Sách giáokhoa địa lý Hán văn trong trường tư Đông Kinh Nghĩa Thục do các chí sĩyêu nước đã được viết ra theo tinh thần đó.Như vậy, nghiên cứu sách địa lý Hán văn trong chương trình cảilư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -VŨ THANH BẰNG
NGHIÊN CỨU SÁCH GIÁO KHOA HÁN VĂN ĐỊA
LÝ TRONG CHƯƠNG TRÌNH CẢI LƯƠNG GIÁO DỤC CHỮ HÁN 1906
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÁN NÔM
HÀ NỘI – 2011
1
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lí do chọn đề tài 4
2 Mục đích và ý nghĩa của đề tài 5
3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Kết cấu của luận văn 7
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ SÁCH GIÁO KHOA HÁN VĂN ĐỊA LÝ TRONG CHƯƠNG TRÌNH CẢI LƯƠNG GIÁO DỤC CHỮ HÁN NĂM 1906 10
1.1 Khái quát về cải lương giáo dục khoa cử năm 1906 10
1.1.1 Nội dung giáo dục các bậc học 11
1.1.2 Cải đổi về chương trình thi 16
1.2 Danh mục sách giáo khoa Hán văn địa lý trong kho sách Hán Nôm qua Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu 23
1.3 Nhận xét về danh mục sách giáo khoa Hán văn địa lý cho chương trình cải lương khoa cử chữ Hán (1906) 31
1.3.1 Sách Hán văn địa lý qua đặc trưng số lượng in / chép tay 31
1.3.2 Sách Hán văn địa lý qua niên đại 32
1.3.3 Về tác giả của sách Hán văn địa lý 32
1.3.4 Tính phân loại của các sách giáo khoa Hán văn địa lý 33
1.3.5 Sự cần thiết của địa lý thế giới 36
1.3.6 Yêu nước mình phải học địa dư nước mình 37
1.3.7 Sách giáo khoa Hán văn địa lý điểm nhấn của giáo dục Hán văn đầu thế kỷ XX 38
Tiểu kết chương 1 41
Trang 3CHƯƠNG 2
SÁCH GIÁO KHOA HÁN VĂN ĐỊA LÝ CẢI LƯƠNG (1906) TRƯỜNG HỢP
ĐỊA HỌC NGUYÊN THỦY 地地地地 VÀ NAM QUỐC ĐỊA DƯ 地地地地 42
2.1 Trường hợp Địa học nguyên thủy 地地地地 42
2.1.1 Văn bản và kết cấu của sách Địa học nguyên thủy 地地地地 42
2.1.2 Niên đại và tác giả của sách Địa học nguyên thủy 地地地地 49
2.1.3 Hệ vấn đề nội dung của Địa học nguyên thủy 地地地地 53
2.1.4 Địa học nguyên thủy 地地地地 - giá trị tư liệu 72
2.2 Trường hợp Nam quốc địa dư 地地地地 - Hán văn địa lý canh tân yêu nước 76
2.2.1 Tác giả Lương Trúc Đàm (1879 – 1908) 76
2.2.2 Văn bản và kết cấu của Nam quốc địa dư 地地地地 77
2.2.3 Nam quốc địa dư 地地地地 - bộ địa lý nước Nam cận đại 83
2.2.4 Nam quốc địa dư 地地地地 - giá trị lịch sử và tư liệu 91
Tiểu kết chương 2 93
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC .98
3
Trang 4Giáo dục khoa cử chữ Hán vào năm 1906 được cải lương theo hướnggiáo dục phổ thông Trong sự cải lương đó, chữ Hán được dùng như mộtcông cụ ngôn ngữ văn tự có tính chất quá độ vừa làm công cụ truyền tải cáctri thức theo yêu cầu mới với nhiều môn học, môn thi, nội dung thi hoàntoàn khác với khoa cử truyền thống, trong đó có môn Địa lý, vừa để đi đếnloại bỏ khoa cử chữ Hán bằng khoa thi Tiến sĩ cuối cùng, khoa Kỷ Mùi,
1919 tại kinh thành Huế
Hán văn địa lý của chương trình cải lương giáo dục khoa cử (1906)
là một trong những điểm tiêu biểu cho sự khác biệt với Hán văn cử nghiệptrước đó Hán văn địa lý là Hán văn trong địa lý Việt Nam, địa lý khu vực,địa lý thế giới Quả là một môn học khác hoàn toàn với khoa cử truyềnthống Đó là một môn học cho người học đến những nơi thật xa xôi vớingười Việt Nam như các nước Thái Tây, châu Âu, châu Mỹ, châu Úc vàgần ta hơn cả là châu Á Năm châu bốn biển vốn là những gì xa lạ với sĩ tửhôm qua Trong buổi thiên diễn mưa Âu gió Mỹ, ưu thắng liệt bại, sự mởtầm mắt cho những người thức tự về thế giới qua những bài học bằng chữHán đã làm cho chữ Hán, Hán văn nhiều nét mới Những điểm đó của đờisống chữ Hán và Hán văn trong những ngày cuối của khoa cử cần phảiđược đề cập đến, cần phải được nghiên cứu đến trong tiến trình Hán vănViệt Nam
