên nhiên, hay cảnh quan đẹp… Dần dầntheo thời gian, điểm đến trở nên nổi tiếng hơn Khi đó có thể nói điểm đến đangtrong quá trình phát triển, cùng với việc mở rộng số lượng dân cư và du kháchtới thăm Theo thời gian, điểm đến có thể thay đổi rất nhiều Đương nhiên, sẽ tớimột thời điểm cần có những quyết định đúng đắn để ngăn chặn nguy cơ xuốngcấp và duy trì đặc điểm cốt lõi của điểm đến, cũng như phải có những chiếnlược để đối phó với những đổi thay sâu sắc, lâu dài đối với nó
Như vậy có thể hiểu điểm đến du lịch văn hóa là nơi tập trung vào mộtloại tài nguyên nhân văn nào đó, phục vụ du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa;
và có nguồn thu từ du lịch Điểm đến du lịch văn hóa cũng có vòng đời nhưmột điểm đến du lịch
1.1.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa
Cơ sở vật chất kỹ thuật có vai trò đặc biệt đối với du lịch nói chung và
du lịch văn hóa nói riêng, là cơ sở để đảm bảo cho việc hoạt động du lịch mộtcách hiệu quả
Theo nghĩa rộng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn bộcác phương tiện vật chất kỹ thuật được huy động tham gia vào việc khai tháctài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ hàng hóa, thỏa mãncác nhu cầu của du khách trong chuyến hành trình của họ Theo cách hiểu này,
cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm các cơ sở vật chất kỹ thuật cuả bảnthân ngành du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật của một số ngành kinh tế kháchnhư mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc,công trình cung cấp điện nước tham gia phục vụ du lịch…những cơ sở nàyđược gọi chung là yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng xã hội, giữ vai trò đảm bảo điềukiện chung cho việc phát triển du lịch Điều này được giải thích bởi sản phẩm
du lịch lệ thuộc của du lịch vào thành quả của những ngành kinh tế khác
Trang 21Theo nghĩa hẹp, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn bộ cơ
sở vật chất kỹ thuật do các tổ chức du lịch xây dựng nhằm khai thác tiềm năng
du lịch, tạo ra và làm mới các sản phẩm dịch vụ và hàng hóa, làm thỏa mãnnhững nhu cầu của khách Chúng bao gồm hệ thống khách sạn, nhà hàng, khuvui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển… và các công trình bổ trợ Đây làyếu tố tác động trực tiếp tới số lượng và chất lượng dịch vụ du lịch Chính vìvậy, sự phát triển du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoànthiện cơ sở vật chất kỹ thuật
Khi xem sét cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch cần chú ý các thành phần:
Cơ sở phục vụ ăn uống, như lưu trú, khách sạn, nhà hàng, camping,bungalow…; Mạng lưới cửa hàng chuyên nghiệp: bao gồm mạng lưới cửahàng thuộc trung tâm du lịch và mạng lưới thương nghiệp địa phương; Cơ sởthể thao: gồm công trình thể thao, phòng thể thao, trung tâm thể thao,…; Cơ
sở y tế, gồm phòng y tế, trung tâm chữa bệnh… nhằm phục vụ du lịch chữabệnh và cung cấp các dịch vụ bổ sung tại các điểm du lịch; Các công trìnhphục vụ hoạt động thông tin văn hóa như trung tâm văn hóa, rạp chiếu phim,nhà hát, câu lạc bộ triển lãm… Ngoài ra còn có các công trình hỗ trợ khác
Từ cách hiểu trung đó, cơ sở vật chất để phát triển du lịch văn hóa baogồm cơ sở vật chất của các ngành kinh tế khác có liên quan tới du lịch (nhưnông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, kết cấu hạ tầng giao thông vận tải…) và
cơ sở vật chất của chính các điểm du lịch văn hóa, các di sản văn hóa, cácdoanh nghiệp kinh doanh du lịch văn hóa tạo điều kiện cho du lịch văn hóaphát triển du lịch
Trang 22“Sản phẩm du lịch là toàn bộ những dịch vụ tạo ra hàng hóa, hàng hóamang tính đặc thù cho các cá nhân và tổ chức kinh doanh du lịch cung cấp đểphục vụ những nhu cầu của các đối tượng du khách khác nhau Nó phải phùhợp với những tiêu chí nghề nghiệp theo thông lệ quốc tế, đồng thời kế thừanhững giá trị văn hóa đặc trưng bản địa, đáp ứng và làm thỏa mãn các mụctiêu kinh tế- xã hội đối với các cá nhân, tổ chức và địa phương nơi đang diễn
ra các hoạt động kinh doanh du lịch” Sản phẩm du lịch trước hết là sản phẩmvăn hóa Hai loại sản phẩm này có mối quan hệ mật thiết vơi nhau, được thểhiện như sau6:
Bảng 1.1: So sánh sự khác nhau giữa sản phẩm văn hóa và sản phẩm du lịchSản phẩm văn hóa
Bề vững, tính bất biến cao
Mang nặng dấu ấn của cộng đồng
dân cư bản địa
Dùng cho tất cả các đối tượng khác
nhau, phục vụ mọi người
Sản xuất ra không để bán, chủ yếu
phục vụ cho đời sống sinh hoạt văn
hóa, tinh thần của cư dân bản địa
Trú trọng giá trị tinh thần, giá trị
không đo được hết bằng giá cả
Quy mô hạn chế, thời gian và không
6 Dương Văn Sáu (2010), Phát triển sản phẩm du lịch ở Việt Nam, Tạp chí Du lịch, số 2, tr 33.
Trang 23du lịch.
