Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài nghiên cứuquan hệ thương mại và đầu tư giữa Thái Lan và Việt Nam từ năm 1995 đếnnay nhằm luận giải các vấn đề trong mối quan hệ quốc tế giữa hai nước,khô
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HÀ NỘI – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-JIRAYOOT SEEMUNG
QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ
GIỮA THÁI LAN VÀ VIỆT NAM TỪ
NĂM 1995 ĐẾN NAY
Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Mã số: 60 31 02 06
Giáo viên hướng dẫn: TS Trương Duy Hòa
HÀ NỘI – 2014
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -ĐƠN XÁC NHẬN ĐIỀU CHỈNH LUẬN VĂN
Chủ tịch Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành
Quan hệ Quốc tế (Mã số: 60310206).
Tên em là Jirayoot Seemung, học viên cao học khóa QH-2012 X, chuyên ngành Quan hệ Quốc tế, Khoa Quốc tế học Em đã hoàn thành bảo vệ Luận văn thạc
sĩ khoa học chuyên ngành Quan hệ Quốc tế, mã số 60310206 ngày 25 tháng 09 năm
từ năm 1995 đến nay”..
Theo những đánh giá, nhận xét và kết luận của Hội đồng chấm luận văn ngày
25 tháng 09 năm 2014, luận văn của em đã có sự điều chỉnh như sau:
- Chuyển các bảng thông tin chi tiết về các mặt hàng xuất nhập khẩu và
10 loại hàng hóa quan trọng nhất xuất nhập khẩu giữa hai nước ra phần mục lục
- Bổ sung phần tiểu kết tại chương 1, chương 2 và chương 3
- Kiểm tra lại trích dẫn và sắp xếp lại danh mục tài liệu tham khảo
Nay em làm đơn này kính đề nghị GS.Vũ Dương Ninh - Chủ tịch Hội đồng xác nhận việc bổ sung nói trên của em đã tuân thủ theo đúng yêu cầu.
Em xin trân trọng cảm ơn.
Xác nhận của Chủ tịch hội đồng
GS.Vũ Dương Ninh
Trang 43
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIÊT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU
Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH MỐI QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ GIỮA THÁI LAN VÀ VIỆT NAM
1.1 Quan hệ ngoại giao giữa Thái Lan và Việt Nam trước năm 1995
1.1.1 Quan hệ ngoại giao giữa hai nước giai đoạn 1975 – 1979
1.1.2.Quan hệ ngoại giao Thái Lan – Việt Nam giai đoạn 1979-1988
1.1.3.Quan hệ ngoại giao Thái Lan – Việt Nam giai đoạn 1988 – 1994
1.2 Quá trình phát triển quan hệ thương mại giữa Thái Lan và Việt Nam trước năm 1995
1.2.1 Quan hệ thương mại và đầu tư Thái Lan - Việt Namnăm 1975 – 1988
1.2.2 Quan hệ thương mại và đầu tư Thái Lan - Việt Nam giai đoạn 1989-1994
1.3 Một số nguyên nhân hạn chế quan hệ thương mại và đầu tư giữa Thái Lan và Việt Nam
1.3.1 Những nguyên nhân trong giai đoạn ban đầu 1989-1994
1.3.2 Những nhân tố tích cực báo hiệu cho quá trình hợp tác kinh tế tốt đẹp giữa hai nước vào nửa đầu những năm 1990
1.4 Tiểu kết
Chương 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ GIỮA THÁI LAN VÀ VIỆT NAM TỪ NĂM 1995 ĐẾN NAY
2.1 Những yếu tố tác động đến tiến trình hợp tác kinh tế giữa Thái Lan và Việt Nam
2.1.1.Bối cảnh thế giới và khu vực
2.1.2.Quan hệ ngoại giao giữa Thái Lan và Việt Nam giai đoạn 1995 – 2013
2.2 Quan hệ thương mại giữa Thái Lan và Việt Nam từ năm 1995 – 2013 2.2.1 Quan hệ thương mại giữa Thái Lan và Việt Nam giai đoạn 1995 –2002 .