Trang 5Sách Hán văn địa lý giai đoạn này còn có một điểm thú vị nữa là nócũng là một công cụ cho nhiệm vụ khai dân trí, chấn dân khí, thực dân tàicủa một lớp nhà Nho duy tân yêu nước Qua sách địa lý nhất là địa lý ViệtNam để tuyên truyền, vận động lòng yêu nước, giáo dục lòng yêu nước củanhững người “cùng trong một nước”, “cùng con Lạc cháu Hồng”, khơi dậylòng yêu nước, để “Xúm vai vào xốc vác cựu giang sơn” “Xối máu nóngrửa vết nhơ nô lệ” trong một cuộc tân vận hội [Phan Bội Châu] Sách giáokhoa địa lý Hán văn trong trường tư Đông Kinh Nghĩa Thục do các chí sĩyêu nước đã được viết ra theo tinh thần đó.
Như vậy, nghiên cứu sách địa lý Hán văn trong chương trình cảilương giáo dục 1906, một mặt giúp chúng ta tìm hiểu một loạt các vấn đềliên quan đến giáo dục, văn hóa, xã hội của Việt Nam những thập niên cuốithế kỉ XIX đầu thế kỉ XX; mặt khác nó giúp chúng ta hiểu được sự mở rộngchức năng, phong cách của chữ Hán và Hán văn trong giáo dục
Vì những lý do trên, chúng tôi đã chọn vấn đề: Nghiên cứu sách giáo khoa Hán văn địa lý trong chương trình cải lương giáo dục chữ Hán 1906
làm đề tài cho luận văn Thạc sĩ Hán Nôm của mình
2 Mục đích và ý nghĩa của đề tài.
Đề tài có mục đích tìm hiểu hệ thống sách giáo khoa địa lý Hán văncủa chương trình cải lương giáo dục khoa cử chữ Hán (1906), lập danhmục, phân loại các sách giáo khoa Địa lý Hán văn trong chương trình giáodục cải lương hiện còn được lưu trữ ở Thư viện viện Nghiên cứu Hán Nôm
thông qua bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam, Thư mục đề yếu (3 tập), GS Trần
Nghĩa và GS.Francois Gros đồng chủ biên, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội,
1993, qua đó nhằm làm sáng tỏ đời sống Hán văn ở lĩnh vực các sách địa lýtrong phạm vi thời gian của chương trình cải lương giáo dục khoa cử 1906
Sự phân loại đó sẽ là cơ sở để chúng tôi đi sâu nghiên cứu các trường
hợp cụ thể là hai cuốn Địa học nguyên thủy 地地地地 và Nam quốc địa dư 地地
地地 như là những nghiên cứu trường hợp, nghiên cứu minh
chứng cho cả một xu thế chung
5
Trang 63 Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
Sách địa lý ở Việt Nam ra đời từ rất sớm như Dư địa chí 地地地 của
Nguyễn Trãi, Thiên hạ bản đồ 地地地地 … do nhiều lý do của lịch
sử nên chúng tuy có tính pháp định, quyền uy nhà nước nhưng không phải
là môn học, môn thi của chương trình giáo dục khoa cử Sang cuối thế kỉXIX đầu thế kỉ XX, chương trình cải lương giáo dục khoa cử mới chínhthức đưa môn Địa lý vào trường học trở thành môn học, môn thi bắt buộc
Đó là một trong những biểu hiện đánh dấu bước phát triển của môn Địa lýViệt Nam chuyển từ truyền thống sang hiện đại
Những vấn đề của cải lương giáo dục khoa cử nói chung đã được rấtnhiều tác giả đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau [Dương Kinh Quốc,2006]; [Vũ Ngọc Khánh, 1985, tr.168]; [Phan Trọng Báu, 2008, Tr11 - 28]
và nhiều tác giả khác nữa Tuy vậy, do bị giới hạn trong nhiệm vụ viết lịch
sử giáo dục nên ở các công trình của các tác giả đó hoặc chỉ liệt kê các sáchgiáo khoa dạy chữ Hán giai đoạn đầu thế kỉ XX cùng vài tên sách giáo khoachữ Hán của giai đoạn cải lương giáo dục 1906, mà không đề cập đến vấn
