1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghị định thư kyoto và hợp tác quốc tế đối phó với biến đổi khí hậu

114 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể kể đến cuốn The Kyoto protocol: International climate policy for the 21 st century Nghị định thư Kyoto: chính sách khí hậu quốc tế cho thế kỷ XXI của Ober- thur và Ott năm 1999 đã

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-VŨ QUỲNH GIANG

NGHỊ ĐỊNH THƯ KYOTO VÀ HỢP TÁC QUỐC TẾ ĐỐI PHÓ VỚI BIẾN

ĐỔI KHÍ HẬU

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành Quan hệ Quốc tế

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Mã số: 60310206

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hoàng Khắc Nam

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành luận văn này là một thử thách, một bài học quý đối với riêng tôi trongthời gian qua, làm sao để không thỏa hiệp với bản thân, làm sao bảo đảm được chấtlượng nghiên cứu, làm sao sắp xếp phù hợp những trách nhiệm và kế hoạch khácdưới áp lực về thời gian

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS TS Hoàng Khắc Nam, người thầy tôi luônkính trọng và ngưỡng mộ về kiến thức sâu rộng và trái tim nhân hậu từ những thángngày mới bước chân vào giảng đường đại học Thầy đã tận tình hướng dẫn về nộidung, góp ý về cách tiếp cận, và không ngừng động viên giúp tôi hoàn thành nghiêncứu này

Tôi cũng muốn dành những lời cảm ơn chân thành tới những người bạn và đồng nghiệp

đã hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu này Nếu không có sự giúp đỡ của họ,tôi không biết mình sẽ gặp thêm những khó khăn nào nữa Đó là chị Trang, người bạncùng khóa đã luôn khích lệ, theo sát tiến độ nghiên cứu của tôi Đó là anh Thắng, người

đã giải đáp cho tôi tất cả các câu hỏi dù là nhỏ nhất về quy chế bất kể trong hay ngoàigiờ làm việc Đó là Quỳnh Trang, người đã đọc và góp ý tỉ mỉ cho bản thảo đầu tiêncủa tôi Đó là Omar, người đã giúp tôi tiếp cận kho tư liệu phong phú của thư viện Đạihọc Amsterdam Đó là Mai Anh, nguời bạn thân thiết nhất đã bền bỉ giúp đỡ tôi vô điềukiện trong mọi vấn đề Đó là Maxim, người đặt niềm tin trọn vẹn nơi tôi và khôngngừng hỗ trợ tôi trong việc thực hiện nghiên cứu

Cuối cùng, nhưng vô cùng quan trọng, bằng tất cả tình yêu và lòng biết ơn, tôi muốnbày tỏ sự trân trọng cao nhất đối với những gì bố mẹ đã dành cho tôi, không chỉtrong thời gian thực hiện nghiên cứu này mà trong suốt những năm tháng qua vàmãi về sau Đây chính là những điều trân quý nhất mà chúng ta được nhận lấy trongcuộc đời mình

Amsterdam, 6/8/2015

Vũ Q Giang

Trang 4

MỤC LỤC

Mục lục ………i

Danh mục chữ viết tắt ……… iii

Danh mục bảng biểu………v

Mở đầu ……… 1

1 Tính cấp thiết của đề tài

………1

2 Tình hình nghiên cứu

3 Mục tiêu nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

6 Kết cấu của luận văn

Chương 1: Vấn đề biến đổi khí hậu và sự ra đời của Nghị định thư Kyoto … 7

1.1 Vấn đề biến đổi khí hậu………7

1.1.1 Khái niệm và thuật ngữ ……… 7

1.1.2 Thực trạng và hậu quả của vấn đề biến đổi khí hậu………9

1.1.3 Nguyên nhân của tình trạng biến đổi khí hậu ……… 11

1.2 Quá trình hợp tác quốc tế chống biến đổi khí hậu trước Nghị định thư Kyoto 13

1.2.1 Hợp tác liên chính phủ ……… 14

1.2.2 Hợp tác phi chính phủ ……… 18

1.2.3 Công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc (UNFCCC) 20

1.3 Sự ra đời của Nghị định thư Kyoto ………23

1.3.1 Hội nghị các bên tham gia lần thứ 3 (COP 3) ……… ……24

1.3.2 Sự gia nhập của các bên ………,,…………27

1.3.3 Ý nghĩa của việc ra đời Nghị định thư Kyoto ……… 29

Tiểu kết ………30

Chương 2: Nghị định thư Kyoto và việc thực hiện ……….31

2.1 Nội dung chủ yếu của Nghị định thư Kyoto ……… 31

Trang 5

2.1.1 Vấn đề cắt giảm lượng phát thải khí nhà kính ……….… 31

2.1.2 Vấn đề cơ chế giảm phát thải ……… …………35

2.2 Việc thực hiện Nghị định thư Kyoto ……….40

2.2.1 Quá trình thực hiện Nghị định thư Kyoto và những kết quả …………40

2.2.2 Những hạn chế của Nghị định thư Kyoto và nguyên nhân ………… 48

2.3 Tác động của Nghị định thư Kyoto tới quan hệ quốc tế ……… 53

2.3.1 Tác động tích cực ……….53

2.3.2 Tác động tiêu cực ……….56

Tiểu kết ………59

Chương 3: Các nỗ lực hợp tác quốc tế hậu Kyoto ……….60

3.1 Các nỗ lực hợp tác quốc tế chủ yếu hậu Kyoto ……….60

3.1.1 Diễn biến từ hội nghị Bali đến hội nghị Copenhagen ……… ………60

3.1.2 Diễn biến từ hội nghị Durban đến nay ……….64

3.2 Các quan điểm khác nhau về hợp tác quốc tế trong ứng phó với biến đổi khí hậu ………… ………66

3.2.1 Quan điểm của nhóm các quốc gia công nghiệp phát triển ………….67

3.2.2 Quan điểm của nhóm các nền kinh tế đang phát triển ……….72

3.3 Triển vọng hợp tác quốc tế trong ứng phó với biến đổi khí hậu ……… 76

3.3.1 Tương lai về một thỏa thuận quốc tế trong ứng phó với biến đổi khí hậu ……… 76

3.3.2 Vai trò của Việt Nam ……… … 80

Tiểu kết ……… 82

Kết luận ……… ………84

Tài liệu tham khảo ……….vi

Phụ lục ……… xv

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AMME ASEAN Ministerial Meeting on the Environment

Cuộc họp cấp bộ trưởng về môi trườngAOSIS Allience of Small Island States

Liên minh các quốc đảo nhỏASOEN ASEAN Senior Officials on the Environment

Các quan chức cấp cao về môi trườngASEAN Association of Southeast Asian Nations

Hiệp hội các nước Đông Nam ÁBRIC Brazil, Russia, India, China

Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc (nhóm các nền kinh tế mới nổi)CER Certified Emission Reduction

Giảm phát thải được chứng nhậnCDM Clean Development Mechanism

Cơ chế phát triển sạchCOP Conference of the Parties

Hội nghị các bên tham gia

Cộng đồng chung châu Âu

Hội đồng kinh tế châu ÂuEIT Economy In Transition

Nền kinh tế chuyển đổi

Trang 7

Japan, USA, Switzerland, Canada, Norway, New ZealandNhật Bản, Hoa Kỳ, Thụy Sỹ, Canada, Nauy, New Zeland(nhóm quốc gia)

LULUCF Land Use, Land Use Change, and Forestry

Sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất, và lâm nghiệpMOP Meeting of the Parties

Cuộc họp các Bên tham giaNASA National Aeronautics and Space Administration

Cơ quan hàng không và vũ trụ quốc gia của Hoa Kỳ

Tổ chức phi chính phủOECD Organization for Economic Co-operation and Development

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tếOPEC Organization of Petroleum Exporting Countries

Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ

Liên hợp quốcUNEP United Nations Environment Programme

Chương trình môi trường Liên hợp quốcUNFCCC United Nations Framework Convention on Climate Change

Công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Biểu đồ 1.1: Sự phát thải các khí nhà kính trên toàn cầu (2007) ………11Hình 1.2: Các bên tham gia UNFCCC trên bản đồ thế giới (2014) ……….21Hình 1.3: Các bên tham gia Nghị định thư Kyoto trên bản đồ thế giới (2014) ……27

*****

Bảng 2.1: Lượng phát thải CO2 của một số bên Phụ lục I (1990) ………31Bảng 2.2: Cam kết hạn chế hoặc giảm phát thải theo định lượng của các Bên (phần trăm của năm cơ sở hoặc thời kỳ) (1997) ……… …32

Bảng 2.3: Thỏa thuận mức cắt giảm lượng phát thải nội khối EU 15 (1997) ……35Biểu đồ 2.4: CER theo quốc gia (2012) ……… … ….44Biểu đồ 2.5: Lượng phát thải khí nhà kính thực tế và mục tiêu của các bên Phụ lục I tham gia Nghị định thư Kyoto (không tính LULUCF) ……… … …… 46

*****

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Biến đổi khí hậu đang và sẽ là một trong những mối quan tâm hàng đầu của

cả nhân loại vì ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng của nó tới đời sống con ngườitrên khắp thế giới Không cần những nghiên cứu khoa học phức tạp, những hiểu biếtsâu sắc mỗi người chúng ta cũng nhận thấy rõ ràng những bằng chứng của biến đổikhí hậu và hậu quả của nó Thiên tai và những hiện tượng tự nhiên bất thường xảy

ra với tần suất nhiều hơn và mức độ khủng khiếp hơn Tất cả các khu vực, mọi quốcgia đều hứng chịu những hậu quả nghiêm trọng của những hiện tượng này; và thiệthại không chỉ tính về của cải mà còn bao gồm cả mạng sống của con người Tuynhiên, đây lại không phải là vấn đề mà một quốc gia, một khu vực có thể giải quyếtđơn lẻ, riêng rẽ Nó đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ trên phạm vi quốc tế để có thể giảiquyết những hậu quả đã xảy ra và giảm thiểu ảnh hưởng trong tương lai

Nghị định thư Kyoto ra đời đánh dấu một mốc quan trọng, một bước tiến mớitrong quá trình hợp tác ứng phó với biến đổi khí hậu Việc nhiều quốc gia thốngnhất được với nhau những hành động cụ thể để hạn chế các hoạt động tiếp tục gâynguy hại cho môi trường là điểm cốt lõi của khuôn khổ hợp tác quốc tế trong lĩnhvực này Tuy nhiên, Hoa Kỳ, một cường quốc “đóng góp tích cực” làm ảnh hưởngxấu đến môi trường qua các hoạt động sản xuất của mình lại từ chối tham gia Nghịđịnh thư này Điều này dấy lên một cuộc tranh luận căng thẳng giữa các nhóm quốcgia và các quốc gia trong nội bộ mỗi nhóm, dựa trên tiêu chí mức thu nhập khác,nền sản xuất Những thống nhất và bất đồng đều được phản ánh rõ ràng trong những

nỗ lực xây dựng một văn bản hợp tác quốc tế mới sẽ thay thế Nghị định thư Kyotohết hạn vào năm 2015

Quá trình hợp tác và ứng phó với biến đổi khí hậu vẫn diễn tiến liên tục, đòi hỏiviệc giải quyết mâu thuẫn giữa các chủ thể phải được tiến hành nhanh chóng Đây

Trang 10

là cả một tổng thể những tương tác của các yếu tố khác nhau, các chủ thể khác nhau.