Trang 62.2.2 Quan hệ thương mại giữa Thái Lan và Việt Nam giai đoạn 2003–2008 56
2.2.3 Quan hệ thương mại giữa Thái Lan và Việt Nam giai đoạn 2009–2013 59
2.3 Quan hệ đầu tư giữa Thái Lan và Việt Nam tư năm 1995 – 2013 62
2.3.1.Quan hệ đầu tư giữa hai nước giai đoạn 1995-2000 63
2.3.2.Quan hệ đầu tư giữa Thái Lan và Việt Nam giai đoạn 2001 -2006 68
2.3.3 Quan hệ đầu tư Thái Lan - Việt Nam giai đoạn 2007 – 2013 71
2.4 Tiểu kết 76
Chương 3 DỰ BÁO QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ GIỮA THÁI LAN VÀ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA HAI NƯỚC 78
3.1 Những thuận lợi trong quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai nước 78
3.1.1 Về bối cảnh trong khu vực 78
3.1.2.Về quan hệ ngoại giao và kinh tế giữa Thái Lan và Việt Nam 79
3.2 Một số khó khăn trong quan hệ thương mại và đầu tư giữa Thái Lan và Việt Nam 83
3.3 Dự báo về quan hệ thương mại và đầu tư Thái Lan – Việt Nam thời gian tới 86
3.4 Giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại và đầu tư giữa Thái Lan và Việt Nam 88
3.4.1 Giải pháp đối với quan hệ thương mại giữa hai nước 88
3.4.2 Giải pháp đối với quan hệ đầu tư giữa hai nước 90
3.5 Tiểu kết 92
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 105
Trang 8Bảng 2.5 Dự án đầu tư Thái Lan được cấp phép từ năm 1995-2000
Bảng 2.6 Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, 1995-2000
Bảng 2.7 Các dự án đầu tư của Thái Lan được cấp phép (2005 – 2006)
Bảng 2.8 Dự án đầu tư Thái Lan được cấp phép từ năm 7002 –
7002 Bảng 2.9 Giá trị đầu tư nước ngoài tại Việt Nam từ năm 2013
Bảng 2.10 Biểu đồ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam tư năm 2013
Phụ lục 1 Các mặt hàng Thái Lan xuất khẩu sang Việt Nam năm 1995 - 2002
Phụ lục 2 10 loại hàng hóa quan trọng nhất xuất khẩu từ Thái Lan sang Việt Nam năm 1995 – 2002
Phụ lục 3 Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Thái Lan năm 1995 - 2002
Phụ lục 4 10 loại hàng hóa quan trọng nhất xuất khẩu từ Việt Nam sang Thái Lan năm 1995 – 2002
Phụ lục 5 Các mặt hàng Thái Lan xuất khẩu sang Việt Nam năm 2003 – 2008
Trang 9Phụ lục 6 10 loại hàng hóa quan trọng nhất Thái Lan xuất khẩu sang Việt Nam năm
2003 – 2008
Phụ lục 7 Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Thái Lan năm 2003 - 2008
Phụ lục 8 10 loại hàng hóa quan trọng nhất xuất khẩu từ Việt Nam sang Thái Lan năm 2003 – 2008
Phụ lục 9 Các mặt hàng Thái Lan xuất khẩu sang Việt Nam năm 2009 - 2013
Phụ lục 10 10 loại hàng hóa quan trọng nhất xuất khẩu từ Thái Lan sang Việt Nam năm 2009 – 2013
Phụ lục 11 Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Thái Lan năm 2009 - 2013 Phụ lục 12 10 loại hàng hóa quan trọng nhất xuất khẩu từ Việt Nam sang Thái Lan năm 2009 – 2013
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay quan hệ thương mại và đầu tư giữa các nước ngày càng đóngvai trò quan trọng trên thế giới vì kết quả của nó đã và đang thúc đẩy sự tăngtrưởng kinh tế của các quốc gia Điều này làm cho kinh tế quốc gia không thểtách rời nền kinh tế khu vực và thế giới, bởi vì chỉ có phát triển thương mại vàđầu tư thì các quốc gia mới có thể phát triển giàu mạnh Thái Lan và ViệtNam cũng không ngoại lệ