đề sách dạy học môn Địa lý, càng không thể đi vào vấn đề Hán văn địa lýcủa giai đoạn này như lập danh mục Hán văn địa lý, phân tích danh mụchay đi vào những nghiên cứu trường hợp cụ thể
Trong lời tựa cuốn Đồng Khánh dư địa chí 地地地地地, một tác phẩmđược coi là “tập đại thành địa lý học Việt Nam cuối thế kỉ XIX” các dịchgiả trong lời dẫn đã khái quát hệ thống sách địa lý của Việt Nam và tìnhhình biên soạn mà không nhắc đến các sách giáo khoa Hán văn địa lý củachương trình cải lương giáo dục 1906
Trong công trình Đất nước Việt Nam qua các đời, Đào Duy Anh đã khái quát hệ thống sách địa lý học lịch sử Việt Nam như: Đại Việt sử kí toàn thư 地地地地地地; Khâm Định Việt sử thông giám Cương mục 地地地地地地地 地; Đại Nam nhất thống chí 地地地地地; Đại Việt địa dư toàn biên 地地地地地地;
Việt sử cương giám khảo lược 地地地地地地… cũng có liệt kê tên các sách Nam quốc địa dư chí 地地地地地,
Trang 7Tân đính Nam quốc địa dư giáo khoa 地地地地地地地地 của Lương
Trúc Đàm với đánh giá: “tuồng như là sách tóm tắt cho các thí sinh thiHương dùng cho tiện (…)” [Đào Duy Anh, 2005, Tr12]
Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào đề cập mộtcách cụ thể, toàn diện và có hệ thống về sách giáo khoa Hán văn địa lýtrong chương trình cải lương giáo dục khoa cử chữ Hán 1906 Điều nàythiết nghĩ có nhiều nguyên nhân: địa lý một khoa học cũ nhưng lại là mônhọc vô cùng mới mẻ trong trường học cải lương nên chưa được quan tâmthích đáng, số lượng sách đã mất mát nhiều Vì thế, đây là một hướngnghiên cứu mới ngỏ cho chúng tôi
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn này là:
- Hệ thống sách địa lý Hán văn trong chương trình cải lương giáodục chữ Hán (1906) hiện lưu trữ ở thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm
thông qua cuốn Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu, Nxb Khoa
học Xã hội, H, 1993
- Văn bản Địa học nguyên thủy 地地地地 kí hiệu VHv.165.
- Văn bản Nam quốc địa dư 地地地地 kí hiệu VHv.173.
Trong luận văn của mình, chúng tôi có sử dụng một số cuốn sách ghi
về cương vực biển đảo khẳng định chủ quyền trên biển Đông của ViệtNam Tuy nhiên do giới hạn của một luận văn Thạc sĩ nên vấn đề cươngvực biển đảo sẽ là hướng mở cho chúng tôi vào dịp khác
5 Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn được thực hiện dưới góc nhìn của các phương pháp và thaotác Ngữ văn Hán Nôm, Văn bản học Hán Nôm và chủ nghĩa duy vật lịchsử
6 Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, Luận văn của chúng tôi
Trang 8khoa cử của Pháp năm 1906, chúng tôi sẽ lập danh mục các sách địa lýtrong chương trình cải lương giáo dục khoa cử hiện đ a n g c ò n đ ư ợ c l ư
cuốn Nam quốc địa dư 地地地地 của trường Đông Kinh Nghĩa - đại diện cho
sách Hán văn địa lý yêu nước Qua đó làm rõ sự khác biệt và ý nghĩa lịch
sử xã hội của hai khuynh hướng giáo dục trong cùng giai đoạn cải lươnggiáo dục 1906
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ SÁCH GIÁO KHOA HÁN VĂN ĐỊA LÝ
TRONG CHƯƠNG TRÌNH CẢI LƯƠNG GIÁO DỤC CHỮ HÁN NĂM 1906
Địa lý là môn học hoàn toàn mới trong chương trình cải lương giáodục chữ Hán 1906 Để có cái nhìn tổng quan về sách giáo khoa Hán văn địa
lý trong chương trình cải lương giáo dục chữ Hán (1906) cũng như qua đó
có thể thấy được môn Địa lý được giảng dạy và học như thế nào, trước tiênchúng ta phải có cái nhìn chung về cải lương giáo dục khoa cử năm 1906
