Như vậy, cách tiếp cận của WDH khátổng thể, đi sâu vào những yếu tố thuộc về chủ quan, bên trong con người.Khác với cách tiếp cận trước, cảm nhận hạnh phúc, mức độ hài lòng về cuộcsống c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN DUY TƯỞNG
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÍNH CÁCH VÀ CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KỸ
THUẬT CÔNG NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Hà Nội, 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN DUY TƯỞNG
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÍNH CÁCH VÀ CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KỸ
THUẬT CÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60.31.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trương Thị Khánh Hà
Hà Nội, 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực
và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều ghi rõ nguồn gốc
Hà nội, Ngày 27 tháng 05 năm 2020
Học Viên
Nguyễn Duy Tưởng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn cácthầy cô giáo, giảng viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đạihọc Quốc Gia Hà Nội
Cảm ơn giáo viên hướng dẫn đã quan tâm giúp đỡ tôi trong quá trìnhthực hiện đề tài
Xin cảm ơn Ban giám hiệu và các bạn sinh viên Trường Đại học Kinh
tế Kỹ thuật đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc thu thập dữ liệu khảosát thực tiễn
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, gia đình và những ngườithân luôn ủng hộ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn của mình
Tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng do khả năng còn hạn chế nên luận văncủa tôi còn nhiều thiết sót, kính mong nhận được sự góp ý của thầy cô và cácbạn để tôi có thể hoàn thành tốt hơn luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 27 tháng 05 năm 2020
Học Viên
Nguyễn Duy Tưởng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng nghiên cứu 2
3 Khách thể nghiên cứu 2
4 Mục đích nghiên cứu 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Giả thuyết nghiên cứu 3
8 Các phương pháp nghiên cứu 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ ĐẶC ĐIỂM TÍNH CÁCH VÀ CẢM NHẬN HẠNH PHÚC 5
1.1 Tổng quan một số nghiên cứu về đặc điểm tính cách và cảm nhận hạnh phúc 5
1.1.1 Một số nghiên cứu về tính cách
5 1.1.2 Một số nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc
7 1.1.3 Lòng biết ơn và cảm nhận hạnh phúc
12 1.1.4 Tính đố kỵ và cảm nhận hạnh phúc.
14
Trang 61.1.5 Đặc điểm của lòng biết ơn.
Trang 71.2.3 Khái niệm về hạnh phúc và cảm nhận hạnh phúc của sinh viên
2.2 Phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Trang 83.1.4 Thực trạng sự hài lòng của bản thân.
52 3.2 Tương quan giữa tính cách và cảm nhận hạnh phúc của sinh viên 55
3.2.1 Tương quan giữa các đặc điểm tính cách và cảm nhận hạnh phúc
55 3.2.2 Tương quan giữa sự hài lòng và lòng biết ơn với việc cảm nhận hạnh phúc.
58 Tiểu kết chương 3 68
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 69
1 KẾT LUẬN 69
2 KHUYẾN NGHỊ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Một số đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu 31
Bảng 2.2: Sự hài lòng của sinh viên về các vấn đề xung quanh cuộc sống 34
Bảng 2.3: Ở thang đo về lòng biết ơn của sinh viên chúng tôi thu được điểm số về độ tin cậy của từng item như sau: 35
Bảng 2.4: Thang đo tính cách của sinh viên trong cuộc sống, với 5 đặc điểm tính cách khác nhau chúng tôi có bảng: 36
Bảng 3.1 Cảm nhận về tính cách của bản thân 40
Bảng 3.2 Cảm nhận hạnh phúc về toàn bộ cuộc sống của sinh viên (%) 46
Bảng 3.3 Cảm nhận hạnh phúc của nam và nữ sinh viên (ĐTB) 47
Bảng 3.5: ĐTB Tính biết ơn của bản thân 49
Bảng 3.6: ĐTB sự hài lòng của bản thân 53
Bảng 3.7 Tương quan mối quan hệ giữa tính cách với hạnh phúc của sinh viên 55 Bảng 3.8 Tương quan Person giữa sự hài lòng; cảm thấy hạnh phúc ở sinh viên 59
Bảng 3.9 Tương quan Person giữa lòng biết ơn; cảm thấy hạnh phúc ở sinh viên 62
Bảng: 3.10 Mối tương quan của việc không cảm thấy biết ơn; cảm nhận hạnh phúc 66
Trang 11về tính cách của bản thân mình cũng như tính cách của người khác Trong khi
đó, tính cách lại có một vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống, nó giúpbản thân hòa nhập được với cuộc sống đầy biến động xung quanh
Hạnh phúc là gì? Có lẽ mỗi người trong chúng ta đều đã từng đặt câuhỏi như vậy Người ta có thể cảm nhận được hạnh phúc nhưng để mô tả nómột cách rõ ràng thì không phải là điều đơn giản Sinh viên là độ tuổi ở giaiđoạn chuyển giao từ tuổi thanh niên sang tuổi trưởng thành, đồng thời, đây làgiai đoạn chuyển đổi từ bậc học phổ thông sang việc học ở bậc đại học Sinhviên bắt đầu với cuộc sống tự lập và tự định hướng cho cuộc sống của bảnthân Vì vậy, việc nắm bắt các đặc điểm về tính cách cũng như cách cảm nhậnhạnh phúc của họ có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong cuộc sống sau nàycủa họ
Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp là trường có truyềnthống lâu đời về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về kinh tế - kỹ thuật.Bên cạnh việc nâng cao chất lượng đào tạo, Nhà trường cũng rất quan tâm đếnviệc cân bằng đời sống tinh thần của các bạn SV
1
Trang 12Nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc là vấn đề được nhiều nhà nghiêncứu trong nước và trên thế giới quan tâm Nó được coi là hướng nghiên cứumới mẻ trong lĩnh vực tâm lý học Trong khi đó, các đặc điểm tính cách đượccoi là vấn đề trọng tâm khi nghiên cứu về tâm lý học Tuy nhiên, việc kết hợpnghiên cứu giữa một số đặc điểm tính cách với cảm nhận hạnh phúc trênnhóm khách thể là SV thì dường như chưa được khai thác Vì vậy, có thể nóirằng triển khai đề nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Một số đặc điểm tính cách và
cảm nhận hạnh phúc của sinh viên Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp” nhằm làm rõ ảnh hưởng của một số đặc điểm của tính cách
đến cảm nhận hạnh phúc của sinh viên, từ đó đưa ra những nhận định giúpsinh viên rèn luyện những tính cách tốt, nâng cao cảm nhận hạnh phúc củabản thân
2 Đối tượng nghiên cứu
Chỉ ra một số đặc điểm tính cách và cảm nhận hạnh phúc của SV vàmối liên hệ giữa một số đặc điểm tính cách đó với cảm nhận hạnh phúc của
SV trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp
3 Khách thể nghiên cứu
298 khách thể là sinh viên trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Côngnghiệp, trong đó 148 nam, 150 nữ; sinh viên ở cả 4 năm từ năm nhất tới nămthứ 4
Nghiên cứu mối liên hệ của một số tính cách đến cảm nhận hạnh phúccủa sinh viên, trên cơ sở đó đề xuất những kiến nghị giúp sinh viên rèn luyệntính cách để có đời sống tinh thần cân bằng và hạnh phúc hơn
+ Đọc, phân tích, tổng hợp tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
2
Trang 13+ Đề xuất một số khái niệm công cụ của đề tài như khái niệm tính đố
kỵ, tính biết ơn, cảm nhận hạnh phúc
+ Nghiên cứu chỉ ra thực trạng tính đố kỵ, tính biết ơn, cảm nhận hạnh phúc của sinh viên Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp.+ Phân tích mối quan hệ giữa tính đố kỵ, tính biết ơn, cảm nhận hạnh phúc của sinh viên Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp + Rút ra kết luận và đề xuất một số kiến nghị
cách trong đó hai nét tính cách chính là lòng biết ơn và tính đố kỵ trong của
sinh viên đối với việc các em cảm nhận hạnh phúc
7 Giả thuyết nghiên cứu
Một số đặc điểm của tính cách của sinh viên Trường Đại học Kinh tế
Kỹ thuật Công nghiệp có tương quan thuận với cảm nhận hạnh phúc Mốiquan hệ này có bị ảnh hưởng bởi các yếu tố giới tính, địa bàn sinh sống, điềukiện kinh tế xã hội của gia đình
8 Các phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Phương pháp này giúp chúng tôi có thêm nhiều cơ sở để tiến hành nghiên cứu đề tài Qua đây, chúng tôi biết được rằng, những nghiên cứu trước đã làm được những gì, nghiên cứu của chúng tôi góp phần củng cố luận điểm nào, bổ sung luận điểm nào Những tài liệu mà chúng tôi sử dụng để viết tổng quan cho đề
3
Trang 14tài nghiên cứu được tham khảo từ các tạp chí khoa học, từ luận văn, luận ántiến sĩ cũng như trên những trang Web cả Tiếng Việt lẫn Tiếng Anh.