Thái Lan và Việt Nam là hai nước có quan hệ từ lâu đời Quan hệ giữahai nước đã trải qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử từ khi hai nước thiếtlập quan hệ ngoại giao vào năm 1976 Kể từ đó, hai nước đã luôn cố gắng đểxây dựng mối quan hệ qua lại lẫn nhau Bắt đầu từ năm 1977, đã có nhữngchuyến thăm chính thức của nguyên thủ cả hai nước, cụ thể là Bộ trưởngNgoại giao Việt Nam Nguyễn Duy Trinh đã sang thăm chính thức Thái Lannăm 1978 Trong chuyến thăm đó, hai bên ra Thông cáo chung khẳng địnhquyết tâm củng cố và phát triển mối quan hệ giữa hai nước trên cơ sở Thôngcáo được ký tại Hà Nội ngày 6/8/1976; đồng thời hai bên cũng đã thỏa thuận
về việc lập đại sứ quán và trao đổi Đại sứ giữa hai nước Ngoài ra, hai bên còn
ký Hiệp định thương mại, hợp tác kinh tế, kỹ thuật và Hiệp định về vậnchuyển hàng không giữa hai nước Đây là hiệp định đầu tiên được ký giữa hainước nằm trong thời gian đầu vừa mới thiết lập quan hệ ngoại giao
Từ năm 1979 đến 1985, quan hệ Thái Lan - Việt Nam trở nên xấu đi và
có lúc rất căng thẳng do vấn đề Campuchia Thái Lan đã dùng các hoạt độngchính trị, ngoại giao và kinh tế để gây sức ép với Việt Nam trong vấn đềCampuchia Thái Lan sử dụng các diễn đàn quốc tế như ASEAN, Liên HợpQuốc nhằm yêu cầu Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, hoãn các đoàn sang
Trang 11thăm Việt Nam, tuyên bố đình chỉ quan hệ ở mức thích hợp, như chỉ có cáccuộc tiếp xúc ở cấp thứ trưởng bộ ngoại giao Về kinh tế thương mại, năm
1985 Ngoại trưởng Thái Lan đã tuyên bố rằng, “không ngăn cản, cũng khôngkhuyến khích tư nhân Thái Lan buôn bán với Việt Nam” Trong năm 1985,doanh nghiệp hai nước đã thực hiện được một hợp đồng buôn bán gỗ, nối lạiquan hệ thương mại đã bị gián đoạn trong một thời gian dài
Trong giai đoạn từ 1986 đến 1990, cùng với những tiến triển tình hình ởCampuchia, trong đó có việc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và việcChính phủ mới được thành lập ở Thái Lan do ông Chatichat Choonhavan làmThủ tướng, với tuyên bố nổi tiếng “Biến Đông Dương từ chiến trường thànhthị trường”, quan hệ giữa Thái Lan và Việt Nam đã dần được khôi phục và cảithiện Từ đây, quan hệ thương mại hai nước bắt đầu phát triển (kim ngạchnăm 1990 đạt 114 triệu USD) Còn đối với lĩnh vực đầu tư, do hiểu biết củahai bên về khả năng kinh tế và thị trường lẫn nhau còn rất nhiều hạn chế nênlĩnh vực này phát triển chậm và gặp nhiều khó khăn Hai bên còn thiếu nhiềukinh nghiệm trong làm ăn với nhau Tuy vậy, cả hai bên đã bắt đầu xúc tiếnviệc hợp tác trên một số lĩnh vực như: dầu khí, ngân hàng, du lịch, chế biếnnông sản, xuất khẩu gạo, v.v
Bước sang giai đoạn 1991-1995, quan hệ thương mại và đầu tư giữa ViệtNam và Thái Lan bắt đầu có bước phát triển mang tính bước ngoặt Hai bêntrao đổi nhiều đoàn cấp cao, nhiều Hiệp định quan trọng đã được ký kết, tạo
cơ sở vững chắc cho việc phát triển và tăng cường quan hệ hai nước Đángchú ý là một số hiệp định và thỏa thuận đã được ký kết như: Hiệp định thànhlập Ủy ban hợp tác kinh tế kỹ thuật (9/1991), Hiệp định khuyến khích và bảo
hộ đầu tư (10/1991), Nghị định thư sửa đổi Hiệp định thương mại, hợp táckinh tế và kỹ thuật 1978 (1/1992), các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần
Trang 12(12/1992), Tín dụng 150 triệu bạt (12/1992) và hợp tác Du lịch (3/1994).Trong giai đoạn này, Thái Lan cũng đã dành cho Việt Nam về hỗ trợ kỹ thuật(ODA), chẳng hạn trong năm tài chính 1992 - 1993 là 0,8 triệu USD và năm
