Thực tế ở Việt nam các nghiên cứu về trẻ tự kỉ nói chung và những nghiên cứu về sự thích ứng của cha mẹ có con mắc hội chứng tự kỉ chưa được quan tâm và còn nhiều bỏ ngỏ.. Mục đích nghiê
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
-PHẠM THỊ HÒA
NGHIÊN CỨU SỰ THÍCH ỨNG VỚI HOÀN CẢNH CÓ CON TỰ KỶ
CỦA CHA MẸ Ở HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
-PHẠM THỊ HÒA
NGHIÊN CỨU SỰ THÍCH ỨNG VỚI HOÀN CẢNH CÓ CON TỰ KỶ
CỦA CHA MẸ Ở HÀ NỘI
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 80
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Văn Thị Kim Cúc
HÀ NỘI - 2014
Trang 3Các anh chị, các chuyên gia, cùng các thầy cô làm việc tại khoa Tâmbệnh – Bệnh viện Nhi TW (Hà Nội), trường chuyên biệt Minh Đức (HàNội), Trung tâm giáo dục hoà nhập Sơn Ca (Hà Nội).
Cảm ơn các anh chị là phụ huynh của các bệnh nhi bị hội chứng tự
kỷ đã nhiệt tình đóng góp ý kiến, chia sẻ với chúng tôi một cách chânthành, trung thực trong quá trình nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo – PGS TS.Văn Thị Kim Cúc, người đã tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thựchiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội ngày 10, tháng 10, năm 2014
Tác giả
Phạm Thị Hòa
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Vấn đề thích ứng 6
1.1.2 Về hội chứng tự kỷ 12
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 14
1.2.1 Khái niệm “ thích ứng” 14
1.2.2 Phân biệt “thích ứng” và “thích nghi” 16
1.2.3 Thích ứng tâm lý 16
1.2.4 Thích ứng tâm lý- xã hội 16
1.2.5 Khái niệm Tự kỷ 19
1.2.6 Khái niệm “thích ứng với hoàn cảnh có con tự kỷ” 27
1.2.7 Đặc điểm tâm lý của cha mẹ có con mắc hội chứng tự kỷ 28
1.2.8 Vai trò của cha mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ tự kỷ 30
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng lên quá trình thích ứng của cha mẹ với hoàn cảnh có con tự kỷ 32
1.3.1 Các yếu tố khách quan 32
1.3.2 Những yếu tố chủ quan ảnh hưởng lên quá trình thích ứng ở cha mẹ 33
Tiểu kết chương 1: 34
Chương 2: 35
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Mục đích nghiên cứu 35
2.2 Nội dung nghiên cứu 35
2.3 Tiến trình nghiên cứu 35
2.3.1 Giai đoạn nghiên cứu lí luận 35
2.3.2 Giai đoạn khảo sát thực trạng, xử lý số liệu 36
2.4 Các phương pháp nghiên cứu 37
2.4.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu tài liệu 37
2.4.2 Nhóm nghiên cứu thực tiễn 38
Tiểu kết Chương 2 41
Trang 5Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
3.1.Thực trạng thích ứng của cha mẹ với hoàn cảnh có con tự kỷ 42
3.1.1 Thực trạng nhận thức về căn nguyên của bệnh tự kỉ 42
3.1.2 Thực trạng nhận thức về các mức độ của bệnh 43
3.1.3 Thực trạng tìm hiểu về các liệu pháp, phương pháp can thiệp dành cho trẻ tự kỉ trong và ngoài nước 45
3.1.4 Thực trạng tìm hiểu các cơ sở thăm khám, chăm chữa dành cho trẻ tự kỉ trên địa bàn thành phố Hà nội 46
3.1.5 Thực trạng thích ứng về thái độ - tình cảm của cha mẹ với hoàn cảnh có con tự kỉ 50 3.1.6 Thực trạng thích ứng về mặt hành vi của cha mẹ với hoàn cảnh có con tự kỉ 55
3.1.7 Thực trạng thích ứng với hoàn cảnh có con tự kỷ ở cha mẹ Hà Nội 64
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng của các bậc cha mẹ có con tự kỉ 65
3.2.1 Các yếu tố khách quan 65
3.3.2 Các yếu tố chủ quan 69
3.4 Một số chân dung tâm lý điển hình 70
3.4.1 Trường hợp thứ nhất 70
3.4.2 Trường hợp thứ hai 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 85
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng số liệu 1: Ý kiến phụ huynh về nguyên nhân dẫn đến trẻ tự kỉ 42
Bảng số liệu 2: Thực trạng nhận thức của phụ huynh về mức độ bệnh 44
Bảng số liệu 3: Thực trạng về việc tìm hiểu các cơ sở thăm khám của
được chọn nhiều phương án) 49
Bảng số liệu 7: Thực trạng tình cảm mà cha mẹ dành cho con sau khi
phát hiện con mắc chứng tự kỉ 51Bảng số liệu 8: Thực trạng cảm xúc khi nói về con với người khác của cha mẹ
trong hoàn cảnh có con mắc chứng tự kỉ 54
Bảng số liệu 9: Thực trạng về cách giao tiếp của trẻ với cha mẹ 56
Bảng số liệu 10: Thực trạng giao tiếp của cha mẹ với đứa con mắc
chứng tự kỉ 57
Bảng số liệu 11: Cách ứng xử của cha mẹ khi con rối loạn cảm xúc 59
Bảng số liệu 12: Cách hành xử của cha mẹ khi con rối loạn cảm xúc
chốn đông người 60
Bảng số liệu 13: Thực trạng cách xử lí hành vi của cha mẹ với đứa con
tự kỉ 61Bảng số liệu 14: Thực trạng thích ứng của cha mẹ với hoàn cảnh có con tự kỉ 64Bảng số liệu 15: Thực trạng về thời gian phát bệnh của trẻ 66
Bảng số liệu 16: Thực trạng mức độ bệnh của trẻ 68
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Cặp vợ chồng nào khi kết hôn cũng mong muốn kết quả tình yêu của mình
là những đứa con xinh xắn, thông minh và đáng yêu Bao ấp ủ cho tương lai của con, bao dự định, kế hoạch được những bậc cha mẹ suy nghĩ, tưởng tượng từng ngày để làm sao con có được sự chăm sóc tốt nhất, một cơ thể khỏe mạnh nhất, một trí tuệ minh mẫn nhất và một sự phát triển toàn diện nhất.
Nhưng chẳng may, đứa trẻ mắc phải một chứng bệnh hay một rốinhiễu nào đó, đặc biệt khi bị rối loạn tự kỷ hay còn gọi là hội chứng tự kỷthì đa phần những bậc cha mẹ sẽ buồn phiền Có những người chán nản,buông xuôi gửi con đến bác sỹ y khoa, nhà tâm lý hay giao phó con cho côtrông trẻ nhưng cũng có những người rất tích cực trong việc phối hợp đểkhắc phục những khó khăn mà trẻ gặp phải
Đối với các chứng bệnh có thể được cảnh báo trước ngay khi đứa trẻ sinh
ra như hội chứng down, câm, điếc hoặc các tật về vận động khác, thì dù đauđớn, bố mẹ cũng đã được chuẩn bị tâm lý trước với tương lai của con Nhưngvới hội chứng tự kỉ thì khác Lúc sinh ra đứa trẻ cũng bình thường, đáng yêunhư bao đứa trẻ khác Chúng cũng trải qua các giai đoạn phát triển tuần tựhoặc bỏ qua giai đoạn nào đó Chúng cũng bập bẹ những âm tiết đầu đời như
“ba”, “bà”, “mẹ”… Không có gì khác thường cho tới khi đứa trẻ 1,5 – 2 tuổi
Mọi chuyện như thay đổi hoàn toàn khi bố mẹ nhận ra trẻ hầu như chỉ sống trong thế giới riêng của chúng và các kỹ năng dường như dừng hẳn, thậm chí kém
đi Nhiều bậc cha mẹ, do không biết sự thay đổi của con, nghĩ rằng đó là vì chúng ngoan, hay do chúng nhút nhát… Nhưng khi đến tuổi mà những trẻ bình thường đã
có thể nói được thì các cha mẹ mới phát hiện ra rằng con mình hầu như không thể chủ động sử dụng ngôn ngữ để nói chuyện cho dù có thể đôi lúc tự nhiên phát
Trang 8ra những âm thanh khó hiểu Hoặc ngày càng xuất hiện những hành vi kì lạ như chạy liên tục, xoay tròn, đập phá đồ đạc… Chúng không có phản ứng gì khi người khác gọi tên… Đến lúc này, các gia đình mới đưa trẻ đi chẩn đoán và đánh giá.
Khi được các bác sỹ hoặc các nhà chuyên môn chẩn đoán, đánh giá và thông báo về kết quả tự kỷ, phản ứng chung của các bậc làm cha làm mẹ là sốc, thất vọng, hoang mang lo lắng, không tin vào tình trạng của con, phủ nhận sự thật, cảm thấy xấu hổ, hối hận… Nhưng sau một thời gian, có một số bậc làm cha làm mẹ phần nào chấp nhận thực tế của con mình Tuy vậy, sự chấp nhận vấn đề của trẻ chỉ là về mặt
lý trí, trong thực tế, tình cảm của họ thường là bối rối, buồn bã, chán nản, đôi khi cảm thấy bực tức, thịnh nộ, ghen tức và giận dữ Sự thích ứng của họ về mặt nhận thức, thái độ- tình cảm, hành vi kể từ khi con họ được chẩn đoán là có rối nhiễu tự kỉ mang nhiều sắc thái và nhiều cấp độ khác nhau Có những cha mẹ có thể thích ứng được ngay sau một khoảng thời gian ngắn, nhưng cũng có những cha mẹ cùng với sự phát triển của đứa trẻ vẫn luôn cảm thấy dai dẳng đau đớn, không thể chấp nhận được thực tế bệnh tình của con mình.
