QUY ƯỚC VIẾT TẮT: Tính lý đại toàn tiết yếu : Tính lýđại toàn : Tính lýtiết yếu bản in năm Thiệu Trị 2 của Thịnh Văn Đường : Tính lýtiết yếu bản in năm Thiệu Trị 3 của Tập Văn Đường : Tí
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-BÙI ANH CHƯỞNG
NGHIÊN CỨU VĂN BẢN
TÍNH LÝ TIẾT YẾU
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Hán Nôm
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-BÙI ANH CHƯỞNG
NGHIÊN CỨU VĂN BẢN
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
QUY ƯỚC VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 4
1 Lýdo chọn đề tài 4
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
3 Đối tượng, mục tiêu nghiên cứu – phạm vi tư liệu 8
4 Đóng góp của luận văn 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Kết cấu luận văn 9
NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ VĂN BẢN VÀ TÁC GIẢ TÍNH LÝ TIẾT YẾU 10
1.1 Vấn đề văn bản TLTY 10
1.1.1 Khảo sát tình hình các văn bản TLTY hiện tồn 14
a Các văn bản TLTY ở TVQG 14
b Các văn bản TLTY ở TVHN 17
c Các văn bản TLTY của VTT 21
1.1.2 Các hệ bản TLTY vàphân loại các văn bản 22
a So sánh HN.111 vàHv.13/1 22
b So sánh R.372 vàR.932 24
c So sánh HN.111 vàR.372, phần tăng bổ ở quyển 1 của bốn hệ bản 26
d Tiêu chíphân loại vàphân loại các văn bản TLTY 28
e Mối liên quan giữa cá hệ bản 30
1.2 Tác giả TLTY 33
1.2.1 Bùi thị - Bùi Huy Bích 33
a Vấn đề tác giả của TLTY 33
b Khái lược về Bùi Huy Bích 34
1.2.2 Nguyễn thám hoa – Nguyễn Huy Oánh 37
a Nguyễn thám hoa vàTLTY 37
b Khái lược về Nguyễn Huy Oánh 38
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1: 39
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CỦA TÍNH LÝ TIẾT YẾU 41
Trang 42.1 Tổng quan về Tính Lý đại toàn 41
2.1.1 Sự ra đời của “Lý học” 41
2.1.2 Sự thành hình vàphân phái của Lýhọc thời Tống 54
2.1.3 Tính lý đại toàn 59
2.2 Vấn đề nội dung của TLTY 64
2.2.1 Nội dung tiết yếu của TLTY 65
a Tiết yếu nhì từ các đề mục của TLĐT và TLTY 65
b Phần chính văn của TLTY 90
c Phần tăng bổ của TLTY 93
2.2.2 Ý nghĩa của TLTY 94
a Bùi Huy Bích vàTLTY - “Bùi thị nguyê bản” 95
b TLTY với tăng bổ 97
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2: 98
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 110
Trang 5QUY ƯỚC VIẾT TẮT
: Tính lý (đại toàn) tiết yếu
: Tính lýđại toàn
: Tính lýtiết yếu bản in năm Thiệu Trị 2 của Thịnh Văn Đường
: Tính lýtiết yếu bản in năm Thiệu Trị 3 của Tập Văn Đường
: Tính lýtiết yếu bản in năm Thiệu Trị 4 của Mỹ Văn Đường
: Thư viện Viện nghiê cứu Hán Nôm
: Thư viện Quốc gia
: Viện thông tin Khoa học Xãhội
: Các nội dung trong ngoặc này làcủa tác giả luận văn
Các trích dẫn được kèm theo ghi chúdưới dạng [x:y], trong đó:
x = Số thứ tự của tài liệu trong mục Tài liệu tham khảo
y = Vị trísố trang của trích dẫn trong tài liệu gốcvới trường hợp tài liệu gốc gồm nhiều quyển, quyển thứ mấy sẽ ghi liền với x, vídụ:
[48q1:240] tức làtrang 240, quyển 1 tài liệu số 48
Trang 6MỞ ĐẦU
1. Lýdo chọn đề tài
Trong thời đại toàn cầu hóa khi màsự lưu chuyển thông tin giữa con ngườivới con người, giữa quốc gia với quốc gia trở nê dễ dàng vàmau chóng, sự giao thoagiữa cá nền văn hóa ở một trình độ nào đó đã thành một xu thế không thể cản trở.Đối diện với cá nền văn hóa có lịch sử sâu dày, phong phúvàmới lạ khác, nếu khôngthể tự xác định bản vị văn hóa của mình sẽ khiến cho bản thân không cósức chống
cự với những giátrị mới, không thể tự sàng lọc, tiếp thu cái hay, loại trừ những yếu
tố không cólợi
Nho giáo làmột trong những học thuyết bản vị cho nền văn hóa của nước tanói riêng, Trung Quốc cho tới cá quốc gia nằm trong vòng ảnh hưởng văn hóa Hánnhư Hàn Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản nói chung Những thành quả đạt được từ nghiêcứu Nho học cóthể cung cấp những dữ liệu cógiátrị cho rất nhiều ngành liên quannhư: Văn học, Sử học, Triết học, Xãhội học, Nhân học, Chính trị… từ đó hình thành
nê bức tranh về văn hóa Việt Nam Nho giáo vào Việt Nam theo con đường mànhìchung cóthể gọi là “giao lưu văn hóa một cách cưỡng bức”, tức là theo gót chân mởrộng lãnh thổ của cá triều đình phương Bắc Tuy nhiên, không thể không thừa nhận
dù sao Nho giáo cũng đem tới Việt Nam nhiều yếu tố cólợi, đóng góp quan trọngtrong việc hình thành nhà nước phong kiến độc lập tự chủ ở nước ta sau này, vàtiếp
đó, theo sự phát triển của triều đình phong kiến, Nho giáo cũng ảnh hưởng ngày mộtsâu rộng tới cá tầng lớp trong xãhội, trở thành một yếu tố ảnh hưởng lớn tới đườnghướng tư duy của giới tri thức cũng như dân chúng đương thời Ở một khía cạnhkhác, việc Nho học du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, ăn sâu bám rễ, bản địa hóa đểtrở thành một thành tố văn hóa quan trọng cấu thành văn hóa Việt Nam cũng sẽ đồngthời thắt một mối liên hệ về tư tưởng với nơi sản sinh ra nó, Trung Quốc Việc giaolưu sách vở qua lại giữa hai nước, qua đó chia sẻ những suy nghĩ về cá vấn đề vềNho học chính làmột minh chứng cho sự liên kết này Nghiên cứu sự tiếp thu củagiới tri thức Việt Nam thời bấy giờ đối với những
Trang 7tư tưởng chuyển tải trong sách vở giao lưu với phương Bắc giúp chúng ta thấy đượcthái độ, cũng như những đặc sắc trong tư duy của nhàNho Việt Nam đối với cá vấn
đề Nho học nêu ra ở Trung Quốc Trên bình diện sự phát triển của Nho học ViệtNam nói riêng, Nho học Việt Nam cũng có sự phát triển theo từng giai đoạn củamình, thời kỳ phát triển tới cực thịnh của Nho học Việt Nam rơi vào hai triều Lê –Nguyễn, cá hoạt động Nho học đa dạng của nhàNho Việt cũng là minh chứng cho
sự phát triển nội tại tự thân của Nho học Việt Nam
Tính lýđại toàn 性性性性(TLĐT) hay Tính lý đại toàn thư 性性性性性 là một trong
ba bộ Đại toàn được nhóm Hồ Quảng 性性, Dương Vinh 性性… biên soạn theo lệnh của Minh Thành Tổ vào năm Vĩnh Lạc thứ 12 (1414), cùng với Tứ thư đại toàn 性性性
性 vàNgũ kinh đại toàn 性性性性 Theo bài tựa của ba bộ Đại toàn, Minh Thành Tổ ngoài việc tiếp nối làm sáng rõ đạo thánh hiền, chấn chỉnh thiên hạ ra thìcómục đích
là muốn “để người thiên hạ thấy được cái toàn thể của kinh sách”1, hẳn cũng chính
vì tham vọng này nê ba bộ Đại toàn mới có tên là “đại toàn” TLĐT là một tập hợp
các trước tác của chư Nho thời Tống Minh về Lýhọc, một trào lưu tư tưởng chínhthức bắt đầu từ Chu Đôn Di 性性性(1017-1075) thời Tống, diễn biến phát triển suốt hai
triều Tống, Minh Trong Trung Quốc Nho giáo có đánh giáLýhọc làsự “triết học hóa
Nho học”, nhận ảnh hưởng từ cá yếu tố triết học từ Phật giáo (tâm, tính ở tầng bảnthể), vận dụng nguyê liệu làcá phạm trù, khái niệm, môthức của Đạo gia (thái cực,
âm dương…), Tống Nho mà trước nhất là Chu Đôn Di đã giải thích lại Nho học theomột cách mới, ở một tầng thứ nghĩa lý triết học sâu hơn, một phát triển mới của họcthuyết Nho gia Trên bình diện triết học, Lýhọc làthành quả của sự hợp lưu ba nhàNho, Phật, Đạo, cung cấp cho lịch sử triết học Trung Quốc một vũ trụ luận, bản thểluận đặc sắc
TLĐT cùng hai bộ Đại toàn còn lại được biên thành chỉ sau một năm, tức là thành thư vào năm Vĩnh Lạc 13 (1415) Theo Đại Việt sử ký toàn thư, ba bộ Đại
toàn cómặt ở Việt Nam rất sớm, vào năm 1419, tức làchỉ bốn năm sau khi được
Trang 8hoàn thành Sau khi vào Việt Nam, ba bộ Đại toàn được cá nhàNho Việt Nam tiếp thu vàvận dụng Từ ba bộ Đại toàn đãdiễn sinh ra khánhiều biến thể, phục vụ cho
nhiều mục đích khác nhau, nổi bật làcá hiện tượng “tiết yếu”, “toát yếu”, “toản yếu”
và “diễn nghĩa” Trong trường hợp của TLĐT là sự ra đời của tựa sách Tính lý tiết
yếu (TLTY).