8.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng nhằm mục đích thu thậpđược các thông tin định lượng liên quan đến tính đố kỵ, tính biết ơn, cảmnhận hạnh phúc, và một số thông tin nhân khẩu của khách thể
8.3 Phương pháp sử dụng thang đo
Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi có sử dụng các thang đocủa nước ngoài để đánh giá tính đố kỵ, tính biết ơn, cảm nhận hạnh phúc củasinh viên
Các cuộc phỏng vấn sâu được xây dựng với các kỹ thuật hỏi chuyện
8.5 Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học
(SPSS):
Đề tài sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 22.0 để thực hiện các phép toán phục vụ cho mục đích nghiên cứu
4
Trang 15tỏ ra khác biệt về tính cách: mềm dẻo, linh hoạt, khiêm nhường hay cứng rắn,nghiêm ngặt và hiếu thắng; vui vẻ hay buồn rầu, ồn ào hay bình thản… trongnghiên cứu vấn đề này đã được quan tâm từ thời Cổ đại với các
triết gia như: Platon, Galieng đặc biệt trong tâm lý học hiện đại vấn đề tínhcách đã thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả khác nhau thuộc các nềnvăn hóa khác nhau Có ba cách tiếp cận khác nhau về tính cách: tiếp cận tâm
lý học xã hội, tâm lý học cá nhân và tâm bệnh học
Lý thuyết về tính cách xã hội: Mỗi cá nhân có những đặc điểm tính cách
riêng biệt và độc đáo Theo E.S Fromm cho rằng nhân cách của mỗi ngườichính là kết quả của quá trình tương tác giữa các nhu cầu bẩm sinh và áp lựccủa chuẩn mực xã hội, ông có hai xu hướng tính cách xã hội: kiểu hiệu quả vàkiểu không hiệu quả
Theo Bratus nhà tâm lý học người Nga, ông quan tâm đến thái độ của
cá nhân đối với người khác và đối với bản thân Dựa vào những thái độ đặctrưng mà cá nhân ứng xử với môi trường xung quanh, ông đã phân chia thànhbốn cấp độ tính cách: cấp độ tự kỷ trung tâm, cấp độ nhóm trung tâm, cấp độnhân văn và cấp độ tinh thần- siêu linh
5
Trang 16Lý thuyết về tính cách cá nhân: Trong hệ thống lý thuyết phân tâm học
của mình, S Freud đã đề cập đến vấn đề tính cách của cá nhân Có 3 luậnđiểm chính: thứ nhất, tính cách của cá nhân là một hệ thống các đam mê cánhân quy định chứ không phải hành vi của họ; thứ hai, đặc điểm tính cách củamỗi cá nhân có nguồn gốc từ một hình thức đặc biệt đó là xung năng sống(libido) là xung năng tính dục giữ vai trò chủ đạo; thứ ba, ông cho rằng bảnchất của tính cách không phải bắt nguồn từ một thuộc tính đơn lẻ nào đó mà
là một cấu trúc tâm lý hoàn chỉnh của tập hợp liên quan chặt chẽ và phụ thuộclẫn nhau của các thuộc tính riêng lẻ Carl Jung lại cho rằng những khác biệttâm lý cá nhân là bẩm sinh và dựa vào đó ông đã phân chia thành hai nhómngười là nhóm hướng ngoại và nhóm hướng nội: Nhóm hướng ngoại có đặcđiểm như hướng ra thế giới bên ngoài, do vậy ý kiến của người khác, nhữngchuẩn mực chung hay những tình huống khách quan là những yếu tố ảnhhưởng đến hành vi của họ nhiều hơn so với thái độ chủ quan của họ đối vớihiện thực xung quanh Những người thuộc nhóm hướng nội thường địnhhướng vào cảm xúc của bản thân nhiều hơn so với hoàn cảnh bên ngoài vànhững người xung quanh
Các lý thuyết về tính cách ranh giới: Các lý thuyết về tính cách ranh
giới đều xuất phát từ cách tiếp cận tâm bệnh học và phần lớn các tác giả của
lý thuyết này là các nhà tâm thần học, tâm bệnh học và tâm lý học lâm sàng.Khái niệm “tính cách ranh giới” được dịch nghĩa từ thuật ngữ “Akzentuierte”
do Karl Leonhrd một nhà tâm thần học đồng thời là nhà tâm lý học người Đứcđưa ra vào năm 1968 Ông cho rằng những dạng tính cách này được đặc trưngbởi tính sẵn sàng phát triển thành các nhân cách đặc biệt: hoặc trở thành người
có hành vi xã hội tích cực hoặc trở thành người có hành vi xã hội tiêu cực.Karl Leonhard (1904- 1988) trong cuốn sách của mình xuất bản ở Berlin năm
1976 đưa ra phân loại các dạng tính cách ranh giới gồm những kiểu sau: kiểuphô diễn; kiểu cố chấp; kiểu hoang tưởng; kiểu kích động; kiểu tăng
6
Trang 17động; kiểu nặng nề; kiểu lo âu; kiểu nhẹ dạ; kiểu biểu cảm; kiểu bất ổn; kiểuhướng ngoại; kiểu hướng nội Trong hoạt động giao tiếp tính cách của conngười được bộc lộ rất rõ ràng, ngay cả việc lựa chọn hành động để tiến hành,trên cơ sở mục tiêu, hứng thú, niềm tin riêng biệt, mỗi cá nhân có phươngthức hành động riêng, bày tỏ xúc cảm riêng và đặc biệt là tỏ ra khác biệt vềtính cách Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài trong tính cách cá nhân chúngtôi tập trung vào biểu hiện về lòng biết ơn và tính đố kỵ trong việc cảm nhậnhạnh phúc của cá nhân.
1.1.2 Một số nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc
Descartes có sự phân biệt giữa hạnh phúc thông thường và hạnh phúclinh thánh Hạnh phúc thông thường “chỉ phụ thuộc vào các sự vật bênngoài”, và điều này là đối lập với hạnh phúc linh thánh (béatitude) bao hàm
“một sự toại ý hoàn hảo của trí tuệ cùng sự thỏa mãn nội tâm”
Ngày nay, hạnh phúc và cảm nhận về hạnh phúc vẫn là đề tài thu hútđược sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, không chỉ trong lĩnh vực xã hộinhư triết học, tâm lý học, xã hội học,… mà còn lan sang cả những ngànhthuộc khoa học tự nhiên như sinh học, kinh tế học,… Hạnh phúc trở thànhmột ngành khoa học, khoa học nghiên cứu về hạnh phúc Đặc biệt, khôngdừng lại ở những lý thuyết, nhận định, các nghiên cứu về hạnh phúc bắt đầuđược hình thành, được đo đạc, tính toán định lượng Kết quả là các nhà khoahọc chỉ ra vai trò của từng yếu tố cụ thể trong cấu trúc hạnh phúc của conngười Đầu tiên là vai trò của các yếu tố sinh học: Nhóm nghiên cứu LauriNummenmaa, tại Phần Lan đã khảo sát trên 700 khách thể bằng cách cho họxem hai bóng thân thể đồng thời với các lời, câu chuyện, bộ phim tạo ra cảmxúc hay các biểu hiện trên khuôn mặt, sau đó tô màu những vùng trên cơ thể
mà họ cảm thấy làm tăng hay giảm hoạt động của mình Kết quả nghiên cứucho thấy, tương ứng với màu vàng biểu thị mức độ hoạt động cao nhất, hạnh
7
Trang 18phúc được xem là “cảm xúc duy nhất khiến cơ thể tràn ngập hoạt động, sẵnsàng lao vào hoạt động hay khiến ta muốn nhảy cẫng lên”.