Theo báo cáo công bố ngày 27- 3-2014 của Trung tâm kiểm soát vàphòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC) cho biết tại nước này cứ 68 trẻ em thìmột trẻ mắc chứng tự kỉ, tăng 30% so với tỉ lệ của năm 2012 là 88 trẻ thì có
1 trẻ mắc tự kỷ Tỷ lệ bé trai mắc căn bệnh cao gấp 5 lần so với bé gái Cụthể: cứ 42 trẻ nam thì có 1 trẻ mắc tự kỷ, với nữ thì 89 trẻ lại có 1 trẻ mắc
tự kỷ (Nguồn: Vietnamnet- số ra ngày 08/07/2014)
Hiện tại ở Việt Nam chưa có con số nghiên cứu chính thức về số lượngtrẻ có rối loạn tự kỷ, tuy nhiên số trẻ được chẩn đoán là mắc hội chứng tự
kỷ ngày càng nhiều
Thực tế ở Việt nam các nghiên cứu về trẻ tự kỉ nói chung và những nghiên cứu
về sự thích ứng của cha mẹ có con mắc hội chứng tự kỉ chưa được quan tâm và còn nhiều bỏ ngỏ Chính vì thế việc trợ giúp các bố mẹ - những người vừa phát
Trang 9hiện con mình mắc chứng tự kỷ để sao cho họ thích ứng với hoàn cảnh thực
tế còn nhiều hạn chế
Vì những lý do trên đây, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Nghiên cứu Sự thích ứng với hoàn cảnh có con tự kỷ của cha mẹ ở Hà Nội” cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ thực trạng thích ứng của các bậc cha mẹ khi phát hiện con mìnhmắc hội chứng tự kỉ, một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này, từ đó đưa ramột số khuyến nghị trợ giúp phần nào các bậc cha mẹ có hoàn cảnh này vượtqua những cú sốc ban đầu, nhanh chóng thích ứng với hoàn cảnh cụ thể củamình Điều này không những hết sức cần thiết đối với các bậc làm cha mẹ cócon mắc chứng tự kỷ mà còn góp phần giúp họ yên tâm, kiên nhẫn nuôi dạyđứa con tự kỷ của mình, để làm sao cháu phát triển tốt nhất có thể
3 Đối tƣợng nghiên cứu
Sự thích ứng của cha mẹ với hoàn cảnh có con tự kỷ thể hiện ở cácmặt như nhận thức, tình cảm- thái độ, hành vi, các yếu tố ảnh hưởng
4 Khách thể nghiên cứu
- Nghiên cứu trên 40 cha mẹ có con tự kỷ
- Nghiên cứu sâu trên 2 trường hợp cha mẹ
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
địa bàn Hà nội
- Giới hạn khách thể nghiên cứu: Nghiên cứu trên cha mẹ có con tuổi từ
2,5- 6 tuổi mắc chứng tự kỉ
+ Nghiên cứu thực trạng thích ứng của cha mẹ trong hoàn cảnh có con mắc chứng tự kỉ Thực trạng này thể hiện ở mặt nhận thức, thái độ- tình cảm và hành vi.
Trang 10+ Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thích ứng của cha
mẹ với hoàn cảnh có con mắc chứng tự kỉ
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu lí luận
- Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa một số tài liệu liên quan để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
- Xác định một số khái niệm công cụ của đề tài
6.2 Nghiên cứu thực tiễn
- Tiến hành điều tra trên 40 cha mẹ có con mắc chứng tự kỷ nhằm:
+ Xác định thực trạng thích ứng của cha mẹ với hoàn cảnh có con mắc chứng tự kỉ thể hiện qua các mặt nhận thức, thái độ- tình cảm, hành vi
+ Xác định các yếu tố ảnh hưởng lên quá trình thích ứng của các bậc cha mẹ với hoàn cảnh có con mắc chứng tự kỉ
- Rút ra kết luận và đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao khả năng thích ứng của các bậc cha mẹ với hoàn cảnh có con mắc chứng tự kỉ
7 Giả thuyết nghiên cứu
Sự thích ứng của cha mẹ với hoàn cảnh có con tự kỷ diễn ra khá đadạng và không đồng đều ở các mặt nhận thức, thái độ- tình cảm, hành vi
Có cha mẹ thích ứng tốt, có cha mẹ thích ứng kém, và có một phần cha mẹkhông thích ứng được với hoàn cảnh có con tự kỷ của mình
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng lên quá trình thích ứng đó: cả những yếu
tố khách quan và những yếu tố chủ quan Trong các yếu tố khách quan, yếu tốmôi trường sống không tác động đến sự thích ứng của cha mẹ có con tự kỷ.Trong các yếu tố chủ quan, yếu tố giới tính của trẻ, thứ tự sinh và việc thamgia tích cực hay không của cha mẹ với cộng đồng có cùng hoàn cảnh tác độngrất cơ bản đến sự thích ứng của cha mẹ với hoàn cảnh có con tự kỷ
Trang 118 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 8.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
8.2.3 Phương pháp chuyên gia
8.2.4 Phương pháp nghiên cứu trường hợp
8.3 Phương pháp thống kê toán học.
Trang 12- Ở Phần Lan, M.V Vôlanen quan tâm đến vấn đề thích ứng nghề
nghiệp và tâm thế xã hội đối với việc làm của thanh niên Kết quả nghiêncứu của ông cho thấy giữa việc học nghề và lao động nghề của thanh niêntồn tại một thời kỳ chuyển tiếp có thể kéo dài từ 5 – 7 năm, được đặc trưngbởi hàng loạt các sự kiện như: thất nghiệp, những công việc tạm thời, thậmchí cả sự thay đổi nghề Tác giả xem đây là những giai đoạn thích ứng nghềcủa thanh niên và tâm thế của họ đối với việc làm phụ thuộc vào giai đoạnnày có diễn ra sự thích ứng nghề hay không
Ở một hình thái khác, Holland đã nghiên cứu sự phù hợp của các
hình thái, các kiểu nhân cách với những môi trường nghề nghiệp tươngứng Đây là cơ sở cho công tác hướng nghiệp Theo ông sự phụ thuộc vàotính cách với môi trường nghề tương ứng sẽ hạn chế rất nhiều những khókhăn mà con người gặp phải trong công việc, nói khác đi sự phù hợp này sẽđẩy nhanh quá trình thích ứng nghề
- Ở Liên Xô trước đây và nước Nga hiện nay, thích ứng xã hội,thích ứng văn hóa, thích ứng học tập, thích ứng nghề là những vấn đề đượcnhiều nhà tâm lý học quan tâm nghiên cứu
Trang 13Năm 1969, E.A.Ermoleava đã nghiên cứu “Đặc điểm sự thích ứng xã
hội và nghề nghiệp của sinh viên tốt nghiệp trường sư phạm” Tác giả cho
rằng, giáo dục chính là sự giúp đỡ các chuyên gia trẻ thích ứng với nghềnghiệp Đồng thời đưa ra khái niệm thích ứng, các chỉ số đặc trưng củathích ứng nghề (4 chỉ số khách quan và 3 chỉ số chủ quan) và sau cùng đưa
ra các thời điểm của sự thích ứng
Năm 1972, D.A.Andreeva trong cuốn “Thanh niên và giáo dục” tác
giả đã đi sâu phân tích khái niệm “thích ứng”, từ đó vạch rõ sự khác nhau
cơ bản giữa hai khái niệm “thích nghi” và “thích ứng” Điểm đáng chú làtác giả đã vận dụng quan điểm của tâm lí học hoạt động vào nghiên cứu vấn
đề thích ứng Từ đây, vấn đề thích ứng luôn được gắn với hoạt động có đốitượng của chủ thể Hai quá trình này diễn ra đồng thời, trong đó sự thíchứng là tiền đề cho hoạt động có hiệu quả của nhân cách với các vai trò xãhội khác nhau
Điều này cũng được O.I.Dotova, I.K.Kariagieva bàn kỹ hơn Hai tác
giả này cho rằng, trong “xã hội hoá” nhân cách trước hết là đối tượng củacác tác động xã hội, còn quá trình “thích ứng” nhân cách là chủ thể của quátrình đó Qúa trình “xã hội hoá” diễn ra liên tục trong suốt cuộc đời conngười và không tuỳ thuộc vào ý thức chủ quan của cá nhân, nó tác độngđến mọi mặt trong đời sống tâm lí của cá nhân Còn quá trình “thích ứng”chỉ diễn ra khi con người gặp những hoàn cảnh mới Tuy nhiên, trong thực
tế chúng ta không nên tách rời hai quá trình này mà phải nhận thức đúngđắn về sự đan xen giữa chúng trong hoạt động của con người với môitrường xung quanh để phát triển nhân cách của mình
Năm 1979, A.E.Golomstooc khi nghiên cứu về “Sự lựa chọn nghề
nghiệp và giáo dục nhân cách cho học sinh”, tác giả đã không sử dụng
thuật ngữ “thích ứng” (Адаптация) mà sử dụng thuật ngữ “thích hợp”
Trang 14(Пригодностъ) để nói lên sự thích nghi đặc biệt của con người với nghềnghiệp Trong đó, tác giả nhấn mạnh đến mặt tình cảm của quá trình thíchhợp nghề nghiệp và coi đó như là một thuộc tính của nhân cách Ngoài ra,A.E.Golomstooc còn phê phán các quan niệm truyền thống chỉ xem sựthích ứng như là một quá trình lĩnh hội, thâm nhập vào các điều kiện mới.Đồng thời, ông cũng nêu lên lý thuyết về sự thích ứng nghề nghiệp phù hợpvới những tài liệu thực nghiệm của tâm lí học hiện đại Tuy nhiên, ông cũngchỉ mới đề cập tới vấn đề thích hợp nghề nghiệp nói chung chứ chưa đi sâuvào một nghề cụ thể.
* Hướng thứ hai nghiên cứu sự thích ứng với môi trường văn hóa mới, thích ứng xã hội.
