1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho người khuyết tật vận động qua các hoạt động trợ giúp của CTXH

142 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 391,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thủ tướng chính phủ cũng đã phê duyệt đề án trợ giúp người khuyết tật, trong đó có người khuyết tật vận động với mụctiêu đến năm 2020 sẽ dạy nghề và tạo việc làm cho 550 nghìn người thuộ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-TRỊNH THỊ THÙY LINH

NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG QUA CÁC

HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP CỦA CTXH

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG TRUNG CẤP

KINH TẾ- DU LỊCH HOA SỮA)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-TRỊNH THỊ THÙY LINH

NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG QUA CÁC

HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP CỦA CTXH

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG TRUNG CẤP

KINH TẾ- DU LỊCH HOA SỮA)

Chuyên ngành Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Ngườ ướng d n o ọc: GS.TS ĐẶNG CẢNH KHANH

Hà Nội – 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhântôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Đặng CảnhKhanh Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận vănnày trung thực

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày 16/03/2016

Học viên

Trịnh Thị Thùy Linh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình làm luận văn, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tớiGS.TS Đặng Cảnh Khanh là người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình tôitrong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Tôi chân thành cảm ơn Khoa và tất cả các thầy cô giáo trong Khoa Xãhội học – Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã trang bị kiến thức

và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và thực hiện luận văntại trường

Tôi chân thành cám ơn lãnh đạo trường Trung cấp Kinh tế- Du lịch HoaSữa đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành việc thu thập

số liệu phục vụ luận văn này

Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong giađình, bạn bè đã luôn bên cạnh quan tâm, giup đỡ tôi trong suốt quá trình làmluận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn nghiên cứu 14

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14

5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 15

6 Câu hỏi nghiên cứu 16

7 Phương pháp nghiên cứu 16

8 Nội dung luận văn 17

PHẦN NỘI DUNG 18

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG CTXH 18

1.1 Một số khái niệm cơ bản l ên qu n đến vấn đề nghiên cứu 18

1.1.1 Một số Khái niệm 18

1.1.1.1 Khái niệm về khuyết tật 18

1.1.1.2 Khái niệm nghề, đào tạo nghề 19

1.1.1.3 Khái niệm việc làm, việc làm cho Người khuyết tật vận động 20

1.1.1.4 Khái niệm công tác xã hội 20

1.1.2 Các dạng khuyết tật 21

1.1.3 Đặc điểm tâm – sinh lý của Người khuyết tật vận động 22

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 25

1.2.1 Thuyết nhu cầu 25

1.2.2 Thuyết hệ thống 28

1.3 Các yếu tố ản ưởng tới vấn đề đào tạo nghề c o người khuyết tật vận động 30

Trang 6

1.3.1 Bối cảnh Kinh tế - Xã hội và nhu cầu đào tạo nghề cho người khuyết

tật vận động 30

1.3.2 Quan điểm của Đảng và nhà nước về ĐTN cho NKT 31

1.3.3 Phương thức tổ chức đào tạo nghề 33

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TẠI TRƯỜNG TRUNG CẤP DL KT-DL HOA SỮA 36

2.1 K á quát c ung về sự r đờ củ trường Trung cấp KT-DL Ho Sữ 36

2.1.1 Tóm tắt lịch sử hình thành và phát triển 36

2.1.2 Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động 37

2.1.3 Cơ sở vật chất 39

2.2 Cơ cấu tổ chức 43

2.2.1 Chức năng, nhiệm vụ 43

2.2.2 Đội ngũ cán bộ, giáo viên trường TC KT-DL Hoa Sữa 48

2.3 Thực trạng về học sinh 52

2.4 Thực trạng về công tác đào tạo nghề và giới thiệu việc làm cho học sinh tạ Trường TC KT-DL Hoa Sữa 57

2.5 Đán g á c ung về thực trạng đào tạo nghề tạ trường TC KT-DL Hoa Sữa 60

2.5.1 Nhận định chung về kết quả công tác đào tạo nghề 60

2.5.2 Thách thức mới đối với công tác đào tạo nghề: 63

CHƯƠNG III: HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRỢ GIÚP ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TẠI TRƯỜNG TC KT-DL HOA SỮA 65

3.1 Quy trình tuyển s n đầu vào của học sinh thuộc n óm đố tượng là Người khuyết tật vận động tạ trường TC KT – DL Hoa Sữa 65

Trang 7

3.2 Các hoạt động trợ giúp nhằm đào tạo nghề c o Người khuyết tật vận

động tạ Trường TC KT-DL Hoa Sữa 68

3.2.1 Các hoạt động trợ giúp: 68

3.2.1.1 Hoạt động hỗ trợ học phí, chi phí đào tạo 68

3.2.1.2 Hoạt động hỗ trợ chi phí đi lại, ăn ở, sinh hoạt 72

3.2.1.3 Hoạt động chăm sóc ý tế 74

3.2.2 Các hoạt động đào tạo nghề: 75

3.2.2.1 Các ngành nghề đào tạo 75

3.2.2.2 Nội dung đào tạo 78

3.2.2.3 Cấp bằng đào tạo 82

3.2.3 Hoạt động ngoại khóa, vui chơi, giải trí 82

3.2.4 Hoạt động CTXH trong đào tạo nghề 87

3.2.4.1 Hoạt động tham vấn tâm lý 87

3.2.4.2 Một số nhận xét về việc đưa CTXH vào hoạt động ĐTN cho Người khuyết tật vận động 90

3.3 Hoạt động trợ giúp CTXH, tạo việc làm, giới thiệu việc làm cho người khuyết tật vận động tạ trường TC KT-DL Hoa Sữa 92

3.3.1 Hoạt động tạo việc làm 92

3.3.2 Hoạt động giới thiệu việc làm 94

3.3.3 Hoạt động phối hợp, tìm các nguồn lực trợ giúp về việc làm 96

3.3.3.1 Các tổ chức trong nước 96

3.3.3.2 Các tổ chức nước ngoài 97

3.3.4 Vai trò của NVXH 98

3.3.5 Đánh giá hoạt động trợ giúp trong đào tạo nghề cho người khuyết tật vận động tại trường TC KT-DL Hoa Sữa 102

3.3.5.1 Những mặt đã làm được 102

3.3.5.2 Những mặt chưa làm được 104

3.3.5.3 Đề xuất giải pháp 106

Trang 8

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 112

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

NỘI DUNG TRÍCH DẪN 120

PHỤ LỤC 122

Trang 10

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Cơ sở vật chất Trường TC KT-DL Hoa Sữa năm 2014-2015 39

Bảng 2.2 Cơ cấu lao động theo vị trí công việc chuyên môn năm 2014-201550

Bảng 2.3 Một số thông tin cơ bản về Người khuyết tật vận động tại Hoa Sữa53

Bảng 2.4 Các hệ đào tạo của Trường Trung cấp Kinh tế Du Lịch Hoa Sữa 57

Bảng 3.1.Các đối tượng ưu tiên của Hoa Sữa 68

SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ các Phòng ban chức năng 43

Sơ đồ 3.1 Sơ đồ quy trình tuyển sinh chung của trường TC KT – DL Hoa Sữađối với đối tượng Người khuyết tật vận động 66

BIỂU ĐỒ

Biểu 2.1 : Hoàn cảnh gia đình của người khuyết tật vận động đang theo họctại trường Hoa Sữa 54

Biểu 2.2 : Các dạng khuyết tật của NKTVĐ đang theo học tại Hoa Sữa 55

Biểu 2.3 : Trình độ văn hóa Người khuyết tật vận động tại Hoa Sữa 56

Biểu 2.4: Tỷ lệ người khuyết tật vận động của Hoa Sữa được đào tạo nghềmiễn phí 19 năm qua 62

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đối với bất kỳ quốc gia nào, muốn đảm bảo xã hội phát triển bềnvững, ngoài yếu tố ổn định về mặt kinh tế, chính trị,… vấn đề đảm bảo Ansinh xã hội cũng được coi là nhân tố cốt yếu, các chính sách giảm nghèo bềnvững được hiện thực hóa và đảm bảo mang lại hiệu quả nhất định Để đảmbảo được điều đó, việc quan tâm tới các đối tượng yếu thế trong xã hội là mộttrong những ưu tiên hàng đầu Một trong những nhóm đối tượng được ASXHhướng tới là Người khuyết tật vận động Người khuyết tật vận động cũng nhưnhững người khuyết tật khác thường tự ti, mặc cảm về bản thân nên ít giaotiếp, nói chuyện với người khác Vì vậy, họ khó hòa nhập với cộng đồng Đàotạo nghề gắn liền với tìm kiếm cơ hội việc làm cho Người khuyết tật vận động

sẽ giúp họ có cơ hội tiếp xúc, giao lưu với mọi người, dễ dàng hơn cho việchoà nhập với cộng đồng Nó cũng tạo điều kiện để Người khuyết tật vận độngphát triển một cách toàn diện và bình thường như những người khác trong xãhội, góp phần đảm bảo công bằng xã hội