Vai trò của tiền bạc: Chúng ta đều biết rằng tiền bạc – đại diện cho củacải, vật chất đóng một vị trí quan trọng trong đời sống của con người Vậy,liệu tiền có làm cho con người hạnh phúc? Nhà tâm lý học Daniel Kahnemanthuộc Trường Đại học Princeton (Mỹ) – người giành giải thưởng Nobel Kinh
tế năm 2003 vì những đóng góp của ông trong việc nghiên cứu nguyên nhântiền bạc có thể mua được hạnh phúc nhưng không làm con người hạnh phúc.Qua việc nghiên cứu về hạnh phúc, ông đưa ra một công cụ mới xem xét hạnhphúc gọi là “phương pháp lượng giá ngày hôm trước” Theo phương phápnày, những người tham gia ghi lại việc làm của mình trước đó, sống với ai,làm gì với ai, lượng giá mỗi việc làm và mỗi cảm xúc theo thang 7 điểm.Theo ông, các nhà tâm lý nên chú trọng đến các trải nghiệm của người ta hơn
là chỉ thăm dò những cảm nghĩ của họ Về quan hệ giữa trí thông minh - khảnăng trí tuệ với hạnh phúc: Cũng trong nghiên cứu nói trên của EctwardDiener, kết luận được nêu đáng để phải suy nghĩ là, thông minh không có ảnhhưởng gì đến hạnh phúc Diener giải thích, người thông minh thường nuôinhững ước vọng cao và rất cao Bởi vậy, họ sẽ khó thỏa mãn với những gìkhông phải thành quả cao nhất Người bình thường mơ ước thành đạt đượcnhư họ Nhưng với họ, thành đạt như thế có thể vẫn là quá ít, và đó là nguyênnhân khiến họ ít thấy mình hạnh phúc
Trong nghiên cứu kéo dài 15 năm với hơn 30 ngàn người Đức, Diener
và công sự đã rút ra kết luận thú vị rằng những người hạnh phúc thường dễkết hôn và chấp nhận đời sống hôn nhân sau đó Trong tạp chí nghiên cứu vềhạnh phúc do ông làm chủ biên, ông đã phát biểu: "Loài người được tự nhiênban cho một quá trình tiến hoá mà theo đó chúng ta cần phải có những ngườikhác để cùng nhau tồn tại Vì thế, chúng ta hạnh phúc khi có những ngườichung quanh cổ vũ nâng đỡ mình, và sẽ rất buồn khi thiếu vắng họ" Có thể
8
Trang 19nói, khát khao tìm kiếm, phân tích hạnh phúc của con người là vô cùng to lớn.Bên cạnh việc tìm ra những nhân tố có vai trò làm nên hạnh phúc của mỗingười, các nhà khoa học không ngừng hướng tới việc tìm ra một công thứctổng quát, định lượng để đo đạc hạnh phúc Năm 2003, Carol Rothwell vàPete Cohen đã đưa ra công thức để tính hạnh phúc Dựa trên kết quả khảo sát
xã hội học ở 1000 nghiệm thể là người Anh, công thức được đưa ra dưới dạng(Hạnh phúc = P + (5xE) + (3xH)) Trong đó, P là chỉ số cá tính bao gồm: quanniệm sống, khả năng thích nghi và sự bền bỉ dẻo dai trước thử thách E là chỉ
số hiện hữu (Existence) phản ánh tình trạng sức khỏe, khả năng tài chính vàcác mối quan hệ thân hữu H là chỉ số thể hiện nhu cầu cấp cao (HigherOrder) bao gồm lòng tự tôn, niềm mơ ước, hoài bão và cả óc hài hước Dĩnhiên không nhiều người kỳ vọng ở công thức này, song ở một phạm vi nàođấy, người ta cũng thấy công thức này có giá trị gợi mở nhất định Một côngtrình nghiên cứu trên quy mô lớn nữa của Quỹ kinh tế mới NFF về chỉ sốhạnh phúc hành tinh HPI, công bố lần đầu tiên vào tháng 7/ 2006, các nhàkhoa học (Marks, Abdallah, Simms, Thompson, et al, 2006) đã chỉ ra đượcbức tranh về thực trạng hạnh phúc của 178 quốc gia trên thế giới Trong đó,HPI được tính theo công thức: [Mức độ hài lòng của người dân (LifeSatisfaction) x Tuổi thọ (Life Expectancy)]/ Môi sinh (Ecological Footprint).Đáng chú ý, trong báo cáo này, Việt Nam đứng thứ 12 về chỉ số hạnh phúc,vượt xa các cường quốc có nền kinh tế phát triển như: Mỹ, Nhật Bản, TrungQuốc Ba năm tiếp theo, năm 2009, NFF tiếp tục có những điều tra về chỉ sốhạnh phúc HPI Việt Nam lại vươn lên đứng vị trí thứ 5 trong tổng số 143quốc gia khảo cứu và là nước châu Á duy nhất nằm trong top 10 nước đầubảng Đây là một kết quả đáng mừng, tuy nhiên lại gây tranh cãi nhiều ở báochí trong nước Gần đây nhất, năm 2012, Việt Nam tiếp tục đứng ở thứ hạngthứ hai trên tổng số 151 nước điều ra về chỉ số này Lý giải cho băn khoăn về
độ tin cậy của nghiên cứu, Nick Mark – người sáng lập ra chỉ số
9
Trang 20HPI khẳng định: “Những quốc gia có thứ hạng cao nhất trong bảng xếp hạngkhông nhất thiết là những quốc gia hạnh phúc nhất thế giới, mà nó chỉ có ýnghĩa rằng người dân ở đây có thể đạt được hạnh phúc trong cuộc sống màkhông cần phải khai thác và sử dụng tràn lan các nguồn tài nguyên sinh thái”.Theo đó, chúng ta có thể thấy, hạnh phúc không nhất thiết đi liền với trình độgiàu – nghèo, phát triển hay kém phát triển, của mỗi quốc gia mà nó phụthuộc vào số năm, mức độ hài lòng của con người trong cuộc đời của họ vàviệc không làm tổn hại đến môi trường xung quanh.
Bên cạnh đó, chúng ta không thể không nhắc đến một chương trìnhnghiên cứu khá đồ sộ khác nữa, có tên “Dữ liệu thế giới về Hạnh phúc”(World Databases of Happiness – WDH) do giáo sư Ruut Veenhoven thuộcđại học Erasmus Rotterdam, Netherland công bố năm 2009 “Ông đã tiếnhành khảo sát ở 148 quốc gia từ năm 2000-2009 bằng nhiều thang đo có giátrị khoa học khác nhau đã mang lại cho cho chúng ta một cái nhìn khá chuẩnxác về vấn đề và mức độ hạnh phúc của người dân từng quốc gia Câu hỏi cănbản của chương trình khảo sát này là: Bao nhiêu người hạnh phúc với cuộcsống của họ trên tổng thể theo thang đo từ 0 đến 10 Các yếu tố được xét đếntrong những khảo sát này bao gồm: Môi trường sống, xã hội vĩ mô, tình trạng
xã hội của cá nhân, các mối liên kết thân tình, năng lực, tính cách, sở thích,hành vi, sự kiện đang diễn ra, lịch sử cuộc đời; và các yếu tố như sự nhậnthức, tính xác quyết, hệ quả, việc theo đuổi, niềm tin phổ biến, và triết lý củahạnh phúc (Veenhoven, 06/2009)” Như vậy, cách tiếp cận của WDH khátổng thể, đi sâu vào những yếu tố thuộc về chủ quan, bên trong con người.Khác với cách tiếp cận trước, cảm nhận hạnh phúc, mức độ hài lòng về cuộcsống chỉ là một trong ba thành phần tạo nên chỉ số HPI thì cách tiếp cận của
vị giáo sư này tập trung nhắm vào đo lường mực độ hạnh phúc của người dânmột cách toàn diện trên tất cả các phương diện bên trong lẫn bên ngoài ảnhhưởng đến cảm nhận hạnh phúc của họ Với tổng điểm là 6.1, Việt Nam đứng
10
Trang 21vị trí 63-66, cùng với các nhóm nước Hàn Quốc, Indonexia… sau các nướcnhư Nhật bản, Lào… Đặc biệt hơn, Carol Ryff (1989) đã có một bài đánh giámang tính hệ thống về các lý thuyết và quan điểm trong tâm lý học, ở đó bàxác định được 6 khía cạnh làm nên cảm nhận hạnh phúc như sau: 1) sự chấpnhận bản thân; 2) cảm nhận về các mối quan hệ tích cực; 3) sự tự chủ; 4) khảnăng thích ứng với thay đổi của môi trường; 5) cảm nhận về mục đích sống và6) cảm giác phát triển cá nhân.
Bàn về hạnh phúc, bên cạnh các công trình nghiên cứu, các tác giả còncho ra đời những cuốn sách chia sẻ những kinh nghiệm mà họ tích lũy đượcqua quá trình nghiên cứu lâu dài, bền bỉ Một trong những tác phẩm đi đầutrong nghiên cứu về hạnh phúc là của Dr Tal Ben-Shahar “The Science ofHappiness, (1861) và Happier (2007) trong tác phẩm này ông đưa ra giảthuyết về 4 mẫu người tìm kiếm hạnh phúc Thứ nhất là mẫu người tìm kiếmhạnh phúc trong tương lai, là những người xem hạnh phúc trong tương lai làđích đến chứ không phải là một hành trình, vì vậy họ trở thành nô lệ củatương lai Thứ hai, là kiểu người tìm kiếm hạnh phúc trong hiện tại, có xuhướng tìm kiếm niềm vui và tránh đau khổ, thích thỏa mãn những mong muốntạm thời trước mắt mà không chú ý tới hậu quả sau này, theo ông họ lại trởthành nô lệ của hiện tại Theo chủ nghĩa hư vô là mẫu người thứ 3, cho rằngcuộc sống là vô nghĩa, không thể có hạnh phúc, luôn ám ảnh bởi những thấtbại trong quá khứ Cuối cùng là kiểu người tìm lối sống hạnh phúc, hòa hợpgiữa hiện tại và tương lai
Tác giả Martin Seligman với cuốn “Hạnh phúc đích thực”, (2004)(Authenic happiness) cho rằng: “Người hạnh phúc là người say mê hoạt độngquên bản thân và thời gian, sống theo bản năng và không trông đợi vào nhữnghoàn cảnh cũng như tác động của xã hội” Ông xác định các yếu tố trụ cột tạonên hạnh phúc, đó là: cảm xúc tích cực, sự gắn kết, cuộc sống có ý nghĩa Sau
11
Trang 22này, ông bổ sung thêm hai tiêu chí nữa trong cuốn Well – Being (2011) chínhlà: các mối quan hệ tích cực và đạt được thành tựu (Achievement).
