Chẳng hạn: Ở nước ngoài: Do vị trí chiến lược quan trọng và tính chất phức tạp của vấn đề bán đảo Triều Tiên nói chung, cũng như sự hấp dẫn của Hàn Quốc về những kỳ tích phát triển trong
Trang 1Nguyễn Văn Dương
Quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc từ năm 1952 đến nay
Thạc sĩ Quốc tế học: 60.31.40
Người hướng dẫn TS: Nguyễn Thị Quế
1
Trang 2MỞ ĐẦU1.Tính cấp thiết của đề tài
Quan hệ hợp tác để phát triển là xu thế hiện nay của thế giới, cũng lànhu cầu hợp tác của mỗi quốc gia Ngày nay, không một quốc gia nào muốnphát triển thịnh vượng mà lại “đóng kín cửa” Các nền kinh tế (dù ở trình độnào) đều phải hợp tác với nhau để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm và hỗ trợnhau Phát triển mối quan hệ hợp tác giữa các nước, các tổ chức quốc tế đã trởthành mối quan tâm của nhân loại Mối quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc, vừa làmột biểu hiện vừa là phản ánh của tình hình trên đây
Hàn Quốc với hai thập niên (70 - 80) phát triển nhanh, mạnh và bướcsang thập niên 90 của thế kỷ XX, đã trở thành một nước công nghiệp hóa mới(NIC), „„một con Rồng Châu Á‟‟ Hàn Quốc có vị thế chính trị, tiềm lực kinh
tế, khoa học kỹ thuật ngày càng tăng Thời kỳ sau chiến tranh lạnh, trước xuthế phát triển của thế giới lấy kinh tế làm trung tâm và xu thế toàn cầu hoá,Hàn Quốc bắt đầu nhận thấy Việt Nam có một tiềm năng hợp tác to lớn trongnhiều lĩnh vực Bởi vậy Hàn Quốc đã tích cực đẩy mạnh mối quan hệ nhiềumặt với Việt Nam, hy vọng sẽ có một chỗ đứng tương xứng với tiềm năng củamình ở Đông Á và cân bằng với sự có mặt của các nền kinh tế trong khu vựcnày Trong tầm nhìn của Hàn Quốc, Việt Nam là thị trường mới mẻ hấp dẫn,dân số hơn 80 triệu, lực lượng lao động dồi dào, có học thức, đất nước đangchuyển mình trong quá trình đổi mới, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Rõràng, đối với Hàn Quốc, đây là một thị trường đầu tư, một địa chỉ hợp tác đầyhứa hẹn Tổng thống Kim Tê Chung khẳng định: “Việt Nam là đối tác ưu tiênhàng đầu của Hàn Quốc trong các nước đang phát triển‟‟ [1, tr7] Với sự hiểubiết đó, Hàn Quốc đã cùng Việt Nam có những bước đi chắc chắn trong quátrình hợp tác
Về phía Việt Nam, Đảng và nhà nước ta đã đưa ra quan điểm: sẵn sàng làbạn với tất cả các nước trong cộng đồng Quốc tế và sẵn sàng hợp tác với cácquốc gia, các tổ chức quốc tế và khu vực vì sự thịnh vượng chung của nhân dân
Trang 3Việt Nam và nhân dân các nước Với Hàn Quốc, Việt Nam đã có những nỗ lực tolớn để đẩy mạnh hợp tác nhiều mặt Việt Nam khắc phục khó khăn, từng bướcgạt mọi trở ngại để cho mối quan hệ giữa hai bên ngày càng có hiệu quả.
Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc diễn ra trong một thời gian chưa dài,nhưng đã có những thành tựu đáng khích lệ, triển vọng đầy hứa hẹn Do vậy,việc nghiên cứu sự vận động, những biến chuyển của quan hệ Việt Nam - HànQuốc từ sau chiến tranh lạnh đến nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp báchđối với sự nghiệp cách mạng nước ta, đồng thời đây cũng là một đóng gópnhất định đối với việc nghiên cứu về quan hệ của Việt Nam với các nước trênthế giới hiện nay
Xuất phát từ những nhận thức trên đây, tác giả chọn đề tài “Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc từ năm 1992 đến nay” để viết luận văn thạc sĩ ngành
quốc tế học
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đề tài quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc cũng luôn được sự quan tâmnghiên cứu với qui mô và mức độ khác nhau Có rất nhiều công trình, bài viếttrong và ngoài nước đề cập đến nhiều lĩnh vực hợp tác trong quan hệ giữa hainước Chẳng hạn:
Ở nước ngoài: Do vị trí chiến lược quan trọng và tính chất phức tạp
của vấn đề bán đảo Triều Tiên nói chung, cũng như sự hấp dẫn của Hàn Quốc
về những kỳ tích phát triển trong nhiều thập niên, nên nhiều nhà nghiên cứutrên thế giới và cả ở Hàn Quốc đó cú nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu về tỡnhhỡnh bỏn đảo Triều Tiên và các chiến lược, chính sách phát triển của HànQuốc trên các lĩnh vực, trước hết là đối ngoại Có thể kể đến một số công
trỡnh như: South Korea's Foreign Policy and Future Security: Implications of
the Nuclear Standoff (Chính sách đối ngoại của Hàn Quốc và nền an ninh tương lai: hàm ý của chính sách phi hạt nhân hóa), của Mel Gurtov, Pacific
Affairs, Spring 1996, Vol 69, No 1; South Korea's Foreign Policy in the
Post-Cold War Era: A Middle Power Perspective (Chính sách đối ngoại của
Trang 4Hàn Quốc kỷ nguyên hậu chiến tranh lạnh: Triển vọng của một cường quốc tầm trung), của Dlynn Faith Armstrong, Miami University, 1997; South
Korean Foreign Relations Face the Globalization Challenges (Quan hệ đối ngoại Hàn Quốc đang đối mặt với những thách thức của toàn cầu hoá), của
Samuel Kim, ed., in Korea's Globalization, Cambridge University Press, UK,
2000); Korea 2010: The Challenges of the NewMillenium (Những thỏch thức
của thiờn niờn kỷ mới), của Paul Chamberlain, Washington DC, CSIS Press,
2001; The New U.S Administration’s Korea Policy and Its Impact on the
Inter-Korean Relations (Chính sách Triều Tiên của chính quyền mới của Mỹ
và ảnh hưởng của nó đến quan hệ liên Triều), của Chung Ok-nim, East Asian
Review, Vol.13, No.1, Spring 2001; Changes in Inter-Korean Relations: The
Vicissitudes of Politics (Những thay đổi trong quan hệ liên Triều: Những thăng trầm của chính trị), của Kim Kyung-woong, East Asian Review, Vol.13,
No.4, Winter 2001; Bush Policy Undermines Progress on Korean Peninsula
(Chớnh sỏch của Bush làm xúi mũn tiến trỡnh hoà bỡnh trờn bỏn đảo Triều Tiờn), của Effer John, Foreign Policy in Focus, Vol.7, No.2, March 2002; Korea and the U.S.: Partnership under Stress, (Triều Tiên và Mỹ: quan hệ đang căng thẳng), của Oberdorfer Don, The Korea Society Quarterly, Vol.3,
No.2&3, Summer 2002; Korean Nationalism, Anti-Americanism, and
Democratic Consolidation (Chủ nghĩa dõn tộc, chủ nghĩa chống Mỹ và củng
cố dõn chủ ở Triều Tiờn), của Samuel S Kim, ed & Katharine Moon, in
Korea‟s Democratization, Cambridge University Press, New York, 2003;
Anti-Americanism in South Korea and the future of US presence (Tõm lý chống Mỹ ở Hàn Quốc và tương lai sự hiện diện của Hoa Kỳ), của Jefferey S.
Robertson, Journal of International and Area Studies, Vol 9, No.2, 2002;
Democratization in South Korea and Inter-Korean Relations (Dõn chủ hoỏ ở Hàn Quốc và quan hệ liờn Triều), của Chien-Peng Chung, Pacific Affairs,Vol 76, 2003; Pride and Prejudice in South Korea's Foreign Policy (Niềm kiờu hónh và thành kiến trong chớnh sỏch đối ngoại
Trang 5của Hàn Quốc), của Koen De Ceuster, The Copenhagen Journal of Asian
Studies, Vol 21, 2005; Korea as Northeast Asian Business Hub: Vision and
Tasks (Triều Tiờn với vai trũ trung tâm thương mại ở Đông Bắc Á: Tầm nhỡn
và nhiệm vụ), của Lee Chang-jae, Korea Institute for International Economic
Policy monograph, 2005; South Korea’s Foreign Policy: National Division and Its implications for US-ROK Alliance (Chính sách đối ngoại của Hàn Quốc: sự chia rẽ dân tộc và quan hệ của nó với liên minh Mỹ – Hàn Quốc),
của Choo Yong-shik, San Diego, California, USA, Mar 22, 2006, Earth to
Bush: Iraq Isn’t South Korea (Trái đất với Bush: Iraq không phải là Hàn Quốc, của Anne Miller and Kevin Martin, Foreign Policy In Focus,
http://www.fpif.org/fpiftxt/4354; What is South Korea real intentions in the nuclear crisic on Korean Peninsula? (Đâu là ý đồ thực của Hàn Quốc trong cuộc khủng hoảng hạt nhõn Triều Tiờn ?, của Jongryn Mo, Policy Review,
No 4-5/2007 v.v
Tuy nhiờn, cỏc cụng trỡnh này thường được xem xét dưới lăng kính lợiích quốc gia - dân tộc, cũng như quan điểm, thái độ của người nghiên cứu,nên phần nào mang tính hạn chế trong việc đánh giá thực chất chính sách đốingoại của Hàn Quốc và những tác động của nó đối với quan hệ quốc tế ở khuvực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam
Ở Việt Nam, bước đầu đó cú một số cụng trỡnh nghiờn cứu về quan hệ
quốc tế ở Đông Bắc Á; chính sách và quan hệ của một số nước lớn đối vớibán đảo Triều Tiên, trong đó có Hàn Quốc; quan hệ đối ngoại của Hàn Quốc
v.v như: Bán đảo Triều Tiên trong quan hệ quốc tế ở Đông Bắc Á sau chiến
tranh lạnh, của Nguyễn Văn Lịch, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản, số 3
(27)/2000; Cỏc biện phỏp kinh tế chủ yếu của chớnh phủ Hàn Quốc cho quỏ
trỡnh thống nhất bỏn đảo Triều Tiên, của Vừ Hải Thanh, Tạp chớ Nghiờn cứu
Nhật Bản, số 5 (29)/2000; Quan hệ hợp tác kinh tế của Hàn Quốc với các
nước trong khu vực Đông Bắc Á: Tỡnh hỡnh và triển vọng, của Vừ Hải
Thanh, Tạp chớ Nghiờn cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 5 (59)/2005; Một
Trang 6số nét về quan hệ ngoại thương Nhật Bản - Hàn Quốc, của Nguyễn Thanh
Bỡnh, Tạp chớ Nghiờn cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 1 (61)/2006; Quan
hệ Liờn bang Nga – bán đảo Triều Tiên sau chiến tranh lạnh, của Trần Hiệp,
Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 1 (61)/2006; FTA Hàn
Quốc – ASEAN: Cuộc đua “cùng thắng”, của Hướng Đông, Tạp chí Nghiên
cứu Đông Bắc Á, số 3 (63)/2006; Hợp tỏc kỹ thuật quõn sự giữa Nga và Hàn
Quốc, của Phạm Quỳnh Hương, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 3
(63)/2006
Ngoài ra, trong một số cụng trình nghiên cứu về đất nước, con người và
quá trình phát triển đất nước của Hàn Quốc như: Hàn Quốc trên đường phát
triển, của Ngụ Xuõn Bỡnh – Phạm Quý Long, Nxb Thống kờ, Hà Nội 2000;