Có thể nói nghiên cứu thích ứng văn hóa chiếm một mảng lớn trong
hệ thống các nghiên cứu về thích ứng Điều này xuất phát từ thực tiễn xãhội sau chiến tranh thế giới thứ hai là sự di cư của con người Cùng với sự
di chuyển dân cư đến một môi trường mới là hàng loạt các vấn đề xã hộilẫn vấn đề tâm lý cá nhân nảy sinh do thiếu thích ứng văn hóa Nhữngnghiên cứu này được thực hiện với nhiều nội dung khác nhau, với nhữngnhóm dân cư khác nhau
K Oberg, nhà nhân chủng học người Mỹ, đưa ra khái niệm “sốc
văn hóa” Theo ông, con người gia nhập vào một nền văn hóa mới kèm theonhững vấn đề về sức khỏe tinh thần, những cảm xúc tiêu cực: cảm giácđánh mất bạn bè, địa vị, không thoải mái, sự khó khăn trong định hướng giátrị và mâu thuẫn nội tâm
Vấn đề sốc văn hóa sau đó được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu,chẳng hạn như: P.S Adler, E.H Jacobson, A.C Garza – Guerrero và mặc
dù, mỗi tác giả đưa ra những giai đoạn khác nhau của sốc văn hóa nhưng
họ đều cho rằng triệu chứng của sốc văn hóa rất đa dạng: từ sự bất an
Trang 15thường xuyên về chất lượng thực phẩm, nước uống, điều kiện vệ sinh, sợ tiếp xúc với người khác, mất ngủ, thiếu tự tin
Ở một khía cạnh khác, một số nhà tâm lý đã nghiên cứu sự thích
ứng của sinh viên nước ngoài khi học tập trong môi trường văn hóa mới A.
Anumonye tiến hành phỏng vấn 150 sinh viên châu Phi học tập ở Anh và
đưa ra hàng loạt những nguyên nhân gây hẫng hụt của sinh viên trong môitrường văn hóa mới Trong số này, những nguyên nhân về văn hóa chiếmmột tỉ lệ lớn Theo ông, chính sự không thích ứng với môi trường văn hóakhiến sinh viên châu Phi gặp nhiều những khó khăn trong quá trình học tậptại Anh Và hệ quả của nó là những rắc rối nảy sinh trong đời sống tâm lýcủa họ
Một số nhà tâm lý học khác hướng sự chú ý vào vấn đề sức khỏetinh thần khi con người chuyển sang môi trường xã hội mới, nền văn hóamới Chẳng hạn, khi tiến hành khảo sát sức khỏe tinh thần ở sinh viên Anh
và sinh viên nước ngoài tại Hồng Kông R Still nhận thấy tỉ lệ sinh viên
Anh có vấn đề về tâm lý là 14%, trong khi tỉ lệ này ở sinh viên nước ngoàiluôn cao hơn: Ai cập: 22.5%; Nigiênia: 28.1%; Thổ Nhĩ Kỳ: 21%; Ấn Độ:17.6%
Những nghiên cứu đa dạng trên cho thấy những khía cạnh khácnhau của đời sống tâm lý con người khi chuyển sang một môi trường vănhóa mới với những chuẩn mực mới và việc không thích ứng với nó sẽ dầnđến những hậu quả tiêu cực trong đời sống và hoạt động của con người
* Hướng thứ ba nghiên cứu thích ứng với hoạt động học tập
Năm 1962-1964, tác giả B.Barisova và M.Baxrusev đã nghiên cứu
quá trình thích ứng học tập của sinh viên Các tác giả đã nghiên cứu ảnhhưởng của động cơ, thái độ trước khi vào học của sinh viên đối với sự thíchứng học tập Tất cả các sinh viên đã nhập trường được chia thành ba nhóm,
Trang 16ứng với ba loại động cơ, thái độ học tập là tích cực, bình thường và yếu.Các tác giả đã chỉ ra kết quả thích ứng học tập của ba nhóm sinh viên hoàntoàn khác nhau Qua đó, họ đưa ra những giải pháp đẩy nhanh quá trìnhthích ứng.
Năm 1968, N.D.Carsev, L.N.Khadeeva, K.D.Pavlov, đã công bố tác
phẩm “Những tiêu chuẩn sinh lí của sự thích ứng” Trong tác phẩm này,
các tác giả đã trình bày khá sâu cơ sở sinh lí của sự thích ứng ở học sinhđối với chế độ học tập và rèn luyện trong nhà trường, những phản ứng sinh
lí, những biến đổi của các hệ, các cơ quan, đặc biệt là hệ tuần hoàn và hệthần kinh được các tác giả quan tâm và chỉ ra những biến đổi rất cụ thể.Sang thập niên 80 của thế kỷ XX, cũng có nhiều những công trìnhnghiên cứu khác Đáng chú ý là công trình c ủa A.V Petrovski và các cộng
sự cũng đã nghiên cứu một cách hệ thống về “Sự thích ứng học tập của sinh viên trường Đại học tổng hợp Matxcơva” v.v.
1.1.1.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta cho đến nay việc nghiên cứu sự thích ứng với các hoạtđộng của con người được các nhà tâm lý học dành nhiều sự quan tâmnghiên cứu Các công trình nghiên cứu về sự thích ứng của các tác giả ViệtNam được tiến hành theo nhiều hướng khác nhau Dưới đây chúng tôi sẽtrình bày khái lược các hướng nghiên cứu chính
Trong khoảng thời gian từ 1994 – 1996, tại viện Khoa học giáo dục, tác
giả Vũ Thị Nho cùng một số nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Sự
thích ứng với hoạt động học tập của học sinh tiểu học” Các tác giả của đề tài
xem sự thích ứng với HĐHT là một dạng của thích ứng xã hội và bao gồm hai khía cạnh chính: thứ nhất là sự thích ứng với các mối quan hệ trong học tập mà chủ yếu là quan hệ giáo viên - học sinh; thứ hai là thích ứng với các yêu cầu của HĐHT Khảo sát nhóm khách thể gồm 420 học sinh tiểu học, các tác giả của đề
Trang 17tài đã rút ra một số đặc điểm của quá trình thích ứng học tập của học sinhtiểu học và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình này.
Năm 1996, nghiên cứu sinh Đỗ Mạnh Tôn đã bảo vệ thành công
luận án tiến sỹ với đề tài “Nghiên cứu sự thích ứng đối với học tập và rèn luyện của học viên các trường sỹ quan quân đội” Trong luận án của mình, sau khi phân tích những cơ sở lí luận của đề tài, tác giả cho rằng “thích ứng
với học tập và rèn luyện của học viên các trường sỹ quan quân đội là mộtphẩm chất phức hợp và cơ động của nhân cách học viên, biểu hiện ở quátrình người học tự tổ chức hoạt động học tập, rèn luyện của mình dưới sựđịnh hướng của người thầy và nhà trường nhằm phát triển các chức năngsinh lí, các phẩm chất tổng hợp của nhân cách, đạt tới sự phù hợp tối đa vớinhững điều kiện và học tập và rèn luyện ở trường sỹ quan”
Năm 1998, có luận án Thạc sĩ của tác giả Lê Thị Hương về "Nghiên
cứu sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Cao đẳng Sư phạm Thanh Hoá" Tác giả cho rằng "thích ứng với hoạt động
học tập của sinh viên là một quá trình người sinh viên tích cực chủ độnglàm quen, hoà nhập vào các điều kiện học tập mới khác về chất so với hoạtđộng học tập trong trường phổ thông trung học nhằm hình thành và pháttriển nhân cách của người cán bộ trong tương lai, thực hiện hiệu quả mụctiêu đào tạo của nhà trường và đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại"
Năm 2000, tại trường ĐHSP Hà Nội, tác giả Phan Quốc Lâm đã bảo vệ
thành công luận án tiến sỹ với đề tài “ Sự thích ứng với hoạt động học tập của
học sinh lớp 1” Bằng hai phương pháp chủ yếu là quan sát và điều tra viết, tác
giả của luận án tiến hành nghiên cứu thực trạng sự thích ứng với hoạt động học tập trên mẫu 168 học sinh lớp 1 và 117 giáo viên tiểu học Kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng 10% học sinh thích ứng ở mức tốt, 75% ở mức trung bình khá,
và có đến 15% học sinh cho đến cuối năm lớp 1 vẫn chưa thể thích ứng với
Trang 18hoạt động học tập Kết quả nghiên cứu của luận án cũng chỉ ra nhưng yếu
tố cơ bản ảnh hưởng đến sự thích ứng của hoạt động học tập của học sinhlớp 1, đó là hoàn cảnh gia đình, giới tính, trình độ phát triển trí tuệ của họcsinh, sự chuẩn bị về mặt tâm lý cho hoạt động học tập
1.1.2 Về hội chứng tự kỷ
1.1.1.1 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Leo Kanner – một nhà tâm thần học người Mỹ thuộc bệnh viện John
Hopkins trong một bài báo nhan đề “Autistic disturbances of affective contac” (Các rối loạn về tiếp xúc cảm xúc có tính tự kỷ, 1943) đã chỉ ra
trong giao tiếp của trẻ tự kỷ trẻ không nói hoặc cách nói rất kỳ dị, thích độcthoại trong thế giới tự kỷ, chỉ hiểu nghĩa đen của câu nói…
Trong công trình nghiên cứu của Bruno Bettleheim cho rằng trẻ bị tự
kỷ là do người mẹ bỏ mặc, vì người mẹ có học cao nên thiên về ứng xử lýtrí hơn là tình cảm, sống lạnh lùng, không yêu con Do cách sống thờ ơ đónên những đứa con phản ứng lại bằng cách không muốn gần mẹ, khôngmuốn ôm, hôn mẹ, không muốn nhìn vào mắt mẹ và không nói, đồng thờitrẻ cũng ứng xử như vậy với người khác
Nghiên cứu của Lorna Wing cũng chỉ ra rằng: trong sử dụng lời nói
của trẻ tự kỷ, trẻ hoặc câm lặng suốt đời, hoặc chắt chước tiếng kêu củaloài vật, tiếng lạ, hoặc lập câu, lập từ Ngữ điệu và việc làm chủ lời nói thì
kỳ dị, đơn điệu, máy móc, đổi giọng không đúng chỗ… Trẻ dường nhưkhông nghe, không hiểu, không trả lời người khác Trẻ chỉ nghe, hiểu trongtình huống trẻ muốn hoặc liên quan đến nhu cầu của trẻ
M.Mahler cho rằng tự kỷ là biểu hiện sự không bình thường xuất phát
từ mối quan hệ mẹ con Đứa trẻ mới sinh ra có mối quan hệ cộng sinh hòamình với người mẹ, đây là giai đoạn tự kỷ bình thường, sau đó đến giaiđoạn chia cách cá nhân hóa (nảy sinh tâm lý cá nhân) Có một số rối loạn
Trang 19trong quá trình này, một điều gì đó không ổn trong giai đoạn tách mẹ và cánhân hóa Cơ chế tự kỷ gắn với sự mất khía cạnh hoạt hóa, mất sự phân biệtvới cơ thể người mẹ, nên đứa trẻ không có sức sống, mất ham muốn về xã hội.Chức năng của trẻ tự kỷ mang ý nghĩa thái độ phòng vệ cơ bản của đứa trẻ,không thể xây dựng được cực định hướng đối với người mẹ Đứa trẻ dính chặtvào người lớn và dùng họ như một bộ phận để kéo dài cơ thể nó Đây là cáchđứa trẻ gạt ra quyền năng của người mẹ trong giai đoạn đầu tiên.