Lấy đối tượng làTLTY, luận văn muốn tìm hiểu về các văn bản TLTY hiệncòn, qua đó xem xét hiện tượng “tiết yếu” trong trường hợp TLĐT, từ đó thấy đượcnhàNho Việt Nam đã giữ gì, bỏ gì, qua đó biết được cái mànhàNho Việt Nam quantâm trong một tập hợp triết học của Nho gia Tống, Minh là TLĐT Ở một ý nghĩakhác, hiện tượng “tiết yếu” và “diễn nghĩa” cũng chính là minh chứng cho cá hoạtđộng Nho học, đại biểu cho sự phát triển nội tại của Nho học Việt Nam Việc nghiêcứu cá biến thể của thư tịch Nho gia Trung Quốc ở cá quốc gia lân cận cũng là mộthướng để tìm hiểu hai phương diện của sự tương tác văn hóa giữa Trung Quốc vàcác nước láng giềng, trong đó một phương diện chính làquátrình lan tỏa văn hóa, màđại biểu ở đây là Nho giáo, từ trung tâm tức Trung Quốc tới cá vùng ngoại vi nhưViệt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên, tức làtrả lời cho câu hỏi Trung Quốc đã truyền đicái gì; một phương diện khác chính làquátrình tiếp nhận vàthay đổi, hay nói cáchkhác là tương tác ngược lại, phương diện này trả lời cho câu hỏi, cá quốc gia ở ngoại
vi đã đón nhận Nho học như thế nào Từ sự tương tác mạnh yếu với Nho giáo cóthểtìm hiểu được sự khác biệt của Nho giáo ở vùng trung tâm với cá vùng ngoại vi,cũng như xác định vùng ảnh hưởng của Nho giáo vàmức độ ảnh hưởng lên các nước
kể trên
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu hệ thống văn bản Đại toàn, đi vào tìm hiểu cũng như hệ thống nhóm các văn bản sách Đại toàn, đưa ra giả thuyết về bản cơ sở cho cá biến thể sau khi được đưa vào Việt Nam như Tiết yếu, Diễn nghĩa cũng như nêu vị trícủa cá bộ
Đại toàn trong khoa cử Việt Nam, chúng tôi ghi nhận bài viết Từ việc khảo sát các
hệ bản Tứ thư Ngũ kinh đại toàn ở Việt Nam bàn về vai tròcủa hệ thống Đại toàn
trong khoa cử truyền thống của Nghiên cứu sinh tiến sỹ Nguyễn Phúc Anh
Trang 9phát biểu ở Hội thảo khoa học quốc tế “Việt Nam vàTrung Quốc: Những quan hệvăn hóa, văn học trong lịch sử” tổ chức tại Đại học Khoa học Xãhội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hồ ChíMinh vào tháng 9 năm 2011, sau đó được đăng trên Tạp
chíHán Nôm số 1 (110) năm 2012 Tuy có nhắc tới TLĐT và TLTY nhưng đối tượng
nghiê cứu chính của Nguyễn Phúc Anh trong bài viết làcá hệ bản Tứ thư Ngũ kinh
đại toàn, TLĐT và TLTY chỉ được nhắc tới trong mối quan hệ với hệ sách Đại toàn,
không phải đối tượng nghiê cứu chính Tuy nhiên, xét từ chỉnh thể hệ sách Đại toàn vàhệ sách Tiết yếu, vẫn cóthể tham khảo bài viết này để cócócái nhì toàn diện về TLTY Một bài viết khác của cùng tác giả làbài Vấn đề văn bản của “Dịch kinh tiết
yếu”, bài viết này lấy đối tượng làDịch kinh tiết yếu nhưng có những phần luận về
tác giả chung của cá bộ “tiết yếu”
Về cá biến thể của hệ thống Đại toàn, hay chính là các văn bản Tiết yếu, Diễn
nghĩa Trong bài viết Từ vấn đề “Bắc thư” và “Nam thư” thử diễn giải lại “quá trình tiếp nhận” của sách “tiết yếu” tại Việt Nam của Thạc sỹ Quách Thu Hiền tham
gia Hội thảo “Kinh điển Nho gia ở Việt Nam” do Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc,trường Đại học Khoa học Xãhội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chứctháng 12 năm 2009 đã nêu ra những ýkiến về việc lýgiải hiện tượng tiết yếu, cũngnhư sự tiếp thu của khoa cử đối với các văn bản tiết yếu vànhững vấn đề cóliên quan
khác Lýgiải của chị nhắm tới việc giải thích vìsao cóhệ sách Tiết yếu và ý nghĩa sử dụng thực sự của bộ sách này làgì.
Trực tiếp lấy TLTY làm đối tượng, tới nay tác giả luận văn ghi nhận được hai
công trình Thứ nhất làtrong cuốn Nguyễn Bích Ngô – Tuyển Thơ, Văn của Nguyễn Bích Ngô, ở phần Văn cótrích dịch một phần trong TLTY, tuy nhiê tác giả Nguyễn
Bích Ngôchỉ dừng lại ở việc dịch thuật mà không đưa ra những nhận xét, đánh giá
sâu hơn Một công trình khác làniê luận với đề tài Nội dung Đạo Thống trong tác
phẩm “Tính lý đại toàn tiết yếu” của Trần Thị Ngọc Thủy, sinh viên Hán Nôm K47,
Đại học Khoa học Xãhội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Ở cấp độ niê luận,tác giả niê luận chỉ mới nêu sơ lược về TLTY cũng như chỉ đặt trọng tâm vào mục
Đạo Thống trong TLTY.
Trang 103. Đối tƣợng, mục tiêu nghiên cứu – phạm vi tƣ liệu
Về đối tượng, luận văn lấy đối tượng nghiê cứu là các văn bản TLTY củaViệt Nam Luận văn hướng tới việc tìm hiểu tình trạng văn bản, quátrình truyền bản,
đi vào so sánh đối chiếu các văn bản TLTY với nhau, đồng thời so sánh với TLĐT,
từ đó lýgiải hiện tượng “tiết yếu” trong trường hợp TLTY Từ những nội dung saukhi đã được tiết yếu trong TLTY, đưa ra những nhận định về cái nhì của tác giảTLTY đối với cá vấn đề trong TLTY, ý nghĩa của TLTY trong đời sống Nho họcViệt Nam Trong điều kiện cho phép, luận văn sẽ tham khảo cả những trường hợptiết yếu văn bản TLĐT khác ở Trung Quốc vàTriều Tiên, từ những cái giống vàkháclàm nổi lên nét đặc sắc trong văn bản TLTY của Việt Nam
Phạm vi tư liệu của luận văn chủ yếu xoay quanh các văn bản TLTY hiện tồn
ở Thư viện Viện nghiê cứu Hán Nôm và Thư viện Quốc gia HàNội Với mongmuốn làm đầy đủ hệ thống tư liệu của luận văn, chúng tôi còn tham khảo cá nguồn
tư liệu hữu quan khác trong phạm vi cóthể
4. Đóng góp của luận văn
Trước hết luận văn tiến hành khảo sát, phân tách cá hệ bản Tính lýtiết yếu
qua đó lựa chọn một hệ bản phùhợp để đi tới nghiê cứu về nội dung Qua việc nghiê
cứu Tính lýtiết yếu luận văn giới thiệu vàgián tiếp nghiê cứu Tính lý đại toàn, một đại biểu đại diện cho trào lưu tư tưởng Lýhọc diễn biến ở hai triều Tống - Minh Với
cá nghiê cứu khác về hệ sách Tiết yếu, luận văn sẽ đóng góp vào việc tìm hiểu sự
giao lưu học thuật, sách vở giữa Trung Quốc vàViệt Nam thời trung đại, sự tiếp thucủa cá nhàNho Việt Nam, mà đại biểu ở đây là Bùi Huy Bích, đối với tư tưởng Nhohọc Tống – Minh nói riêng vàquátrình tiếp nhận Nho học từ vùng trung tâm tới vùngngoại vi nói chung Ở một góc độ khác, luận văn cũng góp phần tìm hiểu một hoạtđộng học thuật của nhàNho Việt Nam, “tiết yếu”, từ đây làm rõ thêm đời sống Nho
học thời phong kiến Từ khía cạnh in ấn vàphổ biến rộng rãi Tính lýtiết yếu, luận văn, ở một trình độ nhất định, giải thích về vấn đề giáo dục cũng như học tập, nghiê cứu Nho học cũng như vai tròcủa cá sách Tiết yếu trong khoa cử.