Về chiến lược phát triển quốc gia và cải cách nền hành chính của Hàn Quốc hiện nay, của Trần Anh Phương, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc
Á, số 4/2001; Kinh tế Hàn Quốc đang trỗi dậy, của Byung Nak-song, Nxb Thống kờ, Hà Nội 2002; Hàn Quốc cõu chuyện kinh tế về một con rồng, của Hoa Hữu Lõn, Nxb CTQG, Hà Nội 2003; Hàn Quốc - Đất nước và con người,
Phũng Thụng tin ĐSQ Hàn Quốc tại Việt Nam, xuất bản năm 2007
cũng trỡnh bày ở cỏc mức độ khác nhau chính sách đối ngoại của Hàn Quốcnói chung và từ sau chiến tranh lạnh đến nay nói riêng Cỏc cụng trỡnhnghiờn cứu về Hàn Quốc của cỏc nhà nghiờn cứu Việt Nam nêu trên tập trungvào lĩnh vực kinh tế là chủ yếu
Quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc cũng là đề tài được quan tâm nghiêncứu Nhiều công trỡnh, ấn phẩm về vấn đề này đó được xuất bản Ví dụ như:
Nhỡn lại quan hệ kinh tế Việt - Hàn (1992-2001), của Hoàng Văn Hiển - Ngô
Văn Phúc, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 1(37)/2002;
Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc: Một thập niên phát triển đầy ý nghĩa, của Hà
Hồng Hải, Tạp chớ Nghiờn cứu quốc tế, số 50/2002; Nhìn lại 10 năm (1992
-2002) quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc, của Nguyễn Cảnh Huệ - Nguyễn Trinh
Nghiệu, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2/2003; Quan hệ Việt Nam
Trang 7-Hàn Quốc: Điểm qua những con số và sự kiện quan trọng, của Ngô Minh
Thanh, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 6(54)/2004; Quan
hệ Việt Nam – Hàn Quốc: Thực trạng và triển vọng, của Nguyễn Hữu Cỏt,
Tạp chớ Cộng sản số 12/2005; Tạp chớ lý luận chớnh trị, số 11/2007; 15 năm
quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam – Hàn Quốc, của Vũ Tuyết Loan, Tạp chí
Cộng sản điện tử, số 11/2007; Bước phát triển mới trong quan hệ Việt Nam
-Hàn Quốc, của Nguyễn Thị Quế, Tạp chí giáo dục lý luận, số 11/2007
Cùng với đó là các bài tham luận được trỡnh bày trong Hội thảo nhõn dịp kỷniệm 10 năm thiết lập Việt Nam - Hàn Quốc tại Học viện Quan hệ quốc tế (Bộ
Ngoại giao) vào tháng 12/2002 như: Quan hệ kinh tế thương mại, đầu tư Việt
Nam – Hàn Quốc (1992-2002): Thực trạng và triển vọng của Ngụ Thị Trinh; Hợp tỏc khoa học và cụng nghệ Việt Nam - Hàn Quốc: Kết quả và triển vọng
của Lờ Dũng; Đào tạo và nghiên cứu Korea học ở Việt Nam của Trần Ngọc Thờm; Hợp tác song phương Việt - Hàn về giáo dục, văn hóa từ sau khi thiết
lập quan hệ ngoại giao của Trần Kim Lan v.v Nhỡn chung, cỏc cụng trỡnh
và bài viết đó phản ỏnh sự vận động của quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc từđầu thập niên 90 (thế kỷ XX) đến nay trên nhiều lĩnh vực như: Quan hệ vềchớnh trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa giáo dục đào tạo, y tế giữa hainước
Xét một cách tổng quát, tất cả những cụng trình nghiên cứu ở trên chủ yếutập trung vào vấn đề kinh tế, chính trị hoặc văn hoá trong quan hệ Việt Nam -Hàn Quốc Kết quả của các công trình khoa học liên quan đến vấn đề này lànguồn tư liệu vô cùng quan trọng và cần thiết, có thể khai thác, kế thừa và tham
khảo cho việc triển khai và thực hiện đề tài “ Quan hệ Việt Nam - Hàn
Quốc từ 1992 đến nay”
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Trên cơ sở những dữ kiện, văn kiện, tài liệu chính thức được công bố
về quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá
Trang 8khoa học kỹ thuật, giáo dục đào tạo, và những hiệp định song phương chínhgiữa hai nước luận văn đi sâu nghiên cứu làm rõ thực trạng mối quan hệ này
từ 1992 đến nay; dự báo triển vọng của quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc đếnnăm 2020 Đồng thời, nêu một số kiến nghị bước đầu nhằm củng cố và tăngcường hơn nữa quan hệ giữa hai nước
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ chính sau:
Phân tích những nhân tố chủ yếu tác động đến quan hệ Việt Nam Hàn Quốc sau chiến tranh lạnh, bao gồm: Tình hình thế giới và khu vực, kháiquát quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trước khi thiết lập quan hệ ngoại giaochính thức (12/1992), chính sách đối ngoại của Việt Nam và Hàn Quốc sauchiến tranh lạnh có ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ giữa hai nước
Phân tích thực trạng quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trên các lĩnh vực:chính trị - đối ngoại; kinh tế và văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, từ khihai nước thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức từ 12/1992 đến 2008
- Phân tích triển vọng của quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc đến năm 2020
- Đánh giá quan hệ giữa Việt Nam - Hàn Quốc, từ đây nêu một số kiếnnghị nhằm góp phần tăng cường mối quan hệ này hiện nay và những năm sắptới
4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng và triển vọng
của quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc thông qua hợp tác thực tế trên các lĩnh vực:chính trị, kinh tế, văn hoá khoa học kỹ thuật, giáo dục đào tạo, và những hiệpđịnh song phương chính giữa hai nước
- Về thời gian: Trọng tâm nghiên cứu của đề tài luận văn là từ khi Việt
Nam và Hàn Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao từ 12/1992 đến 2008
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản và nhà nước ViệtNam về đường lối và chính sách đối ngoại từ đại hội VI đến Đại hội X
Trang 9-Ngoài ra, luận văn còn sử dụng những văn kiện về chính sách đối ngoại của HànQuốc và những văn bản đã kí kết giữa hai nước được công bố từ đầu những năm
90 đến nay có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài luận văn
Những nguyên lí, phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, hệ thống phương pháp luận sử học Mác xít và quan điểm Mác xít về một số lý thuyết quan hệ quốc tế của các nước phương tây hiện nay (Chủ nghĩa hiện thực về quan hệ quốc tế và lý thuyết về chủ nghĩa thế giới ) là cơ sở hình thành phương pháp nghiên cứu luận văn Tác giả sử dụng phương pháp lịch sử và lôgic là chính kết hợp với các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hoá để nghiên cứu và trình bày nội dung luận văn.
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Trên cơ sở phân tích một cách hệ thống các hoạt động hợp tác trong cáclĩnh vực chính trị, đối ngoại, kinh tế, văn hoá - giáo dục đào tạo, khoa học - kỹthuật từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức đến nay, luận văn làm rõthực chất sự vận động của quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong hơn một thậpniên sau chiến tranh lạnh
Làm rõ triển vọng phát triển của quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc đếnnăm 2020 và nêu một số kiến nghị bước đầu nhằm củng có và tăng cườngquan hệ của nước ta với Hàn Quốc
7 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Thông qua phân tích sự vận động của quan hệ giữa hainước mười sáu năm qua, luận văn khẳng định triển vọng về xây dựng, pháttriển, mối quan hệ hợp tác hữu nghị hai nước theo hướng “Quan hệ đối táctoàn diện trong thế kỷ 21” góp phần vì hoà bình, ổn định, phát triển trong khuvực và trên thế giới
Kết quả nghiên cứu luận văn góp phần làm rõ thêm cơ sở lí luận, củng
cố lập trường tư tưởng, niềm tin khoa học về đường lối, chính sách đối ngoạiđúng đắn của Đảng và nhà nước ta
Trang 10- Về mặt thực tiễn: Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo choviệc nghiên cứu, giảng dạy về quan hệ quốc tế hiện đại, đồng thời có thể gópphần cung cấp cứ liệu cho công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương với 7 tiết
Trang 11Chương 1 QUAN ĐIỂM VÀ NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YẾU TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN
HỆ VIỆT NAM - HÀN QUỐC THỜI KỲ SAU CHIẾN TRANH LẠNH
1.1 QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN QUAN HỆ VIỆT NAM - HÀN QUỐC 1.1.1 Cơ sở quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam - Hàn Quốc
Trong thực tiễn chính trị quốc tế thời kỳ sau chiến tranh lạnh, bên cạnhnhững hình thức quan hệ vốn có trước đây giữa các quốc gia - dân tộc, đã xuấthiện những hình thức mới rất đa dạng về cấp độ và phong phú về nội dung
Nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước lớn thiết lập hình thức “hợp tác
chiến lược ”, “đối thoại chiến lược”, “quan hệ đối tác chiến lược”, hoặc
“quan hệ đối tác toàn diện” nhằm thúc đẩy hợp tác với nhau trên cả phương
diện song phương cũng như đa phương
Được hình thành trên cơ sở các văn kiện ngoại giao nhà nước, thường
là thông qua việc ký các tuyên bố chung của nguyên thủ quốc gia, do đó xét
về hình thức, thì các khuôn khổ quan hệ được xác lập như đã nêu trên có ýnghĩa cơ sở mang tính pháp lý chỉ đạo quan hệ giữa các quốc gia hữu quan.Tuy nhiên, nội hàm của các khái niệm “hợp tác chiến lược”, “đối thoại chiếnlược”, “quan hệ đối tác chiến lược”, “quan hệ đối tác toàn diện ” nhìn chungkhông được xác định một cách chi tiết cụ thể, rõ ràng và thường được tiếp cậnkhông giống nhau đối với từng mối quan hệ nhất định Trên thực tế, do tínhkhông rõ ràng của các khái niệm này và xuất phát từ lợi ích của mỗi quốc giatrong từng giai đoạn cụ thể, cho nên một số khuôn khổ chiến lược được thiếtlập còn mang tính hình thức, mức độ ổn định không cao và có thể chuyển hoásang các trạng thái quan hệ khác nhau
Từ thực tế diễn biến trong quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ giữacác nước lớn nói riêng những năm đầu thế kỷ 21, có thể hiểu các khái niệm
“hợp tác chiến lược”, “đối thoại chiến lược“, “quan hệ đối tác chiến lược”
“quan hệ đối tác toàn diện“ trên một số nét khái quát nhất.
