1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch tại địa đạo củ chi theo phương pháp KAP

114 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 472,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Văn Thanh nhận định về du lịch dựa vào cộngđồng là phương thức phát triển du lịch, trong đó cộng đồng dân cư là chủthể trực tiếp tham gia phát triển du lịch, bảo vệ tài nguyên môi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TẠ TƯỜNG VI

NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA

CỦA CỘNG ĐỒNG VÀO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI ĐỊA ĐẠO CỦ CHI THEO

PHƯƠNG PHÁP KAP

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Hà Nội, 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TẠ TƯỜNG VI

NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA

CỦA CỘNG ĐỒNG VÀO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI ĐỊA ĐẠO CỦ CHI THEO

Trang 3

MỤC LỤC

Danh mục từ viết tắt 3

Danh mục bảng biểu 4

Mở đầu 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 13

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài 14

5 Phương pháp nghiên cứu 14

6 Bố cục của luận văn 15

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KAP 16

1.1 Du lịch cộng đồng 16

1.1.1 Khái niệm 16

1.1.2 Nội dung của du lịch cộng đồng 20

1.1.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng 22

1.2 Phương pháp KAP 35

1.2.1 Khái niệm 35

1.2.2 Nội dung phương pháp KAP 36

Tiểu kết chương 1 40

Chương 2 THỰC TRẠNG NHẬN THỨC – THÁI ĐỘ VÀ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG VÀO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở CỦ CHI 41

2.1 Khái quát về khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi 41

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển địa đạo Củ Chi 41

2.1.2 Cơ cấu tổ chức nhân sự khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi 47

2.1.3 Doanh thu từ các hoạt động du lịch tại khu di tích năm 2012 49

2.2 Đặc điểm cư dân vùng ven khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi 50

2.3 Cơ cấu đáp viên 52

2.4 Hiểu biết của cộng đồng 55

2.4.1 Hiểu biết về du lịch cộng đồng 55

Trang 4

2.4.2 Hiểu biết về khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi 57

2.5 Thái độ của cộng đồng 60

2.6 Hoạt động của cộng đồng 64

Tiểu kết chương 2 66

Chương 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG VÀO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở CỦ CHI 67

3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 67

3.2 Các giải pháp nâng cao hiểu biết của cộng đồng 68

3.2.1 Tuyên truyền về giá trị của khu di tích 68

3.2.2 Đào tạo kỹ năng, nghiệp vụ du lịch 72

3.3 Các giải pháp nâng cao ý thức cho cộng đồng 75

3.3.1 Tăng cường giáo dục lòng yêu nước 75

3.3.2 Xây dựng và giám sát các quy định về văn hóa 77

3.4 Các giải pháp thu hút cộng đồng tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch 82

3.4.1 Vận động cộng đồng tham gia vào hoạt động du lịch 82

3.4.2 Khuyến khích và tạo điều kiện để cộng đồng tham gia vào hoạt động du lịch 85

3.4.3 Xúc tiến quảng bá du lịch Củ Chi

86 3.5 Kiến nghị 87

3.5.1 Một số kiến nghị với BQL khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi 87

3.5.2 Một số kiến nghị với chính quyền huyện Củ Chi 89

3.5.3 Đối với ngành du lịch 94

Tiểu kết chương 3 95

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 103

Trang 5

4

Trang 6

Sự hiểu biết, thái độ, hành động

Ủy ban nhân dân

United Nations International Children's Emergency Fund

Cơ quan Cứu trợ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc

World Tourism Organization

Tổ chức du lịch thế giới

Trung ương

Trang 7

Danh mục bảng biểu

Bảng 2.1: Lượng khách đến khu di tích địa đạo Củ Chi qua một số năm 46

Bảng 2.2: Cơ cấu nhân sự tại khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi 48

Bảng 2.3: Doanh thu của các bộ phận tại khu di tích năm 2012 49

Bảng 2.4: Trình độ học vấn của đáp viên 54

Danh mục hình Tiêu đề Trang Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức nhân sự khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi 47

Hình 2.2: Cơ cấu dân số ba xã (An Phú, An Nhơn Tây, Phú Mỹ Hưng) 50

Hình 2.3: Cơ cấu lao động ba xã (An Phú, An Nhơn Tây, Phú Mỹ Hưng) 51

Hình 2.4: Trình độ học vấn của dân cư ba xã (An Phú, An Nhơn Tây, Phú Mỹ Hưng) 52

Hình 2.5: Cơ cấu độ tuổi đáp viên tham gia phục vụ khách tại khu di tích 53

Hình 2.6: Tỷ lệ lao động nam, nữ tham gia phục vụ khách du lịch 53

Hình 2.7: Tỷ lệ đáp viên tham gia phục vụ khách đến tham quan di tích 55

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cũng như nhiều nước đang phát triển khác, Việt Nam rất quan tâmphát triển du lịch Chỉ trong vòng hơn 20 năm, ngành du lịch Việt Nam đã

có những bước tiến nhảy vọt Nếu như năm 1990 cả nước mới chỉ đón tiếp

và phục vụ có 250 ngàn khách quốc tế và 1 triệu khách nội địa thì đến năm

2012 đã tăng lên trên 6,848 triệu khách quốc tế và 23 triệu khách nội địa.Nhiều danh thắng, di tích đã mở cửa đón khách du lịch Du lịch được xácđịnh là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước trong đó du lịch cộng đồngđược xem như là một công cụ quan trọng trong việc tạo việc làm, tạo nguồnthu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng, góp phần tíchcực vào bảo vệ gìn giữa môi trường tư nhiên và giữ gìn các giá trị văn hóa.Mặt khác, phát triển du lịch cộng đồng sẽ góp phần tạo nên sự đa dạng cácloại hình và các sản phẩm du lịch thu hút du khách, đặc biệt là du kháchquốc tế vốn thích sự khám phá và trải nghiệm những yếu tố văn hóa bản địacủa cộng đồng dân cư

Tuy nhiên, cũng như nhiều ngành kinh tế khác, phát triển du lịchcũng đã bộc lộ những mặt trái của nó Tại Hội nghị Thượng đỉnh Rio deJanerio 1992, các nguyên thủ quốc gia đã nhất trí thông qua quan điểm pháttriển bền vững Trên cơ sở đó, Tổ chức Du lịch thế giới cũng đã đưa ra yêucầu phát triển du lịch bền vững, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò củacộng đồng Khái niệm du lịch dựa vào cộng đồng, du lịch cộng đồng ngàycàng được sử dụng rộng rãi Ở nhiều nơi, mức độ tham gia của cộng đồngvào hoạt động du lịch từ thụ động sang chủ động, tích cực Cộng đồng địaphương được hưởng lợi nhiều hơn từ hoạt động du lịch nên ngày càng cónhững đóng góp tích cực cho bảo vệ môi trường, gìn giữa và phát huy các

Trang 9

giá trị văn hóa truyền thống Từ thực tế trên, du lịch cộng đồng đã trở thànhmột cách tiếp cận phù hợp cho phát triển du lịch bền vững, đặc biệt ở nhữngnước đang phát triển.

Củ Chi là một vùng đất cách mạng Mọi người dân ở đây đều luôn tựhào về truyền thống đấu tranh anh dũng, quả cảm của các bậc cha anh Nóiđến Củ Chi, mọi người dân Việt Nam liên tưởng ngay đến “đất thép thànhđồng”, đến hệ một thống địa đạo đường hầm liên hoàn nối liền với các làng,các xã với chiều dài trên 200km âm sâu dưới lòng đất được xây dựng từ thờichống thực dân Pháp và phát triển từ những năm 60 của thế kỷ 20, trongthời kỳ chiến đấu chống Mỹ cứu nước Địa đạo Củ Chi đã đi vào lịch sử đấutranh anh hùng của nhân dân Việt Nam như một huyền thoại, một kỳ tích về

sự sáng tạo trong chiến đấu của quân và dân ở thế kỷ 20

Hiện nay, Địa đạo Củ Chi đã trở thành một khu du lịch hấp dẫn, thuhút hàng ngàn du khách trong nước và nước ngoài tham quan mỗi ngày Dukhách sẽ nhìn thấy hình ảnh của vùng ấp chiến lược, đồn bót của địch, vànhđai diệt Mỹ, vùng tranh chấp giữa ta và địch vào thời kỳ 1960 - 1964 củalàng quê Củ Chi; hình ảnh sinh hoạt của quân và dân Củ Chi vào nhữngnăm 1964-1965, cảnh xây dựng chiến hào, quân dân du kích triển khai trậnđánh, tập luyện quân sự, tải thương, bộ đội vượt sông, đoàn văn công biểudiễn văn nghệ tái hiện vùng giải phóng thời kỳ 1966-1973, quang cảnhtrên mặt đất đã bị hủy diệt hoang tàn, cuộc sống sinh hoạt của quân và dân

Củ Chi được chuyển xuống lòng đất

Hàng năm Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi đón tiếp hàng triệu dukhách đến tham quan Đặc biệt những dịp lễ tết, có ngày Củ Chi đón trên50.000 khách Để đáp ứng các nhu cầu tham quan du lịch của khách, rấtnhiều cư dân địa phương đã tham gia các hoạt động phục vụ khách du lịch