Sự tương tác này cũng không diễn ra theo logic thời gian không gian đơn thuần màcòn chịu ảnh hưởng từ những quá trình tương tác khác Đặc biệt trong thời kỳ saukhi kết thúc giai đoạn I của Nghị định thư Kyoto từ cuối năm 2012, mối quan hệgiữa các bên tham gia ảnh hưởng trực tiếp kết quả đảm phán và tương lai của việchợp tác Tất cả những yếu tố đó tạo nên sự phức tạp của vấn đề Mong muốn tiếpcận vấn đề hợp tác quốc tế này trên góc độ quan hệ quốc tế, tác giả đã quyết định

lựa chọn đề tài: Nghị định thư Kyoto và Hợp tác quốc tế đối phó với biến đổi khí

hậu Từ đó, tác giả mong muốn có thể đánh giá được chính xác hơn triển vọng của

quá trình hợp tác này trong tương lai

2 Tình hình nghiên cứu

Như đã đề cập ở trên, vấn đề biến đổi khí hậu nói chung và hợp tác quốc tếứng phó với biến đổi khí hậu nói riêng là một trong những vấn đề nóng bỏng trênthế giới hiện nay, tốn không ít giấy mực của cả các phương tiện thông tin truyềnthông và giới nghiên cứu của nhiều quốc gia Có hàng trăm đầu sách, hàng nghìnbài nghiên cứu được xuất bản trong nhiều năm qua bàn luận về đề tài này với nhữngphân tích đánh giá trên những khóc độ khác nhau Có thể nói đây là một kho tài liệu

vô cùng phong phú, thể hiện nhiều góc nhìn khác nhau

Tuy nhiên, ở Việt Nam nguồn tư liệu viết về đề tài này, kể cả tài liệu nghiên cứu

và tài liệu dịch, lại tập trung vào khía cạnh khoa học và kinh tế của vấn đề Một trongnhững nguồn tư liệu chính thống với thông tin, số liệu, cùng với các đánh giá vàkhuyến nghị có giá trị là Báo cáo thường niên về việc tham gia thực hiện Nghị định thưKyoto của Việt Nam Đây là báo cáo do cơ quan chuyên trách về hoạt động tham giacủa Việt Nam trong Nghị định thư Kyoto chuẩn bị Cơ quan này trực thuộc Bộ Tàinguyên và Môi trường và cùng phối hợp với những ban ngành liên quan khác Ngoài

ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã đệ trình lên Thủ tướng chính phủ và được

phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu (2011) Chiến lược này được

Trang 11

coi là nhằm xác định rõ các nguồn lực, và các điểm mạnh-yếu của Việt Nam tronggiai đoạn mới ứng phó với biến đổi khí hậu Bên cạnh đó, trong các chuyên ngànhkhác nhau, nhiều tác giả cũng đã giới thiệu các công trình nghiên cứu tập trung khaithác một khía cạnh cụ thể trong chủ đề lớn về Nghị định thư Kyoto Trong lĩnh vựckinh tế - tập trung nghiên cứu tác động tới kinh tế vĩ mô và hiệu quả của các cơ chếthực hiện theo mô hình thị trường trong Nghị định thư Kyoto, có thể kể tới chuyên

đề Nghị định thư Kyoto và cơ chế phát triển sạch CDM của PGS.TS Bùi Xuân Hồi, hay bài báo khoa học Thị trường carbon và triển vọng tại Việt Nam của nhóm tác

giả Vi Thùy Linh, Nguyễn Thu Hường và Chu Thị Hồng Huyền Một số nghiên cứucủa Viện khoa học xã hội lại tập trung khai thác khía cạnh sự thích nghi của đờisống người dân địa phương với hoạt động trong khuôn khổ thỏa thuận môi trườngnày Ngoài ra, trong ngành khí tượng, thủy sản, lâm nghiệp, v.v cũng có nhiềunghiên cứu khác nhau về những diễn biến và ảnh hưởng đối với ngành cụ thể

Mặc dù vậy, những tác phẩm tiếp cận vấn đề trên góc độ quan hệ quốc tế chưanhiều Muốn tiếp cận với vấn đề trên khía cạnh này, chúng ta buộc phải tiếp cận thôngqua những nguồn tư liệu của giới học giả nước ngoài, trong giai đoạn khoảng 25 năm

qua Có thể kể đến cuốn The Kyoto protocol: International climate policy for the 21 st century (Nghị định thư Kyoto: chính sách khí hậu quốc tế cho thế kỷ XXI) của Ober-

thur và Ott năm 1999 đã ghi lại một cách chi tiết diễn biến của quá trình đàm phánNghị định thư Kyoto, là một trong những nguồn tư liệu về lịch sử hợp tác môi trườngthế giới Có nhiều bài báo khoa học và sách tập trung nghiên cứu một trong số nhiềubên tham gia vào Nghị định thư Kyoto, phân tích các mối liên hệ về kinh tế, chính trị

và quan hệ quốc tế giữa những bên cụ thể này đối với vấn đề thảo luận của thỏa thuận

quốc tế về môi trường này, The BRIC and climate change (Nhóm BRIC và biến đổi khí hậu) của R Leal-Arcas năm 2013, Climate change and Amerian foreign policy (Biến đổi khí hậu và chính sách đối ngoại Hoa Kỳ) của P Harris năm 2000, Globalizing European Union Environmental Policy (Toàn cầu hóa chính sách môi trường của Liên minh châu Âu) của R.D Kelemen năm 2009, v.v Và gần đây bàn tới quá trình đàm phán trong các thỏa ước quốc tế về biến đổi khí hậu là cuốn The

Trang 12

politics of climate change negotiation (Chính trị trong đàm phán biến đổi khí hậu)

của C Downie năm 2014

Tóm lại, trong chủ đề Nghị định thư Kyoto nói riêng và biến đổi khí hậuhay môi trường nói chung, về khía cạnh quan hệ quốc tế giữa các bên tham gia,nguồn tư liệu của Việt Nam so với phương Tây còn tương đối hạn chế về số lượng.Đây là một thách thức đối trong việc tiến hành nghiên cứu, nhất là để tránh việc bịchi phối bởi góc nhìn của các học giả nước ngoài

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của luận văn là làm rõ ý nghĩa và tác động của Nghị định thư Kyotonói riêng và hợp tác quốc tế ứng phó với biến đổi khí hậu nói chung tới các mốiquan hệ quốc tế phổ biến Với mục tiêu như trên, trong quá trình thực hiện luận văn,một số nhiệm vụ cụ thể để tập trung làm rõ câu hỏi nghiên cứu của đề tài được đề ranhư sau:

 Thứ nhất: Tại sao nghị định thư Kyoto lại đóng vai trò dấu mốc trong hợp tác quốc tế về biến đổi khí hậu?

 Thứ hai: Nghị định thư Kyoto nêu ra những nội dung gì? Quá trình thực hiện ra sao? Có ý nghĩa và ảnh hưởng như thế nào trong quan hệ quốc tế?

 Thứ ba: Triển vọng hợp tác quốc tế chống biến đổi khí hậu hậu Kyoto sẽ cókịch bản như thế nào?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Nghị định thư Kyoto, một văn bản hợptác quốc tế được nhiều quốc gia tham gia, nhưng cũng có những cường quốc từ chốigia nhập mà Hoa Kỳ là điển hình Hợp tác ứng phó với biến đổi khí hậu là một vấn

đề cấp bách và phức tạp, chính vì vậy, luận văn tập trung vào nghiên cứu Nghị định

Trang 13

thư Kyoto như là một điển hình của quá trình hợp tác này Từ đó nêu ra được những thuận lợi và khó khăn của quá trình hợp tác và có những đề xuất phù hợp.

Phạm vi nghiên cứu cũng được đặt ra rõ ràng như sau:

 Về thời gian: luận văn sẽ tập trung xem xét quá trình hợp tác quốc tế ứngphó với biến đổi khí hậu từ thời điểm ra đời Nghị định thư Kyoto (năm 1997)cho tới nay Tuy nhiên, để có cái nhìn toàn diện hơn, luận văn cũng sẽ giới thiệukhái lược về quá trình hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này trước thời điểm năm

1997, xem xét nó như một yếu tố tiền đề cho sự ra đời Nghị định thư Kyoto

 Về vấn đề: với định hình trong nhóm ngành Quan hệ quốc tế, luận vănkhông đi sâu vào phân tích khía cạnh khoa học của vấn đề biến đổi khí hậu, màxem xét Nghị định thư Kyoto trong bối cảnh hợp tác quốc tế

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sẽ sử dụng một số phương pháp khác nhau trong nghiên cứu Quan

hệ quốc tế để giải quyết từng nhiệm vụ nghiên cứu và đạt được mục tiêu nghiên cứuchung của đề tài

Phương pháp lịch sử sẽ được sử dụng để tái hiện lại lịch sử hợp tác quốc tế trong vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu, đồng thời làm rõ quá trình hình thành

và đi vào thực tế của Nghị định thư Kyoto

Phương pháp phân tích sẽ giải quyết việc bóc tách vấn đề và làm rõ nguyên nhân của từng động thái mà các chủ thể quan hệ quốc tế thể hiện trong

khuôn khổ hợp tác của Nghị định thư Kyoto này

Phương pháp so sánh sẽ hỗ trợ tìm ra sự tương đồng và khác biệt của Nghị định thư Kyoto với các cơ chế và khuôn khổ hợp tác ứng phó với biến đổi khí

hậu toàn cầu; từ đó chỉ ra ưu điểm và hạn chế của văn bản này

Trang 14

Phương pháp nghiên cứu trường hợp đi sâu vào trường hợp cụ thể của Nghị định thư Kyoto, tổng kết và đánh giá những kết quả và hạn chế để đưa ra

dự báo cho tương lai của hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này

Phương pháp lý thuyết trò chơi: áp dụng một số lý thuyết trò chơi phổ biến trong quan hệ quốc tế để đánh giá khả năng của các kịch bản khác nhau của việc

hợp tác quốc tế

6 Kết cấu của luận văn

Về cơ bản, kết cấu của luận văn này bao gồm ba chương, mỗi chương tậptrung giải quyết một nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được nêu ra như đã trình bày ởtrên Cụ thể ba chương của khóa luận này là:

Chương 1: Vấn đề biến đổi khí hậu và sự ra đời của Nghị định thư Kyoto.

Ởchương này, bối cảnh ra đời của Nghị định thư Kyoto được tập trung làm rõ Từ

đó, có thể thấy rõ vai trò và ý nghĩa của thỏa ước quốc tế này trong tiến trình hợptác quốc tế về biến đổi khí hậu

 Chương 2: Nghị định thư Kyoto và việc thực hiện.

Nội dung của chương này nêu lên những vấn đề chính trong quá trình thực hiện Nghịđịnh thư Kyoto trên thực tế, và tác động của những vấn đề này tới tiến trình hợp tácquốc tế và quan hệ giữa các quốc gia nói chung Kết quả của Nghị định thư nàycũng được đánh giá trên góc nhìn quan hệ quốc tế

 Chương 3: Các nỗ lực hợp tác quốc tế hậu Kyoto.