Trong nghiên cứu của Robert Rosine Le Eost nhắc nhở rằng trẻ tự kỷ
dạy cho chúng ta một điều gì đó mà ta cần nghe Thế giới của nó là thế giới
tự phá hoại mình, nó chối bỏ thế giới xung quanh và tất cả mọi người làmxuất hiện hiện thực đối với nó như là một đồ vật Trước gương nó cảm thấymột cái gì đó rất khủng khiếp Trẻ tự kỷ sống trong môi trường ngôn ngữnhưng không có lời nói của riêng nó, lời nói chỉ là sự kết nối máy móc, sựlập lại mà nó không thể hiểu Trẻ tự kỷ tách biệt với người khác, không cónhu cầu giao tiếp với người khác và luôn cảm thấy như mình bị nuốt chửngtrong ham muốn của mọi người
1.1.2.2 Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt nam tính đến thời điểm này đã có một số công trình nghiên cứutiêu biểu sau:
Nghiên cứu “Tìm hiểu một số yếu tố gia đình và hành vi của trẻ tự kỷ”
tại Khoa tâm thần Bệnh viện Nhi trung ương do bác sỹ Quách Thúy Minh
và các cộng sự thực hiện Nghiên cứu đã chỉ ra có 55.5% trẻ tăng giao tiếpbằng mắt, 64.1% giảm tăng động và 77.8% giảm xung động nếu được tiếnhành điều trị tâm vận động và có sự kết hợp của gia đình
Luận văn thạc sỹ: “Thái độ của cha mẹ đối với con có chứng tự kỷ”
của tác giả Nguyễn Thị Thanh Liên đã chỉ ra phần lớn cha mẹ của trẻ tự kỷ
có thái độ tiêu cực đối với trẻ Thái độ này xuất phát từ mặc cảm về
Trang 20khuyết tật của con mình Thái độ này được thể hiện rõ trên ba phương diện:nhận thức, tình cảm và hành vi Về phương diện nhận thức: đa số cha mẹ
có hiểu biết về bản chất của chứng tự kỷ không đầy đủ, một số người cònhiểu sai Về phương diện tình cảm: cha mẹ một mặt thương con, muốndành tình cảm cho con mặt khác lại thấy lo lắng, thiệt thòi, tuyệt vọng vềnhững gì mà họ phải gánh chịu Về phương diện hành vi: nhìn hình thứcbên ngoài khiến người ta dễ lầm tưởng cha mẹ có hành vi tích cực song vềbản chất đó là sự buông xuôi tiêu cực, thiếu khoa học trong việc trợ giúpcon chống lại chứng tự kỷ.(24)
Luận án tiến sĩ: “Nghiên cứu nhận thức của trẻ tự kỷ tại thành phố Hồ
Chí Minh” do tác giả Ngô Xuân Điệp chỉ ra thực trạng mức độ nhận thức
cũng như một số đặc điểm trong nhận thức của trẻ tự kỷ tại thành phố HồChí Minh Trong luận án tác giả đã tập hợp các nghiên cứu từ góc độ tâm lýhọc để chỉ ra các rối loạn tâm lý – nhân cách của trẻ tự kỷ trong đó đã chỉ
ra giao tiếp và quan hệ xã hội của trẻ tự kỷ Giao tiếp của trẻ tự kỷ có sựhạn chế trên bình diện quan hệ, trong việc hiểu lời nói và suy giảm tronggiao tiếp không lời và ngôn ngữ.(12)
Luận văn Thạc sĩ: “Giao tiếp giữa cha mẹ và trẻ mắc chứng tự kỷ
trong gia đình tại Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Mẫn Luận văn là kết
quả nghiên cứu giữa cha mẹ và trẻ mắc chứng tự kỉ trong gia đình tại HàNội Kết quả nghiên cứu của luận văn đã cung cấp cái nhìn sâu sắc tronglĩnh vực nghiên cứu và trị liệu cho những trẻ mắc chứng tự kỉ và giúp chocha mẹ có trẻ mắc chứng tự kỉ có cách giao tiếp phù hợp với trẻ
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Khái niệm “ thích ứng”
Thuật ngữ “thích ứng” gốc tiếng Latinh là “Adaptacia”, gốc tiếng Anh
là “Adaptation” Dịch sang tiếng Việt là “thích nghi” hay “thích ứng” Hai
từ này trong nhiều trường hợp được dùng như hai từ đồng nghĩa
Trang 21Từ điển Tiếng Việt của NXB Khoa học Xã hội năm 1994 định nghĩakhái niệm “thích nghi” là “có những biến đổi nhất định cho phù hợp vớihoàn cảnh, môi trường mới”; còn “thích ứng” là “những thay đổi cho phùhợp với các điều kiện, yêu cầu mới” [14; 451].
Từ điển TLH do Nguyễn Khắc Viện chủ biên (xuất bản 1994) đặt haikhái niệm này trong một mục Tác giả cho rằng: “Một sinh vật sống trongmột môi trường có nhiều biến động bằng cách thay đổi phản ứng của bảnthân, hoặc tìm cách thay đổi môi trường Bước đầu là điều chỉnh phản ứngsinh lý (thích nghi với điều kiện nhiệt độ, môi trường…) Sau này là thayđổi các ứng xử, đây là thích nghi tâm lý” [13,45]
Theo tác giả Е А Ермолаева, “thích ứng là quá trình thích nghi của
người mới lao động, với những đặc điểm và điều kiện lao động trong mộttập thể nhất định” Hay như trên đã nói, theo Д А Андрейева, “thích ứng”được hiểu như “một thích nghi đặc biệt của cá nhân vào những điều kiệnmới, là sự thâm nhập của cá nhân vào những điều kiện đó một cách khônggượng ép”
Quá trình thích ứng diễn ra theo 3 mức độ:
- Mức độ 1: Cá nhân hoà đồng với nhóm, tổ chức bằng cách điều chỉnh các nhu cầu, suy nghĩ, hành vi… của mình theo các chuẩn mực
- Mức độ 2: Cá nhân có những sáng kiến từng bước góp phần thayđổi chuẩn mực
- Mức độ 3: Là mức độ cao nhất và cũng là mục tiêu cuối cùng cầnđạt tới của quá trình thích ứng, đó là cá nhân làm thay đổi hệ thống chuẩnmực, xây dựng hệ thống chuẩn mực mới và có những biện pháp để duy trìchuẩn mực ấy
Như vậy, “thích ứng” và “thích nghi” tuy tương đồng về mặt ý nghĩa,nhưng vẫn có một số khác biệt cần phân biệt giữa chúng
Trang 221.2.2 Phân biệt “thích ứng” và “thích nghi”
Điều khác biệt căn bản giữa hai thuật ngữ này là:
“Thích nghi” được dùng trước hết và phổ biến trong sinh vật học.
