LỜI CẢM ƠNLuận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học với đề tài “Một số biện pháp phát triển giao tiếp cho trẻ Điếc lớp đầu cấp tiểu học nghiên cứu tại trường tiểu học Xã Đàn và trường dạy trẻ điếc N
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-ĐINH THỊ HOA
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN GIAO TIẾP CHO
TRẺ ĐIẾC LỚP ĐẦU CẤP TIỂU HỌC
(Nghiên cứu tại trường tiểu học Xã Đàn và trường dạy
trẻ điếc Nhân Chính)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-ĐINH THỊ HOA
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN GIAO TIẾP CHO TRẺ ĐIẾC LỚP ĐẦU CẤP TIỂU HỌC (Nghiên cứu tại trường tiểu học Xã Đàn và trường dạy trẻ điếc
Nhân Chính)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
Mã số: 60 22 02 40
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thị Hiên
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này làtrung thực và chƣa hề đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp
đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫntrong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và đƣợc phép công bố
Hà Nội, ngày 13 tháng 11 năm 2017
Học viên thực hiện
Đinh Thị Hoa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học với đề tài “Một số biện pháp phát triển giao tiếp cho trẻ Điếc lớp đầu cấp tiểu học (nghiên cứu tại trường tiểu học Xã Đàn và trường dạy trẻ điếc Nhân Chính” là kết quả của quá trình
cố gắng không ngừng của bản thân và được sự giúp đỡ, động viên khích lệ
của các thầy cô, bạn bè đồng nghiệp và người thân Trang viết này là lời cảm
ơn tới những người đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập - nghiên cứu khoahọc vừa qua
Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với TS Đỗ ThịHiên đã trực tiếp tận tình hướng dẫn cũng như cung cấp tài liệu thông tinkhoa học cần thiết cho luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Đại học Khoa học Xãhội & Nhân văn, khoa Ngôn ngữ học đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốtcông việc nghiên cứu khoa học của mình
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô và các trẻ điếccủa hai trường đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
TÁC GIẢ
Đinh Thị Hoa
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết và ý nghĩa khoa học của nghiên cứu. 1
2 Mục tiêu đề tài. 3
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu. 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Những đóng góp của đề tài. 5
8 Kết cấu của đề tài. 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ ĐIẾC 7
1.1 Hệ thống các khái niệm cơ bản và khái niệm cốt lõi của đề tài. 7
1.1.1 Khái niệm cơ bản: 7
1.1.2 Khái niệm cốt lõi: 8
1.2 Một số đặc điểm cơ bản của tật Điếc: 8
1.2.1 Biểu hiện: 8
1.2.2 Nguyên nhân 9
1.2.3 Phân loại 12
1.3 Một số đặc điểm của trẻ Điếc đầu cấp tiểu học: 13
1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lý và các giác quan ở trẻ Điếc giai đoạn đầu cấp Tiểu học. 13
1 3.2 Khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ Điếc 16
1 4 Ngôn ngữ kí hiệu – ngôn ngữ của người Điếc: 18
1.4.1: Ngôn ngữ kí hiệu là gì? 18
1.4.1 Ngôn ngữ kí hiệu ở Việt Nam 20
1.4.2 Đặc điểm của ngôn ngữ kí hiệu 21
1.4.4: Một số vấn đề về từ của ngôn ngữ kí hiệu: 27
Tiểu kết chương 1 30
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG DẠY - HỌC CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH ĐIẾC TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC XÃ ĐÀN VÀ TRƯỜNG DẠY TRẺ ĐIẾC NHÂN CHÍNH TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 32
Trang 62.1 Vài nét về địa bàn khảo sát 32
2.1.1: Trường dân lập dạy trẻ Điếc Nhân Chính: 33
2.1.2: Trường PTCS Xã Đàn (Tiểu học Xã Đàn): 34
2.2 Kết quả khảo sát thực trạng dạy - học của giáo viên và học sinh Điếc tại trường dạy trẻ Điếc. 35
2.2.1 Hoạt động dạy học cho trẻ Điếc ở 2 trường trên địa bàn Hà Nội 35
2.2.2 Khảo sát việc giảng dạy của giáo viên ở cả hai cơ sở: 38
2.2.3 Khảo sát vốn từ vựng và ngữ pháp của trẻ Điếc ở cả 2 cơ sở 39
Tiểu kết chương 2 52
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT THỬ NGHIỆM MỘT SỐ TRÕ CHƠI PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ KÍ HIỆU CHO TRẺ ĐIẾC LỚP ĐẦU CẤP TIỂU HỌC 54
3.1 Tầm quan trọng của của trò chơi trong việc dạy học và phát triển ngôn ngữ giao tiếp cho trẻ: 54
3.1.1 Nhìn thẻ tranh – đoán kí hiệu – viết tên kí hiệu 57
3.1.2 Chọn đáp án đúng 60
3.1.3 Ghép kí hiệu cho đúng 62
3.2 Kết quả khảo sát 63
3.3 Một số ý kiến về phương pháp dạy cho giáo viên 70
Tiểu kết chương 3 71
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 79
Trang 7DANH MỤC BẢNG, HÌNH, BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1 Bảng phân loại mức độ Điếc 12
Bảng 1.2: Khả năng ngôn ngữ giữa trẻ nghe nói – trẻ Điếc 17
Bảng 2.1 Kết quả khảo sát nhóm từ từ vựng lần 1 40
Bảng 2.2 Cấu trúc câu đơn giản trẻ Điếc sử dụng 47
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát nhóm từ vựng lần 2 64
Hình 1 1 Lát cắt dọc của tai 11
Hình 1.2 Sự kết nối những sợi nang lông trong ốc tai và dây thần kinh thính giác 11
Hình 1.3 Thần kinh thính giác chuyển tín hiệu âm thanh lên não 12
Hình 1.4: Bảng chữ cái ngón tay 19
Hình 1.5: Bảng chữ số 20
Hình 2.1 Sơ đồ so sánh hoạt động dạy học của trẻ bình thường và trẻ Điếc.36 Hình 2.2: Biểu đồ Venn - phương tiện giao tiếp của người Điếc 39
Biểu đồ 1.1: Khảo sát nhóm từ vựng giữa 2 trẻ Điếc 42
Biểu đồ 3.1 So sánh khả năng từ vựng Ngôn ngữ kí hiệu sau 2 lần khảo sát của hai cơ sở tại Hà Nội 67
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết và ý nghĩa khoa học của nghiên cứu
Ngôn ngữ là công cụ của tư duy và là phương tiện giao tiếp quantrọng nhất của con người Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể khám phá,nghiên cứu, tìm tòi ra những cái mới, bản chất của cuộc sống để phục vụ chobản thân Chính vì vậy mà có thể nói ngôn ngữ “tạo hình” cho con người một
cách đúng nghĩa nhất Vậy, chúng ta thử đặt câu hỏi ngược lại, nếu con người không có ngôn ngữ? Một cá nhân không có ngôn ngữ thì sẽ như thế nào? Không có ngôn ngữ sẽ không có xã hội, một xã hội phát triển Không có
ngôn ngữ thì bản thân cá nhân bị cô lập giữa cộng đồng
Một đứa trẻ Điếc không có ngôn ngữ thì không thể giao tiếp, giống như việc sống trong nhà kính Trẻ Điếc có thể thấy mọi người đang nói nhưng không thể hiểu họ nói gì Điều đó có nghĩa là nhiều trẻ Điếc lớn lên mà không thể học hoặc sử dụng ngôn ngữ nói để giao tiếp với mọi người xung quanh Mọi người đều có nhu cầu lớn đó là giao tiếp và xây dựng mối quan hệ với người khác Khi một trẻ không
có kỹ năng giao tiếp và xây dựng mối quan hệ với người khác, và khi người khác không biết làm thế nào để giao tiếp hay xây dựng mối quan hệ với trẻ, trẻ có thể bị
bỏ rơi thậm chí ngay cả với những người thân Cứ như vậy, sau một thời gian, trẻ
sẽ bị cô lập về mặt xã hội Dần dần trẻ sẽ bị trầm cảm nặng nề.
