1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TẠI NHÀ MÁY GẠCH LÁT HOA VÀ MÁ PHANH Ô TÔ HÀ NỘI

41 293 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Tình Hình Tại Nhà Máy Gạch Lát Hoa Và Má Phanh Ô Tô Hà Nội
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 68,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đánh giá khái quát tình hình tài chính của Nhà Máy, trước hết cần phải so sánh tổng số tài sản tổng số nguồn vốn giữa cuối kỳ và đầu năm trên bảng cân đối kế toán của Nhà Máy để thấy

Trang 1

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TẠI NHÀ MÁY GẠCH LÁT HOA VÀ

MÁ PHANH Ô TÔ HÀ NỘI2.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính của Nhà Máy.

2.1.1 Đánh giá sự biến động về tổng tài sản.

Tài sản và nguồn vốn là hai mặt khác nhau của cùng một vấn đề vốn Một tài sản có thể được tài trợ từ một hay nhiêuù nguồn vốn khác nhau Ngược lại, một nguồn vốn có thể tham gia một hay nhiều loại tài sản Về mặt lượng, tổng giá trị tài sản bao giờ cũng bằng tổng nguồn hình thành tài sản (nguồn vốn) Do đó, sự thay đổi về tài sản cũng đồng thời tương đương với sự thay đổi của nguồn vốn.

Để đánh giá khái quát tình hình tài chính của Nhà Máy, trước hết cần phải so sánh tổng số tài sản (tổng số nguồn vốn) giữa cuối kỳ và đầu năm trên bảng cân đối kế toán của Nhà Máy để thấy được qui mô vốn cũng như khả năng huy động vốn của Nhà Máy.

Thực tế, từ bảng cân đối kế toan của Nhà Máy Gạch Lát Hoa và Má Phanh Ô Tô Hà Nội ta thấy tổng số tài sản của Nhà Máy từ năm 2006 đến năm

x 100 = 40.1%

x 100 =

Trang 2

xuất được mở rộng, khả năng huy động vốn rất khả quan Đây là điều kiện rất tốt cho hoạt động và phát triển của Nhà Máy.

Tuy nhiên, sự gia tăng về tổng số tài sản này chỉ phản ánh được qui mô sản xuất kinh doanh của Nhà Máy đã được hoạt động chứ chưa thể hiện hết thực trạng tài chính của Nhà Máy Do đó để đánh giá một cách đầy đủ thực trạng tài chính cũng như tình hình sử dụng tài sản của Nhà Máy chúng ta cần đi sâu xem xét các mối quan hệ và tình hình biến động của các chỉ tiêu trong bảng cân đối

kế toán thông qua ba mối quan hệ lớn:

2.1.2 Xem xét ba mối quan hệ cân đối lớn

Cân đối 1: (IA +IVA + IB) TÀI SẢN = (B) NGUỒN VỒN.

Cân đối này phản ánh: Nguồn vốn chủ sở hữu phải đủ bù đắp cho các

loại tài sản chủ yếu của doanh nghiệp không phải đi vay hoặc đi chiếm dụng Tuy nhiên, cân đối này chỉ tồi tại trên lý thuyết, là cân đối lý tưởng mà các nhà quản trị muốn đạt tới Trên thực tế thường xảy ra hai trường hợp:

- Trường hợp 1: Vế trái lớn hơn vế phải, nghĩa là nguồn vốn chủ sở hữu không đủ bù đắp cho các loại tài sản chủ yếu cho doanh nghiệp Do đó doanh nghiệp phải đi vay hoặc đi chiến dụng vốn của các đơn vị khác

- Trương hợp 2: Vế trái nhỏ hơn vế phải, có nghĩa là nguồn vốn chủ sở hữu thừa kế đầu tư cho các loại tài sản chủ yếu Do đó, nếu doanh nghiệp không có phương án sử dụng số vốn thừa đó thì sẽ bị chiếm dụng vốn và hiệu quả sử dụng vốn không cao.

Áp dụng vào Nhà Máy Gạch Lát Hoa và Má Phanh Ô Tô Hà Nội ta có bảng phân tích sau.

Bảng 1: Tình hình sử dụng nguồn vốn của Nhà Máy.