Trang 12Trước hết, “hợp tác chiến lược“ là khái niệm chỉ sự phối hợp hoạt động
giữa hai hay nhiều nước trên cơ sở chia sẻ quan điểm gần gũi về một số cácvấn đề đối ngoại quan trọng nhằm giải quyết những thách thức chung trongcác lĩnh vực chính trị, an ninh và kinh tế có liên quan đến lợi ích chiến lượccủa mỗi nước Quan hệ hợp tác chiến lược có đặc trưng chung ở tính ổn địnhtương đối trong một giai đoạn xác định
Khái niệm “đối thoại chiến lược“ trong quan hệ giữa các nước, xét về quy mô và cấp độ, thấp hơn so với hợp tác chiến lược Đối thoại chiến lược
chỉ sự trao đổi quan điểm của các nước với nhau về những vấn đề có ý nghĩachiến lược trên phạm vi khu vực hoặc toàn cầu nhằm tăng cường hiểu biết lẫnnhau, từ đây có thể đi tới sự phối hợp hành động giải quyết những vấn đề cụthể trong quan hệ song phương hoặc đa phương Tính ổn định của quan hệ đốithoại chiến lược không cao, dễ bị thay đổi do những va chạm, mâu thuẫn vềlợi ích quốc gia Quan hệ Nga - Mỹ những năm vừa qua là một trong nhữngbiểu hiện rõ nét của hình thái quan hệ này
Còn khái niệm “đối tác chiến lược“ chỉ mối quan hệ ổn định lâu dài
giữa hai nước có sự tương đồng trong quan điểm, nhận thức về lợi ích chiếnlược tương hỗ, cũng như trong việc giải quyết đối với các vấn đề quốc tế vàkhu vực quan trọng Dạng thức quan hệ đối tác chiến lược không chỉ kết hợpchặt chẽ trong hợp tác chiến lược mà còn nhấn mạnh tới sự thay đổi về nhữngđiểm chung chiến lược giữa hai bên thành sự hợp tác về an ninh, quốc phòng,tập trận chung và cùng huấn luyện quân sự, sản xuất thiết bị quốc phòng vàtrao đổi công nghệ cao có ý nghĩa chiến lược Theo cách hiểu này, hiện nayquan hệ Nga - Trung, và trên một mức độ nhất định quan hệ Nga - Ấn đangthực sự tiến tới mối quan hệ với đầy đủ ý nghĩa chủ yếu của khái niệm "đốitác chiến lược" [ 23, tr13-14 ]
Khái niệm “Quan hệ đối tác toàn diện“ chỉ mối quan hệ song phương,
cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau, hợp tác phát triển cả về chiều rộng lẫnchiều sâu trong mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học - công
Trang 13nghệ, giáo dục và còn được xây dựng, phát triển và tăng cường bởi sự phốihợp, ủng hộ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ các quan điểm chung thông qua cácdiễn đàn khu vực và quốc tế (đa phương) trên cơ sở tin cậy, hợp tác chặt chẽ,
ổn định lâu dài, bình đẳng, cùng có lợi vì lợi ích của hai bên Quan hệASEAN - Hàn Quốc những năm vừa qua là một trong những biểu hiện rõ nétcủa hình thái quan hệ này
Quan hệ đối tác tác toàn diện trong thế kỷ XXI Việt - Hàn được xác lập
trong bối cảnh cả hai nước đang thực hiện khá thành công cuộc cải cách vàđổi mới trong nước và tích cực mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhậpkinh tế với khu vực và thế giới Sự hình thành quan hệ đối tác toàn diện giữahai nước là một quá trình trên cơ sở tiếp nối quan hệ truyền thống Quan hệđối tác toàn diện trong thế kỷ XXI Việt - Hàn chính thức thiết lập và được ghi
nhận trong Tuyên bố chung của Nguyên thủ hai nước ngày 23 tháng 8 năm
2001, trong chuyến thăm hữu nghị chính thức Hàn Quốc lần đầu tiên của Chủ
tịch nước Trần Đức Lương Đây là kết quả của đường lối nhất quán của Đảng
và Nhà nước Việt Nam: thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện và có hiệu quả vớicác nước ASEAN, các nước châu Á - Thái Bình Dương (CATBD) trong đó cóHàn Quốc, cũng như quyết tâm của lãnh đạo Hàn Quốc và Việt Nam trongviệc phát triển hơn nữa quan hệ hợp tác nhiều mặt Việt - Hàn nhằm đáp ứnglợi ích và mong muốn của nhân dân hai nước Đây cũng là kết quả của những
nỗ lực tích cực của cả hai bên nhằm thiết lập một khuôn khổ quan hệ mới mởđầu Thiên niên kỷ mới Tiếp theo là các chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướngHàn Quốc Lee Han Dong (4 -2002), Thủ tướng Việt Nam, Phan văn Khảithăm Hàn Quốc (9 - 2003), chuyến thăm của Tổng thống Hàn Quốc Roh Moo
- Hyun tới Việt Nam tháng 10 - 2004, Tháng 4 năm 2005, Thủ tướng HànQuốc Lee Hae Chan thăm Việt Nam và tổng thống RohMoo - Hyun thăm ViệtNam thỏng 11/2006, đã củng cố khuôn khổ đối tác toàn diện cho quan hệ Việt
- Hàn trong thế kỷ XXI
Trang 14Sự hình thành quan hệ hợp tác toàn diện trong thế kỷ XXI giữa Việt Nam
và Hàn Quốc là do dựa trên những cơ sở rất căn bản về kinh tế, chính trị, truyền thống và được khẳng định bằng cơ sở pháp lý nên đã tạo thế nâng đỡ, hỗ trợ khá
vững chắc cho mối quan hệ hai nước có khả năng phát triển sâu rộng trong mọilĩnh vực, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân hai nước
Một trong những cơ sở quan trọng của quan hệ đối tác toàn diện.
Trước tiên là: giữa hai nuớc có sự tương đồng, gặp nhau về nhu cầu, lợi ích,
có cấu trúc kinh tế tương hỗ, do đó có nhiều khả năng để đẩy mạnh hợp tác
và từng bước nâng tầm quan hệ trở thành đối tác kinh tế quan trọng của
(HĐH) đất nước từ một xuất phát điểm rất thấp, thu nhập bình quân đầungười/năm chưa đến 400 USD (năm 2000) thuộc nhóm những nước nghèonhất thế giới, cơ sở hạ tầng cũng lạc hậu, tiềm lực kinh tế cũng yếu, hiệu quảsản xuất kinh doanh và năng suất lao động xã hội chưa cao, hàng hoá dịch vụthiếu sức cạnh tranh, nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu về chất lượng của
sự nghiệp đổi mới, tăng cường hợp tác với Hàn Quốc sẽ có nhiều điểm lợi choViệt Nam như là: có điều kiện để thu hút vốn đầu tư, tiếp cận được công nghệtiên tiến, cách thức quản lý khoa học, chia sẻ kinh nghiệm của Hàn Quốc,nguyên vật liệu thô cho các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam và vốn đầu tư
sử dụng cho ngành công nghiệp như: bông, xe máy, các sản phẩm dầu mỏ vàđiện tử, pháttriển công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện CNH, đồngthời mở mang thị trường, phát huy lợi thế và hoà nhập vào khu vực rút ngắnkhoảng cách phát triển Về phớa Hàn Quốc, do Việt Nam có tài nguyên đa dạng
và quan trọng như dầu khí, quặng, cỏc hải sản quý và nụng sản…Điều này cóthể bù đắp được những khan hiếm tài nguyên cho Hàn Quốc ở một đất nước
mà phần lớn tài nguyên khoáng sản dựa vào bên ngoài như Hàn Quốc thỡ ViệtNam đó tạo cho Hàn Quốc những lợi thế đáng kể trong việc sử dụng tàinguyên tại chỗ khi đầu tư vào Việt Nam mà không phải nhập từ các nướckhác Ngoài ra, tiềm năng tăng trưởng của thị trường nội địa Việt Nam đem
Trang 15đến cho các nhà đầu tư Hàn Quốc triển vọng có một thị trường xuất khẩu vàđầu tư lớn hơn Không chỉ khía cạnh định lượng, thị trường lớn với hơn 80triệu dân, mà cả khía cạnh định tính, tầng lớp trung lưu ngày càng tăng luônđòi hỏi được bắt kịp trong tiêu dùng Chi phí lao động gia tăng ở Hàn Quốc đólàm mất dần lợi thế so sánh của hàng hóa Hàn Quốc trên thị trường thế giới.Yếu tố này thúc đẩy Hàn Quốc chuyển giao các loại công nghệ sử dụng nhiềulao động ra những nước có chi phí nhân công rẻ, trong đó có Việt Nam Bêncạnh đó, Việt Nam là một nước ổn định chính trị và có nền an ninh tốt, cóchính sách thu hút và khuyến khích đầu tư nước ngoài, hai đặc điểm này đảmbảo cho những nhà đầu tư Hàn Quốc yên tâm đem vốn vào đầu tư tại ViệtNam Những yếu tố đó bổ xung cho nhau, tạo ra tiềm năng to lớn cho quan hệhai nước, làm cho mối quan hệ này ngày càng phát triển và bền vững.
Từ những năm 1980 trở về trước, bạn hàng buôn bán và đầu tư chủ yếucủa Hàn quốc là Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu Tuy nhiên, từ 1989, Mỹ đã đưaHàn Quốc ra ngoài các đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi chính, nên khảnăng xuất khẩu của Hàn Quốc sang các thị trường truyền thống này giảmxuống và xuất khẩu của Hàn Quốc sang các thị trường Đông Nam Á (ĐNA)
có xu hướng tăng lên Mặt khác, cũng từ đầu những năm 1990, để thực hiệnchiến lược ''Toàn cầu hóa", Hàn Quốc đa triển khai chớnh sỏch "HướngNam'', phát triển mạnh mẽ các quan hệ hợp tác kinh tế với các nước trong khuvực CATBD, với vị trí địa lý thuận lợi, Việt Nam sẽ là ''cầu nối'' kinh tế - vănhoá giữa khu vực Đông Á và ĐNA, giữa Hàn Quốc với khu vực ĐNA và Bánđảo Đông Dương Như vậy, hợp tỏc kinh tế gúp phần bổ sung cơ cấu kinh tế
và công nghệ giữa hai nước, do đó nâng cao hiệu quả kinh tế, khả năng cạnhtranh và những tác động tích cực về mặt xó hội cho cả hai phớa
Thứ hai: Việt- Hàn có mối quan hệ đã có từ lâu đời và sự tương đồng
về văn hóa, lịch sử: hai nước đều phải khắc phục những năm tháng lịch sử
dưới ách ngoại xâm và ách thống trị thực dân Trải qua những năm tháng gian
Trang 16khổ của sự chia cắt đất nước, hai nước đã tái thiết đất nước trên nền đổ nátchiến tranh Hơn nữa, về mặt văn hoá, xuất phát từ nền văn hoá ẩm thực lấygạo làm lương thực chính, phải nói rằng hai nước cũng có nhiều điểm tươngđồng cả trong truyền thống kính trọng người lớn tuổi, coi trọng gia đình, bạn
bè và láng giềng Tất cả những tương đồng đó là cơ sở để tạo nên mối thiệncảm, tình hữu hảo giữa hai nước, là nền tảng giữa hai dân tộc, cơ sở vữngchắc để xây dựng mối quan hệ hợp tác hữu nghị lâu dài giữa hai nước
Thứ ba: Sự phát triển quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc được xây dựng trên ý chí, quyết tâm của lãnh đạo hai nước và chính sách của hai bên Về đối
ngoại với chính sách toàn cầu hóa (TCH) và cải cách cơ cấu kinh tế để pháttriển cao và ổn định trong thế kỷ XXI của Hàn Quốc diễn ra đồng thời vớichính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóaquan hệ quốc tế, với phương châm Việt Nam sẵn sàng là bạn và đối tác tin cậycủa tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế thông qua hợp tác song phương và đa phương với mục tiêu xây dựng mộtnước Việt Nam dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh là
cơ sở phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác đôi bên cùng có lợi “Hàn Quốckhẳng định Việt Nam là đối tác quan trọng đầy tiềm năng và triển vọng củaHàn Quốc ở ĐNA, chính phủ Hàn Quốc luôn luôn coi trọng và sẵn sàng tiếptục hợp tác, hỗ trợ Việt Nam trong công cuộc CNH, HĐH đất nước và ViệtNam coi trọng, đánh giá cao vai trò, vị trí của Hàn Quốc trong khu vực và chủtrương tăng cường và mở rộng quan hệ hợp tác nhiều mặt với Hàn Quốc, mụctiêu đẩy mạnh cùng góp phần vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển
ở châu Á Hàn Quốc luôn luôn nhận được sự ủng hộ của Việt Nam thực thimột chính sách tích cực trong việc ổn định mối quan hệ nội bộ Triều Tiên Hainước cùng chia sẻ quan điểm chung về một khu vực không vũ khí hạt
nhân của Bán đảo Triều Tiên và giải quyết hòa bình về vấn đề hạt nhân củacộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, cùng nỗ lực phấn đấu vì một Bán đảoTriều Tiên ổn định, hòa bình và phát triển”[ 38, tr 22-26]
Trang 17Thứ tư: Cộng đồng người Việt Nam ở Hàn Quốc hiện nay có số lượng
70 nghìn (trong đó có 20 nghìn là cô dâu), phần lớn trong số này là nhữngcông nhân sang làm việc theo các hiệp định hợp tác lao động được ký kết giữaViệt Nam và Hàn Quốc, ngoài ra là số sinh viên, thực tập sinh, nghiên cứusinh khoa học Tuyệt đại đa số cộng đồng người Việt ở Hàn Quốc là nhữngngười làm ăn chân chính, tích cực lao động, có nhiều đóng góp hướng về Tổquốc Vì vậy, Việt Nam cần thúc đẩy quan hệ với Hàn Quốc, tăng cường traođổi với Hàn Quốc nhằm tạo điều kiện cho cộng đồng người Việt sinh sống vàlàm ăn một cách yên ổn, hợp pháp Tăng cường quan hệ Việt - Hàn, ngoàiviệc góp phần thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại giữa hai nước phát triển,
mà còn bảo vệ được quyền lợi chính đáng cho cộng đồng người Việt Nam ởHàn Quốc Việt Nam cũng mong muốn thông qua việc thúc đẩy quan hệ vớiHàn Quốc để bày tỏ một thông điệp về sự tôn trọng trong quan hệ với cácnước bạn bè Phát triển tốt quan hệ Việt - Hàn trong khuôn khổ quan hệ đốitác toàn diện sẽ là điểm đáng chân trọng trong quan hệ Việt Nam với các nướcĐông Bắc Á (ĐBA)
Thứ năm: Sự hợp tác song phương giữa Việt Nam - Hàn Quốc phát
triển còn được xây dựng, phát triển và tăng cường bởi sự phối hợp, ủng hộ lẫnnhau, cùng nhau chia sẻ các quan điểm chung thông qua các diễn đàn khu vực
và quốc tế như :UN, ASEAM, ASEAN + 3, ARF, APEC…
Những lợi ích cơ bản và chủ yếu nêu trên đối với mỗi nước, đặc biệt là
sự gặp gỡ về lợi ích giữa hai nước chính là cơ sở, động lực rất quan trọng thúcđẩy quan hệ Việt - Hàn phát triển hơn nữa tương xứng với tầm vóc cần có củaquan hệ đối tác toàn diện cũng như truyền thống tốt đẹp vốn có của mối quan
hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước
1.1.2 Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong chính sách đối ngoại của mỗi nước
Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự thế giới hai cực tan vỡ, tình hình thếgiới có nhiều biến đổi sâu sắc, phức tạp Tình hình lại càng trở lên phức tạp,
Trang 18khó lường hơn kể từ sau vụ tấn công khủng bố vào nước Mỹ ngày 11/9/2001khiến cho tất cả các nước trên thế giới đều phải điều chỉnh chính sách đốingoại của mình, trong đó có Việt Nam và Hàn Quốc, nhằm tìm kiếm và xáclập cho mình một vị trí quốc tế có lợi nhất.