Tác giả Matthieu Recard với cuốn Bàn về hạnh phúc nêu ra ba biểuhiện của hạnh phúc là: 1 Khoảnh khắc hạnh phúc (Một cảm xúc dễ chịu, mộttrạng thái thanh thản, một niềm vui tràn trề,…); 2 Hạnh phúc của cuộc sốngđầy đủ (điều kiện sống tốt) và 3 Hạnh phúc an lạc (trước mọi hoàn cảnh dùkhó khăn hay thuận lợi vẫn an nhiên tự tại vui sống, cảm thấy cuộc đời có ýnghĩa) Theo tác giả, nếu 2 yếu tố đầu được xem là yếu tố hạnh phúc đến từbên ngoài, từ những điều kiện ngoại cảnh thì Hạnh phúc an lạc được xem làhạnh phúc từ bên trong, phụ thuộc vào các điều kiện nội tâm
1.1.3 Lòng biết ơn và cảm nhận hạnh phúc
Lòng biết ơn đã được coi là một cảm xúc đạo đức có liên quan mạnh
mẽ với ảnh hưởng tích cực (Watkins et al., 2009) Theo Fredrickson (2004),lòng biết ơn hoạt động giống như những cảm xúc tích cực khác, mở rộng tiếtmục về khả năng hành động tư tưởng và xây dựng nguồn lực cá nhân lâu dài
Do đó, có thể việc nuôi dưỡng lòng biết ơn có thể thúc đẩy hạnh phúc trongkhi cũng tạo ra hy vọng Lòng biết ơn đã được tương quan tích cực với sự hàilòng với cuộc sống, ảnh hưởng tích cực và hạnh phúc (Watkins, Woodward,Stone, & Kolts, 2003) Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng các kiểuphản ứng đặc trưng của lòng biết ơn đặc trưng cho hạnh phúc (trên và ngoàitính cách, được đo bằng Big Five) dựa trên thông tin và tự báo cáo(McCullough et al., 2002) Hill và Allemand (2011) phát hiện ra rằng nhữngđặc điểm biết ơn và tha thứ mà mỗi người chiếm giữ hạnh phúc khi kiểm soátngười kia Tác giả khuyên các nhà nghiên cứu thử nghiệm nhiều biến số đặcđiểm liên quan đến đạo đức để thúc đẩy nghiên cứu về hạnh phúc và áp dụngphương pháp này để nghiên cứu hy vọng và hạnh phúc
Sự đánh giá cao những điều tốt đẹp trong cuộc sống của một người cóthể khiến những người biết ơn tránh được lợi ích và được duy trì hạnh phúc
12
Trang 23và sự hài lòng của họ theo thời gian (McCullough et al., 2002) Watkins,Woodward, Stone và Kolts (2003) đã đưa ra một khung lý thuyết xác định bađặc điểm riêng biệt trong một cá nhân biết ơn, đặc điểm đầu tiên là thiếu cảmgiác thiếu thốn; thứ hai là xu hướng đánh giá cao những thú vui đơn giản, vàcuối cùng là xu hướng đánh giá cao những đóng góp của người khác đối vớihạnh phúc của một người khác và bày tỏ lòng biết ơn này Trong khi lòng biết
ơn và hạnh phúc gắn liền với sự phong phú, hy vọng được định hướng để cóđược sự phong phú, để thỏa mãn sự thiếu hụt hoặc để giảm bớt rắc rối trongtương lai (gần hoặc xa) Nghiên cứu tính cách Big five với cảm nhận hạnhphúc (Arsh Ziapour, Alireza Khatony, Faranak Jafanak Jafari, NedaKianipour, 2018) Những phát hiện của nghiên cứu này cho thấy mối quan hệtích cực đáng kể giữa tổng số đặc điểm tính cách và tổng hạnh phúc Hơn nữa,
sự vượt trội có mối tương quan mạnh mẽ với hạnh phúc, trong khi sự cởi mở
để trải nghiệm có mối tương quan thấp nhất với hạnh phúc
Các nghiên cứu thực nghiệm gần đây đã cho thấy mối liên hệ tích cựccủa khuynh hướng biết ơn với hạnh phúc chủ quan (Emmons & McCullough,2003; McCullough và cộng sự, 2002; Thomas & Watkins, 2003; Watkins etal., 2003; Wood, Froh, & Geraghty, 2010) Kết quả của các nghiên cứu thựcnghiệm đã cho thấy tầm quan trọng của lòng biết ơn là một yếu tố bảo vệ cóthể có trong chăm sóc sức khỏe và do đó tầm quan trọng của các biện phápđánh giá tình trạng biết ơn
Trong môn nghiên cứu tâm lý học tích cực tại Trường Y Harvard, lòngbiết ơn thường được định nghĩa là sự cảm kích của chúng ta với những thứ cógiá trị hay ý nghĩa mà chúng ta có được Lòng biết ơn không chỉ thiên về
“không nói như những gì bạn làm”, theo Emmons Tờ NBC khẳng định rằng:phàn nàn về vấn đề của ai đó có thể gây ra lo lắng và suy nhược Tuy vậy,nghiên cứu cũng đưa ra lợi ích của việc “nói ra” (chia sẻ) nhưng cần nhất vẫn
là có sự cân bằng
13
Trang 24Theo chia sẻ của Emmons, những người biết ơn thường có ngôn phongđặc biệt và thường nói về các nội dung như: quà tặng, sự cho đi, những điều
an lành,… Trái lại, người kém lòng biết ơn thường có xu hướng nói về sựtước đoạt, sự xứng đáng, điều hối tiếc, thiếu thốn, nhu cầu, sợ hãi và mấtmát… Ông khuyên rằng nên cẩn trọng với những điều mình nói, nếu khôngdần dà chúng ta sẽ trở thành người kém biết ơn Bên cạnh đó, họ ít ghen tị vớinhững người giàu có vì họ có tính xã hội cao hơn và có xu hướng chia sẻ tàisản của họ với những người khác so với những người ít biết ơn hơn Như vậy,
từ nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy lòng biết ơn và cảm nhận với hạnhphúc luôn có mối tương quan chặt chẽ thuận chiều nhau, đây cũng là cơ sởhình thành được nhiều cảm xúc tích cực khác cho cá nhân trong cuộc sống