Trang 3

Đơnvị : Nghìn đồng

( % )

Vay, đi chiếm dụng ( % )

13 % trong tổng số tài sản và số phải đi vay hay chiếm dụng vốn là rất lớn tới

24 430 926 nghìn đồng chiếm 87% tổng tài sản chủ yếu Đến năm 2007, tổng

số tài sản chủ yếu tăng 7 494 830 nghìn đồng với đầu năm 2006 Do đó, khả năng tài trợ của nguồn vốn chủ sở hữu đã tăng lên và bù đắp 23 % tổng tài sản chủ yếu và cũng từ đó việc đi vay hay đi chiếm dụng vốn của Nhà Máy đã giảm xuống chỉ còn 77 % tức là đã giảm được 10 % so với năm 2007 Đây là một dấu hiệu tốt dần lên trong hoạt động tài chính của nhà máytrong tương lai Nhưng nhìn chung về hiện tại, Nhà Máy có lợi thế về sức mạnh tài chính, không được chủ động trong các hoạt động sản xuíât kinh doanh của mình do Nhà Máy luôn dơi vào tình trạng lệ thuộc quá nhiều vốn ở bên ngoài, khả năng

tự chủ về tài chính củ Nhà Máy là rất yếu kém Tuy nhiên, qua cân đối này chưa thể chỉ ra được Nhà mMy đi vay hay đi chiếm dụng vốn có hợp pháp hay không.

Vì vậy, để hiểu rõ hơn vấn đề này ta đi vào xem xét cân đối 2.

Cân đối 2:

(IA + IIA + IVA + B) TÀI SẢN = (B + VAY) NGUỒN VỐN

Cân đối này phản ánh: trong quá trình hoạt động kinh doanh, ngoài nhu

cầu đầu tư cho các loại tài sản chủ yếu, doanh nghiệp còn có nhu cầu đầu tư cho hoạt động tài chính ngắn hạn và dài hạn để thu thêm lợi nhuận Nếu nguồn vốn chủ sở hữu không đủ để đáp ứng nhu cầu kinh doanh mở rộng thì

Trang 4

doanh nghiệp được phép đi vay để bổ sung vào nguồn vốn Doanh nghiệp có thể đi vay các khoản vay ngắn hạn, trung và dài hạn các ngân hàng, quỹ tín dụng hoặc của cá nhân trong và ngoài doanh nghiệp … loại trừ các khoản vay quá hạn Các khoản vay chưa đến hạn trả, sử dụng cho các hoạt động kinh doanh được coi là nguồn vốn hợp pháp

Nếu 2 vế của cân đối 2 bằng nhau thì lượng vốn doanh nghiệp vay thêm vừa đủ để bù đắp cho nhu cầu vốn kinh doanh Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp luôn xuất hiện các luồng tiền đi vào và đi ra mà các luồng chuyển dịch này lại không đều nhau tại một thời điểm Thế nên, cân đối này chỉ tồn tại trên lý thuyết Trên thực tế thường xảy ra 2 trường hợp:

Một là: vế trái nhỏ vế phải, nghĩa là do thiếu vốn để mở rộng kinh doanh nên

doanh nghiệp phải đi vay nhưng lại vay quá mức cần thiết nên dẫn đến thừa vốn và doanh nghiệp sẽ dơi vào tình trạng bị bạn hàng chiếm dụng vốn

Hai là: vế trái lớn hơn vế phải, tức là doanh nghiệp cũng đi vay để bù đắp

cho nhu cầu của mình nhưng vay rồi mà vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh mở rộng nên tất yếu doanh nghiệp phải đi chiếm dụng vốn của các đơn vị khác Cân đối hai ở Nhà Máy Gạch Lát Hoa và Má Phanh Ô Tô Hà Nội được thể hiện như sau:

Bảng 2: Tình hình sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu và vốn vay của Nhà Máy:

Từ số liệu trên cho thấy: ở cả năm 2006 – 2007, Nhà Máy sau khi đi vay để phục vụ cho nhu cầu SXKD mở rộng của mình nhưng số vốn vay lại quá nhiều dẫn đến dư thừa vốn và đã để các bạn hàng chiếm dụng mất số vốn vay đó Số vốn mà doanh nghiệp bị chiếm dụng ngày càng tăng lên Điều này chứng tỏ

Trang 5

hoạt động quản lý tài chính của Nhà Máy chưa tốt Cụ thể là Nhà Máy đã dự báo về nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động SXKD của mình chưa chính xác dẫn đến tình trạng vay thừa nhiều vốn cà đã bị bạn hàng lợi dụng vốn đó Trong thời gian tới, Nhà Máy cần cân đối lại nhu cầu vay vốn thực tế với số vốn vay

để hoạt động vay nợ phát huy hiệu quả tối đa.

Để đưa ra nhận định doanh nghiệp là người đi chiếm dụng vốn hay bị chiếm dụng vốn, trong hoạt động phân tích thường so sánh các khoản nợ, phải thu với các khoản nợ phải trả Cân đối 3 thể hiện rõ điều này.