Trang 115. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp văn bản học với cá thao tác xử lý văn bảnnhư: Thống kê, phân loại, phân tích dữ liệu Theo đó là các thao tác nghiên cứuchung trong nghiê cứu khoa học như: Tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh Trong
mối tương quan nhiều chiều, luận văn còn sử dụng cá tri thức liên
ngành bao gồm lịch sử, văn hóa, triết học… để phục vụ cho việc nghiê cứu nội dungvăn bản
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo vàPhụ lục, luận văn gồmhai chương:
Chương 1: Vấn đề văn bản vàtác giả Tính lýtiết yếu
Chương 2: Nội dung của Tính lýtiết yếu
Trang 12NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ VĂN BẢN VÀ TÁC GIẢ TÍNH LÝ TIẾT YẾU
Cũng như các sách Tiết yếu khác của Bùi Huy Bích, TLTY cũng được khá
nhiều nhàin biên soạn khắc in Nếu chỉ cómột nhàin khắc in ta cóthể giải thích việckhắc in đó có khi chỉ làviệc riêng của một dòng họ, một trường tư thục nào đó nhằmphục vụ cho việc bảo quản, sử dụng riêng nhưng một khi có nhiều nhàin tham giavào việc khắc in cùng một văn bản thìchỉ cóthể giải thích bằng nguyê nhâ kinh tế,tức lànhu cầu lớn, tình hình tiêu thụ khả quan cho nê cá nhàin có thể cùng in để chiaphần lợi nhuận Từ góc nhì này sự thay đổi trên thực tế về mặt văn bản của TLTY, từTLTY thuần túy của Bùi Huy Bích diễn biến thành TLTY không còn thuần túy làcủaBùi Huy Bích màcóthêm nhiều thay đổi bổ sung – một TLTY mới của các nhà in,cũng có thể giải thích theo góc độ kinh doanh, tức làmột nhà in nào đó đi tiên phongcải tiến văn bản, để văn bản của mình ưu việt hơn văn bản của cá nhàin khác, cánhàin khác lại học theo khiến bản TLTY cải biên ngày càng được phổ biến rộng rãi.Các bản TLTY được “cải tiến” sau này có đặc điểm là bao gồm được bản TLTY gốccủa Bùi Huy Bích đồng thời cóthêm những bổ sung códụng ý Khi nghiê cứu vănbản TLTY, luận văn dùng bản nền là các văn bản TLTY đã “cải tiến” nhằm quan sátrộng hơn về quátrình diễn biến, phát triển của văn bản TLTY Các bản được thamkhảo chính làAC.5, AC.5/1, AC.5/2, AC.5/3
1.1 Vấn đề văn bản TLTY
*Thông tin chung về văn bản TLTY
TLTY trên cơ bản làbộ rút gọn của TLĐT (tổng cộng 70 quyển), gồm 5
quyển, cóbố cục (căn cứ vào mục lục ghi ở quyển 1 sách TLTY) như sau:
Quyển 1: Tính lý đại toàn tiết yếu mục thứ 性性性性性性性性, Thái cực đồ 性性性, Thông thư
性性, Tây minh 性性, Chính mông 性性, Hoàng cực kinh thế thư
性性性性性
Trang 13Quyển 2: Dịch học khải mông 性性性性, Gia lễ 性性, Luật lữ tân thư 性性性性, Hồng phạm
hoàng cực nội thiên 性性性性性性, Lýkhí 性性, Quỷ thần 性性, Tính lý 性性, Đạo
thống 性性, Thánh hiền 性性, Chư nho 性性
Quyển 3: Học 性, Chư tử 性性
Quyển 4: Lịch đại 性性, Quân đạo 性性, Quân đức 性性, Thánh học 性性, Quân thần 性性,
Thần đạo 性性
Quyển 5: Trị đạo 性性, Thi 性, Văn 性
Các văn bản hiện tồn đa phần được chia theo đúng mục lục này, tức làgồm 5đơn vị quyển rời, có trường hợp đóng gộp nhưng căn cứ vào số thứ tự cá tờ đánh ở
lề sách (quyển nào theo cóthứ tự cá tờ của riêng quyển ấy) thìcóthể đoán việc đónggộp là người sau này làm, không phải bản ýcủa nhàin
Một trang văn bản cónội dung phức tạp nhất sẽ gồm cóphần tăng bổ ở phầntrên cùng của trang, phần chính văn chữ to vàphần phụ chú, bình chúchữ nhỏ hơn.Trực quan như sau:
Hình 1.1 Phần tăng bổ “Bản đồ thư” 性性性 ở
phần trên cùng của trang
Hình 1.2 Phần phụ chú “sóc tương hội, vọng tương đối” 性性性性性性 chữ nhỏ cho hai chữ
“sóc vọng” chữ to ở phần chính văn
Trang 14Khảo sát tại hai hai thư viện TVHN vàTVQG cho kết quả làsự tồn tại của ba
hệ bản gồm:
Bản in năm Thiệu Trị 2 (bản TT2) của Thịnh Văn Đường 性性性
Bản in năm Thiệu Trị 3 (bản TT3) của Tập Văn Đường 性性性
Bản in năm Thiệu Trị 4 (bản TT4) của Mỹ Văn Đường 性性性
Nhưng do Thịnh Văn Đường vào năm Thiệu Trị 2 không phải cómột màlà haibản in TLTY vàhai bản này cósự khác nhau khárõràng, cho nên, tới thời điểm này,chúng tôi ghi nhận được ít nhất bốn hệ bản TLTY hiện tồn
Giữa cá hệ bản, cósự phân biệt rõràng giữa hai hệ bản TT2 nói chung với hai
hệ bản TT3 vàTT4 Cụ thể làtrong quyển 1 cá bản TT2, ở trang bìa ngoài tiêu đề
Tính lýtiết yếu chỉ cómột dòng viết dọc ghi “Bùi thị nguyên bản” 性性性性 ở bên phảitiêu đề, trong khi ở hai bản TT3 và TT4 ngoài dòng “Bùi thị nguyê bản” ở bên phảitiêu đề ra ở bên trái có thêm dòng “Phụ lục” 性 性 viết ngang, liền dưới là dòng
“Nguyễn thám hoa quan chính bản” 性性性性性性 viết dọc
Hình 1.3 Bìa bản HN.111 do Thịnh Văn Đường khắc in năm Thiệu Trị 2
Trang 15Hình 1.4 Bìa bản R.372 do Tập Văn Đường khắc in năm Thiệu Trị 3
Hình 1.4 Bìa bản R.932 do Mỹ Văn Đường khắc in năm Thiệu Trị 4
Bởi thông tin về tên nhà in và năm in chỉ được in ở trang bìa văn bản quyển 1của cá hệ bản nê trên thực tế chỉ cócá văn bản quyển 1 làcóthể xác định rõ ràng
Trang 16chung chung là “Tính lý đại toàn tiết yếu quyển chi…” bởi thế các văn bản kể từquyền 2 trở về sau, muốn xác định quyển nào thuộc hệ bản nào làkhông dễ Chínhvìsự “không dễ” này dẫn tới việc sắp đặt lầm lẫn, sinh ra kiểu tình trạng như quyển
2 của hệ bản này lại xếp vào cùng quyển 1 của hệ bản kia Ở mục 1.1.2 luận văn sẽ
cố gắng từ những đặc điểm xác minh được màphân tách, sắp xếp lại cá hệ bản
1.1.1 Khảo sát tình hình các văn bản TLTY hiện tồn
Tình hình cụ thể các văn bản cùng kýhiệu của chúng tại TVHN vàTVQG xinđược lần lượt trình bày dưới đây
a. Các văn bản TLTY ở TVQG
Các văn bản tại TVQG đều làcá bản gốc, vìvấn đề bảo tồn văn bản nê cá vănbản tại TVQG đều đã được số hóa, không thể tiếp cận trực tiếp, chúng tôi chỉ có thểtiếp cận văn bản đã được số hóa, tuy nhiê nhờ chất lượng số hóa tương đối tốt, bảnảnh chụp rõ ràng nê việc khảo sát các văn bản hữu quan ở đây không gặp nhiều khókhăn
Theo tư liệu thông tin của TVQG, tại TVQG có lưu chữ các văn bản TLTY với kýhiệu như sau:
TLTY quyển12345
Theo thông tin của TVQG, trong cá ký hiệu kể trên chỉ có duy nhất bản R.372làquyển 1 của hệ bản TT3 do Tập Văn Đường khắc in, cá bản còn lại tương ứng theotừng quyển làtrùng bản, đều thuộc hệ bản TT4 do Mỹ Văn Đường khắc in Từkýhiệu cóthể nhận thấy cá bản cókýhiệu lần lượt R.927, R.928, R.929, R.930, R.931làmột bộ hoàn chỉnh đủ 5 quyển TLTY, tương tự với cá bản R.932, R.933, R.934,R.935, R.936 vàR.1400, R.1401, R.1402, R.1403, R.1404 Tuy nhiên, như chúng tôi
đã nêu ở trên chỉ có các văn bản quyển 1 làcóthể xác định chính xác
Trang 17thuộc về hệ bản nào, các văn bản từ quyển 2 về sau làkhông thể chắc chắn, chúng tôi giữ nghi ngờ về thông tin màTVQG cung cấp.