Trang 10

Tuy nhiên do trình độ nhận thức không đồng nhất nên việc phục vụ vẫn cònmột vài bất cập Để góp phần đề xuất những giải pháp hợp lí trong việc pháttriển du lịch cộng đồng một cách bền vững, rất cần nắm bắt được nhữngthông tin về hiểu biết, thái độ và hành động của cộng đồng trong quá trìnhphục vụ khách đến tham quan khu Di tích này Chính vì vậy, nghiên cứuphát triển du lịch cộng đồng ở Khu Di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi theophương pháp KAP là một việc làm cần thiết.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trên thế giới: Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến du

lịch cộng đồng của các tác giả: Douglas Hainsworth - Walter Jamieson,Steve Noakes & Sheena Day [8]; Honey M [26]; Harol Goodwin – RosaSantili [27]; S.Shing – D.J.Timothy and R.K Dowling [31]; Swarbrook J[32];…v.v Các tác giả đã đề cập đến các vấn đề về cộng đồng, du lịch cộngđồng, du lịch dựa vào cồng đồng, những tác động cũng như những thay đổiảnh hưởng đến cộng đồng và ảnh hưởng đến môi trường, các công cụ quản

lý giám sát du lịch cộng đồng, bảo tồn các nguồn tài nguyên, văn hóa vàthiên nhiên, tạo ra các phúc lợi kinh tế và những phúc lợi khác cho cộngđồng cư dân địa phương, xây dựng quyền sở hữu các nguồn tài nguyên theohướng bền vững

Thuật ngữ cộng đồng (community) là một khái niệm lý thuyết được

Liên hiệp quốc công nhận vào năm 1950 và khuyến khích các quốc gia sửdụng khái niệm này như một công cụ để thực hiện trong các chương trìnhviện trợ

Keith và Ary (1988) cho rằng: “Cộng đồng trước hết là một nhómngười, thường sinh sống trên cùng khu vực địa lý, tự xác định mình thuộc

về cùng một nhóm Những người trong cùng một cộng đồng thường có quan

Trang 11

hệ huyết thống hoặc hôn nhân và có thể thuộc cùng một tôn giáo, một tầnglớp chính trị” [23, tr.30,31].

Theo Schuwuk (1999): “Cộng đồng là một tập hợp các nhóm người

có chung địa bàn cư trú và có quyền sử dụng các tài nguyên ở địa phương”[23, tr.31]

Du lịch cộng đồng: Theo Qũy bảo tồn Thiên nhiên thế giới WWF:

“Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mà ở đó cộng đồng địa phương có

sự kiểm soát và tham gia chủ yếu vào sự phát triển và quan lý các hoạt động

du lịch và phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch được giữ lại chocộng đồng” [23, tr.34]

Theo quỹ phát triển Châu Á: “Du lịch cộng đồng là một loại hình dulịch do chính cộng đồng người dân phối hợp tổ chức, quản lý và làm chủ đểđem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ được môi trường chung thông qua việc giớithiệu với du khách các nét đặc trưng của địa phương” [15, tr.3]

Nhà nghiên cứu Nicole Hausle vàWollfgang Strasdas cho rằng : “Dulịch cộng đồng là một hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân điạ

phương đứng ra phát triển vàquản lý Lơị ich́ kinh tếcóđươc ̣ từ du licḥ se ̃đong ̣ laịnền kinh tếđiạ phương” [16, tr.44]

Theo Handbook (2000), nhận định “Du lịch cộng đồng là loại hình có

sự tham gia trực tiếp của cộng đồng địa phương nhằm phát triển kinh tế địaphương, đồng thời góp phần bảo tồn văn hóa, thiên nhiên bền vững, nângcao nhận thức và tăng cường quyền lực cho cộng đồng Cộng đồng đượcchia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch, nhận được sự hợp tác hỗ trợ của chínhquyền địa phương, của chính phủ và từ các hoạt động hỗ trợ quốc tế, nhằmmục đích khai thác các tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn tại địa

Trang 12

phương để giới thiệu tới khách du lịch” [23, tr.34] Theo nhận định này thìngười dân đóng vai trò chủ đạo để hình thành loại hình du lịch cộng đồng.

Vào năm 2002 Liên Hiệp Quốc công bố là năm du lịch sinh thái,nhiều sáng kiến được đưa ra, bản tuyên bố Quebec về du lịch đã nhấn mạnhnhiều phương thức mà du lịch có thể hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi chocộng đồng bản ngữ tham gia phát triển

Trong Báo cáo của Hội nghị Cấp cao về phát triển bền vững tạiJohannesburg năm 2002 đã nhấn mạnh đến du lịch Hội nghị kêu gọi thúcđẩy phát triển du lịch để tăng phúc lợi cho người dân ở các cộng đồng địaphương và thu hút cộng đồng tham gia vào du lịch trong khi vẫn tiếp tục cóthể giữ gìn bản sắc, di sản và môi trường

Việt Nam: Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Nhân về cộng đồng

cho rằng: “Cộng đồng là những cộng đồng được gọi tên như đơn vị làng,bản, xã, huyện,… những người chung về lý tưởng xã hội, lứa tuổi, giới tính,thân phận xã hội” Từ nhận định này thì cộng đồng có hai nghĩa:

- Là một nhóm dân cư cùng sinh sống trong cùng một địa phương nhất định, có cùng giá trị và tổ chức xã hội cơ bản

- Là một nhóm dân cư có cùng mối quan tâm” [23, tr.31]

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Thanh nhận định về du lịch dựa vào cộngđồng là phương thức phát triển du lịch, trong đó cộng đồng dân cư là chủthể trực tiếp tham gia phát triển du lịch, bảo vệ tài nguyên môi trường cả về

tự nhiên và nhân văn tại các điểm, khu du lịch và đồng thời được hưởngquyền lợi từ hoạt động du lịch mang lại [23, tr.34]

Ngoài ra còn nhiều đề tài khác nghiên cứu về du lịch cộng đồng như

đề tài: “Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng

Trang 13

tại Chùa Hương - Hà Tây” của tiến sĩ Võ Quế (Viện nghiên cứu và pháttriển du lịch); Đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình bảo vệ môi trường dulịch với sự tham gia của cộng đồng, góp phần phát triển du lịch bền vữngtrên đảo Cát Bà - Hải Phòng” của PGS.TS Phạm Trung Lương (Việnnghiên cứu và phát triển du lịch); Đề tài “Nghiên cứu, đề xuất xây dựng môhình du lịch cộng đồng tại Khu du lịch sinh thái Vân Long” của Thạc sĩNguyễn Văn Luyên (Sở văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình);…v.v.Các nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới mới chỉ đánh giá về tàinguyên du lịch, phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng, đề xuất cácgiải pháp phát triển mô hình du lịch dựa vào cộng đồng… nhằm mục đíchbảo tồn hệ sinh thái tự nhiên thông qua phát triển du lịch, xóa đói giảmnghèo ở các vùng nông thôn, vùng núi, khu bảo tồn, vườn quốc gia… màchưa đánh giá mức độ tham gia của cộng đồng dân cư địa phương vào cáchoạt động du lịch nơi có tài nguyên du lịch.

Phương pháp KAP: KAP (Knowledge, Attitude & Practice) là

phương pháp nghiên cứu, khảo sát về kiến thức, thái độ và hành vi của đốitượng nghiên cứu đối với một chủ đề nào đó [35]

Trên thế giới: Khảo sát KAP lần đầu tiên được thực hiện trong lĩnh

vực kế hoạch hóa gia đình và nghiên cứu dân số trong những năm 1950.Khảo sát KAP được thiết kế để đo mức độ thông tin về kiến thức, thái độ vàthực hành trong kế hoạch hóa gia đình được sử dụng cho các mục đích vềsức khỏe của cộng đồng trên thế giới Trong những năm 1960 và 1970, cáccuộc điều tra KAP bắt đầu được sử dụng nhiều trong lĩnh vực về sự hiểubiết, quan điểm và việc kế hoạch hoá gia đình ở châu Phi

Một trong những nghiên cứu KAP điển hình trong y tế về: Kiến thức,thái độ và hành động của phụ nữ và nam giới đối với việc “Làm mẹ an toàn

Trang 14

ở nông thôn” trong khuôn khổ của dự án DISH năm 2000 Đây là một dự ánhợp tác của Bộ Y tế Uganda và Hoa Kỳ Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ(USAID) Dự án được thực hiện trong 12 quận, huyện và thủ đô: Kampala,

Mbarara, Ntungamo, Masaka, Masindi, Luwero, Nakasongola, Sembabule,Jinja, Kamuli, Rakai và Kasese để đánh giá thái độ và thực hành của phụ nữ

và nam giới có liên quan đến việc chăm sóc trước sinh, an toàn trong khisinh, sau khi sinh của bà mẹ và các dịch vụ sức khỏe trẻ em được phổ biếnrộng rãi và cải thiện thái độ y tế công cộng, kiến thức và hành vi thông quacác chương trình đào tạo, giám sát lâm sàng, quản lý sức khỏe và đảm bảochất lượng, truyền thông thay đổi hành vi, hoạt động cộng đồng, nghiên cứuđánh giá cải thiện hoạt động làm mẹ an toàn ở Uganda bằng cách tập trungvào giảm tỷ lệ tử vong của bà mẹ trong khi sinh ở Uganda [28, tr5]

