Du lịch biển đảo Du lịch có rất nhiều loại hình khác nhau, dựa trên đặc điểm tài nguyên, sự phân bố… du lịch được chia thành nhiều loại hình như: du lịch miền núi, du lịch đô thị, du lịc
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lí do chọn đề tài 4
2 Lịch sử nghiên cứu 5
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Bố cục của luận văn 11
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẢN PHẨM DU LỊCH BIỂN ĐẢO .12
1.1 Các khái niệm 12
1.1.1 Du lịch biển đảo 12
1.1.2 Sản phẩm du lịch 12
1.2 Sản phẩm du lịch và sản phẩm du lịch biển đảo 14
1.2.1 Những yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch 14
1.2.2 Đặc điểm của sản phẩm du lịch 14
1.2.3 Các yếu tốc tác động ảnh hưởng đến quá trình phát triển sản phẩm du lịch 15
1.2.4 Vai trò của các bên trong quá trình phát triển sản phẩm du lịch…17 1.2.5 Các điều kiện phát triển du lịch biển đảo 20
1.2.6 Các sản phẩm du lịch biển đảo 25
Chương 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG SẢN PHẨM DU LỊCH BIỂN ĐẢO QUẢNG NAM 32
2.1 Thực trạng về du lịch Quảng Nam 32
2.2 Điều kiện phát triển sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam 36
2.2.1 Điều kiện cung 37
2.2.2 Điều kiện cầu 47
2.3 Thực trạng các sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam 50
2.3.1 Sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng biển đảo 50
2.3.2 Sản phẩm du lịch văn hóa biển đảo 55
2.3.3 Sản phẩm du lịch sinh thái biển đảo 58
Trang 42.3.4 Sản phẩm du lịch lặn biển ngắm san hô 60
2.3.5 Sản phẩm du lịch thể thao biển đảo 63
2.3.6 Các sản phẩm du lịch biển đảo khác 65
2.4 Đánh giá các sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam 66
2.4.1 Cơ cấu mẫu điều tra 66
2.4.2 Đánh giá về tài nguyên du lịch biển đảo 70
2.4.3 Đánh giá về cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, dịch vụ, môi trường .72
2.4.4 Đánh giá về chất lượng sản phẩm du lịch 76
2.4.5 Đánh giá về hình thức tuyên truyền quảng bá về du lịch 78
2.4.6 Tổng kết đánh giá của khách du lịch về sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam 80
2.5 Nguyên nhân của thực trạng sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam 83
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH BIỂN ĐẢO QUẢNG NAM 89
3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 89
3.1.1 Chiến lược phát triển du lịch biển đảo Việt Nam 89
3.2.2 Chiến lược phát triển kinh tế xã hội, du lịch Quảng Nam 93
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện và phát triển sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam 95
3.2.1 Hoàn thiện và cải tiến các sản phẩm du lịch biển đảo hiện có 95
3.2.2 Phát triển và mở rộng địa bàn các sản phẩm du lịch biển đảo mới .102
3.2.3 Các giải pháp khác 104
3.3 Kiến nghị 106
3.3.1 Kiến nghị với Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch: 106
3.3.2 Kiến nghị với tỉnh Quảng Nam: 107
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
Trang 52
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
01 Bảng 2.1: Số lƣợng khách và doanh thu của du lịch
Quảng Nam từ năm 2011 – 2013
qua các năm
đến biển đảo Quảng Nam
với tuyên truyền quảng bá du lịch
năn 2010 – 2013
Trang 7năn 2010 – 2113
3
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong nhịp điệu sôi động của cuộc sống hiên nay, du lịch đã và đangphát triển nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu Càng ngày, các loại hình dulịch có những liên quan trực tiếp đến chất lượng môi trường càng thu hútđược sự quan tâm của nhiều khách du lịch hơn bởi sự thông qua các sản phẩm
du lịch, khách du lịch sẽ tự cảm nhận được dưới nhiều góc độ khác nhau vềcác giá trị tự nhiên, môi trường và nền văn hóa ở những nơi họ có cơ hội đặtchân đến du lịch
Du lịch biển đảo là một loại hình du lịch đang phát triển mạnh mẽ trênthế giới và ở Việt Nam trong những năm gần đây, ở thực tại và trong tương lai
du lịch biển đảo sẽ là loại hình du lịch chủ đạo sau du lịch sinh thái và du lịchvăn hóa Loại hình du lịch biển đảo đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế caocho ngành du lịch, góp phần tạo ra sự đa dạng trong loại hình du lịch, giúpxóa đói giảm nghèo cho người dân ven biển Không chỉ vậy, du lịch biển đảocòn góp phần bảo vệ môi trường phát triển bền vững
Quảng Nam được thiên nhiên ưu đãi với 125km bờ biển đẹp kéo dài từĐiện Ngọc (giáp bãi biển Non Nước, thành phố Đà Nẵng) đến giáp vịnhDung Quất (tỉnh Quảng Ngãi), với nhiều bãi tắm đẹp lý tưởng như: Hà My(huyện Điện Bàn), Cửa Đại (thành phố Hội An), Bình Minh (huyện ThăngBình), Tam Thanh (thành phố Tam Kỳ), Kỳ Hà, Bãi Rạng (huyện NúiThành) Bên cạnh đó, còn có đảo Cù Lao Chàm – một khu dự trữ sinh quyểnthế giới được UNESCO công nhận đã tạo cho Quảng Nam nhiều tiềm năngcho việc phát triển du lịch biển đảo, tạo ra sự đa dạng của các loại hình du lịchphù hợp với từng đối tượng khách hàng
Mặc dù Quảng Nam có tài nguyên thuận lợi để phát triển du lịch biển đảo,tuy nhiên thực trạng phát triển chưa tương xứng, chưa có nhiều sản phẩm
Trang 9phù hợp để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch… Hơn nữa, việcnghiên cứu các sản phẩm du lịch biển đảo để nâng cao chất lượng và đa dạnghóa sản phẩm du lịch là yêu cầu cần thiết Hiện nay, trên địa bàn Quảng Namvẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu về lĩnh vực này… Vì vậy, tác giải đã chọn
đề tài “Nghiên cứu sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam” để nghiên cứuhiện trạng các sản phẩm du lịch biển đảo, đồng thời đưa ra các giải phápnhằm phát triển tương xứng với tiềm năng du lịch biển đảo Quảng Nam
Hiện nay, đã có nhiều đề tài cấp Bộ của Tổng cục du lịch, các việnnghiên cứu, nhiều bài báo nghiên cứu đề cập đến loại hình du lịch biển đảoViệt Nam Cụ thể Viện khoa học xã hội Việt Nam (năm 2005) đã triển khai đềtài cấp Bộ “Điều kiện kinh tế, xã hội – nhân văn vùng ven biển Việt Nam” Đềtài đã nghiên cứu tất cả các điều kiện kinh tế, xã hội – nhân văn của các vùngven biển trên cả nước, từ đó đề xuất các giải pháp thực hiện phát triển bềnvững kinh tế xã hội vùng ven biển Việt Nam
Đối với du lịch biển đảo Việt nam nói chung và biển đảo Quảng Namnói riêng, cũng đã có những nghiên cứu đề cập tới Cụ thể như:
Tác giả Phạm Trung Lương (2008), đã nghiên cứu đề tài: “Những điềukiện để và cơ sở khoa học để phát triển du lịch đảo ven bờ vùng du lịch BắcTrung Bộ” Từ đó định hướng những điều kiện cần thiết để phát triển du lịchbiển đảo cho vùng Bắc Trung Bộ
Trang 10Tác giả Nguyễn Thu Hạnh (2012), cũng đã quan tâm, nghiên cứu và đềxuất những giải pháp phát triển các khu du lịch biển quốc gia tại vùng du lịchbắc Trung Bộ qua đề tài: “Hiện trạng và giải pháp phát triển các khu du lịchbiển quốc gia tại vùng du lịch Bắc Trung Bộ”.