Cân đối 3: (IIIA + VA) Tài sản = (A – vay) nguồn vốn

Hay: Nợ phải thu = Nợ phải trả

Các khoản nợ phải thu thể hiện số vốn mà doanh nghiệp bị chiếm dụng, các khoản nợ phải trả phản anh số vốn mà doanh nghiệp chiếm dụng được Trường hợp cân bằng giữa nợ thu và nợ phải trả thể hiện doanh nghiệp không

bị chiếm dụng vốn và cũng không bị chiếm dụng vốn Do đó, cân đối này chỉ tồn tại trên lý thuyết Thực tế thường xảy ra chênh lệch, khoản chênh lệch này thể hiện số vốn mà doanh nghiệp chiếm dụng được hoặc bị chiếm dụng.

Nếu vế trái lớn hơn với vế phải tức là nợ phải thu lớn hơn nợ phải trả Điều đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đang ở trong tình trạng bị chiếm dụng vốn

Số vốn bị chiếm dụng = Nợ phải thu - Nợ phải trả

Nếu vế trái nhỏ hơn vế phải tức là nợ phải thu nhỏ hơn nợ phải trả nghĩa là doanh nghiệp đang sử dụng một phần vốn của các đơn vị khác có quan hệ kinh

tế với doanh nghiệp và hoạt động SXKD của mình

Số vốn mà doanh nghiệp đi chiếm dụng = Nợ phải trả - Nợ phải thu

Áp dụng vào nhà máy Gạch Lát Hoa và Má Phanh Ô Tô Hà Nội có:

Trang 6

Bảng 3: Tình hình chiếm dụng vốn của nhà máy

2006 số vốn bị chiếm dụng là 11 730 424 nghìn đồng, đến năm 2007 đã tăng lên 18 379 724 nghìn đồng Những con số này chỉ ra rằng hoạt động quản lý vay nợ của Nhà Máy chưa được quan tâm đúng mức Cụ thể là Nhà Máy đã để các đơn vị bạn hàng chiếm dụng vốn quá nhiều trong khi hầu hết các nguồn vốn của Nhà Máy đều phải vay và phải chịu chi phí về lãi vay Điều này đã gây

ra sự lãng phí rất lớn về vốn, chi phí trả lãi cho các khoản vay, đồng thời ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của Nhà Máy và đã gây ảnh hưởng không tốt tới hiệu quả sử dụng vốn của Nhà Máy Trong thời gian tới Nhà Máy cần tích cực thu hồi các khoản nợ phải thu để lấy tiền trả nợ, có như vậy mới nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Qua sự phân tích bảng đối trên, ta có thể đưa ra các nhận định tổng quát về tình hình tài chính của Nhà Máy Gạch Lát Hoa và Má Phanh Ô Tô Hà Nội như sau:

Từ năm 2006 đến năm 2007, Nhà Máy đã có sự mở rộng quy mô hoạt động của sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, tài trợ cho các hoạt động này chủ yếu là bằng nguồn vốn đi vay chứ không phải là tự tài trợ điều này dẫn đến sự không linh hoạt của Nhà Máy trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và mức

độ rủi ro tài chính cũng tăng lên rất nhiều Bên cạnh đó để bổ xung vốn, Nhà Máy đã đi vay nhưng lại vay quá nhiều lên đã bị chiếm dụng mất một phần

Trang 7

vốn, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn Và đây là dấu hiệu đầu tiên phản ánh sự không khả quan về tình hình tài chính của Nhà Máy.

Sau khi phân tích mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán, cần đi sâu xem xét tình hình phân bổ vốn hay còn gọi là phân tích cơ cấu tài sản để thấy được sự thay trong từng khoản mục tài sản, tính hợp lý giữa TSLĐ

và TSCĐ.

2.2 Phân tích cơ cấu tài sản

Cơ cấu tài sản hay cơ cấu vốn là chỉ tiêu rất quan trọng ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp Nó còn thể hiện trình độ quản lý tài chính của doanh nghiệp là hiệu quả hay không Nếu như tổng số tài sản và sự thay đổi của nó chỉ ra quy mô kinh doanh, điều kiện, cơ sở vật chất trang thiết bị máy móc, nhà xưởng… và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì cơ cấu tài sản thể hiện tính hợp lý trong việc phân bổ và

sử dụng nguồn vốn Nếu hai doanh nghiệp có số vốn bằng nhau, doanh nghiệp nào có cơ cấu vốn hợp lý thì hiệu quả kinh doanh sẽ cao và ngược lại Để tiến hành phân tích cơ cấu tài sản của Nhà Máy Gạch Lát Hoa và Má Phanh Ô Tô Hà Nội ta cần lập bảng sau:

Trang 8

Bảng 4: Phân tích cơ cấu tài sản

Đơn vị: Nghìn đồng

Số tiền Tỷ trọng trong Số tiền Tỷ trọng trong Số tiền Tỷ lệ

Tổng tài sản

Từng yếu tố

Tổng tài sản

Từng yếu tố

1 Phải thu của khách

Qua bảng số liệu ta thấy:

Giá trị của TSLĐ và đầu tư ngắn hạn chiếm 53.09% trong tổng số tài sản

ở năm 2006 và đến năm 2007 tăng lên được 59.2% đạt 156% so với đầu năm.