Theo điều tra mới đây của Liên Hợp Quốc, trong số hơn 7 tỷ người thì

có hơn 1 tỷ người là người khuyết tật, chiếm khoảng 15% dân số Tại khắpnơi trên thế giới, hơn 1 tỷ người khuyết tật đang phải đối mặt với những khókhăn, rào cản về mặt kinh tế, xã hội, thể lực,…{1}

Theo Tổng cục Thống kê năm 2009, Việt Nam có khoảng 6,7 triệungười khuyết tật trên tổng số 85,5% triệu dân, tương đương 7,8% dân số.{2}Theo các tài liệu điều tra, khảo sát nghiên cứu của Bộ Y tế, Bộ Lao động,Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Ðào tạo và một số tổ chức quốc tế vềthực trạng người khuyết tật ở Việt Nam cho thấy: Người tàn tật cơ quan vậnđộng chiếm 35,46%, thị giác 15,70%, thần kinh 13,93% Tỷ lệ người đa tậtchiếm khá cao: 20,22% trong tổng số người tàn tật Phần lớn người tàn tật

Trang 12

sống cùng với gia đình, chiếm tỷ lệ: 95,85%; số người tàn tật sống độc thânchiếm 3,31%; tỷ lệ người tàn tật sống trong trại bảo trợ xã hội của Nhà nước

là 0,22% (tập trung chính ở hai nhóm tuổi: 15 - 55 chiếm 54,17% và nhómtuổi dưới 15 chiếm 28,85%); người tàn tật sống lang thang là 0,62% {3} Sốnạn nhân khuyết tật vận động mỗi năm có thêm khoảng từ 30-40 ngàn người

do tai nạn giao thông và lao động Trong những năm tới, tỷ lệ người khuyếttật tại Việt Nam có xu hướng tăng lên, trong đó số NKT vận động có khuynhhướng ngày càng tăng cao do tai nạn lao động và tai nạn giao thông cũng như

do một số bệnh tật như teo cơ Điều đáng lưu ý là số người khuyết tật đanghọc nghề ít chỉ 1,94 %, số còn lại hầu như không có nguyện vọng học nghềchiếm 13,7%.{4}

Việt Nam đặt ra mục tiêu, năm 2020 sẽ cơ bản trở thành nước côngnghiệp Trong đó, phát triển nguồn nhân lực được xem là một trong ba khâuđột phá chiến lược thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020

Vì vậy, đối tượng người khuyết tật nói chung, người khuyết tật vận động nóiriêng cũng nhận được nhiều sự quan tâm đặc biêt không chỉ của Đảng và Nhànước, mà còn của cả cộng đồng Thủ tướng chính phủ cũng đã phê duyệt đề

án trợ giúp người khuyết tật, trong đó có người khuyết tật vận động với mụctiêu đến năm 2020 sẽ dạy nghề và tạo việc làm cho 550 nghìn người thuộc đốitượng này, đồng thời cũng ưu tiên về nhiều mặt cho người khuyết tật cũngnhư các cơ sở sản xuất, kinh doanh của người khuyết tật, dạy nghề cho ngườikhuyết tật Điều này có ý nghĩa vô cùng lớn đối với người khuyết tật, đặc biệt

là người khuyết tật vận động bởi vì tuy khuyết tật ở các cơ quan vận động,nhưng trí tuệ Người khuyết tật vận động vẫn phát triển bình thường, họ vẫn cóthể lao động và cống hiến cho Xã hội

Trên tinh thần ấy, trong hơn 20 năm qua, trường Trung cấp Kinh tế

-Du lịch Hoa Sữa (1118 Nguyễn Khoái – Lĩnh Nam – Hoàng Mai – Hà Nội) đãluôn chú ý, quan tâm phát triển công tác Đào tạo nghề cho NKT, trong đó

Trang 13

dành nhiều sự ưu ái tới đối tượng là người khuyết tật vận động do phần lớnngười khuyết tật theo học tại Hoa Sữa là đối tượng này, đã đạt được nhiều kếtquả tốt đẹp được thừa nhận và đánh giá cao, góp phần vào công cuộc xóa đóigiảm nghèo, ổn định cuộc sống cho Người khuyết tật vận động.

Ở Việt Nam, CTXH là một ngành hoạt động mới mẻ, nhưng có nhiềutiềm năng Việc vận dụng các tri thức, phương pháp và kỹ năng CTXH vào

thực tiễn là hết sức cần thiết Nó góp phần tích cực vào việc xử lý những vấn

đề và tình huống xã hội một cách có hiệu quả

Với tầm quan trọng về lý luận và thực tiễn của vấn đề nêu trên, tôi đãchọn hướng nghiên cứu“: Nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho Người khuyếttật vận động qua các hoạt động trợ giúp của CTXH (nghiên cứu trường hợpTrường trung cấp kinh tế- du lịch hoa sữa)”làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc

sỹ chuyên ngành CTXH của mình.Trên cở sở đó, thấy được những mặt hạnchế cũng như những kết quả mà trường đã đạt được trong quá trình trợ giúpngười khuyết tật vận động Cũng dựa trên đó, tôi hy vọng rằng việc đưaCTXH vào hoạt động của nhà trường, cũng như nâng cao hiệu quả trợ giúpCTXH đối với người khuyết tật nói chung, và người khuyết tật vận động nóiriêng, chúng ta có thể giúp cho nhóm xã hội đặc thù này tiếp cận được với cơhội việc làm tốt hơn sau đào tao nghề

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Vấn đề đào tạo nghề và tìm kiếm cơ hội việc làm cho người khuyết tậtnói chung, người khuyết tật vận động nói riêng là vấn đề được các cấp chínhquyền, ban ngành đoàn thể, cũng như các tổ chức trong và ngoài nước tronglĩnh vực này dành nhiều sự quan tâm

Sự quan tâm đó được thể hiện thông qua việc trong những năm gầnđây, các chương trình, hoạt động vì người khuyết tật nói chung đã được diễn

ra trên địa bàn Hà Nội nói chung, cũng như tại trường TC DL KT-DL HoaSữa một cách tích cực và hiệu quả Điều đó đã giúp chúng ta tìm hiểu thực

Trang 14

trạng đời sống người khuyết tât hiện nay đúng đắn hơn, cũng như đưa ra cácbiện pháp để hỗ trợ họ có hiệu quả hơn,… Bên cạnh đó nhiều bài báo, bài viếtxoay quanh về vấn đề đào tạo nghề gắn liền với cơ hội việc làm cho ngườikhuyết tật cũng hướng tới mục tiêu giúp NKT hòa nhập hơn với cộng đồngcũng xuất hiện và nhận được sự quan tâm của cộng đồng.

2.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới

Vấn đề việc làm cho đối tượng là người khuyết tật vận động cũng nhưcác dạng khuyết tật khác, đã được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm thôngqua việc tìm kiếm các giải pháp nhằm trợ giúp người khuyết tật nói chung,người khuyết tật vận động nói riêng hòa nhập cộng đồng, một trong nhữngmục tiêu cụ thể là hỗ trợ họ trong đào tạo nghề

Công ước quốc tế về “ Quyền của người khuyết tật” đã được thông quavào tháng 12 năm 2006 Đã cho thấy sự quan tâm của cộng đồng quốc tế vớingười khuyết tật nói chung và đề cao trách nhiệm của các quốc gia đối vớingười khuyết tật

Theo báo cáo toàn cầu về trẻ khuyết tật năm 2013 được tổ chức tạiViệt Nam,báo cáo đã chỉ ra những cách thức để giúp trẻ khuyết tật hòa nhậpvào cộng đồng Báo cáo cho biết trẻ khuyết tật là đối tượng ít được chăm sóc

y tế và đi học nhất Các em nằm trong nhóm trẻ em dễ bị tổn thương nhất bởinạn bạo hành, xâm hại, bóc lột và bỏ rơi, đặc biệt khi các em bị giấu giếm hoặc gửivào các trung tâm bảo trợ - đây là thực trạng phổ biến xuất phát từ

sự kì thị của xã hội hoặc do gia đình không có đủ khả năng tài chính để nuôidưỡng trẻ Khoảng 1/3 các quốc gia trên thế giới vẫn chưa phê chuẩn Côngước về Quyền của người khuyết tật Báo cáo thúc giục các chính phủ phêchuẩn và thực hiện Công ước về Quyền của người khuyết tật và Công ước vềQuyền trẻ em, hỗ trợ gia đình của các em để họ có thể trang trải được các chiphí chăm sóc trẻ có khuyết tật cao hơn so với mức thông thường Đồng thờiBáo cáo kêu gọi có các biện pháp chống phân biệt đối xử trong cộng đồng,

Trang 15

trong hoạch định chính sách, và trong số những người cung cấp các dịch vụ

xã hội thiết yếu cho trẻ như y tế và giáo dục.{5}

Đã có rất nhiều công trình trên thế giới nghiên cứu về Người khuyếttật, trong đó có những vấn đề xoay quanh đến người khuyết tật vận động Tuynhiên các công trình nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc nêu lên thực trạng vàđưa đến giải pháp Tác giả xây dựng khóa luận này với mong muốn hỗ trợngười khuyết tật vận động và nhìn nhận họ dưới khía cạnh nhân văn củaCTXH