Tác giả Phạm Trung Lương (2008), cũng đã quan tâm đến những vấn
đề về: “Nghiên cứu xây dựng mô hình bảo vệ môi trường du lịch với sự thamgia của cộng đồng góp phần phát triển du lịch bền vững trên đảo Cát Bà – HảiPhòng” Từ đó đưa ra các biện pháp và định hướng để du khách và cộngđồng cùng thực hiện những biện pháp để phát triển du lịch lịch bền vững trênđảo Cát Bà
Tác giả Võ Quế cũng đã nghiên cứu đề tài: “Những điều kiện phát triển
du lịch biển đảo bền vững tại vịnh Bái Tử Long” Từ đó nêu ra những thựctrạng và giải pháp cho việc phát triển du lịch biển đảo tại vùng này
Tác giả Trần Thị Lan cũng đã quan tâm đến các điều kiện phát triển dulịch đảo Lý Sơn cùng với việc bảo vệ chủ quyền quốc gia qua việc nghiên cứu
đề tài: “Các điều kiện để phát triển du lịch Lý Sơn để khẳng định chủ quyềnbiển đảo Việt Nam”
Tác giả Hà Văn Siêu cũng đã dựa trên những điều kiện, tiềm năng dulịch của vùng Bắc Trung Bộ, tiến hành nghiên cứu đề tài: “Những định hướng
để phát triển sản phẩm du lịch và quy hoạch phát triển du lịch vùng Bắc Trung
Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” Từ đó đưa ra những mục tiêu,định hướng và giải pháp cụ thể cho việc phát triển du lịch vùng Bắc TrungBộ
Tác giả Hà Văn Siêu cũng đã quan tâm đến những điều kiện, tiềm năngphát triển du lịch vùng duyên hải Miền Trung với việc nghiên cứu đề tài:
“Những vấn đề và điều kiện để tạo những bước đột phá trong thu hút đầu tưphát triển du lịch các tỉnh/thành phố vùng duyên hải miền Trung”
Trang 11Ngoài ra, nhiều luận văn Thạc sĩ đã đề cập đến các vấn đề về nghiêncứu du lịch biển đảo của các địa phương khác như:
Tác giả Thân Trọng Thụy (2012), đã triển khai đề tài: “Du lịch KhánhHòa: Tiềm năng, thực trạng và giải pháp” Tác giả đã nêu lên những điều kiện
và tiềm năng du lịch Khánh Hòa, từ đó đưa ra những giải pháp để phát triển
du lịch ở địa phương này
Tác giả Trần Thị Kim Bảo (2009), đã triển khai đề tài: “Nghiên cứuđiều kiện phát triển du lịch sinh thái dải ven biển tỉnh Quảng Trị” Từ đó, tácgiả đã đưa ra những giải pháp phù hợp cho việc phát triển du lịch sinh thái tạiQuảng Trị
Tác giả Ngô Quang Duy (2008), đã triển khai đề tài “Phát triển du lịchbiển đảo ở Vân Đồn, Quảng Ninh” Tác giả đã hệ thống hóa được những cơ
sở lý luận và đồng thời đề xuất giải pháp phát triển du lịch biển đảo của VânĐồn – Quảng Ninh
Tác giả Trần Thị Kim Ánh (2012), đã triển khai đề tài: “Nghiên cứuphát triển du lịch biển Đà Nẵng” Tác giả đã phân tích thực trạng phát triển dulịch biển Đà Nẵng, nêu ra các thế mạnh của du lịch biển Đà Nẵng và đưa racác giải pháp phát triển du lịch biển Đà Nẵng trong tương lai
Tác giả Trần Xuân Mới (2012), đã quan tâm đến những điều kiện pháttriển du lịch sinh thái và đã đề xuất được những giải pháp cho việc phát triểnloại hình du lịch này tại Quảng Nam với đề tài: “Phát triển du lịch sinh tháibiển đảo Cù Lao Chàm – tỉnh Quảng Nam”
Tác giả Ngô Đặng Thị Thu Hằng (2013), đã triển khai đề tài “Hoạtđộng bảo vệ môi trường du lịch ven biển Hàm Tiến, Mũi Né – Bình Thuận”.Tác giả đã tổng hợp những thông tin, dữ liệu liên quan đến việc bảo vệ môitrường và đưa ra các giải pháp cho việc bảo vệ môi trường du lịch ven biểnBình Thuận
Trang 12Mặc dù tài nguyên du lịch biển đảo Quảng Nam là rất lớn, nhưng tìnhhình khai thác tài nguyên biển đảo chưa tương xứng với tiềm năng do chưa
có sự quan tâm, đầu tư đúng mức của các ban ngành và chính quyền địaphương, dưới góc độ khoa học nghiên cứu sản phẩm du lịch biển đảo QuảngNam là một đề tài thiết thực cho du lịch Quảng Nam
Ngoài những đề tài trên đây, cho đến nay, chưa có công trình nghiêncứu nào khác về sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam một cách có hệ thống.Chính vì vậy, việc triển khai đề tài nghiên cứu sản phẩm du lịch biển đảoQuảng Nam là cần thiết, khách quan, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của ngành dulịch địa phương
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là góp phần nâng cao chất lượng và đa dạng hóasản phẩm du lịch phục vụ nhu cầu của khách du lịch, thu hút cộng đồng thamgia vào hoạt động du lịch, góp phần nâng cao đời sống người dân vùng biểnđảo Cụ thể là đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản các sảnphẩm du lịch biển đảo Quảng Nam
Để đạt được mục đích trên, đề tài đặt ra những nhiệm vụ sau:
Thu thập và tổng quan tài liệu về các vấn đề liên quan như tài liệu,công trình nghiên cứu về du lịch biển đảo, các thông tin về tài nguyên du lịchbiển đảo, về hệ thống dịch vụ du lịch, về khách du lịch…
Thu thập các dữ liệu sơ cấp thông qua khảo sát thực địa, phỏng vấnkhách du lịch và nhà cung cấp sản phẩm du lịch… điều tra xã hội học để bổsung thông tin
Đánh giá thực trạng về sự hài lòng của khách du lịch, nhận thức và sựtham gia của cộng đồng vào việc tạo ra các sản phẩm du lịch biển đảo
Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm
du lịch biển đảo Quảng Nam
Trang 134 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là những sản phẩm du lịchđược giới hạn trong phạm vi mực nước biển tác động vào đất liền và các khuvực ven bờ biển, trên biển, vịnh biển, hải đảo thuộc các huyện Điện Bàn,Thăng Bình, Thành phố Hội An, Thành phố Tam Kỳ, Huyện Núi Thành củatỉnh Quảng Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: đề tài nghiên cứu các sản phẩm du lịch biển đảotrong vùng biển đảo trên địa bàn, giới hạn trong phạm vi khu vực mực nướcbiển tác động vào đất liền của các đơn đơn vị hành chính ven biển từ HuyệnĐiện Bàn đến Huyện Núi Thành của tỉnh Quảng Nam
Phạm vi thời gian: các số liệu, thông tin phục vụ nghiên cứu đề tài nàyđược giới hạn từ năm 2009 đến năm 2013
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ đặt ra, các phương pháp nghiên cứu chủ yếusau đã được sử dụng:
Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Các thông tin này đượcthu thập từ các công trình nghiên cứu, tài liệu giảng dạy như giáo trình, bàibáo của các tác giả trong và ngoài nước Những thông tin thực tế liên quanđến sản phẩm du lịch biển đảo
Phương pháp khảo sát thực địa (điền dã): Phương pháp này đã giúp chotác giả có trải nghiệm thực tế về vấn đề nghiên cứu Tác giả đã tiến hành đi thực
tế 4 đợt, được chia đều vào 4 mùa trong năm tại các vùng biển đảo như: CửaĐại (Hội An), Hà My (Điện Bàn), Tam Thanh (Tam Kỳ), Biển Rạng (Núi Thành)
… và đảo Cù Lao Chàm (Hội An) Các ngày được lựa chọn gồm 1 ngày vàoxuân – khi đó khách du lịch đang tham gia trẩy hội và tham gia
Trang 14vào các hoạt động du lịch, 1 ngày vào mùa hè – đây là mùa cao điểm của dulịch nên khách tham gia vào hoạt động du lịch rất nhiều, 1 ngày mùa thu – khi
đó các vùng biển đang đón lượng khách du lịch nước ngoài nhiều, 1 ngày vàomùa đông – mùa thấp điểm của hoạt động du lịch
Phương pháp điều tra xã hội học (hay phương pháp phỏng vấn): Để cóđược những nhận định khách quan, tác giả đã sử dụng phương pháp phỏngvấn bằng bảng hỏi với khách du lịch đang tham gia du lịch tại các vùng biểnđảo trên địa bàn Vì điều kiện hạn chế về thời gian và khoảng cách (khảo sátkhách du lịch trong 3 đợt: đợt 1 vào cuối tháng 10/2014, đợt 2 vào đầu tháng11/2014, và đợt 3 vào giữa tháng 11/2014), và hơn nữa lại vào mùa thấp điểmcủa du lịch nên tác giả chỉ phát được 120 phiếu cho khách du lịch Mặc dù sốphiếu phát ra ít, nhưng kết quả thu lại cũng rất khả quan và thông tin thu thậpđược cũng khá chính xác, từ đó giúp cho tác giả có những sự phân tích thựctrạng và đề xuất vào việc phát triển sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam
- Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát:
Từ yêu cầu nội dung nghiên cứu của đề tài, thông qua thảo luận ý kiến vớimột số chuyên gia, tác giả đã đưa ra bảng câu hỏi sơ bộ và tiến hành khảo sát thử
15 du khách, sau đó hoàn thiện và đưa ra bảng câu hỏi chính thức dùng để khảosát Bảng câu hỏi tiếng Việt dành cho du khách trong nước (Phụ lục 1) và bảngcâu hỏi tiếng Anh dành cho khách nước ngoài (Phụ lục 2)
Nội dung của bảng câu hỏi theo chiều dọc gồm 2 phần chính:
Phần thứ 1, đánh giá của du khách về mức độ quan trọng và mức độ hàilòng của các yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam với cáctiêu chí: Tài nguyên du lịch biển đảo; Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật,dịch vụ, môi trường; Trải nghiệm các sản phẩm du lịch biển đảo; Chính sáchquản lý, quảng bá, xúc tiến du lịch biển đảo…
Trang 15Phần thứ 2, thu thập thông tin cá nhân của khách du lịch tại vùng biểnđảo Quảng Nam.