Trong đó các bản được TVQG chọn để số hóa làR.372, R.932, R.928, R.929,R.930 vàR.931 Chất lượng của cá bản được chọn để số hóa làkhátốt, chữ còn tươngđối rõràng
Bản R.372 làquyển 1 của hệ bản TLTY do Tập Văn Đường khắc in vào năm ThiệuTrị 3 (hệ bản TT3), ở trang bìa đầu tiên, ngoài dòng “Tính lý tiết yếu” 性性性性 viếtdọc ở chính giữa, bên phải có dòng “Bùi thị nguyê bản” 性性性性, bên trái có dòng
“Phụ lục Nguyễn thám hoa quan chính bản” 性性性性性性, trang bìa sau có dòng
“Hoàng triều Thiệu Trị tam niê thu nguyệt trung cán tân thuyên” 性性性性性性性性性性性性
ở chính giữa, bên phải có dòng “Tập Văn Đường hiệu tử” 性性性性性, dưới dòng “TậpVăn Đường hiệu tử” có con đấu “Đan An tàng bản” 性性性性 Trang đầu phần chính
văn ghi rõ “Tính lý đại toàn tiết yếu quyển chi nhất” 性性性性性性性
Hình 1.5 Dấu “Đan An 性性.Sách khổ 26x15 cm, gồm 67 tờ (1 tờ bìa, 1 tờ mục lục
tàng bản” bản R.372
sách không đánh số, đánh số từ tờ 1 tới tờ 65), so sánh vớibản AC.5 tương ứng cũng là quyển 1 hệ bản TT3 hiện tồn ở TVHN thìR.372 bịthiếu tờ cuối tức tờ 66 Mỗi mặt trang códòng kẻ chia cột rõràng gồm 9 cột, chữtheo lối chữ Khải khắc vuông vắn, phần chính văn cỡ chữ to, mỗi cột một hàng,phần phụ chú, bình chúchữ khắc cỡ nhỏ, một cột hai hàng Ở phía trên một số trangcóthêm phần tăng bổ, cỡ chữ tương tự phần phụ chú trong chính văn Ở trang 15,cóchỗ bị dùng mực xóa, viết tay thay vào
Bản R.932 làquyển 1 của hệ bản TLTY do Mỹ Văn Đường khắc in vào nămThiệu Trị 4 (1844), bố cục trình bày trong sách (số chữ cũng như vị trícá chữ, chữđầu dòng, cuối dòng, vị tríphần tăng bổ ở mỗi trang), khổ sách cho tới thể chữ được
sử dụng để khắc, rất giống bản R.372 Ở trang bìa đầu cũng có ba dòng giống bảnR.372, trang bìa sau ở giữa có dòng “Hoàng triều Thiệu Trị tứ niê hạ nguyệt
Trang 18thượng cán tân thuyên” 性性性性性性性性性性性性, bên phải có dòng
“Mỹ Văn Đường hiệu tân” 性 性 性 性 性 , dưới dòng “Mỹ VănĐường hiệu tân” có con đấu “Hàn mặc đồ thư” 性性性性 Trangđầu phần chính văn ghi rõ “Tính lý đại toàn tiết yếu quyểnchi nhất” 性性性性性性性性性 Ở tờ 43 chỗ lề trang (tức giữa tờ)cóchữ “Đan An tàng bản” 性性性性, trong bản này bốn chữ nàychỉ xuất hiện một lần
duy nhất ở đây Sách gồm 68 tờ (1 tờ bìa, 1 tờ mục lục không đánh số, đánh số từ tờ
1 tới tờ 66), gồm đầy đủ nội dung quyển 1 TLTY
Bản R.928 làquyển 2 của TLTY, ở trang đầu cóghi “Tính lý đại toàn tiết yếuquyển chi nhị” 性性性性性性性性性, khổ sách, quy cách trình bày, thể chữ, cỡ chữ tương tựvới bản R.932 vàR.372, sách gồm 64 tờ, đánh số từ tờ 1 tới tờ 65, bị thiếu tờ số 33,phần trên đầu một số trang cóphần tăng bổ Gần như ở tất cả cá tờ đều cóbốn chữ
“Đan An tàng bản” 性性性性 Bản R.928 tương ứng giống với bản AC.5/2 hiện lưu trữ
bổ Ở tờ số 55, phần lề cóba chữ “Tập Văn Đường” 性性性, với ba chữ này cóthể tạmthời kết luận bản này thuộc hệ bản TT3 (1843) do Tập Văn Đường khắc in
Bản R.931 làquyển 5 của bộ TLTY, trang đầu ghi rõ “Tính lý đại toàn tiết yếuquyển chi ngũ” 性性性性性性性性性, khổ sách, quy cách trình bày, thể chữ, cỡ chữ, tương
tự với bản R.932, sách gồm 57 tờ, đầy đủ nội dung, một số trang có
16Hình 1.6 Dấu “Hàn mặc
đồ thư” bản R.932
Trang 19phần tăng bổ Ở cá tờ 10, 11, 12, 13 phần lề đều cóbốn chữ “Đan An tàng bản” Ở cá
tờ 36, 37, 38, 39, 40… phần lề cóba chữ “Tập Văn Đường”, từ đây có thể tạm thờixác định bản R.931 thuộc hệ bản TT3 do Tập Văn Đường khắc in
Từ trường hợp cá bản R.930 vàR.931 cóthể thấy thông tin TVQG cung cấplàkhông hoàn toàn chính xác, từ đây cần phải bảo lưu việc cá trùng bản, ít nhất là củaR.930, R.931, cóthật sự đều thuộc hệ bản TT4 của Mỹ Văn Đường hay không
b. Các văn bản TLTY ở TVHN
Qua khảo sát tại TVHN chúng tôi thấy cósự sai khác so với ghi chép trong
cuốn Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu, cụ thể làvới tựa sách Tính lýtiết
yếu trong Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu cóghi cá kýhiệu kèm thông tin
Không cókýhiệu Hv.14, chỉ cócá kýhiệu lần lượt làHv.14/1, Hv.14/2,
Trang 20Hv.13/1 vàHv.14/1 giống nhau, làquyển 1 của hệ bảnTLTY do Thịnh Văn đường khắc in vào năm Thiệu Trị 2 (1842),
ở trang bìa đầu ngoài dòng “Tính lý tiết yếu” 性性性性 ở giữa, bênphải có dòng “Bùi thị nguyê bản” 性性性性, góc dưới bên
trái cóhai con dấu, dấu tròn tạm thời chưa thể luận ra chữ (ngờ
là “Phong Trai” 性性), dấu vuông khắc “Bùi thị nguyê bản” 性性性
性, trang bìa tiếp ở giữa có dòng “Thiệu Trị nhị niê
mạnh xuân nguyệt cát nhật tân thuyên” 性性性性性性性性性性性, bên trái có dòng “Thịnh Văn Đường” 性性性, dưới dòng
“Thịnh Văn Đường” có hai con dấu bị xóa, không đọc được Trang đầu phần chínhvăn ghi rõ “Tính lý đại toàn tiết yếu quyển chi nhất” 性性性性性性性性性 Nội dung, quycách trình bày, bố cục, thể chữ bên trong cũng giống hệt nhau, không có sai khác.Sách khổ 26x15 cm, 69 tờ (68 tờ chính văn và 1 tờ bìa, tờ mục lục không đánh số,đánh số từ tờ 1 tới tờ 67) Tự thể khắc theo lối chữ khải, vuông vắn, rõ ràng, phầnchính văn chữ to, vừa một cột một hành chữ, phần phụ chú, bình chúchữ nhỏ hơn,một cột hai hàng chữ Sách không códòng kẻ chia cột rõràng Một vài trang phía trêncóphần tăng bổ, cỡ chữ nhỏ hơn cỡ chữ phần phụ chútrong chính văn, mép lề dướicóhai chữ “Phong trai” 性性 Sách còn trong tình trạng tốt
Hv.13/2 vàHv.14/2 giống nhau, làtrùng bản thuộc cùng một hệ bản, nội dunglàquyển 2 của TLTY, trang đầu phần chính văn ghi rõ “Tính lý đại toàn tiết yếuquyển chi nhị” 性性性性性性性性性, tự thể và cách trình bày tương tự Hv.13/1 vàHv.14/1.Một số trang cóphần tăng bổ Sách có70 tờ, đầy đủ nội dung
Hv.13/3 vàHv.14/3 giống nhau, làtrùng bản thuộc cùng một hệ bản, cónộidung làquyển 3 của TLTY, trang đầu phần chính văn ghi rõ “Tính lý đại toàn tiếtyếu quyển chi tam” 性 性 性 性 性 性 性 性 性 , tự thể vàcá trình bày cósự tương đồng vớiHv.13/1 vàHv.14/1 Một số trang có tăng bổ Sách gồm 54 tờ, đầy đủ nội dung
Hv.13/4 vàHv.14/4 giống nhau, làtrùng bản cùng thuộc một hệ bản, nội dunglàquyển 4 của TLTY, trang đầu phần chính văn ghi rõ “Tính lý đại toàn tiết
Hình 1.7 Hai dấu ở
bìa bản Hv.13/1
Trang 21yếu quyển chi tứ” 性性性性性性性性性, tự thể vàcá trình bày cósự tương đồng với Hv.13/1vàHv.14/1 Một số trang cũng có tăng bổ Sách gồm 64 tờ, đầy đủ nội dung.