Quan hệ giữa các quốc gia dân tộc, vấn đề cơ bản nhất, bao trùm nhất làlợi ích Lợi ích của các quốc gia dân tộc là nội dung ưu tiên hàng đầu trongquá trình hoạch định và triển khai đường lối đối ngoại của một nhà nước.Ngày nay, phổ biến các nước trên thế giới đều ưu tiên cho mục tiêu phục vụphát triển kinh tế trong chính sách đối ngoại của mình Việt Nam và HànQuốc cũng nằm trong tính tất yếu đó của đối ngoại
Lợi ích dân tộc chân chính của Việt Nam trong đối ngoại hiện nay làgiữ vững hoà bình, tạo lập môi trường quốc tế thuận lợi nhằm phục vụ thànhcông sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, CNH -HĐH đất nước, thực hiệnmục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, bảo vệvững chắc độc lập, chủ quyền và an ninh quốc gia
Với tư tưởng chỉ đạo chính sách đối ngoại không hoàn toàn giống nhau,nhưng hai nước Việt Nam và Hàn Quốc tìm thấy những thuận lợi, những giátrị lợi ích của mình trong việc thiết lập quan hệ đối tác toàn diện với nhautrong giai đoạn hiện nay
1.1.2.1 Một số định hướng chủ yếu trong chính sách đối ngoại của Hàn Quốc
* Quan hệ đối ngoại của Hàn Quốc
Ngay từ khi thành lập (năm 1948), Đại Hàn Dân Quốc đó kiên trì theođuổi chế độ dân chủ và một nền kinh tế thị trường tự do, tuy nhiên chính sáchđối ngoại đó cú những thay đổi đáng kể từ khi Nhà nước ra đời Sự đối đầuĐông - Tây mà trung tâm là Mỹ và Nga dẫn đến tình trạng chiến tranh lạnh
sau Chiến tranh thế giới thứ II đó khiến Đại Hàn Dân Quốc theo đuổi quan
hệ đối ngoại của mình phối hợp với các quốc gia phương Tây Trong những
năm sau cuộc Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), cộng đồng quốc tế nhìn
Trang 19nhận Hàn Quốc như một đất nước kiệt quệ do chiến tranh tàn phá Những
hình ảnh đó bắt đầu thay đổi tư duy, năm 1962 khi Đại Hàn Dân Quốc áp
dụng chính sách phát triển kinh tế theo định hướng xuất khẩu và bắt đầu tích cực tham gia vào thương mại quốc tế trên toàn thế giới.
Với sự đối đầu Đông - Tây trở nên sâu sắc trong cuộc Chiến tranh lạnh,Đại Hàn Dân Quốc - một nước vốn được coi là một thành viên của khối
phương Tây, trước năm 1973, theo nguyên tắc Hallstein (Hallstein Doctrine),
Hàn Quốc không thiết lập quan hệ ngoại giao với bất kỳ nước nào có quan hệ với Bắc Hàn Nhưng trong bầu không khí hòa dịu (detente) của quan hệ Trung
- Mỹ, năm 1973, Hàn Quốc lần đầu tiên đề ra đường lối ngoại giao hướng tới
các nước xã hội chủ nghĩa( XHCN) Theo tuyên bố 23-06-1973, Hàn Quốc
chủ trương “thiết lập quan hệ ngoại giao với tất cả các nuớc không đối đầu với mình bất chấp thể chế chính trị” Tuy nhiên mục đích chính của tuyên bố
này chỉ nhằm kiềm chế xu hướng các nước châu Phi đặt quan hệ ngoại giaovới Bắc Hàn Bắt đầu mở rộng quan hệ đối ngoại thông qua tăng cường cácmối quan hệ với các đồng minh truyền thống và xây dựng quan hệ hợp tác vớicác nước trong Thế giới thứ ba Kể từ những năm 1970, hoạt động ngoại giaocủa Hàn Quốc tập trung vào việc tăng cường độc lập và thống nhất trong hoàbình trên bán đảo Triều Tiên, Hàn Quốc cũng củng cố mối quan hệ với cácđồng minh và tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế Dựa trên nền tảngngoại giao vững chắc, Hàn Quốc tiếp tục theo đuổi quan hệ đối tác hợp tácvới tất cả các nước trên mọi lĩnh vực trong suốt những năm 1980
Cuối năm 1989, Tổng thống Mỹ G.Bush và Gorbachev gặp nhau tạiMalta Sau cuộc gặp gỡ này, tình trạng chiến tranh lạnh coi như chấm dứt.Tình hình quốc tế có nhiều biến đổi sâu sắc và rộng khắp từ Đông sang Tây,
từ Bắc xuống Nam trên mọi phương diện Sự khác biệt về ý thức hệ khôngcòn là trở ngại trong quan hệ giữa các quốc gia có chế độ chính trị khác nhau.Phát triển kinh tế trở thành ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển đất n-
Trang 20ước của mọi quốc gia Trước bối cảnh của tình hình thế giới thay đổi, Hàn
Quốc đã tiến hành thúc đẩy quá trình dân chủ hóa nền chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời các chính sách mới, phù hợp với tình hình phát triển của quốc tế và khu vực Về đối ngọai, Hàn Quốc đã đề ra chính sách ngoại
giao mới, phù hợp với tình hình phát triển của quốc tế và khu vực, chính sáchngoại giao mới của Hàn Quốc đã đề ra, mền dẻo và linh họat hơn nhằm mụctiêu nhằm giải quyết các vấn đề an ninh và kinh tế đất nước, tạo cơ sở choviệc thống nhất hai miền Triều Tiên Một trong những hướng mới trong chínhsách ngoại giao của Hàn Quốc trong thời kỳ ngay sau khi chiến tranh lạnh kết
thúc là đa dạng hóa quan hệ Trước tiên, Chính phủ Roh Tae Woo
(1988-1993) đề ra “Chính sách Phương Bắc (Nordpolitik)”(1) chủ trương “đi đườngvòng” bằng cách cải thiện quan hệ với các nước bạn bè Bắc Hàn, việc theođuổi mạnh mẽ quan hệ ngoại giao với Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiêncủa Hàn Quốc góp phần tăng cường quan hệ của nước này với các nước xóhội chủ nghĩa trước đây - những quan hệ này đó bị suy yếu do những khỏcbiệt về tư tưởng và cơ cấu Hàn Quốc lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao vớiLiên Xô (30-09-1990), với Trung Quốc (24-08-1992) và một số nước xã hộichủ nghĩa khác, để từng bước tạo lập mối quan hệ mới với Bắc Hàn nhằm tìmkiếm một con đường thống nhất trong hoà bình được bỡnh thường hoá theo
một trỡnh tự ngắn hơn, và do đó làm cho quan hệ đối ngoại của Hàn Quốc
thực sự mang tính toàn cầu Hàn Quốc đã thu được nhiều thành công với
chính sách này, từ chỗ phụ thuộc nhiều về kinh tế vào Mỹ và Nhật Bảnchuyển sang quan hệ đa phương với các nước có chế độ chính trị khác nhau.Điều đó tạo điều kiện để Hàn Quốc gia nhập Liên hợp Quốc (UN) và tăngcường vị thế của Hàn Quốc trên trường quốc tế, chính trong bối cảnh này, HànQuốc đã thúc đẩy quá trình thiết lập quan hệ chính thức với Việt Nam Tháng9-1991, Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên đồng thời gia nhập UN, sự kiệnnày thể hiện sự thành công của chính sách ngoại giao với Phương Bắc
(1) Khái niệm “Chính sách phương Bắc “ được Bộ trưởng Ngoại vụ Lee Bum Suk sử dụng đầu tiên tại buổi nói chuyên ở trường sau đại học Quốc phòng vào tháng6/ 1984 nhân kỷ niệm 10 năm tuyên bố 23/6.
“Chính sách phương Bắcđược ví như “Chính sách phương Đông” của Chính phủ Blandt Tây Đức vào đầu thập niên
Trang 21Ngoài ra, nền tảng cho sự cùng tồn tại hoà bình giữa hai miền Triều Tiên đóđược đặt ra vào tháng 12-1991 khi cả hai bờn ký Hiệp định hoà giải, khôngxâm lược, trao đổi hợp tác (Hiệp định cơ bản Nam - Bắc) và Tuyên bố chung
về Bán đảo Triều Tiên không có vũ khí hạt nhân Những văn kiện lịch sử này
là nền tảng cho nền hoà bỡnh trờn bỏn đảo và khu vực Đông Bắc Á (ĐBA),thể hiện bước đầu tiên quan trọng tiến tới hoà bình thống nhất trên bán đảoTriều Tiên
* Quan hệ kinh tế đối ngoại của Hàn Quốc
Ngay sau Chiến tranh lạnh, một khuynh hướng nổi bật đó xuất hiệntrong chủ nghĩa khu vực Các nước như Đại Hàn Dân Quốc - quốc gia theođuổi tăng trưởng lấy xuất khẩu làm động lực, thấy rằng mình đang phải đốimặt với một môi trường kinh tế quốc tế khác hẳn với trước đây Truớc đây
Hàn Quốc có quan hệ thương mại chủ yếu với các nước tiên tiến như Mỹ, Nhật Bản và Liên minh Châu Âu Điều này thường gây ra những sự mất cân
đối trong cán cân thương mại Vì vậy Hàn Quốc đã thực thi “Chính sách toàn
cầu hóa và cải cách cơ cấu kinh tế” Trong quan hệ đối ngoại, một trong
những nhiệm vụ của chính phủ Hàn Quốc là tăng cường ngọai giao kinh tế vàthương mại, theo chủ trương mới, các cơ quan đại diện ngoại giao của HànQuốc ở nước ngoài sẽ chuyển mạnh theo hướng phục vụ nhiệm vụ kinh tế
Hàn Quốc tăng dần hoạt động thương mại với các nước đang phát triển trong
khi khối lượng giao dịch thương mại với các nước phát triển đó giảm dần.Giao dịch thương mại của Hàn Quốc với các nước đang phát triển và các nướcĐông Âu được tiếp tục mở rộng trên cơ sở nền kinh tế thương mại của HànQuốc vẫn tiếp tục tăng trưởng và cơ cấu các ngành công nghiệp của quốc giatiếp tục tập trung vào các hoạt động sử dụng nhiều công nghệ Một khi hoàn
thành cơ cấu lại công nghiệp, Hàn Quốc sẽ có thể góp phần lớn hơn vào việc
phát triển kinh tế quốc tế bằng cách nâng cao hợp tác với các nước đang phát triển dựa trên cơ sở những lợi thế và sự bổ sung tương đối Mặc dự vậy, các
nước tiên tiến vẫn giữ vị thế then chốt về thương mại và là đối tác chủ yếutrong khoa học công nghệ, Hàn Quốc vẫn phải nỗ lực nhằm hạn chế sức ép
Trang 22bằng cách mở cửa thị trường ở mức độ tương đương mà các nước phát triển đang mở, bắt đầu từ sản phẩm cụng nghiệp, nụng nghiệp và dịch vụ.