Nội dung bảng câu hỏi theo chiều ngang, phía bên trái bảng câu hỏi làđánh giá của du khách về mức độ quan trọng của các yếu tố sản phẩm du lịchbiển đảo Quảng Nam với 5 mức độ: không quan trọng, ít quan trọng, bìnhthường, quan trọng và rất quan trọng Phía bên phải bảng câu hỏi là đánh giácủa du khách về mức độ hài lòng của các yếu tố về sản phẩm du lịch biển đảoQuảng Nam với 5 mức độ: không hài lòng, ít hài lòng, bình thường, hài lòng
và rất hài lòng
- Phương pháp thu thập thông tin:
Phương pháp thu thập thông tin sử dụng cho nghiên cứu đề tài này làphát phiếu khảo sát điều tra theo bảng câu hỏi đã soạn sẵn Đối tượng khảosát bao gồm khách du lịch trong nước và quốc tế đang sử dụng các sản phẩm
du lịch biển đảo trên địa bàn Quảng Nam (Điện Bàn, Hội An, Cù Lao Chàm,Tam Kỳ, Núi Thành) Tổng số phiếu điều tra phát ra 120 phiếu cho các khách
du lịch ngẫu nhiên, trong đó có 80 phiếu dành cho khách du lịch trong nước
và 40 phiếu dành cho khách du lịch nước ngoài
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nộidung chính của luận văn bao gồm 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận về sản phẩm du lịch biển đảo
Chương 2 Tiềm năng và thực trạng sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam Chương 3 Một số giải pháp hoàn thiện và phát triển sản phẩm du lịch
biển đảo Quảng Nam
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẢN PHẨM DU LỊCH BIỂN ĐẢO
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Du lịch biển đảo
Du lịch có rất nhiều loại hình khác nhau, dựa trên đặc điểm tài nguyên,
sự phân bố… du lịch được chia thành nhiều loại hình như: du lịch miền núi,
du lịch đô thị, du lịch đồng quê, du lịch biển đảo…
Từ đặc điểm đó, có thể hiểu rằng: du lịch biển đảo là loại hình du lịchđược phát triển dựa trên những tiềm năng về biển đảo, diễn ra trong các vùng
có tài nguyên về biển đảo hướng tới thỏa mãn nhu cầu của con người về nghỉdưỡng biển đảo, tham quan, vui chơi giải trí, tắm biển, nghiên cứu, học tập…tại khu vực bờ biển, ven biển, vịnh biển và đảo
Từ khái niệm về du lịch biển đảo, có thể hiểu rằng: sản phẩm du lịchbiển đảo là các tài nguyên du lịch và dịch vụ du lịch, hàng hóa và tiện nghicung ứng cho khách du lịch, được xây dựng và phát triển dựa trên cơ sở cácvùng có tiềm năng về biển đảo, từ đó hình thành các sản phẩm du lịch mangđặc trưng và màu sắc riêng chỉ có thể hình thành và phát triển ở vùng biểnđảo nhằm hướng tới thỏa mãn nhu cầu của con người về vui chơi giải trí,nghỉ dưỡng, tham quan, tắm biển, lặn biển, nghiên cứu… tại khu vực bờ biển,vịnh biển và đảo
Cũng như các sản phẩm du lịch khác, sản phẩm du lịch biển đảo là tậphợp các dịch vụ nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch Tuy nhiên, sảnphẩm du lịch biển đảo có những đặc trưng riêng bởi những đặc thù của tàinguyên du lịch biển đảo Du lịch biển đảo còn có tính chất mùa vụ rõ rệt, phụthuộc vào thời tiết, nhiệt độ…
1.1.2 Sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là một thuật ngữ có rất nhiều quan niệm định nghĩa
và cũng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Các khái niệm về sản phẩm
Trang 17du lịch rất đa dạng tùy theo các hướng tiếp cận khác nhau Sản phẩm du lịch
là một khái niệm rộng, là tổng thể các yếu tố hữu hình hoặc vô hình, kết hợpvới nhau, tạo thành các sản phẩm du lịch hoàn chỉnh, làm thỏa mãn nhu cầucho du khách trong hoạt động du lịch
Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách,được tạo nên bới sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội vớiviệc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở,một vùng hay một quốc gia nào đó [8, tr 31]
Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầucủa khách du lịch trong chuyến đi du lịch [Điều 4, chương 1, Luật Du lịch,2005]
Có thể thấy rằng, sản phẩm du lịch luôn là mối quan tâm của không chỉkhách du lịch mà cả các nhà quản lý, kinh doanh và cộng đồng địa phương.Nói tới sản phẩm du lịch là nói tới các dịch vụ (hoặc hàng hóa như đồ lưuniệm…) có thể đem bán cho du khách
Sản phẩm du lịch có nhiều hướng tiếp cận khác nhau và được hiểu ởnhiều phạm vi khác nhau:
Ở phạm vi điểm đến, sản phẩm du lịch được gắn liền với một điểm đến
cụ thể, đó là: biển, đảo, núi, sông, hồ, di tích, danh thắng, công trình, lễ hội,làng nghề… phục vụ cho nhu cầu của khách du lịch
Ở phạm vi dịch vụ, sản phẩm du lịch được gắn liền với những dịch vụ
cụ thể, đó là những dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận chuyển, tham quan, vui chơigiải trí, mua sắm, các dịch vụ bổ sung khác…
Ở phạm vi của tour, sản phẩm du lịch được gắn liền với những sảnphẩm cụ thể, đó là những chương trình du lịch, nhưng dịch vụ trọn gói hoặctừng phần bán ra phù hợp với nhu cầu của khách du lịch…
Như vậy, sản phẩm du lịch được hiểu là các tài nguyên du lịch và dịch
vụ du lịch, hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho du khách, là tổng thể những
Trang 18yếu tố có thể trông thấy hoặc không trông thấy được, do các cá nhân và tổ chứckinh doanh du lịch cung cấp để phục vụ và thỏa mãn những nhu cầu của các đốitượng du khách khác nhau; nó phù hợp với những tiêu chí nghề nghiệp theothông lệ quốc tế đồng thời chứa đựng những giá trị đặc trưng bản địa; đáp ứng
và làm thỏa mãn các mục tiêu kinh tế - xã hội đối với các cá nhân, tổ chức và địaphương nơi đang diễn ra các hoạt động kinh doanh du lịch
1.2.
Sản phẩm du lịch và sản phẩm du lịch biển đảo
1.2.1 Những yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch
Cũng như tất cả các sản phẩm khác, sản phẩm du lịch gồm nhiều yếu tốkết hợp với nhau để đáp ứng cho thị trường, thỏa mãn tối đa nhu cầu của dukhách Sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố cơ bản sau:
- Tài nguyên thiên nhiên: khí hậu, cảnh quan, núi rừng, biển đảo, sông, suối, hồ, thác…
- Tài nguyên nhân văn, các di sản văn hóa, các công trình kiến trúc nghệ thuật, di tích lịch sử, phong tục tập quán, lễ hội, làng nghề…
- Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ ngành du lịch: nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí…
- Hệ thông phương tiện giao thông phục vụ du lịch: máy bay, tàu lửa,
xe ô tô, tàu thuyền…
- Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch: hệ thống giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông, y tế…
- Môi trường kinh tế và xã hội: giá cả liên quan đến du lịch, an toàn xã hội, trình độ dân trí, văn minh đô thị…
1.2.2 Đặc điểm của sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch mang đặc tính nhìn thấy được và không nhìn thấy được.Các yếu tố nhìn thấy được, chủ yếu là: tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng,vật chất kỹ thuật, phương tiện vận chuyển, đặc sản, hàng lưu niệm… Và cácyếu tố không nhìn thấy được bao gồm: các dịch vụ du lịch; các yếu tố tâm lý…
Trang 19Sản phẩm du lịch mang tính đa dạng của các bên tham gia: thôngthường, sản phẩm du lịch có nhiều yếu tố cấu thành như: cơ sở hạ tầng, cơ sởvật chất kỹ thuật, các loại dịch vụ…
Sản phẩm du lịch mang tính đặc thù: Sản phẩm du lịch không thể tồnkho; sản phẩm du lịch đồi hỏi phải có sự tham gia của du khách để tồn tại, làđiều kiện cần thiết để thực hiện dịch vụ; tính không co giãn của cung so vớicầu; sản phẩm du lịch không di chuyển đến thị trường tiêu thụ
1.2.3 Các yếu tốc tác động ảnh hưởng đến quá trình phát triển sản phẩm du lịch
Giai đoạn đầu
- Cơ ản Là giai đoạn cần có tài nguyên du lịch và tổ chức quản lý, để
xây dựng cấu trúc và khai thác đúng giá trị các tài nguyên hình thành nênnhững sản phẩm cần thiết
- uá tr nh tạo d ng yêu cầu cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, và dịch
vụ có sẵn hoặc được tạo dựng lẫn phát triển hoạt động và kinh nghiệm Quátrình này mang lại kết quả là một bộ sản phẩm, có thể được hiểu là nguồn
Trang 2015
Trang 21- Tru ền th ng một khi đã có nguồn cung cấp sản phẩm, những lợi ích
thiết thực và về tinh thần phải được giới thiệu cho khán giả mục tiêu củađiểm du lịch nhằm kích thích nhận thức, và tất yếu, mong muốn hướng đếntiêu thụ Việc tạo ra hình ảnh, bố trí mạnh mẽ và liền mạch, liên quan đến sảnphẩn du lịch rất quan trọng để giới thiệu và quảng bá thành công điểm du lịch
để kích thích tiêu thụ sản phẩm tại điểm du lịch
- ết quả là sự tiêu thụ sản phẩm du lịch, từ đó đánh giá được mức
độ hài lòng của khacsh du lịch và có những điều chinrht hích hợp cho sự pháttriển sản phẩm tiếp theo
Việc phát triển sản phẩm du lịch mới thường gặp phải nhiều khó khănbởi vấn đề quyền lợi khác nhau giữa thành phần kinh tế nhà nước và tư nhân
Do đó, trong hoàn cảnh này, cần có một tổ chức quản lý để xây dựng cấu trúc,phối hợp và đạt được sự nhất trí cần thiết giữa các thành phần kinh tế khácnhau để đảm bảo sự phát triển sản phẩm du lịch
Quảng bá sức phát triển của sản phẩm du lịch mới dựa trên tài nguyên
du lịch mang nhiều lợi ích, việc phát triển nguồn sản phẩm du lịch đa dạng vôcùng quan trọng để đảm bảo một sự đa dạng hóa và phân biệt lâu dài chođiểm du lịch Việc phát triển sản phẩm du lịch có thể hiểu là:
- Cải tạo và nâng cấp tài nguyên du lịch đã có: tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân tạo và các tài nguyên khác
- Nâng cao các công trình công cộng phục vụ du lịch và điểm du lịch, các tour du lịch, các hành trình du lịch…
- Đưa dân cư địa phương vào việc bảo tồn và duy trì tài sản du lịch.Tăng tính tự tôn của dân cư địa phương, có ý thức gìn giữ môi trường du lịch
- Bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử của dân cư địa phương: các làngnghề truyền thống thủ công, các lễ hội, các sản phẩm và dịch vụ liên quangiúp củng cố hình ảnh chân thực của điểm du lịch
Trang 22- Tạo ra cơ hội mới cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để phát triển kinh doanh.