1.1 Khái quát về cải lương giáo dục khoa cử năm 1906
Cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp về cơ bản đã đặt xong nền đô hộ trêntoàn lãnh thổ Việt Nam Tuy vậy ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ vẫn tồntại ba chế độ giáo dục khác nhau, gây nhiều khó khăn cho thực dân Pháptrong quản lí và chỉ đạo Âm mưu xác lập nền giáo dục thực dân ở ViệtNam, loại bỏ chữ Nho và văn hóa Hán học ra khỏi nhân dân ta, đào tạo độingũ tay sai phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp vẫn gặp nhiềutrở ngại Trước tình hình đó, Pháp buộc phải cải cách giáo dục nhằm hòanhập nền giáo dục phong kiến cũ và giáo dục tư sản thực dân
Những năm đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp thi hành một loạt cácchính sách trong giáo dục: thiết lập Hội đồng hoàn thiện nền giáo dục bản
xứ (Consiel de Perfectionnement de I‟Enseigement indigène), thành lập Cảilương học vụ hội đồng, thiết lập chương trình giáo dục Pháp – Việt ở TrungKỳ… trong đó đặc biệt phải kể đến chương trình cải lương giáo dục khoa
cử của Pháp (lần 1 năm 1906 và lần 2 năm 1917)
Khái niệm cải lương giáo dục chữ Hán chỉ thực sự được hình thànhtrên cơ sở của Đạo dụ ngày 31/05/1906 giữa Nam triều và chính quyềnthực dân Pháp Đạo dụ cho phép thành lập Cải lương học vụ Hội đồng ấnđịnh về phép học chữ Hán Cùng ngày, Đạo dụ về việc cải cách thi Hương,thi Hội, đưa chữ Pháp vào chương trình thi do vua Thành Thái ban ra thay
Trang 11đổi phép thi Như vậy, Cải lương giáo dục khoa cử gắn với một loạt cácthay đổi trong giáo dục như: hệ thống trường học, cấp học, môn học, mônthi, kỳ thi, đề thi, bằng cấp… nhằm vào mục tiêu đào tạo con người củathực dân Pháp Khi đó, trên lãnh thổ Việt Nam tồn tại hai hệ thống giáo dục
cơ bản Đó là hệ thống giáo dục khoa cử cải lương và hệ thống giáo dụcPháp – Việt
So với nền giáo dục Pháp – Việt thì hệ thống giáo dục khoa cử cảilương khác nhau về mục tiêu, đối tượng, phương pháp, chương trình, bằngcấp và xu hướng phát triển
Hệ thống giáo dục Pháp – Việt áp dụng nền giáo dục hiện đại, lấykhoa học thường thức làm hệ kiến thức, dạy bằng Quốc ngữ và tiếng Pháp.Nền giáo dục ấy chia làm 2 loại: giáo dục phổ thông và giáo dục chuyênnghiệp Hệ thống trường chữ Hán được cải lương từ giáo dục khoa cử, nềntảng là hệ thống trường thiên thành trước đó thành hệ thống trường chínhquy dưới sự quản lý của thực dân Pháp, kết hợp giữa kiến thức khoa họcphổ thông với kinh điển; dạy bằng chữ Hán, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp,trong đó chữ Hán là trọng tâm [Đoàn Huy Oánh, 2004, tr.444]
Chương trình cải lương giáo dục khoa cử hướng đến giáo dục phổthông, trong đó, chủ yếu dùng chữ Hán là ngôn ngữ truyền tải các tri thứcphổ thông hiện đại thể hiện ở một loạt các phương diện: cấp học, phép thi
và hệ thống sách giáo khoa
1.1.1 Nội dung giáo dục các bậc học
Chương trình cải lương giáo dục khoa cử năm 1906 chia trường họcchữ Nho và gộp những người đang theo học chữ Nho của giáo dục khoa cửthành 3 bậc: Ấu học (Sơ cấp), Tiểu học (Đệ nhị cấp) và Trung học (Đệ tamcấp) với nội dung như sau:
1.1.1.1 Bậc Ấu học
Bậc Ấu học do xã thôn thiết lập dạy trẻ em, bao gồm cả nam và nữ
có độ tuổi từ 6 đến 12 tuổi
11
Trang 12- Các xã thôn được phép tuyển chọn thầy giáo cho trường nhưng phải được sự phê chuẩn của chính quyền.