Như vậy là tỷ trọng của TSLĐ và đầu tư ngắn hạn lớn hơn TSCĐ và đầu tư dài

hạn Hơn nữa, cùng với sự gia tăng TSLĐ và đầu tư ngắn hạn thì tỷ trọng của

Trang 9

TSCĐ và đầu tư dài hạn lại giảm đi ở năm 2007 từ 46.91% xuống còn 40.8% Điều này cho thấy Nhà Máy chưa chú trọng đầu tư và phát triển cơ sở vật chất

kỹ thuật, chưa tích cực đầu tư vào máy móc, thiết bị kỹ thuật, công nghệ dẫn đến việc sản xuất của Nhà Máy ngày càng phụ thuộc lớn vào sức lao động thủ công, năng xuất lao động sẽ giảm, chất lượng sản phẩm khó có sự cải tiến đột biến và khó có thể giảm được giá thành sản phẩm Về dài hạn, những điều kiện này sẽ làm giảm sự cạnh tranh của Nhà Máy, Nhà Máy sẽ bị tụt hậu so với công nghệ trung của ngành

Để hiểu rõ được nguyên nhân của sự tăng tỷ trọng của TSLĐ và giảm tỷ trọng TSCĐ ta cần đi sâu phân tích các chỉ tiêu của từng yếu tố đó.

Trong TSLĐ và đầu tư ngắn hạn thì các khoản phải thu chiếm tỷ trọng cao nhất, chiếm tới 61% ở năm 2006 và đến năm 2007 nó tiếp tục tăng và chiếm tới 64.5%, đạt 156% so với năm 2006 Khoản mục quan trọng nhất trong tổng

số các khoản phải thu là phải thu của khách hàng Năm 2006 khoản mục này chiếm 32.17% trong tổng số tài sản, chiếm 60.6% trong TSLĐ và đầu tư ngắn hạn Đến năm 2007 khoản mục này lại tăng lên được 35.26% tổng tài sản, chiếm 59.65% trong tổng TSLĐ và đầu tư ngắn hạn Như vậy, khoản phải thu của khách hàng chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng TSLĐ và đầu tư ngắn hạn cũng như trong các khoản phải thu Tiếp đến là khoản trả trước người bán, khoản mục này chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng tài sản cũng như trong tổng TSLĐ và đầu tư ngắn hạn nhưng lại tăng rất mạnh vào năm 2007 Vì ở năm

2006 khoản trả trước người bán chỉ chiếm 0.05% trong tổng tài sản; 0.1% trong tổng TSLĐ và đầu tư ngắn hạn đến năm 2007 chiếm tới 2.75% trong tổng tài sản; 4.64% trong tổng TSLĐ và đầu tư ngắn hạn Vậy nguyên nhân của

sự gia tăng các khoản phải thu chủ yếu là do Nhà Máy đã để bạn hàng chiếm dụng ngày càng nhiều Hơn nữa, do việc đi vay vốn dư thừa nên năm 2007 Nhà Máy đã để khoản trả trước người bán tăng một cách đột biến làm cho các khoản thu ngày càng tăng thêm Như vậy là Nhà Máy rất tôn trọng kỷ luật

Trang 10

thanh toán tín dụng và sòng phẳng nhưng chưa tích cực thu hồi các khoản nợ,

bị chiếm dụng vốn, làm tăng tình trạng ứ đọng vốn trong khâu thanh toán, đồng thời làm giảm hiệu qủa sử dụng vốn.

Hàng tồn kho cũng là một bộ phận chiếm tỉ trọng tương đối lớn trong tổng tài sản nói chung Nó chiếm 18.82% trong tổng tài sản; 35% trong tổng TSLĐ

và đầu tư ngắn hạn ở năm 2006, nhưng đến năm 2007 hàng tồn kho đã giảm

tỉ trọng trong tổng tài sản xuống còn 18% và tỉ trọng trong tổng TSLĐ và đầu

tư ngắn hạn của nó xuống còn 30.5% Tuy nhiên xét về mức độ chênh lệch thì hàng tồn kho đã tăng lên với năm 2006 là 1 149 370 nghìn đồng, đạt 225% so với năm 2006 Tiếp đến là NVL tồn kho và thành phần tồn kho cũng tăng lên một lượng đáng kể Là một tín hiệu rất khả quan cho tương lai của Nhà Máy.