1.1.4 Tính đố kỵ và cảm nhận hạnh phúc.
Tính đố kỵ là một cảm xúc phổ biến trong cuộc sống của con người, đó
là do các mối đe dọa, cạnh tranh và bảo vệ, khi một người cảm thấy những gì
họ có thể bị lấy đi từ họ do một điều gì đó tốt hơn Họ được bảo vệ và ghen tịnếu các mối đe dọa phát sinh Tính đố kỵ được định nghĩa là một phản ứngcảm xúc đối với sự từ chối xã hội Sợ bị từ chối và mất những gì họ có nên họbảo vệ nó hết mức có thể, và nếu họ cảm thấy họ không thể bảo vệ nó hoặclàm bất cứ điều gì về các mối đe dọa, điều đó gây ra sự căng thẳng lớn cholòng tự trọng và hạnh phúc của người này và điều này có thể gây thiệt hại chonhững mối quan hệ trong tương lai của những người có cảm xúc tích cực hoặcbất kỳ mối quan hệ nào họ có thể có (DeSteno, Valdesolo & Bartlett, 2006)
Theo quan điểm của Nadler & Dotan (1992) cho rằng tính đố kỵ liênquan đến hai mối đe dọa khác nhau, đó là mối đe dọa đối với mối quan hệhiện tại và suy nghĩ về việc mất đi những gì họ có và mối đe dọa khác về lòng
tự trọng bởi đối tác chọn ai đó tốt hơn ở vị trí của họ, khiến họ trở nên tốt hơncảm thấy không tốt hoặc không hạnh phúc và cũng có thể không mong muốn.Chính điều đó tạo cho họ cảm giác ghen tuông trong mối quan hệ hoặc mối
14
Trang 25quan hệ tương lai mà họ có thể có Một số người có thể có cảm giác ghentuông trong mối quan hệ của họ ngay cả khi không có dấu hiệu nguy hiểmtrong mối quan hệ của họ, điều này là do người có lòng tự trọng thấp và luôncảm thấy rằng họ không đủ tốt cho người họ ở cùng, vì vậy họ luôn nghĩ rằngkhi đối tác của họ không ở bên họ thì họ sẽ tìm thấy ai đó tốt hơn họ, điều này
có thể gây căng thẳng lớn cho mối quan hệ
Tính đố kỵ là phổ biến trong rất nhiều mối quan hệ và một số nghiêncứu đã chỉ ra rằng hầu hết những điều này là do người hành động ghen tuông,chịu đựng lòng tự trọng thấp Ghen tỵ có mối quan hệ nhất định với hạnhphúc của mỗi cá nhân, mặt khác tính đố kỵ còn được định nghĩa là cảm xúc,suy nghĩ và hành động có thể gây tổn thương và căng thẳng cho một mối quan
hệ hạnh phúc do bản thân cảm thấy bị đe dọa bởi một vài yếu tố tác động đếntính cách của mỗi người Những người có tính đố kỵ thấp có khả năng tưởngtượng ra những tình huống về mối quan hệ xung quanh và không cảm thấyhạnh phúc với họ Họ tưởng tượng rằng đối tác của họ sẽ không đủ hạnh phúcvới họ và tìm ai đó mà họ cảm thấy tốt hơn họ Đó là nỗi sợ bị từ chối vàhoang tưởng và không cảm thấy tốt về bản thân, cảm giác chiếm hữu và kiểmsoát của nó và nó có thể làm tổn thương người và những người gần gũi với
họ, vì bất hạnh và tức giận và đó là cảm giác mà hầu hết mọi người không thểkiểm soát (Firestone, 2011)
Mặt khác, tác giả Melamed (1991) Nói rằng những người ghen tị rất lolắng và không hài lòng với mọi thứ Họ không an toàn và phụ thuộc vàongười khác Một nghiên cứu cho thấy tính đố kỵ phụ thuộc vào loại mối quan
hệ của những người này, họ phụ thuộc vào nhau rất nhiều, điều này có thể gây
ra sự xung đột về mối quan hệ hạnh phúc và tính đố kỵ cao lên
Trong khi đó tác giả White (1981) đã chỉ ra rằng rằng tính đố kỵ là khimọi người có những cảm xúc, suy nghĩ, đe dọa và hành vi lẫn lộn xuất phát từlòng tự trọng mà họ mang theo và thể hiện khi họ ở trong mối quan hệ có sự
15
Trang 26cảm nhận hạnh phúc Nghiên cứu này được thực hiện vào năm 1981 nhằm tìm
ra những mối tương quan khác nhau của sự đố kỵ trong các mối quan hệ lãngmạn Phần lớn những người tham gia là sinh viên tại một trường đại học ởLos Angeles tuổi đối với nam tham gia là 22 và đối với nữ là 21,50% sốngười tham gia được xếp hạng Kết quả cho thấy cả nam và nữ đều có mốitương quan ngược chiều với cảm giác không thỏa đáng, cảm giác không tốttrong các mối quan hệ lãng mạn Do đó giới tính cũng là một yếu tố để xácđịnh được mức độ đố kỵ so với sự cảm nhận hạnh phúc cá nhân
Như vậy, tính đố kỵ có mối tương quan nghịch với cảm nhận hạnhphúc Nếu như mỗi cá nhân có tính đố kỵ thấp thì sự cảm nhận hạnh phúc caohơn so với những người có tính đố kỵ cao Nghiên cứu này tiến hành đo lườngthực trạng tính cách của cá nhân có tác động đến sự cảm nhận hạnh phúc của
cá nhân
1.1.5 Đặc điểm của lòng biết ơn.
Gia đình là tế bào của xã hội ở đó chúng ta luôn có nhiều quy tắc khácnhau từ những việc phải làm, được phép làm và không được phép thực hiện,
… đó chính là những khuôn mẫu, đạo đức xã hội, ở đó là những khuôn mẫu
mà mỗi cá nhân cần phải làm theo và những điều cần tránh và có những điềunếu vi phạm sẽ bị lên án từ mọi người xung quanh cũng như từ xã hội Lòngbiết ơn cũng là một trong nhiều điều nằm trong khuôn mẫu đạo đức đó, vì vậycho nên đây cũng là điều được quan tâm từ nhiều hướng khác nhau, từ giađình tới xã hội Trong gia đình ông bà, cha mẹ thường xây dựng và dạy concháu cần có lòng biết ơn với người đi trước, được biểu hiện nhỏ nhất từ việcbiết nói “cảm ơn”, lòng biết ơn được xem như là một trong số nhiều chuẩnmực xã hội cơ bản mà một cá nhân cần có nó vừa là cảm nhận của cá nhânvừa được biểu hiện ra bên ngoài bằng hành động Việc dành thời gian bày tỏlòng biết ơn và cảm kích những điều mà một cá nhân nhận được từ nhữngngười xung quanh nói riêng và từ cuộc sống nói chung, dù là hữu hình
16
Trang 27hay vô hình, sẽ khiến chúng ta cảm nhận được nhiều cảm xúc tích cực hơn,tận hưởng những trải nghiệm tốt đẹp, cải thiện sức khỏe để đương đầu vớinghịch cảnh và xây dựng các mối quan hệ vững chắc Tất cả đều là nhữngđiều cần thiết cả trong công việc lẫn cuộc sống Là một trong những giá trịđạo đức quan trọng, lòng biết ơn cũng nhận được sự quan tâm của nhiều nhànghiên cứu dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau trong sự kết nối vớinhiều yếu tố khác Lòng biết ơn là một cảm giác biết ơn và niềm vui khi nhậnđược một món quà, cho dù món quà là một lợi ích hữu hình từ một ngườikhác hoặc một khoảnh khắc của hạnh phúc, vui vẻ được gợi lên bởi vẻ đẹp tựnhiên Steven Toepfer, thông qua nghiên cứu của mình đã khẳng định mốiliên hệ gần gũi giữa lòng biết ơn và sự khỏe mạnh (thể chất và tinh thần) của
cơ thể Emmons cũng khẳng định rằng lòng biết ơn giúp cho cuộc sống tự do,nhẹ nhàng và dễ chịu hơn, cũng từ lòng biết ơn giúp chúng ta có sức mạnh đểkiểm soát đời sống cảm xúc của chính bản thân mình Đặc biệt trong nhiềunăm trở lại đây các nghiên cứu về lòng biết ơn được nhiều nhà nghiên cứuquan tâm cả về các trải nghiệm cũng như sự biểu hiện của nó về mặt tình cảm,
xã hội hay thể chất cá nhân (Emmons & McCullough, 2003; Froh et al, 2008;Watkins, Woodward, Stone, & Kolts, 2003) Nhiều tác giả cũng đã tìm thấymối quan hệ của lòng biết ơn với chất lượng của cuộc sống như sự hạnh phúc,niềm lạc quan và các ảnh hưởng tích cực Nghiên cứu tại đại họcPennsylvania, (2005) cũng đã khẳng định một trong những yếu tố góp phầnquan trọng nhất vào hạnh phúc nói chung trong cuộc sống là việc chúng ta thểhiện lòng biết ơn nhiều thế nào, chúng ta có thể trải nghiệm sự khác biệt đáng
kể mỗi ngày chỉ với một thể hiện rất nhỏ như 3 từ “Cảm ơn vì…” Các nhànghiên cứu đã chứng minh những lợi ích to lớn mà việc thực hành lòng biết
ơn mang lại cho sức khỏe thể chất lẫn tinh thần như: giúp khỏe mạnh hơn, cảithiện giấc ngủ và thậm chí còn giúp tăng cường sức đề kháng cho cơ thể Mộtnghiên cứu năm 2011 trên 200 sinh viên đại học có cuộc sống hạnh phúc cho
17
Trang 28thấy rằng, những ai viết một lá thư ý nghĩa về lòng biết ơn mỗi tuần trongkhóa học suốt 3 tuần (dành khoảng 15-20 phút cho mỗi lần viết thư) thì cóđược sự gia tăng đáng kể về sự hài lòng về cuộc sống, niềm vui và giảm đượccác triệu chứng phiền muộn, suy nhược ở nhiều nghiên cứu, các tác giả cũngkhẳng định rằng dường như không có sự khác biệt ở giới tính về lòng biết ơn
đã được phát hiện, mặc dù công việc trước đây cho thấy phụ nữ có thể có lợithế hơn nam giới trong việc trải nghiệm và hưởng lợi từ lòng biết ơn(Kashdan, Mishra, Breen, & Froh, 2009; Schwartz & Rubel, 2005; Timmer,Fischer, & Manstead, 1998) Nhưng mức độ biết ơn lại được thấy rằng luôn