1.2.4 Vai trò của các bên trong quá trình phát triển sản phẩm du lịch 1.2.4.1 Nhà cung cấp
Sản phẩm du lịch muốn phát triển được thì phải có sự tham gia đầy đủcủa các nhà cung cấp Bởi chính các nhà cung cấp bảo đảm cung ứng nhữngyếu tố đầu vào để tạo thành dịch vụ du lịch hoàn chỉnh và làm tăng giá trị sửdụng của chúng để quảng bá cho khách du lịch với mức giá phù hợp yêu cầu,mức giá phải thấp hơn so với giá mà khách du lịch mua từng dịch vụ đơn lẻgộp lại, tiết kiêm được thời gian, dễ dàng trong việc tìm kiếm thông tin, lựachọn sản phẩm phù hợp với đặc điểm tiêu đùng du lịch của họ
Nhà cung cấp (dịch vụ và hàng hoá) giữ một vai trò lớn trong quá trìnhphát triển sản phẩm du lịch như sau:
Các nhà cung cấp dịch vụ vận chuyển để thoả mãn nhu cầu đi lại củakhách từ nơi ở thường xuyên đến điểm du lịch (khu du lịch) tại nơi đến vàngược lại Các nhà cung cấp dịch vụ vận chuyển bao gồm: vận chuyển hàngkhông,vận chuyển đường sắt,vận chuyển đường bộ,vận chuyển đường thuỷ
Các nhà cung cấp dịch vụ lưu trú bao gồm các thể loại (khu nghỉdưỡng, khách sạn, nhà nghỉ, làng du lịch,…) nhằm thoả mãn nhu cầu lưu trúcủa khách trong thời gian đi du lịch, các nhà cung cấp dịch vụ lưu ăn uốngnhư (nhà hàng, cửa hàng đặc sản…) phục vụ nhu cầu ăn uống của du khách
và các loại dịch vụ khác như: quầy bar, phòng hội họp, cửa hàng lưu niệm Các nhà cung cấp dịch vụ tham quan,vui chơi giải trí, chăm sóc sức khỏe…tại các điểm du lịch, khu du lịch, các sản phẩm văn hoá, nghệ thuật, thể thao,hàng thủ công mỹ nghệ nhằm để thoả mãn nhu cầu đặc trưng trong tiêudùng du lịch, nhu cầu cảm thụ các giá trị thẩm mỹ của khách ở nơi đến dulịch
Trang 23Ngoài ra còn có các nhà cung cấp dịch vụ mang tính chất chung cho tất
cả các hoạt động kinh tế xã hội như là: các nhà cung cấp dịch vụ bưu điện vàbưu chính viễn thông; các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm… cũnggóp phần phục vụ nhu cầu đa dạng và bổ sung vào các dịch vụ chính
1.2.4.2 Khách du lịch
Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trườnghợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến Khách dudịch đóng một vai trò rất lớn vào quá trình phát triển sản phẩm du lịch, từ đótạo ra những sản phẩm du lịch đa dạng, phong phú nhằm phụ vụ nhu cầu củakhách du lịch về tham quan, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, học tập, nghiêncứu…
Khách du lịch bao gồm hai đối tượng là: khách du lịch nội địa và khách
du lịch quốc tế, họ có những nhu cầu, sở thích và khả năng thanh toán cũngkhác nhau Từ đó góp phần vào việc định hướng phát triển cho sản phẩm dulịch đa dạng hơn, phù hợp với từng đối tượng khách du lịch khác nhau
Khách du lịch nội địa là thị trường có tiềm năng khai thác rất lớn, là thịtrường trọng điểm do xu hướng đi du lịch trong nước tăng nhờ kinh tế pháttriển, mức sống cao hơn, thời gian rỗi nhiều hơn, nhận thức về du lịch đượcnâng cao, thông tin du lịch được phổ biến thường xuyên hơn
Khách du lịch quốc tế trong thời gian gần đây là các thị trường Châu
Âu và Bắc Mỹ vẫn là thị trường gửi khách nhiều nhất Bên cạnh đó thịtrường khách Châu Á - Thái Bình Dương cũng là một thị trường đầy tiềmnăng của du lịch biển đảo, và đặc biệt lượng du khách đến từ các nước đangphát triển tăng mạnh hơn, đặc biệt các vùng Đông Bắc và Đông Nam Á, Đông
và Trung Âu, Trung Đông, Nam Phi và Nam Mỹ…
Với điều kiện phát triển kinh tế như hiện nay thì du lịch không phải lànhu cầu đặc biệt mà là xu hướng gia tăng của toàn cầu Người đi du lịch
Trang 24không chỉ đi thăm quan giải trí, mua sắm mà họ còn đi du lịch để tìm hiểu vănhoá lịch sử, nghiên cứu thị trường, hợp tác kinh tế, do vậy du lịch đã pháttriển rộng Với chính sách mở cửa đầu tư và phát triển kinh tế- xã hội- du lịchphù hợp với điều kiện hiện có sẽ thu hút khách du lịch ngày càng tăng Hơnnữa, dù du lịch chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thiên tai, dịch bệnh, khủnghoảng kinh tế, chính trị nhưng Việt Nam vẫn là điểm đến an toàn hiện nayđược du khách lựa chọn.