Theo А Н Леонтьев, “Sự phát triển của con người không phải là quá trìnhthích nghi hiểu theo nghĩa của từ này” Charles Darwin là người đầu tiênđưa phạm trù “thích nghi” vào ngành sinh vật học để chỉ ra các quá trìnhbiến đổi về cấu trúc và chức năng của cơ thể trước sự thay đổi của môitrường Sự “thích nghi cảm giác” xảy ra khi cơ thể sinh vật chịu kích thíchtrong thời gian nhất định đến mức nó quen và không còn phản ứng với kíchthích ấy nữa Thích nghi là quá trình xảy ra ở mọi sinh vật sống
Còn “thích ứng” thể hiện tính tích cực, chủ động của cá thể trước
những biến đổi của môi trường xung quanh (cả môi trường tự nhên và xãhội) Với ý nghĩa đó, tâm lý học thường dùng thuật ngữ “thích ứng” đểtránh trùng lặp với thuật ngữ “thích nghi” của sinh học
Thông thường các nhà nghiên cứu phân biệt hai loại thích ứng tâm lý
cơ bản sau: “thích ứng tâm lý” và “thích ứng tâm lý xã hội”
1.2.3 Thích ứng tâm lý
Sự thích ứng tâm lý diễn ra ở cả người và động vật Đó là quá trình
cơ thể sinh vật xác lập được sự cân bằng với môi trường thường xuyên biếnđộng thông qua cơ chế phản xạ có điều kiện của hệ thần kinh não bộ Sựthích ứng này có được khi hệ thần kinh phát triển, cho phép có khả năngđáp ứng với những kích thích gián tiếp, đón trước, hoặc tái tạo gần kề
Như vậy, thích ứng tâm lý đã làm cho cơ thể sinh vật có thể tồn tại vàphát triển tốt hơn trong môi trường đầy biến động
1.2.4 Thích ứng tâm lý- xã hội
Theo Darwin, con người được xếp vào loài động vật bậc cao tiên tiến
nhất, có cách thức tổ chức cuộc sống đặc biệt: xã hội Xã hội ấy có
Trang 23những quy tắc, chuẩn mực đòi hỏi mỗi người phải tuân theo Vì vậy, để tồntại và phát triển trong xã hội, con người không những cần thích ứng với cácđiều kiện tự nhiên, mà còn phải điều chỉnh bản thân sao cho phù hợp trướcnhững yêu cầu của xã hội Quá trình thích ứng này đòi hỏi một sự chủđộng, tích cực hoạt động để lĩnh hội, tiếp thu các giá trị, chuẩn mực hoặclàm thay đổi môi trường theo hướng mong đợi Đó chính là sự thích ứngtâm lý- xã hội, hình thức thích ứng cao hơn hẳn về chất so với động vật, chỉ
có ở con người
Theo А Н Леонтьев, “thích nghi sinh học là quá trình thay đổi các
thuộc tính của loài và năng lực hành vi của cơ thể, còn cơ chế của sự thíchứng tâm lý- xã hội là quá trình lĩnh hội” Đây là quá trình mỗi cá thể ngườitái tạo lại những năng lực mà loài người đã hình thành trong lịch sử, khôngphải bằng cơ chế di truyền sinh học, mà bằng cơ chế “di truyền xã hội”.Những năng lực đó chính là những cấu tạo tâm lý mới mà các cơ chế sinhhọc (bẩm sinh và di truyền) của con người chỉ là những điều kiện bêntrong- tiền đề vật chất cần thiết, chứ không có ý nghĩa quyết định
Tác giả Nguyễn Khắc Viện cho rằng: “thích ứng tâm lý- xã hội” là
khả năng “một cá nhân tiếp cận các giá trị của một xã hội, hoà nhập đượcvào xã hội ấy” Nghĩa là sự thích nghi xã hội được đồng nhất với kết quảcủa quá trình xã hội hoá cá nhân Không thích nghi biểu hiện qua nhữnghành vi trái ngược với tập tục, sống “ngoài rìa”, có thể dẫn đến phạm pháp[13;65]
Tác giả Phan Quốc Lâm trên cơ sở tâm lý học hoạt động đã nghiên
cứu “Một số vấn đề tâm lý học về sự thích ứng”, đi đến tổng kết: “Trước sựtác động của môi trường mà sự thích ứng của nó được thực hiện thông quahoạt động và trong hoạt động tích cực Bằng hoạt động, con người cải biếnmôi trường sống, tạo ra sự cân bằng tích cực với môi trường xung quanh
Trang 24Mặt khác, chính trong quá trình hoạt động tích cực, con người lĩnh hội nộidung, phương thức hoạt động và quan hệ xã hội, đảm bảo cho nó tồn tại vàphát triển trong môi trường xã hội…Quá trình thích ứng của cá nhân trongmôi trường xã hội là quá trình lĩnh hội nền văn hoá mà loài người đã tíchluỹ được, đáp ứng những đòi hỏi của xã hội để tồn tại và phát triển trongmột cộng đồng xã hội nhất định với những quan hệ xã hội cụ thể của nó.Trong quá trình đó, cá nhân phát triển nhận thức, hình thành các tình cảm
và các ứng xử xã hội phù hợp” Và “dưới góc độ ý thức và tự ý thức thìthích ứng tâm lý chính là sự hình thành và biểu hiện của ý thức và tự ýthức, những cấu trúc tâm lý cho phép cá nhân chỉ đạo hành vi của mình mộtcách tự giác, tích cực, điều chỉnh những phẩm chất tâm lý của chính mìnhtheo tiêu chuẩn định trước, làm cho chúng phù hợp với những yêu cầu vànhững giá trị xã hội”
Sự thích ứng tâm lý- xã hội của con người là một quá trình bị quyđịnh bởi hai mặt: bên trong và bên ngoài Bên trong gồm các yếu tố: nhucầu, động cơ, thái độ, năng lực, kinh nghiệm…; bên ngoài là các yêu cầu,điều kiện của hoàn cảnh sống cụ thể, của xã hội nói chung
Kết quả của quá trình thích ứng tâm lý- xã hội của một cá nhân đượcxác định bởi hai tiêu chí: thứ nhất, đó là sự hình thành, phát triển và hoànthiện tâm lý, ý thức, nhân cách của bản thân; thứ hai, đó là thái độ, sự biểuhiện các cảm xúc, cách cư xử, hành động phù hợp với yêu cầu của hoàncảnh, các chuẩn mực và giá trị của nhóm, đảm bảo cho cá nhân thực hiệntốt vai trò xã hội của mình
Ở đề tài này, chúng tôi nghiên cứu “sự thích ứng của cha mẹ với hoàn cảnh có con tự kỷ ở cha mẹ Hà Nội” Theo cách hiểu của chúng tôi,
sự thích ứng biểu hiện ở các khía cạnh:
Trang 25- Chủ thể có tiến hành tìm hiểu những gì liên quan đến đứa con tự
kỷ, hoàn cảnh tự kỷ của mình không Và nếu có thì mức độ nhận thức nàythể hiện như thế nào ở các mặt
- Chủ thể nhận thức đầy đủ các đặc điểm điều kiện, hoàn cảnh củamình
- Có thái độ như thế nào, biểu hiện các tình cảm, cảm xúc… với điều kiện, hoàn cảnh đó
- Không chỉ nhận thức, thái độ, mà biểu hiện của sự thích ứng cònthể hiện ra ở chỗ: chủ thể hoạt động, đáp ứng những yêu cầu đòi hỏi củahoàn cảnh như thế nào?
1.2.5 Khái niệm Tự kỷ
1.2.5.1 Khái niệm “ Tự kỷ”
Cho đến nay, các nhà khoa học trên thế giới đã đưa ra khá nhiềuquan niệm về tự kỷ Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, dướiđây là một số quan niệm:
Theo Kanner 1943: “Tự kỷ là sự rút lui cực đoan của một số trẻ em
từ lúc mới bắt đầu cuộc sống, triệu chứng đặc biệt của bệnh là một sự hiếm thấy, đó là sự rối loạn từ cội rễ, là sự không có khả năng của những trẻ này trong công việc thiết lập các mối quan hệ bình thường với những người khác và hành động một cách bình thường với các tình huống từ lúc chúng bắt đầu cuộc sống”.
Theo Freud: “Tự kỷ là sự đầu tư vào đối tượng quay trở lại cái tôi, có
nghĩa là đã trở thành tự yêu, là sự ẩn náu của trẻ em trong thế giới bên trong huyễn tưởng và ảo ảnh để hỏi rằng cái tự trị ảo tưởng chỉ có thể được một thời gian, đối với chủ thể với điều kiện phải thêm vào đó sự chăm sóc của người mẹ”.
Theo DSM – IV: “Tự kỷ là sự phát triển không bình thường hay một
sự giảm sút rõ rệt, hoạt động bất thường đặc trưng trong ba lĩnh vực: quan
hệ xã hội, giao tiếp và tác phong thu hẹp định hình”.
Trang 26Theo ICD - 10: “Tính tự kỷ của trẻ em, một rối loạn lan tỏa sự phát
triển được xác định bởi một sự phát triển không bình thường và hay giảm sút biểu hiện trước 3 tuổi, và bởi một hoạt động bất thường đặc trưng trong ba lĩnh vực: tác động xã hội qua lại, giao tiếp và tác phong thu hẹp định hình”.
Trong luận văn này chúng tôi sử dụng định nghĩa tự kỷ theo DSM-IV
1.2.5.2 Phân biệt Hội chứng tự kỷ, hội chứng Rett, hội chứng tăng
động giảm tập trung, hội chứng
Asperger 1.2.5.2.1 Những điểm
khác nhau Với hội chứng tự kỷ:
Thường thấy ở những trẻ chập chững biết đi và một số triệu chứng hay đi cùng với nhau như:
1 tuổi vẫn chưa biết lấy tay chỉ
1 tuổi vẫn chưa biết bi bô, 16 tháng vẫn chưa biết nói từ đơn, 24 tháng vẫn chưa biết nói câu 2 chữ
Mất khả năng nói trong bất cứ khoảng tuổi nào
Không biết chơi các trò chơi xã hội, các trò chơi giả vờ
Không thích kết bạn và không thích chơi với các bạn
Có sở thích định hình, cứng nhắc: Vd chỉ thích 1 vài loại đồ chơi hoặc một
đồ vật nào đó có màu sắc nhất định Không chấp nhận sự thay đổi đột ngột.