Vậy sản phẩm du lịch văn hóa là sản phẩm du lịch khai thác những giátrị văn hóa, sử dụng tài nguyên du lịch văn hóa trong hoạt động của mình,khác biệt với sản phẩm du lịch tự nhiên Sản phẩm du lịch văn hóa cũng khácvới sản phẩm văn hóa ở chỗ: sản phẩm văn hóa để cung ứng cho con ngườinói chung, còn sản phẩm du lịch văn hóa chỉ cung cấp cho khách du lịch cónhu cầu tìm hiểu, thưởng thức văn hóa Tuy nhiên, sự phân định này rất khó,
Trang 24chỉ mang tính định tính, không mang tính định lượng Hơn nữa, sản phẩm vănhóa không tạo ra sự mới lạ với cư dân vùng khác đến Yếu tố “lạ” được làmnên bởi sự khác biệt về văn hóa Sự khác biệt về văn hóa giữa các cộng đồngngười, giữa các vùng miền, giữa các quốc gia, thậm chí giữa các vùng hiệnđại với các nền văn hóa quá khứ là căn nguyên làm nên tính khác biệt của dulịch, tạo nên sự hấp dẫn, tò mò, ham khám phá của du khách Đa dạng vănhóa chính là lý do sinh tồn của du lịch, bởi đa dạng văn hóa tạo nên sự mới lạ,
và là cơ sở để xây dựng những sản phẩm du lịch mới lạ, độc đáo, riêng có củamỗi vùng miền
Đảm bảo được điều này, sản phẩm văn hóa bản thân nó đã có sự hấpdẫn đối với du khách Nhưng để biến nó thành một sản phẩm du lịch phổbiến, rộng rãi còn phải căn cứ vào nhiều yếu tố, đòi hỏi nhiều nỗ lực và trảiqua nhiều bước, nói cách khác là phải có một quy trình xây dựng để sản phẩmvăn hóa trở thành sản phẩm du lịch7
1.1.6 Khách du lịch với mục đích văn hóa
Có không ít định nghĩa về du khách, khách du lịch với mỗi lăng kínhkhác nhau của các học giả, các định nghĩa đưa ra không hoàn toàn như nhau:
“Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trườnghợp đi học, đi làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập từ nơi đến”8
“Du khách là người từ nơi khác đến/ hoặc kèm theo mục đích thẩmnhận tại chỗ những giá trị vật chất những giá trị vô hình hay hữu hình củathiên nhiên và/hoặc của cộng đồng xã hội Về phương diện kinh tế, du khách
là người sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp du lịch lữ hành, lưu trú, ănuống…”9
7 Nguyễn Quang Vinh (2007), Quy trình xây dựng sản phẩm văn hóa thành sản phẩm du lịch, Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và đào tạo du lịch ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế”, tr.91.
8 Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Du lịch, Nxb Chính trị Quốc gia, tr.2
Trang 25Từ đó có thể khái quát rằng khách du lịch với mục đích văn hóa, trướchết có đầy đủ những yếu tố của khách du lịch, là những du khách có mối quantâm tới đối tượng văn hóa, khai thác, thưởng thức các sản phẩm văn hóa Họ
là những người từ nơi khác đến với mục đích thẩm định các giá trị tại chỗ,những giá trị vật chất, hữu hình hay vô hình của các tài nguyên văn hóa củacộng đồng xã hội nhất định, giống như các lại hình du lịch khác, khách dulịch đi với mục đích văn hóa có thể đi với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, phụchồi tâm sinh lý; hay đi với mục đích tìm hiểu, học tập về văn hóa; hoặc đi dulịch kết hợp với mục đích công vụ, hội nghị hội thảo Với mỗi mục đích khácnhau thì du khách có những nhu cầu, sở thích khác nhau tương ứng
1.1.7 Tổ chức, quản lý du lịch văn hóa
Cùng với sự phát triển không ngừng của ngành du lịch, các di sản vănhóa (bao gồm di sản vật thể và di sản phi vật thể) đều đã và đang trở thànhnguồn tài nguyên quan trọng, được ngành du lịch chú ý khai thác Vì thế, cầnkhẳng định rằng, hiệu quả to lớn mà du lịch đạt được trong nhiều năm quakhông thể tách rời việc khai thác những giá trị đặc sắc của kho tàng di sản vănhóa cộng đồng
Tổ chức, quản lý du lịch văn hóa và quản lý di sản được coi là điểu kiệnquan trọng để triển khai loại hình du lịch văn hóa một cách hiệu quả theo địnhhướng phát triển bền vững Căn cứ vào Luật du lịch quy định nội dung quản
lý nhà nước về du lịch, có thể suy ra công tác tổ chức, quản lý du lịch văn hóa
là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, của các cấp chínhquyền địa phương, cũng như của chính các đơn vị, công ty hoạt động tronglĩnh vực du lịch Mỗi cơ quan sẽ có chức năng, nhiệm vụ khác nhau trongcông tác tổ chức, quản lý du lịch văn hóa, xong những hoạt động đó đềuhướng đến du lịch văn hóa, di sản văn hóa, điểm đến văn hóa, tài nguyên dulịch văn hóa…
Trang 26Đối với cơ quan quản lý nhà nước về du lịch:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch văn hóa
- Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm về tiêu chuẩn định mức kinh tế- kỹ thuật trong hoạt động du lịch văn hóa
- Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và thông tin về du lịchvăn hóa
- Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch văn hóa, nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ
- Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch văn hóa để xây dựngquy luật phát triển du lịch văn hóa, xác định tuyến du lịch văn hóa, điểm dulịch văn hóa…
- Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế, xúc tiến, quảng bá du lịch văn hóa ở trong và ngoài nước
- Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch, sự phối hợp của các
cơ quan nhà nước trong việc quản lý du lịch văn hóa
- Cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du lịch văn hóa
- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động du lịch văn hóa
Đối với chính quyền địa phương:
Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạncủa mình và theo sự phân cấp của Chính phủ có trách nhiệm thực hiện quản lý
du lịch văn hóa tại địa phương; cụ thể hóa quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chínhsách phát triển du lịch văn hóa phù hợp với thực tế tại địa phương và có biệnpháp đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường tại khu dulịch văn hóa, điểm du lịch văn hóa, tuyến du lịch văn hóa…
Trang 27Đối với cơ sở, đơn vị kinh doanh du lịch:
- Thực hiện các hoạt động của đơn vị, tuân thủ các quy định của nhànước và sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương,như quy định về khai thác tài nguyên du lịch văn hóa, kinh doanh du lịch vănhóa, quy định về đóng góp cho mục đích bảo tồn di sản văn hóa…
1.1.8 Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong du lịch
Văn hóa là tài nguyên, là chất liệu cho du lịch và du lịch văn hóa.Giữa du lịch và văn hóa luôn có mối quan hệ biện chứng và trực tiếp Giaolưu là một trong những thuộc tính cơ bản của văn hóa và được biểu hiện sinhđộng trong những di sản mà du lịch đã, đang và sẽ góp phần không nhỏ đểthực hiện sự kết nối Sự phát triển của du lịch tác động trực tiếp và gián tiếpđến việc trấn hưng và bảo tồn di sản văn hóa bằng các nguồn thu từ các hoạtđộng Nhưng sự bùng nổ số lượng khách thăm quan, sự phát triển các dịch vụthiếu kiểm soát, sự buôn bán trái phép các đồ cổ, sự mai một truyển thống dogiao lưu, tiếp xúc… đang là mối nguy cơ đối với các di sản văn hóa Bởi vậy,việc bảo tồn và khôi phục, giữ gìn những tài nguyên quý báu đó vừa là nhucầu tự thân, vừa là nhu cầu bắt buộc đối với hoạt động du lịch
Các nhà nghiên cứu đã xây dựng quy trình bảo tồn di sản, có thể lấylàm mẫu để áp dụng cho các đối tượng cụ thể Chuỗi công việc được xắp xếpnhư sau:10
10 Dallen J Timothy, Stephen W Boyd (2003), Heritage tourism, Prentice Hall, tr 107.
Trang 28Sơ đồ1.1: Quy trình bảo tồn di sản
Nhận diện di sản
Nghiên cứu & kiểm kê di sản
Xây dựng chính sách bảo tồn
Chỉ định cơ quan bảo tồn di sản
Trùng tu, tôn tạo và phát triển
Quản lý và quảng bá di sản
- Nhận diện di sản: là bước nhận biết, xác định khoanh vùng di sản,
chứng minh các đặc điểm, đặc tính cần được quan tâm của di sản
- Nghiên cứu và phát triển di sản: là bước phát triển và phân loại các
đặc điểm được nêu ở bước 1 Công việc này thường sẽ nghiên cứu những ýnghĩa về lịch sử, sinh thái, khảo cổ học để tìm ra giá trị văn hóa và quy môcủa di sản, đồng thời xác định những những điều kiện bắt buộc đối với thựctiễn quản lý di sản đó
- Xây dựng chính sách bảo tồn: ở bước này, mục đích của việc bảo
tồn cũng như khung chương trình bảo tồn được thiết lập Nội dưng trên phụ
Trang 29thuộc rất nhiều vào giá trị văn hóa của di sản và những quy định bắt buộc trong quản lý di sản đó.
- Chỉ định cơ quan bảo tồn di sản: xác định cơ quan tổ chức thực hiện
công tác bảo tồn di sản theo quy định của Luật Di sản Cơ quan được xácđịnh sẽ là một phần hay toàn bộ trách nhiệm huy động nguồn vốn cho bảotồn Nếu di sản là sở hữu cá nhân hay tổ chức khác với cơ quan đang có tráchnhiệm triển khai thì cần mua lại di sản từ các tổ chức hay cá nhân đó
- Trùng tu, tôn tạo và phát triển: bước này trú trọng với các công việc
cụ thể, như trùng tu, tôn tạo, làm mới, đầu tư cơ sở hạ tầng và các cơ sở vậtchất cho di sản Trong nhiều trường hợp, công việc cấp bách, nhất là tu tạocác công trình kiến trúc đang bị hư hỏng nặng và hạn chế xuống cấp của các công trình
- Quản lý và quảng bá di sản: đây là bước cuối cùng của công tác bảo tồn di sản, đặt ra yêu cầu phải tiếp tục giám sát, theo dõi và đánh giá di
sản Ở bước này phải quan tâm tới tốc độ tăng lên của số lượng du khách tới
di sản và mục đích hướng tới của việc quảng bá di sản
Trong hoạt động du lịch văn hóa, bảo tồn di sản văn hóa không phảicông việc của riêng ai, mà là trách nhiệm chung của 4 thành phần tham giacấu thành hoạt động du lịch:
- Cơ quan quản lý du lịch: là cơ quan xây dựng : là cơ quan xây dựng
các văn bản quy phạm và bảo tồn các di sản văn hóa trong du lịch, làm chế tàiquản lý các cá nhân, tổ chức kinh doanh du lịch Xây dựng các chương trìnhgiáo dục, nâng cao ý thức, trách nhiệm của các đơn vị kinh doanh du lịch và
cư dân địa phương về bảo tồn di sản Hiện nay ở nước ta đã có văn bản phápluật để tạo hành làn pháp lý chặt chẽ cho việc thực hiện công tác bảo tồn disản trong hoạt động du lịch như: Luật Di sản Văn hóa 28/2001/QH10, Luậtsửa đổi bổ sung một số điều của luật Di sản văn hóa 32/2009/QH12, Nghịđịnh 98/2010/NĐ-CP, Luật Du lịch 44/2005/QH11…
Trang 30- Đơn vị cung ứng du lịch: có trách nhiệm thực hiện những quy định
của cơ quan quản lý về bảo tồn di sản cũng như đóng góp vào nguồn quỹ bảotồn, trùng tu di sản văn hóa trong quá trình khai thác du lịch
- Khách du lịch: thực hiện những quy định của điểm đến về bảo vệ môi
trường, giữ gìn di sản Đóng góp vào quỹ bảo tồn di sản
- Cư dân địa phương: là chủ nhân của các di sản văn hóa nên họ cần
nhận thức được tầm quan trọng của việc giữ gìn các văn hóa truyền thống đốivới sự phát triển du lịch, từ đó có những hoạt động cụ thể trong bảo tồn