- Việc kiểm sát trường Ấu học ở hương thôn do các giáo thụ, huấn đạo ở phủ huyện đảm nhiệm
- Ở tỉnh lỵ cũng thiết lập các trường Ấu học theo đúng quy thức chuẩn Kinh phí do tỉnh chu cấp
- Giáo quy của trường Ấu học gồm có 2 loại: giáo quy Hán tự và
giáo quy Nam âm Giáo quy Hán tự chuyên dạy các môn chữ Hán về các lĩnh vực chính trị, luân lý, địa lý Giáo quy Nam âm dạy chữ Quốc ngữ với các độc bản thuộc phạm trù: phong tục, chính trị, luân lý, thiên văn, địa lý
Chương trình thi Tuyển sinh gồm có: Thi viết và thi vấn đáp Thiviết: chính tả kiêm tập viết (bằng Quốc ngữ), toán: 4 phép toán và đolường, bài thi tự chọn: dịch Hán – Quốc ngữ Thi vấn đáp: tập đọc vềphong tục, luân lý hoặc cách trí, toán, đọc và dich Hán – Việt, đọc tiếngPháp (tự chọn) [Phan Trọng Báu, 2004, Tr.13]
1.1.1.2 Bậc Tiểu học
Trường Tiểu học được mở ở các phủ, huyện (còn có tên gọi là trườngGiáo thụ, Huấn đạo), thu nhận những người dưới 27 tuổi
Giáo quy của trường Tiểu học thường có hai loại: một là giáo quy
Hán tự, hai là giáo quy Nam âm Giáo quy Hán tự dạy chữ Hán thuộc các môn: Luân lý, Văn chương, Bắc sử, Nam sử, Địa lý Giáo quy Nam âm
dạy các bài độc bản về: lịch sử thế giới trong đó học kĩ về lịch sử Pháp,
công cuộc bảo hộ của Pháp ở Đông Dương, Địa lý, Cách trí, Toán học và
Trang 13dạy thêm cả Tiếng Pháp Trong trường hợp giáo quy Nam âm không kiêmnhiệm được môn Tiếng Pháp thì sẽ nhờ sự giúp đỡ của các giáo quy trườngPháp – Việt.
Quan đốc học chịu trách nhiệm quản lý các trường Tiểu học, tiếnhành tố chức thi tốt nghiệp Tiểu học, thí sinh thi đỗ được cấp bằng Khóasinh
Như vậy, chương trình dạy của bậc Tiểu học bao gồm các môn của 3
thứ chữ Chữ Quốc ngữ chiếm nhiều giờ hơn 15 giờ 30 mỗi tuần Chữ Hán
chiếm vị trí quan trọng sau chữ Quốc ngữ với 10 giờ, ngoài các môn học
mới như: địa dƣ, chính trị, luật lệ … chương trình Hán học còn khá nặng
vì vẫn tiếp tục học Tứ Thư (đã san định lại) Chữ Pháp tuy ở vị trí sau cùngnhưng thực chất cũng chiếm đến gần 10 giờ mỗi tuần, chủ yếu tập trungvào hai môn chính: tập đọc, tập làm văn (5 giờ 45) tập đối thoại (3 giờ 35)
Thi Khóa sinh thí sinh trải qua 2 vòng thi: thi viết và thi vấn đáp Thiviết quốc ngữ: một bài luận và 2 bài toán; chữ Hán: 1 bài dịch Pháp văn –
Hán văn, 1 bài dịch Hán văn – Pháp văn và 1 bài chính tả Thi vấn đáp quốc ngữ: trả lời câu hỏi về các môn cách trí hoặc vệ sinh, địa lý, lịch sử,
hành chính; chữ Hán đọc dịch một bài Hán văn ra Pháp văn; Chữ Pháp: đọc
và trả lời những câu hỏi của thầy giáo về các nhân vật hoặc các mối quan
Giáo quy trường Trung học chia thành 2 loại: giáo quy Hán tự và
giáo quy Nam âm kiêm Pháp văn Giáo quy Hán tự dạy văn bản chữ Hán
tương đối cao hơn, và các thể thức văn bản Giáo quy Quốc ngữ dạy lịch
sử, địa lý, cách trí, toán pháp, làm văn Môn tiếng Pháp dạy Pháp văn tự
thoại sơ đẳng Học xong bậc Trung học, học sinh trải qua kỳ thi tốt nghiệp
13
Trang 14với môn viết và môn vấn đáp nhưng yêu cầu cao hơn Thi đỗ lấy bằng Thísinh, được miễn sưu dịch 1 năm và được tiếp tục đi thi Hương Năm 1906
cả nước mới có 26 trường trung học [GS Phan Ngọc Liên, 2006]
Như vậy, thực dân Pháp đã tiến hành cải cách giáo dục nhằm dần hòanhập giáo dục phong kiến khoa cử và giáo dục tư sản, dần dà đưa tiếngPháp chính thức vào các trường Hán học cải lương