* Các hoạt động ngoại giao vỡ Hoà bình và Hợp tác Quốc tế
Hàn Quốc khi trở thành thành viên của UN đã tham gia tích cực và
đóng góp vào hoạt động ngoại giao đa phương tương xứng với vị thế được nâng cao trong cộng đồng quốc tế Thỏng 9-2001, Tiến sỹ Han Seung-soo, Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao và Thương mại lúc bấy giờ, đó được bầu làm chủ tịchdưới hỡnh thức biểu quyết trong phiờn họp thứ 56 của Đại hội đồng
Hàn Quốc đó tích cực tham gia vào các vấn đề lớn do tổ chức thế giớiđảm nhận, chẳng hạn như các sứ mệnh ngăn chặn xung đột và gìn giữ hoàbình, các cuộc hội đàm về giải trừ quân bị, bảo vệ môi trường, các dự án pháttriển và bảo vệ nhân quyền Đặc biệt, cương vị thành viên không thường trựctrong Hội đồng Bảo an giai đoạn 1996-1997 đó mang lại những kinh nghiệm
vụ giỏ giỳp Hàn Quốc quảng bỏ hỡnh ảnh ngoại giao của mình Trong nhiệm
kỳ công tác, Hàn Quốc đó cú những đóng góp mang tính xây dựng trongnhững cuộc thảo luận giải quyết các xung đột lớn của khu vực bằng cách nêubật vấn đề “tị nạn chính trị” Là một nước thành viên yêu chuộng hoà bỡnhcủa UN, Hàn Quốc đó cam kết với cụng tác duy trì hoà bình và an ninh quốc
tế, và do đó đó tích cực tham gia vào cỏc hoạt động gìn giữ hoà bình của UN
“Hàn Quốc bắt đầu hỗ trợ cho các nước đang phát triển từ những năm
1960 khi tiến hành mời một số ít thực tập sinh tới Hàn Quốc và cử một sốchuyên gia ra nước ngoài Sau năm 1975, khi nền kinh tế đến một trỡnh độ caohơn, Hàn Quốc bắt đầu tăng viện trợ dưới một loạt các hỡnh thức: trao tặng mỏymúc và nguyờn vật liệu, giỳp đỡ xây dựng công nghệ, cho Quỹ Hợp tác Pháttriển Kinh tế (EDCF) vay vốn và giúp đỡ về nhân sự trực tiếp, đặc biệt thông quaChương trỡnh thanh niờn tình nguyện Hàn Quốc cung cấp viện trợ cho các nướcđang phát triển thông qua các tổ chức đa phương ví dụ như IMF, IBRD, ADB vàgần một chục các tổ chức tài chính quốc tế khác” [ 12, tr 67, 68
]
Trang 23Tháng 4-1991, Hàn Quốc thành lập Cơ quan Hợp tác Quốc tế HànQuốc (KOICA) thuộc Bộ Ngoại giao nhằm củng cố sự trợ giúp tới các nướcđang phát triển Hàn Quốc cũn cung cấp viện trợ kỹ thuật, tài chớnh cho cácnước đang phát triển, chia sẻ kinh nghiệm và kỹ năng phát triển của mỡnh.KOICA triển khai các chương trình hợp tác khai thác như cử các bác sỹ ykhoa, chuyên gia kỹ thuật, huấn luyện viên Taekwondo và các tình nguyệnviên khác, mời các thực tập sinh tới Hàn Quốc và hỗ trợ nâng cao hình ảnhHàn Quốc thông qua việc thiết lập các mối quan hệ hợp tác với các nước đangphát triển.
Hàn Quốc cam kết thực hiện việc trao đổi văn hoá với nước ngoài nhằmnâng cao tỡnh hữu nghị song phương, sự hiểu biết lẫn nhau và góp phần vàohoà giải và hợp tác toàn cầu Hàn Quốc cũng nỗ lực giới thiệu nền văn hoá vànghệ thuật truyền thống của mỡnh ra nước ngoài, hỗ trợ các chương trỡnhnghiờn cứu Hàn Quốc tại hải ngoại cũng như rất nhiều hội nghị khoa học vàtrao đổi vận động viên Quỹ giao lưu Quốc tế Hàn Quốc (Korea Foundation)được thành lập năm 1991, đó phối hợp và hỗ trợ các chương trình trao đổi vănhoá quốc tế
* Chính sách vì Hoà bình và Thịnh vượng ở Đông Bắc Á của Hàn Quốc
Kỷ nguyên Đông Bắc Á (ĐBA) đang đến gần giữa dũng chảy của thời
kỳ hậu Chiến tranh lạnh, toàn cầu hoá, tri thức và thông tin Ngày nay, ĐBAđang đóng vai trũ đầu tàu cho nền kinh tế thế giới vỡ vốn, công nghệ, sản xuất
và tiếp vận tập trung ở khu vực này Chính phủ Hàn Quốc đang tìm cách giữthế chủ động trong việc đưa ĐBA vào kỷ nguyên của hoà bình và thịnhvượng Điều thiết yếu đối với Hàn Quốc là tạo lập nền tảng cho hoà bình trênbán đảo Triều Tiên và xây dựng Hàn Quốc thành trung tâm ĐBA “Chính PhủHàn Quốc cũng tìm cách phát triển Hàn Quốc thành trung tâm kinh tế ĐBAthông qua các bước: 1) theo đuổi việc giao lưu và hợp tác kinh tế liên Triều;2) thiết lập hệ thống hợp tác kinh tế ĐBA và 3) xây dựng cở sở hạ tầng cho
một trung tâm giao vận và kinh tế (ĐBA [12, tr 69] )
Trang 24Ngày 25/2/2008 tronng diễn văn nhậm chức Tổng thống Li Miêng Pắcnhấn mạnh: “sẽ thực hiện chính sách ngoại giao thực dụng, tăng cường quan
hệ đồng minh với Mỹ, phát triển quan hệ với Nhật Bản, Trung Quốc, Nga vàgiữ vững lập trường cứng rắn hơn trong vấn đề Triều Tiên” [2, tr4] Từ nộidung chính sách đối ngoại trên đây có thể thấy, với tư cách một nước NIC, cólợi ích chiến lược ở hầu khắp các nước ở khu vực, Hàn Quốc đã và đang cốgắng khôi phục vị thế, vai trò, ảnh hưởng của mình trên trường quốc tế, xáclập định hướng chiến lược trong quan hệ với tất cả các đối tác chủ chốt
1.1.2.2 Một số nội dung cơ bản trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Đổi mới chính sách đối ngoại là một bộ phận cơ bản trong đường lốiđổi mới của Việt Nam Nó đã góp phần rất quan trọng vào việc ổn định vàphát triển của Việt Nam trong thời gian vừa qua Trước tình hình biến đổi trênthế giới và những đòi hỏi bức xúc về kinh tế, chính trị, an ninh, văn hoá xãhội trong nước, Việt Nam phải đổi mới chính sách đối ngoại của mình
Quan điểm cơ bản trong chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Namđược thông qua tại Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam, sau đó được khẳngđịnh lại tại Đại hội X là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tựchủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Việt Nam sẵnsàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu
vì hoà bình, độc lập và phát triển” [ 18, tr 119] Quán triệt sâu sắc quan điểmnày trước hết là cơ sở để bảo vệ lợi ích của dân tộc trong quá trình hội nhậpquốc tế, đó là độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia và định hướng XHCN Mặtkhác, Việt Nam có thể tiếp tục mở rộng quan hệ đối ngoại, tranh thủ đượcđiều kiện quốc tế và nguồn ngoại lực phục vụ cho xây dựng, phát triển kinh
tế, bảo vệ Tổ quốc Việc khẳng định thực hiện nhất quán chính sách đối ngoạirộng mở góp phần củng cố hơn nữa lòng tin cho các đối tác nước ngoài khithiết lập quan hệ và triển khai hợp tác với nước ta trên mọi lĩnh vực
Trang 25Việt Nam nhấn mạnh chủ trương mở rộng quan hệ nhiều mặt, songphương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ, các trung tâm chính trịkinh tế quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế và khu vực, theo nguyên tắc tôn trọngđộc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộcủa nhau, không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực, bình đẳng và cùng cólợi, giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng thương lượng hoà bình, làmthất bại mọi âm mưu và hành động gây sức ép, áp đặt và cường quyền.
Mặt khác, Việt Nam coi trọng việc chủ động và tích cực hội nhập kinh
tế quốc tế theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tácquốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợiích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môitrường Xét dưới góc độ những quan điểm trên, Việt Nam hoàn toàn có thểcủng cố và phát triển hợp tác toàn diện trong thế kỷ XXI với Hàn Quốc Mởrộng quan hệ với các nước Đông Á, trong đó có Hàn Quốc là một trong nhữnghướng ưu tiên của chính sách đối ngoại Việt Nam hiện nay
Nhằm tiếp tục mở rộng, tăng cường hiệu quả hợp tác quốc tế trong điềukiện quá trình toàn cầu hoá sôi động và phức tạp hiện nay, Việt Nam xác định
quan điểm cần phải chú trọng đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định, bền vững Khẳng định quan điểm về phát triển quan hệ với
tất cả các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới và các tổ chức quốc tế, Đảng và
Nhà nước Việt Nam nêu rõ các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động đối ngoại là:
tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việcnội bộ của nhau; không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực; giải quyết các bấtđồng và tranh chấp thông qua thương lượng hoà bình; tôn trọng lẫn nhau, bìnhđẳng và cùng có lợi Tư tưởng chỉ đạo cơ bản và xuyên suốt đối với hoạt độngđối ngoại là giữ vững nguyên tắc vì độc lập thống nhất và chủ nghĩa xã hội.Đồng thời, phải rất sáng tạo, năng động, linh hoạt trong xử lý các tình huống phùhợp với hoàn cảnh cụ thể, với vị trí cũng như diễn biến của tình hình thế giới vàkhu vực, phù hợp với đặc điểm của từng đối tác cụ thể Trong
Trang 26bất kỳ tình huống nào cũng tránh không để rơi vào thế đối đầu, cô lập hay lệthuộc, củng cố hoà bình, an ninh, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển đấtnước.
Nhiệm vụ cơ bản, bao trùm của đối ngoại Việt Nam hiện nay là: “Giữvững môi trường hoà bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh pháttriển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc, bảo đảm độc lập và chủ quyền quốc gia, đồng thời góp phầntích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lậpdân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” [ 25, tr 112] Trong tình hình mới, Đảng vàNhà nước Việt Nam nhấn mạnh nhiệm vụ “Ngoại giao phục vụ sự nghiệp pháttriển kinh tế” là ưu tiên hàng đầu của hoạt động đối ngoại Do đó, cần đặc biệtchú trọng kết hợp chặt chẽ giữa chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoại trongquan hệ với các nước để thúc đẩy hợp tác kinh tế
Triển khai chính sách đối ngoại đổi mới trong giai đoạn hiện nay, ViệtNam kiên trì các phương châm chỉ đạo sau:
Một là: Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân Lợi ích cơ bản
cao nhất và chân chính của Đảng và dân tộc Việt Nam là xây dựng thành côngCNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, phát triển nhanh kinh tế - xã hội làmcho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, giữ vững ổnđịnh chính trị Chính sách đối ngoại vừa phục vụ lợi ích chân chính của dântộc vừa góp phần thực hiện nghĩa vụ quốc tế của Đảng Khi thực hiện lợi íchdân tộc, Việt Nam luôn luôn chú trọng mối quan hệ đoàn kết và hợp tác vớicác nước, các tổ chức, các lực lượng tiến bộ trên thế giới Đảng Cộng sản ViệtNam xác định cách mạng Việt Nam là bộ phận của cách mạng thế giới, việckết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là nhân tố làm nênthắng lợi của cách mạng Việt Nam
Trang 27Hai là: Giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa phương hoá, đa dạng hoá mối quan hệ quốc tế Độc lập tự chủ, tự lực tự cường nhằm
phát huy sức mạnh của dân tộc, là điều kiện để mở rộng hợp tác và tăngcường vị trí quốc tế của nước ta, nhằm khai thác tốt nhất nhân tố quốc tế phục
vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Độc lập tự chủ không đồngnghĩa với biệt lập, khép kín, với chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chỉ thấy cái riêng
mà không thấy cái chung Việc thực hiện đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệquốc tế, mở rộng giao lưu, hợp tác liên kết vì mục tiêu phát triển Trong quátrình mở rộng quan hệ đối ngoại, phải giữ vững nguyên tắc tôn trọng độc lậpchủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng cùng có lợi, bảo đảm an ninh quốcgia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
Ba là: Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế.