Chương này đánh giá những diễn biến hậu Kyoto cho tới thời điểm hiện tại, đồngthời nêu lên những kịch bản có thể xảy ra đối với mô hình hợp tác quốc tế này trongtương lai

Trang 15

Chương 1 VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU &

SỰ RA ĐỜI CỦA NGHỊ ĐỊNH THƯ KYOTO

1.1 Vấn đề biến đổi khí hậu

Như đã nêu trong phần mở đầu, biến đổi khí hậu là một trong những vấn đềtoàn cầu nhận được sự quan tâm của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều chủ thể: từ chínhquyền địa phương tới Liên Hợp Quốc (United Nations – UN), từ chuyên ngành khítượng học tới nhóm ngành kinh tế, từ giới đại chúng phổ thông tới các nhà khoahọc Tính chất toàn cầu của biến đổi khí hậu thể hiện ở sự ảnh hưởng tới mọi khíacạnh, mọi đối tượng, mọi quốc gia Mặc dù phạm vi và mức độ ảnh hưởng của vấn

đề biến đổi khí hậu là không nhỏ tới đời sống, con người hiện tại vẫn chưa cóphương thức nào kiểm soát khí hậu nói chung và các biến đổi khí hậu nói riêng.Cũng chính vì thế, nhiều khía cạnh của vấn đề toàn cầu này đã và đang được nghiêncứu để kịp thời đề xuất những phương án ứng phó phù hợp

Việc tìm hiểu cụ thể về khái niệm, thực trạng và nguyên nhân của vấn đề biếnđổi khí hậu sẽ góp phần làm rõ thêm các khía cạnh của vấn đề toàn cầu này trong cácnghiên cứu nói chung, và trong phạm vi thảo luận của luận văn này nói riêng

1.1.1 Khái niệm và thuật ngữ

Hiện tượng “biến đổi khí hậu” bắt đầu được quan tâm, nghiên cứu từ sớm vàngày càng trở thành một trong những đề tài nghiên cứu giữ vị trí trung tâm Ngànhkhí tượng học là một ngành khoa học có lịch sử lâu đời cùng với sự phát triển của

xã hội từ thời cổ đại Chính vì vậy những ‘thay đổi’, ‘biến động’, ‘sai biệt’ trongtiến trình khí hậu đã được các nhà khoa học trong ngành phát hiện, ghi nhận, và tiếnhành tìm hiểu, phân tích Số lượng nghiên cứu tăng lên và các nghiên cứu trở nêntập trung hơn một cách đáng kể trong những thập niên sau khi Chiến tranh Thế giớiThứ hai kết thúc Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn gặp khó khăn để thống nhất nhấtvới nhau về mặt khái niệm và các tiêu chuẩn của hiện tượng tự nhiên này

Trang 16

Nhiều quan điểm không tương đồng được các nhà khoa học đưa ra dẫn tới sựphân nhánh trong nghiên cứu Những khác biệt trong các định nghĩa học thuật liênquan đến hiện tượng biến đổi khí hậu do sự khác biệt trong cơ sở khoa học mà cácnhà nghiên cứu áp dụng Cụ thể hơn, đó là sự khác biệt về nguyên nhân (được cholà) gây nên hiện tượng biến đổi khí hậu; mức độ của những thay đổi cũng như ảnhhưởng của hiện tượng này; và khung thời gian áp dụng để đo đạc những chỉ số vừanêu1 Như vậy, chỉ trong phạm vi của riêng ngành khí tượng học đã xuất hiện việckhông thống nhất quan điểm trong việc định nghĩa hiện tượng này, chưa kể tới cáclĩnh vực liên quan khác.

Cân nhắc về sự đa dạng của các định nghĩa, đặc trưng của chuyên ngànhQuan hệ quốc tế, và phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả lựa chọn định nghĩa củaCông ước Khung về Biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc (United NationsFramework Con-vention on Climate Change – UNFCCC) để làm cơ sở cho cácphân tích tiếp theo trong luận văn Theo đó, biến đổi khí hậu là “sự biến đổi của khíhậu do ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp từ hoạt động của con người; những hoạtđộng này thay đổi cấu tạo của khí quyển trái đất và tác động thêm vào quá trình biếnđổi khí hậu tự nhiên được ghi lại qua chu kỳ thời gian.”2 Bằng định nghĩa này,UNFCCC thay vì nghiên cứu bao quát tất cả các nguồn gốc của biến đổi khí hậu,tập trung vào hiện tượng biến đổi khí hậu mà tác nhân là các hoạt động do conngười làm chủ thế Bằng việc xác định này, UNFCCC cũng gián tiếp vạch raphương án ứng phó với vấn đề toàn cầu này, đó là xu hướng hạn chế các hoạt độngtrực tiếp hoặc gián tiếp của con người có khả năng gây ra biến đổi khí hậu

Cũng cần lưu ý thêm, rằng định nghĩa về biến đổi khí hậu nêu trên do FCCC nêu ra là có chủ đích nhằm nhấn mạnh tính nghiêm trọng và cấp thiết của hiệntượng ấm lên toàn cầu Nhiều tổ chức nghiên cứu, điển hình như Cơ quan Hàng không

UN-và Vũ trụ quốc gia của Hoa Kỳ (National Aeronautics and Space Administration –

1 (Landsberg, 1976, p 52)

2 (UNFCCC, 1992, p Article 1)

Trang 17

NASA), lựa chọn sử dụng tách biệt hai khái niệm “biến đổi khí hậu” (bao gồmnhiều biểu hiện khác biến thiên của khí hậu) và “ấm lên toàn cầu”3 Đây chính làđiểm đáng lưu ý khi phân phân tích kế hoạch hành động của UNFCCC trong đó cóNghị định thư Kyoto.

1.1.2 Thực trạng và hậu quả của vấn đề biến đổi khí hậu

Diễn biến của tình trạng biến đổi khí hậu, hay nhất là sự ấm lên toàn cầu,đang ngày càng trở nên phức tạp và đáng lo ngại Trong khoảng một thế kỷ vừa qua,theo ước tính, trái đất nóng lên khoảng 0.75ºC Tuy nhiên, việc tăng nhiệt độ củatrái đất diễn ra liên tục với mức độ mạnh nhất trong khoảng ba thập kỷ gần đây nhất(lấy năm 1850 làm mốc nghiên cứu của hiện tượng này).4 Sự tăng nhiệt độ bề mặttrái đất được ghi nhận từ khoảng thời gian năm 1880 Tuy nhiên, trong suốt quátrình này, dấu mốc những năm 1970 đánh dấu sự gia tăng nhanh và mạnh nhất.(Xem thêm Phụ lục 1) Quá trình tăng nhiệt diễn ra ở tất cả các môi trường, bề mặtđất liền, bề mặt đại dương, không khí gần bề mặt, không khí trên mặt đại dương.Như vậy có thể thấy hiện tượng tăng nhiệt độ này là đồng nhất.5

Sự tăng nhiệt độ của trái đất cũng có thể coi là là nguyên nhân trực tiếp chonhững diễn biến phức tạp khác của khí hậu Các nhà nghiên cứu và các tổ chức khoahọc, xã hội đồng ý với nhau về danh sách những chỉ số phổ biến dùng để đo mức độảnh hưởng của hiện tượng ấm lên toàn cầu Những chỉ số này hiện tại đều ở mức đángquan ngại: (1) Mực nước biển dâng cao Theo tính toán mực nước của các đại dương đãdâng cao khoảng 17 cm trong vòng một thế kỷ vừa qua Tuy nhiên, đáng báo động hơnkhi con số này của riêng thập kỷ trước đã gần gấp đôi so với thế kỷ XX6 (2) Nhiệt độkhí quyển và bề mặt (đại dương và đất) tăng (3) Băng tan ở hai cực và các vùng băngvĩnh cửu cũng như diện tích tuyết bao phủ giảm (4) Các hiện tượng thời tiết khắcnghiệt như sa mạc hóa, hạn hán, lũ lụt, cháy rừng, sương khói, bão, v.v xảy

3 (Conway, 2008)

4 (Stocker et al., (eds.), 2013)

5 (NASAb, 2015)

6 Tài liệu đã dẫn.

Trang 18

ra ngày một thường xuyên hơn và mức độ nặng nề hơn trên mọi khu vực trên thế giới.(5) Mưa a-xít và a-xít hóa đại dương Theo ghi nhận, mức độ a-xít trên bề mặt đạiđương đã tăng 30%7 Việc này được cho là có ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ sinhthái biển Ngoài ra, các cơ quan nghiên cứu khác đưa ra thêm các chỉ số khác nhauphụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu của họ.

Những chỉ số về các yếu tố biến đổi trong tự nhiên vừa nêu là hậu quả trựctiếp của vấn đề biến đổi khí hậu Hậu quả gián tiếp thể hiện ở các vấn đề liên quanđến đời sống kinh tế xã hội Vấn đề sức khỏe con người với sự phát triển bất thườngcủa các dịch bệnh truyền nhiễm và các bệnh không truyền nhiễm do ảnh hưởng củatình trạng biến đổi khí hậu đã và đang được nghiên cứu, dự báo Nguồn nước,nguồn lương thực đều bị đe dọa và ở trong tình trạng đáng báo động khi sự nóng lêntoàn cầu vẫn liên tục diễn ra mạnh trên diện rộng ở khắp nơi trên thế giới Xã hội vàcác nền kinh tế cũng chịu ảnh hưởng từ vấn đề này Ví dụ, theo báo cáo của Ủy banchâu Âu (European Commission – EC), trong vòng ba thập kỷ, từ năm 1980, lũ lụt

ở châu Âu đã khiến hơn 2.500 người thiệt mạng, ảnh hưởng tới 5,5 triệu người khác

và làm thiệt hại 90 tỉ Euro cho nền kinh tế châu Âu8 Di cư vì lý do khí hậu vừa là

hệ quả của vấn đề, vừa cùng với các hệ quả kinh tế khác đóng góp vào nguyên nhângây ra chiến tranh và xung đột ở một số khu vực trên thế giới Như vậy, chỉ vớinhững hệ quả kinh tế xã hội chính nêu trên, chúng ta cũng có thể thấy được thựctrạng đáng báo động của vấn đề.9

Ở Việt Nam, hậu quả về điều kiện tự nhiên và trong đời sống kinh tế

xã hội

đều được ghi nhận, đặc biệt trong những thập kỷ gần đây Mực nước biển dâng cao 30cm so với những năm 1960 Biên độ dao động nóng lạnh giữa các mùa diễn rathường xuyên hơn và với cường độ mạnh hơn Nhiều diễn biến thiên tai trong nhữngnăm gần đây như bão lớn, tuyết và băng giá đột biến ở vùng núi phía Bắc, lũ lụt, hạnhán, cháy rừng trên địa bàn cả nước, đã gây ra những hậu quả nặng nề về người và

20-7 (Allison et al., 2009)

8 (EC, 2013)

9 (EC, 2014)