Vì là một Nhà Máy sản xuất theo đơn đặt hàng và do nhu cầu của thị trường nên khi hàng tồn kho tăng mạnh mà khi đó NVL, CPSXKD, thành phẩm, hàng gửi bán tăng với khối lượng lớn trong khi kho hàng tồn kho lại giảm chứng tỏ doanh số bán hàng của Nhà Máy đã tăng lên, sản phẩm của Nhà Máy đã được thị trường ưa chuộng Nhà máy nhận được thên nhiều đơn đặt hàng, nhu cầu thị trường lớn lên đã tập trung vào sản xuất ra nhiều thành phẩm, đem lại nguồn thu lớn cho tương lai Như vậy, hàng tồn kho tăng đã tách động tích cực đến Nhà Máy như: Hoạt động SXKD được liên tục, tạo thêm nhiều việc làm cho công nhân viên, thu được nguồn lợi lớn và cũng chứng tỏ Nhà Máy hoạt động SXKD có hiệu quả, có uy tín lớn Tuy nhiên, bên cạnh đó hàng tồn kho lớn sẽ làm cho doanh nghiệp phải chịu thêm một số chi phí như: chi phí bảo quản, cất trữ hàng tồn kho, Nhà Máy sẽ bị đọng lại một lương vốn lớn, khó chuyển hướng kinh doanh khi cần thiết…Vì vậy, Nhà Máy cần tìm ra biện pháp hữu hiệu để cân đối lượng hàng tồn kho sao cho phù hợp với quy mô sản xuất tại mỗi thời điểm.

Khoản mục tiền cũng rất quan trọng trong tổng số TSLĐ và đầu tư ngắn hạn, vì tiền biểu hiện cho các hoạt động lưu thông thường xuyên trong các

Trang 11

doanh nghiệp, nó thể hiện khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp Lượng tiền quá nhiều hoặc quá ít đều không tốt đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào Ở đây vốn bằng tiền của Nhà Máy lại chiếm tỉ trọng quá nhỏ trong tổng số tài sản cũng như trong tổng số TSLĐ và đầu tư ngắn hạn, chỉ chiếm 2.03% trong tổng tài sản: 1.9% trong tổng TSLĐ và đầu tư ngắn hạn ở năm

2006 Nhưng cũng tăng lên rất nhiều ở năm 2007 với sự gia tăng về số tuyệt đối là2007 nghìn đồng đạt 315% so với năm 2006 tỷ trọng của vốn bằng tiền cũng tăng lên đáng kể, năm 2007, tiền chiếm 2.3% trong tổng tài sản: 3.9% trong tổng TSLĐ và đầu tư ngắn hạn Tuy vốn bằng tiền đã tăng rất mạnh ở năm 2007 nhưng nó vẫn chiếm tỉ trọng rất nhỏ trong tổng tài sản nói chung và trong tổng TSLĐ và đầu tư ngắn hạn nói riêng Điều này cho thấy khả năng thanh toán thường xuyên cho các hoạt động của Nhà Máy gặp rất nhiều khó khăn, hơn nữa nhà máy sẽ mất đi một số cơ hội đầu tư ngắn hạn mà khả năng sinh lợi cao.

Như vậy, nhìn chung về cơ cấu tài sản của Nhà Máy có nhiều bất cập và chưa hợp lý trong tương lai, Nhà Máy cần gia tăng hoạt động đầu tư vào TSCĐ như: Cơ sở vật chất kỹ thuật, máy móc, công nghệ… Để có điều kiện nâng cao năng suất lao động chất lượng sản phẩm… theo hướng phát triển ổn định, lâu dài, bền vững.

Ngoài việc xem xét cơ cấu tài sản cần đi sâu xem xét tình hinh huy động vốn và cơ cấu nguồn nhằm đánh giá khả năng tài trợ về mặt tài chính cũng như mức độ chủ động trong hoạt dông kinh doanh hay những khó khăn mà doanh nghiệp phải đương đầu.