có sự thay đổi theo tuổi tác (McAdams & Bauer, 2004), trong đó người caotuổi có thể dễ dàng xem lòng biết ơn như một trải nghiệm tích cực, bổ ích,thiết yếu so với người trẻ tuổi (Kashdan et al., 2009) Về vấn đề này, kết quảcủa chúng tôi cho thấy mối tương quan khiêm tốn với tuổi, sẽ biến mất khi sosánh các nhóm người trưởng thành trẻ hơn (từ 29 tuổi trở lên) và lớn tuổi hơn(mặc dù có thể phụ thuộc vào mẫu tương đối trẻ, không đủ biến thiên liênquan đến tuổi Sự đánh giá cao những điều tốt đẹp trong cuộc sống của mộtngười có thể khiến những người biết ơn tránh được lợi ích và được duy trìhạnh phúc và sự hài lòng của họ theo thời gian (McCullough et al., 2002).Watkins, Woodward, Stone và Kolts (2003) đã đưa ra một khung lý thuyếtxác định ba đặc điểm riêng biệt trong một cá nhân biết ơn, đặc điểm đầu tiên
là thiếu cảm giác thiếu thốn; thứ hai là xu hướng đánh giá cao những thú vuiđơn giản, và cuối cùng là xu hướng đánh giá cao những đóng góp của ngườikhác đối với hạnh phúc của một người khác và bày tỏ lòng biết ơn này
1.1.6 Đặc điểm của tính đố kỵ
Sự ghen ghét luôn là một đặc tính của con người Nó không phải phát sinh
từ xã hội hiện đại, mà có từ rất xa xưa Loài người là những con vật xã hộixây dựng hình ảnh cái tôi bằng cách phân biệt với người khác “Chừng nàocon người còn so sánh lẫn nhau thì còn có sự đố kỵ” (S Neckel) Trong xã
18
Trang 29hội hiện nay, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, mối quan hệ giữa người vớingười ngày càng phức tạp dẫn đến việc mỗi cá nhân
Tính đố kỵ là một cảm giác khó chịu, mãnh liệt xuất hiện khi một ngườinhận ra rằng người khác có thứ gì đó mà người đó khao khát, phấn đấu hoặcmong muốn (Parrott & Smith, 1993; Smith et al., 1996) Tính đố kỵ còn làmột cảm xúc xã hội, vì nó phát sinh từ một so sánh tiêu cực đi lên với mộtngười khác (Salovey & Rodin, 1984; Smith, 2000)
Các phương pháp tiếp cận trước đây đã coi sự đố kị có khuynh hướng nhưmột xu hướng chung là ghen tị với những người khác không khác nhau giữacác lĩnh vực so sánh khác nhau (Belk, 1985; Gold, 1996; Lange & Crusius,2015; Smith et al., 1999) Tuy nhiên, nghiên cứu về trải nghiệm tạm thời đãchỉ ra rằng sự đố kị của nhà nước thay đổi đáng kể giữa các lĩnh vực so sánh(DelPriore, Hill, & Buss, 2012; Salovey & Rodin, 1991) Những khuynhhướng thói quen này đã được khái niệm hóa như một đặc điểm tính cách ổnđịnh (sự đố kị có chủ đích (Ben-Ze’ev, 2000; Gold, 1996) Theo quan điểmcủa tác giả Belk (1985) sự đố kị như một nhánh của chủ nghĩa duy vật Trongcách tiếp cận này, sự đố kị có khuynh hướng được mô tả như một xu hướngđơn phương để tập trung vào một người khác sở hữu khác Một người có tính
đố kỵ cao luôn có khuynh hướng mong muốn nhiều tài sản khác nhau củangười khác, chẳng hạn như đồ vật, kinh nghiệm hoặc cá nhân Theo cách tiếpcận này, Thang đo duy vật (Belk, 1985) đánh giá sự đố kị có tính phân tánnhư là một thành phần của chủ nghĩa duy vật bên cạnh các thành phần củatính chiếm hữu và tính không đồng nhất
Một khái niệm khác về sự khác biệt đáng kể của cá nhân về mức độghen tị đã được cung cấp bởi Gold (1996) Khái niệm sự đố kị có khuynhhướng như một xu hướng chung không theo chiều hướng mong muốn những
gì người khác có, để phẫn nộ người này và thể hiện ý chí xấu xa đối với ngườighen tị Dựa trên quan niệm này, Thang đo Độ rõ ràng của York (Gold, 1996)
19
Trang 30bao gồm các mục về các tuyên bố cá nhân ngắn, chẳng hạn như “Khi bạn bècủa tôi thành công, tôi cảm thấy bị tổn thương” và “Tôi cảm thấy hài lòng vớinhững gì tôi đã nhận được” Mặt khác theo tác giả Smith et al (1999) mô tả
sự đố kị có tính cách như một sự so sánh, dựa trên so sánh đặc điểm cảm xúcbao gồm xu hướng trải nghiệm sự đố kị, cảm giác chung về sự thấp kém vàoán giận của những người thành công Smith và cộng sự lập luận rằng mộtngười có xu hướng ghen tị với người khác cũng có xu hướng diễn giải những
so sánh xã hội không thuận lợi là chỉ số của một người kém cỏi Ngược lại, sựthất vọng phát sinh từ những so sánh xã hội không thuận lợi như vậy, dẫn đến
xu hướng chung là phẫn nộ những người khác so sánh (Smith et al., 1999).Dựa trên phương pháp này, Smith et al (1999) đã phát triển Thang đo ghen tị(DES) DES bao gồm tám mục với một số được xây dựng về sự đố kị (ví dụ:
“Tôi cảm thấy ghen tị mỗi ngày”) và một số khía cạnh đo lường sự thấp kém(“Sự thật cay đắng là tôi thường cảm thấy thua kém người khác”) và phẫn nộ(“Thẳng thắn, thành công của hàng xóm khiến tôi bực bội với họ”)
Để giải quyết các phản ứng đố kị khác nhau, Lange và Crusius (2015)tập trung vào hai khuynh hướng khác nhau là các hình thức phản ứng đố kị ởcấp độ đặc điểm Sự đố kị lành tính có khuynh hướng mô tả xu hướng đượcthúc đẩy nhằm tăng vị thế của người này để phù hợp với người kia, trong khi
sự đố kị độc hại có khuynh hướng mô tả xu hướng giảm tư thế khác để phùhợp với một người khác Cả hai hình thức thuộc về một đặc điểm cảm xúcdựa trên so sánh có liên quan đến sự thất vọng phát sinh từ so sánh xã hội tiêucực, nhưng chúng khác nhau trong các động lực và hành động liên quan đếncảm giác đó Để đánh giá các khía cạnh động lực và hậu quả hành vi của sự
đố kị, Thang đo ghen tị và ác ý đã được phát triển (Lange & Crusius, 2015)
Nó đo lường xu hướng phấn đấu để có được đối tượng mong muốn khi cảmthấy ghen tị (ví dụ: “Khi tôi ghen tị với người khác, tôi tập trung vào cách tôi
có thể thành công như nhau trong tương lai” và xu hướng phản ứng thù địchkhi ghen tị “Cảm giác ghen tị khiến tôi không thích người khác”
20
Trang 31Mặc dù những quan điểm và biện pháp khái niệm này khác nhau theonhững cách quan trọng, nhưng tất cả chúng đều coi sự đố kị như một hộichứng rộng lớn hơn chứa đựng những khuynh hướng khác nhau đến muộntrong quá trình ghen tị cảm xúc, như phản ứng thù địch với người so sánh.Ngược lại, chúng tôi khái niệm sự đố kị có khuynh hướng như một khuynhhướng ổn định đối với những trải nghiệm cảm xúc xuất hiện sớm hơn trongquá trình ghen tị cảm xúc (Ekman, 1972; Gross, 2001; Lazarus, 1991;Levenson, 1994; Plutchik, 1980; Rosenberg, 1998; Scherer, 1984) Chúng tôilập luận rằng điều quan trọng là phải giải quyết các khác biệt cá nhân trongcác trải nghiệm đặc biệt ghen tị với các kết quả liên quan hoặc các cấu trúcliên kết Do đó, chúng tôi khái niệm hóa sự đố kị có khuynh hướng như xuhướng ổn định để trải nghiệm cảm giác khó chịu dữ dội khi phải đối mặt vớikết quả so sánh xã hội tiêu cực.
Một đặc điểm thứ hai của các cách tiếp cận trước đây đối với sự đố kị
là giả định rằng sự đố kị là một cấu trúc chung không thay đổi giữa các lĩnhvực so sánh Mặc dù các nhà nghiên cứu đã đề cập đến các lĩnh vực so sánhkhác nhau của sự đố kị, chẳng hạn như sở hữu của cải và sự hấp dẫn lãng mạntrong Thang đo duy vật (Belk, 1985), xu hướng đố kị vẫn được định nghĩa làchung miền Ngược lại, chúng tôi cho rằng rất hữu ích khi chỉ định các lĩnhvực so sánh xã hội Ghen tị liên quan đến ghen tị định đoạt Xem xét hàng hóa
cụ thể có ý nghĩa quan trọng đối với vị thế xã hội của chúng ta trong xã hội,Bourdieu (1986) đã đưa ra ba hình thức vốn: vốn kinh tế như tiền hoặc tài sản,vốn xã hội như mạng xã hội hoặc những người gần gũi với chính họ và vốnvăn hóa như giáo dục hoặc hiểu biết Thật vậy, các lĩnh vực so sánh đặc biệt
có khả năng khơi gợi sự đố kị đã được xác định, sự hấp dẫn lãng mạn, sự hấpdẫn về thể chất, sự giàu có về tài chính, tài sản, thành công trong học tập, sựnổi tiếng, địa vị và trí thông minh (DelPriore et al., 2012) Mọi người khácnhau trong đó miền so sánh đặc biệt quan trọng đối với họ (Salovey & Rodin,
21
Trang 321991) Ví dụ, những người tham gia có sức hấp dẫn rất quan trọng cũng báocáo cảm giác ghen tị mãnh liệt hơn trong lĩnh vực đó so với lĩnh vực của sựgiàu có (Salovey & Rodin, 1991) Bởi vì đố kị có tính cách là một đặc điểmdựa trên so sánh xã hội, chúng tôi lập luận rằng các lĩnh vực của so sánh xãhội là vấn đề khi nói đến sự đố kị.