Trang 19

của Những nỗ lực xóa đói giảm nghèo của chính phủ ở các vùng sâu vùng xa cónguy cơ thất bại, và điều này gây tổn hại kinh tế nghiêm trọng cho ngân sách quốcgia và các mục tiêu phát triển bền vững khác.10

Chiến lược quốc gia về Biến đổi Khí hậu do Bộ Tài nguyên và Môi trường đệtrình và Thủ tướng chính phủ phê duyệt năm 2011 cũng đã chỉ rõ kịch bản diễn biếncủa tình trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam trong những thập kỷ tiếp theo và nhữngnguy cơ tiếp sau Trong khi đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba đồng bằng trênthế giới chịu thiệt hại nặng nề nhất khi mực nước biển tiếp tục dâng cao, đồng bằngsông Hồng cũng sẽ bị ngập úng cục bộ Ước tính tổn thất kinh tế của Việt Nam trongkịch bản xấu nhất này là khoảng 10% GDP và khoảng 10 tới 12% dân số sẽ bị ảnhhưởng trực tiếp.11 Như vậy, không chỉ cộng đồng khoa học mà chính phủ và các cấpquản lý cũng đã nhận thức rõ nguy cơ và những thiệt hại đáng kể mà Việt Nam phảigánh chịu từ diễn biến của vấn đề biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu

1.1.3 Nguyên nhân của tình trạng biến đổi khí hậu

Ghi nhận những diễn biến phức tạp của tình trạng biến đổi khí hậu, cộng đồngkhoa học quốc tế nỗ lực tìm kiếm các phương án ứng phó với vấn đề này Tìm kiếmnguyên nhân là một bước quan trọng để tối ưu hóa các giải pháp đề ra Hầu hết các nhàkhoa học đều thống nhất với quan điểm rằng sự gia tăng “hiệu ứng nhà kính” là nguyênnhân mấu chốt của vấn đề Các “khí nhà kính” chính như CO2, N2O, CH4, CFCs, H2O(hơi nước) và một số khí khác12 đóng vai trò giữ lại nhiệt trong khí quyển và dẫn tớitình trạng nóng lên toàn cầu Cũng chính vì vậy, mọi giải pháp hiện tại đều

10 (P.V Tân & N.Đ Thành, 2013)

11 (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011)

12 Trong khi CO2, N2O, CH4, CFCs, và một số khí khác có vai tác động hóa học trong quá trình hình thành “lưới” giữ nhiệt khí quyển, H2O (hơi nước) đóng vai trò tác động vật lý, khi một lượng hơi nước lớn (cũng chính là hệ quả trực tiếp của quá trình ấm lên toàn cầu) tạo thành các đám mây dày hơn và nhiều hơn, góp phần vào cơ chế giữ nhiệt trong khí quyển (NASAa, 2015)

Trang 20

đang tập trung vào việc kiểm soát và hạn chế việc phát thải các khí nhà kính vào bầu khí quyển.13

Biểu đồ 1.1: Sự phát thải các khí nhà kính trên toàn cầu (2007)

(a) Sự phát thải các khí nhà kính trên toàn cầu từ năm 1970 đến 2004

(b) Sự phân bố tỉ lệ phát thải của các khí trong nhóm khí nhà kính tính theo cách tính CO2 tương đương (CO2-eq) 14

Vàng: CO2 từ phá rừng và phân hủy tự nhiên

Xanh nhạt: CH4 từ nông nghiệp, rác thải và

Tím: N2O từ nông nghiệp và các nguồn khác

Xanh đậm: Các khí F

(c) Xanh dương: Nguồn cung năng lượng Vàng: Vận tải

Ghi: Các tòa nhà trong sinh cư và thương mại

Xanh lá cây nhạt: Nông nghiệp Xanh lá cây đậm: Rừng

Trắng: Rác thải và nước thải

13 (Tham khảo C.J Jepma & Munasinghe, M., 1998, Hardy, 2003, IPCC, 2007, NASAa, 2015)

14 CO2-eq, hay CO2 tương đương, là sự quy đổi tương đương khi so sán khả năng làm nóng trái đất của các khí khác với khả năng này của CO2 trong một khoảng thời gian cụ thể.

Trang 21

Trong nhóm các khí nhà kính, CO2 là khí chiếm tỉ lệ cao nhất do đây là loạikhí dễ dàng hình thành trực tiếp hoặc gián tiếp từ các mọi hoạt động của đời sốngcon người: từ sản xuất năng lượng, nông nghiệp, các ngành công nghiệp cho tớiviệc di chuyển hàng ngày bằng phương tiện có động cơ chạy bằng nhiên liệu cónguồn gốc từ năng lượng hóa thạch (Xem thêm Phụ lục 2)

Theo một kết quả nghiên cứu của NASA, trong lịch sử 650.000 năm gần đâynhất của trái đất, lượng CO2 chỉ bắt đầu tăng liên tục ở mức kỷ lục và không có tínhiệu giảm từ điểm mốc vào năm 195015 (Xem thêm phụ lục 3) Đây là mặt trái của

sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động sản xuất công nghiệp và đời sống hiện đại

Và vì thế, biện pháp ứng phó khả thi nhất chính là bắt đầu từ việc điều chỉnh hành

vi sản xuất và sinh hoạt của con người để hướng tới việc giảm phát thải của các khínhà kính, trong đó chủ yếu là CO2

1.2 Quá trình hợp tác quốc tế đối phó với biến đổi khí hậu trước Nghị định

thư Kyoto

Như đã phân tích ở trên, vấn đề biến đổi khí hậu, hay nhất là sự ấm lên toàn cầu,được nhìn nhận và phân tích theo nhiều cách tiếp cận khác nhau Đối với cách tiếp cậncủa ngành quan hệ quốc tế, vấn đề này không còn thuần túy là một điểm nóng về môitrường nữa Biến đổi khí hậu đã trở thành một đề tài của các thảo luận trong các chủ đềhợp tác toàn cầu như di cư, an ninh và phát triển, đặc biệt là phát triển bền vững Điềunày thể hiện rõ ở trong định nghĩa của UNFCCC về biến đổi khí hậu16 Theo đó, mộttrong những vấn đề được nhấn mạnh đó là nguồn gốc của việc gia tăng lượng phát thảikhí nhà kính xuất phát từ các nước phát triển trong những thập niên sau Chiến TranhThế giới Thứ hai Tổ chức này cũng dự đoán tỉ lệ phát thải CO2 sẽ

15 (NASA/GISS, 2015)

16 (Vlassopoulos, 2012)

Trang 22

lớn dần từ nhóm các nước đang phát triển trong thời điểm hiện tại “để đạt đượcnhững nhu cầu về phát triển xã hội và kinh tế” của những nước này17.

Năm 2000, “bảo đảm môi trường bền vững” đã trở thành một trong tám mụctiêu phát triển thiên niên kỷ (Millennium Development Goals - MDGs) do Liên HợpQuốc khởi xướng18 Nhưng không phải đợi tới sự ra đời và thực hiện MDGs vấn đềbiến đổi khí hậu mới được quan tâm trên phạm vi toàn cầu Đây là một quá trình hợptác lâu dài, nhiều thử thách và thu hút sự tham gia của nhiều chủ thể trong quan hệ quốc

tế, trong đó có các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, và các quốc gia.

Mặc dù nghị định thư Kyoto được coi là dấu mốc quan trọng, quá trình hợptác quốc tế trong vấn đề này đã diễn ra từ trước đó, mở rộng dần về quy mô và mức

độ hợp tác giữa các bên Tìm hiểu khái quát về quá trình hợp tác quốc tế này trướcthời điểm ra đời của Nghị định thư Kyoto sẽ giúp hiểu thêm về bối cảnh và ý nghĩacủa văn bản này

1.2.1 Hợp tác liên chính phủ

Hợp tác liên chính phủ trong vấn đề môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậuđược ghi nhận diễn ra sớm hơn so với hợp tác của khối phi chính phủ; tuy nhiên diễntiến và chương trình hành động trong khuôn khổ những hợp tác này trong thời gian đầuchưa thực sự tạo được dấu ấn và ảnh hưởng tích cực Xuất phát điểm đầu tiên của cáchợp tác liên chính phủ bắt đầu từ những năm 1970 Năm 1972, Liên hợp quốc tổ chứcHội thảo về Con người và Môi trường19 Sự kiện này đồng thời đánh dấu sự ra đời củaChương trình Môi trường Liên Hợp quốc (United Nations Environment Programme –UNEP) Mặc dù được khởi động từ khá sớm, sau Hội nghị năm 1972 có quy mô toàncầu, trong vòng hơn một thập kỷ tiếp theo, các hợp tác liên chính phủ trong lĩnh vựcnày chủ yếu diễn ra ở cấp độ khu vực Đến năm 1987, một

17 (UNFCCC, 1992)

18 (UN, 2015)

19 Hội thảo về Con người và Môi trường (Conference on the Human Environment) được tổ chức tại Stockholm Thụy Điển ngày 5-6/6/1972 Đại hội đồng Liên hợp quốc quyết định chọn ngày 5/6 là Ngày Môi trường Thế giới và tổ chức kỷ niệm sự kiện này hàng năm bắt đầu từ 1972.

Trang 23

hội nghị quốc tế có quy mô toàn cầu tiếp theo mới được tổ chức tại Montreal vàNghị định thư Montreal20 được thông qua Dấu mốc lớn tiếp theo của tiến trình hợptác liên chính phủ trong vấn đề môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu là Hộinghị Thượng đỉnh Trái đất (The Earth Summit) tại Rio de Janeiro và sự ra đời củaUNFCCC năm 1992.

Trở lại thời điểm năm 1988, Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu(Intergovernmental Panel on Climate Change – IPCC) ra đời Đây là kết quả củanhững cuộc gặp gỡ của giới khoa học ở Villach, Bellagio và Toronto để thảo luận vềviệc tổ chức một cơ chế quốc tế hoạt động nhằm ứng phó với tình trạng biến đổi khíhậu toàn cầu Ở thời điểm mới thành lập, mục tiêu của Ủy ban này chủ yếu nhằmcung cấp phổ biến rộng rãi các kết quả nghiên cứu khoa học về vấn đề biến đổi khíhậu, và tăng cường các mối liên hệ với các hoạt động chính trị của các chính phủ.Quan trọng hơn, tại thời điểm đó, IPCC đóng vai trò tích cực trong quá trình thảoluận, xây dựng UNFCCC21

Sự ra đời của UNFCCC (sẽ được phân tích cụ thể hơn ở phần sau) là một bướcngoặt đối với quá trình hợp tác trong hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu của các tổchức phi chính phủ trên phạm vi thế giới Trong Công ước này có nêu rõ “Bất cứ cánhân, hay tổ chức nào, dù ở cấp quốc gia hay quốc tế, chính phủ hoặc phi chính phủ, đủđiều điện trong các vấn đề nêu trong Công ước… đều được tham dự [các phiên đàmphán và các cuộc họp] trừ phi ít nhất một phần ba các bên tham gia phản đối”22 Saunày, nhiều thỏa thuận quốc tế khác về vấn đề môi trường đều kết nối với các chủ thể phichính phủ, tuy nhiên UNFCCC là cơ chế quốc tế có tính pháp lý đầu tiên trong vấn đềnày UNFCCC, mặc dù được hình thành trên thỏa thuận giữa các chính phủ cấp quốcgia, đã đặt nền tảng cho sự hợp tác quốc tế toàn diện và hiệu quả

20 Nghị định thư Montreal là một nghị định thư trong khuôn khổ Công ước Viên về Bảo vệ

tầng Ozon (Vienna Convention for the Protection of the Ozone Layer 1985) Nghị định thư này

là một thóa ước quốc tế được 196 quốc gia phê duyệt nhằm bảo vệ tầng Ozon bằng cách loại

bỏ dần việc sản xuất nhiều nhất gây suy giảm tầng Ozon.