Trong điều kiện mở cửa, hội nhập quốc tế, các nước đứng trước những cơ hộimới, song nguy cơ và thách thức từ bên ngoài cũng gia tăng Hợp tác và đấutranh là hai mặt của một vấn đề trong quan hệ đối ngoại, tránh nhấn mạnh mộtchiều, phiến diện chỉ nhấn mạnh hợp tác, hoặc chỉ nhấn mạnh đấu tranh Lợiích trùng hợp thì có thể hợp tác, lợi ích không trùng hợp cần phải đấu tranh.Trong hợp tác có đấu tranh nhằm bảo vệ lợi ích dân tộc, thiết lập quan hệ bìnhđẳng, cùng có lợi, cùng tồn tại hoà bình; đấu tranh để củng cố, mở rộng hợptác phát triển chứ không thủ tiêu hợp tác Đảng, Nhà nước Việt Nam chủtrương phát huy mặt đồng, hạn chế mặt bất đồng, giải quyết mâu thuẫn bằngthương lượng hoà bình trên tinh thần bình đẳng, cùng có lợi, tránh xung đột,đối đầu, bạo lực
Bốn là: Tham gia hợp tác khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước Trong hoạt động đối ngoại, chúng ta vừa coi trọng mở rộng quan hệ
với các nước, các tổ chức quốc tế, các đảng phái chính trị tiến bộ, vừa chú trọnghợp tác khu vực, nhất là đối với các nước láng giềng, tranh thủ thế mạnh của cácnước, đặt cao quan hệ với các nứơc lớn, tạo lợi thế cho Việt Nam trong quá trìnhhội nhập Đây cũng là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước
Trang 28Việt Nam, góp phần vào hoà bình, ổn định, phát triển ở khu vực và trên thếgiới.
Tóm lại, quan điểm phương hướng, phương châm cơ bản của hoạt động
đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là tiếp tục thực hiện đường lốiđối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệquốc tế, củng cố môi trường hòa bình tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữacho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, theo định hướng xã hội chủnghĩa
1.2 NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YẾU TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ VIỆT NAM - HÀN QUỐC
Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao chínhthức (22/12/1992) đến nay luôn chịu sự tác động của hàng loạt các nhân tốkhách quan và chủ quan khác nhau, vừa mang tính lịch sử vừa có ý nghĩa thời
sự đương đại Trong số các nhân tố đó phải kể đến tình hình quốc tế và khuvực thời kỳ sau chiến tranh lạnh, công cuộc cải cách ở Hàn Quốc, đổi mới ởViệt Nam, và lịch sử mối quan hệ hai nước
1.2.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực
“Quan hệ đối tác toàn diện trong thế kỷ XXI” Việt Nam - Hàn Quốc đượchình thành và vận động trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều biến động rấtnhanh chóng và phức tạp, nhất là sau sự kiện nước Mỹ bị tấn công khủng bốngày 11/9/2001 Bởi vậy, hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc cũng luôn chịu sự chiphối mạnh mẽ từ bối cảnh đó, đồng thời cả hai nước cũng cần thiết phải cónhững điều chỉnh chính sách đối ngoại thích hợp, xác định đúng những lĩnh vực
ưu tiên trong quan hệ với nhau nhằm phát triển hợp tác lên ngang tầm của khuônkhổ quan hệ đối tác toàn diện trong điều kiện lịch sử mới
1.2.1.1.Đặc điểm chủ yếu của bối cảnh quốc tế
Đặc điểm nổi bật và dễ nhận thấy nhất trong bối cảnh quốc tế thời kỳ
sau chiến tranh lạnh đó là tính phức tạp của quá trình hình thành trật tự thế
Trang 29giới mới do những biến đổi sâu sắc về tương quan lực lượng thế giới Đặc
điểm này ngày càng bộc lộ rõ nét, đã và sẽ còn tiếp tục tác động mạnh trênnhiều mặt đến đường lối, chính sách đối nội, đối ngoại của các quốc gia dântộc trên thế giới, trong đó có quan hệ Việt- Hàn
Sau gần nửa thế kỷ tồn tại kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, trật
tự thế giới hai cực trong vai trò là hình thái biểu hiện của cuộc đối đầu Đông Tây khốc liệt đã chấm dứt khi chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ,khiến cho cơ cấu địa - chính trị và sự phân bố quyền lực toàn cầu bị đảo lộn,tương quan lực lượng thế giới nghiêng hẳn về phía có lợi cho chủ nghĩa tưbản (CNTB), nhất là các nước tư bản phát triển hàng đầu “Quá trình hìnhthành trật tự thế giới mới chứa đựng nhiều yếu tố bất trắc, khó đoán định,trong đó nổi lên hai khuynh hướng đối nghịch: Mỹ chủ trương một thế giớiđơn cực, trong khi các nước lớn khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, EU…lại đấu tranh cho một trật tự thế giới đa cực mà ở đó vị trí bá quyền của Mỹđược kiềm chế, quyền lãnh đạo thế giới được chia sẻ cho các nước lớn Mặtkhác, do tính chất và nội dung trong giao lưu quốc tế thay đổi một cách cănbản với vị trí ưu tiên hàng đầu thuộc về yếu tố kinh tế, nên phương thức tậphợp lực lượng trên thế giới cũng bị chi phối trước hết và chủ yếu từ lợi íchkinh tế - chính trị của các quốc gia, đồng thời trở nên rất cơ động, linh hoạt,vừa hợp tác vừa đấu tranh trong cùng tồn tại hoà bình” [ 39, tr 12 ]
-Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục có bước tiến nhảy vọt tác động sâu sắc tình hình kinh tế, chính trị xã hội và quan hệ quốc tế Đây là
một đặc điểm quan trọng của tình hình thế giới trong giai đoạn hiện nay Cáchmạng khoa học - công nghệ (KHCN) hiện đại làm bùng nổ những thành tựutrong các ngành mũi nhọn như điện tử - tin học, vật liệu mới, năng lượng mới,công nghệ sinh học, tự động hoá , thúc đẩy lực lượng sản xuất của thế giớiphát triển mạnh mẽ chưa từng thấy; đồng thời đưa đến sự phát triển, biến đổitheo chiều sâu các lĩnh vực đời sống xã hội Tuy nhiên, những tiến bộ củacách mạng KHCN lại chủ yếu thuộc về các nước phát triển do họ có thực lực
Trang 30kinh tế, tiềm lực khoa học hùng mạnh cùng với mạng lưới công ty xuyên quốcgia vươn rộng khắp hành tinh Các nước đang phát triển, trong đó có ViệtNam, do những hạn chế về nhiều mặt nên không dễ dàng có thể tiếp cậnnhững thành tựu KHCN tiên tiến, thậm chí đứng trước nguy cơ trở thành nơithu nhận những công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường được chuyển giao
từ các nước phát triển
Sau chiến tranh lạnh xu thế phát triển kinh tế tri thức đang ngày cànglôi cuốn và tác động mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia, dân tộc tạo ra nhữngthay đổi căn bản không chỉ trong đời sống kinh tế - xã hội, mà cả trong sosánh lực lượng cũng như ngôi vị của mỗi quốc gia trên trường quốc tế Mức
độ phát triển kinh tế tri thức trở thành một tiêu chí - thước đo hàng đầu củatrình độ phát triển của mỗi quốc gia hiện nay Việt Nam và Hàn Quốc cũngnhư nhiều quốc gia khác đang phải chạy đua để gia tăng phát triển KHCN.Việt Nam quyết tâm thực hiện CNH- HĐH đất nước, rút ngắn khoảng cáchvới các nước phát triển Để thực hiện nhiệm vụ này, việc phát triển quan hệvới Hàn Quốc có một vị trí khá quan trọng, bởi tiềm năng to lớn của HànQuốc về nhiều mặt, nhất là trên lĩnh vực khoa học kỹ thuật (KHKT) và côngnghệ hiện đại
“Một đặc điểm khác của thế giới trong kỷ nguyên cách mạng KHCN
hiện đại là toàn cầu hóa kinh tế trở thành một xu thế khách quan lôi cuốn
ngày càng nhiều nước tham gia Tuy nhiên, xu thế này đang bị một số nước
phát triển và các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiềumâu thuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa cóđấu tranh”[ 23, tr 51]
TCH không chỉ tạo ra những biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, mà còn thúcđẩy mối quan hệ liên quốc gia gia tăng cả về bề rộng lẫn chiều sâu Tự do hóakinh tế và cải cách thị trường trên toàn cầu diễn ra phổ biến Các nền kinh tếdựa vào nhau, liên kết với nhau, xâm nhập lẫn nhau, khiến cho tính tuỳ thuộclẫn nhau giữa các nước ngày càng tăng TCH thúc đẩy hợp tác, phân công lao
Trang 31động quốc tế sâu rộng, kích thích tăng trưởng kinh tế Các hình thức hợp tác,liên kết kinh tế trở nên nhiều vẻ và rất phong phú về nội dung Mặt khác,những lợi ích và bất lợi do toàn cầu hoá tạo ra không được chia sẻ một cáchđồng đều, làm trầm trọng thêm khoảng cách phát triển giữa các quốc gia vàtrong từng quốc gia “TCH là một quá trình đầy mâu thuẫn và không chỉ thuầntuý là một quá trình kinh tế - kỹ thuật, mà còn là cuộc đấu tranh kinh tế
- xã hội, kinh tế - chính trị và văn hoá - tư tưởng rất gay gắt với thời cơ vàthách thức đan xen nhau đối với nhiều nước, nhất là các nước đang phát
triển”[21, tr 66-68] Mặc dù vậy, trong tư cách một xu thế lịch sử, toàn cầu
hoá lôi cuốn tất cả các nước tham gia và mỗi nước cần xác định cho mìnhđường lối hội nhập toàn cầu hoá một cách thích hợp
Đứng trước xu thế TCH, cả Việt Nam và Hàn Quốc đều phải chủ động,tích cực hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tranh thủ cơ hội, tìm kiếm vị trí có lợinhất cho mình, đồng thời hạn chế thấp nhất những nguy cơ, thách thức Pháttriển quan hệ đối tác toàn diện Việt - Hàn giúp hai nước có thể bổ sung, hỗ trợcho nhau trong quá trình tham gia TCH
Sau chiến tranh lạnh, môi trường an ninh toàn cầu tiếp tục có nhữngxáo trộn và bất ổn định lớn do Mỹ và đồng minh liên tiếp phát động hai cuộc
chiến ở Apganistan và Irắc Mặt khác, trên thế giới đấu tranh giai cấp và đấu
tranh dân tộc vẫn diễn ra gay gắt dưới nhiều hình thức mới vì hoà bình, dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội Xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, những bất ổn do mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố xảy ra ở nhiều nơi, nhất là tại khu vực các nước đang phát triển Toàn bộ tình hình trên tác động trực tiếp và nhạy cảm đến đời
sống quan hệ quốc tế hiện đại, nó đòi hỏi các nước phải có cách tiếp cận phùhợp để bày tỏ chính kiến, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, trước hết là bảo vệnền độc lập, duy trì định hướng phát triển đã lựa chọn, hội nhập quốc tế mộtcách hiệu quả
Trang 32Độc lập dân tộc và bình đẳng hoá các mối quan hệ quốc tế đang tiếp tục