Nghiên cứu khác về KAP “Môi trường lành mạnh cho trẻ em Liênminh” của Bộ Y tế Mông Cổ, nhằm đưa các kết quả nghiên cứu các yếu tốchất lượng không khí trong nhà và mối quan hệ các triệu chứng về đường

hô hấp trong Ulaan Baatar, thủ đô của Mông Cổ, nơi mà tỉ lệ viêm phế quản

ở trẻ em ước tính là khoảng 20% [40] Dự án thực hiện và đánh giá các yếu

tố liên quan đến chất lượng không khí trong nhà, có khả năng được liên kết vớicác trường hợp viêm phế quản và rối loạn hô hấp khác ở trẻ em tại Mông Cổ.Xác định những thay đổi trong kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) trước vàsau khi can thiệp, thay đổi trong môi trường không khí trong nhà để giảm tỷ lệmắc các triệu chứng hô hấp, tổn thương và rối loạn tiêu hóa Kết quả từ dự án dựkiến sẽ được thông tin để cải thiện chất lượng không khí trong nhà, có thể ảnhhưởng đến sức khỏe của trẻ em trong các hộ gia đình trong Ulaan Baatar Đặcbiệt là thay đổi về kiến thức, thái độ và thực hành trong dân cư ở Ulaan Baatar

13

Trang 15

Việt Nam: UNICEF Việt Nam đã đề xuất Quỹ Ford về một chương

trình đa ngành gồm y tế, giáo dục, nước sạch và vệ sinh, bảo vệ trẻ em vàhòa nhập xã hội cho trẻ khuyết tật, bao gồm cả các nạn nhân chất độc màu

da cam tại Việt Nam Chương trình được bắt đầu thực hiện vào cuối năm

2008, dựa trên cơ sở những chương trình hiện tại của UNICEF và các mốiquan hệ đối tác sẵn có để đẩy mạnh các chính sách, khung pháp lý vàchương trình cho trẻ khuyết tật và gia đình của trẻ Chương trình nghiên cứuđược thực hiện tại Đà Nẵng, Đồng Nai và An Giang Đà Nẵng là nơi đầutiên được chọn trong ba tỉnh thành đề xuất cho dự án này Ước tính cókhoảng hơn 1 triệu trẻ khuyết tật ở Việt Nam Mục đích của nghiên cứu nàygồm ba phần: thứ nhất là tìm hiểu kiến thức, thái độ và hành vi của trẻkhuyết tật và gia đình trẻ; thứ hai là tìm hiểu quan niệm của cộng đồng đốivới trẻ khuyết tật và thứ ba là tìm hiểu vai trò của các ban ngành đoàn thểkhối chính phủ và phi chính phủ trong lĩnh vực này [1]

Bộ Lao động và Thương binh Xã hội cùng với UNICEF kết hợp năm

2011 nghiên cứu về Kiến thức, Thái độ, và Thực hành (KAP) về vấn đề hòanhập xã hội cho trẻ khuyết tật về hiện trạng trẻ khuyết tật tại các tỉnh AnGiang và Đồng Nai [19] Nghiên cứu định tính về kiến thức, thái độ, hành

vi KAP này nhằm mục đích cung cấp bằng chứng để xây dựng các hoạtđộng truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về vấ đề hòa nhập

xã hội cho trẻ khuyết tật ở tỉnh An Giang và Đồng Nai cũng như trên cả nước.Các mục tiêu chính của nghiên cứu này gồm: Phân tích tình hình chung về kiếnthức, thái độ và hành vi của cộng đồng đối với trẻ khuyết tật ở hai tỉnh Đồng Nai

và An Giang; Thực hiện phân tích về truyền thông ở hai tỉnh bao gồm: phân tíchcác yếu tố ảnh hưởng trong việc truyền thông, các kênh thông tin, thu thập vàđánh giá các tài liệu truyền thông sẵn có,

Trang 16

phân tích các yếu tổ ảnh hưởng thái độ và hành vi của mọi người đối với trẻkhuyết tật; Đưa ra các đề xuất để phát triển chiến lược truyền thông và các

hệ thống hỗ trợ xã hội đối với trẻ khuyết tật ở Việt Nam Ngoài ra còn nhiềucông trình nghiên cứu về KAP khác ở trong nước cũng như ở các quốc giakhác trên thế giới

Nhìn chung các nghiên cứu KAP trên thế giới và ở Việt Nam phầnlớn là nghiên cứu trong lĩnh vực y tế, sức khỏe của cộng đồng, chưa có cácnghiên cứu KAP về hiểu biết, thái độ và hành động của cộng đồng tham giacác hoạt động du lịch

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

Mục tiêu: luận văn góp phần thu hút cộng đồng dân cư Củ Chi, đặc

biệt là dân ở 3 xã giáp ranh Khu di tích địa đạo Củ Chi là An Nhơn Tây, AnPhú và Phú Mỹ Hưng tham gia vào hoạt động du lịch, nhằm nâng cao chấtlượng sống của cư dân địa phương Cụ thể là đề xuất một số giải pháp nhằmnâng cao hiểu biết, nhận thức và khả năng tham gia của cộng đồng vào cáchoạt động du lịch

Nhiệm vụ: Để đạt được mục tiêu trên, đề tài đặt ra những nhiệm vụ

sau

- Thu thập và tổng hợp tài liệu lý thuyết về các vấn đề liên quan như cáctài liệu, công trình nghiên cứu về du lịch cộng đồng, các tài liệu nghiên cứu vềphương pháp KAP

- Khảo sát, thu thập thông tin về cư dân ba xã liền kề khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi

- Khảo sát bảng hỏi về hiểu biết, thái độ và hành vi của cư dân tham gia các hoạt động phục vụ khách xung quanh Khu di tích

Trang 17

- Đánh giá sự hiểu biết, thái độ và hành vi của cư dân liên quan đến hoạt động phục vụ du khách đến tham quan di tích địa đạo Củ Chi.

- Đề xuất giải pháp nhằm thu hút hơn nữa cộng đồng tham gia vào hoạt động du lịch ở Củ Chi

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mức độ tham gia

của cộng đồng vào hoạt động du lịch tại khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi

Phạm vi: Vì thời gian eo hẹp và khả năng có hạn nên đề tài chỉ

nghiên cứu khảo sát về tình hình nhân khẩu của 3 xã ven Khu di tích lịch sửĐịa đạo Củ Chi: xã An Phú, xã Anh Nhơn Tây và xã Phú Mỹ Hưng vànhững người dân đang kinh doanh buôn bán, phục vụ khách đến tham quankhu di tích

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu, phân tích nguồn thông tin thứcấp từ các công trình nghiên cứu, giảng dạy, giáo trình, bài báo của các tác giảtrong và ngoài nước Những thông tin thực tế liên quan đến cộng đồng khu vựcnghiên cứu được thu thập thông qua từ UBND huyện Củ Chi,

UBND các xã nằm kề khu di tích

- Phương pháp phỏng vấn Để có được những nhận định khách quan, tác giả

đã sử dụng phương pháp phỏng vấn các nhà quản lý, chính quyền địa phương,cộng đồng dân cư và du khách tham quan khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi, một

số người dân và một số du khách

Trang 18

- Khảo sát thực địa được tiến hành tại Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi và các xã An Nhơn Tây, xã An Phú, xã Phú Mỹ Hưng.

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp KAP

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày theo bố cục gồm ba chương

Chương 1 Cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng và phương pháp KAP Chương 2 Thực trạng sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch ở

Củ Chi

Chương 3 Giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động

du lịch ở Củ Chi

Trang 19

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP KAP 1.1 Du lịch cộng đồng

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Cộng đồng

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học và Kỹ thuật,

2000, tr.601, cộng đồng được hiểu là “Một tập đoàn người rộng lớn, có những dấu hiệu chung về thành phần giai cấp, về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cư trú Cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm cả một dòng giống, một sắc tộc, một dân tộc” [23, tr.31].

Như vậy Cộng đồng được hiểu là một nhóm người cùng chung sốngtrên một địa bàn được gọi tên như bản, làng, xã, huyện, thị, thành phố, tỉnh,quốc gia và cùng chung những đặc điểm về kinh tế, truyền thống văn hóa

1.1.1.2 Du lịch cộng đồng

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế “Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mà người dân địa phương (thường là nông dân, người nghèo và những người bị thiệt thòi về kinh tế) mời du khách đến thăm cộng đồng của họ, bằng cách đó cung cấp cơ sở vật chất và các hoạt động du lịch cho du khách” [21, tr.14].