21 (UN, 2015, p 212)

22 (UNFCCC, 1992, p Article 7)

Trang 24

hơn trong nỗ lực ứng phó với vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu, với sự góp mặt củacác chủ thể phi chính phủ.

Với xuất phát điểm là một nỗ lực hợp tác liên chính phủ, IPCC và nỗ lực đónggóp cho sự ra đời của UNFCCC đã quay trở lại củng cố, hỗ trợ và thúc đẩy quá trìnhhợp tác quốc tế của các chủ thể phi chính phủ Các tổ chức này cũng hình thành nhữngnhóm hoạt động chuyên biệt hơn, như Mạng lưới Hành động vì Khí hậu (ClimateAction Network – CAN), tổ chức Hòa bình xanh (Greenpeace), hay WorldWatchInstitute, v.v Những nhóm này có mục tiêu tạo ra một cơ chế hoạt động hiệu quả hơn

và phối hợp chặt chẽ hơn với các chương trình trong khuôn khổ UNFCCC23

Cũng trong khoảng thời gian này, ở cấp độ khu vực, các hợp tác liên chínhphủ cũng đã xuất hiện dù tần suất còn chưa nhiều và mức độ hợp tác chưa sâu Hai

ví dụ về tiến trình hợp tác này ở Hiệp hội các nước Đông Nam Á (Association ofSout-East Asian Nations – ASEAN) và Cộng đồng Kinh tế châu Âu (tiền thân củaLiên minh châu Âu – European Economic Community - EEC) sẽ được giới thiệu đểminh họa cho tiến trình hợp tác quốc tế liên chính phủ này Cần lưu ý, đây khôngphải là hai tiến trình hợp tác duy nhất trên bình diện quốc tế ở thời điểm đó Tuynhiên, xem xét hai tiến trình này, có thể thấy được, quá trình hợp tác giữa các quốcgia phát triển (EEC) diễn ra mạnh mẽ hơn so với khối đang phát triển (ASEAN)

EEC Hợp tác liên chính phủ trong vấn đề môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu trong khu vực EEC biểu hiện chủ yếu trong các chính sách về môi

trường ở cấp khu vực Việc tập trung hóa quyền lực này cũng từng được nhìn nhận

là chưa thúc đẩy được sự tham gia của chính quyền địa phương ở các quốc gia trongkhu vực trong vấn đề này.24

Thêm nữa, ở thời điểm mục tiêu kinh tế là mối quan tâm hàng đầu trong khuônkhổ EEC, và vấn đề hợp tác bảo vệ môi trường, tiền thân của hợp tác ứng phó với biếnđổi khí hậu, được tiếp cận trên góc độ kinh tế Theo đó, Điều 100 trong Hiệp

23 (Giorgetti, 1998, p 127)

24 (Haigh, 1986, p 197)

Trang 25

ước EEC là cơ sở về mặt pháp lý để Tòa án Ủy ban châu Âu cho phép Ủy ban củaEEC ban hành những chính sách về môi trường áp dụng cho tất cả các quốc giatrong khối này Những chính sách này nhằm mục đích dung hòa những khác biệttrong các quy định về môi trường ở các quốc gia khác nhau có thể làm ảnh hưởngtới thị trường chung trong khu vực và vị thế cạnh tranh của các công ty Năm 1972,Hội nghị thượng định Paris25 đã đạt được một bước tiến lớn về chính trị và pháp lý,khi các nguyên thủ quốc gia trong khối thống nhất rằng, phát triển kinh tế cần phảiđồng hành cùng với sự tiến bộ trong chất lượng cuộc sống, đồng thời nhấn mạnhnhững nỗ lực bảo vệ môi trường.26

Ngoài ra, sự chuyển đổi vai trò “lãnh đạo” thúc đẩy tiến trình hợp tác quốc tếtrên phạm vi thế giới từ Hoa Kỳ sang EC trong thập niên từ 1970 đến đầu 1990cũng là một điểm đáng chú ý Thay đổi này ngoài việc là biểu hiện của những cải tổchính trị trong nội bộ khu vực, còn phản ánh sức ảnh hưởng đáng kể của một nhómcác quốc gia trong các chương trình hành động, trong đó có chính sách về môitrường và biến đổi khí hậu.27 Các quốc gia EC tại thời điểm đó và sau này là EU, đãsớm nhận thức được mối liên hệ trực tiếp giữa thịnh vượng về kinh tế và chất lượngcuộc sống, trong đó có yếu tố môi trường Từ đó có những chính sách mạnh mẽ hơnnhằm ứng phó với những biến đổi tiêu cực của môi trường

ASEAN Cũng giống như khối EU (tiền thân là EEC và EC), ASEAN cũng đặt

những quan ngại về vấn đề môi trường lên bàn đàm phán từ khá sớm, năm 1977.ASEAN thể thức hóa hợp tác này bằng việc ấn định các Cuộc họp cấp Bộ trưởng vềMôi trường (ASEAN Ministerial Meeting on the Environment – AMME) diễn ra banăm một lần Bên cạnh đó là các thảo luận của nhóm Các Quan chức cấp cao về Môitrường (ASEAN Senior Officials on the Environment – ASEON) họp thường niên.Trong khi AMME mang tính định hướng thông qua cac quyết định về chính sách,

25 Vào thời điẻm này, EEC đã phát triển thành Cộng đồng châu Âu (European

Community - EC)

26 (Jans, 1993, p 8)

27 (Kelemen, 2009, p 3)

Trang 26

ASEON có hoạt động mang tính kỹ thuật hơn và tập trung vào việc đệ trình cáckhuyến nghị về môi trường.

Mặc dù được thảo luận từ khá sớm, do sự lỏng lẻo trong kết cấu chính trị củakhu vực này ở thời điểm đó, các chương trình hành động liên quan đến môi trườngcủa ASEAN mang nặng tính hình thức28 Trong thập niên 1980, các thảo luận củaAMME và ASEON vẫn diễn ra đều đặn tuy nhiên không để lại dấu ấn rõ nét trongcác chương trình hành động ở thời điểm bấy giờ Mục tiêu của cơ bản của hoạt độnghợp tác trong khối ASEAN là thông báo, khuyến nghị và khuyến khích hợp tác liênquốc gia, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền quốc gia trong các chính sách phát triểnđộc lập của mỗi nước Chính vì vậy, cho tới thời điểm hội nhập vào quá trình hợptác quốc tế ở quy mô thế giởi về vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu, sự biếnchuyển rõ nét và cụ thể trong chính sách của các quốc gia thành viên mới có thểđược nhận thấy

1.2.2 Hợp tác phi chính phủ

Phi chính phủ là nhóm chủ thể tương đối mới hơn trong quan hệ quốc tế hiệnđại; và đặc biệt trong các thảo luận về vấn đề môi trường và ứng phó với biến đổi khíhậu, vai trò của nhóm dễ được nhận thấy29 Mặc dù thành phần chính của nhóm chủ thểnày bao gồm các tổ chức phi chính phủ (Non-Governmental Organization – NGO) vàcác cộng đồng khoa học, hoạt động của các NGO về cơ bản có phần quy mô và có hệthống hơn Các tổ chức này cũng có sự phân hóa trong yếu tố tổ chức và hướng tiếpcận Ví dụ như một số trường hợp điển hình: các tổ chức hoạt động thuần túy

28 (Elliott L , 2003, p 37)

29 Khủng hoảng môi trường toàn cầu là một trong bốn cuộc khủng hoảng trong lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai Những cuộc khủng hoảng này (ngoài khủng hoảng môi trường toàn cầu, còn có khủng hoảng mô hình nhà nước phúc lợi, khủng hoảng phát triển kinh tế, và khủng hoảng chủ nghĩa xã hội) đã góp phần đặt nền tảng và thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức phi chính phủ trên quy mô toàn cầu Trong cuộc khủng hoảng môi trường toàn cầu, sáng kiến và ý tưởng có phần chậm của các chính phủ trong việc ứng phó với tình trạng biến đổi khí hậu là nguyên nhân cơ bản khiến các tổ chức phi chính phủ tham gia mạnh mẽ vào hoạt dộng này (Giorgetti, 1998)

Trang 27

trong lĩnh vực môi trường30, các hiệp hội kinh doanh thương mại31, các tổ chứcnghiên cứu32, các tổ chức có mối quan tâm tới phát triển môi trường-xã hội3334.

Trước thời điểm ra đời của Nghị định thư Kyoto các hoạt động của nhóm cácNGO khá rời rạc trên bình diện hợp tác quốc tế Những năm 1980 đánh dấu sự hìnhthành và hành động sôi nổi của các NGO trong vấn đề môi trường và biến đổi khíhậu35 Mặc dù vậy, phong trào này cũng chủ yếu xuất hiện ở các nước phát triển,nơi có trình độ khoa học cao hơn Thêm nữa, các NGO ở các nước phát triển chủyếu tổ chức các hoạt động của mình ở phạm vi trong nước bao gồm các nghiên cứu

tư vấn cho cơ quan chính phủ, các cuộc vận động chính sách bảo vệ môi trường, cáchoạt động nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, v.v Tại thời điểm cuối thậpniên 1980 đầu thập niên 1990, trên thế giới chưa có cơ chế quốc tế thống nhất nào

hỗ trợ việc liên kết các tổ chức này và hoạt động của họ với nhau trên phạm vi toàncầu Điều này đã gián tiếp hạn chế phạm vi ảnh hưởng của những nỗ lực của cácNGO, cũng như hiệu quả của hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu nói chung.Nguyên nhân là do thiếu sự hợp tác từ phía các quốc gia đang phát triển, những nơi

mà hoạt động của các NGO trong vấn đề môi trường còn chưa phổ biến

Hoạt động của các cộng đồng khoa học cũng còn rời rạc Những nhóm này (cácchuyên gia) chủ yếu đóng vai trò tư vấn cho chuyên môn cho các chính phủ trong quátrình xây dựng chính sách, đặc biệt trong những vấn đề có nhiều biến động và khó dựđoán như trong lĩnh vực môi trường và biến đổi khí hậu Những ý kiến chuyên môn nàychỉ có thể tạo ra ảnh hưởng mạnh hơn, thúc đẩy quyết định của chính phủ ở cấp độtrong nước và quốc tế, khi các chuyên gia có được ủng hộ trong kết quả nghiên cứu củacác đồng nghiệp trong cùng chuyên ngành ở cách vùng địa lý khác.36

30 Ví dụ Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên có trụ sở ở Thụy Sỹ (World Wide Fund WWF)

31 Ví dụ Liên hiệp Khí hậu Toàn cầu có trụ sở ở Hoa Kỳ (Global Climate Coaliation)

32 Ví dụ Viện Curie có trụ sở ở Pháp (Curie Institute)

33 Ví dụ Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường có trụ sở ở Việt Nam (Institute for

34 (Raustiala, 2001)

35 (Giorgetti, 1998)

36 (Raustiala, 2001)

Trang 28

Cũng trong thời điểm thập niên 1980, những mối liên hệ trong cộng đồng nàycòn chưa được hình thành rõ ràng Tuy nhiên, diễn biến ngày càng nghiêm trọng củavấn đề môi trường và biến đổi khí hậu, đã trở thành động lực mạnh mẽ để cộng đồngkhoa học thế giới liên kết lại với nhau một cách có tổ chức hơn37 Cộng đồng khoa họcnày đã có nhiều cuộc gặp gỡ và nhất trí rằng cần thiết lập một cơ chế quốc tế, để thamvấn các thông tin khoa học cũng như thúc đẩy các chính sách, chương trình hành độngliên chính phủ nhằm ứng phó kịp thời với diễn biến của biến đổi khí hậu Đây cũngchính là đóng góp chủ yếu của mạng lưới hợp tác phi chính phủ.