1.2 Khái quát về điều kiện phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang.
1.2.1 Điều kiện bên trong
1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên.
Bắc Giang là một tỉnh miền núi, với tổng diện tích tự nhiên 3.823,3
km2, Bắc Giang cách Thủ đô Hà Nội 50 km về phía Bắc, cách cửa khẩu quốc
tế Hữu Nghị- Lạng Sơn 110 km về phía Nam, cách cảng Hải Phòng hơn 100
km về phía Đông Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây và TâyBắc giáp Hà Nội, Thái Nguyên, phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Bắc Ninh,Hải Dương và Quảng Ninh
Bắc Giang có 10 đơn vị hành chính: 09 huyện và 01 thành phố (YênDũng, Hiệp Hòa, Việt Yên, Lạng Giang, Yên Thế, Tân Yên, Lục Nam, LụcNgạn, Sơn Động và thành phố Bắc Giang) Nơi đây ở vào một địa thế thuậnlợi, nằm trong khu vực Bắc Bộ, đất đai được bồi đắp phù sa bởi các con sônglớn như: Sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam; có núi cao bao bọc, cónhiều lâm sản quý, có vùng trung du rộng lớn thuận lợi việc canh tác Nhiềuvùng đất đai còn tốt, đặc biệt ở khu vực còn rừng tự nhiên Vùng đồi núi thấp
có thể trồng được nhiều cây ăn quả, cây công nghiệp như vải thiều, cam,chanh, na, hồng, đậu tương, chè ; chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, thuỷsản Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Đông bắc.Một năm có bốn mùa rõ rệt Mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm, mùa xuân, thu
Trang 31khí hậu ôn hòa.Lượng mưa hàng năm đủ đáp ứng nhu cầu nước cho sản xuất
và đời sống Mang đặc trưng của vùng đồi núi phía Bắc, Bắc Giang có điềukiện phát triển du lịch đường bộ, leo núi, du lịch văn hóa kết hợp với sinhthái, cảnh quan…
1.2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Bắc Giang là tỉnh miền núi, nhưng lại có hệ thống mạng lưới giaothông vận tải phát triển, phân bố đều và hợp lý, với đủ ba loại hình đường bộ,đường sắt và đường sông Quốc lộ 1A mới đã hoàn tất chạy qua Bắc Giang,tạo nhiều giao cắt với các tuyến nội tỉnh, là những vị trí thuận lợi cho việc xâydựng các cụm, khu công nghiệp nhằm thu hút vốn đầu tư
Về đường sắt, Bắc Giang có ba tuyến đường sắt chạy qua với chiều dài 94
km khởi hành từ Hà Nội, dừng tại Bắc Giang và đi tiếp Trung Quốc, lên TháiNguyên hoặc xuống Quảng Ninh Ngoài ra, Bắc Giang còn có hai tuyến đườngsắt chuyên dùng vào cảng A Lữ và Nhà máy Phân đạm và Hoá chất Hà Bắc
Về đường sông, Bắc Giang có 3 hệ thống đường sông nằm theo các sôngThương, sông Cầu và sông Lục Nam Tổng chiều dài đang khai thác là 187 kmtrên tổng chiều dài 347 km, và có hệ thống cảng phục vụ tương đối tốt
Về diện tích đất sản xuất nông nghiệplà 101.6 ha, đất lâm nghiệp 124.6ngàn ha, Bắc Giang là một trong những tỉnh có sản lượng lúa gạo tương đốitốt, sản lượng lâm sản đủ cho các nhà máy chế biến gỗ và giấy ở tỉnh và cóxuất khẩu Ngành nông- lâm nghiệp của tỉnh đang có sự chuyển đổi cơ cấucây trồng, vật nuôi theo hướng xản suất hàng hóa có chất lượng hiệu quả cao
Với dân số trên 1.607.048 người, mật độ trung bình là 417 người/km2.
Số người trong độ tuổi lao động là hơn 850.000 người, chiếm hơn 52,9% lànguồn lao động ổn định, lâu dài Tỉnh có 1 trường đại học, 2 trường cao đẳng
và nhiều trường trung cấp dạy nghề với quy mô đào tạo trên 10 nghìn sinhviên/ năm đảm bảo cung cấp nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế trong tỉnh,tạo sức mạnh nội lực cho địa phương
Trang 32Bắc Giang có 6 khu công nghiệp tập trung và 1 cụm công nghiệp vớitổng diện tích là 79,92 ha Các khu công nghiệp như Đình Trám, Nội Hoàng,Quang Châu, Việt Hàn… có hệ số lấp đầy hơn 90%, các khu công nghiệp VânTrung, Châu Minh- Mai Đình đang tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng.