2.3 Phân tích cơ cấu nguồn vốn.

Cơ cấu nguồn vốn là quan hệ tỷ lệ của từng bộ phận nguồn vốn trong tổng

số nguồn vốn của doanh nghiệp Cơ cấu nguồn vốn phản ánh trong mỗi đồng vốn sử dụng có mấy đồng vốn được huy động từ các khoản nợ và qua đó cũng thấy được mức độ đóng góp của chủ sở hữu Một cơ cấu vốn hợp lý phản ánh

Trang 12

sự kết hợp hài hoà giữa vay nợ dài hạn, vay nợ ngắn hạn, nợ trái phiếu, nợ tín phiếu và lợi nhuận lưu trữ của doanh nghiệp trong điều kiện nhất định Vì vậy,

cơ cấu vốn còn có thể được khái niệm như là việc điều hành các khoản nợ vay

để gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiêp Do vây, Có nguồn vốn, sự biến động của nó cũng như tỷ trọng của từng loại chiếm trong tổng số nguồn vốn là thông tin rất quan trọng được nhiều người quan tâm như: Các nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư, ngân hàng, cổ đông… Họ quan tâm đến nguồn vốn cơ cấu của doanh nghiệp để đánh giá chính xác về khả năng tài chính của doanh nghiệp cũng như mức độ tự chủ trong sản xuất kinh doanh nhằm đảm bảo tinh an toàn và hiệu quả cao cho các nhà đầu tư.

Từ bảng cân đối kế toán nhà máy Gạch Lát Hoa và Má Phanh Ô Tô Hà Nội

ta có bảng phân tích sau:

Trang 14

Bảng 5: Phân tích cơ cấu nguồn vốn.

Số tiền

Tỷ trọng ( % )

Số tiền

Tỷ trọng (%)

A.Nợ phải trả 38 480 621 91.0

3

50 764 983 85.7 12 284 362 131.9

I.Nợ ngắn hạn 21 776 926 51.52 31 117 045 52.54 9 340 119 142.9 1.Vay ngắn hạn 19 061 655 45.10 27 041 676 45.66 9 340 119 142.9 2.Phải trả người bán 2 215 481 5.24 3 160 774 5.34 7 980 021 141.9 3.Người mua trả

Bảng phân tích trên cho thấy: Nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng số nguồn vốn, mặc dù năm 2007 vốn chủ sở hữu đã tăng lên rất nhiều cả về số tuyệt đối là 4 669 830 nghìn đồng, đạt 223.3% so với năm 2006

Trang 15

nhưng tỷ trọng của nó vẫn không đáng kể so với nguồn vốn Điều này đã chứng

tỏ khả năng tài chính của Nhà Máy là không được đảm bảo và mức độ dộc lập

tự chủ là rất kém, luôn phải chịu sự phụ thuộc vào các nguồn cung ứng vốn từ bên ngoài Cũng chính vì nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng rất nhỏ đã kéo theo nợ phải trả chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số nguồn vốn Hơn thế nữa trong năm 2007 số nợ phải trả tiếp tục tăng mạnh so với năm 2006 với số tăng tuyệt đối là 12 284 362 nghìn đồng đạt 131.9% Từ đó cho thấy Nhà Máy đã tăng cường đi chiếm dụng vốn và vay nợ từ bên ngoài Trong các khoản nợ phải trả thì nợ ngắn hạn tăng mạnh nhất, tăng 934 119 nghìn đồng, đạt 142.9% Tuy nhiên, đi sâu xem xét các khoản nợ ngắn hạn ta thấy tỷ trọng một

số khoản như: Người mua trả tiền trước, phải trả công nhân viên, phải trả nội

bộ giảm Điều này chứng tỏ, mặc dù nợ phải trả năm 2007 tăng nhưng Nhà Máy vẫn cố gắng trả lương đầy đủ cho công nhân viên yên tâm làm việc Khoản thuế và các khoản nộp Nhà nước năm 2007 lại tăng mạnh so với năm 2006 về

số tuyệt đối là 315 149 nghìn đồng, đạt 847% Như vậy, việc thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước của Nhà Máy là chưa đầy đủ, cần thực hiện tốt trong những năm tới Nhìn vào thực tế cơ cấu nguồn vốn của Nhà Máy ta thấy rằng: hiện nay Nhà Máy đang lâm vào tình trạng khủng hoảng tài chính trầm trọng, tổng nguồn vốn của Nhà Máy gần bằng số nợ phải trả mà xu hướng ngày càng tăng lên Điều này cho thấy hiện nay Nhà Máy đang gặp khó khăn rất lớn về vấn đề tài chính Qua đây ta thấy rằng cơ cấu vốn của Nhà Máy là chưa hợp lý Trong thời gian tới, Nhà Máy cần có biện pháp cải thiện kịp thời để có thể hoạt động vững mạnh, độc lập tự chủ trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Và với tốc độ tăng rất mạnh của nguồn vốn chủ sở hữu năm 2006 so với năm 2007 như hiện nay là một dấu hiệu rất khả quan về sự cải thiện tình hình tài chính ngày càng tốt hơn.