là những vấn đề lớn và bức xúc nhất trong giai đoạn hiện nay của thời đại.Các dân tộc nhỏ yếu, chậm phát triển không những phải gánh chịu những thuathiệt về nhiều mặt, mà còn có nguy cơ bị đẩy ra bên lề cuộc sống hiện đại Hốngăn cách giữa “khu vực trung tâm” và “khu vực ngoại vi” của thế giới tư bảnngày càng sâu rộng thêm Các thế lực đế quốc tiếp tục sử dụng chính sáchxâm lược, chia để trị, can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ của nhiềunước đang phát triển Trong so sánh lực lượng thế giới nghiêng về phía có lợicho các nước tư bản đế quốc, những nguy cơ đối với độc lập chủ quyền quốcgia dân tộc và tiến trình bình đẳng hoá các quan hệ quốc tế luôn hiện hữu tiềmtàng và thách thức nhiều nước mà Việt Nam và cả Hàn Quốc cũng không làngoại lệ Đây là cơ sở khách quan thúc đẩy sự hợp tác, phối hợp hoạt độnggiữa hai nước trong việc tham gia giải quyết các vấn đề quốc tế có liên quan
Sự vận động của thế giới sau chiến tranh lạnh, còn cho thấy một đặc
điểm nổi lên là các nước lớn và quan hệ giữa các nước lớn trở thành nhân tố
cực kỳ quan trọng tác động đến sự phát triển thế giới Trong số hơn 200 quốc
gia, một số cường quốc có sức chi phối lớn đối với chính trị, kinh tế thế giới
và quan hệ quốc tế đương đại Căn cứ vào sức mạnh tổng hợp, ảnh hưởngthực tế, những quốc gia sau đây được cộng đồng quốc tế coi là nước lớn: Mỹ,Pháp, Đức, Anh, Italia, Nga Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, trong đó Mỹ có
ưu thế khá nổi trội, tỏ rõ tham vọng "lãnh đạo thế giới" Đa số nước lớn lànhững cường quốc hàng đầu về kinh tế, khoa học, công nghệ, sức mạnh quân
sự Có 5 nước lớn là uỷ viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.Nhóm G7 là những nước tư bản phát triển nhất Quan hệ của Hàn Quốc cũngnhư của Việt Nam với các nước lớn, đặc biệt là với Mỹ và Trung Quốc có ảnhhưởng quan trọng đến sự phát triển quan hệ Việt - Hàn
Hiện nay, nhân loại đang đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu hết sức bức xúc mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết được nếu
Trang 33không có sự hợp tác đa phương Đây là một đặc điểm quan trọng chi phối đến
tập hợp lực lượng quốc tế và quan hệ quốc tế hiện nay Những vấn đề toàn cầucấp bách nhất đe dọa đến sự sống và sự phát triển bền vững của nhân loạitrước hết là tình trạng ô nhiễm môi trường, sự bùng nổ dân số, những bệnhdịch hiểm nghèo, tội phạm quốc tế Những nỗ lực chung của cộng đồng quốc
tế nhiều năm qua đã đưa lại một số kết quả trong việc làm giảm thiểu hiệu ứngnhà kính, xử lý nguồn nước và rác thải, chữa trị các bệnh lây nhiễmHIV/AIDS, SARS, dịch cúm gia cầm Nhưng, tính chất nghiêm trọng vàphức tạp của những vấn đề toàn cầu rõ ràng đang đòi hỏi các nước, nhất là cácnước phát triển cần đóng góp tích cực hơn nữa trong sự phối hợp, hợp táchành động một cách hiệu quả thiết thực Trên lĩnh vực này, Việt Nam và HànQuốc hoàn toàn có cơ sở và điều kiện thực tế để tăng cường các quan hệ hợptác trong khuôn khổ song phương cũng như đa phương
1.2.1.2 Bối cảnh khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Việt Nam và Hàn Quốc là hai nước thuộc CATBD, do đó sự vận động,phát triển của quan hệ giữa hai nước cũng luôn chịu những tác động nhiềuchiều từ những diễn biến của tình hình khu vực
Trước hết có thể thấy, trong xu thế phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa
khu vực trên thế giới, CA TBD đang chứng kiến và trở thành khu vực có sự
hợp tác đồng thời với cạnh tranh đang diễn ra sôi động, gay gắt nhất trên thế giới với nhiều tầng nấc khác nhau: từ cấp liên khu vực đến hợp tác theo khối nước và song phương Sự hợp tác khu vực chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế, gần
đây có mở rộng ra các lĩnh vực chống khủng bố và an ninh Sự cạnh tranh gaygắt diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư Trong lĩnh vực chínhtrị, đi đôi với sự hợp tác trong các nhóm nước có chung lợi ích, là sự cạnhtranh ảnh hưởng giữa các nước lớn rất quyết liệt, thậm chí kiềm chế lẫn nhaungày càng sâu sắc hơn Trong đó, sự hợp tác đan xen với cạnh tranh giữa Mỹvới Trung Quốc còn ẩn chứa tiềm tàng một cuộc xung đột mới với nhữngnguy cơ toàn cầu
Trang 34Xét trên nhiều góc độ, sự hợp tác khu vực lớn nhất thế giới hiện nay làDiễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) Việt Nam vàHàn Quốc đều là thành viên chính thức APEC „„Đến nay APEC có 21 nềnkinh tế thành viên từ 4 châu lục Dân số của các nước APEC trên 2,6 tỷ người(gần 50% dân số thế giới), đóng góp gần 50% thương mại thế giới và 60%GDP thế giới (hơn 23 nghìn tỉ USD) [23, 59] APEC chủ yếu hoạt động theohướng tập hợp lực lượng chính trị để tạo thế trong các cuộc đàm phán đa biên
và ổn định kinh tế khu vực Hướng hoạt động chính của APEC là các vấn đềkinh tế, tuy nhiên gần đây, vấn đề chính trị và an ninh cũng thường xuyênđược đưa vào chương trình nghị sự APEC được thành lập với tầm nhìn dàihạn là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, sự thịnh vượng cho khu vực và thắt chặtquan hệ trong cộng đồng CATBD Các biện pháp được thực hiện là cắt giảmthuế và các rào cản thương mại, đẩy mạnh xuất khẩu và xây dựng các nềnkinh tế hiệu quả APEC đang phấn đấu tạo dựng một môi trường để lưuchuyển an toàn và hiệu quả hàng hoá, dịch vụ và con người giữa các biên giớithông qua phối hợp chính sách và hợp tác kinh tế, kỹ thuật Để đạt được mụctiêu dài hạn, Tuyên bố Bôgo 1994 xác định mọi hoạt động của APEC nhằmthực hiện 3 mục tiêu lớn: 1) Củng cố hệ thống thương mại đa phương, APEC
sử dụng đầy đủ các nguyên tắc và kết quả của WTO để thực hiện các vòngđàm phán nội bộ khối và phát triển những kết quả vì mục tiêu tự do hoá hơntrong nội bộ khối 2) Tăng cường tự do hoá thương mại và đầu tư thông quaviệc loại bỏ những hạn chế về thương mại và đầu tư, xúc tiến trao đổi hànghoá, dịch vụ, tư bản giữa các nền kinh tế Mốc thời hạn tự do hoá thương mại
và đầu tư của APEC là năm 2010 đối với các thành viên phát triển và năm
2020 đối với các thành viên đang phát triển 3) Tăng cường hợp tác kinh tế
-kỹ thuật giữa các nền kinh tế APEC nhằm bảo đảm cho các nền kinh tế nàythực hiện có hiệu quả những cam kết quốc tế và nâng cao khả năng quản lý vĩ
mô đối với nền kinh tế Trong APEC, cả Việt Nam và Hàn Quốc cùng với
Trang 35Trung Quốc và các nước ASEAN đều là những đối thủ cạnh tranh quyết liệtvới nhau về thu hút đầu tư nước ngoài đến từ Nhật Bản, Mỹ và các nước EU.
Cùng với quá trình hợp tác trong khuôn khổ APEC, sự hợp tác giữa các
nhóm nước ở khu vực CATBD và châu Á ngày càng gia tăng ASEAN có xu
hướng đẩy mạnh liên kết sâu rộng và toàn diện hơn để tăng sức mạnh như một cộng đồng Một loạt chương trình đã được thông qua nhằm định hướng
cho tương lai hợp tác ASEAN như Tầm nhìn ASEAN 2020, Chương trình
hành động Hà Nội (1999 - 2004), Sáng kiến liên kết ASEAN (AIA) và Lộtrình Hội nhập ASEAN (RIA) Tại Hội nghị cấp cao lần thứ 9 (Ba-li, 2003),các nguyên thủ ASEAN đã thông qua Tuyên bố về sự hoà hợp ASEAN IInhằm thành lập Cộng đồng ASEAN với ba trụ cột chính là hợp tác an ninhchính trị, hợp tác kinh tế và hợp tác văn hoá xã hội đan xen và hỗ trợ lẫn nhau
vì mục đích đảm bảo hoà bình, ổn định và thịnh vượng chung trong khu vực.Trong mỗi lĩnh vực, ASEAN đã đưa ra các ý tưởng khá táo bạo, có tầm nhìn
xa nhằm thúc đẩy sự hợp tác toàn diện, phù hợp với bản sắc của ASEANhướng tới một khu vực liên kết chặt chẽ hơn
Ngoài việc tăng cường quá trình hợp tác, liên kết nội bộ, ASEAN cũngđang mở rộng liên kết ra bên ngoài theo các mô hình khác nhau:
Một là, mở rộng quan hệ song phương: ASEAN hợp tác với từng nước
Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,) với Nga và Ấn Độ theo môhình ASEAN + 1 Đáng chú ý là quan hệ ASEAN - Hàn Quốc cũng đang pháttriển mạnh mẽ, có bước phát triển đột phá vào năm 2004, với việc hai bên ký
“Tuyên bố chung về Quan hệ đối tác hợp tác toàn diện”, trong đó nêu rõ mục
đích là “để củng cố quan hệ đối tác toàn diện và lập định hướng tuơng laitrong thế kỷ XXI”) [53 ]; đồng thời đề ra phương hướng và các biện pháp hợp
tác cụ thể trong các lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế và phát triển Tuyên bốchung này không chỉ cung cấp nền tảng pháp lý cho việc phát triển quan hệASEAN - Hàn Quốc trong thế kỷ XXI, mà còn đề ra một chương trình nghị sựhợp tác rộng lớn, biến quan hệ này thật sự trở thành quan hệ đối tác toàn
Trang 36diện Tại Ma-ni-la ( Philippin) ASEAN (Trừ Thái lan) đã chính thức ký Hiệpđịnh tự do thương mại (FTA) với Hàn Quốc.
Bên cạnh đó, quan hệ Trung Quốc - ASEAN đang hướng tới tăngcường quan hệ đối tác chiến lược Tuyên bố chung của Hội nghị cấp cao kỷniệm 15 năm thiết lập quan hệ Trung Quốc - ASEAN khẳng định hai bên đãtạo lập được cơ sở vững chắc cho việc tăng cường sự hợp tác trong tương lai.Tuyên bố chung nhấn mạnh thúc đẩy quan hệ đối tác toàn diện trong các lĩnhvực chính trị - an ninh, kinh tế, xã hội, văn hoá, hợp tác khu vực và quốc tế.Quan hệ Hàn Quốc - ASEAN, rõ ràng, chịu nhiều thách thức từ mối quan hệTrung Quốc - ASEAN
Hai là, hợp tác theo mô hình ASEAN + 3 bao gồm 10 nước ASEAN,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc Một viễn cảnh hợp tác mới là hình thànhCộng đồng kinh tế Đông Á lấy hợp tác Trung - Nhật làm nền tảng, với vai tròthúc đẩy của ASEAN
Mặt khác, với những bước đi ban đầu tích cực hiện nay, triển vọng hợptác Đông Á với trụ cột ASEAN + 3 (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) đangtrở thành hiện thực Còn ở bên kia bờ Thái Bình Dương, khối mậu dịch tự doBắc Mỹ (NAFTA) gồm Mỹ, Canađa và Mêxicô cũng đang gây được sự chú ýlớn của các nước khu vực
Sự phát triển hợp tác ở khu vực CATBD và châu Á hiện nay còn có sựđóng góp của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) được thành lập năm 2001với 6 thành viên chính thức gồm Trung Quốc, Nga, Cadắcxtan, Cưrơgưxtan,Tatgikixtan và Udơbêkixtan, 4 nước quan sát viên Mông Cổ, Pakixtan, Iran và
Ấn Độ Tổng diện tích của 6 nước SCO là trên 30 triệu km2, chiếm 3/5 đại lục
Á - Âu; dân số vào khoảng gần 1,5 tỷ người, chiếm 1/4 dân số thế giới vớitổng GDP năm 2005 vượt 3.000 tỷ USD Khi thành lập cách đây 5 năm, SCOcoi chống khủng bố và an ninh là chủ đề quan trọng hàng đầu, hợp tác quân
sự là sự thể hiện tấn công "tận gốc" chủ nghĩa khủng bố SCO là tổ chức an
Trang 37ninh và chính trị khu vực nhưng đang dần dần trở thành tổ chức kinh tế khuvực.