1.2.4.3 Cơ quan quản lý du lịch địa phương
Quá trình tham gia của cơ quan quán lý du lịch địa phương nhằm tạo điềukiến phát triển đa dạng các loại hình du lịch phù hợp với lợi thế tài nguyên dulịch, thúc đẩy hình thành và phát triển đa dạng hóa các sản phẩm du lịch …
Ngoài ra, cơ quan quản lý du lịch địa phương chủ động đề xuất nhữngchiến lược để thu hút đầu tư phát triển các dự án lớn về du lịch, hình thànhcác hệ thống các khách sạn, khu nghỉ dưỡng, khu vui chơi, giải trí sân golf…cao cấp ở khu vực đô thị lớn và những khu vực có tài nguyên thuận lợi
Bên cạnh đó, cần chỉ đạo phát triển các ngành dịch vụ khác và côngnghiệp phụ trợ cho du lịch (phát triển các làng nghề truyền thống, sản xuấthàng thủ công – mỹ nghệ; đào tạo ngành nghề, quản lý khách sạn; dịch vụmua sắm, ăn uống; tài chính – ngân hàng; viễn thông, công nghệ thông tin;văn hóa; vận chuyển hàng không, hàng hải… ), đẩy mạnh phát triển côngnghiệp sạch theo quy hoạch và phát triển nông nghiệp trong mối quan hệ chặtchẽ với du lịch
Tổ chức liên kết chặt chẽ với các địa phương khác, với các vùng trọngđiểm kinh tế để khai thác các tuyến du lịch mới, tạo ra các sản phẩm du lịchmới, hấp dẫn Tạo những điều kiện để hội nhập quốc tế, liên kết với các nước
để mở rộng thị trường quốc tế… góp phần vào việc nâng cao và hoàn thiệnsản phẩm du lịch biển đảo ngày càng đa dạng, chất lượng
Trang 251.2.5 Các điều kiện phát triển du lịch biển đảo
Du lịch biển đảo là một loại hình du lịch đang phát triển ở những nơi cótài nguyên về biển đảo, đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cao cho ngành
du lịch, góp phần tạo ra sự đa dạng trong loại hình du lịch Không chỉ vậy, dulịch biển đảo còn góp phần giúp tăng thu nhập và nâng cao đời sống chongười dân ven biển, bảo vệ phát triển môi trường bền vững
Du lịch biển đảo hiện đang chiếm tỉ trọng lớn hoạt động của ngành dulịch Để du lịch phát triển nhanh và bền vững, cần phải xác định du lịch biểnđảo là bước đột phá để phát triển kinh tế biển và là một trong những địnhhướng quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế cũng như bảo vệ chủquyền quốc gia Để xây dựng các sản phẩm du lịch biển đảo, cần phải cónhững điều kiện cụ thể: Điều kiện cung (để xây dựng sản phẩm phù hợp vớiđiều kiện tài nguyên), điều kiện cầu (để xây dựng những sản phẩm đáp ứngnhu cầu của khách du lịch)
1.2.5.1 Điều kiện cung
Để xây dựng những sản phẩm du lịch biển đảo phù hợp với điều kiệntài nguyên và đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, ngoài những yếu tố
về hệ thống dịch vụ du lịch cần phải dựa vào yếu tố chính là tài nguyên dulịch biển đảo Đây là yếu tố tiên quyết để hình thành nên những sản phẩm dulịch biển đảo đặc trưng của từng vùng miền
- Tài nguyên du lịch biển đảo:
Điều kiện về vị trí địa lý, tự nhiên, lịch sử, văn hoá đã tạo nên tiềmnăng du lịch biển đảo phong phú, đa dạng bao gồm cả tài nguyên du lịch biểnđảo tự nhiên và tài nguyên văn hóa biển đảo Những nơi có điều kiện thuậnlời với bờ biển dài và sạch, nhiều đảo và quần đảo, vịnh biển đẹp, các hangđộng tuyệt đẹp, nhiều công trình kiến trúc cổ, nhiều nét văn hóa đặc trưng,nhiều làng nghề, lễ hội miền biển đặc sắc… là những điều kiện thuận lợi đểphát triển du lịch biển đảo
Trang 26Trong các vùng biển đảo, bên cạnh tiềm năng lớn về hải sản, rongbiển, khoáng sản, dầu mỏ, còn có nhiều vũng, vịnh, hang động trên đảo, bãitắm…tạo ra những nét đặc trưng riêng, thu hút khách du lịch thích khám pháđại dương, tham quan, học tập và tìm hiểu hiểu… đó là điều kiện thuận lợi
để phát triển đa dạng các sản phẩm du lịch biển, đảo
- Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ, môi trườngBên cạnh tài nguyên du lịch biển đảo, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹthuật, dịch vụ, môi trường… đã góp phần vào việc hoàn thiện những sản phẩm
du lịch biển đảo phong phú, tạo nên sự an toàn và hoàn thiện và nâng cao chấtlượng sản phẩm để phục vụ khách du lịch về nhu cầu du lịch biển đảo
Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ và ngày càng hoàn thiện của hệ thốngmạng lưới giao thông như: đường bộ (quốc lộ chính, đường đẹp ven biển,cửa khẩu), đường sắt, đường hàng không (các sân bay quốc tế lớn), đặc biệt
là đường thủy (những cảng biển lớn)… và quá trình đầu tư và sự phát triểncủa các đô thị ven biển, đó là những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển dulịch biển đảo
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch hiện nay như hệ thống cơ sở lưu trú venbiển (khách sạn, khu nghỉ dưỡng) cũng được đầu tư phát triển, các cơ sở lưu trúvùng biền đảo không ngừng tăng lên về số lượng và chất lượng, vùng ven biểnchủ yếu tập trung các khu nghỉ dưỡng quốc tế tiêu chuẩn cao cấp, các nhà hàngphục vụ ăn uống đa dạng với nhiều loại hình ẩm thực đặc trưng vùng biển đảophong phú và chất lượng (chủ yếu là nhà hàng hải sản), các khu vui chơi giải tríđẳng cấp quốc tế với nhiều hình thức vui chơi giải trí trên cạn, trên mặt nước,dưới nước, trong lòng biển ngày càng đa dạng hơn… đó là những động lực đểthúc đẩy phát triển đa dạng các sản phẩm du lịch biển đảo
Hệ thống thông tin liên lạc, điện, nước, cơ sở y tế và các cơ sở vật chấtkhác cũng được đầu tư và nâng cấp nhằm giúp cho du lịch biển đảo có nhữngđiều kiện thuận lợi trong quá trình phát triển…
Trang 27- Giá cả dịch vụ du lịch:
Giá cả cũng giữ một vai trò thiết yếu trong kinh doanh du lịch vàquyết định vòng đời của sản phẩm du lịch Dù trong nền kinh tế phát triểncủa thế giới cạnh tranh về giá cũng đã nhường chỗ cho cạnh tranh về chấtlượng, nhưng các quyết định về giá là quan trọng cho việc xác định giá trịcho khách hàng và giữ vai trò trong việc tạo dựng một hình ảnh của dịch vụ
và cũng bởi vì việc định giá thu hút doanh lợi trong kinh doanh Việc ápdụng chính sách về giá trong các cơ sở kinh doanh du lịch, đưa đến cho cơ
sở những điều kiện mới, những nhân tố mới để mở rộng sản phẩm du lịchcủa mình
Việc hình thành giá cả của sản phẩm du lịch chịu sự tác động của nhiềuyếu tố như: luật pháp và chính sách quản lý của nhà nước; những yêu cầu bắtbuộc về thị trường du lịch; đặc tính của tài nguyên du lịch; chất lượng sảnphẩm du lịch; cơ cấu chi phí của sản phẩm; sự tác động của các chính sáchkhác trong marketing… Bên cạnh đó, giá cả sản phẩm du lịch còn chịu sự tácđộng của yếu tố bắt buộc về thị trường đó là quan hệ cung – cầu, mức độcạnh tranh trên thị trường, hai yếu tố này sẽ điều chỉnh mức giá trên thịtrường Đó là mức giá để lựa chọn xác định chính sách giá cho phù hợp
- Nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực để phát triển du lịch biển đảo là lao động trong du lịchbao gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp Lao động trực tiếp là số laođộng làm trong các công ty lữ hành, khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí
và các cơ sở dịch vụ khác Lao động gián tiếp là lao động có liên quan đếnngành du lịch Với mục đích tạo ra nguồn nhân lực có trình độ và tay nghề caotrong hoạt động du lịch, cần khuyến khích đào tạo và chuyển giao kỹ năng tạichỗ; thu hút chuyên gia, nhân tài, nghệ nhân trong và ngoài nước phục vụ chođào tạo du lịch biển đảo; tăng cường chuẩn hóa kỹ năng, chương
Trang 28trình đào tạo; đẩy mạnh thẩm định, công nhận kỹ năng; tạo điều kiện dichuyển, chuyển đổi nghề nghiệp; hình thành mã ngành đào tạo du lịch ở cáccấp đào tạo; sử dụng phí dịch vụ vào việc đào tạo và phát triển nhân lực.