Khái quát chương trình ở các cấp học chúng tôi rút gọn trong bảngsau:
Trang 15Cấp học Đơn vị Quản lí
Trang 16Bảng 1.1 Bảng các cấp học trong chương trình cải lương giáo dục năm 1906
15
Trang 17Từ bảng trên cho thấy, chương trình cải lương giáo dục khoa cử(1906) có sự khác biệt rất nhiều so với chương trình khoa cử trước đấy Cụthể đã có giới hạn độ tuổi học ở mỗi cấp (quy định người học từ 6 đến 12tuổi đối với Ấu học, dưới 27 tuối đối với Tiểu học và dưới 30 tuổi đối vớiTrung học); có nhiều môn học, môn thi hoàn toàn mới như Vệ sinh, Luân lí,
Cách trí… và đặc biệt phải kể đến là môn Địa lý – Thiên văn.
Vấn đề học môn Địa lý được quy định
- Về cấp học: môn Địa lý được học ở cả 3 cấp học Ấu học, Tiểu học
1.1.2 Cải đổi về chương trình thi
Trong chương trình cải lương giáo dục khoa cử, thực dân Pháp đãtiến hành các cải đổi về phép thi Hương, thi Hội, thi Đình với các nội dungquy định độ tuổi người thi, môn thi, nội dung thi, ngôn ngữ văn tự, cáchchấm và tính điểm
1.1.2.1 Cải đổi phép thi Hương
Đồng thời với cải lương giáo dục ở hệ thống bậc học, thực dân Pháptiến hành cải đổi phép thi Ở kỳ thi Hương, Đạo dụ về việc cải đổi phép thiHương, thi Hội được ban hành ngày 31 tháng 5 năm Thành Thái thứ 18
16
Trang 18(1906) những thay đổi ở nội dung thi, môn thi được đặc biệt chú ý Ta có thể thấy qua bảng sau:
STT 1 2
2 3 4
Bảng 1.3 Bảng chương trình thi Hương trường thi Hà Nam năm 1906
Trang 19Các trường thi quy định các thí sinh dưới 50 tuổi mới có quyền ứngthí Ngoại trừ các trường hợp đặc biệt như: tú tài, tôn ấm, những ngườiđược miễn khảo hạch theo lệ.
Có thể nhìn thấy sự thay đổi nội dung thi của giáo dục cải lương
1906 qua nội dung thi Hương ở trường thi Hà Nam qua các khoa thi nhưsau:
18
Trang 2119
Trang 22Qua bảng trên, chúng ta thấy rằng nội dung thi đã được chuyển dịch
từ kinh nghĩa dần sang các môn khoa học thường thức; tiếng Pháp đượcchính thức đưa vào chương trình thi Thí sinh phải học tốt cả: Hán văn,Quốc ngữ và Pháp văn mới có khả năng thi đỗ
Địa lý cũng trở thành môn thi chính thức ở cả 3 năm 1909, 1912, 1915: năm 1909 Địa lý được xếp thi ở trường thứ nhất, sau đó được chuyển
sang trường thứ hai vào các năm 1912 và 1915
Ngoài ra, việc cải đổi phép thi còn liên quan đến vấn đề chấm thi,cách cộng điểm ưu tiên; các quy định về giám sát phòng thi, chi phí quantrường
1.1.2.2 Cải đổi phép thi Hội và thi Đình
Năm Duy Tân năm thứ 14, khoa thi Hội năm Canh Tuất (1910) Mọiviệc chuyển từ Bộ Lễ sang cho Bộ Học cai quản, lo liệu Các bài thi chữNho đều bắt buộc dùng kim văn Các môn: Toán pháp, Sử Thái Tây, Cách
trí, Địa lý, Nhân vật, môn dịch Quốc ngữ, dịch Pháp văn, dịch chữ Hán …
trở thành tất yếu Điều này yêu cầu các sĩ tử bên cạnh kiến thức về: kinhtruyện, Nam Bắc sử, nắm vững các thể loại văn bản; từ, trát, chiếu biểu …còn phải bổ sung các kiến thức khoa học phổ thông
Có thể thấy sự cải lương chương trình thi Hội và thi Đình trong giaiđoạn cải lương giáo dục lần thứ nhất của thực dân Pháp từ năm 1906 đếnnăm 1916, như dưới bảng sau:
Trang 23Tên khoa thi Hội
Trang 24Cách phê duyệt theo: ưu, bình, thứ, liệt được cải đổi bằng chấm theothang điểm từ 0 đến 20 Đỗ 10 điểm ở mỗi trường là trúng cách được sangtrường tiếp theo Xếp bảng đỗ sẽ căn cứ vào điểm từ cao xuống.