Nghiên cứu trước đây đã tập trung vào các lĩnh vực của sự giàu có hoặcnăng lực trong sự đố kị có điều kiện (ví dụ: Belk, 1985; Smith et al., 1999).Dựa trên những phát hiện làm nổi bật tầm quan trọng của lĩnh vực thu hút (ví
dụ DelPriore và cộng sự, 2012), chúng tôi cũng coi các khía cạnh của sự hấpdẫn (tức là thể chất, lãng mạn và xã hội) là một lĩnh vực quan trọng khác của
và thái độ cả cá nhân đó” Các nhà tâm lý học đã nghiên cứu rất nhiều và đưa
ra các quan điểm và các khung lý thuyết khác nhau về tính cách
Tính cách mang đặc điểm ổn định và bền vững; tính thống nhất và đồngthời; tính độc đáo riêng biệt và cuối cùng tính cách mang đặc điểm cá nhân.Với những đặc điểm này, tính cách của cá nhân là sự thống nhất giữa cáichung và cái riêng, cái điển hình và cái cá biệt, tính cách cá nhân luôn chịu sựchế ước của xã hội
1.2.2 Khái niệm về lòng biết ơn và tính đố kỵ
Lòng biết ơn là nhận thức và biết ơn những điều tốt đẹp xảy ra trong cuộcsống của bạn và dành thời gian để bày tỏ sự đánh giá cao và trở lại lòng tốt
22
Trang 33Biết ơn nhiều hơn là nói lời cảm ơn Khi bạn bày tỏ lòng biết ơn, nó thực sự
có thể dẫn đến một cảm giác hạnh phúc mạnh mẽ hơn
Lòng biết ơn khác với những cảm xúc quan tâm khác như sự đồng cảm vàlòng trắc ẩn bởi vì nó được học Đó là tin tốt, vì có nhiều cách để dạy nó vàlàm mẫu cho trẻ em của bạn Dành thời gian để đánh giá cao những gì bạn có
là một trong những chìa khóa để trau dồi lòng biết ơn Tạo một "môi trườngbiết ơn" tại nhà cũng có thể giúp trẻ em mang lòng biết ơn vào thế giới trựctuyến
Lòng biết ơn còn được định nghĩa là thái độ trân trọng, ghi nhớ những gìtốt đẹp mà người khác đã dành cho mình Ông bà ta cho rằng, những điều tốtđẹp không tự dưng xuất hiện rồi đến với ta một cách dễ dàng mà đó là sựphấn đấu gây dựng, là cả quá trình đánh đổi, gìn giữ của thế hệ đi trước.Nhiều nghiên cứu cho thấy lòng biết ơn có bản chất tự tồn tại Nghĩa là nếubạn càng thực hành lòng biết ơn, bạn càng có thể tận hưởng nhiều lợi ích của
nó, như một cảm giác an toàn
Lòng biết ơn đã được coi là một cảm xúc đạo đức có liên quan mạnh mẽvới ảnh hưởng tích cực (Watkins et al., 2009) Trong môn nghiên cứu tâm lýhọc tích cực tại Trường Y Harvard, lòng biết ơn thường được định nghĩa là sựcảm kích của chúng ta với những thứ có giá trị hay ý nghĩa mà chúng ta cóđược
Trang 341.2.3 Khái niệm về hạnh phúc và cảm nhận hạnh phúc của sinh viên
“Subjective Well – being” Các tác giả đi trước như Diener, Matthieu Recard,Tal – Ben Shahar hay Marti Siligman đều đồng ý rằng cảm nhận nhận hạnhphúc chính là sự hài lòng về cuộc sống trên các mặt khác nhau như đã nêu ởtrên Đặc biệt, Carol Ryff (1989) cho rằng, đa số nghiên cứu về well- beinghiện nay đều được hiểu là hạnh phúc hay trạng thái an lạc Bà đưa ra 6 tiêu chí
để đánh giá về trạng thái tâm lý “Well – being”
Như vậy hạnh phúc được hai tác giả Keyes và Waterman cho rằng:
“Cảm nhận hạnh phúc chủ quan là nhận thức của từng người và những đánhgiá của họ về đời sống của mình trong tâm trạng khỏe và các chức năng vềtâm lý và hoạt động xã hội”
Từ các khái niệm trên chúng tôi xin đưa ra khái niệm về cảm nhận hạnh
phúc là “những đánh giá, nhận định của bản thân về sự hài lòng và dễ chịu
của bản thân về cuộc sống của mình
Sinh viên, tiếng Anh là Students, theo nguồn gốc tiếng Latin nghĩa là
“người làm việc nhiệt tình, người tìm hiểu khai thác tri thức” Theo “Từ điểnTiếng Việt” Hoàng Phê, sinh viên được hiểu là “Người học ở bậc đại học”.Còn theo tác giả Vũ Thị Nho thì sinh viên là lứa tuổi từ sau tuổi Phổ thôngtrung học đến khoảng 24-25 tuổi Đây là lớp người đang theo học ở cáctrường Đại học, cao đẳng, là tầng lớp tri thức của xã hội Sinh viên là tầng lớpquan trọng trong mỗi chính thể, là đội ngũ chuyển tiếp, chuẩn bị cho nguồn
24
Trang 35lực lao động xã hội có trình độ cao của đất nước Hoạt động chủ đạo của tuổisinh viên là hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học và các hoạt động nghềnghiệp Theo chúng tôi, sinh viên có thể hiểu là những người đã tốt nghiệptrung học phổ thông, hiện đang theo học các hệ cao đẳng và đại học trong cáctrường thuộc hệ thống giáo dục hiện nay.
Hạnh phúc được giới hạn trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ tập trungvào sự cảm nhận hạnh phúc của sinh viên vì vậy đây là một nhận định, đánhgiá mang tính cá nhân và chủ quan Hạnh phúc chủ quan cũng đã được Diener(2000) định nghĩa là sự đánh giá nhận thức và tính cảm của một người đối vớicuộc sống của họ Những đánh giá này bao gồm các phản ứng cảm xúc đốivới các sự kiện, cũng như những đánh giá nhận thức về sự hài lòng và thỏamãn với cuộc sống Có thể thấy rằng tác giả đánh giá hạnh phúc chủ quan làmôt khái niệm rộng bao gồm các trải nghiệm thỏa mãn hay trạng thái cảm xúctiêu cực ở mức thấp cũng như sự hài lòng cuộc sống ở mức cao Bên cạnh đó,hai tác giả Keyes và Waterman cho rằng: “Cảm nhận hạnh phúc chủ quan lànhận thức của từng người và những đánh giá của họ về đời sống của bản thântrong tâm trạng khỏe mạnh và các chức năng về tâm lý và hoạt động xã hội.”.Theo cách hiểu của ông hạnh phúc có 3 thành tố: hạnh phúc cảm xúc, hạnhphúc tâm lý và hạnh phúc xã hội Hạnh phúc cảm xúc thể hiện qua một loạtcác dấu hiệu biểu hiện trạng thái cảm xúc tích cực về cuộc sống, nó được đobằng các trạng thái cảm xúc dương tình hoặc sự hài lòng của cuộc sống nóichung Hạnh phúc tâm lý thể hiện ở sự chấp nhận, hài lòng với bản thân, mốiquan hệ tích cực với những người khác; sự phát triển cá nhân; mục tiêu trongcuộc sống; làm chủ môi trường xung quanh Hạnh phúc xã hội thể hiện ở sựhài lòng với các mối quan hệ liên cá nhân và với môi trường xung quanh.Hạnh phúc xã hội được đánh giá qua những tiêu chí mang tính công khai và
xã hội; sự gắn kết xã hội; sự hiện thực hóa xã hội; sự hòa nhập hóa xã hội; sự
25
Trang 36chấp nhận xã hội & sự đóng góp xã hội Định nghĩa này đã chỉ ra rằng: Cảmnhận hạnh phúc là đánh giá mang tính chủ quan của chủ thể về sự hài lòng vềcuộc sống của chính họ Cảm nhận hạnh phúc chủ quan có hai thành phầnchính là nhận thức và cảm xúc Nếu thành phần nhận thức hướng đến suynghĩ của chủ thể về sự hài lòng cuộc sống nói chung và các lĩnh vực khácnhau trong cuộc sống thì phần cảm xúc không chỉ có cảm xúc dương tình mà
nó bao gồm cả âm tính Cảm nhận hạnh phúc của mỗi chủ thể khác nhau thểhiện quan điểm cá nhân của họ về chất lượng cuộc sống của chình mính Vìvậy mà đánh giá này mang nhiều tình chủ quan
Từ các khái niệm trên của các tác giả về cảm nhận hạnh phúc, chúng tôi
xin đưa ra khái niệm cảm nhận hạnh phúc của sinh viên như sau: “Cảm nhận
hạnh phúc của sinh viên là những nhận định và đánh giá của sinh viên về sự hài lòng, dễ chịu với cuộc sống của bản thân trên các mặt cảm xúc, tâm lý và