- Chính sách quản lý, quảng bá, xúc tiến du lịch biển đảo:
Chính sách phát triển du lịch biển đảo cần phải đầu tư tập trung cho cáckhu du lịch biển đảo trọng điểm quốc gia có sức cạnh tranh cao trong khu vực
và quốc tế, đặc biệt ưu tiên những vùng có thế mạnh về tài nguyên biển đảo,với những ưu đãi bằng các công cụ tài chính, thu hút nguồn vốn đầu tư, hỗtrợ trực tiếp của nhà nước về cơ sở hạ tầng, phát triển sản phẩm…
Chính sách đầu tư phát triển sản phẩm du lịch biển đảo đặc trưng vùng,quốc gia có sức cạnh tranh khu vực và quốc tế: tăng cường nghiên cứu thịtrường, xây dựng chiến lược sản phẩm; khuyến khích sản phẩm mới có tínhchiến lược; hỗ trợ xây dựng và quảng bá thương hiệu du lịch vùng, thươnghiệu quốc gia, sản phẩm đặc trưng; liên kết khai thác giá trị văn hóa, sinh thái
và những tài nguyên du lịch nổi bật của vùng, quốc gia
Chính sách bảo vệ môi trường tại các khu, tuyến điểm, cơ sở dịch vụ
du lịch biển đảo: áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường; kiểm tra xử lý
vi phạm về môi trường du lịch; kiểm định, đánh giá, tôn vinh những thươnghiệu, nhãn hiệu du lịch “xanh”; xây dựng nếp sống văn minh du lịch…
Chính sách về xúc tiến quảng bá tại các thị trường trọng điểm: tăngcường nghiên cứu thị trường, phân đoạn các thị trường mục tiêu; hỗ trợ vềtài chính đối với thị trường trọng điểm; liên kết, tập trung nguồn lực trong vàngoài nước cho xúc tiến quảng bá tại thị trường trọng điểm; quảng bá nhữngthương hiệu mạnh theo phân đoạn thị trường trọng điểm; hình thành các kênhquảng bá toàn cầu đối với những thị trường trọng điểm (văn phòng đại điện
du lịch, thông tin đại chúng toàn cầu); chiến dịch quảng bá tại các thị trườngtrọng điểm
Trang 29Chính sách phát triển du lịch biển đảo cộng đồng: Khuyến khích, hỗ trợphát triển các loại hình du lịch dựa vào cộng đồng, du lịch sinh thái biển đảo,
du lịch làng quê biển đảo, làng nghề truyền thống; tăng cường năng lực thamgia của động đồng; tuyên truyền nâng cao nhận thức, hướng dẫn kỹ thuật; hỗtrợ trang thiết bị cơ bản cho cộng đồng, phát triển mô hình nghỉ tại nhà dân(homestay); tăng cường trách nhiệm kinh tế, chia sẻ lợi ích với cộng đồng; hỗtrợ xúc tiến quảng bá du lịch cộng đồng; hỗ trợ chuyển đổi nghề sang làm dulịch ở các vùng biển đảo
1.2.5.2 Điều kiện cầu
Thành phần khách cũng rất phong phú, bao gồm khách quốc tế vàkhách nội địa Họ có những đặc điểm khác nhau về nghề nghiệp, nơi ở, mụcđích, quan tâm đến các sản phẩm du lịch biển đảo cũng khác nhau… Từ đóhình thành nên những nhu cầu khác nhau về dịch vụ du lịch Vì vậy, chúng taphải xây dựng và hoàn thiện những sản phẩm du lịch biển đảo dựa trên cácyếu tố về nhu cầu, sở thích và khả năng thanh toán của khách du lịch
- Nhu cầu, sở thích của khách du lịch:
Trong những năm gần đây, du lịch biển đảo đã thu hút số lượng khách
du lịch rất lớn, chiếm tỉ trọng lớn trong ngành du lịch nói chung Nguyên nhânchính là do: nhu cầu sử dụng sản phẩm du lịch biển đảo của khách du lịch rấtcao, các khu du lịch biển đảo biển đảo cao cấp có sức hấp dẫn khách nghỉdưỡng theo mùa Các sản phẩm du lịch biển đào ngày càng phát triển, các khunghỉ dưỡng cao cấp được đầu tư nhiều dịch vụ phong phú, chất lượng vàmới lạ, các công trình vui chơi giải trí vùng ven biển được đầu tư lớn với cáckhu vui chơi giải trí đẳng cấp quốc tế với các trò chơi giả trí phù hợp với mọiđối tượng khách du lịch Đặc biệt các hoạt động văn hóa như lễ hội, làngnghề miền biển đảo mang một sắc màu đặc trưng riêng vô cùng phong phútạo nên sức hút lớn cho du khách
Trang 30Du lịch biển đảo thu hút khách du lịch quanh năm, đặc biệt vào mùa hè,các tháng 7, tháng 8, tháng 9 trong năm (mùa nghỉ đông của các nước Châu
Âu, nên khách du lịch thường đến những vùng biển nhiệt đới để tránh đông).Khách du lịch đến các vùng biển đảo theo nhiều loại hình du lịch: Du lịchnghỉ dưỡng biển đảo, du lịch thể thao biển đảo, du lịch lặn ngắm san hô, dulịch văn hóa vùng biển đảo, du lịch sinh thái biển đảo, du lịch tàu biển, du lịchnghiên cứu hệ sinh thái biển đảo… Bên cạnh đó, khách du lịch còn kết hợp đi
du lịch với đầu tư, kinh doanh và phát triển kinh tế tại các vùng ven biển…
- Khả năng thanh toán của khách du lịch:
Những sản phẩm du lịch biển đảo được đầu tư với sự đa dạng về loạihình, phong phú về hoạt động, chất lượng dịch vụ luôn hoàn thiện và đượcnâng cao… sẽ là những yếu tố quan trọng để tăng thời gian lưu trú của khách
du lịch cũng như tăng khả năng thanh toán của khách trong quá trình du lịchđến các vùng biển đảo
Khả năng thanh toán phụ thuộc vào từng đối tượng khách du lịch như:
độ tuổi, nghề nghiệp, giới tính và nguồn gốc của khách du lịch… Mỗi mộtkhách du lịch có nhu cầu chi tiêu khác nhau, nhưng đến các vùng biển đảo thìnhững sản phẩm được khách du lịch thường xuyên lựa chọn là những dịch vụcho nhu cầu nghỉ dưỡng biển đảo, vui chơi giải trí vùng biển đảo, những mặthàng lưu niệm từ biển đảo, những sản phẩm mang đặc trưng riêng của biểnđảo, đặc sản ẩm thực vùng biển đảo cũng là những sản phẩm thu hút khách dulịch chi tiêu nhiều nhất khi đến các vùng biển đảo
Trang 31tham gia vào các sản phẩm đó Vì vậy, những sản phẩm du lịch biển đảo đượcchia thành từng nhóm sản sản phẩm sau:
1.2.6.1 Du lịch nghỉ dưỡng biển đảo
Du lịch nghỉ dưỡng biển đảo là một sản phẩm du lịch được hình thànhdựa trên các tài nguyên du lịch và dịch vụ du lịch, hàng hóa và tiện nghi cungứng cho khách du lịch, nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch về nghĩdưỡng, tắm biển, vui chơi giải trí, tham quan… tại các vùng biển đảo
Du lịch nghỉ dưỡng biển đảo là những hoạt động tắm biển, nghỉ dưỡngnhằm khôi phục lại sức khỏe của con người, tận dụng bầu không khí tronglành, khí hậu dễ chịu và phong cảnh đẹp trên các bãi tắm đẹp, các hòn đảoxinh đẹp trên các vịnh biển… sẽ làm cho du khách cảm thấy thoải mái, thưgiãn và phục hồi sức khoẻ sau một thời gian làm việc căng thẳng Địa điểmyêu thích với du khách thường là nơi có khí hậu trong lành, mát mẻ, phongcảnh đẹp ven biển và trên đảo
Du lịch nghỉ dưỡng biển đảo là một trong những hoạt động phổ biếnrộng rãi trên các vùng có tài nguyên về biển đảo và cũng là một trong nhữngsản phẩm chủ đạo của du lịch biển đảo hiện nay
Để phục vụ cho du lịch nghỉ dưỡng biển đảo, cần phải có những khu nghỉdưỡng được đầu tư hoàn thiện, hệ thống bãi tắm được quy hoạch an toàn, cónhững bãi cát đẹp, bãi biển sạch, hệ thống tắm nước ngọt phục vụ khách du lịchsau khi tắm biển, cơ sở vật chất tiện nghi như: nơi thư giãn, nghỉ ngơi, ăn uống,vui chơi giải trí… đáp ứng và phục vụ nhu cầu khách du lịch
1.2.6.2 Du lịch văn hóa vùng biển đảo
Du lịch văn hóa biển đảo là một sản phẩm du lịch được hình thành dựatrên các tài nguyên du lịch và dịch vụ du lịch, hàng hóa và tiện nghi cung ứngcho khách du lịch, nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch về nhu cầu tìmhiểu, tham quan, vui chơi giải trí qua các hoạt động như: lễ hội, tìm hiểu các
Trang 32nền văn hóa, di tích lịch sử, ẩm thực, làng nghề, phong tục tập quán… tại cácvùng biển đảo.