1.2.3 Công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc (UNFCCC)

UNFCCC có thể được coi là nỗ lực hợp tác liên chính phủ trên quy mô toàncầu đầu tiên, trực tiếp tập trung vào chương trình hành động nhằm ứng phó với vấn

đề biến đổi khí hậu Trước đó, hoạt động của UNEP kể từ thời điểm thành lập vàonăm 1972 bao quát phạm vi rộng lớn các vấn đề về môi trường nói chung trên địacầu UNFCCC là kết quả của Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất (Earth Summit)38 năm

1992 tại Rio de Janeiro, Brazil Mục tiêu của thỏa thuận đa phương này là nhằm “…

ổn định sự tập trung của khí nhà kính trong khí quyển ở mức có khả năng ngăn chặncác ảnh hưởng tiêu cực do hoạt động của con người vào hệ thống khí hậu”39

Bản thân UNFCCC chỉ là một công ước khung, không có quy định cụ thể vàchi tiết, như lượng phát thải khí nhà kính hay thời hạn thực hiện việc giảm phát thảikhí nhà kính Thậm chí, UNFCCC cũng không thiết lập cơ chế thi hành các điềukhoản trong thỏa thuận mà các bên đã ký kết đồng thuận tuân thủ Như vậy, về mặtpháp lý, UNFCCC có ràng buộc tương đối lỏng lẻo Tuy nhiên, về mặt chương trìnhhành động, UNFCCC được xem như một diễn đàn mở để các bên có cơ hội đàmphán về các thỏa thuận trong từng vấn đề cụ thể (còn gọi là các Nghị định thư)

37 Tài liệu đã dẫn

38 Tên chính thức của Hội nghị này là Hội nghị Liên hợp quốc về mội trường và

phát triển (United Nations Conference on Environmental and Development - UNCED).

39 (UNFCCC, 1992, p Article 2)

Trang 29

Như đã nói ở trên, sự thành lập UNFCCC là một nỗ lực đến từ nhiều phía, khi

mà lời kêu gọi của Liên hợp quốc tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất đã nhận được sựhưởng ứng mạnh mẽ, không chỉ từ phía các quốc gia thành viên, cộng đồng các khuvực (EU, ASEAN, v.v.), mà còn từ phía các tổ chức phi chính phủ trong nhiều lĩnh vựckhác nhau Gần 10.000 NGO đã có mặt tại Hội nghị này để bày tỏ sự quan tâm sâu sắccủa mình tới vấn đề môi trường nói chung và biến đổi khí hậu nói riêng40 Thêm nữa,IPCC, một mạng lưới khoa học phi chính phủ, bằng các bằng chứng khoa học cụ thểcũng đã đóng góp không nhỏ vào quá trình đàm phán ký kết UNFCCC Cho tới nay,UNFCCC vẫn là diễn đàn quốc tế duy nhất thảo luận các chính sách ứng phó với biếnđổi khí hậu trên phạm vi thế giới41 UNFCCC được 196 bên phê chuẩn

Các bên tham gia UNFCCC được chia thành nhóm nhỏ hơn trong phần phụlục của Công nước này Theo đó, UNFCCC chia các bên tham gia thành ra hainhóm chính: (1) các quốc gia phát triển (hay công nghiệp) thuộc phụ lục I42; (2) cácquốc gia đang phát triển (đa số có thu nhập bình quân đầu người ở mức thấp) khôngthuộc phụ lục I43 Ngoài ra, trong phụ lục I của Công ước, có một nhóm riêng baogồm các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi (Economy In Transition – EIT): Nhómnày bao gồm Nga và các quốc gia Đông Âu trước thuộc Liên Xô cũ Việc phân loạinày nhằm mục tiêu thúc đẩy hiệu quả của các phiên thảo luận, đàm phán, lấy cơ sở

là nền tảng và trình độ phát triển kinh tế-xã hội và khoa học của các quốc gia/nềnkinh tế thuộc hai nhóm khác nhau

43 Xem danh sách đầy đủ của các quốc gia không thuộc Phụ lục I tại Trang thông tin

https://unfccc.int/parties_and_observers/parties/non_annex_i/items/2833.php

Trang 30

Hình 1.2: Các bên tham gia

UNFCCC trên bản đồ thế giới

Đỏ: Các quốc gia quan sát viên

Nguồn: (Wikipedia, UNFCCC,

2014)

UNFCCC ra đời là một trong những dấu mốc quan trọng của quá trình hợptác quốc tế ứng phó với biến đổi khí hậu Các chương trình hành động được xâydựng và thực hiện có tổ chức và liên tục hơn Một dẫn chứng cụ thể là Hội nghị Cácbên Tham gia (Conference of Parties – COP) được tổ chức hàng năm bắt đầu từnăm 1995 Các Hội nghị này tập hợp tất cả các bên tham gia UNFCCC để thảo luận

và đám phán các vấn đề cụ thể trong kế hoạch hành động nhằm cắt giảm phát thảikhí nhà kính, như trong mục tiêu chiến lược của UNFCCC Mỗi COP là một quátrình đàm phán căng thẳng giữa các bên nhằm tối ưu hóa lợi ích kinh tế chính trị xãhội của mình, trong khi vẫn bảo đảm cam kết trong UNFCCC Do đó, có nhữngCOP đạt được các thỏa thuận có giá trị lịch sử, ngược lại cũng có nhiều COP kếtthúc mà không đi tới bất kỳ đồng thuận nào Từ khi UNFCCC ra đời cho tới nay đãdiễn ra 20 lần COP (Xem thêm Phụ lục 4)

COP 1 diễn ra tại Berlin năm 1995 là sự kiện đáng chú ý đầu tiên trong khuônkhổ UNFCCC, mở đầu cho chuỗi các COP thường niên diễn ra liên tục cho tới hiệnnay COP 1 với 117 bên đã ký kết UNFCCC và 53 nước quan sát viên với kết quả làCam kết Berlin được đánh giá là một bước tiến đáng kể44 COP 1 là thời điểm để nhiềubên nhận ra tầm quan trọng của việc đàm phán một thỏa thuận cụ thể và có tính ràngbuộc pháp lý hơn so với UNFCCC Mặc dù được xác định rõ từ đầu, rằng COP

44 (Earth Negotiations Bulletin, 1995)

Trang 31

1chỉ đóng vai trò chuẩn bị và lên kế hoạch cho một văn bản pháp lý chi tiết trongkhuôn khổ UNFCCC, các bên tham gia cũng có những phản ứng khác nhau đối vớicác đề xuất thảo luận của COP 1 Ví dụ, trừ EU, Hoa Kỳ và các quốc gia trongnhóm Phụ lục I tích cực ủng hộ và vận động cho cơ chế “cùng thực hiện” (jointimplementation) Cơ chế này chấp nhận việc các quốc gia phát triển hỗ trợ các quốcgia khác (chủ yếu là trường hợp các quốc gia đang phát triển) trong những hoạtđộng giảm phát thải khí nhà kính, thông qua các dự án đầu tư “sạch” hoặc chia sẻcác công nghệ sản xuất tiên tiến thân thiện hơn với môi trường Trong khi đó, cácquốc gia đang phát triển lại phản đối đề xuất này và coi đó là sự chối bỏ trách nhiệmcủa nhóm các quốc gia phát triển45 COP 1 ở Berlin đã kết thúc với mục tiêu sẽ đưa

ra một cơ chế pháp lý cụ thể (một Nghị định thư) vào năm 1997 để cụ thể hóa bằngnhững con số cho lộ trình cắt giảm các khí nhà kính

COP 2 diễn ra ở Geneva năm 1996 là cầu nối giữa quyết định đưa ra một cơchế pháp lý cụ thể trong khuôn khổ UNFCCC ở COP 1 và việc hiện thực hóa quyếtđịnh này bằng Nghị định thư Kyoto ở COP 3 Với Tuyên bố chung Geneva, COP 2đánh dấu việc Hoa Kỳ lần đầu tiên đồng ý tham gia một thỏa ước có tính ràng buộcpháp lý46 COP 2 bắt đầu bước vào đàm phán những vấn đề chi tiết trong vấn đề cắtgiảm khí nhà kính, như trách nhiệm của mỗi nhóm nước được xác định như thế nào,

lộ trình cắt giảm diễn ra trong bao lâu và trải qua những mốc nào Những vấn đềnày khiến vòng đàm phán ở COP2 căng thẳng hơn so với COP 1 Tuy nhiên, vai tròbước đệm của COP 2 đã diễn ra tương đối suôn sẻ trước thềm COP 3 và sự ra đờicủa Nghị định thư Kyoto

1.3 Sự ra đời của Nghị định thư Kyoto

Nghị định thư Kyoto trong khuôn khổ UNFCCC, ở thời điểm bấy giờ, có thểcoi là thắng lợi của những nỗ lực đàm phán quốc tế đa phương trong vấn đề biến đổi

45 (Rowlands, 1995, p 148)

46 (Earth Negotiations Bulletin, 1996)

Trang 32

khí hậu Trong khi UNFCCC không có các ràng buộc chi tiết các bên ký kết về mặtpháp lý, Nghị định thư Kyoto là một bước đột phá trên phương diện này Nghị định thưKyoto vạch rõ lộ trình cắt giảm phát thải khí nhà kính, cấp thiết nhất là khí CO2, theocác nhóm quốc gia với trình độ phát triển kinh tế xã hội khoa học khác nhau.