1993 - 1994 là 1,6 triệu USD Quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư bắt đầutăng khá nhanh Về thương mại, kim ngạch buôn bán 2 chiều tăng từ 140 triệuUSD (1991) lên 158 triệu USD (1992), 200 triệu USD (1993), 250 triệu USD(1994), và năm 1995 đạt 509 triệu USD Về đầu tư, tính đến tháng 11/1995,Thái Lan đứng thứ 13 trong số các nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, với 56
dự án trị giá 454,85 triệu USD1
Như vậy, chúng ta có thể thấy quá trình phát triển quan hệ giữa Thái Lan
và Việt Nam nói chung và quan hệ thương mại và đầu tư của Thái Lan và ViệtNam nói riêng trong giai đoạn 1975 - 1995, có những bước phát triển nhanh,chậm khác nhau tùy thuộc tính chất từng giai đoạn
Tuy nhiên, đến năm 1995, Việt Nam đã trở thành viên chính thức củaASEAN Điều đáng chú ý là từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viêncủa Hiệp hội ASEAN thì quan hệ thương mại và đầu tư giữa Thái Lan và ViệtNam sẽ phát triển như thế nào? Hiệp hội ASEAN có ảnh hưởng gì tới sự pháttriển thương mại và đầu tư giữa hai nước hay không? Đây là vấn đề cần đượcnghiên cứu một cách có hệ thống Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài nghiên cứuquan hệ thương mại và đầu tư giữa Thái Lan và Việt Nam từ năm 1995 đếnnay nhằm luận giải các vấn đề trong mối quan hệ quốc tế giữa hai nước,không những giúp chúng ta đánh giá được cơ sở, thực trạng, hiệu quả và triểnvọng của mối quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai bên, mà còn giúp chúng
ta hiểu rõ tác động của các nhân tố này đến quan hệ chính trị - ngoại giao giữahai nước ở phạm vi khu vực và quốc tế
1 Lê Văn Lương (2001), Việt Nam và Thái Lan : tiến tới mối quan hệ đội tác ổn định, lâu dài trong thế kỷ
21, Nghiên cưu Quốc Tế, tập 3 (số 40),tr 3-9
Trang 13Xét từ góc độ trên đây, đề tài luận văn vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ýnghĩa thực tiễn sâu sắc, vì nó giúp chúng ta đánh giá được thực trạng và hiệuquả của các mối quan hệ quốc tế trong lĩnh vực thương mại và đầu tư Đồngthời, từ những kết quả nghiên cứu từ thực tiễn thương mại và đầu tư giữa hainước sẽ giúp chúng ta củng cố và hoàn thiện hơn những lý luận về quan hệquốc tế.
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Mối quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan đã hình thành từ lâu trong lịch
sử Sự phù hợp về lợi ích giữa hai nước trên nhiều mặt kinh tế, văn hóa, xãhội, chính trị là cơ sở vững chắc cho sự phát triển quan hệ kinh tế thươngmại giữa hai nước Ngày nay, thế giới đang diễn ra xu thế toàn cầu hóa đòi hỏimỗi quốc gia phải có một quan hệ đối ngoại cũng như hợp tác tích cực chủđộng để hòa nhập vào xu thế của sự phát triển Việc nghiên cứu mối quan hệthương mại và đầu tư giữa Thái Lan và Việt Nam sẽ góp phần giúp chúng tahiểu được những bài học lịch sử trong quan hệ thương mại và đầu tư giữaThái Lan và Việt Nam Để tìm hiểu vấn đề này cũng đã có nhiều chuyên gia,nhà nghiên cứu sử học đã có nhiều công trình nghiên cứu và các bài viết tiểubiểu như sau:
Tác giả Ngô Thị Khánh (2009), với bài viết “Mối quan hệ kinh tế và giao
lưu văn hóa Việt – Thái trong Lịch sử” đã đề cập tới lĩnh vực kinh tế trong
mối quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan đã được thư tịch cổ ghi lại từ thế kỉXII qua việc thành lập thương cảng Vân Đồn Sau đó mối quan hệ kinh tế nàyđược tiếp tục phát triển vào thời kì Lê sơ Từ khi chúa Nguyễn cát cứ ở ĐàngTrong thì các thương nhân người Xiêm chủ yếu buôn bán ở Thuận Hóa và sau