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Tại việt Nam, các mô hình trung tâm dành cho người khuyết tật nóichung và người khuyết tật vận động nói riêng đã có từ rất lâu, vì chúng tanhận thức được rằng người khuyết tật là những đối tượng chịu nhiều thiệt thòitrong xã hội và cần được sự quan tâm của cộng đồng tuy nhiên công tác trợgiúp CTXH đối với đối tượng này thì gần đây mới được quan tâm sâu sắc

Tại báo cáo khảo sát về Đào tạo nghề và Việc làm cho người Khuyếttật tại Việt Nam, theo đơn đặt hàng của Tổ chức lao động Quốc tế tháng 8năm 2008 Tại Việt Nam số các doanh nghiệp dành riêng cho người khuyết tậtkhá nhiều Hơn 8.000 người khuyết tật làm việc tại các doanh nghiệp này.Tuy nhiên, đây phần lớn là các cơ sở rất nhỏ, hoạt động lợi nhuận thấp nhưcác ngành thủ công mỹ nghệ,matxa , v.v Khả năng được đào tạo một cáchphù hợp và/hoặc tham gia các dịch vụ phát triển sản xuất kinh doanh tại cácdoanh nghiệp này rất hạn chế Theo báo cáo, Việt nam có một hệ thống cáctrung tâm dạy nghề khá đầy đủ, gồm 164 trường đào tạo nghề, 137 trường caođẳng và trường trung cấp kỹ thuật tham gia vào hoạt động đào tạo nghề; 148trung tâm dạy nghề và 150 trung tâm dịch vụ dạy nghề và việc làm kết quảphân tich của báo cáo cho thấy tại Việt Nam rất ít người khuyết tật được đàotạo nghề, hướng dẫn việc làm Báo cáo cũng đã có những thông tin về cácdịch vụ cơ bản liên quan đến việc làm và đào tạo nghề cho người khuyết tật

Trang 16

Tuy nhiên, báo cáo vẫn chưa đưa ra được hướng giải quyết trực tiếp để tăngcường các cơ sở, doanh nghiệp tiếp nhận người khuyết tật vào học và làmviệc.{6}

Trong báo cáo tổng kết tình hình thi hành pháp lệnh về người khuyếttật và việc tổ chức, ban hành các văn bản pháp luật số 62/BC-LĐTBXH năm

2009, đã cho thấy sự nỗ lực vô cùng to lớn của cả cộng đồng vì người khuyếttật Thể hiện ở việc các chính sách đối với người khuyết tật được cụ thể hóa

và đi vào thực tiễn với các nội dung cơ bản như chăm sóc đời sống ngườikhuyết tật; chăm sóc sức khỏe, chỉnh hình, phục hồi chức năng; học văn hóađối với người khuyết tật; giúp họ tiếp cận văn hóa, thể thao và công trình côngcộng; một nội dung được đặc biệt quan tâm tới là dạy nghề và cơ hội việc làmcho người khuyết tật Trong báo cáo này, đã đưa ra những con số cụ thể vềthực trạng người khuyết tật Kể từ khi có pháp lệnh, số lượng người khuyết tậtđược học nghề tăng từ giai đoạn 1999-2004 có gần 19.000 người khuyết tậtđược học nghề, giai đoạn 2005-2008 có khoảng 8.000 người, gấp 2 lần so vớigiai đoạn trước Tuy nhiên theo đánh giá của Uỷ ban các vấn đề xã hội củaQuốc hội, tỷ lệ người khuyết tật được đào tạo nghề còn thấp Theo khảo sátnăm 2008, có trên 50% người khuyết tật trong độ tuổi lao động có việc làm vàchủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp Cả nước có hơn 400 cơ sở sản xuất, kinhdoanh của thương binh và người khuyết tật, tạo việc làm cho 15.000 lao độngkhuyết tật Tuy nhiên phần lớn người khuyết tật có việc làm không ổn định,chủ yếu tự tạo việc làm, hoặc làm trong các tổ chức, cơ sở mang tính nhânđạo, từ thiện.{7}

Ngoài ra còn rất nhiều những nghiên cứu trong nước về người khuyếttật như:

“Báo cáo thường niên về hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam”

do ban điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam(NCCD) thưchiện là một trong những đóng góp quan trọng

Trang 17

“ Báo cáo về trẻ khuyết tật và gia đình Trẻ khuyết tật tại Đà Nẵng – Kiến thức – Thái độ - Hành vi” TNS thực hiện cho Unicef năm 2009.

Nghiên cứu “ Chi phí kinh tế của sống với khuyết tật và kỳ thị ở Việt Nam” do Viện nghiên cứu phát triển Xã hội thực hiện, xuât bản năm 2013.

Những tài liệu được công bố trên là những tài liệu tham khảo quantrọng trong việc nghiên cứu và thực hiên đề tài luận văn của tôi

Tất cả các nghiên cứu trên cũng đã ít nhiều nói lên vị trí của ngườikhuyết tật trong xã hội hiện nay, họ được quan tâm và chia sẻ cơ hội để đếngần hơn với cộng đồng, hòa nhập với cộng đồng các nghiên cứu, báo cáo đóngoài việc mô tả thực trạng người khuyết tật, bước đầu cũng đã đưa ra cácđịnh hướng, giải pháp nhằm hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận học nghề và tạo

cơ hội việc làm Tuy nhiên các hướng nghiên cứu trên chưa đi vào làm rõ vaitrò của NVXH trong hoạt động trợ giúp cũng như hướng trợ giúp CTXH đốivới người khuyết tật, chưa đi sâu vào từng nhóm đối tượng cụ thể

Do đó, luận văn tốt nghiệp với đề tài “Nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho người khuyết tận vận động qua các hoạt động trợ giúp của CTXH ”

(nghiên cứu tại trường TC KT-DL Hoa Sữa) mặc dù chưa phải là một chủ đềmới trong hoạt động thực tiễn cũng như trong khoa học nghiên cứu, nhưng cáimới của là đã cố gắng đưa ra bức tranh tổng thể về thực trạng của ngườikhuyết tật, người khuyết tật vận động trên địa bàn cả nước hiện nay cũng nhưtại trường TC KT-DL Hoa Sữa, đồng thời cũng nhấn mạnh tới khía cạnh hoạtđộng trợ giúp CTXH đối với người khuyết tật vận động, giúp họ được đào tạonghề phù hợp và có việc làm sau đào tạo nghề Điều này có vai trò hết sứcquan trọng trong nỗ lực giúp người khuyết tật vận động hòa nhập cộng đồng

và vươn lên sống có ích

Trang 18

3 Ý ng ĩ lý luận và thực tiễn nghiên cứu

3.1.Ý nghĩa lý luận

Nghiên cứu đã vận dụng một số lý thuyết CTXH như: thuyết nhu cầu,thuyết hệ thống,… và đưa ra một số khái niệm cơ bản về khuyết tật, ngườikhuyết tật, người khuyết tật vận động cũng như các khái niệm liên quan Kếtquả nghiên cứu có thể góp phần vào việc bổ sung và phát triển hệ thống các lýluận, phương pháp trong nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến CTXH, hoạtđộng trợ giúp CTXH đối với nhóm người người khuyết tật vận động Trên cơ

sở đó, đề tài cũng góp phần làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếptheo về mảng chủ đề nghiên cứu này

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu đưa ra thực trạng về người khuyết tật vận động và vấn đềđào tạo nghề và việc làm đối với họ Qua đó, đưa ra giải pháp mang tínhCTXH nhằm trợ giúp họ

Đối với người nghiên cứu qua quá trình làm việc, việc tiến hànhnghiên cứu đã góp phần tạo cơ hội áp dụng các lý thuyết và phương pháp đãđược học vào thực tiễn

4.2 Nhiệm vụ

Để làm rõ mục đích trên,luận văn có các nhiệm vụ sau đây:

- Làm rõ một số nội dung về lý luận và thực tiễn liên quan đến ngườikhuyết tật, người khuyết tật vận động Trên cơ sở đó hình thành cơ sở lý luận

Trang 19

về công tác xã hội, công tác xã hội với người khuyết tật vận động Đồng thờiluận văn cũng giới thiệu khái quát về kinh nghiệm của quốc tế cũng như ởViệt Nam trong vấn đề đào tạo nghề cho người khuyết tật nói chung, ngườikhuyết tật vận động nói riêng thông qua những nghiên cứu cụ thể.