Quan hệ song phương giữa các nước lớn CATBD cũng tác động nhiềumặt đến hợp tác và cạnh tranh trong quan hệ quốc tế ở khu vực với nhân tố
Mỹ là trục chính Trước tiên phải kể đến mối quan hệ truyền thống, chặt chẽ,toàn diện và có tính chiến lược giữa Mỹ với các nước đồng minh ở CATBD làNhật Bản, Hàn Quốc và Ôxtrâylia Bước sang những năm đầu thế kỷ 21, khu
vực CATBD ngày càng thể hiện rõ tính năng động cao của các quá trình hội
nhập khu vực Đặc điểm này có ảnh hưởng tích cực đến việc hình thành một
cấu trúc thế giới mới, công bằng hơn, đồng thời cũng tác động mạnh đến cácquan hệ song phương, trong đó có quan hệ Việt - Hàn
Vận động trong bối cảnh quốc tế và khu vực nêu trên, quan hệ đối táctoàn diện Việt Nam - Hàn Quốc rõ ràng đang đứng trước những cơ hội vàthách thức mới đan xen nhau phức tạp Tính chủ đạo của xu thế hoà bình, hợptác, phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá, cuộc đấu tranh thiết lập trật tự thếgiới mới, cuộc cạnh tranh mở rộng ảnh hưởng của các nước lớn cùng với nhucầu hợp tác giải quyết những vấn đề toàn cầu bức xúc đang tạo ra nhiềuxung lực mới cho việc củng cố, tăng cường quan hệ đối tác toàn diện ViệtNam - Hàn Quốc trong tình hình mới Tuy nhiên, trong cục diện cạnh tranhquốc tế quyết liệt hiện nay, thì vai trò còn hạn chế của Hàn Quốc so với cácnước lớn khác, đặc biệt về kinh tế ở CATBD cũng ảnh hưởng không thuậnchiều đến quan hệ Việt - Hàn Hàn Quốc bị cạnh tranh trên nhiều mặt tại ViệtNam từ phía các nước lớn khác và các nước có trình độ phát triển hơn CònViệt nam cũng gặp phải các đối thủ cạnh tranh mạnh từ phía các nướcCATBD và ĐNA trên thị trường Hàn Quốc
1.2.2 Công cuộc cải cách ở Hàn Quốc và đổi mới ở Việt Nam
1.2.2.1 Công cuộc cải cách ở Hàn Quốc
Từ 3 thập niờn cuối thế kỷ XX trở lại đây, Hàn Quốc đó đạt đượcnhững thành tựu phát triển hết sức to lớn, được thế giới biết đến với tên gọi
Trang 38"Kỳ tích sông Hàn" Sự thành công của Hàn Quốc là hội tụ của nhiều nhân tố,trong đó phải kể tới những đột phá trong chính sách phát triển kinh tế, những
nỗ lực không mệt mỏi của người dân Hàn Quốc, truyền thống văn hoá, lịch sử
và đặc biệt là vai trũ khụng thể thiếu của chớnh sỏch đối ngoại Trong bốicảnh sau chiến tranh lạnh, một loạt những thay đổi trong tất cả các lĩnh vực anninh, kinh tế, chính trị, xó hội quốc tế và khu vực tỏc động rất lớn đến quỏtrỡnh hoạch định chính sách đối nội, đối ngoại của các quốc gia, Hàn Quốccũng nhanh chóng điều chỉnh chính sách của mỡnh một cỏch chủ động, linhhoạt và kịp thời, hướng trọng tâm vào việc tập trung ưu tiên phát triển kinh tế
và cải thiện quan hệ đối ngoại với tất cả các nước, không phân biệt chế độ
chính trị Với chiến lược phát triển kinh tế hướng ngoại lấy xuất khẩu làm
động lực tăng trưởng đó gúp phần quan trọng vào sự chuyển đổi kinh tế toàn
diện của Hàn Quốc Dựa trên chiến lược này, nhiều chương trỡnh phỏt triển
đó được thực hiện thành công Kể từ năm 2000, cụng cuộc cải cách là trọng tâm của chính sách quốc gia Để tạo ra nhiều đổi mới hơn trong các ngành
công nghiệp, Hàn Quốc đang xúc tiến các chính sách thân thiện với doanhnghiệp cũng như là cỏc chớnh sỏch củng cố hợp tác giữa các cụng ty lớn vàdoanh nghiệp vừa và nhỏ Trải qua giai đoạn phát triển ngoạn mục trong mộtthời gian tương đối ngắn, chính phủ Hàn Quốc hiện nay đang chú ý tới “chấtlượng của tăng trưởng” Để đạt được mục tiêu này, Hàn Quốc đề cập tới 3 trụcột cho tăng trưởng trong tương lai: tăng trưởng có thể thúc đẩy tạo ra việclàm, tăng trưởng có thể thúc đẩy những sáng tạo trong các ngành công nghiệp
và tăng trưởng đem lại sự phát triển cân bằng giữa các tỉnh cũng như giữa cácvùng đô thị, giữa các công ty lớn và nhỏ „„Duy trì sự tăng trưởng kinh tế củaHàn Quốc là những ngành công nghiệp then chốt và đó được thế giới côngnhận Hàn Quốc là quốc gia đóng tàu lớn nhất thế giới; đối với chất bán dẫn:đứng thứ 3 thế giới; hàng điện tử kỹ thuật số: đứng thứ 4 May mặc, sắt thép
và các sản phẩm hoá dầu của Hàn Quốc đứng thứ 5 nếu xét về tổng giá trị và
ô tô đứng thứ 6 trên thế giới‟‟ [12, tr75]
Trang 39Giá trị sản lượng nông nghiệp của Hàn Quốc đó tăng gấp đôi so với 15năm trước Năm 2008, mặc dù tăng trưởng về nông nghiệp chậm lại nhưngHàn Quốc đó đạt được mục tiêu hàng đầu là tự cung tự cấp về gạo - nguồnlương thực chủ yếu của đất nước với sản lượng 4.8 triệu tấn Quỏ trỡnh cụngnghiệp húa làm giảm nhanh số dõn làm nụng nghiệp Tỷ lệ số dân nông thôntrong tổng số dân giảm mạnh từ 57% năm 1962 xuống tới 9% năm 2008.Trong hơn hai thập kỷ qua, việc mở rộng và hiện đại hoá công nghiệp đánhbắt cá đó đạt được những thành tựu đáng kể và ngành này đó trở thành mộtnguồn thu ngoại tệ quan trọng.
Về khoa học - công nghệ: trong những năm 1980, Hàn Quốc đó chuyểntrọng tõm sang cụng tỏc quy hoạch và thực hiện cỏc dự ỏn Nghiờn cứu vàPhỏt triển (R&D) quốc gia nhằm nõng cao năng lực khoa học và công nghệ
Sự chuyển hướng này bao gồm các chương trỡnh nhằm nõng cao đầu tưNghiên cứu và Phát triển trong cả khu vực kinh tế Nhà nước và tư nhân, bồidưỡng nguồn nhân lực có kỹ năng nghiên cứu và phát triển cao Từ đầu nhữngnăm 1990, Chính phủ đó tập trung vào ba lĩnh vực: tăng cường nghiên cứutrong lĩnh vực khoa học cơ bản, bảo đảm sự phân bổ và sử dụng có hiệu quảcác nguồn nghiên cứu, và phát triển mở rộng hợp tác quốc tế Những nỗ lựcnày nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh về công nghệ của Hàn Quốc.„„Cuốinăm 2004, tổng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển đạt 19 tỷ đô la Mỹ, chiếm2,85% GDP Hàn Quốc cũng sẽ tích cực đầu tư cho phát triển công nghệ phúclợi công cộng để cải thiện chất lượng cuộc sống, công nghệ, từ đó tạo ranhững ngành công nghiệp mới‟‟[12, tr 81]
- Cải cỏch tài chớnh : Một nền kinh tế thị trường hiện đại không thể
hoạt động hiệu quả nếu thiếu các tổ chức tài chính năng động và được giámsát chặt chẽ Ủy ban Giám sát Tài chính (FSC) - tổ chức đóng vai trũ cơ chếđiều tiết, thiết lập các thông lệ ngân hàng chung - đó tạo ra một hệ thống cácquy chế mới, sự giám sát thận trọng và một đề án thực hiện cải cách Lĩnh vựctài chính phi ngân hàng của Hàn Quốc cũng được cải tổ Tính đến 31-12-
Trang 402005, Chính phủ Hàn Quốc đó huy động các nguồn tài chính với tổng giá trị
là 168 tỷ won (xấp xỉ 171 tỷ đô la Mỹ) để hỗ trợ các tổ chức tài chính có thểtồn tại trong việc cơ cấu lại vốn, thanh toán các khoản vay không trả được và
xử lý cỏc cơ sở tài chính cũng phải nỗ lực phục hồi, bao gồm cả việc giảmquy mô và tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Đối với Hàn Quốc, tổng giá trị
thương mại hàng nhập khẩu tương đương với 70% GDP của cả nước trongnăm 2005, trong khi tổng doanh thu của các đầu tư nước ngoài chỉ chiếmkhoảng 14% Như vậy, Hàn Quốc đang nỗ lực để hỗ trợ các công ty nướcngoài Hàn Quốc đạt 11 tỷ đôla Mỹ đầu tư nước ngoài năm 2006 tương đương
2005 Sự quan tâm của các nhà đầu tư trong lĩnh vực này là đương nhiên khixem xét tới đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D) khổng lồ của Hàn Quốchàng năm, giúp cho Hàn Quốc đứng hàng thứ 10 hàng năm Việc cống hiếnnhư vậy đó xem lại thành tựu trong nhiều lĩnh vực.Trong năm 2005, HànQuốc đứng thứ sáu xét về số lượng xin cấp bằng phát minh sáng chế quốc tếnộp tại tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và đến năm 2008 Hàn Quốcđứng thứ 3 về số lượng (Mỹ 206.790, Nhật Bản 87.620, Hàn Quốc 15.000)đơn đăng ký sỏng chế Bên cạnh những tiềm năng của Hàn Quốc là trung tâmchâu Á, Hàn Quốc có một lợi thế nữa là các công ty có thể dễ dàng mở rộng
ra thị trường nước ngoài sau khi đó cú hơn một nửa của 500 công ty hàng đầutạp chí Fortune có mặt tại Hàn Quốc
Đến nay, Hàn Quốc đó cú quan hệ ngoại giao với 183 nước trong số
192 thành viên Liên hợp quốc, là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và khuvực, ngày càng có vị trí quan trọng trên trường quốc tế Năm 1996, HànQuốc trở thành nước thành viên thứ 29 của Tổ chức Hợp tác và Phát triểnKinh tế (OECD) Là nền kinh tế lớn thứ 11 thế giới, Hàn Quốc nổi lên nhưmột câu chuyện thành đạt trong nhiều lĩnh vực „„Kết quả là từ năm 1962 đếnnăm 2005, tổng thu nhập quốc dân (GNI) của Hàn Quốc tăng từ 2,3 tỷ đô la
Mỹ lên 786,8 tỷ đô la Mỹ, với thu nhập bình quân tính theo đầu người tăng