2.4 Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh.

Trang 16

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có tài sản bao gồm TSLĐ và TSCĐ Việc đảm bảo đầy đủ nhu cầu về tài sản là một vấn đề cốt yếu để đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành một cách nghiêm túc và hiệu quả

Muốn đảm bảo có đủ tài sản cho hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải tập trung các biện pháp tài chính cho việc huy động, hình thành nguồn vốn

Nguồn vốn của doanh nghiệp thường được hình thành trước hết từ nguồn vốn của bản thân chủ sở hữu: Vốn góp ban đầu và bổ xung cho quá trình kinh doanh Sau nữa là được hình thành từ nguồn vốn vay và nợ hợp pháp như: Vay ngắn hạn, dài hạn và trung hạn, Nợ người cung cấp, nợ công nhân viên chức … Cuối cùng nguồn vốn được hình thành từ các nguồn bất hợp pháp … Để quản

lý, nguời ta thường chia nguồn vốn thành hai bộ phận: Vốn cố định và vốn lưu động Vốn lưu động được dùng để tài trợ cho TSLĐ, vốn lưu động là yếu tố có ảnh hưởng quyết định tới nghiệp vụ và quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó mức độ đảm bảo về vốn lưu động cần được quản lý chặt chẽ và thường xuyên trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp Mục đích của việc phân tích mức độ đảm bảo về vốn lưu động là xem xét vốn lưu động thừa hay thiếu Muốn vậy, ta phải so sánh vốn lưu động thực tế với tài sản dự trữ thực

tế Nếu nguồn vốn thực tế > tài sản dự trữ thực tế thì phản anh doanh nghiệp thừa vốn lưu động – gọi là đảm bảo thừa và rất dễ bị chiếm dụng vốn Nếu nguồn vốn lưu động thực tế < tài sản dự trữ thực tế thì phản ánh doanh nghiệp thiếu vốn lưu động – gọi là đảm bảo thiếu và sẽ phải đi chiếm dụng vốn.

Ta có: NVLĐ thực tế = NVLĐ + Vay ngắn hạn.

TàI sản dự trữ thực tế = Hàng tồn kho + Chi phí sản xuất + Chi phí chờ kết quả chuyển.

Để phân tích ta cần lập bảng sau:

Trang 17

Bảng 6: phân tích độ đảm bảo vốn lưu động:

Ngoài ra, khi nghiên cứu tịnh hịnh đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh, người ta còn sử dụng chỉ tiêu nhu càu vốn lưu động vốn thương xuyên để phân tích.

Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên là lượng vốn ngắn hạn doanh nghiệp cần để tài trợ cho một phần TSLĐ, đó là hàng tồn kho và các khoản phải thu Nhu cầu VLĐ thương xuyên = Tồn kho và các khoản thu – Nợ ngắn hạn Thực tế có thể xảy ra những trường hợp sau:

+ Nhu cầu VLĐ thường xuyên > 0 tức là tồn kho và các khoản phải thu > Nợ ngắn hạn Tại đây, các chi tiêu ngắn hạn của doanh nghiệp > Các nguồn vốn ngăn hạn, doanh nghiệp phải dùng nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho phần chênh lệch.

Trang 18

+ Nhu cầu VLĐ thường xuyên < 0 có nghĩa là các nguồn vốn ngắn hạn thừa để tài trợ cho các khoản chi tiêu ngắn hạn của doanh nghiệp.

Từ số liệu thực tế của Gạch Lát Hoa và Má Phanh Ô Tô Hà Nội ta có bảng phân tích sau:

Bảng 7: Phân tích tình hình đảm bảo vốn lưu động

Qua bảng phân tích trên ta thấy:

Năm 2006, nhu cầu vốn lưu động thường xuyên của Nhà Máy < 0 có nghĩa là nguồn vốn ngắn hạn dư thừa sau khi đã tài trợ cho các khoản chi tiêu ngắn hạn.

Năm 2007, nhu cầu vốn lưu động thường xuyên của Nhà Máy lại > 0 tức

là tồn kho và các khoản phải thu > nợ ngắn hạn Hay nợ ngắng hạn không đủ

để bù đắp cho các sử dụng nhắn hạn nên doanh nghiệp phải dùng nguồn vốn dài hạn để tài trợ phần chênh lệch Trong thời gian tới, Nhà Máy cần nhanh chóng giải quyết hàng tồn kho và các khoản phải thu của khách hàng để cải thiện tình hình này.