Việc thay đổi môn thi và cách tính điểm gây ra nhiều khó khăn Sốngười đi thi đông, mà số đỗ đạt lại rất ít do đó tạo áp lực chán chường cho
sĩ tử
Như vậy, Khoa cử cải lương giai đoạn từ năm 1906 vẫn giữ đượcmục đích tối thượng của mình là chọn người ra làm quan; các định chế:trường thi, khoa thi, các vấn đề kinh luận vẫn dùng chữ Hán Chữ Hán vẫn
là ngôn ngữ quan trọng của khoa cử thời này Môn Địa lý đã trở thành môn
thi bắt buộc ở kỳ thi Hội Thí sinh trải qua 3 kỳ đầu với: kinh, truyện, cácthể loại văn bản hành chính (chế, chiếu, tấu, sớ…) sẽ tiếp tục được thử
thách qua đề văn sách của các môn Cách trí, Nhân vật và môn Địa lý Nội
dung thi Hội hướng vào bản quốc địa dư buộc các sĩ tử phải có một kiến
thức địa lý vững vàng, sâu sắc Đây vừa là rào cản cho bước tiến thân củacác sĩ tử bằng con đường khoa cử vừa là sự „khác biệt” của giáo dục khoa
cử cải lương so với khoa cử truyền thống
Chính sự đổi phép học, phép thi trong đó có môn địa lý đã trở thànhnhân tố chủ yếu cho sự xuất hiện của các sách giáo khoa Hán văn địa lýphục vụ cho giáo dục khoa cử cải lương Tất nhiên, do nhiều lý do của lịch
sử, không phải tất cả các sách giáo khoa Hán văn địa lý của chương trìnhcải lương giáo dục khoa cử năm 1906 vẫn còn được lưu lại Cho đến giờ,Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm vẫn là nơi lưu giữ được nhiều nhất Dovậy, danh mục sách giáo khoa Hán văn địa lý của chương trình cải lương
giáo dục khoa cử năm 1906 dưới đây sẽ được phân xuất từ bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội,
2003, gồm 3 tập
Trang 251.2 Danh mục sách giáo khoa Hán văn địa lý trong kho sách
Hán Nôm qua Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu
Trong các sách phục vụ hệ thống giáo dục cải lương, chúng tôi đặcbiệt quan tâm đến các tài liệu Hán văn địa lý Trước ngưỡng cửa của hộinhập và trước những chính sách nô dịch về mặt giáo dục, việc biên soạnsách địa lý đều chịu sự chi phối của chính quyền thực dân Đi vào khảo sáttài liệu Hán văn địa lý phục vụ giáo dục cải lương sẽ giúp chúng ta làm rõ
Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng đề cập đến sách giáo khoa HánNôm người ta chủ yếu quan tâm đến sách dạy chữ Hán và sách dạy lịch sử
mà chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập sâu sắc đến hệ tài liệu Hánvăn địa lý phục vụ giảng dạy Tiến hành khảo sát chúng tôi nhận thấy sáchHán văn địa lý phục vụ giáo dục cải lương (1906) là sách dạy địa lý dànhcho các cấp học: Ấu học, Tiểu học, Trung học và những tài liệu địa lý mangtính chất tham khảo cung cấp tri thức địa lý cho người học Những sách nàychủ yếu được biên soạn, in, chép tay vào đầu thế kỉ XX Có những sách ghi
rõ niên đại in, chép, có sách không đề cập đến niên đại Có sách còn giữđược đề tựa, phàm lệ; có cuốn không có nhưng căn cứ vào nội dung sáchchúng tôi có thể xác định được khoảng thời gian (đầu thế kỉ XX) Về nộidung, các sách địa lý này, bao gồm kiến thức về địa lý thế giới, địa lý ViệtNam, địa lý khu vực Đông Dương, địa lý Pháp… Ngoài