Nhạy cảm quá mức với một số âm thanh, mùi vị như trơn láng, sần sùi, mềm, dòn…
Trang 27Hội chứng Asperger:
Thường được phát hiện từ 6 tuổi trở lên
Khó kết bạn, không thích chơi với bạn
Không hiểu những biểu cảm trên gương mặt người khác ( khôngphân biệt được buồn, vui trên gương mặt)
Khó giao tiếp bằng cử chỉ không lời như mắt, miệng…
Không hiểu được những suy nghĩ đơn giản của người khác, Vdkhông hiểu người khác có suy nghĩ giống mình hay không, có cảm giácgiống mình hay không
Có sở thích, sự say mê đặc biệt với một số điều nhỏ, như có thểthuộc lòng giờ giấc xe lửa
Vụng về chân tay, cử động lóng ngóng
Có sở thích cứng nhắc, không uyển chuyển về thói quen, thông lệ,đặc biệt không chấp nhận được sự thay đổi đột ngột
Nói năng máy móc, chẳng ai hiểu gì cả
Với hội chứng Rett:
Trẻ phát triển bình thường cho đến lúc 6 tháng tuổi, sau đó dừng lại
và ngày càng có dấu hiệu tồi tệ hơn
Cử động của đôi tay giảm dần
Trẻ ít có khả năng giao tiếp và liên hệ bằng mắt kém, về sau giao tiếp
có khả năng phát triển tốt hơn
Có cử chỉ dập khuôn như: cọ sát tay theo một kiểu nhất định, cử động
vò quần áo, mút tay, cắn vào ngón tay, cấu véo hoặc cắn vào mặt mình
Trẻ thường mắc phải chứng thở quá nhanh hoặc ngừng thở
Lên 2 tuổi bệnh động kinh bắt đầu xuất hiện, lớn lên cơn động kinh
sẽ giảm dần
Hội chứng tăng động / giảm tập trung ( ADHD)
Trang 28Không phải tất cả những trẻ có tăng động / giảm tập trung đều nhưnhau Hiệp hội tâm thần Hoa Kỳ đã xác định 3 dạng tăng động / giảm tậptrung như sau:
Thường không theo dõi các hướng dẫn và không làm hết các bài tập,bản nhạc hoặc các nhiệm vụ khác ở nơi làm việc
Thường khó tổ chức các nhiệm vụ và hành động Thường tránh né,không thích hoặc miễn cưỡng tham gia vào các hoạt động đòi hỏi phải duytrì nỗ lực trí tuệ
Thường quên những thứ quan trọng cho nhiệm vụ hoặc hoạt động(Ví dụ: đồ chơi, bài tập về nhà, bút chì, bút hay dụng cụ học tập)
Thường dễ bị lôi cuốn bởi những kích thích ngoài lề
Thường đãng trí trong những hoạt động hàng ngày
Quá hiếu động:
Thường hay cựa quậy tay chân hoặc cả người khi ngồi trên ghế Thường rời khỏi ghế trong phòng học hoặc trong những trường hợpcần ngồi ở chỗ cố định
Thường chạy nhảy quá mức trong những tình huống không nên làmthế.Thường khó khăn khi chơi hoặc khi tham gia một cách bình tĩnh vàocác hoạt động giải trí
Thường “Luôn tay luôn chân” hoặc thường hành động như thể
“Được gắn động cơ”
Trang 29Thường nói quá nhiều.
1.2.5.2.2 Những điểm giống nhau
Các hội chứng trên đều có những biểu hiện giống nhau như sau:
Chậm phát triển trí tuệ ở nhiều mức độ: nhẹ, trung bình, nặng, rất nặng
Có hành vi dập khuôn như: Cắn móng tay, vày vò quần áo, vỗ tayliên tục…
Có sở thích định hình
Không hoặc ít khi nhìn vào mắt người khác
Khả năng giao tiếp xã hội kém
Tóm lại, do một số điểm giống nhau trên mà cha mẹ thường haynhầm tưởng trẻ mang hội chứng tự kỷ với trẻ có hội chứng Asperger, tăngđộng/ giảm tập trung và hội chứng Rett
1.2.5.3 Nguyên nhân dẫn đến hội chứng tự kỷ
Trong nhiều năm qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khácnhau về nguyên nhân gây nên hội chứng tự kỷ Tuy nhiên, cho đến ngàyhôm nay thì vẫn chưa có nghiên cứu nào đưa ra được nguyên nhân gây nênhội chứng tự kỷ ở mức độ thuyết phục tuyệt đối Sau đây chúng tôi xin tómlược một số nhóm nguyên nhân chính vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu
1.2.5.3.1 Nhóm nguyên nhân sinh học
Nhóm nguyên nhân sinh học bao gồm những nguyên nhân cơ bản sau:
Di truyền: Nguyên nhân quan trọng, mang nhiều thông tin và có khả
năng nhất của chứng tự kỷ chính là di truyền học Có một vài cách cơ bản
Trang 30để xem xét vấn đề di truyền học trong hội chứng tự kỷ Trước hết là nhữngbất thường về gen Đó có thể bao gồm những bất thường được di truyền lạicho đứa con từ bố hoặc mẹ hay từ một người họ hàng xa hơn Đó cũng cóthể là một bất thường về gen nhưng không phải di truyền mà là một biếngen ngẫu nhiên Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng hội chứng tự kỷ dườngnhư không do một gen nào gây ra mà do một số gen kết hợp với nhau trongthành phần gen của một đứa trẻ nào đó Do không phải mọi đứa trẻ tronggia đình đều nhận được những gen giống nhau (trừ trường hợp sinh đôicùng trứng) nên không phải tất cả các anh chị em đều mắc hội chứng tự kỷ.
Một điều nữa chúng ta biết được về mặt di truyền học của chứng tự
kỷ đó là từ 10 đến 25% số anh chị em của trẻ mắc một số rối loạn phổ tự kỷgặp phải một khó khăn về mặt ngôn ngữ từ mức độ nhẹ đến mức độ nặng.Điều này có nghĩa là những đứa trẻ này có thể có một vài, nhưng khôngphải là toàn bộ những gen có liên quan đến chứng tự kỷ ở anh chị emchúng Một số anh chị em này cũng có thể gặp một vài khó khăn nhỏ vềmặt xã hội
Cũng cần suy nghĩ về những gen “nguy cơ” gây ra chứng tự kỷ bởi
vì ít nhất một vài trong số những gen này có thể không phải lúc nào cũnggây ra chứng tự kỷ mà chỉ khi chúng được kích thích bởi một chất xúc tácnào đó
Bằng chứng ấn tượng nhất chứng tỏ di truyền học đóng một vai tròquan trọng là trong nhiều trường hợp mắc chứng tự kỷ xuất phát từ những
gì chúng ta biết được về những cặp sinh đôi cùng trứng (những đứa trẻ này
có gen giống nhau) Trong số 90 – 95% trường hợp, nếu một đứa trẻ sinhđôi cùng trững bị mắc chứng tự kỷ thì đứa kia cũng bị mắc Đây là bằngchứng mạnh mẽ chứng minh nguyên nhân về mặt di truyền gây ra chứng tự
kỷ Tuy nhiên, còn khoảng 5 – 10% cặp sinh đôi cùng trứng nhưng chỉ còn
Trang 311 trẻ nằm trong nhóm phổ tự kỷ thì sao? Đây thực sự là một câu hỏi khó.Các nghiên cứu trên các cặp sinh đôi khác trứng cho các kết quả ngược lại,chỉ có 5 – 10% số cặp có cả hai trẻ mắc hội chứng tự kỷ.
Khi bắt đầu nghiên cứu mặt di truyền của chứng tự kỷ vào cuốinhững năm 60 của thế kỷ XX, có người đã tin rằng hẳn phải tồn tại một gen
tự kỷ Rốt cuộc thì đâu là lí do khiến các cặp sinh đôi giống hệt nhau (cùngtrứng) thường bị mắc chứng tự kỷ ở cả hai còn hầu hết các cặp sinh đôikhông giống hệt nhau (khác trứng) lại ít bị mắc chứng tự kỷ ở cả hai? Điềunày đưa đến giả định rằng dường như tồn tại một số gen tự kỷ bởi vì nó tồntại nhiều sự khác biệt trong cách thức chứng tự kỷ xuất hiện và trên thực tếchứng tự kỷ là một “hội chứng” Đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX,những nghiên cứu bắt đầu chuyển trọng tâm sang một nhận định rằngnhững gen này là những gen “dễ bị tổn thương” hay những gen “nguy cơ”như chúng ta đã trao đổi
Sự phát triển bất thường của não:
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng, hành tuỷ trên não của trẻ em mắc hộichứng tự kỷ bé hơn mức bình thường và coi đây là nguyên nhân dẫn đếnhội chứng tự kỷ Các nghiên cứu khác lại cho rằng tiểu não bé hơn mứcbình thường mới là nguyên nhân dẫn đến hội chứng tự kỷ Tuy nhiên, chưa
có bằng chứng khoa học nào đủ sức thuyết phục cho điều này
Tiêm vac – xin:
Một số nhà nghiên cứu cho rằng tiêm vac – xin là nguyên nhân dẫnđến trẻ mắc hội chứng tự kỷ Để nghiên cứu những giả thuyết này một cáchhợp lý chúng ta phải tìm được những trẻ đã tiêm vac – xin và so sánh chúngvới những trẻ cùng độ tuổi, giới tính nhưng không được tiêm vac – xin Sau
đó kiểm tra tỉ lệ trẻ mắc hội chứng tự kỷ ở hai nhóm này Ở Anh mới đây đãtiến hành một nghiên cứu so sánh những trẻ không được tiêm
Trang 32vac – xin và họ không hề nhận thấy sự khác biệt về tỉ lệ mắc chứng tự kỷ ởhai nhóm trẻ này, những nghiên cứu ở Mỹ cũng cho kết quả tương tự.
Tuổi của bố mẹ:
Một đầu mối khác về những nguyên nhân của chứng tự kỷ chính là ởnhững trẻ được sinh ra ở những bà mẹ lớn tuổi hơn thì nguy cơ mắc một rốiloạn về thần kinh ( không chỉ là chứng tự kỷ mà còn là sự chậm phát triểntrí tuệ…) cũng cao hơn Nói chung “lớn tuổi hơn” trong bối cảnh này cónghĩa là hơn 35 tuổi, và nguy cơ tăng dần trong khoảng 5 năm và rõ rệt nhất
ở khoảng 40 – 45 tuổi Một số nghiên cứu mới đây cho rằng tồn tại nhữngnguy cơ tương tự ở những ông bố lớn tuổi, thậm chí là sau khi đã xem xét
độ tuổi của các bà mẹ Nguy cơ này dường như có cao hơn chút ít đối vớinhững bà mẹ lớn tuổi sinh con đầu, đặc biệt khi đứa con đầu là con trai (bởi
vì hàu hết các rối loạn phát triển,không chỉ là chứng tự kỷ, xuất hiện ở các
bé trei nhiều hơn bé gái) Nhìn chung, nguy cơ được gắn với độ tuổi đượchiểu là có liên quan đến sự lão hoá của trứng trong buồng trứng của các bà
mẹ Tuy nhiên, nguyên nhân này cũng chưa đủ sức thuyết phục một cáchtuyệt đối
1.2.5.3.2 Nhóm nguyên nhân môi trường xã hội
Ngay từ năm 1943, trong khi mô tả về trẻ em mắc hôi chứng tự kỷ,
Kaner đã cho rằng tự kỷ có nguyên nhân từ sự chăm sóc, giáo dục của các bậc cha mẹ Asperger cũng cho rằng đó là nguyên nhân chính dẫn đến hội
chứng tự kỷ Tuy nhiên, không có một bằng chứng nào thuyết phục đủ đểchứng minh vấn đề này
Trên một số phương tiện thông tin đại chúng hiện nay hay nhắc đến
việc cho trẻ xem tivi quá sớm, quá nhiều là nguyên nhân dẫn đến hội chứng
tự kỷ Một quan điểm khác lại cho rằng, trẻ em sống ở thành phố ít tiếp xúcvới nhiều người xung quanh nên có những biểu hiện tự kỷ… và đó cũng là
Trang 33cách người ta dùng để giải thích vì sao mà số trẻ em ở thành phố mắc hộichứng tự kỷ nhiều hơn nông thôn Tuy nhiên đây chỉ là một giả thuyết thiếucăn cứ, chưa có một minh chứng cụ thể nào.