- Phân tích, đánh giá thực trạng trợ giúp người khuyết tật vận động vềvấn đề đào tạo nghề và tạo cơ hội việc làm tại trường TC KT-DL Hoa Sữa.Trong đó đánh giá, phân tích những thành tựu và hạn chế Nguyên nhân củathực trạng

- Một số hoạt động trợ giúp của trường trong vấn đề dạy nghề chongười khuyết tật vận động và đề xuất trợ giúp

5 Đố tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng

Nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho người khuyết tật vận động quacác hoạt động trợ giúp của CTXH ( nghiên cứu trường hợp trường Trung cấpKinh Tế- Du Lịch Hoa Sữa )

5.2 Khách thể nghiên cứu

- Người khuyết tật, người khuyết tật vận động đang theo học trường

TC KT-DL Hoa Sữa

- Người khuyết tật vận động đã ra trường

- Cán bộ, giáo viên tại trường TC KT-DL Hoa Sữa

- Gia đình có người khuyết tật vận động đang theo học tại Trường TC KT-DL Hoa Sữa

5.3 Phạm vi nghiên cứu:

 Phạm vi về không gian nghiên cứu: tiến hành nghiên cứu tại trườngTCKT-DL Hoa Sữa

 Thời gian nghiên cứu: 06 tháng

 Phạm vi về nội dung nghiên cứu: nghiên cứu về vấn đề dạy nghề cho

Trang 20

gian nghiên cứu có hạn nên đề tài của tôi xin được tập trung vào các nội dung chính:

+ Thực trạng về vấn đề đào tạo nghề cho người khuyết tật vận động tại trường TC KT-DL Hoa Sữa

+ Đề xuất các hoạt động trợ giúp công tác xã hội với người khuyết tậtvận động nhằm trợ giúp họ được tiếp cận với đào tạo nghề và cơ hội việc làmsau đào tạo nghề

6 Câu hỏi nghiên cứu

(1) Thực trạng đào tạo nghề đối với người khuyết tật vận động tạitrường TC DL KT-DL Hoa Sữa?

(2) Hoạt động trợ giúp CTXH về vấn đề dạy nghề cho người khuyết tậtvận động tại trường TC DL KT-DL Hoa Sữa diễn ra như thế nào?

(3) Làm thế nào để nâng cao hiệu quả trợ giúp CTXH về vấn đề dạy nghề đối với người khuyết tật vận động tại trường TC DL KT-DL Hoa Sữa?

7 P ƣơng p áp ng ên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu

Phương pháp nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, chọn lọc, hệ thống hóa các tàiliệu lý luận về vấn đề nghiên cứu là phương pháp thu thập thông tin dựa trênnhững tài liệu có sẵn của các tác giả trong và ngoài nước nhằm trang bị nhữngkiến thức cơ bản về đào tạo nghề, giải quyết việc làm, người khuyết tật,…Phương pháp này được áp dụng phân tích các tài liệu như: Điều kiện tự nhiên,Kinh tế - xã hội của Trường TC KT-DL Hoa Sữa, các báo cáo số liệu về

cơ sở vật chất, giáo viên, cán bộ quản lý nhà trường,

Trang 21

Trong luận văn, việc Phỏng vấn sâu được tiến hành với 13 trường hợp,bao gồm: 3 người là các cán bộ, lãnh đạo Trường là : Trưởng/phó phòng đàotạo, Cán bộ quản lý Trung tâm dành cho Người khuyết tật Ngoài ra luận văncũng tiến hành phỏng vấn 08 học sinh Khuyết tật vận động đang theo học tạiTrường TC KT-DL Hoa Sữa và 02 học sinh đã ra trường và đi làm Việc sửdụng phương pháp phỏng vấn sâu nhằm mục đich tìm hiểu thêm thông tin bênngoài các tư liệu thống kê, khai thác thông tin sâu từ phía các nhóm đối tượngkhác nhau phục vụ cho nội dung nghiên cứu.

7.3 Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát là phương pháp thu thập thông tin xã hội sơ cấp

về đối tượng nghiên cứu bằng tri giác trực tiếp, chụp ảnh và ghi chép lạinhững nhân tố liên quan đến mục đích và đề tài nghiên cứu

Sử dụng phương pháp quan sát nhằm nhận định một cách trực quan vềthực trạng đào tạo nghề cho người khuyết tật vận động tại trường TC KT-DLHoa Sữa và qua đó phát hiện các yếu tố cần thiết cho việc nâng cao hiệu quảtrợ giúp CTXH về vấn đề đào tạo nghề cho người khuyết tật vận động tạitrường TC KT-DL Hoa Sữa

8 Nội dung luận văn

Luận văn gồm 2 phần : Phần mở đầu và phần Nội dung

Phần nội dung bao gồm 3 nội dung chính như sau:

- Chương I: Những vấn đề lý luận về đào tạo nghề cho người khuyết tật qua các hoạt động trợ giúp của CTXH

- Chương II: Thực trạng đào tạo nghề tại trường Trung cấp KT-DL HoaSữa

- Chương III: Hoạt động trợ giúp trong đào tạo nghề cho người khuyết tật vận động tại trường TC KT-DL Hoa Sữa

Trang 22

1.1.1.1 Khái niệm về khuyết tật

 Khái niệm khuyết tật ( Khiếm khuyết):

Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có ba mức độ suygiảm là: khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật(handicap) Khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của

cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm hoặc sinh lý.{8}

Dựa vào khái niệm trên, tác giả xin đưa ra cách về khái niệm Khuyết tật được dung trong luận văn như sau: khuyết tật là hậu quả của sự khiếm khuyết, làm giảm thiểu chức năng hoạt động của các cơ quan cảm giác, vận động hay trí não.

 Khái niệm Người khuyết Tật :

Theo Công ước quốc tế về quyền của Người khuyết tật ngày 06 tháng

12 năm 2006, của Đại hội đồng Liên hợp quốc thì: “Người khuyết tật baogồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trongmột thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở

sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội

trên cơ sở bình đẳng với những người khác”.{9}

Khái niệm trên cũng đã tương đối đầy đủ khi nói đến NKT Từ nhữngkhiếm khuyết để xếp vào là NKT và ảnh hưởng của những khiếm khuyết đóđến cuộc sống của NKT Trên thực tế hiện nay ở nước ta vẫn còn tồn tại nhiềuquan niệm về NKT hoặc người tàn tật do mỗi một quan niệm đều đứng trênmột góc nhìn khác nhau và dựa trên mục đích khác nhau

Trang 23

Theo quy định của Luật Người khuyết tật được Quốc hội thông quangày 17/06/2010 thì NKT được hiểu là: “Người bị khiếm khuyết một hoặcnhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạngtật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” {10}

Theo cách hiểu này thì NKT bao gồm cả những người bị khuyết tậtbẩm sinh, người bị khiếm khuyết do tai nạn, thương binh, bệnh binh,…

Trong luận văn, NKT được hiểu là : Đó là những người bị khiếm khuyết một bộ phận hoặc một chức năng bình thường của con người khiến người đó suy giảm hoặc mất hoàn toàn khả năng hoạt động, lao động và gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày.

1.1.1.2 Khái niệm nghề, đào tạo nghề, đào tạo nghề cho người khuyết tật vận động

Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà ở đó, nhờ vào mức độ được đào tạo và kinh nghiệm làm việc mà con người có được những kiến thức, và những kỹ năng nhất định để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.

 Khái niệm đào tạo nghề

Theo tài liệu của Bộ LĐTB – XH xuất bản năm 2006 thì khái niệm

ĐTN được hiểu một cách khá đầy đủ: “Là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khóa học có thể thực hành được một nghề trong xã hội”.{11}

Như vậy, khái niệm này đã không chỉ dừng lại ở sự trang bị nhữngkiến thức, kỹ năng cơ bản mà còn đề cập đến cả thái độ lao động cơ bản nữa

 Khái niệm đào tạo nghề cho người khuyết tật vận động:

Trong luận văn này, đào tạo nghề cho người khuyết tật vận động được

Trang 24

các lớp học nghề phù hợp với đặc điểm, khả năng của họ Kết thúc quá trình học nghề, người khuyết tật vận động được trang bị không những kiến thức, thao tác nghề nghiệp mà còn có thái độ sống tích cực, vươn lên hòa nhập cộng đồng.

1.1.1.3 Khái niệm việc làm, việc làm cho Người khuyết tật vận động

 Khái niệm việc làm:

Thực tế cho thấy, đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người talại có thể đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về việc làm

Theo quan điểm của Mac: “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ,…) để sử dụng sức lao động đó”.{12}

Theo Điều 13 Bộ Luật lao động Việt Nam: “Mọi hoạt động tạo ra nhu nhập, không bị Pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”.{13}

Trong luận văn này ,Việc làm có thể được hiểu là tất cả các hoạt động của con người tác động vào môi trường tự nhiên hoặc vật chất nhằm tạo ra thu nhập Đồng thời nó cũng là dạng thức đặc biệt, giúp con người làm việc, nơi họ được lao động, cống hiến và thể hiện bản thân.

 Khái niệm việc làm cho người khuyết tật vận động

Dựa trên khái niệm việc làm nói trên, Tôi xin đưa ra khái niệm về việc

làm cho người khuyết tật vận động như sau: là mọi hoạt động tạo ra thu nhập cho người khuyết tật vận động, được pháp luật ghi nhận và phải phù hợp với điều kiện sức khỏe của bản thân người khuyết tật vận động cũng như nhu cầu của thị trường lao động.