Du lịch cộng đồng được xem như là một loại hình và phương thứcphát triển du lịch mà trong đó có sự tham gia trực tiếp chủ yếu của cộngđồng địa phương vào các hoạt động du lịch, nhằm bảo tồn và khai thác bềnvững các nguồn tài nguyên du lịch, môi trường, cộng đồng được hưởng lợinhuận từ khách du lịch đem lại qua việc phục vụ khách du lịch và bán cácsản phẩm và dịch vụ du lịch

Trang 20

Các loại hình tiếp cận hoạt động du lịch: có nhiều hình thức du lịch

mang nét đặc trưng phù hợp với du lịch cộng đồng như: Du lịch hòa nhập;

Du lịch bền vững; Du lịch có trách nhiệm; Du lịch thương mại công bằng;

Du lịch sinh thái; Du lịch văn hóa; Du lịch làng; Du lịch bản địa; Du lịchnông nghiệp; Du lịch nghề thủ công mỹ nghệ

Du lịch hòa nhập khuyến khích các mối liên kết và tương tác giữa các

nhân tố trong ngành du lịch, quan hệ đối tác với các cơ sở tư nhân, kíchthích kinh tế địa phương, sự hòa nhập của phụ nữ, và sự tham gia của cộngđồng địa phương để hiểu rõ hơn nhu cầu và mong muốn của họ [21, tr.14]

Du lịch bền vững cam kết tăng cường sự thịnh vượng của địa phương

thông qua tối ưu hóa sự đóng góp của du lịch vào sự thịnh vượng kinh tếcủa điểm du lịch Du lịch bền vững cần tạo ra thu nhập và việc làm bềnvững cho người lao động mà không gây ảnh hưởng tới môi trường và vănhóa của điểm du lịch, đảm bảo tính khả thi và khả năng cạnh tranh của cácđiểm du lịch, các doanh nghiệp du lịch để họ có thể phát triển tốt và manglại lợi ích lâu dài [21, tr.14]

Du lịch có trách nhiệm giảm thiểu các tác động tiêu cực về kinh tế,

môi trường và xã hội; tạo ra nhiều lợi ích kinh tế cho người dân địa phương

và nâng cao phúc lợi cho cộng đồng địa phương, cải thiện điều kiện làmviệc và tiếp cận với ngành du lịch; sự tham gia của người dân địa phươngvào các quyết định ảnh hưởng tới cuộc sống của họ; đóng góp tích cực vàobảo tồn di sản tự nhiên vàvăn hóa, và bảo tồn đa dạng sinh học; cung cấpnhững trải nghiệm thú vị cho khách du lịch thông qua các mối liên hệ thực

sự với người dân địa phương, và sự hiểu biết hơn các vấn đề văn hóa, xã hội

và môi trường tại địa bàn; sự nhạy cảm về văn hóa, tạo nên sự tôn trọng

Trang 21

giữa khách du lịch và người dân sở tại, xây dựng lòng tự hào và niềm tincủa người dân địa phương [21, tr.14].

Du lịch vì người nghèo là loại hình du lịch làm gia tăng lợi ích cho

người nghèo Du lịch vì người nghèo không phải là một sản phẩm cụ thểhoặc một ngành biệt lập mà là cách tiếp cận tới công tác quản lý và pháttriển du lịch Nó thúc đẩy sự liên hệ giữa các doanh nghiệp du lịch vớingười nghèo, gia tăng những đóng góp của du lịch vào việc xóa đói giảmnghèo và người nghèo có thể tham gia một cách hiệu quả hơn trong việcphát triển sản phẩm du lịch [21, tr.14]

Du lịch thương mại công bằng nhằm đảm bảo rằng người dân có đất

đai, tài nguyên, sức lao động, kiến thức và văn hóa sử dụng cho các hoạtđộng du lịch được hưởng lợi thực sự từ các hoạt động đó [21, tr.14]

Du lịch sinh thái là sự kết hợp bảo tồn, cộng đồng và du lịch bền vững.

Điều này hàm ý đưa du lịch có trách nhiệm tới các địa bàn tự nhiên, bảo vệmôi trường và cải thiện phúc lợi cho cư dân địa phương [21, tr.14]

Du lịch văn hóa: du lịch văn hóa là một trong những thành phần quan

trọng nhất của du lịch dựa vào cộng đồng từ khi văn hóa, lịch sử, khảo cổhọc, là yếu tố thu hút khách chủ yếu của cộng đồng địa phương Ví dụ về dulịch dựa vào văn hóa bao gồm khám phá các di tích khảo cổ học, địa điểmtôn giáo nổi tiếng hay trải nghiệm cuộc sống địa phương tại một ngôi làngdân tộc thiểu số [15, tr.4]

Du lịch làng: Khách du lịch chia sẻ các hoạt động trong cuộc sống

thôn bản, và các làng nông thôn thu được lợi ích kinh tế từ các hoạt động dulịch Dân làng cung cấp các dịch vụ ăn ở, nhà trọ cho khách nghỉ ngơi quađêm Nhà trọ chính chính là các điểm kinh doanh du lịch, trong đó du khách

Trang 22

ở lại qua đêm trong những ngôi nhà làng, cùng với một gia đình Khách dulịch có thể chọn nhà nghỉ, các nhà nghỉ này được hoạt động bởi một hợp tác xã,làng, hoặc cá nhân, cung cấp cho du khách không gian riêng tư hơn, thoải máicho cả họ và đôi khi cũng là thoải mái hơn cho chủ nhà [15, tr.4].

Du lịch bản địa: Du lịch bản địa hay Dân tộc đề cập đến một loại

hình du lịch, nơi đồng bào dân tộc thiểu số hoặc người dân bản địa tham giatrực tiếp vào hoạt động du lịch, nền văn hóa vốn có của họ chính là yếu tốchính thu hút khách du lịch [15, tr.4]

Du lịch nông nghiệp: đây là một hình thức du lịch tại các khu vực

nông nghiệp như vườn cây ăn trái, trang trại nông lâm kết hợp, trang trạithảo dược và các trang trại động vật, đã được chuẩn bị phục vụ cho khách

du lịch Khách du lịch xem hoặc tham gia vào thực tiễn sản xuất nôngnghiệp như làm việc với dụng cụ của nhà nông hoặc thu hoạch mùa màkhông làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái hoặc năng suất của gia đình chủ nhà.Một sản phẩm mới đặc biệt là nghỉ ngơi ở các trang trại hữu cơ, nơi dukhách có thể tìm hiểu thêm về thiên nhiên và học tập các phương pháp canhtác không dùng thuốc trừ sâu [15, tr.4]

Du lịch nghề thủ công mỹ nghệ: Nghệ thuật và sản xuất thủ công mỹ

nghệ ở địa phương có một lịch sử lâu dài Nó không phải là một hình thứcđộc lập của du lịch, mà chính là một thành phần của các loại hình khác nhaucủa du lịch Du lịch không chỉ mang lại cơ hội kinh doanh tốt hơn chongành công nghiệp thủ công mỹ nghệ của khu vực, doanh số bán hàng củahàng thủ công mỹ nghệ cũng có thể giúp người dân địa phương để tìm hiểuthêm về di sản văn hóa nghệ thuật phong phú và độc đáo của họ [15, tr.4]

Như vậy, các hoạt động Du licḥ công ̣ đ ồng là phương thức trong đócông ̣ đồng dân cư địa phương tổchức cung cấp cá c dicḥ vu ̣phục vụ khách

Trang 23

du licḥ, đồng thời tham gia bảo t ồn tài nguyên và môi trường , đươc ̣ hưởng quyền lơị vềvâṭchất vàtinh thần từ việc tham gia các hoạt động du lịch.

1.1.2 Nội dung của du lịch cộng đồng

Tại hội thảo chia sẻ bài học kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồngViệt Nam năm 2003 được tổ chức tại Hà Nội Các chuyên gia trong nước vàngoài nước đã khái quát du lịch cộng đồng của Việt Nam như sau:

Du lịch cộng đồng đảm bảo văn hoá, thiên nhiên bền vững, cân bằngvới các chỉ tiêu kinh tế, văn hoá xã hội và môi trường, các nguồn tài nguyênthiên nhiên và văn hoá được khai thác hợp lý Du lịch cộng đồng chính làcách tốt nhất vừa làm du lịch vừa giữ gìn bản sắc văn hoá, sử dụng dịch vụtại chỗ, phát triển giá trị văn hoá, tôn trọng văn hoá địa phương Du lịchcộng đồng thúc đẩy nghề nghiệp truyền thống phát triển và giữ gìn bản sắcvăn hoá, cần có người dân địa phương tham gia để dân có ý thức trong việcbảo vệ tài nguyên môi trường, bản sắc văn hoá, vệ sinh cộng đồng Du lịchcộng đồng là những người quản lý di sản của dân tộc và có quyền tham giavào các hoạt động du lịch Thu nhập giữ lại cho cộng đồng và để bảo vệ môitrường và tái đầu tư cho du lịch của địa phương

Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mà cộng đồng dân cư là chủ thểtrực tiếp tham gia vào các hoạt động từ bảo tồn, quản lý đến khai thác giá trị

du lịch từ các nguồn tài nguyên du lịch và môi trường du lịch, giữ vai tròchủ đạo chính và duy trì các hoạt động kinh doanh du lịch như kinh doanhlưu trú, kinh doanh ăn uống, kinh doanh vận chuyển khách du lịch, kinhdoanh các dịch vụ, hàng hóa, vui chơi, giải trí, hướng dẫn, tư vấn các hoạtđộng kinh tế và xã hội liên quan đến du lịch và khách du lịch Cồng đồngdân cư phải là người dân làm ăn, sinh sống trong hoặc liền kề với các điểmtài nguyên du lịch, đồng thời cộng đồng dân cư phải có quyền lợi và trách

Trang 24

nhiệm khi tham gia khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch, ngăn ngừa cáctác động xấu từ các hoạt động kinh doanh du lịch và từ các hoạt động của

du khách

Du lịch cộng đồng còn bao gồm các yếu tố trợ giúp của cơ chế chínhsách, của các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các tổ chức, các cá nhân,các công ty lữ hành…nhằm phát huy lợi thế nguồn lực phát triển du lịch tạinơi có dân cư sinh sống cạnh những tài nguyên du lịch