Việc nghiên cứu, tìm ra nguyên nhân xác thực của hội chứng tự kỷ làđiều cần thiết để việc chăm sóc, giáo dục trẻ tự kỷ đạt hiệu quả Đồng thờicũng giảm được sự hoang mang, mất niềm tin vào tương lai của trẻ tự kỷ ởcác bậc cha mẹ
1.2.6 Khái niệm “thích ứng với hoàn cảnh có con tự kỷ”
Thích ứng của cha mẹ trong hoàn cảnh có con tự kỷ là mức độ chấp nhận hoàn cảnh thể hiện qua các mặt tìm hiểu nhận thức vấn đề, có thái độ-
tình cảm với con tự kỷ và có hành vi phù hợp với con tự kỷ và với hoàn cảnh.
Sự thích ứng của cha mẹ với hoàn cảnh có con tự kỷ biểu lộ trên ba mặt nhận thức- thái độ, tình cảm- hành vi cụ thể như sau:
- Về mặt nhận thức: Sau khi phát hiện có con mắc chứng tự kỉ + Cha mẹ tiến hành tìm hiểu, nhận thức về triệu chứng của bệnh, + Căn nguyên của bệnh,
+ Các mức độ của bệnh,
+ Các liệu pháp can thiệp cho trẻ,
+ Những cơ sở chuyên chăm chữa và trợ giúp trẻ có rối nhiễu tự kỉtrên các kênh thông tin khác nhau cả trong và ngoài nước
- Về mặt xúc cảm- thái độ: Sau khi phát hiện con mắc chứng tự kỉ
+ Tình cảm của cha mẹ dành cho con như thế nào?
+ Thái độ chăm sóc con ra sao?
+ Cảm xúc khi nói về con với người khác như thế nào?
- Về mặt hành vi:
+ Thích ứng với cách thức giao tiếp của trẻ
+ Thích ứng với cách thức biểu hiện cảm xúc của trẻ
Trang 34+ Thích ứng với cách thức biểu hiện hành vi của đứa trẻ
+ Thích ứng với quá trình phát triển độ tuổi và phát triển bệnh của trẻ.
1.2.7 Đặc điểm tâm lý của cha mẹ có con mắc hội chứng tự kỷ
Trên trái đất, có một nơi được gọi là gia đình, là tổ ấm nếu ở đó cócha, có mẹ và có con Đứa con chính là một loại keo đặc biệt kết dính cácthành viên trong gia đình Sự ra đời của bất kì đứa trẻ nào cũng dẫn đến sựthay đổi cơ cấu, động cơ, chức năng, vai trò của gia đình và cả cuộc sốngcủa các thành viên trong gia đình đó Cha mẹ thường mơ ước và đặt nhiều
hi vọng vào thành viên mới này Đó là mơ ước về một đứa trẻ khoẻ mạnh,thông minh, xinh đẹp… nhưng không phải mơ ước nào cũng thành hiệnthực khi nhiều đứa trẻ sinh ra bị khuyết tật Không ai mong muốn điều đó
và họ không chuẩn bị cho mình tâm lý để đón nhận điều đó
Nếu như một số loại khuyết tật có thể dự báo trước (Down, khuyếttật vận động) thì hội chứng tự kỉ lại không thể chẩn đoán trước được Chính
vì thế một đứa trẻ khi được cơ sở chẩn đoán là mắc hội chứng tự kỷ thì cha
mẹ của chúng sẽ phải trải qua rất nhiều cung bậc tình cảm khác nhau Nhìnchung, phản ứng ban đầu của cha mẹ là sốc, không tin vào tình trạng củacon và phủ nhận sự thật đó Cú sốc và sự không tin này có thể song hànhcùng cảm giác xấu hổ, hối hận Họ tự trách mình hoặc trách vợ hoặc chồngtrong việc này Dần dần, họ có thể phủ nhận sự tồn tại của vấn đề, họ cốgắng tìm ra ai sẽ nói rằng con họ không sao cả Vì lí do này, một số cha mẹ
đã đến gặp hết bác sĩ này đến bác sĩ khác, từ bệnh viện này đến bệnh việnkhác để tìm ra người bác sĩ nói con họ không sao cả hoặc tìm ra bác sĩ cóthể “cứu” được con mình Họ sẵn sàng làm tất cả để có thể tìm ra một chút
hi vọng làm sao có thể cứu được con mình Cũng có những gia đình khôngtin vào những chẩn đoán của bác sĩ đối với con mình, một vài cha mẹ khác
Trang 35thì lại từ chối bất cứ sự hướng dẫn nào, một số cha mẹ khác lại có thể nghehướng dẫn từ họ hàng hoặc những người xung quanh.
Sau một thời gian sốc, không tin, phủ nhận khuyết tật của con mình,cha mẹ biết chấp nhận khuyết tật của con mình, họ cảm thấy bực tức, thịnh
nộ, phật ý, ghen tức và giận dữ Qua đó họ có thể chấp nhận vấn đề của trẻtheo lí trí nhưng về tình cảm thì họ lại rất bối rối, sự xúc động của họ có thểlên cao tới nỗi họ không chú tâm vào những lo lắng của mình nữa Họ cóthể tức giận với cả các nhà chuyên môn, những người đang cố gắng giúp họ
ở mức độ cao nhất Sự nghi ngờ về khả năng của các nhà chuyên môn cóthể làm nổ tung những lời buộc tội và sự giận dữ Các cha mẹ thì cố gắngđưa ra rằng các nhà chuyên môn đã sai lầm
Sau một thời gian cố gắng trì hoãn chấp nhận khuyết tật ở trẻ, họbuộc phải nhận ra rằng khuyết tật này là vĩnh viễn Họ buồn bã, chán nảnkhi thấy rằng những loại thuốc hay nhưng liệu pháp mà họ đang theo đuổimang lại rất ít hiệu quả Với một vài cha mẹ thì cảm giác vô vọng, đơn độc
có thể làm họ trở nên nghi ngờ sự giúp đỡ Họ có thể đau khổ hoặc mất mátnhư thể con họ không còn trên cõi đời này nữa Những đứa trẻ mà họ mongmuốn với tương lai như họ tưởng đã không được sinh ra mà thay vào đó làmột đứa trẻ khác với một tương lai khác mà họ không hề mong đợi Họ mệtmỏi và hoang mang khi phải giải quyết những tình huống thực tế
Các cha mẹ bắt đầu lo lắng về tương lai của trẻ xem liệu con mình cóthể sống độc lập được không? Có thể làm được việc gì không và có thể cómột vị trí nào đó trong xã hội không? Điều đó có nghĩa là họ đã nhận rarằng có thể làm việc gì đó cho đứa trẻ Đây không có nghĩa là tình trạngkhuyết tật được chấp nhận như không thể thay đổi được mà cha mẹ chấpnhận sự cần thiết phải học cách để sửa chữa những ảnh hưởng không tốt
Trang 36đến tình trạng của trẻ Họ phải có niềm tin chắc chắn là mỗi con người đều
có giá trị
Quá trình chấp nhận khuyết tật tự kỷ của một đứa con thường là rấtdài đối với hầu hết các bậc cha mẹ Điều này rất dễ hiểu xong chính nhữngtâm lý này đã làm cho gia đình trẻ khuyết tật có những đối xử sai lầm trongviệc chăm sóc, giáo dục trẻ, không giúp đỡ hoặc tận dụng khả năng để giúp
đỡ trẻ Vì vậy để công tác chăm sóc, giáo dục trẻ đạt hiệu quả tốt hơn, trướctiên chúng ta cần tìm ra những mức độ thích ứng và những khó khăn trongviệc thích ứng mà cha mẹ thường gặp phải khi con mắc chứng tự kỷ, từ đó
đề xuất các biện pháp hữu hiệu giúp cha mẹ giảm bớt khó khăn tâm lý,thích ứng tốt hơn với hoàn cảnh của mình
1.2.8 Vai trò của cha mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ tự kỷ
Trong lịch sử phát triển của xã hội, gia đình là tổ chức cơ sở đầu tiênđối với đời sống của mỗi cá nhân, là tế bào hợp thành đời sống xã hội Không
có gia đình để tái sản xuất ra bản thân con người, ra sức lao động thì xã hộikhông thể tồn tại và phát triển được Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng từkhi con người sinh ra đến lúc từ giã cõi đời đều gắn bó với gia đình
Cá nhân, gia đình và xã hội có mối quan hệ biện chứng, thống nhất,gắn bó chặt chẽ với nhau Gia đình là tế bào của xã hội, nhiều gia đìnhcộng lại thành xã hội, gia đình tốt xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đìnhcàng tốt hơn nữa Hạt nhân của xã hội là gia đình, muốn xây dựng xã hộitốt đẹp thì phải chú ý đến hạt nhân gia đình cho tốt
Với cách nhìn của khoa học hiện đại thì gia đình là một nhóm nhỏ xãhội, các thành viên trong nhóm có quan hệ gắn bó về hôn nhân hoặc huyếtthống, tâm sinh lý, cùng có chung các giá trị vật chất tinh thần ổn địnhtrong các thời điểm lịch sử nhất định Như vậy một mặt các thành viêntrong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm, quyền lợi, giữa họ có những