Bản AC.5 làquyển 1 của bộ TLTY, ở trang bìa có ghi rõ đây là bản thuộc hệbản TT3 do Tập Văn Đường sửa in, tức trên lýthuyết làthuộc cùng một hệ bản vớibản R.372 tại TVQG, khổ sách, cỡ chữ, bố cục trình bày cho tới vị trícá phần tăng
bổ ở các trang cũng giống nhau Tuy nhiê giữa hai bản AC.5 vàR.372 lại cóchỗ khácnhau Trang bìa của cả hai bản AC.5 vàR.372 làgiống nhau, cùng có dấu “Đan Antàng bàn” 性性性性, bốn chữ này cũng xuất hiện ở phần dưới của lề ở một số trang (tứclàở giữa cá tờ tương ứng) ở phía sau Ở bản AC.5 bốn chữ này xuất hiện khánhiềulần, ở cá tờ: mục lục, 1, 2, 3, 4, 7, 9, 10, 11… trong khi ở bản R.372 bốn chữ này chỉxuất hiện ở tờ mục lục, cá trang phía sau đều không có
Ký hiệu AC.5/1 làbản đóng lẫn gồm quyển 1 vàquyển 2 của bộ TLTY Quyển
1 thuộc hệ bản TT4, giống bản R.932 của TVQG Quyển 2 từ tự hình tự dạng, bốcục trình bày nội dung trong trang thìgiống bản Hv.13/2 và Hv.14/2 nhưng không cóphần tăng bổ như Hv.13/2 và Hv.14/2 Phần văn bản quyển 1 của kýhiệu này có67
tờ bị thiếu tờ cuối, văn bản quyển 2 thì đầy đủ gồm 70 tờ Ở một số tờ trong văn bảnquyển 2, tại mép lề dưới cóhai chữ “Phong trai” 性性
Kýhiệu AC.5/2 làquyển 2 bộ TLTY, qua so sánh thìthấy bản này tương tựcùng một hệ bản với bản kýhiệu R.928 của TVQG, sách đủ nội dung, gồm 65 tờ,không thiếu tờ nào, ở cá tờ cũng có bốn chữ “Đan An tàng bản”
Kýhiệu AC.5/3 kháphức tạp về văn bản, làmột bản đóng gộp của ba quyển từquyển 3 tới quyển 5 của bộ TLTY:
Bộ phận quyển 3: Ba tờ đầu của phần này tương tự với bản R.929 củaTVQG, nhưng từ tờ thứ 4 thì dường như đã ghép sang bản khác, tờ thứ 3 và tờthứ 4 không cósự ăn khớp về nội dung, khác nhau về tự hình tự dạng cũngnhư quy cách trình bày Ở ba tờ đầu có đầy đủ phần tăng bổ như bản R.929, từ
tờ thứ 4 cho tới hết quyển 3 lại không có trang nào có tăng bổ, quan sát kỹ
ở lề tờ thứ 4 được đánh số là性 (tam), ở lề dưới chỗ đánh số cóthể đọc được
Trang 22hai chữ “Phong Trai”, hai chữ này còn xuất hiện lại ở nhiều trang sau Sosánh phần từ tờ thứ 4 (tức tờ được đánh số “tam”) với bản Hv.13/3 thìthấycósự tương đồng về tự hình tự dạng, bố trínội dung trong một trang (chữ mởđầu, chữ kết thúc, cá chữ ở đầu, cuối các dòng…), không có đường kẻ phânrõcột, nhưng bản Hv.13/3 thìcóthêm phần tăng bổ Cóthể kết luận ở đây có sựghép lẫn của hai hệ bản khác nhau nhưng là do người về sau ghép từ hai bản
in khác nhau
Bộ phận quyển 4: Cósự thống nhất từ phần sau của quyển 3 nêu trênvới phần quyển 4 này về tự hình, tự dạng, không có đường kẻ phân rõcột.Tương tự như việc đại bộ phận phần quyển 3 nêu trên cósự tương tự về phầnchính văn với Hv.13/3, bộ phận quyển 4 của kýhiệu này cũng tương tự vềphần chính văn với bản kýhiệu Hv.13/4 nhưng cũng giống bộ phận quyển 3,
bộ phận quyển 4 này khác Hv.13/4 ở chỗ không cóphần tăng bổ Ở gần nhưtoàn bộ lề cá trang (tức giữa cá tờ) của bộ phận quyển 4 này đều cóhai chữ
“Phong Trai” Bộ phận quyển 4 này có đầy đủ nội dung, gồm 64 tờ
Bộ phận quyển 5: Phần quyển 5 của kýhiệu này khác với phần quyển
4 và đa số phần quyển 3 về tự hình tự dạng, vàcáh trình bày Ở phần quyển
5 chia rõcá cột, một trang có9 cột, bố cục trình bày phần chính văn cũng như
vị trícá phần tăng bổ đều tương tự với bản R.931 của TVQG, ở cá tờ
Trang 23c Các văn bản TLTY của VTT
Trong quátrình thực hiện luận văn, chúng tôi tiếp cận được các văn bản
TLTY thuộc VTT với cá kýhiệu sau:
HN.111, đây là quyển 1 thuộc bộ TLTY, hai tờ bìa vàmục lục hoàn toàn giống với bản Hv.13/1 vàHv.14/1 của TVHN, tức ở trang trước tờ bìa ngoài dòng “Tính lý tiết yếu” thì bên phải là dòng “Bùi thị nguyê bản”, bên trái chếch phía dưới làhai con dấu một tròn một vuông, dấu vuông làdấu “Bùi thị nguyê bản” Trang sau tờ bìa ghi thời điểm in là “Thiệu Trị nhị niê mạnh xuân nguyệt cát nhật tân thuyên” 性性性性性性性性性性性, bên trái ghi tên nhà in là “Thịnh Văn Đường” 性性性 Khổ sách vàsố tờ cũng tương tự, gồm 69 tờ Ở phần nội dung, so sánh về hình dạng chữ, vị tríừng chữ, bố cục nội dung, quy cách trình bày ở từng trang (không códòng kẻ chia cột, phần lề giữa của một số tờ cóhai chữ “Phong Trai” 性性, chữ bắt đầu, chữ kết thúc của từng dòng, từng trang…) của chính văn, giữa HN.111 vàhai bản Hv.13/1, Hv.14/1 làgần như giống hệt nhau, điểm khác biệt lớn nhất làHN.111 hoàn toàn không cótrang nào cóphần tăng bổ ở phía trên đầu trang Từ đây có thể thấy cùng vào năm Thiệu Trị 2, Thịnh Văn Đường có 2 đã khắc in TLTY ít nhất làhai lần, một lần không có tăng bổ vàmột lần có tăng bổ
HN.110, đây là quyển 2 của bộ TLTY, qua so sánh bản này gần như hoàn toàntương tự với phần văn bản quyển 2 của kýhiệu AC.5/1, khác biệt duy nhất là phần lềgiữa cá tờ của bản HN.110 không tờ nào cóhai chữ “Phong Trai” 性性 Tình trạng vănbản HN.110 còn tốt
HN.448, đây là quyển 3 của bộ TLTY, qua so sánh bản này trùng bản với bảnkýhiệu R.929 của TVQG, không cókhác biệt
HN.109, đây là quyển 4 của bộ TLTY, bản này về khổ sách, số tờ, dạng chữ,
bố cục trình bày trong cá trang, vị trícá phần tăng bổ tương tự bản R.930 tuy nhiêkhông cóba chữ “Tập Văn Đường” ở tờ số 55 như R.930
HN.108, đây là quyển 5 của bộ TLTY, khổ sách, dạng chữ, dạng thức trìnhbày giống như khuôn mẫu của HN.111 Bản này hoàn toàn không có tăng bổ của
Trang 24nhàin, ở một số trang cóchữ viết tay do người về sau viết thêm vào Sách có đủ nội dung, gồm 60 tờ.
1.1.2 Các hệ bản TLTY vàphân loại các văn bản
Qua khảo sát các văn bản ở mục 1.1.1, như đã nêu ở phần thông tin chung,chúng tôi xác định được bốn văn bản quyển 1 khác nhau của bộ TLTY, đồng nghĩavới việc cho tới giờ xác định được ít nhất làbốn hệ bản TLTY hiện tồn, lần lượt nhưsau:
Bản TT2 không cóphần tăng bổ, do Thịnh Văn Đường khắc in, đại diện là bản kýhiệu HN.111
Bản TT2 cóphần tăng bổ, do Thịnh Văn Đường khắc in, đại diện làbản Hv.13/1, Hv.14/1
Bản TT3 có phần tăng bổ, do Tập Văn Đường khắc in, đại diện làbản AC.5, R.372
Bản TT4 có phần tăng bổ, do Mỹ Văn Đường khắc in, đại diện làbản AC.5/1, R.932
Các văn bản quyển 1 nêu trên là các văn bản có thông tin được ghi rõràngnhất, xác tín nhất cho việc xác định văn bản nào thuộc hệ bản nào Từ các văn bảnquyển 2 về sau, để xác định được văn bản nào thuộc hệ bản nào thì khó khăn hơnnhiều Việc so sánh các văn bản xác tín, tức các văn bản quyển 1, với nhau để rút rađặc điểm cho từng hệ bản làcần thiết, giúp cho việc xác định hệ bản của các văn bảnquyển 2 về sau
a So sánh HN.111 vàHv.13/1
Hai văn bản này đại diện cho hai hệ bản TT2 cùng của Thịnh Văn Đường,thời điểm khắc in in ở trang bìa tương tự nhau, đều là “Thiệu Trị nhị niê mạnh xuânnguyệt cát nhật tân thuyên”, tức lànếu thông tin trên làchính xác thìhai bản này được
in trong cùng một tháng “mạnh xuân” tức tháng 1 Vìcùng một nhàin khắc in nêgiữa hai bản cósự tương đồng về hình thức
Trang 25Hình 1.8 Bản HN.111 Hình 1.9 Bản Hv.13/1
Giống: quy cách trình bày của hai bản làgiống nhau, đều không códòng kẻchia cột, dạng chữ sử dụng cũng là tương đồng Ở phần chính văn, nội dung trongmột trang, vị trícá chữ cũng là tương đồng Ở một số lề trang, mép dưới cóhai chữ
“Phong Trai” 性性, đáng tiếc làở thời điểm hiện tại chúng tôi vẫn chưa giải thích được
ý nghĩa của hai chữ này
Hình 1.10 Hai chữ “Phong Trai”ở lề trang - Bản Hv.14/1
Trang 26Khác: khác biệt lớn nhất làbản Hv.13/1 cóthêm phần tăng bổ Ở một vài chi tiết nhỏ cũng có sự khác nhau, rõràng nhất làở cá hình vẽ, vídụ như dưới đây:
Hình 1.11 Hình môtả ngũ hành bản HN.111 Hình 1.12 Hình ở bản Hv.13/1Kết luận: Từ việc cá bản TLTY in các năm Thiệu Trị 3, Thiệu Trị 4 đều cóthêm phần tăng bổ, ta cóthể xác định rằng xu hướng của cá hệ bản làtừ “không cótăng bổ” → “có tăng bổ”, từ đó đưa ra ước đoán bản TT2 không có tăng bổ là bảnđược khắc in trước, sau đó trên cơ sở bản trước lại khắc in thêm bản TT2 có phầntăng bổ
b So sánh R.372 vàR.932
Sở dĩ chọn so sánh đại diện của hệ bản TT3 làR.372 và đại diện hệ bản TT4làR.932 làvìhai hệ bản này cósự tương đồng khálớn
Giống: Dạng chữ được sử dụng rất giống nhau, bố cục nội dung từng trang,
vị tríchữ trong trang, vị trícũng như nội dung phần tăng bổ ở phần trên của trang đềugiống nhau
Trang 27Hình 1.13 Tờ 2 bản R.372
Hình 1.14 Tờ 2 bản R.932
Trang 28Khác: Tuy rất giống nhau về tổng thể nhưng xem xét kỹ thìvẫn nhận ra dù dạng chữ tương đồng nhưng chi tiết từng chữ vẫn cókhác biệt Vídụ:
có So sánh tờ 43 của bản AC.5 với tờ 43 của bản R.932 thìthấy giống hệtnhau, từ chi tiết này cóthể đặt ra nghi ngờ về việc bản R.932 nói riêng chotới hệ bản của Mỹ Văn Đường năm Thiệu Trị 4 nói chung cósử dụng lại
ván khắc của Tập Văn Đường khắc in TLTY năm Thiệu Trị 3
c So sánh HN.111 vàR.372, phần tăng bổ ở quyển 1 của bốn hệ bản
Từ hai mục trên, tạm thời bỏ qua phần tăng bổ, cóthể thấy được sự tươngđồng về bố cục, cỡ chữ, trình bày ở phần chính văn giữa hai bản HN.111 và Hv.13/1của hai hệ bản TT2; giữa hai bản R.372 vàR.932 của hệ bản TT3 vàTT4 Mục nàyxin lấy HN.111 đại diện cho sự tương đồng ở phần chính văn của hai bản TT2, sosánh R.372, đại diện cho sự tương đồng nêu trên của hai hệ bản TT3 và TT4
Hình 1.16 Bản
R.932
Trang 29Hình 1.17 So sánh hai trang 1b tương ứng của hai bản HN.111 vàR.372
Ở bản R.372, cá trang códòng kẻ chia rõcá cột, bản H.111 không có Tựhình sử dụng ở hai bản là hoàn toàn khác nhau, đơn cử như ở trang trên, chữ “thể”của bản HN.111 viết là 性 trong khi bản R.372 viết là 性 Dòng ngoài cùng bên trái,bản R.111 bắt đầu bằng chữ “tĩnh”性, bản R.372 bắt đầu bằng chữ “nhi”性 Sự khácnhau giữa hai hệ bản TT2 vàhai hệ bản TT3, TT4 làkhárõràng vàdễ nhận biết
*Phần tằng bổ ở quyển 1 của bốn hệ bản
Bảng dưới đây trình bày vị tríphần tăng bổ ở các văn bản quyển 1
HN.111
x x x x x x x x x x x x
Trang 30-Nội dụng tăng bổ giống nhau tương ứng theo hàng ngang.