1.1.1.4 Khái niệm công tác xã hội

Hiệp hội nhân viên CTXH Quốc tế đưa ra một định nghĩa thống nhất

về CTXH: “Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn

đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng

Trang 25

các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, Công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và Công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề.”.{14}

Tóm lại, CTXH là: một khoa học, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, nhóm, cộng đồng yếu thế nâng cao năng lực, tăng cường các chức năng xã hội nhằm ứng phó với những vấn đề xã hội tiêu cực xảy ra từ đó hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.

1.1.2 Các dạng khuyết tật

Thực tế cho thấy, trong xã hội đã tồn tại nhiều dạng khuyết tật khác

nhau Nghị định số: 28/2012/NĐ-CP có quy định chi tiết và hướng dẫn thi

hành một số điều của Luật Người khuyết tật, trong đó tại điều 2 đã quy định

rõ các dạng khuyết tật cụ thể như sau:

 Khuyết tật vận động:

Khuyết tật vận động là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển

 Khuyết tật khiếm thính (khuyết tật nghe nói):

Khuyết tật nghe, nói là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nóihoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế tronggiao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói

 Khuyết tật khiếm thị:

Khuyết tật nhìn là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảmnhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môitrường bình thường

 Khuyết tật thần kinh, tâm thần:

Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ,cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hànhđộng bất thường

Trang 26

 Khuyết tật trí tuệ:

Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tưduy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật,hiện tượng, giải quyết sự việc

 Khuyết tật khác:

Là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho hoạtđộng lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trườnghợp trên.{15}

1.1.3 Đặc điểm tâm – sinh lý của Người khuyết tật vận động

Đặc điểm tâm- sinh lý

Do khiếm khuyết của bản thân nên Người khuyết tật vận động cũngnhư những người khuyết tật khác thường tự ti, mặc cảm, sống khép mình, ítgiao tiếp với người khác Người khuyết tật vận động có những khiếm khuyết ,hạn chế ở cơ quan vận động, do vậy họ gặp phải rất nhiều khó khăn trongcuộc sống từ việc ăn uống, đi lại, vệ sinh cá nhân, làm việc, học tập, đến việcgiao tiếp với mọi người,…vì vậy họ rất cần được sự quan tâm chăm sóc, giúp

đỡ Tuy nhiên, cái họ mong muốn nhận được cũng chính là sự đồng cảm từmọi người trong xã hội chứ không chỉ đơn thuần là sự thương hại, hay bố thí

Họ dễ cảm thông với những người đồng cảnh ngộ, biết ơn khi được quan tâmgiúp đỡ

Nhiều Người khuyết tật vận động nặng không thể tự chăm lo chuyệnsinh hoạt cá nhân thường xuyên phải nhờ đến sự giúp đỡ của người thân tronggia đình nên họ thường trở nên buồn chán, bi quan Họ không muốn bị xem làngười ăn bám, là gánh nặng cho gia đình và xã hội Chịu nhiều nỗi buồn, áplực nên Người khuyết tật vận động dễ bị kích động, nổi cáu khó kiềm chế cảmxúc của bản thân và cũng rất hay tự ái Nếu sống trong những gia đình cóhoàn cảnh khó khăn nhiều Người khuyết tật vận động còn có cảm giác mình

bị bỏ rơi

Trang 27

Mặc dù vậy, đa phần Người khuyết tật vận động vẫn là những người

có ý chí, nghị lực cao Họ thường có một khát vọng sống, khát vọng vươn lênmạnh mẽ cái điều mà nhiều người được coi là bình thường không phải ai cũng

có được Người khuyết tật vận động biết được hạn chế của mình nên khi thựchiện việc gì họ thường rất kiên trì và quyết làm cho đến cùng Với khả năng

“thích nghi bù” (đặc biệt là hoạt động của các giác quan) và sức khỏe củamình, Người khuyết tật vận động luôn mong muốn được làm những công việcphù hợp để có thể tự lập, giảm bớt gánh nặng cho gia đình và cống hiến đượcnhiều cho xã hội

Ngoài những đặc điểm chung về tâm, sinh lý kể trên của Người khuyếttật vận động thì họ còn có những đặc điểm sinh lý riêng biệt: Có nhiềunguyên nhân gây nên việc khuyết tật cơ quan vận động như: Tai nạn giaothông, bẩm sinh, chất độc điôxin, tai nạn lao động,…nhưng nhìn chung đềulàm mất hoặc suy giảm chức năng của cơ quan vận động gây nên những khókhăn trong việc di chuyển đi lại Trong khi đó thì trí tuệ của người KTVĐthường vẫn hoàn toàn bình thường, thậm chí còn có người còn có trí tuệ pháttriển rất tốt Vì vậy, người KTVĐ có thể theo học và làm việc trong nhiều lĩnhvực, ngành nghề mà người bình thường làm, đặc biệt là các hoạt động sángtạo về trí tuệ, văn hóa, nghệ thuật,…

Tóm lại, Người khuyết tật nói chung, người khuyết tật vận động nóiriêng thường gặp khó khăn trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống, không chỉ mặttâm – sinh lý, mà còn cả các mặt khác như: học tập, việc làm, ở môi trường

và khía cạnh nào của cuộc sống họ cũng cần đến sự giúp đỡ, yêu thương củamọi người Sự quan tâm về mặt tinh thần thường có vai trò rất lớn tạo độnglực cho họ phát triển, hòa nhập hơn với cộng đồng

Khó khăn trong học tập: những hạn chế của cơ thể trong cử động gâykhó khăn cho đi lại đã ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng lĩnh hội kiến thứccủa người khuyết tật vận động Vì vậy, để dạy học cho người khuyết tật vận

Trang 28

động các Cán bộ xã hội không chỉ cần đến khả năng chuyên môn của ngườitruyền thụ kiến thức, kỹ năng nghề, mà còn cả sự tận tâm, hết lòng, nhữngtình cảm yêu thương chân thực Người khuyết tật vận động cần một hình thứcgiáo dục đặc biệt phù hợp với đặc điểm khiếm khuyết của cơ thể và cần sựđầu tư về cơ sở vật chất phù hợp nhằm hỗ trợ cho họ trong quá trình học tậpđược dễ dàng và hiệu quả.

Khó khăn trong việc làm: Có thể nói rằng, trong những năm gần đâyĐảng và Nhà nước đã có những nỗ lực to lớn trong việc hỗ trợ người khuyếttật nói chung ở nhiều phương diện, trong đó có cả vấn đề giáo dục nghềnghiệp và tạo việc làm Tuy nhiên, do những hạn chế, cũng như sự nhận thứccủa bản thân người khuyết tật vận động mà gia đình và cộng đồng vô hìnhchung cũng đã gây nhiều trở ngại cho con đường hòa nhập cộng đồng của họ.Một số người khuyết tật vận động cảm thấy mặc cảm với mọi người nên ngạigiao tiếp và không tin tưởng vào bản thân, một số DN có tính chất công việcphù hợp với Người khuyết tật vận động nhưng lại sợ ảnh hưởng tới doanh thu,tiến độ công việc và cũng thiếu sự tin tưởng vào khả năng của Người khuyếttật vận động nên không tiếp nhận họ vào làm việc Vì vậy, thực tế đã đòi hỏichúng ta cần nhìn nhận Người khuyết tật vận động ở khía cạnh tích cực vànhân văn hơn Để làm được điều đó, ngoài việc lựa chọn cho Người khuyết tậtvận động những công việc phù hợp với khả năng, giao đúng việc đúng người,còn cần tới sự hợp tác, tin tưởng vào khả năng của Người khuyết tật vận độngcủa chính DN, xí nghiệp đã nêu trên

Hôn nhân: Người khuyết tật vận động cũng như những người khuyết tậtkhác gặp rất nhiều cản trở trong vấn đề tìm kiếm người bạn đời của mình, mặc

dù họ cũng có tâm sinh lý như người bình thường, cũng có những mong muốntìm được người mình thương yêu, được lập gia đình Tuy nhiên, có rất nhiềunguyên nhân khiến họ gặp khó khăn Khi lập gia đình, người ta thường có xuhướng lựa chọn những gen tốt, những người bình thường không có khiếm

Trang 29

khuyết để có những đứa con lành mạnh, vì vậy đa phần Người khuyết tật vậnđộng thường kết hôn với những người có hoàn cảnh chung giống mình Đây

có thể được coi là một quan niệm phân biệt đối xử Bên cạnh đó, nhữngNgười khuyết tật vận động khi lập gia đình lại thường phải chịu sự phản đốicủa chính các gia đình, do họ sợ nếu lấy nhau con cái sẽ khổ hoặc lo sợ họkhông thể có đủ điều kiện để chăm sóc chu đáo cho cuộc sống gia đình Mặtkhác, người khuyết tật thường có những mặc cảm bản thân sẽ làm khổ ngườimình yêu Do vậy, họ thường khó tìm kiếm được hạnh phúc lứa đôi

Kỳ thị-Phân biệt đối xử: Sự phân biệt, kỳ thị của cộng đồng là nguyênnhân to lớn, gây nên những cản trở cho cuộc sống của không chỉ những ngườikhuyết tật vận động mà còn đối với những người khuyết tật ở dạng khác Sự

kỳ thị không phải chỉ là về mặt vật chất mà nó còn là những vấn đề thuộc vềtâm lý, sự nhận thức của các cá nhân trong cộng đồng

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1.2.1 Thuyết nhu cầu

Mỗi con người đều có những nhu cầu về vật chất và tinh thần Các nhucầu của con người thường rất đa dạng, phong phú và phát triển

Abraham Maslow (1908 – 1970) – nhà tâm lý học gốc Do Thái đã chianhu cầu con người thành năm thang bậc từ thấp đến cao:

Nhu cầu sống còn: Đây là những nhu cầu cơ bản nhất cả con người.Nếu nhu cầu cơ bản này không đạt được sẽ không thể tiến thêm ở bậc nhu cầutiếp theo Bao gồm: thức ăn, nước uống, bài tiết, thở,

Nhu cầu an toàn: Cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, giađình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo

Nhu cầu thuộc vào một nhóm nào đó: muốn được trong một nhómcộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy khôngmuốn cô đơn, bị bỏ rơi ngoài xã hội

Trang 30

Nhu cầu được quý trọng, kính mến: cần có cảm giác được tôn trọng, kinh mến, được tin tưởng.