2.5 phân tích tình hình và khả năng thanh toán

Tình hình và khả năng thanh toán phản ánh rõ nét chất lượng công tác tàI chính Nếu hoạt động tài chính tốt, doanh nghiệp sẽ ít công nợ, khă năng thanh toán dồi dào, ít đi chiếm dụng vốn cũng như ít bị chiếm dụng vốn Ngược lại, nếu hoạt động tài chính kém thì sẽ dẫn đến tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau, các khoản công nợ phải thu, phải trả dây dưa kéo dài làm mất tính chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh và có thể dẫn đến tình trạng phá sản.

Trang 19

2.5.1 Phân tích tình hình thanh toán.

Việc phân tích này cần xem xét cho các khoản nợ phải thu và nợ phải trả

để thấy được thực trạng, xu hướng biến động cũng như mức độ ảnh hưởng của nó đến hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp.

Dựa vào bảng cân đối kế toán và bảng thuyết minh bổ sung báo cáo của Nhà Máy Gạch Lát Hoa và Má Phanh Ô Tô Hà Nội ta có bảng phân tích tình hình thanh toán như sau:

Bảng 8: Phân tích tình hình thanh toán

Trang 20

Tình hình này chứng tỏ Nhà Máy bị chiếm dụng vốn nhiều mà chủ yếu là bị người bán chiếm dụng, sau đó đến bị người mua chiếm dụng vốn vì khoản phải thu của khách hàng cũng tăng đáng kể: so với năm 2006 thì năm 2007 các khoản thu của khách hàng đả tăng 7 283 468 nghìn đồng, đạt 753.5% các khoản thu khác cũng tăng 15 773 nghìn đồng, đạt 118.8% so với năm 2006 Điều này cũng chứng tỏ Nhà Máy đã bị các đơn vị khác chiếm dụng vốn ngày càng nhiều hơn Như vậy, ở năm 2007, với sự tăng lên của các khoản phải thu đặc biệt là khoản trả trước người bán cho thấy đã tăng cường thu mua, dự trữ nguyên vật liệu để chuẩn bị sản xuất một khối lượng hàng lớn, đáp ứng nhu cầu thị trường Nhưng mặt khác nó cũng phản ánh Nhà Máy đã để người bán chiếm dụng vốn quá nhiều, chưa tích cực thu hồi các khoản nợ và việc quản lý các khoản nợ mà đơn vị cá nhân khác chưa tốt

Từ năm 2006 đến năm 2007, các khoản phải trả của Nhà Máy cũng tăng 12

284 362 nghìn đồng, đạt 131.9% trong đó chủ yếu do thuế và các khoản nộp Nhà nước tăng đột biến là 315 147 nghìn đồng, đạt 847%; chi phí phải trả cũng tăng đột biến 478 533 nghìn đồng, đạt 897.6% Điều này cho thấy Nhà Máy chưa thực hiện tốt nghĩa vụ đối với nhà nước, nhưng mặt khác nó cũng chứng tỏ rằng Nhà Máy có một uy tín khá vững chắc trên thị trường, giữ được niềm tin và có các mối quan hệ tốt đẹp với các bạn hàng nên đã giúp Nhà Máy chiếm dụng vốn một cách hợp pháp

Trừ các khoản vay ngắn hạn và dài hạn thì sự tăng lên của các khoản khác cũng đồng nghĩa với số vốn mà Nhà Máy đã đi chiếm dụng của bạn hàng và các đơn vị, cá nhân khác Tuy nhiên, nếu Nhà Máy cứ tiếp tục lợi dụng nguồn vốn này một cách lâu dài để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thì sẽ rất nguy hiểm trong việc đối phó với các khoản nợ có thể diễn ra cùng một lúc, sẽ mất quyền tự chủ trong kinh doanh và điều quan trọng hơn là sẽ mất dần uy tín và lợi thế rong cạnh tranh.

Ngày đăng: 23/10/2013, 02:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 5: Phân tích cơ cấu nguồn vốn. - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TẠI NHÀ MÁY GẠCH LÁT HOA VÀ MÁ PHANH Ô TÔ HÀ NỘI
Bảng 5 Phân tích cơ cấu nguồn vốn (Trang 14)
Bảng 9: Phân tích sự ảnh hưởng của tình hình thanh toán đến hoạt động SXKD - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TẠI NHÀ MÁY GẠCH LÁT HOA VÀ MÁ PHANH Ô TÔ HÀ NỘI
Bảng 9 Phân tích sự ảnh hưởng của tình hình thanh toán đến hoạt động SXKD (Trang 21)
Bảng 12: Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh chung: - PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TẠI NHÀ MÁY GẠCH LÁT HOA VÀ MÁ PHANH Ô TÔ HÀ NỘI
Bảng 12 Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh chung: (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w