Bảng thống kê trên chỉ ra phần tăng bổ của cá bản Hv.13/1 (Hv.14/1),
R.372, R.932 nằm ở trang nào, cũng chỉ ra:
- Phần tăng bổ của cá bản R.372 vàR.932 nhiều hơn bản có tăng bổ của hệ bản TT2
- Hệ bản R.372 vàR.932 chứa toàn bộ phần tăng bổ cóở hệ bản TT2
- Phần tăng bổ của R.932 vàR.372 làhoàn toàn giống nhau về nội dung và vịtrísố trang cóphần tăng bổ
d Tiêu chíphân loại vàphân loại các văn bản TLTY
Qua việc khảo sát cá hệ bản cùng so sánh các văn bản quyển 1, ta cóthể tổngkết về cá hệ bản cũng như các đặc điểm nhận dạng như sau:
Hai hệ bản TT2: hai hệ bản này tương đồng về phần chính văn, sử dụng dạng
chữ khắc in khác biệt một cách rõràng với hai hệ bản TT3 vàTT4, giữa cá hàng chữtrong một trang không códòng kẻ chi cột Ở mép lề trang đôi chỗ cóhai chữ “PhongTrai” Trong nội bộ hai hệ bản TT2, cóthể lấy tiêu chílàphần tăng bổ để phân biệt
Từ trường hợp bản HN.110 vàbản AC.5/2 phần quyển 2, cùng thuộc hệ bản TT2không tăng bổ nhưng ở lề dưới cá trang bản AC.5/2 cóhai chữ “Phong Trai”, bảnHN.110 không có, cóthể kết luận khi Thịnh Văn Đường khắc in hệ bản
Trang 31TT2 không tăng bổ này, mỗi ván khắc cóthể cónhiều hơn một tấm, hoặc cónhiều
hơn một bộ ván khắc, dùng để tăng năng suất in hoặc thay thế ván hỏng
Hai hệ bản TT3, TT4: Hai hệ bản này nói gộp làbởi từ so sánh trên cóthể thấy
trừ trường hợp văn bản quyển 1, ở bìa cóghi rõràng ra, còn lại với sự tương đồng về
trình bày, về vị tríchữ trong trang, về vị tríphần tăng bổ, nội dung phần tăng bổ,
thìtừ quyển 2 về sau tương đối khóphân biệt Như ở phần khảo sát văn bản cóchỉ ra,
ở bìa cá bản R.372, AC.5 của hệ bản TT3 cócon dấu “Đan An tàng bản”, ở phần
chính văn, tại vị trí mép dưới lề một số trang cóchữ “Đan An tàng bản”, đây vốn
làmột cơ sở kháchính thống để xác định hệ bản TT3, tuy nhiê ở tờ số 43 bản R.932,
tức quyển 1 của hệ bản TT4 lại cũng có bốn chữ này, dùtrang bìa không códấu “Đan
An tàng bản” Từ chi tiết này cóthể đặt ra cá giả thuyết: Một là, cả hai hệ bản TT3
và TT4 đều sử dụng chung một nguồn tài liệu gốc chung chính làtàng bản của Đan
An bởi thế màở hai hệ bản cósự tương đồng gần như tuyệt đối về nội dung, chỉ
cómột vài khác biệt nhỏ từ dạng chữ sử dụng để khắc in như ở phần so sánh trên có
chỉ ra, bốn chữ Đan An tàng bản được cả Tập Văn Đường vàMỹ Văn Đương cùng
in để chỉ rõnguồn; Hai là, từ việc bốn chữ “Đan An tàng bản” xuất hiện một cách
chính quy ở hệ bản TT3 (trang bìa códấu, cá trang sau ghi ở lề sách) hơn là hệ bản
TT4, cóthể thành lập giả thuyết Tập Văn Đường sử dụng tàng bản của Đan An, Mỹ
Văn Đường khi in TLTY đã khắc lại thậm chílàsử dụng lại một bộ phận ván khắc
của Tập Văn Đường Tức là “Đan An
tàng bản” có thể dùng làm tiêu chíchung cho cả hệ bản TT3 vàTT4 Dù
làgiả thuyết nào thì chúng tôi đều cho rằng hai hệ bản TLTY của Tập Văn
Đường vàMỹ Văn Đường hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đều từ một gốc
Xuất phát từ việc bốn chữ “Đan An tàng bản” ở hệ bản TT3 cótính chính
quy hơn cho nên các văn bản từ quyển 2 về sau cómang bốn chữ
Hình 1.18 này sẽ tạm xếp vào hệ bản TT3 Một lưu ý khác đó là khi so sánh bản
Trang 32phục vụ in ấn nhiều bản một lúc, hoặc để thay thế cá ván khắc bị hỏng Một dấu hiệukhác để nhận biết hệ bản TT3 của Tập Văn Đường cóthể thấy ở cá bản R.930, R.931,AC.5/3 chính làba chữ “Tập Văn Đường” in ở lề (xem hình 1.18).