Trẻ Điếc cũng giống với những trẻ nghe được Tất cả các em đều có
quyền và nghĩa vụ, vai trò như nhau trong xã hội Trong cuốn Quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam có ghi rõ “xây dựng và ban hành các chế độc trợ cấp, giúp đỡ tài chính, hiện vật nhằm mở trường, lớp dành cho các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, ban hành quy chế, chế độ thực hiện giáo dục phổ cập tiểu học đối với trẻ em khuyết tật Nhiệm vụ này được giao cho Ban tổ chức cán
bộ Chính Phủ, Bộ Lao Động – Thương Binh Xã Hội và Bộ Giáo Dục – Đào
Trang 10thi hành luật phổ cập giáo dục tiểu học) Trẻ Điếc hay trẻ khiếm thính là một
bộ phận của xã hội Vì không thể nghe nên những trẻ này không thể học ngônngữ nếu không có sự giúp đỡ dẫn đến việc trẻ không thể giao tiếp với ngườikhác, không biết thể hiện bản thân và không thể học một cách dễ dàng nhưnhững trẻ bình thường khác Nếu không giao tiếp thì trẻ điếc không thể pháttriển toàn diện cả về trí tuệ và những khả năng của bản thân Giúp trẻ có tậtđiếc giao tiếp được là một vấn đề cấp thiết, cần phải hành động trước khi quamuộn Trang bị cho trẻ những kiến thức giúp trẻ hòa đồng, tự tin, đó là việclàm của gia đình, nhà trường và xã hội cần làm ngay
Những năm đầu đời (từ lúc mới sinh cho đến 7 tuổi) là những nămtháng quan trọng nhất cho việc học kỹ năng giao tiếp và ngôn ngữ Do vậy,phát hiện sớm những khó khăn về nghe của trẻ và giúp đỡ trẻ hiệu quả là rấtcần thiết Càng bắt đầu học ngôn ngữ sớm thì trẻ càng phát triển tốt cả về thểxác lẫn tinh thần của trẻ Việc trẻ Điếc học ngôn ngữ không đơn giản là họccách giao tiếp hàng ngày với mọi người mà quan trọng hơn đó là học cách tưduy, cách suy nghĩ và luyện óc phán đoán Điều đó mới là quan trọng, đó mới
là điều giúp trẻ tự tin khẳng định mình Trong công trình nghiên cứu của QuỹNhi đồng Liên hợp Quốc New York phối hợp với Trung tâm Phục hồi chứngnăng tổ chức Y tế thế giới Geneva và Trung tâm phục hồi chức năng bộ y tế
Zimbabwe có ghi: “Giao tiếp là một quyền con người cơ bản Thông qua
giao tiếp, mỗi người chúng ta thể hiện tính cách cá nhân của mình Chúng
ta là ai, những ý tưởng của chúng ta, suy nghĩ của chúng ta, niềm tin của chúng ta Cách mỗi người chúng ta giao tiếp là duy nhất Chúng ta kết bạn
và tạo các mối quan hệ, thiết lập giá trị xã hội của bản thân thông qua giao tiếp Hãy suy nghĩ cho chính mình một lát – Cuộc sống của bạn sẽ diễn ra như thế nào nếu bạn khó khăn về giao tiếp.[14, tr.146].
Trang 11Trẻ muốn giao tiếp có hiệu quả thì trước nhất trẻ phải có vốn từ, dần dần
là vốn từ phong phú, từ đó trẻ sẽ ghép từ thành câu hoàn chỉnh Có thể nói, giúptrẻ phát triển vốn từ vựng là bước đầu giúp trẻ nhận biết thế giới xung quanh, đểxây dựng quan hệ với người khác, để thể hiện bản thân và suy nghĩ cũng như tưduy của trẻ Nhưng trẻ trong giai đoạn này gặp rất nhiều bất lợi trong học tập:vốn từ vựng của trẻ ít hơn nhiều lần so với trẻ nghe – nói; giáo viên và phụhuynh gặp khó khăn trong việc giảng dạy ngôn ngữ kí hiệu cho trẻ; tuy trẻ Điếcnắm bắt kí hiệu rất tốt nhưng chuyển kí hiệu đó sang chữ viết tiếng Việt lại khókhăn Đây là những “bức tường” lớn ngăn trẻ Điếc đến với kiến thức văn hóa cở
sở Chính vì vậy mà chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là “Một số biện pháp
phát triển ngôn ngữ giao tiếp cho trẻ Điếc lớp đầu cấp tiểu học (nghiên cứu tại trường Tiểu học Xã Đàn và trường Dạy Trẻ Điếc Nhân Chính) để khắc
phục những tồn tại này
Tìm hiểu và đề xuất một số trò chơi phát triển kĩ năng giao tiếp bằngngôn ngữ kí hiệu cho trẻ Điếc lớp đầu cấp tiểu học nhằm mở rộng vốn từ, tăngcường tối đa khả năng sử dụng ngôn ngữ, phát triển giao tiếp cho trẻ Điếc
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Trò chơi phát triển ngôn ngữ kí hiệu cho trẻ Điếc
- Khách thể: Trẻ Điếc giai đoạn đầu cấp tiểu học
- Phạm vi: Trẻ Điếc trường tiểu học Xã Đàn và trường tiểu học NhânChính
4 Giả thuyết khoa học
Hiện nay những công trình nghiên cứu và những ý kiến nhằm làm tăngvốn từ vựng cho trẻ Điếc nói chung và dành cho trẻ Điếc giai đoạn đầu cấptiểu học nói riêng còn rất ít, hoặc chưa thực sự mang lại hiệu quả Với thờigian tìm hiểu, quan sát và tiếp xúc với trẻ Điếc một thời gian (có sự hướng
Trang 12dẫn của giáo viên Điếc), chúng tôi thấy rằng: áp dụng trò chơi trong hoạt độngvui chơi và giảng dạy sẽ nâng cao được ngôn ngữ trong giao tiếp của trẻ vàgiúp trẻ ghi nhớ từ tiếng Việt một cách hiệu quả cao Từ đó, chúng tôi đề xuấtmột số trò chơi cụ thể dạy NNKH (ngôn ngữ kí hiệu) cho trẻ Điếc Những tròchơi mà chúng tôi đưa ra, xuất phát từ việc tìm hiểu cụ thể đặc điểm tâm sinh
lí cũng như đặc điểm sự phát triển ngôn ngữ và tư duy của trẻ Điếc, hy vọng
có thể sẽ là những biện pháp tốt, giúp trẻ Điếc tăng cường khả năng giao tiếpbằng ngôn ngữ kí hiệu, phát triển kĩ năng xã hội
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận: đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ảnh hưởng tới việc phát triển ngôn ngữ kí hiệu của trẻ Điếc
- Chỉ ra những biện pháp dựa trên những cơ sở khoa học, mang lại hiệuquả thiết thực trong việc hình thành và phát triển ngôn ngữ, phát triển kĩ nănggiao tiếp cho trẻ Điếc
- Đề xuất thử nghiệm một vài trò chơi trong vui chơi và giảng dạy hiệu quả ở môi trường trên lớp cũng như ở nhà
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1: Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Nghiên cứu, phân tích khái quát các văn bản, tài liệu, sách báo có liênquan đến đề tài nghiên cứu Thông qua phương pháp này chúng ta có thể tiếpcận thông tin nhằm nhằm xây dựng cơ sở lý luận, xác định cách thức vàphương pháp nghiên cứu
Làm rõ các khái niệm cơ bản và các khái niệm công cụ cốt lõi của luận văn.
6.2: Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Tìm hiểu và sàng lọc những nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn gần gũivới luận văn, thậm chí cùng vấn đề nghiên cứu đã được thực hiện từ trước để
Trang 13đánh giá những gì được kiểm nghiệm và khẳng định, những gì cần phải chắt lọc, bổ sung và phát triển.
Miêu tả các trẻ sử dụng từ và câu trong giao tiếp như thế nào
Miêu tả các trò chơi: các bước tiến hành, luật chơi, dụng cụ hỗ trợ,
6.5: Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Thu thập ý kiến của nhiều đối tượng khác nhau tham gia vào quá trình giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, chủ yếu là giáo viên và phụ huynh
6.6: Thủ pháp thống kê toán học
Xử lý số liệu
7 Những đóng góp của đề tài
- Về mặt lý luận: Góp phần khẳng định và tăng cường hiệu quả cho cơ
sở lý luận của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ Điếc, giúp trẻ vận dụng đượcnhững gì được học vào trong giao tiếp, vào cuộc sống
Đề xuất một số trò chơi trong giảng dạy ngôn ngữ kí hiệu hiệu quả chocha mẹ và cho giáo viên nhằm truyền đạt kiến thức đến các em một cách cókết quả cao
- Về mặt thực tiễn: góp phần khẳng định và làm phong phú thêm các
biện pháp tăng vốn từ vựng cho trẻ Điếc giai đoạn đầu cấp tiểu học để phát triểngiao tiếp, giúp trẻ tự tin hòa nhập cộng đồng, phát huy hết khả năng của bản thân,học tập văn hóa tốt, hướng tới việc trở thành người có ích cho gia
đình và xã hội
Trang 148 Kết cấu của đề tài
Khóa luận bao gồm
Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển ngôn ngữ cho
trẻ Điếc
Chương 2: Thực trạng dạy – học của giáo viên và học sinh Điếc tại
trường tiểu học Xã Đàn và trường dạy trẻ Điếc Nhân Chính trên địa bàn Hà Nội.