ra, Một số sách có chép thêm các kiến thức về chính trị, thuế má của ĐôngDương hoặc của Việt Nam Bên cạnh đó, không thể không kể đến các sách
có nội dung tổng hợp nhiều lĩnh vực, trong đó có chứa kiến thức địa lý (chủyếu là sách lịch sử) Các sách này có số lượng tương đối nhiều, cũng là mộtmảng quan trọng của việc học và dạy địa lý
Vấn đề văn bản và nội dung của các sách Hán văn địa lý được sửdụng cho việc giảng dạy, học tập trong chương trình cải lương giáo dục chữHán năm 1906 hiện đang còn được lưu giữ ở Thư viện Viện nghiên cứu
Hán Nôm qua bộ thư mục Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu
được chúng tôi tóm lược lại trong bảng sau
23
Trang 26dư giáo khoa thư)
地地地地地地地地地
Trang 2724
Trang 284 Nam quốc địa dư Ấu học ấu
Trang 2925
Trang 308 Việt môn địa sử Tiểu
Trang 3126
Trang 3211 Đông Dương địa dư chí Tiểu
Trang 3327
Trang 3415 Thái Tây tạp kí trích lục Tiểu
Trang 3528
Trang 3619 Nam quốc địa dư
地地地地
Trang 3729
Trang 3820 Tân đính Nam quốc địa
dư giáo khoa thư
地地地地地地地地地
21 Nam quốc địa dư chí
地地地地地
Trang 3930
Trang 401.3 Nhận xét về danh mục sách giáo khoa Hán văn địa lý cho chương trình cải lương khoa cử chữ Hán (1906)
Nhìn vào bảng thống kê trên, chúng ta thấy rằng: có 21 đầu sách đượccoi là sách giáo khoa dùng trong việc dạy và học môn Địa lý của chương trìnhcải lương giáo dục chữ Hán Tuy không phải tất cả 21 đầu sách (với tổng cộng
64 cuốn) đều được biên soạn để phục vụ trực tiếp giảng dạy nhưng có thể chắcchắn rằng người học của chương trình cải lương đều cần phải nghiên cứu cáctri thức ở các tài liệu trên phục vụ việc học và thi môn địa lý
Tất nhiên, đối với người đi học thì toàn bộ những sách Hán văn địa lýtrước đó cũng được sử dụng cho mục đích học và thi cũng như học mà để biếtcủa họ Nhưng ở đây, do giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ đưa vào danh mụctrên những sách có niên đại được biên soạn vào cuối thế kỉ XIX và 2 thập niênđầu thế kỷ XX mà thôi
Từ danh mục trên, có thể nêu ra một vài nhận xét về sách giáo khoa Hánvăn địa lý trong chương trình cải lương khoa cử chữ Hán 1906 như sau:
1.3.1 Sách Hán văn địa lý qua đặc trưng số lượng in / chép tay
Đặc trưng số lượng của sách giáo khoa Hán văn địa lý được xác lập quamột số tiêu chí như sách in hay chép tay
Qua bảng trên cho ta thấy tỷ lệ sách in và chép tay như sau: 3/21 sáchin; 12/21 sách chép tay; 6/21 sách gồm cả bản in và chép tay Số lượng cácsách có bản in chỉ chiếm 9/21 sách nhưng mỗi đầu sách lại được in với sốlượng lớn hơn chép tay nên tổng số sách in là 43 cuốn Trong khi đó, sáchchép tay chiếm hơn tới 12/21 đầu sách nhưng chỉ còn lại có 24 cuốn Sở dĩ có
điều này bởi sách được in có số lượng lớn hơn, đặc biệt là cuốn Trung học Việt sử toát yếu 地地地地地地 của Ngô Giáp Đậu còn tới 22 bản in, Bắc sử tân san toàn biên 地地地地地地 của Liễu Giang cư sĩ còn tới 6 bản Những
sách in thường mang tính phổ thông hơn, dễ cập nhật hơn bởi có số lượngsách lớn, số người đọc đông Trong khi đó, các sách chép tay số lượng ít hơn,