Nhu cầu về tự thể hiện bản thân: muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thểhiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt.{16}Thuyết nhu cầu của A.Maslow có thể được vận dụng để nghiên cứu về nhữngngười khuyết tật vận động Nó là cơ sở khoa học để nhận biết được nhữngđặc trưng về tâm lý và hành vi của con người và người khuyết tật vận động.Chúng ta đều biết, nhu cầu sẽ xuất hiện khi con người nói chung, Ngườikhuyết tật vận động nói riêng bị thiếu hụt những yếu tố nhất định trong môitrường sống, những thiếu hụt này nếu không được bù đắp kịp thời sẽ gây racác căng thẳng về tâm, sinh lý Về sinh lý: Xuất hiện trạng thái mất cân bằngtrong cơ thể, gây nên cảm giác khó chịu (khát, đói, nóng,…) Về tâm lý: Xuấthiện những cảm xúc tiêu cực khi bị bỏ rơi, không quan tâm, thiếu sự tươngtác, tình yêu, sự che chở, đùm bọc,…

Theo quan điểm của Maslow, các nhu cầu có quan hệ chặt chẽ vớinhau Trước tiên Người khuyết tật vận động cần đáp ứng ở các mức độ thấp.Sau đó, mới tìm đến sự đáp ứng ở các nhu cầu bậc thang cao hơn Về cơ bảnNgười khuyết tật vận động cũng có tất cả các nhu cầu của một con người bìnhthường trong xã hội như: Ăn, ở, đi lại, khẳng định mình, được quan tâm yêuthương, an toàn, vui chơi giải trí,…Nhưng do đặc thù của bản thân nên nhữngnhu cầu của Người khuyết tật vận động thể hiện ở một cấp độ hơi khác:

Người khuyết tật vận động mong muốn nơi ăn ở của mình có những cơ

sở vật chất hạ tầng phù hợp: Giường, công trình công cộng, vệ sinh, giaothông,…thuận tiện, phù hợp với đặc điểm của NKT Hiểu đặc điểm tâm sinh

lý của Người khuyết tật vận động nên các trường dành cho Người khuyết tậtvận động, trong đó có Hoa Sữa đã bố trí riêng khu nội trú dành cho NKT vớinhững tiện ích và tạo điều kiện thuận lợi nhất trong đi lại cho NKT, đặc biệt làNgười khuyết tật vận động

Trang 31

Mặc dù Người khuyết tật vận động có những khiểm khuyết về bản thânsong họ cũng có những lo toan, buồn phiền, mệt mỏi,…nên cũng cần có nhu cầuvui chơi giải trí Thậm chí do sống khép mình, ít giao tiếp với mọi người và thếgiới bên ngoài nên Người khuyết tật vận động còn có những mong muốn cao vềnhững nhu cầu giải tỏa tâm lý, vui chơi phù hợp với bản thân.

Nhu cầu tình cảm riêng tư là một trong những nhu cầu Người khuyết tậtvận động rất chú trọng nhưng lại rất nhạy cảm, tế nhị và thường bị che đậy, ítđược bộc lộ Người khuyết tật vận động có tâm sinh lý phát triển bình thường, họcũng có nhu cầu cao về việc được quan tâm, chia sẻ tình cảm với người khácgiới Họ cũng muốn có những gia đình cho riêng mình Nhưng rất nhiều lý donhư: Tự ti về bản thân, không biết cách thể hiện tình cảm, và do vậy rất nhiềungười đã không tìm được người phù hợp với mình, sợ bị chê cười,…nên Ngườikhuyết tật vận động thường che giấu tình cảm thật của mình

Thực tế cho thấy, hiện nay một số nhu cầu bậc cao của Người khuyếttật vận động ít có cơ hội để hiện thực hóa (VD: NKT gặp nhiều khó khăntrong việc học tập, tìm kiếm việc làm, tiếp cận các dịch vụ xã hội,…) Ngườikhuyết tật vận động rất cần sự trợ giúp phù hợp từ phía gia đình, cộng đồng,

xã hội để họ có thêm cơ hội đáp ứng các nhu cầu, để có cuộc sống bìnhthường, được phát triền và hòa nhập Ở trường Hoa Sữa NKT nói chung,Người khuyết tật vận động nói riêng đã được tạo điều kiện để được đáp ứngcác nhu cầu này, được học nghề và có cơ hội việc làm phù hợp với bản thân

Học nghề và có việc làm sẽ là cầu nối giúp người khuyết tật vận độngđến gần hơn tới cộng đồng, thông qua đó giúp người khuyết tật vận động cócảm giác được thuộc về một nhóm nào đó, giúp họ găn kết với cộng đồng,không bị tách biệt với cộng đồng bởi những mặc cảm, tự ti Người khuyết tậtvận động là những người có những khiếm khuyết về cơ quan vận động, nhưng

có trí tuệ như những người bình thường, luôn có ám ảnh bị mọi người xa lánh,

kì thị, bị coi là người thừa trong xã hội, không giúp ích được cho cuôc sống,

Trang 32

thì khi có sự tương tác với các thành viên trong xã hội,có được cảm giác tôntrọng, được xã hội tin tưởng, tạo cơ hội về việc làm để kiếm ra thu nhập, họ sẽ

có cảm giác gắn kết với cộng đồng và sống có ích hơn Vận dụng quan điểmcủa Maslow, chúng ta có thể tin rằng, việc đào tạo nghề và giúp Người khuyếttật vận động có việc làm phù hợp sẽ là con đường ngắn nhất giúp Ngườikhuyết tật vận động hòa nhập cộng đồng, khẳng định được giá trị bản thân vàđược khẳng định chính mình như những người bình thường khác Cũng từ đó,

họ có thể tự đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất là sau khi ra trường, có thunhập và tự trang trải được cho cuộc sống bản thân

mà phụ thuộc vào hệ thống trong xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu trực tiếp củamình trong cuộc sống

Các quan điểm hệ thống trong công tác xã hội có nguồn gốc tư lýthuyết hệ thống tổng quát của Bertalanfy Sau này lý thuyết hệ thống được cácnhà khoa học khác nghiên cứu: Hanson, Mancosco, phát triển

Tiểu hệ thống là các hệ thống thứ cấp hoặc hệ thống hỗ trợ Các tiểu

hệ thống gắn kết và tương tác với nhau tạo nên hệ thống lớn hơn Có 3 loại hệthống thỏa mãn cuộc sống của con người là:

Hệ thống chính thức: Từ các tổ chức xã hội, nghiệp đoàn xã hội mà cánhân là thành viên trong đó; hỗ trợ các nguồn lực trực tiếp cho các cá nhânhoặc nhóm xã hội giúp họ có được các cách thức tồn tại cùng với các hệ thống

xã hội khác nhau

Trang 33

Hệ thống phi chính thức: Bao gồm bạn bè, gia đình, hàng xóm, đồngnghiệp, tinh thần, lời khuyên bảo, thông tin, các nguồn lực và hoạt động trợgiúp cụ thể.