Nghị định thư Kyoto cũng là một trường hợp điển hình cho các vòng đámphán quốc tế căng thẳng, khi mà mỗi bên đều giữ lập trường khác nhau, có các cáchtiếp cận khác nhau để giải quyết một vấn đề chung ảnh hưởng tới tất cả các bên Ởvòng đàm phán này, quyền thương lượng (bargaining power) của các bên đều thểhiện rõ ràng Cụ thể quá trình đàm phán diễn ra như thế nào sẽ được trình bày cụ thểtrong phần này

1.3.1 Hội nghị các bên tham gia lần thứ 3 (COP 3)

Với tầm quan trọng được dự đoán trước, COP 3 diễn ra với quy mô đáng kể.Được tổ chức từ 1-11/12/1997 tại Kyoto, Nhật Bản, COP 3 đón hơn 10.000 đại biểu từcác đoàn khác nhau, bao gồm chính phủ các bên, các NGO, tổ chức liên chính phủ vàthông tấn báo chí Có thể nói COP 3 nhận được nhiều sự quan tâm lớn của nhiều bênliên quan, thể hiện trước nhất ở số đại biểu tham dự Nếu như hiện diện ở COP 1 là gần1,000 đại biểu đến từ khoảng 165 NGO47, con số này ở COP 3 là gần 4,00048 So vớiCOP 2 có 1,500 đại biểu tham dự từ các đoàn, số lượng 10,000 đại biểu ở COP

3 thực sự áp đảo Số lượng đại biểu lớn, một mặt gửi đi thông điệp về sự quan tâm

đáng kể của cộng đồng quốc tế trong việc thiết lập một thỏa thuận ràng buộc pháp

lý, mặt khác cho thấy sự tập trung chuẩn bị về mặt nhân sự của các đoàn trước thềmcuộc đàm phán quan trọng

Kết quả đạt được tại COP 3, tính từ thời điểm ra đời UNFCCC, mang tính bướcngoặt trong chuỗi các thỏa thuận quốc tế đa phương về ứng phó với biến đổi khí hậu

Để đạt được kết quả này, như đã đề cập ở phần trước, COP 3 đã được chuẩn

47 Theo ước tính, số lượng đại biểu từ khối phi chính phủ còn nhiều hơn số lượng từ các đoàn đàm phán chính thức của các chính phủ

48 (Raustiala, 2001, p 99)

Trang 33

bị từ những COP trước đó Với hai tiền đề là COP 1 và 2, COP 3 mang sứ mạng quan trọng với mục tiêu cụ thể, chi tiết Tuy vậy, các điểm trọng tâm của đàm phán ở COP

3không phải ít và cũng không đơn giản để đạt được thống nhất49 Hai mục tiêu hợptác quan trọng nhất cần đám phán thông qua ở COP 3 được xác định rõ: (1) Mức cắtgiảm khí nhà kính là bao nhiêu, dự kiến lộ trình hoàn thành là khi nào, và có nhữngquốc gia nào phải tham gia thỏa thuận này; (2) Những phương thức nào được chấpnhận áp dụng trong quá trình cắt giảm khí nhà kính Bằng cách so sánh văn bảnUNFCCC thông qua tại Hội nghị Thượng Đỉnh Trái đất năm 1992 và Hiệp định thưKyoto thông qua tại COP 3 năm 1997, cũng có thể dễ dàng nhận ra bước phát triểnđáng kể trong quá trình hợp tác quốc tế này

COP 3 diễn ra căng thẳng đúng như dự đoán của thế giới trước thềm hội nghị.Như đã nêu ở trên, các bên đàm phán trên cơ sở hai nhóm vấn đề chính Ở nhóm mụctiêu thứ nhất, diễn đàn thảo luận chủ yếu là giữa các nước phát triển Do các bên đãthống nhất về sự tham gia tự nguyện của nhóm các quốc gia đang phát triển, nhữngmục tiêu ở nhóm này chủ yếu dành cho nhóm các quốc gia phát triển50 Các bên tậptrung đàm phán để thống nhất các chi tiết của mục tiêu cần đạt được trong lộ trình cắtgiảm phát thải khí nhà kính Một trong những điểm gây tranh luận đầu tiên chính làviệc lựa chọn năm nào để làm năm cơ sở để so sánh với năm mục tiêu của lộ trình cắtgiảm Điểm tiếp theo là việc áp dụng mức cắt giảm nào cho các nước Đây là một trongnhững nội dung thảo luận và đàm phán quan trọng trong nhóm các nước phát triển.Trong khi EU đặt ra mục tiêu đầy tham vọng ở mức 15%, Hoa Kỳ lại chủ trương chỉgiữ ổn định mức phát thải của mình so với năm cơ sở Ngoài EU và Hoa Kỳ, các nướctrong nhóm Phụ lục I khác cũng có những đề xuất khác của mình Khoảng cách tươngđối lớn trong các gói đề xuất của các bên đưa ra đã gây ra không ít khó khăn cho tiếntrình đàm phán ở hội nghị Một điểm cơ bản nữa cũng được thảo luận, đó là những khínào sẽ được liệt kê trong danh sách khí nhà kính của lộ trình cắt giảm phát thải Thêmnữa, mặc dù đã được các bên (trừ Hoa Kỳ) thống nhất và ký kết trong

49 (Downie, 2014, p 72)

50 (Downie, 2014, p 72)

Trang 34

Cam kết Berlin ở COP 1, và Hoa Kỳ cũng đã đồng ý với thỏa thuận này trong Tuyên bốchung Geneva ở COP 2, Hoa Kỳ vẫn một lần nữa muốn xem xét lại điểm này Độngthái này của Hoa Kỳ đã ít nhiều gây ra sóng gió trong quá trình đàm phán.

Nhóm mục tiêu thứ hai cũng chứng kiến không khí đàm phán căng thẳngkhông kém Quá trình đàm phán ở nhóm mục tiêu này còn ghi nhậm sự tham giacủa các quốc gia đang phát triển Trong khi nhóm JUSSCANZ51 ủng hộ mạnh mẽcác cơ chế linh hoạt áp dụng trong quá trình cắt giảm phát thải khí nhà kính, nhómcác quốc gia đang phát triển, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ lại kiên quyết phảnđối những cơ chế này Bên cạnh đó, EU đề xuất cơ chế linh hoạt riêng áp dụng nộikhối, hay còn gọi là “bong bóng EU” (EU-bubble) Ban đầu, đề xuất này khôngnhận được nhiều sự ủng hộ của các quốc gia khác.52

Một trong những bước ngoặt quan trọng nhất của quá trình đàm phán căngthẳng ở COP 3 chính là sự tham dự bất ngờ của Phó Tổng thống Hoa Kỳ lúc bấygiờ, Al Gore53 Sự tham gia này không có trong kế hoạch này của Al Gore cùng vớiquan điểm cởi mở và tích cực hơn so với lập trường đàm phán cứng rắn của pháiđoàn Hoa Kỳ trước đó đã phá vỡ thế bế tắc và thúc đẩy tiến trình đàm phán Trongbài phát biểu của mình tại phiên toàn thể, vị Phó Tổng thống Hoa Kỳ đã nêu rõ quanđiểm của mình trong lập trường đàm phán của phái đoàn Hoa Kỳ54, “cần thể hiện sựlinh hoạt hơn trong đàm phán để tiến tới một kế hoạch toàn diện”55

Trong quá trình một tuần thương thảo giữa các thành viên đàm phán của các bêntham gia, và sự tham gia của bộ trưởng các nước vào những ngày cuối, có một số thờiđiểm cuộc đàm phán rơi vào bế tắc và có nguy cơ đổ vỡ Phiên đàm phán toàn

51 JUSSCANZ là nhóm các quốc gia phát triển được đề cập trong Phụ lục I của

UNFCCC mà không phải thành viên EU Nhóm này bao gồm: Nhật Bản, Hoa Kỳ, Thụy Sỹ, Canada, Úc, Nauy, và New Zealand.

Eizen-55 (Oberthur, S & Ott, H., 1999, p 86).

Trang 35

thể cuối cùng diễn ra suốt đêm và đạt được các bên đều thông qua văn bản cuốicùng của Nghị định thư Kyoto Nghị định thư Kyoto ra đời đóng lại vòng đàm phánlịch sử năm 1997 – vòng đàm phán kết thúc muộn hơn một ngày so với kế hoạch.56

Kết quả lớn nhất của COP 3 chính là sự ra đời của Nghị định thư Kyoto Nghịđịnh này ràng buộc các nước phát triển (danh sách trong Phụ lục I) sẽ cắt giảm việcphát thải khí nhà kính ở mức trung bình 5.2% thấp hơn so với mức phát thải của mìnhghi nhận vào năm 1990 Thời hạn thực hiện cam kết này là vào năm 2012 Việc cácquốc gia đang phát triển tham gia vào quá trình giảm phát thải này dựa trên nguyên tắc

tự nguyện vẫn được giữ nguyên, như trong các văn bản thoả thuận giữa các bên xuyênsuốt tiến trình của UNFCCC tính tới thời điểm đó (UNFCCC 1992, Cam kết Berlin

1995, và Tuyên bố chung Geneva 1996) Nhóm JUSSCANZ, với sự tham gia tích cựccủa Nhật Bản và Hoa Kỳ, đạt được thỏa thuận về cơ chế mua bán phát thải (emisionstrading mechanism) Tuy nhiên, những điều khoản cụ thể của cơ chế này sẽ được cácbên tiếp tục thảo luận và đàm phán trong các COP tiếp theo Cơ chế này được coi như

sự khuyến khích các dự án hỗ trợ giảm phát thải giữa các quốc gia phát triển và đangphát triển, đặc biệt thông qua trao đổi nâng cao công nghệ.57

1.3.2 Sự gia nhập của các bên

Kết thúc COP 3, văn bản chính thức của Nghị định thư Kyoto được thông qua

và mở ra giai đoạn phê duyệt và thực hiện thỏa thuận này của các bên tham gia Thờigian ký kết của Nghị định thư Kyoto được mở cho các bên tham gia UNFCCC bắt đầu

từ ngày 16 tháng 3 năm 1998 và mở trong thời gian là một năm58 Đến cuối thời giannày có 84 chữ ký vào bản Nghị định thư59 Quan trọng nhất là các bên cần phê duyệtNghị định thư Kyoto – bước cuối cùng để chính thức trở thành bên tham gia của Nghịđịnh thư Cho tới thời điểm hiện nay, Nghị định thư Kyoto có 192 bên, trong

56 (Oberthur, S & Ott, H., 1999, p Chapter 7)

57 (UNFCCC, 1997)

58 (UNFCCC, 1997, p Article 24)

59 (UNFCCC, 2014)

Trang 36

đó có 191 quốc gia và một tổ chức cấp khu vực về hội nhập kinh tế (EC)6061 Chỉkhi văn bản này được phê duyệt, các quốc gia mới chính thức bị ràng buộc về mặtpháp lý vào các cam kết nêu ra trong Nghị định thư.