Bắc Giang có đặc điểm văn hóa phong phú và đa dạng, được quy tụ vàthể hiện thông qua đời sống, phong tục, tập quán truyền thống của cộng đồngmỗi dân tộc; biểu hiện qua các sinh hoạt tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng tôngiáo ở lễ hội truyền thống
Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có 20 dân tộc chung sống như: Kinh, Tày,Hoa, Nùng, Dao, Sán Dìu, Sán Chí, Mường, Thái, Khơ Me, H’Mông, trong
đó dân tộc Kinh chiếm đại đa số (84,1%); các dân tộc chiếm tỉ lệ nhỏ là
Khơ-me (0,002%), H’Mông (0,002%), Thái (0,004%)
1.2.1.3 Tài nguyên du lịch văn hóa.
1.2.1.3.1Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể.
Bắc Giang là vùng đất cổ lưu giữ trong mình trầm tích văn hóa phongphú và giàu có Là vùng đất địa linh nhân kiệt, với bề dày lịch sử, văn hoá,hiện Bắc Giang sở hữu hơn 2.230 di tích (trong đó có hơn 500 di tích đã đượcxếp hạng) (theo số liệu thống kê tháng 01/2014) Nổi bật là dấu tích thành cổXương Giang - đây là nơi diễn ra trận công thành của nghĩa quân Lam Sơnngày 28/9/1427 và trận diệt viện oanh liệt ngày 3/11/1427 mà Lê Quý Đônđánh giá: Từ triều Trần bắt được Tích Lệ Cơ, Ô Mã Nhi cho đến lúc ấy, nướcNam thắng giặc phương Bắc chưa có trận nào lớn như vậy (theo Đại Việtthông sử); hệ thống di tích cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế (là di tích quốcgia đặc biệt) - cuộc khởi nghĩa tiêu biểu cho sức chiến đấu và tinh thần bấtkhuất của nông dân Việt Nam nói chung và Bắc Giang nói riêng, trong phongtrào đấu tranh chống Thực dân Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷXX; khu di tích cách mạng Hoàng Vân, di tích Y Sơn (Hiệp Hoà), nơi hoạtđộng bí mật để chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành độc lập dân tộc của các đồng
Trang 33chí lãnh đạo Trung ương Đảng; chùa Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng) - một trungtâm phật giáo thời Trần, nơi còn lưu giữ kho Mộc bản kinh Phật với hơn3.050 bản đã được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu ký ức thế giới khuvực Châu Á – Thái Bình Dương vào năm 2012; đình, chùa Thổ Hà (ViệtYên); đình, chùa Tiên Lục và cây Dã hương nghìn năm tuổi (Lạng Giang) đãđược vua Cảnh Hưng sắc phong là “Quốc chúa Đô mộc Đại Vương”…
- Chùa Vĩnh Nghiêm:
Chùa Vĩnh Nghiêm hay còn gọi là Chùa Đức La (tên chữ là VĩnhNghiêm Tự) là một ngôi chùa cổ có từ khoảng thế kỷ thứ 13, toạ lạc tại xã TríYên huyện Yên Dũng cách Thành phố Bắc Giang 18km Chùa Đức La từng làmột Trung tâm Phật giáo lớn của cả nước, nơi 3 vị Tổ của Thiền phái TrúcLâm: Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang mở trường thuyết pháp vàsau này là nơi đào tạo tăng đồ cho cả nước Một thời, chùa Đức La còn là nơiđóng vai trò tiền trạm cho khách thập phương hành hương trước khi vượtsông leo núi sang Chí Linh, Yên Tử:
“Ai qua Yên Tử, Quỳnh Lâm,
Vĩnh Nghiêm chưa tới, thiền tâm chưa đành”
Chùa Đức La tọa lạc trên một quả đồi thấp, sau lưng là dãy núi Cô Tiên,trước mặt nhìn ra ngã ba Phượng Nhỡn – nơi tụ hội của Sông Thương vàSông Lục Hiện nay Chùa còn lưu giữ được nhiều pho tượng đẹp, nhiều nétkiến trúc cổ độc đáo và các bản Kinh khắc trên gỗ từ nhiều thế kỷ trước, làminh chứng về một trung tâm Phật giáo lớn của cả nước
- Chùa Bổ Đà:
Bắc Giang vùng đất có truyền thống văn hóa lâu đời, sở hữu một nềnvăn hóa phong phú, đặc sắc toạ lạc trên ngọn núi Phượng Hoàng (Bổ ĐàSơn), phía Bắc dòng sông Cầu, thuộc địa phận xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên,tỉnh Bắc Giang (xã Tiên Lát, huyện Việt Yên, phủ Lạng Giang, tỉnh Bắc Ninhxưa)
Trang 34Được xây dựng vào thời Lê (thế kỷ XVIII), Chùa Bổ Đà là một trongnhững di tích lịch sử tiêu biểu của tỉnh Bắc Giang Chùa có tên là chùa Quán