Hệ thống xã hội: Các hoạt động xã hội, các chương trình hoạt độngtình nguyện, các phong trào xã hội; các tổ chức nhân đạo từ thiện hỗ trợ nhậncon nuôi, các chương trình đào tạo nghề; các dịch vụ pháp lý; Các bệnh viện,trường học, các cơ sở việc làm, trung tâm phúc lợi

Lý thuyết hệ thống đã chỉ ra các mối liên kết tất yếu trong mạng xã hộigiữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với nhóm và ngược lại Trong công tác

xã hội, chúng ta không thể không chú ý tới sự ảnh hưởng qua lại đó Việc tạodựng và phát huy những tiềm năng và sức mạnh của hệ thống sẽ tạo nênnhững lợi thế trong thực hành CTXH

Vấn đề của Người khuyết tật vận động là ở chỗ họ đã không sử dụngđược hệ thống một cách hiệu quả có thể bởi 1 số lý do: Hệ thống nguồn lực đãtồn tại không đầy đủ trong họ, Người khuyết tật vận động không biết cách sửdụng nguồn lực ra sao Trong trường hợp này, NVXH cần đóng vai trò trongviệc giúp Người khuyết tật vận động tăng cường khả năng của bản thân và tựgiải quyết vấn đề của mình, xây dựng mối quan hệ giữa các cá nhân Ngườikhuyết tật vận động với các hệ thống nguồn lực, giúp cải thiện mối tương tácgiữa cá nhân trong các hệ thống nguồn lực, giúp đỡ phát triển Ap dụng thuyết

hệ thống vào việc trợ giúp Người khuyết tật vận động trong đào tạo nghề tạitrường TC KT-DL Hoa Sữa chúng ta có thể thấy, trường đã và đang làm rấttốt việc kết nối nguồn lực nhằm hỗ trợ tốt nhất đến Người khuyết tật vậnđộng Nguồn lực ở đây trước hết là sự huy động, sự hảo tâm và hợp tác từ các

tổ chức trong và ngoài nước trong việc hỗ trợ cơ sở vật chất, trang thiết bịhiện đại, tài chính và cử cán bộ đến trường để đào tạo nâng cao tay nghề choNgười khuyết tật vận động Ngoài ra các tổ chức còn có sự ủng hộ nhất địnhtrong việc tiếp nhận những Người khuyết tật vận động của nhà trường vào

Trang 34

làm việc tại đơn vị của mình Hiện nay nhà trường có sự cam kết 100% ngườikhuyết tật của trường, sau khi tốt nghiệp được giới thiệu việc làm Bên cạnh

đó, vận dụng lý thuyết hệ thống, chúng ta có thể thấy, trong quá trình học tạitrường NVXH phát huy vai trò trong việc vận động, thúc đẩy các nguồn lựcsẵn có của trường như là cố gắng tổ chức các buối ngoại khóa vào dịp lễ, tết

và các buổi ngoại khóa nhằm cung cấp kiến thức về SKSS, tệ nạn xã hội, cho Người khuyết tật vận động Như vậy sẽ giúp đỡ Người khuyết tật vậnđộng tốt hơn

1.3 Các yếu tố ản ưởng tới vấn đề đào tạo nghề c o người khuyết tật vận động

1.3.1 Bối cảnh Kinh tế - Xã hội và nhu cầu đào tạo nghề cho người khuyết tật vận động

Theo dự báo lao động, đến năm 2020 Việt Nam đạt con số gần 63 triệulực lượng lao động Trong đó, Nông nghiệp chiếm 35-38%; Công nghiệp -xây dựng chiếm 31%; dịch vụ chiếm 27-29% Ước tính tại thời điểm đấy,nhân lực qua đào tạo của Việt Nam khoảng 44 triệu người, và nguồn nhân lựcđược đào tạo qua hệ thống dạy nghề khoảng 34,4 triệu người

Người khuyết tật ở nước ta, theo thống kê đến năm 2014 là 7 triệungười, chiếm 7,8% dân số Tuy nhiên theo các nghiên cứu dự báo gần đây đếnnăm 2020, số người khuyết tật có thể sẽ chiếm khoảng 10% dân số cả nước.Như vậy, số lượng NKT đang có xu hướng tăng lên trong tương lai Mục tiêucủa Quốc gia, tới năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệptheo hướng hiện đại {17} Trong đó, số lượng người khuyết tật vận động dựtính sẽ tăng cao và chiếm tỷ lệ nhiều nhất trong các dạng người khuyết tật

Với tỷ lệ cao như trên trong cơ cấu dân số, NKT không thể khôngđược tính đến như là một nguồn lực lao động quan trọng Chúng ta đều biếtphát triển nhân lực được xem như là 1 trong 3 giải pháp đột phá của chiếnlược phát triển Quốc gia năm 2011-2020 Trong bối cảnh đó, có thể nói rằngdạy nghề và song song với nó là chất lượng dạy nghề có vị trí đặc biệt, góp

Trang 35

phần quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh nguồn nhân lực vàphát triển kinh tế - xã hội Một đối tượng cũng được đặc biệt quan tâm trongchiến lược nhằm phát triển dạy nghề là nhóm đối tượng yếu thế, trong đó cóNKT Trước bối cảnh hội nhập kinh tế của đất nước cùng các Quốc gia trongkhu vực và Quốc tế, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách, chế độ quantâm đặc biệt tới nhóm những người khuyết tật, phát huy vị thế và vai trò của

họ nhằm phát triển hài hòa và tạo sự bình đẳng trong xã hội

Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy, NKT nói chung và Người khuyếttật vận động nói riêng cũng giống như những người bình thường khác trong xãhội, họ cũng có những nhu cầu cơ bản để phát triển, khẳng định bản thân Họmong muốn được hỗ trợ để có thể học tập, làm việc, kết hôn và được xã hội ghinhận Nếu nhu cầu của Người khuyết tật vận động là rất lớn và đa dạng, thì cóthể coi vấn đề đào tạo nghề và tạo việc làm lại là nhu cầu cấp bách nhất đối vớiNgười khuyết tật vận động Việc được đào tạo nghề và tạo việc làm sẽ giúp choNgười khuyết tật vận động đến gần hơn với cộng đồng, được gặp gỡ, kết nối vớicộng đồng, và hơn hết giúp họ sống độc lập, tự tin hơn trong cuộc sống

Đứng trước thực trạng, đặc biệt là Người khuyết tật vận động đang giatăng, nhằm ngày càng đảm bảo sự bình đẳng, công bẳng trong xã hội, trongnhững năm gần đây Đảng và Nhà nước đã và đang ngày càng quan tâm nhiềuhơn tới vấn đề ĐTN cho NKT nói chung và Người khuyết tật vận động nóiriêng

1.3.2 Quan điểm của Đảng và nhà nước về ĐTN cho NKT

Trong những năm gần đây, Đảng và nhà nước ta đã dành nhiều sựquan tâm tới nhóm những người yếu thế trong xã hội, đặc biệt là NKT Vìvậy, ngày 18/04 hàng năm đã được chọn là ngày NKT Việt Nam, cùng vớingày quốc tế NKT là 03/12 Trong bối cảnh đó, nhiều văn bản quy phạm phápluật đã được nhà nước ta ban hành nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa NKT trên mọi mặt của đời sống Giai đoạn 2011-2015 được đánh giá là

Trang 36

giai đoạn tập trung thể chế hóa về luật pháp và chính sách đối với NKT Saukhi Luật Người khuyết tật được ban hành, đến nay, hệ thống Luật pháp vàchính sách về người khuyết tật có thể được xem như là đã tương đối đầy đủ,thống nhất và toàn diện, với 01 Luật chuyên ngành (Luật Người khuyết tật),nhiều Luật có nội dung lồng ghép, 05 Nghị định, 16 Thông tư, 10 Quyết địnhcủa Thủ tướng Chính phủ.{18}

Ngày 30/03/2007, công ước Quốc tế về quyền của NKT cũng đã đượcphê chuẩn Ngày 22/10/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành một trongnhững nước thành viên cam kết bảo đảm quyền cho NKT khi tham gia ký vàocông ước nói trên Việc tham gia ký kết Công ước Quốc tế, đã làm thay đổikhông chỉ về lượng mà còn về chất trong nhận thức và hành vi của nhiều tổchức và cá nhân về NKT Chính phủ Việt Nam đã thông qua và thực thi cóhiệu quả nhiều luật và chính sách, trong đó có các quyền lợi dành cho NKT,đặc biệt là Quyền lợi được học nghề và có việc làm ổn định Về phương diệnnày, chúng ta có thể kể tới một số văn bản chủ yếu sau:

Đầu tiên phải kể tới Luật NKT, Luật Người khuyết tật được Quốc hộinước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7, thông quangày 17 tháng 6 năm 2010; Chính thức có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm

2011 Việc thông qua luật là một bước tiến lớn so với Pháp Lệnh người tàntật, đặc biệt là việc thừa nhận quyền của người khuyết tật Luật gồm 10chương, 53 điều quy định quyền và nghĩa vụ của NKT; trách nhiệm của Nhànước, gia đình và xã hội đối với NKT Điểm mới của luật là đã tăng cường bổsung vai trò của các hoạt động CTXH đối với công tác Xã hội hóa hoạt độngtrợ giúp NKT trong nhiều khía cạnh Luật cũng nhấn mạnh tới việc dạy nghề

và vấn đề việc làm cho NKT Luật cũng quy đinh khá chi tiết về vấn đề nàytại điều 32 và 33

Luật dạy nghề năm 2006 tại điều 7 cũng có những quy định về việc hỗtrợ học nghề để tìm việc làm, tự tạo việc làm đối với một số nhóm đối tượngđặc biệt Trong đó có đề cập tới người khuyết tật

Trang 37

Trong chiến lược phát triển dạy nghề năm 2011-2020, được ThủTướng Chính Phủ phê duyệt số 630/QĐ-Ttg ngày 29/05/2012, nhiều chínhsách, và biện pháp thực thi một cách hiệu quả việc hỗ trợ dạy nghề cho NKT

đã được khẳng định rõ Một số giải pháp nhằm thực hiện đổi mới cơ bản,mạnh mẽ về dạy nghề, tạo động lực phát triển dạy nghề cho NKt cũng đãđược nêu cụ thể

Ngày 06/10/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết Định thành lập

Ủy ban Quốc Gia về NKT Việt Nam, QĐ số: 1717/QĐ-Ttg Việc thành lập

Ủy ban đã tạo điều kiện và mở ra cơ hội để NKT phát huy được quyền củamình Phát biểu tại buổi Lễ ra mắt Ủy ban Quốc Gia về NKT Việt Nam chiều

ngyà 18/01/2016, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã nêu rõ:” Việt Nam đã có nhiều chính sách, hoạt động chăm sóc, hỗ trợ người khuyết tật, đặc biệt là những nạn nhân chiến tranh Việc tạo điều kiện cho người khuyết tật là trách nhiệm của mỗi người và toàn xã hội”.