Chương 3: Đề xuất thử nghiệm một số trò chơi phát triển kĩ năng giao
tiếp bằng ngôn ngữ kí hiệu cho trẻ Điếc lớp đầu cấp tiểu học
Kết luận
Phụ lục
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ ĐIẾC 1.1 Hệ thống các khái niệm cơ bản và khái niệm cốt lõi của đề tài
1.1.1 Khái niệm cơ bản
- Tật Điếc: Sự tiếp nhận âm thanh của bộ máy thính giác có thể không
đầy đủ và trung thực, thậm chí bị mất…Hiện tượng này có thể xảy ra ngay từ taingoài Trong ống tai có nhiều ráy tai, làm cản trở sóng âm vào màng hoặc màngnhĩ quá dày kém rung động làm ảnh hưởng đến âm
thanh nghe được Đặc biệt ở tai giữa rất hay bị viêm nhiễm (chảy mủ tai) làmcho âm thanh không thể truyền vào tai trong làm chúng ta không nghe đượchoặc nghe rất ít Đặc biệt tai trong là bộ phận rất nhạy cảm với một số độc tốlàm suy giảm khả năng nghe và khả năng hiểu gây ra mất thính lực nặng [3]
- Trường chuyên biệt (Specail school): là loại hình trường học được
thiết lập dành riêng cho những trẻ em không học trường bình thường
- Khuyết tật thính giác (Hearing impairment): vào những năm 70 và
những năm 80, các nhà chuyên môn thường dùng thuật ngữ “khiếm thính”.Vào những năm 90, những người Điếc tự bác bỏ thuật ngữ “khiếm thính” và
họ thích dùng thuật ngữ “Điếc” hơn Trong khóa luận này, chúng tôi sẽ dùng
từ “Điếc” Vì vốn dĩ hai từ “Điếc” và “khiếm thính” là hai khái niệm khácnhau Hai khái niệm chỉ sự mất hoặc giảm sút thính lực ở những mức độ khácnhau từ nhẹ tới nặng
Trang 161.1.2 Khái niệm cốt lõi
- Trẻ Điếc (Deaf children): là những trẻ mất hẳn sức nghe (hoàn toàn
không có khả năng nghe) dẫn đến khó khăn trong giao tiếp và ảnh hưởng đến quátrình nhận thức của trẻ
- Phát triển ngôn ngữ giao tiếp (Develop communication language): là vốn từ vựng và cấu trúc ngôn ngữ phục vụ trong cuộc sống
hàng ngày, là phương tiện để phát biểu cảm xúc và nhu cầu của bản thân
1.2 Một số đặc điểm cơ bản của tật Điếc
1 2.1: Biểu hiện
Trẻ Điếc là trẻ có sự suy giảm sức nghe ở các mức độ khác nhau, dẫnđến sự khó khăn trong tri giác âm thanh, trong đó có âm thanh ngôn ngữ, làmhạn chế khả năng giao tiếp bằng lời và ảnh hưởng đến quá trình nhận thức củangười Hay đơn giản hơn, khi một đứa trẻ không thể nghe được âm thanh nhưnhững đứa người cùng tuổi, chúng ta nói rằng, trẻ bị Điếc Trẻ Điếc chỉ gặpkhó khăn với việc nghe, ngoài ra người không bị một khuyết tật nào khác vềtâm thần Hay nói một cách khác, ở trẻ Điếc sự phát triển của các cơ quan ở hệthần kinh, hệ hô hấp, hệ vận động…đều phát triển bình thường, trừ cơ quanthính giác Nếu một đứa trẻ được phát hiện bị Điếc sau ba tuổi, thì sự pháttriển sau này bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng Bởi vì, với một người bìnhthường, ngay từ khi mới chào đời, hoạt động giao tiếp đã bắt đầu Mặt khác,đây cũng là giai đoạn có ý nghĩa quyết định của quá trình thụ đắc ngôn ngữ
Do vậy, những người phát hiện Điếc sau ba tuổi đều có rất ít cơ hội nhận kíchthích lời nói Cha mẹ và những người xung quanh thì vẫn nói chuyện với trẻ,nhưng nó không nghe thấy Đứa trẻ đó đã bị bỏ lỡ mất cơ hội được can thiệp,
bị chậm mất cơ hội phát triển về ngôn ngữ, giao tiếp và nhận thức [3]
Ngôn ngữ lời nói là điểm yếu ở trẻ Điếc Trẻ Điếc không nghe dẫn đếnkhông thể nói, không thể hiểu ngôn ngữ lời nói Tuy nhiên, bù lại, trẻ
Trang 17Điếc biết sử dụng cử chỉ để giao tiếp Những trẻ Điếc nhẹ và Điếc trung bình,
có sự trợ giúp của máy trợ thính sẽ nghe và nói tốt hơn Việc hình thành kĩnăng giao tiếp vì vậy cũng thuận lợi hơn Với những trẻ Điếc nặng, máy trợthính không giúp trẻ nghe và nói được Việc hình thành kĩ năng giao tiếp vàtạo điều kiện để trẻ Điếc học tập văn hóa sẽ gặp rất nhiều khó khăn Vậy cócách nào để xác định sớm và chính xác mức độ Điếc để có thể giúp đỡ nhiềuhơn khi trẻ Điếc còn nhỏ? Muốn vậy, chúng ta phải nắm được cấu trúc củatai, các bệnh ở tai gây nên tật điếc ở người, xác định mức độ Điếc, từ đó mới
đề ra được kế hoạch và mục tiêu can thiệp, giúp đỡ trẻ Điếc hình thành kĩnăng giao tiếp
bộ phận ở trong đầu chúng ta Bộ phận của tai mà chúng ta nhìn thấy rõ nhất
là tai ngoài Tai ngoài chỉ gồm vành tai và một phần của ống tai Tai ngoài cónhiệm vụ thu nhận sóng âm thanh và chuyển nó vào tai giữa Tại đây, ráy taihoặc hạt gì đó có thể mắc kẹt, nhưng nó không làm cho người không ngheđược Tai giữa là một khoang trống được lấp đầy không khí và có ba xươngcon Sóng âm thanh từ tai ngoài đi vào làm cho các xương con này chuyểnđộng Nếu tai giữa bị viêm, sẽ làm ảnh hưởng đến sự hoạt động của ba xươngcon, gây khó khăn cho âm thanh được chuyển vào tai trong Tuy nhiên, nhữngbệnh ở tai ngoài và tai giữa có thể được điều trị, nếu chúng được phát hiệnkịp thời Khi tai giữa bình thường,
Trang 18sóng âm thanh được chuyển vào tai trong Tai trong là một ống cuộn trônggiống hình con ốc nên được gọi là ốc tai Tai của chúng ta sẽ nghe được các
âm thanh bằng một cơ chế hết sức phức tạp và tinh vi Trong ống cuộn của ốctai có rất nhiều nang lông Sóng âm thanh từ tai giữa chuyển vào làm cho cácnang lông chuyển động Sự chuyển động này, gửi một tín hiệu âm thanh đếndây thần kinh thính giác Dây thần kinh thính giác sẽ chuyển tín hiệu sóng âm
đó đến não Trong não, tín hiệu đó sẽ được mã hóa và như vậy, tai của chúng
ta đã nghe được một cái gì đó Đấy là những bước rất cơ bản trong hoạt độngnghe của tai Nếu tất cả những nang lông trong ốc tai đều ổn thì hoạt độngnghe sẽ diễn ra bình thường Ngược lại, vì một lí do nào đó những sợi nanglông này hoạt động kém hoặc không hoạt động, tai của chúng ta sẽ nghe rấtkém hoặc không nghe thấy Đó là tình trạng của những trẻ bị Điếc nặng.Ngoài ra Điếc nặng còn là hậu quả của sự tổn thương dây thần kinh thínhgiác Những tổn thương ở tai trong có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau.Nguyên nhân trước khi sinh có thể do di truyền, nhiễm độc bào thai, mẹ bị sốtrubela trong giai đoạn đầu thai kì, hoặc bất đồng nhóm máu mẹ con (nhómRh) Những nguyên nhân gây Điếc nặng trong khi sinh, thường xảy ra ởnhững trường hợp đẻ thiếu ôxy hoặc bị chấn thương Những trẻ sau khi sinhmới bị Điếc nặng, thường là bị nhiễm trùng do vi rút hoặc vi khuẩn như viêmmàng não Còn những tổn thương ở dây thần kinh giác quan thường cónguyên nhân là u thần kinh Đôi khi, Điếc nặng không xác định được nguyênnhân Khác với các bệnh ở tai ngoài và tai giữa, bệnh ở tai trong không thểchữa khỏi một cách đơn giản và có thể bị Điếc vĩnh viễn Vì vậy khác vớinhững dạng tật khác, việc xác định chính xác mức độ Điếc, thời điểm bị Điếc
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giáo dục, phát triển ngôn ngữ cho trẻĐiếc Nếu trẻ Điếc được phát hiện sớm và trị liệu, phát triển ngôn ngữ kịpthời trong khoảng
Trang 19thời gian được coi là giai đoạn vàng trong sự phát triển ngôn ngữ là từ 0 đến 3tuổi, thì tiến trình phát triển ngôn ngữ của trẻ Điếc sẽ có kết quả gần giống vớitrẻ bình thường.[2].