Âm núi Bổ Đà hay Bổ Đà Sơn Quán Âm Tự, gọi tắt là chùa Bổ, còn có cáctên gọi khác là chùa Quán Âm Chùa Bổ là một trong những nơi còn giữnguyên bản nét kiến trúc truyền thống Việt cổ Chùa có kiến trúc độc đáo vàkhác biệt so với các ngôi chùa truyền thống ở miền Bắc Việt Nam, đó là lốikiến trúc “nội thông ngoại bế” tạo vẻ u tịch, thanh vắng và huyền thoại, xungquanh là đồi núi xóm làng bao bọc
Toàn bộ chùa chính có diện tích khoảng 51.784m2 được phân ra làm bakhu rõ rệt Khu vườn: 31.000m2, khu nội tự chùa 13.000m2 và khu vườntháp rộng: 7.784m2 Kiến trúc của chùa gần một trăm gian liên hoàn đượcxây dựng bằng các vật liệu dân gian: gạch nung, ngói, tiểu sành, tường baođược làm bằng đất rất độc đáo Các bức tường, cổng và một số công trìnhkhác được xây dựng hoàn toàn bằng đất nện theo lối chình tường
Đặc biệt vườn tháp chùa Bổ Đà được đánh giá là đẹp và lớn nhất ViệtNam Vườn tháp được xây dựng theo những quy định riêng và rất chặt chẽcủa thiền môn Với gần 100 ngôi tháp được xếp hàng hàng, lớp lớp nơi tànglưu xá lị, tro cốt nhục thân của các vị tăng ni Đặc biệt trong chùa còn lưu giữ
bộ ván kinh Phật cổ nhất Việt Nam được khắc trên gỗ thị, tất cả có khoảnggần 2.000 tấm mộc bản của các bộ kinh như Lăng nghiêm chính mạch, Yết
ma hội bản, Nam hải ký quy Trải qua gần 300 năm, bộ kinh hiện nay vẫn cònkhá nguyên vẹn, các bộ kinh được hình thành xuất phát từ ý tưởng của các vị
tổ sư, Trọng tâm của bộ kinh nói đến nỗi khổ của con người và sự giải thoát,
đó là những di vật Phật học đặc biệt quý giá để lại cho đời sau
Chùa Bổ Đà hiện nay còn lưu giữ được nhiều tài liệu quý hiếm có ýnghĩa cho việc nghiên cứu khoa học Ở đây còn lưu giữ một kho tàng di sảnHán Nôm phong phú về số lượng, đa dạng về loại hình, ngoài những tấm bia
đá, chuông đồng còn có hàng trăm cuốn kinh sách, luật giới nhà Phật
Trang 35- Đình Lỗ Hạnh:
Đình Lỗ Hạnh là ngôi đình chung của 5 làng: Chằm, Chúng, Khoát,Chùa và Hạnh, nên còn có tên gọi là đình Cả Đình được xây dựng vào nămSùng Khang thứ 11 (1576), thờ Cao Sơn Đại Vương và Phương Dung TiênChúa – 2 vị thần có công với nước, với dân thời Vua Hùng
Đình Lỗ Hạnh mang giá trị văn hóa đặc sắc với nghệ thuật chạm khắctinh xảo và độc đáo các đề tài rồng, phượng, hươu, hoa lá, cảnh sinh hoạt củacon người Hiện đình còn lưu giữ được nhiều di vật quý như: hai bức tranhsơn mài “Bát tiên” ở gian giữa trước cửa hậu cung, đôi nghè gỗ sơn son thếpvàng từ thế kỷ 17, tượng Phương Dung Tiên Chúa cùng bài vị Cao Sơn ĐạiVương , đặc biệt là bức chạm tiên gảy đàn đáy – một minh chứng cho sự rađời và phát triển sớm của ca trù ở nước ta.Ban đầu, đình Lỗ Hạnh chỉ có mộttòa đại đình hình chữ “nhất” Qua nhiều lần tu sửa vào các năm 1694, 1850 và
1910, đình được xây thêm hậu cung và hai dãy tả vu, hữu vu Nền tòa đạiđình dài 23,5m, rộng 12,3m, chiều cao từ xà nóc xuống là 6,6m, từ diềm máixuống là 2,1m; bao gồm 5 gian, 2 chái với 8 vì kèo, 4 hàng cột chính và 2hàng cột hiên đỡ dưới các bẩy Các vì kèo có kết cấu không giống nhau, các
vì gian giữa đều theo lối “chồng rường giá chiêng”, các vì gian bên làm theolối “kẻ chuyền giá chiêng”
Ngày 24/12/1982, đình Lỗ Hạnh đã được Bộ Văn hoá (Nay là Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia
- Đình Thổ Hà:
Đình Thổ Hà nằm giữa thôn Thổ Hà, xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnhBắc Giang Đình chính thức được Bộ Văn hoá công nhận là di tích cấp quốcgia theo quyết định số 29/VH – QĐ ký ngày 13/01/1964 Từ Hà Nội theoQuốc lộ 1 tới thị xã Bắc Ninh qua nhà thờ thị xã, rẽ trái theo đường Vệ An,theo đê lên tới chợ Vạn qua đò là tới đình Thổ Hà
Trang 36Đình Thổ Hà gắn liền với vị Thành hoàng làng là Thái Thượng LãoQuân Theo Thần tích của làng, ông là người phương Bắc, sống vào thời AnDương Vương, họ Lý, tên Đam (còn gọi là Lão Đam, Lão Tử) Ông có cônggiết giặc Xích Tỵ quỷ, có công mở trường, dạy học ở làng Ông được Vuaphong là Thượng đẳng thần và Thành hoàng Thái thượng, cho phép làng Thổ
Hà lập miếu phụng thờ Do vậy dân làng đã tôn ông lên làm Thành hoàng,phù trợ cho cuộc sống của dân làng bình an, hạnh phúc