Du lịch cộng đồng giúp người nghèo có thể đi du lịch và hưởng thụ cácsản phẩm du lịch, đồng thời là công cụ tham gia trong việc giảm nghèotrong cộng đồng, tạo việc làm cho cộng đồng địa phương, tạo điều kiện pháttriển kinh tế địa phương thông qua bán các sản phẩm dịch vụ du lịch, tạo rathị trường hàng hóa và dịch vụ địa phương, đóng góp để bảo tồn và pháttriển du lịch, nâng cao hình ảnh địa phương và của quốc gia

Tựu chung lại, DLCĐ bao gồm các nội dung cơ bản sau:

- Bảo tồn các nguồn tài nguyên, văn hóa và thiên nhiên

- Tạo ra các phúc lợi kinh tế và những phúc lợi khác cho cư dân địa phương

- Thúc đẩy và trao quyền cho các cộng đồng nhằm xây dựng quyền sở hữu các nguồn tài nguyên

- Đảm bảo chất lượng, thỏa mãn nhu cầu cho du khách

- Đảm bảo sự quản lý thống nhất theo hướng bền vững

Như vậy, DLCĐ là một mô hình phát triển du lịch, trong đó cộng đồngdân cư là những người trực tiếp cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho khách dulịch, cộng đồng dân cư cũng chính là người có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên

du lịch và họ được chia sẻ các lợi kinh tế do phát triển DLCĐ tạo ra Phát

Trang 25

triển DLCĐ sẽ tạo ra công ăn việc làm và tăng thêm thu nhập, nâng cao chấtlượng cuộc sống cho cộng đồng dân cư bản địa và góp phần phát triển kinh

tế xã hội của địa phương

1.1.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng

Du lịch dựa vào cộng đồng đã phát triển tại các nước châu Âu, châuPhi, châu Mỹ, châu Úc từ những năm 80 của thế kỷ XX, châu Á khái niệm

du lịch dựa vào cộng đồng mới được đề cập rộng rãi ở các nước ASEANthông qua hội thảo xây dựng khung cho phát triển du lịch dựa vào cộngđồng được tổ chức tại Indonesia vào năm 1995

Những năm gần đây, một số nước trong khu vực Đông Nam Á cóđiều kiện kinh tế - xã hội khá tương đồng với Việt Nam, nhưng với nhữngchính sách đầu tư, cơ chế quản lý thông thoáng cũng như các biện pháp pháttriển DLCĐ thích hợp đã góp phần đưa hoạt động DLCĐ nói riêng và ngành

du lịch nói chung phát triển đạt nhiều kết quả Đúc kết lại những kinhnghiệm cả trên góc độ vĩ mô cũng như vi mô về xây dựng và quản lý thựchiện mô hình DLCĐ của các nước lận cận thuộc khối ASEAN trên một sốvùng, miền cụ thể sẽ có giá trị tham khảo bổ ích cho nhiều vùng và nhiềuđiểm DLCĐ của Việt Nam nhất là vùng Đất thép thành đồng Củ Chi nơi màđón hàng triệu lượt khách đến thăm quan mỗi năm

Trang 26

UNWTO tiếp tục thúc đẩy phát triển du lịch Hội nghị các nhà lãnh đạo thế

giới tại hai hội nghị thượng đỉnh quan trọng, Hội nghị Liên hợp quốc về

Phát triển bền vững (Rio +20) và Hội nghị thượng đỉnh G20 ở Mexico,

đồng ý rằng du lịch là một ngành quan trọng và đóng góp nhiều nhất thế

giới và cấp bách nhất những thách thức, từ tăng trưởng kinh tế tới biến đổi

khí hậu Sự công nhận của du lịch như trụ cột của phát triển bền vững - kinh

tế, môi trường và xã hội, của quốc gia thành viên, của hàng ngàn cộng đồng

địa phương trên toàn thế giới [40]

Du lịch ngày càng được ghi nhận như là một nguồn lực cho phát triển

kinh tế. Chuỗi giá trị và mối quan hệ của du lịch với các ngành kinh tế như

nông nghiệp, xây dựng, dịch vụ công ích và giao thông vận tải… Trong năm

2010, ngành du lịch trên toàn cầu tạo ra hơn 235 triệu việc làm, tương đương

với khoảng 8% tổng số việc làm trực tiếp và gián tiếp, hoặc cứ 12,3 việc làm

thì có một việc làm từ du lịch Trong năm 2010, ngành lữ hành và du lịch đóng

góp khoảng 9,3% GDP toàn cầu, trong khi đó đầu tư du lịch ước tính đạt 9,2%

tổng đầu tư toàn cầu Du lịch là một trong những ngành kinh tế phát triển

nhanh nhất tại các quốc gia trên thế giới, nó tạo ra rất nhiều việc làm và là

nguồn phát triển quan trọng cho dù có những trở ngại, nhưng lượng khách du

lịch quốc tế vẫn tăng bình quân 4,3% năm từ 1995 – 2010 [21]

Theo điều tra nghiên cưu thị trường khách du lịch sinh thái cộng đồng

Trang 27

hay nghỉtaịcác cơ sởlưu trúquy m ô nhỏcủa người dân bản điạ mà ở

Indonesia; Malaysia và Thái Lan là một ví dụ

Ở Indonesia

Trong các nước khối ASEAN thì Indonisia là nước tiên phong thựchiện chương trình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng với mục đích là bảotồn thiên nhiên, bảo tồn nền văn hóa dân tộc bản địa, hỗ trợ cộng đồng pháttriển bền vững và tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia cung cấp các dịch

vụ, các sản phẩm du lịch tại các vùng, khu bảo tồn để thu hút khách du lịch

Năm 1995, Hội thảo đầu tiên về du lịch dựa vào cộng đồng được tổchức tại Bali Indonesia do Tổ chức nghiên cứu thiên nhiên thế giới khởixướng Hội thảo đã phổ biến kinh nghiệm phát triển du lịch dựa du lịch dựavào cộng đồng của các nước châu Âu và đưa ra kế hoạch xây dựng pháttriển du lịch có sự tham gia của cộng đồng tại các khu bảo tồn của khu vựccác nước Đông Nam Á Hội thảo lần thứ hai về du lịch dựa vào cộng đồng

do tổ chức NOVIB là thành viên của Tổ chức quốc tế Oxfam Đông Nam Á

tổ chức, hội thảo có sự tham gia của các Tổ chức phi chính phủ Philippine,Indonesia và Thái Lan Tại hội thảo này cũng đã đề cập đến phương phápxây dựng du lịch dựa vào cộng đồng là chia sẻ lợi ích cho cộng đồng tronglợi ích phát triển du lịch để nâng cao điều kiện sống của cộng đồng dân cư.Hội thảo cũng đề cao vai trò của chính phủ, chính quyền sở tại, các công ty

du lịch là những cơ quan góp phần vào thực hiện tốt chương trình Sau hộithảo, nhiều nước đã nhận được sự ủng hộ của các tổ chức quốc tế nên đã bắttay vào nghiên cứu xây dựng một số mô hình phát triển du lịch dựa vàocộng đồng như: Indonisia; Malaysia; Thái Lan

Trong chiến lược phát triển du lịh của Indonesia là tập trung pháttriển du lịch dựa vào cộng đồng Chính phủ hỗ trợ phát triển bằng việc cho

Trang 28

thuê đất với giá rẻ để cộng động làm du lịch, đồng thời hướng dẫn và đàotạo cộng đồng về nghiệp vụ du lịch Các sản phẩm chính được định hướng:

du lịch di sản, du lịch sinh thái, du lịch đánh golf, du lịch lặn biển, du lịchMICE Ở Indonesia, Vụ Thị trường của Cục Xúc tiến Indonesia có nhiệm

vụ theo dõi diễn biến thị trường, định hướng và tổ chức các hoạt động xúctiến quảng bà du lịch ở cấp quốc gia Từ việc theo dõi thị trường và đánh giátình hình, xu hướng phát triển kinh tế - xã hội và du lịch Ngân sách xúc tiếnquảng bá du lịch năm 2010 của Indonesia vào khoảng 40 triệu USD Đặcbiệt phát triển một số “hành lang du lịch” và 3 loại hình du lịch chính là dulịch sinh thái, du lịch nông thôn và du lịch biển Đối với du lịch nông thôn

sẽ triển khai trên 54 điểm, du lịch sinh thái là 50 điểm ở các vườn quốc gia

có sự tham gia của cộng đồng [45]

Như vậy, với chiến lược phát triển du lịh của Indonesia là tập trungphát triển du lịch dựa vào cộng đồng Chính phủ hỗ trợ phát triển bằng việccho thuê đất với giá rẻ để cộng động làm du lịch, phát triển ngành tiểu thủcông nghiêp ̣ thông qua các chương trinh§ phát triển kinh tế xã hôị 5 năm, khuyến khich́ viêc ̣ xây dưng ̣ các cơ sở sản xuất và các Trung tâm bán sảnphẩm làng nghềnông thôn đồng thời hướng dâñ phát triển công nghiêp ̣ nhỏgắn liền với truyền bá kiến thức về ngành nghề cho dân cư Các sản phẩmchính được định hướng vào 3 loại hình du lịch chính là du lịch sinh thái, dulịch nông thôn và du lịch biển có sự tham gia của cộng đồng Đây cũng làmột bài học kinh nghiệm trong phát triển DLCĐ mà Việt Nam nên thamkhảo khi phát riển loại hình du lịch cộng đồng