Có thể nói rằng, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm chú trọng tới côngtác đào tạo nghề cho NKT Bên cạnh việc thúc đấy NKT tham gia học nghề,nhà nước còn mạnh dạn đổi mới những chính sách, ưu đãi đối với các cơ sởĐTN cho những đối tượng yếu thế trong đó có NKT Tuy nhiên, trên thực tếcông tác đào tạo nghề cho NKT vẫn còn một số điểm chưa toàn diện, hợp lý.Nhà nước chỉ rót vốn, đầu tư CSVC, học phí, học bổng cho khu vực cáctrường công Vì vậy, đây là một vấn đề còn hết sức khó khăn với những môhình tư thục như Hoa Sữa

1.3.3 Phương thức tổ chức đào tạo nghề

Phương thức tổ chức đào tạo nghề là yếu tố tác động không nhỏ tới vấn

đề đào tạo nghề cho người khuyết tật vận động Trên thực tế, một số nhân tốchủ quan như: trình độ giáo viên dạy nghê, trình độ chuyên môn của NVXH;các đặc điểm xuất phát từ phía bản thân người khuyết tật là những mặt quantrọng ảnh hưởng tới vấn đề đào tạo nghề cho người khuyết tật vận động

Trang 38

Giáo viên dạy nghề phải là người có trình độ, khả năng, kỹ năng giảngdạy, có kiến thức về nghề để truyền đạt cho học sinh; bên cạnh đó, đối tượngngười khuyết tật vận động là nhóm đối tượng đặc biệt, dễ bị tổn thương vềmặt tâm lý Do vây, giáo viên dạy nghề phải là người có tâm huyết với nghề,

có đạo đức nghề nghiệp Dạy nghề cho Người khuyết tật vận động không chỉđơn thuần là trao cho họ cơ hội được học nghề, mà còn giúp họ tạo lập được

sự tự tin, có được sự gắn kết với cộng đồng Để thực hiện được điều này, giáoviên dạy nghề cho người khuyết tật, đồng thời cũng phải là những người cóchuyên môn về công tác xã hội Họ cần có khả năng hiểu biết về tâm lý, sựtinh tế trong giao tiếp, sự sâu sắc trong các hoạt động tham vẫn, hỗ trợ ngườikhuyết tật

NVXH cũng cần phải có vai trò không nhỏ trong các hoạt động hướngnghiệp, giáo dục, kết nối nguồn lực Vì vậy, ngoài lĩnh vực chuyên môn vềnghề nghiệp NVXH cũng rất cần những người có kiến thức sâu rộng về mọimặt của xã hội Trong quá trình làm việc, hỗ trợ người khuyết tật vận động,nhân viên xã hội không chỉ cần hiểu được đặc điểm tâm-sinh lý của đối tượng

mà còn phải biết được tình hình xã hội, những khó khăn thuận lợi mà ngườikhuyết tật vận động sẽ gặp phải khi hòa nhập với cuộc sống bên ngoài để đinhhướng những người khuyết tật vận động khi ra trường Người khuyết tật vậnđộng thường mặc cảm, tự ti, dễ xúc động,…nên khi làm việc với nhóm đốitượng này, nhân viên xã hội cần phải có sự đồng cảm, lắng nghe tích cực.Trong quá trình tham vấn nhằm hỗ trợ đối tượng, NVXH cũng cần tìm hiểu rõnhu cầu, tâm tư, tình cảm cũng như hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh sống Khilàm việc với nhóm đối tượng này, nhân viên xã hội cũng cần nắm rõ về luậtngười khuyết tật, một số nội dung trong luật giáo dục, luật việc làm liên quantới người khuyết tật… dựa trên đó giúp cho Người khuyết tật vận động bảo vệđược quyền và lợi ích của mình

Trang 39

Trình độ chuyên môn NVXH ảnh hưởng tới hoạt động dạy nghề Khi

có trình độ chuyên môn cao, NVXH sẽ thực hiện tốt những nhiệm vụ củamình như tham vấn cho đối tượng khi có nhu cầu, kết nối các nguồn lực vàhơn hết NVXH sẽ là người định hướng nghề nghiệp cho Người khuyết tật vậnđộng Còn nếu trình độ chuyên môn của NVXH không cao, họ cũng sẽ cónhững ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động đào tạo nghề và tới các đối tượng.Điều đó có thể khiến các đối tượng khuyết tật vận động chưa tin tưởng, tâm lý

có nhiều xáo trộn gây ảnh hưởng tới quá trình học tập

Bản thân người khuyết tật vận động cũng là yếu tố quan trọng cần đượcnhắc tới Nếu như người khuyết tật vận động không sẵn sàng, không có nhucầu với những sự trợ giúp thì nhân viên xã hội cũng không thể can thiệp Vìvậy muốn hoạt động dạy nghề được diễn ra một cách suôn sẻ, thì trước hếtphải quan tâm tới nhu cầu của Người khuyết tật vận động có muốn được trợgiúp hay không và khả năng của họ tới đâu, họ có thể làm gì để phù hợp vớibản thân

Ngoài các yếu tố trên, một số yếu tố khách quan khác cũng rất quantrọng như: kinh phí duy trì hoạt động, các nguồn lực cũng như nhận thức củagia đình, cộng đồng

Trang 40

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TẠI TRƯỜNG TRUNG CẤP DL KT-DL

HOA SỮA 2.1 K á quát c ung về sự r đờ củ trường Trung cấp KT-DL Ho Sữ

2.1.1 Tóm tắt lịch sử hình thành và phát triển

1994 – 1995: Ý tưởng thành lập và nền móng đầu tiên

Trường Hoa Sữa thành lập vào năm 1994 với tên gọi “trường Nữcông Tư thục Hoa Sữa” và 23 học sinh Sáu giáo viên nữ về hưu (bà PhạmThị Vy, bà Đoàn Khuê, bà Phạm Kim Ánh, bà Nguyễn Xuân Trinh, bà PhanTuyết Lan, bà Trương Bảo Lan) đã chọn “dạy nghề từ thiện cho thanh niênkhó khăn làm mục đích hoạt động trước những trăn trở về một cơ hội thayđổi cuộc sống cho những người thiệt thòi và bất hạnh Dự án đầu tiên với HộiNhà thuyền và Hội Nhà giáo không Biên giới Pháp năm 1995 triển khaichương trình đào tạo nghề Nấu ăn Âu, Bánh mỳ - Bánh ngọt và Phục vụ Bàn

1996 – 1998: Di chuyển địa điểm và hoạch định hoạt động

Từ 6C Phan Chu Trinh, trường di chuyển khu đào tạo tới 449 BạchMai và nhà hàng thực hành tới 81 Thợ Nhuộm Trường bắt đầu ký thoả thuậnhợp tác với Chương trình Hỗ trợ phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) và Tổchức Công giáo Chống Đói nghèo và vì sự Phát triển (CCFD- Pháp) tăngcường năng lực đào tạo nghề và tìm việc làm cho thanh niên khó khăn.Những thành công bước đầu chứng tỏ hướng đi đúng đắn cho Hoa Sữa, giúptrường tạo dựng được uy tín trong xã hội Sự ra đời của nghề đào tạo May -Thêu cho đối tượng thanh niên khuyết tật là bước tiếp nối hoạt động xã hội

mà Hoa Sữa luôn theo đuổi

1999 – 2001: Hoàn thiện cơ sở vật chất

Hoa Sữa được Nhà nước cấp 2000m2 đất tại Lĩnh Nam, Thanh Trì,

Hà Nội Trường xây dựng khu nội trú do Quỹ Phát triển VHXH, ĐSQ Tây Ban Nha và khu đào tạo thực hành nghề nhà hàng, khách sạn do tổ chức CCFD và Bộ Ngoại giao Pháp tài trợ

Ngày đăng: 27/10/2020, 21:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w