Trang 37điều ràng buộc về mặt pháp lý Mặt khác gia đình là một nhóm tâm lý –tình cảm xã hội đặc thù, nó được bắt nguồn từ quan hệ huyết thống ruột thịt
và quan hệ tình cảm, trách nhiệm cùng với những biến đổi của lịch sử cũngkhó đảo lộn những mối quan hệ này
Về chức năng của gia đình, các nhà khoa học đã đưa ra các quanđiểm rất phong phú Chẳng hạn theo giáo sư tiến sĩ triết học của NgaOxipop thì gia đình thực hiện các chức năng tái tạo, nối dõi nòi giống, giáodục con cái, tổ chức sinh hoạt trong thời gian rảnh rỗi Gia đình có chứcnăng sinh đẻ, tái sản xuất ra con người, chức năng kinh tế, chức năng thỏamãn các nhu cầu tâm lý tình cảm, chức năng giáo dục con cái, chức năngchăm sóc nuôi dưỡng người già Các chức năng trên được thực hiện đanxen vào nhau và đưa ra đồng thời thông qua cuộc sống sinh hoạt hàng ngày
Trong các chức năng của gia đình thì chức năng chăm sóc và giáodục con cái là chức năng quan trọng nhất, đó là chân lý đã được đúc kết củanhân loại Trong gia đình có nhiều thành viên thì cha mẹ là người quantrọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ nói chung vàphát huy tính tích cực, tự giác học tập của trẻ nói riêng Giáo dục gia đìnhlấy tình cảm làm cơ sở, lấy yêu thương làm phương tiện mới thành công.Sợi dây tình cảm thân thương trong gia đình sẽ là thứ keo gắn kết các thànhviên trong gia đình với nhau Nếu sợi dây đó bị đứt đoạn thì không còn giađình Chỉ có yêu thương đúng mực, biết chia sẻ, đồng cảm, hiểu biết vàthông cảm lẫn nhau mới giúp cha mẹ dạy con nên người Bầu không khígia đình luôn đầm ấm, vui tươi, thân mật là sức mạnh tình cảm chiến thắngmọi khó khăn
Với một người bình thường như chúng ta gia đình quan trọng là vậy.Với những trẻ có khiếm khuyết, đặc biệt là trẻ mắc hội chứng tự kỷ thì sựchăm sóc giáo dục của gia đình với các em càng có ý nghĩa gấp bội Các
Trang 38em là những đứa trẻ gặp khó khăn về giao tiếp, khả năng tưởng tượng vàtương tác xã hội Việc can thiệp giúp trẻ sớm hòa nhập đòi hỏi sự kiên trì,
nỗ lực của tất cả mọi người.Giáo viên và xã hội chỉ có thể hỗ trợ can thiệpgiúp đỡ các em theo giờ, còn gia đình thì luôn bên cạnh theo sát các em đếnhết cuộc đời Một người mẹ ân cần, một người cha hết mực yêu thương trẻ
sẽ không bao giờ từ bỏ trẻ Họ sẽ cố gắng hết sức trong việc chăm sóc, giáodục trẻ
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng lên quá trình thích ứng của cha mẹ với hoàn cảnh có con tự kỷ.
Thích ứng là một quá trình hai mặt, khi môi trường có sự tác độnglên chủ thể, đòi hỏi chủ thể thay đổi mình để thích ứng được với nhữngđiều kiện mới thì đồng thời chủ thể cũng gây những ảnh hưởng nhất địnhlên phái môi trường để đạt được mục đích Quá trình thích ứng đó chịu sựtác động của rất nhiều yếu tố, trong đó có cả những yếu tố chủ quan vànhững yếu tố khách quan
1.3.1 Các yếu tố khách quan
- Nền văn hóa, tín ngưỡng mà cha mẹ tin tưởng: Văn hóa là nhữngyếu tố ổn định, ăn sâu vào suy nghĩ, nhận thức của các cá nhân sinh hoạttrong cộng đồng đó Mỗi một văn hóa lại có những bản sắc riêng Mỗi cánhân tin tưởng vào một nét văn hóa, tín ngưỡng nào đó cũng có những ảnhhưởng không nhỏ lên nhận thức hành vi của họ Một cha mẹ tin vào đạoPhật sẽ có những cách ứng phó với hoàn cảnh khác với một cha mẹ tin vàođạo Thiên Chúa Giáo
- Mối quan hệ của các thành viên trong gia đình: Đó là mối quan hệgiữa các thế hệ với nhau trong Mức độ hòa thuận hay căng thẳng, đốikháng hay quan tâm lẫn nhau về nhận thức, quan điểm trong các vấn đề vớiđứa trẻ Điều đó cũng sẽ gây ảnh hưởng nhất định lên quá trình thích ứngcủa các bậc cha mẹ
Trang 39- Thời gian phát hiện bệnh của trẻ: Thời gian đứa trẻ được chẩn đoánmắc tự kỉ sớm hay muộn, nhanh hay chậm cũng có ảnh hưởng lên tâm lýcủa các bậc cha mẹ.
- Mức độ bệnh của đứa trẻ: Đứa trẻ được chẩn đoán mắc chứng tự kỉ
“điển hình” hay “không điển hình”, mức độ nặng hay nhẹ sẽ khiến cha mẹchúng có những nỗi lo, hoang mang, hy vọng, chờ đợi nhất định Từ đó sẽ
có tác động không nhỏ lên quá trình thích ứng của cha mẹ chúng Đây đượcxem là một trong các yếu tố quan trọng có ảnh hưởng lên tâm lý cha mẹ trẻ
- Giới tính của trẻ: Tâm lý người Việt vẫn chuộng con trai hơn congái, theo các số liệu đã thống kê thì tỉ lệ trẻ nam mắc tự kỉ nhiều hơn trẻ nữ.Khi sinh con họ luôn mong muốn mình sinh con trai, và nếu điều đó thànhhiện thực thì các bậc cha mẹ rất quý trọng và yêu thương con Nếu khôngmay đứa trẻ mắc bệnh gì đó thì là một sự đau đớn đối với họ Vì vậy yếu tốnày ảnh hưởng lên quá trình thích ứng của cha mẹ chúng khi con có khiếmkhuyết là không nhỏ
- Trình độ học vấn của cha mẹ: Trình độ học vấn của cha mẹ có ýnghĩa rất lớn đến quá trình thích ứng Học vấn sẽ tác động lên quá trìnhnhận thức của cha mẹ và quan điểm của họ về vấn đề tự kỉ Nhận thức đượcvấn đề đúng đắn sẽ góp phần dẫn dắt họ có những hành vi đúng Từ đó, quátrình thích ứng được nhanh hơn
1.3.2 Những yếu tố chủ quan ảnh hưởng lên quá trình thích ứng
ở cha mẹ
- Khả năng chịu áp lực: Trẻ mắc chứng tự kỉ sẽ phải sống chung vớicăn bệnh suốt cuộc đời Quá trình trị liệu, can thiệp thường mất nhiều thờigian, tiền bạc và căng thẳng Cần có sức chịu đựng, kiên nhẫn, chịu được
áp lực về tình trạng bệnh của con Đây là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ lênquá trình thích ứng chủa cha mẹ
Trang 40- Hy vọng, mong đợi của cha mẹ về đứa con: Đứa con đó là đứa conđầu lòng hay con thứ hai, thứ ba trong gia đình Vai trò, vị trí của đứa trẻtrong gia đình….Những đặc điểm đó sẽ ảnh hưởng đến quá trình thích ứngcủa cha mẹ khi chúng gặp vấn đề hoặc khiếm khuyết gì đó.
- Tình cảm của cha mẹ dành cho con từ khi sinh ra cho tới khi pháthiện bệnh: Mức độ gắn bó, yêu thương, chăm sóc, gần gũi của cha mẹ vớiđứa con kể từ khi chúng chào đời đến một ngày đứa trẻ tự dưng bộc lộnhững tình cảm, sự giao tiếp không như mong đợi Yếu tố đó cũng sẽ gâynhững ảnh hưởng nhất định lên quá trình thích ứng của cha mẹ chúng khiphát hiện con mình mắc một chứng bệnh giống như “một bản án tử hình”
Tiểu kết chương 1:
- Với ý nghĩa thiết thực, đề tài “Nghiên cứu sự thích ứng của cha mẹvới hoàn cảnh có con mắc chứng tự kỉ” đã đưa ra đề ra mục đích, nhiệm vụnghiên cứu về cả lý luận và thực tiễn nhằm góp phần vào các nghiên cứu vềvấn đề tự kỉ
- Giả thuyết nghiên cứu đề tài đưa ra cũng có nhiều khía cạnh và nhiều mức độ thích ứng khác nhau
- Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng kết hợp để nhằm làm
rõ các chiều hướng của giả thuyết khoa học mà đề tài đưa ra
- Đề tài cũng đã hệ thống hóa các khái niệm công cụ cơ bản về vấn
đề thích ứng, thích ứng với hoàn cảnh có con tự kỷ,…nhằm làm rõ các kháiniệm và hiểu thêm về đề tài “Nghiên cứu sự thích ứng của cha mẹ với hoàncảnh có con tự kỉ”
- Đề tài cũng đã đưa ra những yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng lên quá trình thích ứng của cha mẹ với hoàn cảnh có con mắc chứng tự kỉ.
Có thể nguồn tài liệu chúng tôi đề cập chưa được phong phú và đầy
đủ xong đây sẽ là những căn cứ tiền đề để chúng tôi tiến hành các bướcnghiên cứu tiếp theo