Văn hóa vùng biển đảo được hiểu là hệ thống các giá trị do con ngườisáng tạo ra và tích lũy được trong quá trình tồn tại gắn bó với biển (bao gồmnhững di sản văn hóa hữu thể và di sản văn hóa phi vật thể) Văn hóa vùngbiển đảo phản ánh những giá trị được đúc rút từ các hoạt động sản xuất gắnliền với biển, có đóng góp quan trọng đối với kinh tế - xã hội, được truyền từđời này sang đời khác Từ đó tạo ra những sản phẩm du lịch để phục vụ chonhu cầu của khách du lịch có nhu cầu đến các vùng biển đảo
Văn hóa vùng biển đảo có vai trò đặc biệt quan trọng trong xây dựngthương hiệu và phát triển du lịch biển Những di tích lịch sử, công trình kiếntrúc, tập quán, nghi thức, lễ hội, cách thức ứng xử của cộng đồng, phong cách
ẩm thực, quy trình công nghệ làm nghề truyền thống là một trong nhữngnhiên liệu đầu vào quan trọng để tạo ra sản phẩm, dịch vụ du lịch biển.Trongbối cảnh hội nhập quốc tế, phát huy những giá trị tích cực của văn hóa vùngbiển đảo sẽ tạo những điểm nhấn, những dấu ấn đậm nét, những giá trị to lớnđối với việc xây dựng thương hiệu và phát triển du lịch biển Di sản văn hóavùng biển đảo tạo ra môi trường cho du lịch biển phát triển, là yếu tố quantrọng trong việc xác định quy mô, thể loại, chất lượng và hiệu quả hoạt độngkinh doanh du lịch vùng biển đảo nhất định Nó là nền tảng để du lịch biển tạo
ra những sản phẩm đặc trưng, độc đáo, hấp dẫn, quyến rũ đối với du khách
Dựa trên tính đa dạng, phong phú của các di tích và di sản, của nhữngnền văn minh xa xưa và của các dân tộc tạo ra sức hấp dẫn độc đáo trên cácvùng biển đảo và trên những mối quan tâm của khách du lịch có thể tạo ranhiều sản phẩm du lịch đa dạng phục vụ khách Những nền văn hoá khác nhauvùng ven biển thu hút các khách du lịch có khả năng chi tiêu Các sản phẩm
du lịch có thể được xây dựng quanh năm Các điểm di tích lịch sử biển đảo cóthể gắn trong các sản phẩm du lịch chuyên đề…
Trang 33Để phục vụ cho du lịch văn hóa vùng biển đảo, những địa phương venbiển đảo phải có những nền văn hóa lâu đời, những hoạt động văn hóa phongphú, và có những nét đặc trưng riêng để thu hút khách du lịch, những lễ hộimang đậm sắc màu miền biển đảo, những làng nghề truyền thống đặc trưngcủa biển đảo, những người dân hiền hòa, mến khách.… để đáp ứng và phục
vụ nhu cầu tham quan, tìm hiểu văn hóa của khách du lịch
1.2.6.3 Du lịch sinh thái biển đảo
Du lịch sinh thái biển đảo là sản phẩm du lịch dựa vào thiên nhiên vàvăn hoá bản địa vùng biển đảo gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho
nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồngđịa phương Du lịch sinh thái biển đảo là hoạt động nhằm thỏa mãn du khách
về tìm hiểu các hệ sinh thái tự nhiên và văn hóa bản địa vùng biển đảo Dulịch sinh thái biển đưa du khách đến tìm hiểu, tham quan những khu vực đảonúi, vịnh, vụng áng hoang sơ, các bãi biển, các vùng biển có dải san hô ngầm
quí hiếm Địa điểm tổ chức thường là vùng biển đảo tương đối hoang sơ, có
phong cảnh đẹp, văn hóa biển đảo bản địa gần như được bảo tồn nguyên vẹn:như các bãi biển, các vũng, vịnh, các đảo, các khu dự trữ sinh quyển…
1.2.6.4 Du lịch lặn biển ngắm san hô
Du lịch lặn biển ngắm san hô là một sản phẩm du lịch được hình thànhdựa trên các tài nguyên du lịch và dịch vụ du lịch, hàng hóa và tiện nghi cungứng cho khách du lịch, nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch về lặn ngắmsan hô, lặn biển, tắm biển, vui chơi giải trí, tham quan, học tập và khám pháđại dương… tại các vùng biển đảo
Du lịch lặn biển ngắm san hô là một trong những sản phẩm du lịch
“hạng sang” của loại hình du lịch biển đảo hiện nay Lặn ngắm san hô là dukhách được lựa chọn ở những vùng biển đảo thuận lợi, có mực nước sâu,trong xanh và rất sạch sẽ với môi trường biển đảo tốt để lặn biển khám phá
Trang 34đại dương và tận mắt ngắm những rạn san hô lộng lẫy, những hệ sinh vật biểnphong phú và đa dạng.
Du lịch lặn biển ngắm san hô có hai hoạt động chính là:
Ngắm san hô: khách du lịch tham gia loại hình này tại những khu vực vịnhbiển an toàn, độ sâu từ 1,0m đến 1,5m, có thể ngắm san hô qua phương tiện nhưtàu đáy kính, những phương tiện chuyên dụng, hoặc bơi ngắm san hô
ở những khu vực nước cạn, có những rạn san hô gần bờ biển
Lặn biển ngắm san hô: khách du lịch tham gia loại hình này cần phải cónhững trang thiết bị chuyên dụng (bình dưỡng khi, kính lặn, ống thở, trangphục…) để lặn sâu xuống lòng biển và khám phá đại dương với những rạnsan hô cùng hệ sinh vật biển phong phú
Để phục vụ cho du lịch lặn biển ngắm san hô, các vùng biển đảo cầnphải có những hệ thống biển đảo thuận lợi với những rạn san hô đa dạng, antoàn, hệ sinh vật biển phong phú… nơi có những vùng biển trong xanh, cơ sởvật chất kỹ thuật tiện nghi như: tàu, thuyền, trang thiết bị chuyên dụng, huấnluyện viên… đáp ứng và phục vụ nhu cầu ngắm san hô của khách du lịch
1.2.6.5 Du lịch thể thao biển đảo
Du lịch thể thao biển đảo là một sản phẩm du lịch được hình thành dựatrên các tài nguyên du lịch và dịch vụ du lịch, hàng hóa và tiện nghi cung ứngcho khách du lịch, nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch về nhu cầu thểthao trên biển, vui chơi giải trí như: bóng chuyền bãi biển, kéo dù, lướt ván,chèo thuyền kaya, vận động biển… tại các vùng biển đảo
Du lịch thể thao biển đảo có các hoạt động chính là:
Hoạt động thể thao giải trí trên biển liên quan đến các hoạt động thể thao
sử dụng nhiều nguồn nước khác nhau bờ biển, vịnh biển, đảo Vài môn thể thaobiển phổ biến nhất như là chèo thuyền, canoeing, câu cá, thuyền buồm, lặn vàlặn khí tài, lướt sóng và ván buồm Các hoạt động trên biển yêu cầu phải có các
Trang 35phương tiện là thuyền máy, ca nô, dù lượn, thuyền buồm và các vật dụng cầnthiết cho các dịch vụ giải trí khác,…
Hoạt động thể thao trên cạn tập trung vào khu vực bãi biển như cáchoạt động biển, bóng đá, bóng chuyển, đi bộ, chạy bộ, thả diều… và các hoạtđộng vui chơi giải trí
Hoạt động trong lòng biển như: bơi lặn, lặn với ống thở, lặn khí tài vàlướt sóng,… phải có những phương tiện hỗ trợ như bình oxy, trang phụclặn,thyền kaya, cô nô…
Du lịch thể thao biển đảo được xem là một hoạt động có lợi cho thểchất và tinh thần đó là thi đấu, giải trí hay vui vẻ và được sử dụng môi trườngbiển làm nền tảng, với mục đích phụ vụ cho khách du lịch, nhằm thỏa mãnnhu cầu tham gia một số môn thể thao của du khách, mà các môn thể thao đóchỉ có thể có ở các vùng biển đảo
Để phục vụ cho du lịch thể thao biển đảo, các vùng biển đảo cần phải
có những bãi biển đẹp, an toàn, mực nước biển phù hợp với các hoạt động thểthao… cơ sở vật chất kỹ thuật tiện nghi như: ca nô, dù bay, thuyền kaya, trangthiết bị chuyên dụng, huấn luyện viên, lực lượng cứu hộ… đáp ứng và phục
vụ nhu cầu thể thao biển đảo của khách du lịch
1.2.6.6 Các sản phẩm du lịch biển đảo khác
Bên cạnh các sản phẩm du lịch biển đảo trên, với nguồn tài nguyên dulịch biển đảo vô cùng phong phú, đa dạng còn tạo nên những sản phẩm dulịch biển đảo khác nhằm tạo ra sự đa dạng cho sản phẩm du lịch và đáp ứngnhu cầu của khách du lịch
Du lịch học tập nghiên cứu biển đảo là một hành trình kết hợp giữa họctập, nghiên cứu và du lịch tại vùng biển đảo của du khách Sản phẩm du lịchnày ngày càng phổ biến, do nhu cầu kết hợp lý luận và thực tiễn, học đi đôivới hành Đặc biệt là sinh viên thuộc các ngành địa lý, lịch sử, văn hóa,
Trang 36môi trường… được tổ chức đi nghiên cứu thực địa Địa điểm đến là nhữngnơi có đối tượng phù hợp với nội dung học tập như vườn quốc gia, khu dựtrữ sinh quyển, các di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội, làng nghề… tại nhữngkhu vực biển đảo.