Hình 1 1 Lát cắt dọc của tai
Âm thanh từ ngoài, đập vào màng nhĩ, qua tai giữa vào ốc tai
2.1: Một số đặc điểm của trẻ Điếc
Hình 1.2 Sự kết nối những sợi nang lông trong ốc tai và dây
thần kinh thính giác
Trang 20Hình 1.3 Thần kinh thính giác chuyển tín hiệu âm thanh lên não
Điếc trung bình (40 – 70dB) Chỉ nghe được nhờ máy trợ thính
Điếc n ặng, Điếc sâu (70 –
Chỉ nghe được rất ít, dù có đeo máy trợ thính 90dB)
Bảng 1.1 Bảng phân loại mức độ Điếc
Những trẻ Điếc nặng, Điếc sâu, Điếc bẩm sinh là những người Điếc câm.Tức là những người đó mất sức nghe đến mức mất luôn cả khả năng cảm nhậnngôn ngữ tự nhiên Với những người đó, ngôn ngữ kí hiệu được coi như ngônngữ mẹ đẻ Ở những nhóm người khác, có thể mức độ cảm nhận ngôn ngữ tựnhiên tốt hơn ở những trẻ bị Điếc câm Tuy nhiên tại các trường học,
Trang 21trung tâm giáo dục trẻ Điếc, ngôn ngữ kí hiệu vẫn được sử dụng như mộtphương tiện chính để giao tiếp và học tập văn hóa [3],[7].
1.3 Một số đặc điểm của trẻ Điếc đầu cấp tiểu học
1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lý và các giác quan ở trẻ Điếc giai đoạn đầu cấp Tiểu học
1.3.1.1: Đặc điểm về cảm giác, tri giác
Trong việc tiếp nhận ngôn ngữ, cảm giác, tri giác thì thính giác có vaitrò quan trọng đặc biệt Trên cơ sở này diễn ra sự phát triển các hình thái chủđộng và bị động của lời nói Nghe được tiếng nói của người xung quanh, đứatrẻ bắt chước và bập bẹ được những từ đầu tiên Nhờ lời nói, đứa trẻ nhậnđược những thông tin cơ bản, lĩnh hội những kiến thức và kinh nghiệm màngười lớn truyền cho Sự phá hủy tri giác về tiếng nói của những người xungquanh tự nhiên sẽ kéo theo sự phá hủy quá trình hình thành ngôn ngữ tích cực.Trẻ Điếc không thể tự mình lĩnh hội được những ngôn ngữ một cách tự nhiên
Sự thực là, trẻ Điếc sẽ bị câm nếu trẻ không được phát hiện sớm
Với trẻ bình thường, chúng chủ yếu dựa vào cảm giác nghe và vậnđộng, còn tri giác là thứ yếu Với trẻ Điếc thì ngược lại, cảm giác thị giác vàcảm giác vận động là hai yếu tố hình thành nên nhận thức ở trẻ Điếc; trong
đó, thị giác trở thành yếu tố chủ đạo và chủ yếu nhất để hình thành tiếng nói.Thậm chí có trẻ chỉ dựa vào tri giác để tiếp nhận ngôn ngữ Rất nhiều nhữngnghiên cứu đã chứng minh được rằng cảm giác và tri giác của trẻ Điếc không
hề kém so với trẻ thường thậm chí còn nhận bén hơn Ví dụ:
- Phân biệt màu sắc: Việc phân biệt màu sắc gần giống nhau như: xanh
- tím, đỏ - da cam thì trẻ Điếc phân biệt tinh tế hơn so với trẻ bình thường
- Phân biệt người tiếp xúc: Trẻ Điếc có thể nhận thấy từng chi tiết vềkhuôn mặt, thân hình, cách ăn mặc, màu sắc và chất liệu của quần áo nhanh hơn trẻ bình thường
Trang 22- So sánh những bức tranh của trẻ Điếc với trẻ bình thường, chúng tathấy bức tranh của trẻ Điếc có nội dung phong phú tỉ mỉ hơn và đặc biệt là khi vẽngười.
- Ở trẻ Điếc, phân tích thường trội hơn tri giác tổng hợp Mặc dù tất cảnhững khó khăn tâm lý và sự phức tạp của quá trình tri giác thị giác đối vớingôn ngữ nói, trẻ Điếc thường gây ngạc nhiên bằng khả năng dùng thị giáctiếp nhận và phân biệt tinh tế những gì mà người khác nói với chúng Ngoài
ra, cảm giác xúc giác và cảm giác vận động đóng vai trò quan trọng trong quátrình nhận thức của trẻ Điếc Cảm giác vận động báo hiệu cho biết về sự vậnđộng của các bộ phận thân thể, mức độ căng cơ cũng như sự vận động của cơquan ngôn ngữ [15, tr.76 – 77]
1.3.1.2: Đặc điểm về trí nhớ
Một công trình nghiên cứu quá trình ghi nhớ ba dạng từ sau của họcsinh Điếc và học sinh nghe được:
- Những từ biểu thị đồ vật và hiện tượng thu nhận bằng mắt
- Những từ biểu thị chất lượng của những đồ vật thu nhận nhờ cơ quanxúc giác
- Những từ biểu thị hiện tượng âm thanh
Kết quả thu được cho thấy rằng, giữa học sinh Điếc và học sinh nghe nói có sự khác nhau rất ít trong việc ghi nhớ những từ trong phạm vi lĩnh hộibằng mắt Và trẻ Điếc khác xa trẻ nghe được trong việc ghi nhớ những từbiểu thị âm thanh Trong khi đó, so với trẻ nghe được, trẻ Điếc ghi nhớ tốthơn những từ biểu thị chất lượng của những đồ vật tiếp nhận nhờ xúc giác vàchúng có thể ghi nhớ được những từ biểu thị những hiện tượng âm thanh.Thậm chí chúng có khả năng nhớ tốt hơn người khác những từ biểu thị những
-âm phát ra từ những con vật nuôi trong nhà và những từ phát ra từ tiếng máy;khó ghi nhớ những từ biểu thị những âm thanh cường độ nhỏ Ở trẻ Điếc biểu
Trang 23tượng về âm thanh của các khách thể xuất hiện dựa trên hoạt động của nhữnggiác quan còn lại Việc ghi nhớ những từ thuộc phạm vi những hiện tượng âmthanh diễn ra nhờ sự hoạt động phức tạp của một loạt những cơ quan chứcnăng của trẻ Điếc: đó là sự hoạt động đồng thời và tác động qua lại của cơquan thị giác, xúc giác, vận động và cảm giác rung.[10].