Từ những căn cứ nêu trên, dưới đây là bảng sắp xếp, phân loại các văn bảntheo kýhiệu từng quyển về cá hệ bản:
4 TLTY cóbản R.930 ở tờ số 55 cóchữ “Tập Văn Đường” mà bản HN.109 khôngcónê tạm xếp bản HN.109 vào hệ bản TT4 Tuy nhiên, khi so sánh kỹ hai tờ số 55của hai bản HN.109 vàR.930, ngoài ba chữ “Tập Văn Đường” ra, còn lại cá chi tiếtkhác, nhất làtự dạng, gần như hoàn toàn giống nhau
e Mối liên quan giữa cá hệ bản
Tính về thời gian, cả bốn hệ bản TLTY kể trên ra đời rất gần nhau, căn cứ vàothông tin có được ghi trên văn bản, thậm chíhai hệ bản không có tăng bổ vàcó tăng
bổ của Thịnh Văn Đường ra đời chỉ trong cùng một tháng “mạnh xuân” năm ThiệuTrị 2, hai hệ bản còn lại lần lượt ra đời vào hai năm kế tiếp Tạm thời bỏ qua phầntăng bổ thêm vào ở phần trên đầu trang, phần nội dung chính văn bên dưới, qua sosánh không thấy cókhác biệt, đây có lẽ làbởi phần chính văn này các nhà in đều lấy
từ cùng một nguồn, cũng chính là cái gọi là “Bùi thị nguyê bản” mà bìa văn bảnquyển 1 của cá hệ bản đều có Xem xét phần tăng bổ, so sánh phần tăng bổ
Trang 3330
Trang 34giữa cá hệ bản, cóthể thấy xu hướng phát triển cósự tương ứng với hệ văn bản như sau:
“không có tăng bổ” → “có tăng bổ” → “tăng bổ nhiều hơn”
bổ của hệ bản TT3, TT4 bao quát cả của nội dung tăng bổ của TT2 có tăng bổ Vậy nếu kiên trìgiả thuyết “Phụ lục: Nguyễn thám hoa quan chính bản” chính là phần tăng bổ thìcóthể đưa ra một kết luận tức làkhi khắc in hệ bản TT2 có tăng bổ, Thịnh Văn Đường đã tham khảo một phần của bản “Nguyễn thám hoa quan chính bản” rồi chọn đưa thêm vào trở thành phần “tăng bổ” nhưng lại không ghi rõở bìa Hệ bản TT3 của Tập Văn Đường khi khắc in TLTY đã tham khảo nhiều hơn, dẫn dụng nhiều hơn nên có ghi rõ đây là dẫn dụng từ “Nguyễn thám hoa quan chính bản”, vừa là để chính danh mà đồng thời cũng là để chứng tỏ phần tăng bổ này đến từ một nguồn có
uy tín, là “chính bản”
Trang 35của quan Nguyễn thám hoa Các nhàin khắc in TLTY khác từ thời điểm ấy về sauđều làm như vậy Cần chúýlàbốn hệ bản này ra đời lần lượt trong ba năm liên tiếp,việc cá nhàin tham khảo cá bản của nhau, thậm chídùng ván khắc của nhau là hoàntoàn cóthể xảy ra Bởi vậy, lập luận suy ngược tăng bổ của Tập Văn Đường bao gồm
cả tăng bổ của Thịnh Văn Đường, tăng bổ của Tập Văn Đường làtừ “Nguyễn thámhoa quan chính bản” suy ra tăng bổ của Thịnh Văn Đường cũng vậy là có căn cứ Tấtnhiên, giả thuyết vàlập luận trên đều phải dựa trên tiền đề “Phụ lục: Nguyễn thámhoa quan chính bản” chính là phần “tăng bổ”, tiền đề này chỉ được chứng minh chắcchắn nhất khi cóthể tìm được văn bản “Nguyên thám hoa quan chính bản” và tiếnhành đối chiếu, tuy nhiê hiện chúng tôi vẫn chưa tìm được bản này, tiền đề trên đượcxác lập chỉ dựa trên phé loại suy theo lối tam đoạn luận:
- Bản HN.111: “Bùi thị nguyê bản” đầu tiên không có tăng bổ
- Bản R.372: “Bùi thị nguyê bản” + “Phụ lục: Nguyễn thám hoa quan chínhbản” có tăng bổ
- Phần chính văn của HN.111 (cũng tức là “Bùi thị nguyê bản”) và R.372 làgiống nhau
phần tăng bổ chính là “Phụ lục: Nguyễn thám hoa quan chính bản”
Xét ở một góc độ khác cóthể nói bản thân TLTY cũng đã có sự diễn biến nộitại, phát triển từ “Bùi thị nguyê bản” tới “Bùi thị nguyê bản” + “Phụ lục: Nguyễnthám hoa quan chính bản”, TLTY phát triển từ một đơn thể lên một phức hợp, nóbiểu hiện cho vấn đề từ việc tiếp thu TLĐT đơn thuần theo lối của họ Bùi, đã diễnbiến thành tham khảo họ Bùi vàhọ Nguyễn để đưa ra một TLTY không còn đơnthuần làcủa họ Bùi hay họ Nguyễn nữa Dù chưa biết được toàn diện bản củaNguyễn thám hoa ra sao, tuy nhiê xem xét TLTY bằng hệ bản cóphần “Phụ lục:Nguyễn thám hoa quan chính bản” hẳn làsẽ cung cấp cái nhì toàn diện hơn về việchiện tượng tiết yếu vàsự tiếp nhận TLĐT qua hiện tượng này Mặt khác, so sánh hai
hệ bản TT3 của Tập Văn Đường vàTT4 của Mỹ Văn Đường cóthể thấy trên bìnhdiện nội dung, bố cục trình bày, vị tríchữ, dạng chữ làgần như tương đồng, khác biệt
có chăng chỉ làở nhàin vàván in, từ đây thậm chícóthể gộp hai hệ bản
Trang 36này vào chung một hệ bản “Bùi thị nguyê bản + Phụ lục: Nguyễn thám hoa quanchính bản” để đại diện chung cho những bản TLTY của các nhà in khác nhau nhưngdùng chung nội dung cơ sở chính văn là bản gốc của họ Bùi vàcóthêm một bộ phậntăng bổ lấy từ bản của Nguyễn thám hoa Ở phần nói về nội dung TLTY chúng tôi
sẽ lấy bản TLTY in năm Thiệu Trị 3 của Tập Văn Đường làm đại diện cho hệ bảnnêu trên
1.2 Tác giả TLTY
1.2.1 Bùi thị - Bùi Huy Bích
a Vấn đề tác giả của TLTY
Xét từ bản thân văn bản, thông tin “Bùi thị nguyê bản” do nhàin cung cấp ở
bìa sách không thể chứng minh “Bùi thị” là Bùi Huy Bích Tuy nhiên, trong Di sản
Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu khi ghi chép về TLTY nói riêng vàhệ sách “tiết
yếu” nói chung đều khẳng định “Bùi thị” chính là Bùi Huy Bích mà không nêuduyên do Trong quátrình nghiê cứu văn bản TLTY, rất tiếc chúng tôi cũng khôngtìm ra thêm chứng cứ nào từ trong TLTY để chứng minh cho khẳng định này.Nhưng, căn cứ vào nghiê cứu cũng như kết luận của một vài nhànghiê cứu tiền bối,chúng tôi cũng nghiêng về ýkiến Bùi thị chính làBùi Huy Bích
Đầu tiên, phải khẳng định một sự thật làBùi Huy Bích cóthực hiện công việcchỉnh lý, rút gọn cá bộ sách Nho học Điều này được chứng minh từ khánhiều
nguồn Sách Nguyễn Thông con người và tác phẩm nói về danh thần Nguyễn Thông
(1827 - 1884) có ghi lời phêcủa bộ Lễ thời Tự Đức trả lời khi Nguyễn Thông dâng
sớ đòi bãi bỏ cá bộ Tiết yếu rằng: “Bộ sách tiết yếu của Bùi Huy Bích làbản tư, dùng
trong nhà ông ta Các học tròthấy ước lược cólợi đem dùng học tắt chomau.”[11:308] Như vậy ít nhất đã chứng minh thực tế Bùi Huy Bích cóthực hiện
“bộ sách tiết yếu” để dùng riêng Một mặt khác, ghi chúthông tin nguồn văn bản
“Bùi thị nguyê bản” là một ghi chúxuất hiện rất nhiều lần ở nhiều tựa sách khác nữa
như Tứ thư tiết yếu, Ngũ kinh tiết yếu, Thiếu vi tiết yếu, cóthể lập luận rằng nếu mục
đích của việc cá nhàin khi ghi rõthông tin nguồn văn bản là để “làm rõ” xuất xứ vănbản thìgiả như các văn bản nêu trên, kể cả TLTY, làcủa nhiều ông
Trang 37họ Bùi khâc nhau măcâ nhăin lại ghi gộp chung chung lă “Bùi thị” sẽ lăphi lý, bởinhư thế thông tin được cung cấp năy không giúp ích gìcho việc phđn biệt nguồn gốc
câ bản cả vă cũng không có ích gì hết bởi cuối cùng ta vẫn không biết được Bùi thịlẵng năo Từ lập luận năy cóthể đưa ra nhận định thực ra “Bùi thị” ghi ở câ tựasâch níu trín chỉ lămột người duy nhất, vă đương nhiín nếu câc “Bùi thị nguyíbản” được nhiều nhăin lựa chọn để khắc in như vậy thìnhđ vật “Bùi thị” năy phải
lămột nhđ vật uy tín Nói đến “Bùi thị nguyí bản” trong trường hợp Thi kinh tiết
yếu, trong cuốn Diín câch cấu trúc chữ Nôm Việt, T.s Nguyễn Tuấn Cường có níu:
“[…] câc trang bìa sâch cho ta thông tin: “Bùi thị nguyí bản” (性性性性, bản gốc của
họ Bùi) Cóýkiến đề xuất năm 1952 cho rằng “Bùi thị” lă Bùi Dương Lịch 性性性(1758-1828) […] Nhưng chúng tôi cho rằng “Bùi thị” ở đđy lă Bùi Huy Bích 性性性(1744-1818), bởi ông lă người từng lăm “tiết yếu” cho hầu hết câc “sâch giâo khoa”
của Nho gia tại Việt Nam […]; hơn nữa những cuốn Tứ thư tiết yếu 性 性 性 性
(VHv.3553), Thiếu vi tiết yếu 性性性性 (VHv.3342), do Bùi Huy Bích thực hiện cũng
có dòng “Bùi thị nguyí bản” […]”[26:34] Trong trường hợp “Bùi thị nguyí bản” ở
Dịch kinh tiết yếu, nhănghií cứu Nguyễn Phúc Anh cũng khẳng định: “Nhứng sâch
có ghi “Bùi thị nguyí bản” như Ngũ kinh tiết yếu, Tứ thư tiết yếu, Chu lễ chúsớ san
dực tiết yếu, Thiếu vi tiết yếu,… cónhững chứng cứ để khẳng định lăcâ tâc phẩm của
Bùi Huy Bích […]”[23:145] Từ trín chỉnh thể hệ thống “tiết yếu”, chúng tôi xin kếthừa nghií cứu của câ nhănghií cứu tiền bối, chấp nhận nhận định TLTY lăcủa BùiHuy Bích
b Khâi lược về Bùi Huy Bích
Luận văn không có ý định đi sđu văo miíu thuật cuộc đời văsự nghiệp củaBùi Huy Bích, măchỉ xin níu khâi quât cuộc đời của ông cũng như lưu ý nhữngđiểm chúng tôi cho rằng đâng quan tđm trong đó
Bùi Huy Bích 性 性 性 , tự Hy Chương 性 性 , hiệu lăTồn Am 性 性 , sinh ngăy3/10/1744 tại lăng Định Công, HăNội, mất ngăy 25/5/1818, lămột danh nhđ có tiếngcủa HăNội, một bậc đại Nho cóảnh hưởng sđu rộng ngay cả sau khi mất Ông xuất
Trang 38khoa bảng, làcháu bảy đời của Quảng Quận công Bùi Xương Trạch, cháu năm đờicủa Tiên Quận công Bùi Bình Uyển, phụ thân là Trúc Viên cư sĩ Bùi Dụng Tân BùiHuy Bích còn một chị vàmột em trai.