xã hội” Cảm giác này vừa thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá mang tính chất
nhận thức, vừa thể hiện tình cảm điều này mang tính cảm xúc của sinh viên.Điều này hướng tới việc nhận định đánh giá việc dinh viên nghĩ như thế nào
về sự hài lòng với của sống cả các em nói chung, xem xét trên phương diệntoàn bộ cuộc sống và cả trong các lĩnh vực khác nhau (trong các nhu cầu của
cá nhân, trong điều kiện vật chất, tình thần, và cả các mối quan hệ gia đình,bạn bè…)
26
Trang 37Tiểu kết chương 1
Tóm lại, qua nghiên chúng tôi thấy rằng tính cách cũng như hạnh phúctrên thực tế đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong tâm lýhọc Đặc biệt vấn đề về tính cách trong việc cá nhân cảm nhận về mức độhạnh phúc của bản thân Nếu tính cách được các nhà nghiên cứu quan tâm từrất sớm và theo nhiều trường phái khác nhau thì hạnh phúc lại là vấn đề tươngđối phức tạp và khó định lượng một cách rõ ràng Nghiên cứu về tính cáchtrong việc cảm nhận hạnh phúc cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm ởnhiều khía cạnh, cả những tính cách tích cực và sự tiêu cực trong tính cáchtrong việc cảm nhận về hạnh phúc Trong đề tài của mình ngoài đặc điểm tínhcách nói chung, chúng tôi quan tâm đặc biệt tới lòng biết ơn và tính đố kỵtrong việc cảm nhận hạnh phúc Đối tượng khách thể nghiên cứu của đề tài là
SV từ năm nhất tới năm thứ tư tại trường Đại học Kinh tế- Kỹ thuật, với môitrường sống mới, cấp học mới, bạn bè mới đặc biệt là phần lớn các em sống
xa gia đình và hoàn toàn tự lập, đây là độ tuổi các em có rất nhiều nét đặc thùriêng Chính vì vậy đây là đối tượng nhận được nhiều sự quan tâm của cácnhà nghiên cứu trên nhiều khía cạnh khác nhau Mặc dù vậy đề tài mà chúngtôi tập trung nghiên cứu ở trên các bạn SV lại chưa nhận được sự quan tâmnhiều Vì vậy, trong đề tài này chúng tôi khai thác sâu hơn về thực trạng vềtính cách cũng như cảm nhận hạnh phúc của sinh viên và những đặc điểm tínhcách đó mà chúng tôi đặc biệt quan tâm tới lòng biết ơn và tính đố kỵ trongmối quan hệ với việc các em cảm nhận về sự hạnh phúc của bản thân
27
Trang 382.1.1 Giai đoạn 1: Nghiên cứu lý luận
Hệ thống hóa các nghiên cứu về tính cách giữa lòng biết ơn và tính đố
kỵ với cảm nhận về hạnh phúc ở trong và ngoài nước
Xây dựng cơ sở lý luận về tính cách và cảm nhận hạnh phúc nói chung
và sinh viên nói riêng Chỉ ra thực trạng về lòng biết ơn, tính đố kỵ và cảmnhận về hạnh phúc của sinh viên trong thời đại hiện nay
Phân tích tổng hợp và đánh giá những công trình nghiên cứu trongnước và nước ngoài xung quanh vấn đề về tính cách của cá nhân tác đối vớiviệc cảm nhận hanh phúc nói chung, mối quan hệ này ở sinh viên nói riêng.Chỉ ra thực trạng về mối quan hệ của lòng biết ơn và tính đố kỵ với việc cảmnhận về hạnh phúc nói chung
Để xây dựng cơ sở lý luận của luận văn, chúng tôi đã sử dụng chủ yếu
là phương pháp nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu lý thuyết như phân tích, tổnghợp, hệ thống hóa các tài liệu và các văn bản đã được đăng tải ở các sách, báo,tạp chí, cũng như các đề tài nghiên cứu khoa học… bàn về những vấn đề liênquan tới tính cách, lòng biết ơn, tính đố kỵ đối với việc cảm nhận hanh phúc
để hiểu và làm rõ hơn các quan điểm trong vấn đề này
28
Trang 392.1.2 Giai đoạn 2: Nghiên cứu thực tiễn
A. Thiết kế nghiên cứu thực tiễn: a Mục đích nghiên cứu thực tiễn
Lập kế hoạch tổ chức nghiên cứu, chỉ ra thực trạng, các yếu tố về tínhcách giữa lòng biết ơn, tính đố kỵ trong việc cảm nhận hạnh phúc của sinhviên tại địa bàn nghiên cứu hiện nay Sử dụng các phương pháp nghiên cứu đểthu thập các thông tin và cách thức tiến hành công tác nghiên cứu thực tiễn
Điều tra, nghiên cứu chính về hai yếu tố của tính cách của sinh viên làlòng biết ơn và tính đố kỵ đối với việc họ cảm nhận về hạnh phúc tại trườngĐại học Kinh tế- Kỹ thuật tại cơ sở Số 456 Minh Khai, phường Vĩnh Tuy,quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội chỉ ra thực trạng của ba yếu tố lòngbiết ơn, tính đố kỵ và cảm nhận hạnh phúc, làm rõ mối quan hệ của lòng biết
ơn và tính đố kỵ với cảm nhận hạnh phúc Đề xuất một số kiến nghị nhằmnâng cao cảm nhận hạnh phúc của sinh viên trong việc cảm nhận hạnh phúc
Việc điều tra khảo sát được thực hiện trên địa bàn trường Đại học KinhTế- Kỹ Thuật tại cơ sở Số 456 Minh Khai, phường Vĩnh Tuy, quận Hai BàTrưng, thành phố Hà Nội
Trường Đại học Kinh Tế- Kỹ Thuật, là một trường được thành lập theoQuyết định số 1206/QĐ-TTg ngày 11 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chínhphủ, trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I,tiền thân là Trường Trung cấp Kỹ thuật III, được thành lập năm 1956
Nhà trường tiếp tục đào tạo đa cấp, đa ngành với số lượng 10 ngành đạihọc, 15 ngành cao đẳng và 15 ngành trung cấp chuyên nghiệp Thương hiệucủa Nhà trường luôn được giữ vững và quy mô đào tạo ngày càng tăng cao,thể hiện rất rõ qua các kỳ tuyển sinh với số lượng thí sinh dự tuyển hàng nămrất đông, kết quả tuyển sinh luôn đạt và vượt chỉ tiêu trong phạm vi cho phép
29
Trang 40và đến nay nguồn tuyển sinh vẫn đang rất dồi dào Đến nay, trường đã có 660cán bộ giáo viên cơ hữu, trong đó có 540 giảng viên với 72 tiến sĩ và nghiêncứu sinh; 360 thạc sĩ và cao học, chiếm tỷ lệ gần 80% giáo viên cơ hữu Ngoài
ra, cũng có gần 300 PGS, TS, ThS và kỹ sư có kinh nghiệm của các trườngđại học, các viện và doanh nghiệp tham gia thỉnh giảng
giảng viên, Hội đồng khoa học của Nhà trường được kiện toàn và hoạt động theoquy chế mới của trường đại học Kết quả trong 5 năm qua đã hoàn thành 12 đề tàicấp Bộ, 17 chương trình khung và tiêu chuẩn kỹ năng nghề cấp Tổng cục Dạynghề, 255 đề tài cấp trường và cấp khoa, ứng dụng có hiệu quả trong
công tác của Nhà trường và cho sản xuất tại một số địa phương
c) Thu thập dữ liệu.
Thu thập dữ liệu định lượng
Bảng hỏi xây dựng được hỏi thử để kiểm tra, chỉnh sửa về cách diễnđạt, nội dung trả lời cho phù hợp với khách thể nghiên cứu Sau đó tiến hànhnghiên cứu trên diện rộng ở 298 sinh viên trường Đại học Kinh tế Kỹ ThuậtCông nghiệp
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sự dụng các phương pháp sau trong quá trình thực hiện đề tài:
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
cơ sở lý luận cho luận văn – cơ sở để xây dựng bảng hỏi điều tra về lòng biết
ơn và tính đố kỵ với việc cảm nhận hạnh phúc cá nhân ở sinh viên
b) Cách thức tiến hành: Thu thập, lựa chọn các tài liệu cũng như nhữngcông trình nghiên cứu của các tác giả trong nước và nước ngoài được đăng tảitrên sách báo, tạp chí các đề tài nghiên cứu, các báo cáo được đăng tải trêncác trang web liên quan đến lòng biết ơn, tính đố kỵ, mối quan hệ giữa lòngbiết ơn và tính đố kỵ trong việc cá nhân cảm nhận hạnh phúc Phân tích đánh
30