Hình 1.3: Các bên tham gia Nghị định thư Kyoto trên bản đồ thế giới (2014)

Chú thích:

Xanh lá cây: Các bên thuộc phụ lục I với mục tiêu cam kết trong gian đoạn thứ 2 62

Tím: Các bên thuộc phụ lục I với mục tiêu cam kết trong giai đoạn thứ 1 63 , nhưng không

có mục tiêu cam kết trong trong giai đoạn thứ 2

Xanh dương: Các bên không thuộc phụ lục I và không có mục tiêu cam kết

Vàng: Các bên thuộc phụ lục I có mục tiêu cam kết trong giai đoạn 1 nhưng đã rút lui khỏi Nghị định thư Kyoto

Da cam: Các bên ký kết Nghị định thư Kyoto nhưng không được phê duyệt

Đỏ: Các quốc gia thành viên Liên hợp quốc và quan sát viên không phải bên tham gia Nghị định thư Kyoto

Nguồn: (Wikipedia, Kyoto Protocol, 2014)

Mặc dù có số lượng lớn các bên tham gia, tại một số vùng lãnh thổ Nghị địnhthư Kyoto không có giá trị áp dụng Ví dụ như trường hợp của những vùng lãnh thổ

tự trị thuộc Vương quốc Anh và Vương quốc Hà Lan, các quốc gia này mặc dù đãphê duyệt Nghị định thư Kyoto nhưng lại không có thẩm quyền đại diện phê duyệt

60 (UNFCCC, 2014)

61 Thực ra việc ký kết không phải là bắt buộc thực hiện Các bên ký vào văn bản này để khẳng

định rõ hơn ý định phê duyệt Nghị định thư Kyoto của mình.

62 Giai đoạn thứ 1: 2008-2012 Xem thêm ở chương 2.

63 Giai đoạn thứ 2: 2012-2020 Xem thêm ở chương 2.

Trang 37

văn bản này cho các vùng lãnh thổ trực thuộc Ngoài ra các bên quan sát viên cũngkhông có thẩm quyền tham gia và phê duyệt Nghị định thư Kyoto.

Bên cạnh đó là hai trường hợp đặc biệt của Hoa Kỳ và Canada Hoa Kỳ đãsớm ký vào bản thỏa thuận này từ cuối năm 1998, thể hiện bước ngoặt tích cựctrong chính sách hợp tác quốc tế trong vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu củamình Tuy nhiên, quốc hội Hoa Kỳ đã không chấp nhận phê duyệt văn bản nàykhiến cho việc đàm phán và ký kết của phái đoàn Hoa Kỳ trở nên vô giá trị Nghịđịnh thư Kyoto do đó cũng không có hiệu lực áp dụng với trường hợp của Hoa Kỳ

Về phần Canada, quốc gia này phê duyệt Nghị định thư Kyoto vào cuối năm 2002.Tuy nhiên, cuối năm 2011, quốc gia này cũng đã chính thức tuyên bố rút khỏi Nghịđịnh thư Ngoài Canada, Nhật Bản và Nga cũng từng tuyên bố sẽ không tiếp tụccam kết các mục tiêu trong Nghị định thư Kyoto vào giai đoạn tiếp theo Mặc dùvậy, hai quốc gia này vẫn chưa có động thái chính thức rút khỏi thỏa thuận nhưCanada Những trường hợp này sẽ được phân tích cụ thể hơn ở các phần sau

1.3.3 Ý nghĩa của việc ra đời Nghị định thư Kyoto

Nghị định thư Kyoto có ý nghĩa quốc tế quan trọng dù đây không phải là làthỏa ước đầu tiên về vấn đề này Tuy vậy, sự ra đời của Nghị định thư này đã đánhdấu một bước tiến mới trong tiến trình hợp tác quốc tế Lần đầu tiên vấn đề biến đổikhí hậu được một số lượng lớn các bên tham gia cam kết hành động với những ràngbuộc về mặt pháp lý quốc tế Điều này cho thấy mối quan tâm ngày càng lớn củacác chủ thể trong quan hệ quốc tế, bao gồm các quốc gia, các tổ chức liên và phichính phủ

Việc thông qua văn bản của Nghị định thư Kyoto sau một quá trình đàm pháncăng thẳng cũng đã thể hiện nỗ lực hợp tác quốc tế mạnh mẽ của các bên Cần phảinhấn mạnh rằng mỗi bên đều mang đến vòng đàm phán COP 3 những gói đề xuất khácnhau, xuất phát từ những mục tiêu và động cơ khác nhau Điều này cũng có thể dễ dàng

lý giải Các quốc gia khác nhau có những điều kiện và nền tảng phát triển khác nhautrong mọi mặt, từ kinh tế chính trị cho đến khoa học công nghệ Thêm vào

Trang 38

đó, các quốc gia này cũng phát triển và theo đuổi những kế hoạch và mục tiêu tăngtrưởng phụ thuộc vào những tiền đề riêng của mình Vì vậy, một văn bản quốc tế nhưNghị định thư Kyoto với những ràng buộc pháp lý, có khả năng ảnh hưởng trực tiếp tới

lộ trình phát triển của nhiều bên Việc thống nhất thông qua văn bản này cho thấy nỗlực cam kết của các bên ở thời điểm đó, nhằm chung tay giải quyết một vấn đề toàn cầu

có thể để lại những hậu quả nghiêm trọng hơn về lâu dài cho tất cả các bên

Tuy nhiên, vẫn tồn tại những quan điểm phê phán đối với bản Nghị định thưnày Đó là những chỉ trích đối với một số điểm quy định trong nội dung của thỏa ướcnày Bên cạnh đó là những điểm hạn chế trong quá trình thực hiện của các bên thamgia Những điểm này sẽ được nêu cụ thể hơn trong phần tiếp theo của luận văn

Tiểu kết

Chương I tập trung làm rõ những điểm cơ bản về vấn đề biến đổi khí hậu và quátrình hợp tác quốc tế trong vấn đề này cho tới thời điểm ra đời Nghị định thư Kyoto.Vấn đề biến đổi khí hậu là một trong những vấn đề toàn cầu ngày càng thu hút sự quantâm của cộng đồng quốc tế, do diễn biến nhanh và phức tạp cùng những hệ quả nghiêmtrọng mà nó đã để lại và có khả năng tiếp tục gây ra Để đối phó có hiệu quả với diễnbiến này, các quốc gia cần phối hợp với nhau để cùng hành động Việc hợp tác quốc tế

về bảo vệ môi trường nói chung đã diễn ra từ những thập niên 1970-1980 Tuy nhiên,hợp tác quốc tế cụ thể trong vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu diễn ra muộn hơn, vàonhững năm 1990 Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất và sự thành lập UNFCCC năm 1992

đã mở đầu cho quá trình hợp tác quốc tế về vấn đề này trên bình diện thế giới.UNFCCC cũng là tiền đề quan trọng cho sự ra đời của Nghị định thư Kyoto, thỏa ướcquốc tế đầu tiên có tính ràng buộc về pháp lý đối với các bên tham gia Trong đó, cácbên tham gia cam kết sẽ cắt giảm lượng phát thải của mình so với mức của năm cơ sở

1990 Sự ra đời của văn bản này có ý nghĩa lịch sử đối với quá trình hợp tác quốc tếtrong vấn đề biến đổi khí hậu này Quá trình thực hiện và tác động của bản Nghị địnhthư này sẽ được xem xét trong chương tiếp theo

Trang 39

Chương 2 NGHỊ ĐỊNH THƯ KYOTO

VÀ VIỆC THỰC HIỆN

2.1 Nội dung chủ yếu của Nghị định thư Kyoto

Không ai có thể phủ nhận ý nghĩa tích cực và quan trọng của Nghị định thưKyoto trong quá trình hợp tác quốc tế về biến đổi khí hậu Những điều khoản này có

ý nghĩa và giá trị nhiều hơn khi đây là một văn bản có tính ràng buộc về mặt luậtpháp quốc tế So với UNFCCC ra đời năm, Nghị định thư Kyoto là bước phát triểnđáng chú ý

Nghị định thư Kyoto gồm có 28 điều và hai phần phụ lục A, B Những điềukhoản trong khuôn khổ văn bản này được chia thành hai nhóm nội dung chính, vấn

đề mục tiêu cắt giảm phát thải và vấn đề cơ chế thực hiện mục tiêu Hai nhóm nộidung này đã được giới thiệu khái quát ở chương 1 của luận văn Trong phần này, hainhóm này sẽ được trình bày cụ thể, chi tiết Đồng thời quá trình và ý nghĩa củanhững điều khoản này cũng sẽ được phân tích, nhằm giúp làm rõ diễn biến của quátrình hợp tác quốc tế thể hiện qua Nghị định thư Kyoto

2.1.1 Vấn đề cắt giảm lượng phát thải khí nhà kính

Nội dung cắt giảm lượng phát thải khí nhà kính là bước phát triển mang tínhbản lề của Nghị định thư Kyoto so với UNFCCC Với những điều khoản quy định

cụ thể về vấn đề này, bản Nghị định thư đã cụ thể hóa mục tiêu mà các bên tham gia

đề cập đến trong UNFCCC Những điều khoản này hình thành phần khung chonhững chương trình hành động của các bên tham gia, nhằm đạt được mục tiêu camkết trong vấn đề giảm phát thải để ứng phó với biến đổi khí hậu Nhóm nội dungnày bao gồm những điểm chính sau: năm cơ sở, danh sách các khí nhà kính, và mứccắt giảm phát thải

Năm cơ sở Theo Điều 3 của Nghị định thư Kyoto, năm 1990 được lấy làm

năm cơ sở để đo mục tiêu giảm phát thải được đề ra và thống nhất trong nội dung

Trang 40

bản Nghị định thư giữa các bên tham gia Đối với các bên có nền kinh tế trong giaiđoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, các chính phủ này có quyền lựa chọnnăm cơ sở 1990, hoặc một giai đoạn Cũng theo điều 3 của Nghị định thư Kyoto,các bên có thể lựa chọn 1995 là năm cơ sở cho mức phát thải của một số loại khíkhác64.

Bảng dưới đây nêu con số cụ thể về mức phát thải thời điểm năm 1990 so vớimức chung toàn cầu của một số bên tham gia Nghị định thư Kyoto

Bảng 2.1: Lượng phát thải CO2 của một

số bên Phụ lục I (1990)

* Phần trích này chỉ liệt kê các bên có tỉ

trọng mức phát thải trên 2%

Nguồn: Trích từ Bảng Tổng lượng các phát

thải CO2 của các Bên Phụ lục I năm 1990

nhằm các mục đích của Điều 5 của Nghị

định thư Kyoto (UNFCCC/Vụ Hợp tác

quốc tế, Bộ Tài nguyên và Môi trường,

1997)

Bên*

ÚcCanadaPhápĐứcÝNhật Bản

Ba LanNgaAnhHoa KỳTổng lượng phát thải (100%) của 38 bên Phụ lục I của năm cơ sở 1990 nàyđược coi là phần chủ yếu của lượng khí CO2 phát thải trên phạm vi toàn cầu vàothời điểm đó Sự chênh lệch về tỉ trọng trong tổng lượng phát thải của nhóm Phụ lục

I này là điểm đáng quan tâm trong nội dung và quá trình đàm phán Nghị định thưKyoto Đây cũng chính là lý do việc 1990 được chọn làm năm cơ sở chiếm nhiềuthời gian đàm phán, gây tranh cãi, và cũng gặp phải nhiều chỉ trích sau khi được ấnđịnh Việc cắt giảm lượng phát thải khí nhà kính ảnh hưởng trực tiếp tới việc xâydựng và thực hiện các kế hoạch sản xuất, phát triển kinh tế vĩ mô của cả một quốcgia Thời điểm 1990, nền kinh tế châu Âu, bao gồm các nền kinh tế thành viên, có

64 Như fluorocarbon, perfluorocarbon (PFC), và sulphur hexafluoride (SF6)

Ngày đăng: 27/10/2020, 21:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w