Ở Malaysia

Malaysia là một quốc gia đa dân tộc, với đa số là người Hoa, Ấn Độ

và người Mã Lai bản địa Sự pha trộn từ nhiều nền văn hóa khác nhau tạo

Trang 29

nên một bản sắc văn hóa rất riêng Với hơn 60% dân số theo đạo Hồi,những nét văn hóa đạo Hồi của Malaysia sẽ mang đến những trải niệm thú

vị cho khách du lịch trên những chuyến hành trình của mình Bên cạnh đó,Malaysia còn mang trong mình văn hóa ẩm thực đặc sắc, bởi đây là nơi giaothoa của nhiều nền ẩm thực hàng đầu trên thế giới

Malaysia là đất nước có ngành Du lịch phát triển mạnh Năm 2010,Malaysia đã đón được 24,6 triệu lượt khách du lịch quốc tế và thu nhập từ

du lịch đạt 17,93 tỷ USD, năm 2012 Malaysia đón 25 triệu lượt khách quốc

tế Mục tiêu phát triển du lịch của Malaysia đến năm 2020 trở thành nướcphát triển về du lịch hàng đầu trong khu vực và quốc tế Thông điệp chínhcủa ngành du lịch thể hiện mục tiêu và quan điểm phát triển trên: “Định vịMalaysia là điểm đến du lịch hàng đầu trong nhận thức thị trường và xâydựng ngành du lịch thành ngành có đóng góp chính trong phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước Hai hướng chính trong quan điểm phát triển là: bảo vệ,bảo tồn và giữ gìn môi trường, chú trọng tính cân bằng, tính bền vững vàtầm quan trọng của lợi ích cộng đồng” [45]

Theo thống kê của UNWTO trong vùng Châu Á Thái Bình Dương thìMalaysia là một quốc gia có ngành du lịch phát triển đứng thứ hai sauTrung Quốc về lượng khách quốc tế đến Hiện nay, trong các tour du kháchchọn điểm đến Malaysia chủ yếu là các tour dạng du lịch văn hóa dựa vàocộng đồng – Homestay Với loại hình này, du khách sẽ được ở và sinh hoạtchung nhà với người dân bản địa như là thành viên trong gia đình để khámphá phong cách sống của người dân nơi dây, trải nghiệm cuộc sống hằngngày để biết được tập tục của người dân nơi đó Homestay có tầm quantrọng đặc biệt đối với Malaysia, được xem là động lực cho phát triển nôngthôn ở Malaysia Bắt đầu được triển khai từ những năm 1980, đến nay loại

Trang 30

hình du lịch homestay đã phát triển rộng rãi ở 13 bang trên toàn quốc vớigần 3300 hộ dân từ 230 ngôi làng khắp cả nước Hàng năm đón hơn160.000 lượt du khách trong đó có 30.000 khách quốc tế đến chủ yếu từNhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Úc mang lại nguồn thu trên 16 triệu USDcho các hộ tham gia [40].

Bên cạnh đó, du lịch Malaysia liên tục đổi mới, đa dạng hóa, nângcấp các sản phẩm du lịch đạt đẳng cấp quốc tế với mức giá cạnh tranh Đểđạt được mục tiêu này, du lịch Malaysia liên tục tổ chức các chương trìnhquảng bá, xúc tiến du lịch, trong đó chú trọng khai thác ba nét nổi bật củađất nước Malaysia, từ đó thu hút du khách Đó là, chú trọng khai thác nhữngnét văn hóa đạo Hồi của đất nước, từ đó mang đến trải nghiệm thú vị cho dukhách Tiếp đến, Malaysia còn có văn hóa ẩm thực đặc sắc, bởi đây là nơigiao thoa của nhiều nền ẩm thực hàng đầu thế giới

Ở Thái Lan

Hội thảo Du lịch dựa vào cộng đồng năm 2002 tại Chiêng Mai - TháiLan, các nước tham dự đã thống nhất quan điểm về khái niệm phát triển dulịch dựa vào cộng đồng và cộng đồng tham gia phát triển du lịch đồng thờinêu lên phương thức về phát triển du lịch dựa vào cộng đồng Một trongnhững địa danh phát triển mạnh về du lịch cộng đồng phải kể đến là ChiêngMai

Chiêng Mai: Nằm ở vùng Đông Bắc Thái Lan là vùng miền núi, dân

cư thưa thớt và nghèo, nhưng vốn là cố đô cũ của Thái Lan nên có bề dàyphát triển về di sản văn hóa di tích và các làng nghề truyền thống nổi tiếnglâu đời của nhiều cộng đồng dân tộc Trước thực trạng làng nghề dần maimột, thu nhập dân cư địa phương rất thấp, du lịch chưa phát triển Năm

1999, theo sáng kiến của Cục Xúc tiến xuất khẩu thuộc Bộ Thương mại

Trang 31

Thái Lan phối hợp với Bộ Du lịch và Thể thao đã phát động phong trào mỗilàng một nghề hay còn gọi là phong trào OTOP (one Tambon-one product).Chương trình triển khai đầu tiên tại vùng Đông Bắc Thái Lan ở hai tỉnhChiêng Rai và Chiêng Mai nhưng tập trung chính tại Chiêng Mai Sau 5năm triển khai thực hiện có hơn 70 làng nghề được khôi phục và phát triểntrong đó có 19 làng nghề phát triển mạnh trở thành những điểm đến du lịchnổi tiếng thu hút du khách quốc tế đến tham quan mua sắm hàng lưu niệmthủ công mỹ nghệ theo loại hình du lịch cộng đồng ở Chiêng Mai có cáclàng: Baan Tawai, Baan Sri Pun-Krua, Baan Wua-Lai, Baan Muang Goong,Baan Roy Jaan, … Các chính sách được áp dụng tạo nên những thành côngđược tổ chức UNWTO ghi nhận và đúc kết đó là:

Chính quyền cấp tỉnh ngay từ đầu đã quan tâm hỗ trợ cho các làngnghề ở các khâu: hỗ trợ các nguồn vốn vay ưu đãi của Chính phủ, tổ chứchuấn luyện và chuyển giao công nghệ cho nông dân, phối hợp với các Bộngành trung ương hỗ trợ khâu tiếp thị, xúc tiến bán hàng

Tổ chức phát triển các trung tâm nghiên cứu và đào tạo nghệ nhântrên địa bàn mỗi tỉnh, kinh phí do tỉnh hỗ trợ

Khuyến khích khôi phục và bảo tồn các giá trị bản sắc văn hóa địaphương, lưu giữ và chuyển hóa các kết tinh vào từng sản phẩm và việc pháthuy tính sáng tạo của người thợ thủ công, các nghệ nhân để làm ra các sảnphẩm Sau khi chương trình OTOP được áp dụng, trong vòng 2 năm chươngtrình đã đem lại 3,66 tỷ Bath ước khoảng 84,2 triệu USD lợi nhuận chocộng đồng địa phương và thúc đẩy phát triển hoạt động du lịch cộng đồng ởcác vùng sâu của Thái Lan [42, TAT-Report 2005]

Chính phủ Thái Lan từ TW đến cấp tỉnh, có những chính sách khuyếnkhích các làng nghề sản xuất sản phẩm phục vụ du lịch chất lượng cao theo

Trang 32

bộ tiêu chuẩn được chính phủ công nhận trong đó phân chia chất lượng sảnphẩm ra làm 5 cấp, từ cấp 1 sao đến 5 sao Chính quyền đặc biệt hỗ trợ chocác sản phẩm đạt từ cấp 3 sao trở lên, cấp 5 sao được ưu tiên nhất, nhờ vậycác làng nghề luôn phấn đấu nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm nhậnđược sự hỗ trợ lớn từ chính phủ trong đó Làng Baan Tawai, thuộc huyệnHang Dong, tỉnh Chiêng Mai là làng OTOP năm 2004 đạt giải thưởng sảnphẩm cao cấp đầu tiên do Bộ Du lịch và Thể thao Thái Lan xét tặng [42,TAT-Report 2005].

Chính quyền các tỉnh còn khuyến khích việc tổ chức các hình thứcchợ đường phố, chợ đêm, nhằm tạo điều kiện cho các làng nghề đem đếngiới thiệu và bán các sản phẩm do mình làm ra cho du khách

Các sản phẩm mang nhãn OTOP được chính phủ Thái Lan ưu tiêntrưng bày trong các hội chợ thương mại quốc tế, được hưởng chính sáchmiễn thuế hoặc giảm thuế

Các doanh nghiệp du lịch hỗ trợ cho các trường đại học, các việnnghiên cứu trong việc nghiên cứu thiết kế sản phẩm, ứng dụng công nghệthông tin, nhằm cải tiến và nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch và xâydựng các trang thông tin của địa phương để quảng bá sản phẩm, giúp kháchhàng nước ngoài và du khách trong nước có thể đặt mua hàng qua mạng

Ngoài ra Chính quyền còn hỗ trợ cho các doanh nghiệp du lịch lữhành tổ chức thường xuyên các chuyến du lịch đến các làng nghề để dukhách nước ngoài có thể tận mắt thấy được sinh hoạt làng nghề, quy trìnhsản xuất các sản phẩm như thế nào, và có thể tham gia sản xuất ra các sảnphẩm ấy Ngoài việc tạo ra những sản phẩm độc đáo từ các làng nghề để thuhút du khách, các doanh nghiệp du lịch Thái Lan và các địa phương còn biếtcách thu hút và giữ chân du khách bằng cung cách phục vụ rất khéo léo

Trang 33

của những nhân viên du lịch chuyên nghiệp, đến những người dân địaphương thân thiện, niềm nở với du khách.