- Đình Diềm:
Đến thăm đình Diềm, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt du khách là tòa đạiđình 4 mái, đao cong nằm chỉnh tề ngay đầu làng Đi vào bên trong, ai cũng ấntượng với một không gian thoáng rộng (do lòng đình rộng tạo nên) và bốn câycột cái chu vi tới 2,14m Cụ từ Nguyễn Bá ý cho biết: Đây là những cây trụchính chịu lực nâng đỡ cả tòa đình Theo thần phả của làng và một số câu đốitrong đình còn ghi lại, đình Diềm được xây dựng vào cuối thế kỷ 17 để thờ Đứcthánh Tam Giang (như mọi làng quê ven sông Cầu), dân làng vẫn lấy năm NhâmThân 1692 (năm dựng mái) làm năm xây đình Kiến trúc đình Diềm xưa tuân thủtheo kiến trúc truyền thống của Việt Nam, có nhà tiền tế, có đại đình, ngoài giangiữa có chạm những hình rồng và mây nét mác, tất cả mọi thành phần của khungnhà đều bào trơn đóng bén, soi gờ chỉ chạy thẳng Đình Diềm xưa khá bề thế,gồm 3 gian hai chái khép kín thành một chỉnh thể thống nhất và hài hòa Sau này
do chiến tranh, nhiều kiến trúc độc đáo đã bị phá huỷ, hiện đình chỉ còn 1 gian 2chái Ngay từ năm 1964, đình Diềm đã được Nhà nước ta công nhận danh hiệu
di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia
Nét độc đáo của đình Diềm chủ yếu ở chiếc cửa võng và chiếc nhang án thờnơi gian giữa Chiếc nhang án nằm phía trong cửa cấm, theo các nhà nghiêncứu thuộc Cục bảo vệ di sản (Bộ Văn hóa-Thông tin), giá trị của nó về một sốmặt “có thể đưa vào danh sách các bảo vật Quốc gia” Nhìn tổng thể nhang ánđược sơn son thiếp vàng rực rỡ, chân quỳ chạm hình rồng, các tầng
Trang 37diềm được trang trí bằng nhiều hình rồng, vân mây, hoa bốn cánh với kỹ thuậtchạm lộng, chạm nổi, chạm thủng Hai bên là ván chạm thủng hình “Songnghê triều dương” (hai con nghê chầu mặt trời), và 4 con rồng chầu vào vòngsáng nhọn đầu của chữ “Phúc” Bên cạnh các hình chạm khắc này, nhang áncòn có những hình chạm rất đặc sắc, trong đó có cả hình tượng các cô thôn nữxinh đẹp, yểu điệu Điều đó chứng tỏ người dân làng Diềm xưa không hề bóbuộc, câu nệ mà đưa cả những cảnh sinh hoạt đời thường vào trang trí tại mộtnơi thâm nghiêm như đình, chùa.
- Khu di tích những điểm khởi nghĩa Yên Thế:
Khu di tích khởi nghĩa Yên Thế thuộc huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang,cách Thành Phố Bắc Giang 28 km về phía Tây Bắc theo đường tỉnh lộ 284, lànơi đã diễn ra cuộc khởi nghĩa nông dân chống Thực dân Pháp xâm lược kéodài suốt 30 năm vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 (1884 – 1913) do vị anhhùng dân tộc Hoàng Hoa Thám lãnh đạo Các điểm di tích của cuộc khởinghĩa bao gồm: Đồn Hố Chuối, Đồn Hom, Đồn Phồn Xương, Đền Thề, Nhàtưởng niệm
Ngày 16/3/1984 nhân kỷ niệm 100 năm cuộc khởi nghĩa, UBND tỉnh HàBắc (cũ) đã tổ chức lễ hội tại khu di tích này nhằm tưởng nhớ vị anh hùng dântộc cùng các nghĩa sĩ và khơi dậy truyền thống thượng võ của nhân dân trongvùng Từ đó đến nay, ngày 16/3 hàng năm được lấy làm ngày hội truyền thống ởđịa phương, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá, tâm linh của nhân dân Yên Thế– Tân Yên nói riêng và Bắc Giang nói chung Hiện nay khu di tích đã được BộVHTT quyết định xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia
- Khu di tích và danh thắng Tây Yên Tử
Khu di tích và danh thắng Tây Yên Tử gồm hệ thống các di tích lịch sử,văn hoá, danh lam thắng cảnh nằm ở sườn Tây và Bắc của dãy núi Yên Tử,thuộc địa bàn tỉnh Bắc Giang Tây Yên Tử trải dài từ Sơn Động đến YênDũng Tây Yên Tử là nơi có hệ thống các chùa tháp, di tích cùng sự kỳ vĩ của
Trang 38rừng, núi liên quan đến sự hình thành thiền pháiTrúc Lâm Yên Tử thời Trầnnhư Chùa Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng), chùa Am Vãi (Lục Ngạn), ĐồngThông, Hệ thống di tích Tây Yên Tử cùng với Đông Yên Tử và Khu di tíchlịch sử nhà Trần ở Đông Triều tạo thành Quần thể di tích danh thắng Yên Tửđang được lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm2017.