- Trong quá trình ghi nhớ tư liệu, trẻ Điếc ít sử dụng thủ thuật so sánh.Nhưng bù lại, trẻ ghi nhớ tư liệu trực tiếp bằng thị giác tốt hơn trẻ bìnhthường vì chúng có kinh nghiệm thị lực phong phú hơn
- Với loại tư liệu khó biểu thị bằng lời, trẻ Điếc ghi nhớ kém hơn,nhưng khi chúng có thể sử dụng chữ viết để biểu bị thì mức độ ghi nhớ của chúngkhông thua kém gì so với trẻ nghe được Hơn nữa, trẻ Điếc không sử
dụng cách biểu thị bằng lời mà còn bằng cử chỉ điệu bộ Điều này cũng có ýnghĩa tích cực đối với sự ghi nhớ của trẻ [16],[15]
1.3.1.3: Đặc điểm về tưởng tượng, tư duy và tính sáng tạo
Trẻ Điếc thiếu hụt ở mức lớn khả năng tưởng tượng Nguyên nhân là
do quá trình hình thành ngôn ngữ ở trẻ không đầy đủ và hoàn chỉnh nên tưduy trừu tượng bị hạn chế Mặc dù thị giác của trẻ đạt mức độ cao và sốngđộng nhưng sự hình thành tư duy bằng khái niệm quá chậm, làm chúng rấtkhó thoát khỏi ý nghĩ cụ thể, nghĩa đen của từ Điều đó làm khó khăn cho sựhình thành hình tượng mới
Ở trẻ Điếc, trước thời gian tiếp nhận ngôn ngữ hoặc ngay cả trong quátrình tiếp nhận ngôn ngữ đã có thời gian dừng lại ở mức độ tư duy trực quan –hình tượng, nghĩa là chúng suy nghĩ không bằng lời mà bằng những hình ảnh,hình tượng Sự diễn đạt bằng hình tượng được trẻ Điếc tri giác với nội dung
sự vật theo nghĩa đen của nó Cách diễn đạt đó khơi dậy ở trẻ những biểutượng cụ thể, những hình ảnh đơn nhất, gây khó khăn cho việc mở rộng hiểubiết về hiện tượng và sự vật Bởi vậy, ta không ngạc nhiên khi hỏi trẻ Điếc
Trang 24“Bàn tay vàng là gì?” trẻ sẽ trả lời “ làm bằng vàng”, “tay màu vàng” Điều đócho thấy, trẻ Điếc không hề có khái niệm nào với những khái niệm trừutượng, hình ảnh ẩn dụ,…
Hoạt động sáng tạo của con người là động lực phát triển của cá nhân
và xã hội loài người Khả năng sáng tạo và phát triển khả năng sáng tạo chotrẻ khuyết tật nói chung và cho trẻ Điếc nói riêng đã được quan tâm từ nhữngthập niên 70 của thế kỷ XX…Các nhà nghiên cứu đã chứng minh, mặc dùcảm giác nghe của trẻ Điếc bị khiếm khuyết nhưng khả năng tri giác thị giác
lại khá nhanh nhạy (xem thêm mục Đặc điểm về cảm giác, tri giác) và được
trẻ tận dụng một cách triệt để (Stafford – 1962) khẳng định: Điếc không ảnhhưởng đến hành vi sáng tạo nhưng có ảnh hướng đến mức độ trừ tượng Mặtkhác họ cũng chỉ ra, từ 4 tuổi trở lên trẻ có khả năng kiểm soát cơ và vận độngtốt hơn, trẻ rất thích vẽ và có thể giải thích về bức tranh của mình
1 3.2 Khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ Điếc
Mặc dù bị khuyết tật về thính giác nhưng trí tuệ, não bộ cũng như cácdây thần kinh của trẻ Điếc hoàn toàn bình thường so với trẻ nghe – nói TrẻĐiếc có bộ não và các dây thần kinh chỉ huy đều phát triển và hoạt động bìnhthường, trẻ Điếc vì cơ quan phân tích thính giác bị tổn thương chính vì thếviệc tiếp nhận âm thanh để tiếp thu ngôn ngữ gặp khó khăn Nếu cải thiệnđược vấn đề này thì trẻ Điếc sẽ có điểm xuất phát rất bình thường
Đối với những trẻ mất thính giác từ nhỏ thì việc học hỏi ngôn ngữ nói
là rất khó Bởi quy trình học ngôn ngữ của trẻ bị Điếc tuân thủ theo từngbước một.[18, tr.3]
Nhìn
Luân phiên
Trang 25Khác với trẻ nghe được, cơ sở của phát triển của trẻ Điếc không phải làcảm giác thính giác mà là những cảm giác thị giác, cảm giác vận động, cảmxúc – rung.
Trẻ bình thường thu nhận ngôn ngữ sớm hơn so với trẻ Điếc Trẻ nghe
rõ từ 6 – 8 tháng tuổi đã bắt đầu hình thành ngôn ngữ và sau một năm thìngôn ngữ chủ động phát triển nhờ các giác quan cũng đã phát triển mạnh(thính giác và ngôn ngữ nói, ) Có thể nói, trẻ nghe rõ học ngôn ngữ từngười lớn, bắt chước người lớn, đó là hành động tự phát, hành động của bảnnăng để lớn lên [10] Ngược lại, trẻ Điếc thì không thể, còn đối với trẻ Điếcnhẹ thì từ ngữ trẻ nghe được sẽ bị méo mó, sai lệch, không chuẩn xác từ ngữ
đó Chúng không nghe được tiếng của mọi người xung quanh, không có khảnăng bắt chước được tiếng nói, âm thanh từ người ấy phát ra, hay từ ngữ ấyđược nói như thế nào, bởi vậy trẻ không thể học nói được Nhưng nhu cầucủa chúng mạnh mẽ không kém gì trẻ nghe rõ
Kỹ năng, thành tựu Biết đọc Biết viết Sử dụng NNKH Biết viết
Bảng 1.2: Khả năng ngôn ngữ giữa trẻ nghe nói – trẻ Điếc
Biết đọc, biết viết là một trong những thành tựu quan trọng trong sự
phát triển ngôn ngữ của trẻ khi bắt đầu đi học Nếu trẻ mẫu giáo học nói và
Trang 26hiểu ngôn ngữ thì trẻ đầu cấp tiểu học học viết, học đọc Đọc đòi hỏi phải nắmbắt được ngữ âm và có kỹ năng giải mã bảng chữ cái Kỹ năng viết đòi hỏi trẻhoàn thiện kỹ năng vận động tinh để có thể viết các chữ cái.
Đọc phụ thuộc vào cơ chế hoạt động của bộ máy phát âm và cơ chế tạo
âm thanh lời nói của bộ máy ấy đảm nhiệm Bộ máy phát âm của trẻ Điếc
không bị tổn thương nhưng trẻ lại không thể phát âm thành tiếng (xem thêm một số đặc điểm cơ bản về tật Điếc) thay vào đó trẻ Điếc sẽ “đọc” những âm,
từ đó bằng NNHK Ở Nhân Chính và Xã Đàn giáo viên luôn luyện khẩu hìnhmiệng cho trẻ Điếc Điều này cũng vô cùng quan trọng trong việc trẻ học từvựng, khu biệt từ này với từ khác, những từ đồng âm nhưng khác nghĩa trong
giao tiếp (xem thêm chương 2)
1 4 Ngôn ngữ kí hiệu – ngôn ngữ của người Điếc
1.4.1: Ngôn ngữ kí hiệu là gì?
Có nhiều tài liệu đưa ra khái niệm ngôn ngữ kí hiệu (sign language).Định nghĩa trong một số tài liệu thường gặp, ngôn ngữ kí hiệu (ngôn ngữ dấuhiệu, thủ ngữ) là ngôn ngữ chủ yếu được cộng đồng người Điếc sử dụngnhằm chuyển tải thông tin qua cử chỉ, điệu bộ cơ thể và nét mặt thay cho lời
nói Trong tài liệu “Helping children who are deaf” tác giả định nghĩa: “Sign language is used by deaf people throughout a community It is a language that uses hand shapes, body movements, gestures, and expressions on the face
to communicate experiences, thoughts, needs, and feelings A sign language includes common gestures as well as thousands of signs that deaf people have developed over time” (Ngôn ngữ kí hiệu được cộng đồng người Điếc sử dụng
rộng rãi Đây là một ngôn ngữ sử dụng hình dáng bàn tay, chuyển động cơthể, cử chỉ và biểu cảm trên khuôn mặt để trao đổi kinh nghiệm, suy nghĩ, nhucầu và tình cảm Một ngôn ngữ kí hiệu bao gồm nhiều cử chỉ thông dụng vàhàng nghìn kí hiệu được người Điếc phát triển trong khoảng thời gian dài)
Trang 27Định nghĩa này đề cập tới chức năng và phương tiện giao tiếp của ngôn ngữ
kí hiệu [17]
Hiện nay, ở Việt Nam tồn tại ba thuật ngữ để chỉ để chỉ hệ thống cử chỉ
điệu bộ của người Điếc - Thủ ngữ, Ngôn ngữ dấu hiệu, ngôn ngữ kí hiệu.
Chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả Nguyễn Thị Phương, Nguyễn
Đức Tồn trong “Mấy vấn đề về cú pháp của ngôn ngữ kí hiệu ở Việt Nam” cho rằng cách gọi ngôn ngữ kí hiệu là chuẩn xác, còn thuật ngữ Thủ ngữ hay Ngôn ngữ dấu hiệu có hạn chế Bởi, Thủ ngữ theo tiếng Hán có nghĩa là
“ngôn ngữ của đôi tay, ngôn ngữ bằng tay”.[13]
Hình 1.4: Bảng chữ cái ngón tay
Trang 28Hình 1.5: Bảng chữ số 1.4.1 Ngôn ngữ kí hiệu ở Việt Nam
T.S Nguyễn Thị Hoàng Yến, trong luận văn Tiến Sĩ đã chỉ ra bốn biện
pháp chính cho việc giáo dục trẻ Điếc trong cuốn “Các biện pháp tổ chức giáo dục hòa nhập nhằm chuẩn bị cho khuyết tật thính giác vào lớp 1” được
công bố năm 2001 tại trường Đại học Sư Phạm Hà Nội Các biện pháp đó là:can thiệp sớm, hệ thống hỗ trợ trẻ Điếc trong trường hợp hòa nhập, tạo môitrường thích hợp cho giáo dục hòa nhập Trong đó thì can thiệp sớm là biệnpháp tốt nhất, cần nhất và có ý nghĩa nhất cho sự phát triển ngôn ngữ trẻ Điếc
từ khi còn nhỏ Bà cũng nhấn mạnh, can thiệp sớm còn mang ý nghĩa xã hộilớn như sự chia sẻ và trợ giúp cho gian đình trẻ khuyết tật.[16]
Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định tầm quan trọng của môi trườnggia đình, những người hướng dẫn là các bậc cha mẹ trong việc giáo dục trẻĐiếc là yếu tố quan trọng hàng đầu Chính vì thế việc hỗ trợ, giúp đỡ họ vềviệc học NNKH cũng như là hiểu sâu những kiến thức có liên quan đến tậtcủa con em mình là việc làm cần phải thực hiện nhanh chóng, có hiệu quả thìviệc tiếp cận với trẻ Điếc mới thuận lợi
Trang 291.4.2 Đặc điểm của ngôn ngữ kí hiệu
Chức năng là công cụ tư duy của ngôn ngữ kí hiệu
Bên cạnh chức năng giao tiếp, ngôn ngữ kí hiệu còn là công cụ để pháttriển nhận thức, tư duy Ngoài những kí hiệu mô phỏng sự vật, hiện tượngchứng minh, trẻ Điếc tư duy bằng trực quan hình ảnh và diễn đạt hoạt động,ngôn ngữ kí hiệu có khả năng khái quát Với người bình thường, ngôn ngữnói là công cụ để biểu thị tư duy – quá trình này sử dụng tín hiệu ngôn ngữsau đó thể hiện bằng ngôn ngữ nói Tương tự như vậy, trẻ Điếc sử dụngnhững tín hiệu của kí hiệu để thực hiện quá trình tư duy, sau đó những kháiniệm được diễn tả bằng những kí hiệu “Tư duy, tư tưởng của trẻ Điếc dựatrên cơ sở hình ảnh, cảm giác, tượng hình xảy ra trong đời sống thườngngày” [9] Một trẻ Điếc phát triển tư duy khi trẻ nhìn hoặc cảm nhận mọingười sử dụng từ ngữ hoặc kí hiệu để trao đổi thông tin
Trong quá trình học ngôn ngữ, trẻ Điếc phải sắp xếp suy nghĩ của mình
và liên kết các ý nghĩa với nhau Họ phải trả lời câu hỏi khi một sự vật, sựviệc hoặc cá nhân thực hiện hành động nào đó sẽ dẫn đến một điều khác xảy
ra tiếp theo; làm thế nào để giải quyết vấn đề; cách sắp xếp sự vật, hoạt độngtheo trình tự; đếm số; làm thế nào để nhận dạng đồ vật và phân loại; làm thếnào để diễn tả cảm xúc…
Công trình nghiên cho thấy ngôn ngữ kí hiệu là cầu nối quan trọng giúptrẻ Điếc hòa nhập với người bình thường và ngược lại Ứng dụng của nhữngnghiên cứu này là sự ra đời của những từ điển ngôn ngữ kí hiệu nhằm thốngnhất hệ thống kí hiệu, đồng thời phục vụ việc giảng dạy ngôn ngữ kí hiệu chotrẻ Điếc và trẻ bình thường
Có thể thấy, ngôn ngữ kí hiệu có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời
sống, văn hóa của người Điếc Nhà nghiên cứu Stokoe đã khẳng định: “Điếc
tự thân nó không phải là một tai họa, tai hoạ chỉ xảy đến khi truyền thông bị
Trang 30ngăn cản” [19] Trong quá khứ, không ít thời điểm, ngôn ngữ kí hiệu bị phủ nhận, Aristolle, triết gia Hy Lạp cho rằng “người Điếc không thể giáo dục được Nếu không nghe được, con người không thể học được” Hoặc, ngôn ngữ kí hiệu chỉ là những vở diễn kịch câm hoặc mô phỏng lại ngôn ngữ nói.
Tất cả những quan niệm sai lầm trên không thể ngăn cản sự phát triển củangôn ngữ kí hiệu trong cộng đồng người Điếc
Chính vì vai trò to lớn của ngôn ngữ kí hiệu, việc nghiên cứu về ngônngữ “mẹ đẻ” của người Điếc, nghiên cứu năng lực và nhu cầu giao tiếp của
họ là việc làm cần thiết Xét thực trạng nghiên cứu ngôn ngữ tại Việt Nam,vấn đề đặt ra trước mắt và lâu dài cần đưa ra bộ sách giáo khoa chuẩn chotrẻ, phu huynh trẻ và cho giáo viên để thống nhất chương trình giảng dạy ởcác nhà trường, các trung tâm cho trẻ Điếc, quy tắc sử dụng ngôn ngữ kí hiệu,đẩy mạnh quá trình hòa nhập cộng đồng của người Điếc
Bản chất tín hiệu của ngôn ngữ kí hiệu
Trẻ bình thường và trẻ Điếc đều có năng lực và nhu cầu giao tiếp Nếunhư trẻ bình thường sử dụng ngôn ngữ nói để giao tiếp và kênh tiếp nhận làthính giác thì trẻ Điếc sử dụng ngôn ngữ kí hiệu, tiếp nhận qua kênh thị giác.Giá trị trao đổi thông tin như nhau đối với ngôn ngữ nói và ngôn ngữ kí hiệu.Bản chất tín hiệu của ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ kí hiệu có những điểmtương đồng và khác biệt
Một tín hiệu ngôn ngữ nói thể hiện hai mặt vỏ vật chất (cái biểu đạt) ởdạng âm thanh, biểu hiện ý nghĩa (cái được biểu đạt) Trong khi đó, một tín hiệungôn ngữ kí hiệu thể hiện trong vỏ vật chất loạt hình ảnh, được quy ước biểu thị
ý nghĩa tương ứng Quá trình giao tiếp được tiếp nhận qua kênh tương ứng, vỏvật chất âm thanh qua kênh thính giác và hình ảnh tiếp nhận qua kênh thị giác
Hai mặt của một tín hiệu có quan hệ khăng khít với nhau như hai mặt củamột tờ giấy Ý nghĩa sẽ không thể tồn tại nếu thiếu vỏ vật chất là âm thanh hoặc
Trang 31hình ảnh và ngược lại, nếu như chỉ có vỏ vật chất âm thanh hay hình ảnh màkhông hàm chứa một ý nghĩa quy ước nào đó, thì vỏ vật chất ấy vô nghĩa.
Trẻ Điếc học ngôn ngữ kí hiệu sẽ dễ dàng hơn bởi họ được quan sáttrực tiếp, thông qua thực hành thì mọi người có thể sử dụng ngôn ngữ kí hiệu.Không giống như người bình thường sử dụng ngôn ngữ nói, người Điếc vàtrẻ Điếc có thể giao tiếp với bất kì ai cả kể khác quốc tịch, khác màu da, khácvăn hóa dân tộc, miễn là người đó cũng sử dụng ngôn ngữ kí hiệu và có điểmchung văn hóa cộng đồng Điếc Tuy nhiên, khi sống trong cộng đồng người
sử dụng ngôn ngữ nói, trẻ Điếc gặp rất nhiều khó khăn nếu chỉ sử dụng ngônngữ kí hiệu Ngôn ngữ kí hiệu chỉ có chức năng là công cụ giao tiếp khi đặttrong cộng đồng sử dụng nó
Dù sử dụng ngôn ngữ nói hay ngôn ngữ kí hiệu, điều quan trọng nhất làtạo cho trẻ Điếc cơ hội giao tiếp với mọi người, người được tham gia vàocuộc sống xung quanh và bộc lộ bản thân và phát triển tư duy, năng lực củamình Đồng thời, người bình thường có thể tìm hiểu và tiếp nhận thế giới củatrẻ Điếc
Cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ kí hiệu
Ngôn ngữ kí hiệu là một ngôn ngữ đích thực, là một hệ thống, có cấutrúc chặt chẽ Nó là một loại ngôn ngữ tượng hình hay phỏng hình được hìnhthành và tiếp nhận qua kênh thị giác (khác với ngôn ngữ nói tự nhiên đượchình thành và tiếp nhận thông qua kênh thính giác) Xuất phát từ đặc điểm cấu
tạo, mỗi kí hiệu đều được hình thành từ 5 yếu tố cấu tạo: vị trí của bàn tay; hình dạng bàn tay; hướng của lòng bàn tay; hướng chuyển động của bàn tay; biểu hiện của nét mặt Cụ thể:
- Vị trí của bàn tay:Vị trí bàn tay là một yếu tố quan trọng để cấu tạo kí
hiệu So sánh với việc phát âm trong ngôn ngữ nói, lưỡi chỉ tạo ra một nét khu biệtbằng cách tiếp xúc vói nhiều vị trí trong khoang miệng Các vị trí cấu âm
Trang 32của lưỡi phân biệt phụ âm răng/phụ âm lợi/lợi ngạc/phụ âm mềm ngạc Vị trícủa lưỡi khu biệt các nguyên âm thấp/giữa/cao Sự phân biệt vị trí trước/saudãy nguyên âm hàng trước/hàng sau Trong ngôn ngữ kí hiệu, nhiều phươngthức tiềm năng để cấu tạo đối lập âm vị như hình dáng của bàn tay, tương tựnhư cơ quan cấu âm Có thể giả định rằng, ngôn ngữ kí hiệu sử dụng hai cơquan cấu âm cùng lúc, tạo ra số lượng lớn nét khu biệt.Một số tương đồng vàkhác biệt thú vị xuất hiện khi chúng ta so sánh cách liên kết kí hiệu và lời nói.