Các chương trình này được đúc kết và nhân rộng cho hơn 60 bản làngvăn hoá khác và đã mang lại nhiều kết quả to lớn và thiết thực Thông quacác chương trình du lịch cộng đồng, nhiều làng mạc hẻo lánh vùng nôngthôn Đông Bắc ngày nay trở thành những điểm đến du lịch hấp dẫn, dân cưtrong vùng nhận thức được DLCĐ đã tạo thêm thu nhập cho họ, thông quađào tạo nghề thủ công truyền thống, huấn luyện người dân địa phương biết

sử dụng kiến thức vốn có của mình về phương pháp canh tác nông nghiệptruyền thống để tự nuôi mình và giới thiệu cho khách du lịch về hoạt độngcủa nông nghiệp, sản xuất những sản phẩm truyền thống trong đời sống sinhhoạt của họ… Bên cạnh đó, chính phủ Thái Lan kêu gọi các khu làng mạc ởvùng nông thôn hãy giữ nguyên vẻ đẹp nguyên sơ của mình, bảo vệ cây cối

và giảm tiếng ồn, gìn giữ phong cách kiến trúc Thái Lan

Thái Lan là một thành viên trong khối Asean có những điều kiện kinh

tế xã hội khá tương đồng với Việt Nam đặc biệt là vùng Đông Bắc gồm haitỉnh Chiêng Rai, Chiêng Mai nơi có tài nguyên phong phú đa dạng, về trình

độ quản lý, các tập quán văn hóa truyền thống, các làng nghề hiện có và cácđiều kiện dân sinh, kinh tế rất tương tự với Việt Nam Đặc biệt Thái Lan làquốc gia được quốc tế đánh giá cao vì có những bước đi hợp lý và hiệu quảtrong việc khai thác phát triển các hoạt động du lịch và DLCĐ ở nhữngvùng chậm phát triển Do đó những đúc kết quý báu về cách phát triểnDLCĐ của Thái Lan sau đây cũng nên tham khảo là:

Thứ nhất, khi phát triển du lịch cộng đồng cần quan tâm đến mục tiêu

khôi phục các làng nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống đã có sẵn, để cácsản phẩm của các làng nghề không bị trùng nắp, mỗi làng nên có một sản

Trang 34

phẩm đặc trưng riêng; Thứ hai, cần có chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi cho các làng nghề để phục hồi sản xuất các sản phẩm; Thứ ba, đầu tư các trung

tâm nghiên cứu và đào tạo nghệ nhân trên địa bàn mỗi tỉnh có làng nghề;

Thứ tư, tổ chức huấn luyện và chuyển giao công nghệ cho nông dân; Thứ năm, hỗ trợ quảng bá sản phẩm của các làng nghề; Thứ sáu, giảm thuế cho các sản phẩm tại các làng nghề phục vụ khách du lịch cộng đồng; Thứ bảy,

hỗ trợ doanh nghiệp du lịch lữ hành thường xuyên tổ chức đưa du khách đếncác làng nghề tham quan, mua sắm

Nhìn chung về mô hình phát triển du lịch có sự tham gia của cộngđồng ở một số nước Các mô hình đều có sự hỗ trợ của nhiều bên tham gia,

có nhiều hình thức hỗ trợ khác nhau như tài chính, kinh nghiệm góp phầnnâng cao nhận thức, năng lực thực hành cho cộng đồng Mỗi một mô hìnhđều có địa điểm nằm trong hoặc liền kề các khu bảo tồn hay vườn quốc gianơi các dân dân cư sinh sống, cộng đồng dân cư có trình độ dân trí thấp.Hình thức tham gia của cộng đồng là cung cấp các sản phẩm cho khách dulịch như lương thực thực phẩm, các sản phẩm hàng hóa thủ công - thổ cẩm,tham gia vào các dịch vụ kinh doanh lưu trú, nhà hàng, hướng dẫn viên, vậnchuyển đã đạt được kết quả:

Về mặt văn hóa - xã hội: tăng cường huy động nguồn lực xã hội đặcbiệt là cộng đồng địa phương, người dân bản địa đối với việc bảo vệ tàinguyên thiên nhiên, góp phần phát triển xã hội bền vững Khơi dậy đượcniềm tự hào của người dân trong giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt làthế hệ trẻ thấy được vai trò, trách nhiệm của mình đối với việc gìn giữ giátrị lịch sử, văn hóa Nâng cao trình độ kiến thức văn hóa cộng đồng dân cưlàng bản đồng thời tạo ra nhận thức vai trò của các các thành viên cộngđồng trong các hoạt động du lịch

Trang 35

Về tài nguyên và môi trường: Phát triển du lịch dựa vào cộng đồnggóp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cộng đồng đối với bảo vệ,bảo tồn các giá trị tài nguyên thiên nhiên và văn hoá bản địa, nâng cao được

ý thức trách nhiệm đối với môi trường du lịch và các hiện tượng gây ônhiễm, ảnh hưởng xấu đến môi trường

Về mặt kinh tế: Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng là giải quyếtđược công ăn việc làm nâng cao đời sống mọi thành viên tham gia và gópphần vào giảm nghèo tại địa phương

1.1.3.2 Ở Việt Nam

Việt Nam là một nước nông nghiệp với 70% dân số sống ở nông thôn

và chủ yếu làm nghề nông – lâm – ngư – nghiệp Cộng đồng dân cư chủ yếusống ở làng và làm việc trên những cánh đồng, chân đồi, ven sông…Có thểnói, nơi sinh sống của cộng đồng dân cư ở rất giàu tài nguyên du lịch khôngchỉ về tự nhiên mà cả về nhân văn, nhưng phần lớn người dân ở đây vẫnnằm trong diện nghèo và ít việc làm Trong những năm qua, cùng với chủtrương xoá đói, giảm nghèo của Đảng và Chính phủ, ngành du lịch tập trungnghiên cứu và tổ chức thực hiện các loại hình du lịch cho cộng đồng ở nôngthôn Đó là các loại hình du lịch sinh thái, du lịch làng nghề, du lịch làngcổ v.v Nhiều điểm đến du lịch được hình thành đã góp phần không nhỏvào sự phát triển du lịch của đất nước trong những năm qua Nhiều điểmđến du lịch đã nổi tiếng đối với khách du lịch trong nước và nước ngoài.Điển hình là mô hình du lịch cộng đồng ở Bản Lác - Mai Châu Hòa Bình làmột trong 10 điểm đến hấp dẫn nhất thế giới [37] hay ở Sa Pa một trongnhững địa phương phát triển mạnh về du lịch cộng đồng, một điểm đến yêuthích của nhiều du khách trong và ngoài nước với các bản làng như: CátCát, Sín Chảy, Lao Chải, Tả Van… năm 2012 đã thu hút 610.000 lượt

Trang 36

khách Sự phát triển du lịch cộng đồng ở Sa Pa đã góp phần nâng cao đờisống của đồng bào các dân tộc làng bản, cộng đồng tham gia vào hoạt độngdịch vụ du lịch như: dệt thổ cẩm, hướng dẫn khách và biểu diễn văn nghệ…

Có thể nói, những địa điểm này khi phát triển du lịch cộng đồng đã giảiquyết rất nhiều vấn đề về kinh tế và xã hội như: tạo ra nhiều việc làm chongười lao động, tạo ra thu nhập cho người dân, khôi phục các nghề thủ côngtruyền thống làm ra các sản phẩm lưu niệm bán cho khách Phát triển chănnuôi gia súc, gia cầm, thuỷ, hải sản, tăng mật độ trồng trọt chuyên canh đểtạo ra nhiều nông sản gạo, rau, củ, quả, hoa phục vụ đời sồng và phát triển

du lịch Tuy nhiên, những mô hình phát triển du lịch cộng đồng đạt hiệu quảnhư trên chưa nhiều và còn nhiều khó khăn và trở ngại Khó khăn đầu tiêncủa việc phát triển du lịch cộng đồng ở nông thôn đồng bằng, miền núi vàvùng biển đó là cơ sở hạ tầng kỹ thuật: đường xá, điện, nước sinh hoạt,thông tin liên lạc… Đây là khó khăn chung của đất nước, đặc biệt ở vùngnông thôn và vùng sâu, vùng xa Một trong những điều kiện quyết định đểphát triển du lịch và khai thác các tài nguyên du lịch đó là cơ sở hạ tầng kỹthuật mà đầu tiên là hệ thống giao thông vận chuyển khách du lịch Pháttriển du lịch cộng đồng tại làng gặp khó khăn về quy hoạch phát triển Đểđón khách du lịch cần phải có nơi đón tiếp, nơi đỗ xe, nơi nghỉ trọ, nơi ăn,uống, nơi tham quan, nơi mua sắm hàng lưu niệm, nơi vệ sinh v.v Để đảmbảo những điều kiện trên, cần có quy hoạch nơi giãn dân, nơi sản xuất vànuôi trồng, cây, con phục vụ cho sự phát triển du lịch Thực tế đã chứngminh, chúng ta phát triển du lịch cộng đồng một cách tự phát, chưa có chiếnlược và quy hoạch phát triển cụ thể Nhiều làng, bản phát triển du lịch chưa

có quy hoạch nên còn nhiều khó khăn, vướng mắc Ví dụ: để gìn giữ nhữngngôi nhà cổ làm điểm tham quan cho khách cần phải có đất để giãn dân, cần

có các khu dịch vụ phục vụ khách du lịch Quy hoạch đất không chỉ cho cơ

Trang 37

sở dịch vụ mà cả các khu vệ sinh cho khách Vì không có quy hoạch chi tiếtnên các làng phát triển du lịch thường bị ô nhiễm môi trường tự nhiên,khách du lịch cảm thấy mất vệ sinh Nhận thức của chính quyền các cấp vàcộng đồng về vấn đề này vẫn còn hạn chế, điều này đòi hỏi các chuyên gia

về du lịch phải tư vấn thông qua các hình thức khác nhau phù hợp với điềukiện và hoàn cảnh thực tế của địa phương và cộng đồng để có những giảipháp mang tính chiến lược lâu dài