Du lịch tàu biển là sản phẩm du lịch được dựa vào tàu du lịch hay tàu
du hành, dùng trên những chuyến du ngoạn, vừa để đưa khách đến nhữngthắng cảnh, và vừa để khách hưởng ngoạn các dịch vụ và tiện nghi trên tàu.Sản phẩm này phát triển ở những nới có những cảng biển lớn, đặc biệt có lợithế về bờ biển với nhiều di tích thiên nhiên, di sản văn hóa…
Tiểu kết
Chương 1 của luận văn đã tổng quan các vấn đề lý luận về sản phẩm dulịch, sản phẩm du lịch biển đảo, các điều kiện xây dựng sản phẩm du lịch biểnđảo tại một địa phương, các nhân tố tác động đến quá trình phát triển sảnphẩm du lịch và vai trò của các bên tham gia trong quá trình phát triển sảnphẩm du lịch… Để có được các sản phẩm du lịch biển đảo tốt, đáp ứng đượcnhu cầu đa dạng của khách du lịch thì bên cạnh yếu tố tài nguyên du lịch tốt,cần phải có các yếu tố khác bổ sung để khai thác, đầu tư và phát triển hiệuquả sản phẩm du lịch biển đảo đó Đây cũng chính là cơ sở lý luận để tác giảvận dụng vào nghiên cứu các điều kiện thực tế về sản phẩm du lịch biển đảogóp phần tạo ra sản phẩm đặc trưng và thu hút khách du lịch trong thời giantới của tỉnh Quảng Nam tại chương 2
Trang 37Chương 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG SẢN PHẨM DU LỊCH BIỂN ĐẢO
ưu thế về bề dày lịch sử, văn hóa, con người, danh thắng Bên cạnh đo,Quảng Nam có nhiều điều kiện kinh tế thuận lợi trong quan hệ và giao lưukinh tế với các địa phương trong cả nước cũng như với các nước láng giềng.Hơn thế nữa, Quảng Nam còn là một trong số rất ít địa phương trong cả nước
có sân bay, cảng biển, đường sắt và quốc lộ, đồng thời là nơi triển khai môhình Khu kinh tế mở đầu tiên trong cả nước với những chính sách ưu đãi đầu
tư hấp dẫn… đã tạo cho Quảng Nam tiềm năng lớn để phát triển du lịch
Với lợi thế về địa hình và những điều kiện tự nhiên, Quảng Nam có tàinguyên du lịch phong phú gồm cả tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên
du lịch văn hóa Đây là cơ sở hình thành và xây dựng nhiều sản phẩm du lịchbiển đảo phong phú đáp ứng ngày càng đa dạng các nhu cầu của khách hàng
Quảng Nam có 2 di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận, đó
là phố cổ Hội An (Thành phố Hội An) và khu Di tích Mỹ Sơn (huyện DuyXuyên) với những giá trị văn hóa tiêu biểu của nhân loại Bên cạnh đó, trên
Trang 38260 di tích văn hóa, lịch sử cách mạng, trong đó có 15 di tích xếp hạng quốcgia Bên cạnh đó, còn có kinh đô cổ Trà Kiệu, các tháp chàm Khương Mỹ,Chiên Đàn, Bàng An, Phật viện Đồng Dương là những di tích ghi lại dấu ấnrực rỡ của nền văn hóa Sa Huỳnh, Chămpa, Đại Việt…
Thiên nhiên còn ưu đãi và hào phóng dành cho Quảng Nam những tàinguyên tự nhiên, tài nguyên biển đảo vô cùng quý giá Đó là 125 km bờ biểnkéo dài từ Điện Ngọc (huyện Điện Bàn) đến Núi Thành (giáp vịnh DungQuất) hoang sơ và sạch đẹp cùng với Hồ Phú Ninh, thủy điện Duy Sơn, khurừng nguyên sinh phía Tây Quảng Nam, sông Trường Giang…
Bên cạnh đó, còn có quần đảo Cù Lao Chàm (thuộc Thành phố Hội An)được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới vào tháng5/2009 Ngoài ra còn có 15 hòn đảo lớn nhỏ ngoài khơi, cùng 10 hồ nước (với6.000 ha mặt nước, khoảng 11.000 ha rừng xung quanh khu vực hồ và 40 đảotrong các hồ) trở thành điểm du lịch sinh thái lý tưởng là một trong nhữngtiềm năng lớn để phát triển du lịch Quảng Nam
Ven biển Duy Hải – Tam Tiến và ven sông Trường Giang, biển Rạng,ven biển Điện Ngọc – Cẩm An và ven sông Cổ Cò Khu du lịch này là điểmnối tiếp giữa hai trung tâm du lịch Hội An và Đà Nẵng có diện tích 1.800ha,Khu Kinh tế mở Chu Lai gần khu công nghiệp Dung Quất cũng được biết đếnvới những thắng cảnh Bàn Than, biển Rạng thích hợp với những loại hìnhtắm biển, lướt ván, câu cá Ngoài ra, đến Tam Kỳ còn có Hồ Phú Ninh làmột danh thắng có cảnh quan hiền hòa, hệ động thực vật phong phú, có nguồnnước khoáng có thể khai thác dịch vụ tắm nước nóng hiệu quả
Quảng Nam là một trong những tỉnh, thành có chiều dài bờ biển lớnnhất ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, với nhiều bãi tắm sạch đẹp và thơmộng nằm ở khu vực Điện Bàn, Hội An, Tam Kỳ, Núi Thành không bị ônhiễm, độ dốc ít, cát mịn và độ mặn vừa phải, nước biển xanh và khí hậu biểnrất lý tưởng cho việc phát triển các loại hình du lịch nghỉ dưỡng
Trang 39Giá trị văn hóa của Quảng Nam không chỉ tỏa sáng từ những công trìnhkiến trúc cổ mà còn được tạo nên bởi những sắc màu văn hóa độc đáo ẩnchứa trong các phong tục, tập quán, lễ hội của các dân tộc sinh sống trên quêhương nặng nghĩa tình này với nhiều loại hình hoạt động văn hóa như háttuồng, hát đối, hô bài chòi, dân ca, hát hò khoan… và các quần thể kiến trúckhác đã tạo nên những điểm thu hút khách du lịch đến tham quan, tìm hiểu.
Cùng với những tài nguyên và di sản đó, Quảng Nam còn có nhiều làngnghề sản xuất hoa màu, thủ công mỹ nghệ truyền thống cùng những vùngđồng ruộng, sông nước vẫn giữ nguyên nét điển hình của làng quê Việt Nam,hội đủ các yếu tố phát triển du lịch đồng quê, du lịch làng nghề, làm đa dạngcác loại hình du lịch, tạo thêm sức hấp dẫn đối với du khách
Ngoài ra, tinh hoa văn hóa của cộng đồng các dân tộc anh em: Kinh,Hoa, Cơ Tu, Xê Đăng, Giẻ Triêng, Cor cũng góp phần tạo nên sự đa dạng,phong phú và hấp dẫn của du lịch Quảng Nam
Các yếu tố tự nhiên kết hợp với các di sản văn hóa, truyền thống lịch sửcủa Quảng Nam là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, tạo điều kiện thuận lợicho việc phát triển mạnh ngành du lịch, đặc biệt là các sản phẩm du lịch biểnđảo đặc trưng của vùng
Với nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng này đã mang đến cho QuảngNam những điều kiện thuận lợi để thu hút khách du lịch Mặc dù tình hình chung
về kinh tế xã hội còn khó khăn nhưng kinh doanh du lịch Quảng Nam đạt kếtquả tích cực, tốc độ tăng lượng khách và doanh thu du lịch khá cao Trong năm
2013, tổng lượt khách tham quan đến Quảng Nam ước đạt 3,4 triệu (tăng 20,64
% so với cùng kỳ năm 2012), trong đó khách quốc tế ước đạt 1,65 triệu lượtkhách (tăng 19,19 % so với cùng kỳ năm 2012), khách nội địa ước đạt 1,75 triệulượt khách (tăng 22,04 % so với năm 2012); tổng doanh thu du lịch ước đạt1.800 tỷ đồng, thu nhập xã hội từ du lịch ước đạt 4.230 tỷ
Trang 40đồng Đó là những kết quả rất khả quan về sự phát triển du lịch Quảng Nam
và ngày càng tương xứng với tiềm năng du lịch của tỉnh
Trong những năm qua, du lịch Quảng Nam đã có bước tăng trưởng khánhanh và ổn định Ngoài phát huy thế mạnh du lịch với 2 di sản văn hóa thếgiới, trong năm qua, ngành du lịch Quảng Nam thường xuyên đẩy mạnh côngtác quảng bá và liên kết du lịch, mở thêm nhiều tuyến, điểm du lịch mới nhằm
đa dạng hóa sản phẩm du lịch như: tour du lịch biển, tổ chức đoàn tham quantìm hiểu (Fam trip), nghề truyền thống và các lễ hội đêm rằm phố cổ, liênhoan cồng chiêng Nam Giang Chính những hoạt động văn hóa, nghệ thuậttruyền thống này đã làm cho số khách du lịch tới Quảng Nam không ngừngtăng lên qua các năm
Nếu năm 2011 có 2,532 triệu lượt khách tham quan và lưu trú tạiQuảng Nam, với tổng doanh thu là 1.500 tỷ đồng Thì trong năm 2012, QuảngNam đón trên 2,8 triệu lượt khách du lịch, tăng 10,7% so với năm 2011, thunhập xã hội từ du lịch đạt trên 3,5 nghìn tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng thu nhập
du lịch bình quân gần 30%/năm trong thời kỳ 2008- 2012, đóng góp khoảng10% vào GDP của toàn tỉnh Trong 6 tháng đầu năm 2013, Quảng Nam đónhơn 1,6 triệu lượt khách du lịch, tăng 19, 58% so với cùng kỳ, thu nhập từ dulịch đạt 1.859 tỷ đồng, tăng 27.84% so với cùng kỳ năm trước
Bảng 2.1: Số lượng khách và doanh thu của du lịch Quảng Nam từ năm
2011 – 2013
Đơn vị tính: triệu người & tỷ đồng
Năm
Số lượt kháchDoanh thu
(Nguồn: Sở VHTT & DL Quảng Nam)