Ví dụ như: CON TRAI, SUY NGHĨ, TÓC Là những từ có cùng hình dángbàn tay (ngón tay trỏ và ngón giữa bàn tay phải thẳng, chụm vào nhau, khácnhau ở chỗ vị trí đặt ngón tay đã tạo nên những từ khác nhau
- Hình dạng bàn tay: Hình dáng bàn tay là một trong những phương
thức cấu âm đặc biệt quan trọng trong ngôn ngữ kí hiệu Ngôn ngữ kí hiệu ởViệt Nam sử dụng hình dáng bàn tay tương tự như bảng chữ cái ngón tay, kếthợp mô tả hình dáng Chẳng hạn như kí hiệu BUỔI SÁNG, hình dáng bàn taychữ B, cánhtay thẳng đặt trước mặt, lòng bàn tay hướng ra ngoài người kíhiệu Hay kí hiệu KHÔNG, hình dáng bàn tay chữ O, vị trí đặt bên phải, lòngbàn tay hướng bên, chuyển động từ trái qua phải
Hình dáng bàn tay chính là một phương thức quan trọng để cấu tạo kíhiệu trong ngôn ngữ kí hiệu
- Hướng lòng bàn tay: Hướng lòng bàn tay đề cập tới phương hướng
mà lòng bàn tay người kí hiệu hướng tới (hoặc có thể chỉ nếu bàn tay bạn
đang mở) Do đó trong những kí hiệu bạn nắm tay thì kí hiệu đó vẫn cóhướng lòng bàn tay Các hướng lòng ban tay cơ bản: hướng lên, hướngxuống, hướng phía trước, hướng bên và hướng quay trở lại Tuy nhiên,hướng lòng bàn tay có thể kết hợp cùng những phương thức khác và có thayđổi khi thực hiện kí hiệu
Trang 33Hướng lòng bàn tay được sử dụng nhằm để chỉ sự sở hữu (ai đó sở hữucái gì, hoặc cái gì thuộc về ai) Ví dụ, lòng bàn tay hướng về phía người kíhiệu để chỉ vật/sự việc liên quan đến người thực hiện kí hiệu.
Hướng lòng bàn tay có nét khu biệt để tạo ra những kí hiệu khác nhau.Trong ngôn ngữ kí hiệu Việt Nam, kí hiệu BAN NGÀY, bàn tay hình chữ B vớilòng bàn tay hướng ra ngoài kèm theo chuyển động sang hai bên Ngược lại, bàntay hình chữ B, hướng lòng bàn tay vào phía trong người kí hiệu, kèm chuyểnđộng bàn tay từ hai phía vào trước ngực người kí hiệu để chỉ BAN ĐÊM
Một kí hiệu có hình dạng bàn tay giống nhau cũng có thể diễn đạt những ýnghĩa khác nhau khi định hướng của chúng có sự phân biệt Ví dụ cho thấy, nếuthực hiện kí hiệu TÊN, hình dáng bàn tay chữ D, hai ngón tay trỏ tiếp xúc chéovới nhau, lòng bàn tay hướng vào phía người kí hiệu Cũng hình dáng bàn tay,hai ngón trỏ tiếp xúc chéo với nhau, tuy nhiên lòng bàn tay trái hướng lên trên
và lòng bàn tay phải hướng xuống dưới sẽ tạo kí hiệu CHẾT
Thêm một ví dụ chứng minh định hướng là một phương thức cấu âmquan trọng trong ngôn ngữ kí hiệu Cùng vị trí không gian trước ngực người
kí hiệu, cùng hình dáng bàn tay nắm, ngón cái giơ thẳng, nhưng hướng bàntay khác nhau tạo nên hai kí hiệu khác nhau, thậm trí nghĩa trái ngược nhau –
kí hiệu TỐT ngón cái hướng lên phía trên, lòng bàn tay hướng về người kíhiệu; kí hiệu XẤU ngón cái hướng xuống đất, lòng bàn tay hướng ra ngoàingười kí hiệu
- Sự chuyển động bàn tay: Nghiên cứu âm vị học ngôn ngữ cho thấy, có
ba loại chuyển động: chuyển động tuyến tính, chuyển động nội bộvà chuyển
động phức tạp
Chuyển động tuyến tính gồm 6 hướng cơ bản bao gồm: chuyển động lên, chuyển động xuống, chuyển động hướng vào trong (hướng về phía người kí hiệu), ra ngoài (người kí hiệu), hướng đối diện (phía trung tâm hoặc
Trang 34đối diện với tay đang kí hiệu) và chuyển động sang bên (hướng ra ngoài về
phía bàn tay đang kí hiệu) Chuyển động chéo được coi là một trong nhữngchuyển động tuyến tính
Chuyển động nội bộ bao gồm chuyển động quanh cổ tay, uốn cong cổtay hoặc ngón tay, mở - nắm các ngón tay và co duỗi ngón tay
Chuyển động phức tạp bao gồm tiếp xúc một vị trí, qua bàn tay hoặcngón tay, đan tay (đan bàn tay, ngón tay và bàn tay ngón tay của bàn taykhác), tiếp cận một vị trí (với tay), tách ra từ một vị trí (hoặc bàn tay củangười khác), chạm tới 1 vị trí, đổi tay, hoặc chuyển động vòng tròn quanhmột bàn tay hoặc cánh tay Những chuyển động này có thể liên quan tới việclàm “nổi bật” cánh tay, do đó vượt qua bàn tay có thể coi như vượt qua bàntay mở rộng
Hai kí hiệu có hình dạng bàn tay giống nhau, đặt tại vị trí tương đương,hướng lòng bàn tay giống nhau, nhưng phân biệt nhau ở chuyển động, tạonhững kí hiệu khác biệt Ví dụ, kí hiệu GHẾ, hình dáng 2 bàn tay nắm, ngóncái hướng lên trời, vị trí trước bụng người kí hiệu Tuy nhiên, cũng kí hiệuGHẾ, nếu chuyển động hướng xuống dưới sẽ tạo ra kí hiệu NGỒI
Hướng chuyển động cũng biểu thị ý nghĩa khác nhau của hai kí hiệutrong một bối cảnh giao tiếp Chẳng hạn như, hoàn cảnh giao tiếp nói việc dichuyển bằng máy bay Cùng một kí hiệu BAY, tay phải hình dáng bàn tay chữ
Y – ba ngón trỏ, giữa, áp út nắm, ngón cái và ngón út hướng lên trời, cánh taytrái nắm, hướng vuông góc phương nằm ngang
Ví dụ 1: Tôi bay từ Sài Gòn ra Hà Nội Bàn tay phải chuyển động từdưới lên trên (Mô phỏng bản đồ - Hà Nội ở hướng Bắc, Sài Gòn ở hướngNam Di chuyển từ điểm dưới lên trên )
Ví dụ 2: Tôi bay từ Hà Nội vào Sài Gòn Bàn tay trái chuyển động từ trênxuống dưới (Điểm đi Hà Nội ở trên, di chuyển tới địa điểm Sài Gòn ở dưới)
Trang 35Phương thức chuyển động là phương thức quan trọng, dễ phân biệt đểtạo kí hiệu trong ngôn ngữ kí hiệu Phương thức cuối cùng chúng tôi muốn đềcập tới khi cấu tạo một kí hiệu là phương thức biểu hiện của nét mặt, điệu bộ.