Một vấn đề khác cần được quan tâm là đào tạo và bồi dưỡng nguồnnhân lực phục vụ du lịch tại cộng đồng Đây là một vấn đề lớn phải đượcxuất phát từ yêu cầu cụ thể Ví dụ, người hướng dẫn khách đến tham quanphải có kiến thức về lịch sử, văn hoá và đặc tính địa phương, con người tạiđiểm đến, phải biết ngoại ngữ của đối tượng khách đến tham quan, phải có

kỹ năng giao tiếp cơ bản theo phong tục, tập quán và đặc điểm tâm lý xã hộicủa khách v.v Điều quan trọng người phục vụ phải có kỹ năng giao tiếp,phải an toàn vệ sinh thực phẩm, còn cách phục vụ sẽ được hướng dẫn cụ thểtrong từng cơ sở Thực tế, vấn đề bồi dưỡng nhằm nâng cao nhận thức củacộng đồng trong việc phát triển du lịch tại địa phương chưa được triển khaiđồng bộ và cụ thể

Theo Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch thì du lịch cộng đồng đãđem lại nhiều lợi ích kinh tế thiết thực cho dân cư địa phương, du khách vàcác công ty lữ hành Chính vì vậy, một trong những quan điểm và mục tiêuquan trọng của dự thảo chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm

2020 tầm nhìn 2030 là ưu tiên phát triển du lịch cộng đồng – đẩy mạnh loạihình du lịch có trách nhiệm Hơn nữa, Việt Nam được biết đến là quốc gia

đa sắc tộc với nhiều phong tục tập quán với nền văn hóa giàu bản sắc là cơ

sở và nền tảng cho phát triển du lịch cộng đồng tại Việt Nam

Trang 38

Nhận định của Tiến sĩ Hà Văn Siêu – Viện trưởng Viện Nghiên cứuPhát triển Du lịch cho rằng: Phát triển du lịch cộng đồng rất phù hợp vớiđặc thù văn hóa của nước ta, nó không chỉ góp phần bảo tồn nền văn hóabản địa còn mang đến lợi ích thiết thực cho kinh tế đất nước nói chung và

cư dân bản địa nói riêng Vì thế, những năm qua mô hình phát triển du lịchcộng đồng đã được triển khai ở nhiều địa phương, cụ thể là đi tham quancác làng nghề cổ ở Huế hay hòa mình vào núi rừng thiên nhiên vùng TâyBắc cho đến du lịch nông nghiệp làm ngư dân phố Hội – Hội An và du lịchkhám phá nét văn hóa độc đáo của đồng bào các dân tộc… trong đó, đượchưởng ứng và tham gia nhiều nhất vẫn là loại hình du lịch homestay – mộthình thức du lịch cùng tham gia các hoạt động thường nhật, lưu trú và tìmhiểu phong tục tập quán của cư dân bản địa Các chương trình này tập trungnhiều ở đồng bằng sông Cửu Long , du khách có thể trở thành những nôngdân miệt vườn thứ thiệt ở các cồn trên sông Tiền và sông Hậu

Từ những minh họa trên, cho thấy mô hình phát triển du lịch cộngđồng ở Việt Nam chủ yếu dựa vào cộng đồng cư dân bản địa, chính quyền,

du khách, các công ty lữ hành cùng tham gia vào các hoạt động du lịch vàbảo vệ môi trường Tuy nhiên sự tham của cộng đồng vào các hoạt động dulịch trực tiếp và gián tiếp vẫn còn hạn chế

1.2 Phương pháp KAP

1.2.1 Khái niệm

KAP (Knowledge, Attitude & Practice) là một phương pháp nghiêncứu khảo sát về sự hiểu biết, thái độ và hành vi của đối tượng nghiên cứuđối với một chủ đề nào đó [41]

Từ khái niệm trên có thể hiểu mô hình KAP là đi tìm sự khác biệtgiữa nhận thức - thái độ - hành vi của người tham gia nghiên cứu về một

Trang 39

vấn đề nghiên cứu cụ thể Thường KAP tập trung vào kiến thức ở chỗ xemxét sự thể hiện hiểu biết của người tham gia nghiên cứu về vấn đề nghiêncứu; KAP tập trung vào thái độ để xem xét những cảm xúc của người thamgia nghiên cứu cũng như những ý kiến của họ liên quan đến vấn đề nghiêncứu và KAP tập trung đến hành vi mà chính người tham gia nghiên cứu thểhiện hành vi của mình trong mối quan hệ với nhận thức và thái độ của họ vềvấn đề nghiên cứu.

1.2.2 Nội dung phương pháp KAP

Trong cuộc điều tra KAP, phần kiến thức thường chỉ được sử dụng đểđánh giá mức độ hiểu biết của cộng đồng về một vấn đề hay một chủ thể cụthể; Thái độ là phần thứ hai của câu hỏi điều tra KAP Hơn nữa, thái độđược liên kết với những kiến thức của người được hỏi về niềm tin, cảm xúc,các giá trị hành vi đo lường thái độ thông qua một cuộc điều tra Một phầnthứ ba và không thể thiếu của cuộc điều tra KAP là việc điều tra sự tham giacủa cộng đồng vào việc thực hiện các hoạt động liên quan đến việc khảo sát.Trong luận văn này, phương pháp KAP là một nghiên cứu để thu thậpthông tin về những gì được biết đến của cộng đồng, thái độ của cộng đồng

và sự tham của cộng đồng vào hoạt động du lịch tại khu di tích lịch sử cáchmạng Địa đạo Củ Chi cụ thể là: chính quyền địa phương, các mhà quản lýkhu di tích, cộng đồng dân cư 3 xã quanh địa đạo Củ Chi như: xã An NhơnTây, xã An Phú, xã Phú Mỹ Hưng và du khách đến tham quan tại khu ditích lịch sử cách mạng địa đạo Củ Chi Dữ liệu được thu thập thông qua cácphiếu khảo sát sử dụng một cấu trúc bảng câu hỏi được chọn lọc, những dữliệu này sau đó được phân tích định lượng để phục vụ mục đích phát triển

du lịch cộng đồng tại Củ Chi

Trang 40

Phương pháp KAP được thực hiện qua các bước: Xác định các mụctiêu khảo sát; Xây dựng giao thức khảo sát; Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát;Tiến hành khảo sát KAP; Phân tích dữ liệu và sử dụng các dữ liệu.

Bước 1: Xác định các mục tiêu khảo sát KAP:

- Xem xét thông tin hiện có trước khi phát triển các công cụ khảo sát, từ cácnguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp

- Xác định mục đích của cuộc khảo sát, sau khi xem xét thông tin hiện có,xác định mục tiêu chính của cuộc khảo sát là khảo sát, những gì cần phải làm vàlàm thế nào để có được các kết quả cần thiết

- Xác định các lĩnh vực của cuộc điều tra, các chủ đề chính phải phù hợpvới mục đích của cộc khảo sát và phù hợp với ý định sử dụng dữ liệu vào vấn đềnào

- Tạo một kế hoạch lấy mẫu điều tra, tập hợp những người trả lời, người được lựa chọn từ cộng đồng nhắm vào mục đích của cuộc khảo sát

Bước 2: Xây dựng cách thức khảo sát KAP:

Phát triển giao thức khảo sát là bước tiết theo sau khi đã xác địnhmục tiêu điều tra, tiến hành viết một cuộc khảo sát KAP để hướng dẫn thựchiện các mục tiêu và ghi lại các mục tiêu Giao thức khảo sát như là một quyhoạch tổng thể, một khuôn mẫu cung cấp các bước liên quan trong khảo sát,bao gồm cả những người và những gì sẽ được tìm kiếm, và làm thế nào, khinào và nơi sẽ diễn ra Giao thức cần rõ ràng và chính xác giải thích mụcđích của cuộc khảo sát và cho dù đó là thăm dò, hình thành, kiểm tra mộtgiả thuyết, hoặc đánh giá kết quả công việc Giao thức là một công cụ cầnthiết cung cấp cơ cấu và tổ chức tiến hành khảo sát KAP, các nội dung củagiao thức khảo sát bao gồm một mô tả của các yếu tố sau:

Ngày đăng: 27/10/2020, 21:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w