1.2.1.3.2 Tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể.
*Lễ hội
Một số lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Là một tỉnh miền núi, nhưng Bắc Giang không chỉ nổi tiếng về những
di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, mà nơi đây còn nổi tiếng vềnhững lễ hội dân gian truyền thống với nhiều loại hình độc đáo và nội dungphong phú, hấp dẫn Nằm trong vùng Kinh Bắc trước đây, Bắc Giang vốn làmột vùng nông nghiệp điển hình, có nền kinh tế, văn hoá phát triển, đời sốngngười dân tương đối phong lưu Dân gian có câu: “Ăn Bắc mặc Kinh” Đó làthực tế và cũng là cơ sở lý giải vì sao lễ hội Bắc Giang đã xuất hiện và tồn tạitrong suốt chiều dài lịch sử
Với tổng số trên 500 lễ hội, cũng như ở mọi miền trên đất nước, lễ hộiBắc Giang được diễn ra hàng năm với lịch trình và nội dung tương đối ổn
định Chủ yếu, hội được tổ chức vào hai mùa: mùa xuân và mùa thu “Xuân thu nhị kỳ” với các loại hội đình, đền, chùa, hội chợ, hội chạ, hội hát, và một
số lễ hội mới mang tích chất kỷ niệm lịch sử, trong đó phong phú nhất vẫn làhội đình và hội chùa
- Hội đình - đền: Lễ hội Từ Hả (xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn),Hội đình Thổ Hà (xã Vân Hà- huyện Việt Yên), Lễ hội đền Dành (xã Việt Lập
và Liên Chung, huyện Tân Yên), Hội đình Vồng (xã Song Vân, huyện TânYên), Lễ hội Y Sơn (xã Hoà Sơn, huyện Hiệp Hoà), Hội Suối Mỡ (xã NghĩaPhương, huyện Lục Nam), Hội Tiên Lục (xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang)
Trang 39- Hội chùa: Hội chùa Bổ Đà (xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên), Hội chùaLa( xã Trí Yên, huyện Yên Dũng)
Hội làng Bắc Giang có nội dung khá phong phú,có đủ mọi loại hình (lễhội nông nghiệp, lễ hội tôn giáo, lễ hội lịch sử, lễ hội làng nghề…) và ở loạihình nào cũng có thể tìm được những lễ hội đặc sắc, hấp dẫn Nhưng về cơbản, lễ hội ở Bắc Giang có bốn xu hướng sau:
- Lễ hội tái hiện cuộc sống nông nghiệp
- Lễ hội tôn vinh các anh hùng có công với dân tộc, người có công với quê hương
- Lễ hội tái hiện phong tục, tín ngưỡng
- Lễ hội thi tài, vui chơi giải trí
Bắc Giang là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng, là nơi sảnsinh và ghi dấu cuộc đời, sự nghiệp của nhiều bậc anh tài và có công với đất
Vì thế nơi đây hiện còn lưu giữ một số lượng khá lớn những lêc hội tưởngnhớ công ơn cá vị anh hùng trong lịch sử như lễ hội Xương Giang, lễ hội YênThế, lễ hội Hoàng Vân
Với số lượng lớn các lễ hội cùng với nét đặc sắc riêng của vùng đất BắcGiang cùng, đây sẽ là nguồn tài nguyên phi vật thể quý báu để nghiên cứulịch sử văn hóa cũng như cho mục đích khai thác phát triển du lịch trên mảnhđất này
*Nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
Nghệ thuật biểu diễn truyền thống của Bắc Giang vừa phong phú, vừađặc sắc, mang đậm yếu tố lịch sử và trữ tình, tiêu biểu với dân ca quan họ, catrù, chèo và các điệu múa, hát dân gian
- Quan họ
Dân ca Quan họ - kiệt tác sáng tạo truyền khẩu của nhân dân qua nhiềuthế hệ, chứa đựng những giá trị đặc sắc ở nhiều mặt: lịch sử, phong tục, dân tộchọc, xã hội học, văn học, âm nhạc,…Dân ca Quan họ là sinh hoạt văn hóa đặc
Trang 40sắc của nhân dân vùng Kinh Bắc xưa, bao gồm địa phận hai tỉnh Bắc Ninh vàBắc Giang ngày nay Tiếng hát Quan họ là tiếng hát của tình, của nghĩa, củalòng yêu thương con người, gắn bó với con người, tình người trong sáng.
Năm 2009, Dân ca Quan họ đã được UNESCO công nhận là Di sản vănhóa phi vật thể đại diện của nhân loại Trải qua thời gian, với lòng yêu mến và
ý thức giữ gìn vốn cổ của cha ông, Dân ca Quan họ vẫn được các thế hệngười Kinh Bắc bảo tồn và phát huy, đặc biệt là trong không gian của nhữngngôi làng Đến nay, riêng ở tỉnh Bắc Giang – vùng Bắc sông Cầu, vẫn tồn tại
18 làng Quan họ cổ, trong đó có 5 làng được ghi danh từ năm 1971 và 13làng được các nhà nghiên cứu ghi nhận vào năm 2006 (Danh sách 18 làngQuan họ này đã lưu trong Hồ sơ của UNESCO)
Dù trải qua nhiều thăng trầm, ngày nay quan họ vẫn tồn tại và được nâng niu, giữ gìn Trong tương lai, chắc hẳn quan họ tiếp tục đồng hành cùng con người, tạo nét riêng, nét đẹp văn hoá của xứ Kinh Bắc và cả dân tộc Việt Nam.
- Ca Trù
Ca trù, cùng với Quan họ trên đất Kinh Bắc đều là một loại hình nghệthuật dân gian, giàu sức quyến rũ Không biết lối hát Ca trù được người KinhBắc hát tự bao giờ, chỉ biết từ lâu lắm - thời nhà Lý, hát Ca trù đã rất được coitrọng Tương truyền ngày xưa, các Vua nhà Lý hàng năm đều đi thuyền duxuân, vãn cảnh, không quên qua đình Thổ Hà, uống rượu làng Vân, nghe hátQuan họ và Ca trù
- Chèo
Từ truyền thống tới hiện đại, chèo đã đã trở thành tên gọi của một sốvùng quê ở Bắc Giang Hát chèo đã trở thành một trong những nghệ thuật đặcsắc của Bắc Giang Đặt trong cơ địa sinh thành, trong sự giao lưu văn hóa,trong các lễ hội dân gian…và nhiều yếu tố liên quan khác, chèo Bắc Giangmang trong mình nhiều nét độc đáo, riêng biệt Sở dĩ chèo Bắc Giang ra đời