- Biểu hiện nét mặt, điệu bộ: Trong ngôn ngữ kí hiệu tại Việt Nam nói
chung và các ngôn ngữ kí hiệu trên khắp thế giới, biểu hiện nét mặt, điệu bộ
là một phần quan trọng trong giao tiếp Biểu hiện nét mặt, điệu bộ được diễn
tả trong suốt quá trình thực hiện kí hiệu, chúng ảnh hưởng tới nghĩa của kíhiệu đó Ví dụ như khi diễn tả kí hiệu VUI, nét mặt thể hiện người kí hiệumỉm cười, cơ mặt giãn Điều này quyết định khá lớn ý nghĩa của kí hiệu Giả
sử như diễn tả kí hiệu BUỒN với biểu hiện nét mặt như vậy, người tiếp nhận
sẽ nghi ngờ, thậm chí không hiểu kí hiệu đó
Biểu hiện nét mặt, điệu bộ thể hiện thông tin trong phát ngôn khácnhau Ví dụ cùng kí hiệu BẠN, ở trạng thái bình thường, người kí hiệu chỉđơn thuần thực hiện kí hiệu, hướng về người tiếp nhận - biểu hiện sự khẳngđịnh hoặc cung cấp thông tin đơn thuần Nếu thực hiện kí hiệu kèm với thái
độ ngạc nhiên, đầu hơi nghiêng, mắt mở to thể hiện sự ngạc nhiên, cần thôngtin xác nhận (Là bạn sao?)…
Như vậy, ngôn ngữ kí hiệu là một hệ thống, có cấu trúc chặt chẽ Cácđơn vị trong hệ thống được tạo nên từ những phương thức như đã kể trên.Nét khu biệt trong mỗi phương thức lớn có thể tạo nên những kí hiệu tiềmnăng trong tương lai
1.4.4: Một số vấn đề về từ của ngôn ngữ kí hiệu
• Sự tương đồng và khác biệt giữa từ và kí hiệu
Kí hiệu tương đương với từ trong ngôn ngữ nói Nhưng là đơn vị của ngôn ngữ hình ảnh, kí hiệu, có những đặc trưng riêng Trước hết, giống với đơn vị từ trong ngôn ngữ nói, kí hiệu cũng là một đơn vị mang nghĩa, để
Trang 36chỉ một khái niệm, một sự vật, hiện tượng, hành động, tính chất… và nó cũng
là đơn vị nhỏ nhất, có thể tái hiện độc lập có chức năng tạo câu Nhưng khác
với từ trong ngôn nói, một kí hiệu có thể diễn tả được ý nghĩa của cả một cụm
từ hoặc một câu trong ngôn ngữ tự nhiên Do đó, trong nhiều trường hợp, nógiống như một thông báo, một phát ngôn của ngôn ngữ nói Chính vì vậy, ở
đây, chúng tôi dành riêng cho kí hiệu- từ của ngôn ngữ kí hiệu một mục, để
Từ TÔI (hình thức hoạt động của bàn tay nắm, ngón trỏ thẳng, hướngngón tay trỏ chỉ vào ngực người kí hiệu), ý nghĩa chỉ đối tượng đang thựchiện hành vi giao tiếp, từ - kí hiệu TÔI kết hợp với từ - kí hiệu khác tạo thànhcâu có giá trị thông báo
Từ ĂN có hình thức kí hiệu mô phỏng hành động đưa thức ăn vàomiệng, cũng có ý nghĩa để chỉ hành động ăn của con người Từ ĂN thuộc từ
Trang 37loại động từ, thường có chức năng vị ngữ trong câu Từ trong ngôn ngữ
hiệucó thể ghép lại theo trật tự để thành một câu mang nội dung thông tinhoàn chỉnh
Những yếu tố cấu tạo nên từ trong ngôn ngữ kí hiệu là tập hợp nhữngchuyển động của đôi tay người kí hiệu trong một khoảng không gian Khoảngkhông gian thường được xác định phía trước người kí hiệu, giới hạn từkhoảng đầu đến phần bụng Một số kí hiệu vượt ra khỏi phạm vi không gianxác định nói trên Khảo sát cho thấy, những kí hiệu thực hiện ngoài phạm vi
trên như CHÂN, ĐẦU GỐI, ĐUÔI, QUẦN… hầu hết chỉ những khái niệm
bộ phận phía dưới và phía sau cơ thể
●Cấu trúc nghĩa của kí hiệu
Ngôn ngữ kí hiệu là ngôn ngữ phỏng hình, do đó, các yếu tố cấu tạo
nên kí hiệu cũng là các yếu tố tạo nghĩa cho kí hiệu đó Đa phần một kí hiệu tự
thân mang ý nghĩa Ví dụ như: ĐEN, TÓC, THÍCH
Nghĩa của ĐEN được nhận ra khi, bàn tay để hình dạng chữ cái d, đặt
ngang lông mày; Nghĩa của TÓC được tạo nên qua chuyển động của cánh ayđưa lên trên đầu, ngón trỏ và ngón cái chụm lại, chạm vào mái tóc, các ngónkhác duỗi THÍCH được thể hiện bằng bàn tay phải hơi khum, các ngón taycạo nhẹ vào cổ
Như vậy, từ trong ngôn ngữ kí hiệu là một đơn vị có hình thức và mang
ý nghĩa trọn vẹn Từ là yếu tố cơ sở để tạo đơn vị ngôn ngữ lớn hơn là cụm từ
và câu ngôn ngữ kí hiệu
Trang 38Tiểu kết chương 1
Về trẻ Điếc:
Khuyết tật ở cơ quan thính giác đem đến cho trẻ Điếc thiệt thòi lớn,ảnh hưởng đến cuộc sống Thiệt thòi lớn nhất là trẻ gặp phải khó khăn trongviệc tiếp nhận âm thanh lời nói Nhìn bằng mắt thường những trẻ Điếc khôngkhác những trẻ thường Tuy nhiên, nếu không được phát hiện sớm, trị liệukịp thời, trẻ Điếc sẽ bị câm và dẫn đến tình trạng tự kỉ
Có nhiều nguyên nhân gây nên tật Điếc và có nhiều mức độ Điếc.Nhưng nếu trẻ Điếc do những tổn thương ở ốc tai hoặc ở dây thần kinh thínhgiác thì việc chữa trị là vô cùng khó khăn Việc phục hồi ngôn ngữ bằng việc
Tính có nhiều phương ngữ và tính có điểm nhấn và tính giản lược
Trang 39b Ngôn ngữ kí hiệu được sinh ra trong cộng đồng người Điếc, phục vụnhu cầu giao tiếp của người Điếc, vì vậy nó cũng có bản chất xã hội và bảnchất tín hiệu.
c Nếu như ở ngôn ngữ lời nói, sự khu biệt âm thanh được tạo ra bằng bộmáy phát âm và sự hoạt động của nó thì ở ngôn ngữ kí hiệu, sự khu biệt sẽ được
tạo ra bằng 5 yếu tố cấu tạo: vị trí của bàn tay; hình dạng bàn tay; hướng của lòng bàn tay; hướng chuyển động của bàn tay; biểu hiện của nét mặt.
d Nếu như trong ngôn ngữ nói, từ là đơn vị cơ bản của ngữ pháp, thì ởngôn ngữ kí hiệu, kí hiệu là đơn vị cơ bản của ngữ pháp.Nó cũng là một đơn
vị mang nghĩa, để chỉ sự vật, hiện tượng, hành động, tính chất và cũng là đơn
vị nhỏ nhất, có thể tái hiện độc lập có chức năng tạo câu
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG DẠY - HỌC CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH ĐIẾC TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC XÃ ĐÀN VÀ TRƯỜNG DẠY TRẺ ĐIẾC
NHÂN CHÍNH TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
2.1 Vài nét về địa bàn khảo sát
Hiện tại trên địa bàn Hà Nội có khoảng 10 cơ sở dạy trẻ Điếc như:trường chuyên biệt Bình Minh (Đông Anh), trường dạy trẻ câm Điếc GiaLâm (Gia Lâm), trường nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em tàn tật (Sóc Sơn),Trường PTCS Hy Vọng (Long Biên), trường THCS Dân Lập dạy trẻ câmđiếc Nhân Chính Hà Nội (Thanh Xuân), Trường THCS Xã Đàn (Đống Đa),làng trẻ Hữu Nghị Việt Nam, CLB ngôn ngữ kí hiệu, Chi hội người Điếc,…
Qua điều tra chúng tôi thấy được rằng, từ năm 1886 cho đến cuối năm
2011 ở các trung tâm và trường học dạy trẻ Điếc bằng phương pháp “hỗnhợp” (còn gọi là phương pháp “đa giác quan”) Phương pháp này “sử dụngphần còn lại của thính giác bằng các loại máy khuếch đại, dùng thị giác đểquan sát và đọc hình miệng, kết hợp với cảm giác rung của dây thanh và xúcgiác có thể tiếp nhận được” [7] Theo phương pháp này, giáo viên cố gắng
“phục hồi tối đa khả năng nghe nói” cho người, nên ngôn ngữ kí hiệu không
là ngôn ngữ chủ đạo của các em Ngôn ngữ kí hiệu hình thành tự phát và nóchỉ được coi là một bộ môn trong các môn học của các em: môn phát âm, mônluyện nói, môn ngôn ngữ kí hiệu…
Cuối năm 2011 – đầu năm 1012, Dự án Giáo dục trẻ Điếc trước tuổiđến trường - IDEO do tổ chức Quan tâm Thế Giới thực hiện, hợp tác với BộGiáo dục và Đào tạo, thực hiện tại bốn tỉnh bao gồm Hà Nội, Thái Nguyên,Quảng Bình và TP Hồ Chí Minh Một trong những bước đầu của dự án là