Phụ thân Bùi Dụng Tân không đỗ đạt, ở nhàdạy học, từ nhỏ Bùi Huy Bích đãtiếp xúc với sách vở Tới năm mười bảy tuổi ông theo học Nguyễn BáTrữ (tiến sĩkhoa Giáp Tuất niê hiệu Cảnh Hưng 15 - 1754) Năm 1762 tức năm Cảnh Hưng 23,ông thi Hương đỗ tứ trường, sau thi Hội không đỗ Ông sau đó theo học Quế Đườngtiên sinh LêQuýĐôn, được tiên sinh ưu ái và giúp đỡ Trong giai đoạn này triều đình
có nhiều biến động, Bùi Huy Bích cũng theo đó mà chán nản không muốn thi tiếp.Tới năm Cảnh Hưng 30 (1770), triều đình mở khoa thi Hội, ông vìvừa lòng phụ thân
mà tham gia, ông đỗ thi Hội, vào thi Đình, được liệt vào Đệ nhị giáp tiến sĩ xuấtthân, cóthể nói là đỗ cao khi còn rất trẻ Sau khi đỗ, ông được bổ dụng làm Hiệu lýởHàn lâm viện, năm Cảnh Hưng 31 được thăng làm Thị chế, rồi lại được thăng làmThiêm sai Phủ liêu Tri Hộ phiên kiêm Đông các Hiệu thư Năm Cảnh Hưng 38(1777), ông vào làm Đốc đồng Nghệ An, tới năm Cảnh Hưng 41 (1780) thì thănglàm Hiệp trấn Nghệ An Sang năm sau, chúa Trịnh Sâm triệu ông về kinh ban chứcNhập thị Bồi tụng, ông dâng khải văn xin không nhận nhưng không được Tới nămCảnh Hưng 43 (1782), ông được ban tước Kế Liệt hầu, năm Cảnh Hưng 45, làmHành Tham tụng, tới năm sau ông cáo bệnh từ quan, chúa Trịnh Khải giữ ông lạikinh đô, ông bèn lui về nhàriêng ở phường Bích Câu Cho tới lúc vua Chiêu Thốnglên ngôi, lại triệu ông ra làm việc, ông vẫn xin lui về quê Ông ở ẩn tại quê nhà, trảiqua thời Tây Sơn, thời Gia Long đều cómời nhưng ông đều không ra Tới ngày25/5/1818 tức năm Gia Long 17 ông qua đời
Bùi Huy Bích có điều kiện tiếp xúc với sách vở rất sớm, lại xuất thân từ dòng dõi thư hương, ở khía cạnh này cóthể nói Nho học đã bầu bạn với ông từ đầu chí cuối Lược tiểu sử ông thìthấy ông không ham làm quan, nhiều lần từ chức cao, cáo bệnh về nhà, án theo quán tính đỗ đạt sớm, đường làm quan chỉ lên không xuống của ông thì đây cũng có thể kể làlạ, kẻ khác mong được như ông mà không được ông thìlại không hứng thúvới quyền hành Đặc biệt lànhì khoảng thời gian đầu
Trang 39con đường khoa cử của ông, chưa tới hai mươi đê đỗ thi Hương văo đến thi Hội, tuy thi Hội không đạt nhưng đương tuổi trẻ như thế, lại có đă tiến tốt, lýra một người từ nhỏ đê lăm bạn với đạo lý “tu tề trị bình” thì phải căng hừng hực khíthế tới khi tín
đề bảng văng mới phải, đằng năy ông dường như lại không muốn theo nghiệp khoa
cử nữa Hoặc giả lăvìsớm thấm nhuần lẽ xuất xử, quân triệt câi đạo đức quan thanh cao của Nho gia ní ông không muốn lăm quan triều loạn chăng Trong khoảng thời gian giữa hai lần thi của ông cósự kiện chúa Trịnh Sđm truất giết thâi tử LíDuy Vỹ Với đạo đức quan của Nho gia mă nói đđy lă hănh động loạn đảo cương thường nghiím trọng Bấy giờ trín danh nghĩa triều vẫn lătriều Lí, thâi tử LíDuy Vỹ lă con trưởng của vua Hiển tông, dùkhông cóthực quyền nhưng vẫn tôn quý hơn ngôi chúa, đđy lă tông phâp trước nay của Nho giâo Chúa Trịnh Sđm vìhiềm cũ mă vu tội truất giết thâi tử lăhănh vi cóthể nói lăcực kỳ phản Nho Đđy có lẽ lămột lýdo đâng lưu ý, giải thích cho việc vìsao Bùi Huy Bích sớm nguội lạnh câi chílăm quan Bởi khi ấy cung vua phủ chúa đều lập chức riíng, quyền lực cung vua chỉ lă trín hình thức, thựcquyền nằm tại phủ chúa cả Bùi Huy Bích do đó không muốn lăm tôi triều loạn, cũngkhông muốn phục vụ Trịnh Sđm cho ní không muốn thi tiếp Ở một trình độ năo đó, câi sự dứt khoât năy cũng thể hiện bầu mâu nóng của một nhăNho trẻ tuổi trước câi
sự thật cương thường điín đảo, một mực giữ đạo đức quan của mình Cho tới năm ông 26 tuổi, hẳn lă vì đê chín chắn hơn, hai lă giữ hiếu đạo, thuận ýcha, ông lại đi thi
vă đỗ cao Con đường lăm quan của Bùi Huy Bích cũng có thể kể lăhuy hoăng, ông một đường đi lín, từng lăm tới chức Hănh Tham tụng, Tham tụng lăchức tương đương vởi Tể tướng, ông lăm Hănh Tham tụng chính lăgiữ chức quyền tể tướng, cóthể coi lătới đỉnh cao của chức quyền rồi Điều năy chứng tỏ ông không mặn măvới đường hoạn lộ không đồng nghĩa với việc năng lực lăm quan của ông kĩm Ông từng giữ nhiều chức, ở vị trínăo ông cũng lăm tròn phận sự, tức lă đê không lămthì thôi, một khi đê lăm thì phải lăm cho nín, đđy cũng lă một nĩt tính câch nhă Nho đâng quý ở ông Sở dĩ nói ông không mặn măvới việc lăm quan lẵng không chỉ mộtlần câo quan, cũng không chỉ một lần dđng khải xin không nhận chức cao Tức lă dường như ông lăm quan cho đúng
Trang 40cái tôn chỉ “trị quốc” của Nho giáo, chứ không muốn dấn thân sâu vào chốn cungvua phủ chúa loạn cương thường lúc bấy giờ, ở ông ta thấy một nhàNho học giả,ham văn chương sách vở, trọng đạo đức, khítiết hơn là một nhà Nho công danh Đồrằng phụ thân ông tức Trúc Viên cư sĩ Bùi Dụng Tân, ở khía cạnh này cóảnh hưởngkhông nhỏ tới ông Điều này cóthể thấy ở việc ông cáo bệnh rời phủ chúa, lui vềBích Câu khi mới ngoài bốn mươi Kịp tới khi nhàLêsụp đổ, triều Tây Sơn lên kế rồiqua thời Gia Long ông đều không ra làm quan, coi như giữ chọn nghĩa với nhà Lê,cũng là chọn vẹn cái khítiết nhàNho của mình Nhìn từ những trước tác Bùi HuyBích để lại cóthể thấy được sự ham thúcủa ông với Nho học, ông gần như đã chỉnh
lýlại theo ýmình toàn bộ kinh điển Nho gia, từ Tứ thư, Ngũ kinh, cho tới đại biểu cho triết học Nho giáo Tống Minh làbộ Tính lý đại toàn, giữ những chỗ ông cho làthen
chốt, lược những điểm ông cho làkhông quan trọng Với những cống hiến của mìnhcho Nho học nước nhà, ông xứng đáng là một bậc đại Nho cần được quan tâm nghiêcứu
1.2.2 Nguyễn thám hoa – Nguyễn Huy Oánh
a Nguyễn thám hoa vàTLTY
Sở dĩ chúng tôi đưa Nguyễn thám hoa vào mục TLTY làbởi xét theo nghĩahẹp, tức làgiới hạn trong các văn bản cóphần phụ lục của ông thìrõràng, mặc dùkhông cóchủ đích, ông đã tham gia một cách bị động vào quátrình hình thành nê hệcác văn bản TLTY cóphụ lục “Nguyễn thám hoa quan chính bản” Như đã nói ở trên,nhì từ diễn biến các văn bản TLTY từ hệ bản TT2 không có tăng bổ cho tới cá hệ bản
có tăng bổ sau này, TLTY đã diễn biến từ đơn thể lên phức hợp, từ việc chỉ đại diệncho cách nhì nhận, lýgiải của Bùi Huy Bích với TLĐT diễn biến lên mang thêm một
bộ phận tư tưởng của Nguyễn thám hoa màtrung gian phari kể tới cả cá nhàin, nhữngchủ thể tuyển lựa, tổ thành hệ sách TLTY kể tới ở đây
Tương tự như trường hợp “Bùi thị nguyê bản”, “Nguyễn thám hoa quanchính bản” không nêu lên được Nguyễn thám hoa làai, tuy nhiê trong những nghiêcứu của mình Th.S Quách Thị Thu Hiền (2013), qua khảo sát cá tàng bản còn sót lạitại kho sách Thạch Đình (Thạc Đình tàng bản) đã chỉ rõ “Nguyễn thám