đó tới Sài Gòn - Gia Định Trong thời kỳ thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâmlược Việt Nam thì mối quan hệ kinh tế giữa hai bên bị chững lại Sau khi Thái
Trang 14Lan và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1976 thì mối quan hệ kinh
tế giữa hai nước đã dần được khôi phục và có nhiều bước tiến đáng kể Kimngạch thương mại song phương liên tục tăng, các nhà đầu tư Thái Lan có mặtngày càng nhiều ở Việt Nam Ngoài ra, hai nước còn hợp tác trong tiểu vùngsông Mê Kông và trong khuôn khổ hiệp định AFTA, v.v…
Còn trong lĩnh vực văn hóa, quan hệ Việt - Thái được thể hiện chủ yếuqua tộc người Thái và đạo Phật Đôi điều sơ lược về sự tương đồng giữangười Thái Lan và người Thái ở Việt Nam cho chúng ta thấy rằng, các nhómtộc người Thái trong đó có người Thái Lan và người Thái ở Việt Nam đều cónguồn gốc xuất phát từ những nhóm tộc người Thái cổ có địa bàn sinh sống ởkhu vực Tây Nam (Trung Quốc) và có thể vùng sinh tụ chủ yếu là vùng BắcĐông Dương hiện nay như tài liệu của người Thái ở Việt Nam đã cho thấy2
Tác giả Nguyễn Quỳnh Nga (1997) trong bài nghiên cứu “Quan hệ Việt
Nam – Thái Lan giai đoạn 1976-1996” cho rằng, quan hệ kinh tế Việt Nam –
Thái Lan đã có những thuật lợi cơ bản là đáp ứng những đòi hỏi khách quancủa sự phát triển chung của mỗi nước Tuy nhiên, việc hợp tác và liên doanh
sẽ giúp cho nền kinh tế hai nước có thể bổ sung lẫn nhau Giới kinh doanhThái Lan đã tăng cường các hoạt động buôn bán và đầu tư vào nền kinh tếđang lớn mạnh của Việt Nam Buôn bán song phương gia tăng đáng kể từ 140triệu USD năm 1991 lên 510 triệu USD năm 1995 Tính đến tháng 10/1997tổng kim ngạch buôn bán hai chiều đạt khoảng 960 triệu USD, xấp xỉ kếhoạch đã đề ra (1 tỷ USD) Trong năm 1991, Thái Lan đứng thứ 13 trong sốcác nước đầu tư vào Việt Nam với tổng giá trị đầu tư là 468 triệu USD Đếntháng 12/1997, Thái Lan đứng thứ 9 với tổng số vốn đầu tư hơn một tỷ USDtrong 94 dự án Cùng với lĩnh vực kinh tế, giao lưu và hợp tác văn hóa giữa
2 Ngô Thị Khánh (2009), Mối quan hệ kinh tế và giao lưu văn hóa Việt – Thái trong Lịch sủ, Khóa luật tốt
nhgiệp Khoa lịch sử, Trường Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh Hồ Chì Minh.
Trang 15hai nước cũng được phát triển, nhằm tạo sự hiểu biết lẫn nhau, thắt chặt tìnhđoàn kết hữu nghị 3.
Cuốn sách “Quan hệ Việt Nam – Thái Lan giai đoạn 1976 - 2000” của
tác giả Hoàng Khắc Nam đã cung cấp nhiều thông tin cơ bản và phân tích sâusắc mối quan hệ ngoại giao giữa Thái Lan và Việt Nam từ 1975 đến năm
2000 Đặc biệt, trong nội dung cuốn sách này, tác giả đã trình bày khá rõ ràngmối quan hệ giữa Thái Lan và Việt Nam trong hai giai đoạn: 1976 - 1989 và
1989 - 2000 Theo tác giả, quan hệ giữa Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn
1976 – 1989 có rất nhiều sự kiện sôi động, với nhiều năm khó khăn trongquan hệ “đối đầu” giữa hai khối Đông Dương và ASEAN, trong đó bao gồm
cả quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Thái Lan Chỉ có thể lý giải tình trạng
đó trong sự phân tích những nhân tố bên ngoài và những nhân tố bên trongdựa trên tình hình quốc tế, những tính toán từ các cường quốc và những lựachọn của từng quốc gia có liên quan Nhưng từ cuối những năm 1980, xu thếhòa dịu giữa các siêu cường, nhu cầu hòa bình và ổn định của các bước ĐôngNam Á, cùng với sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của các nước lớn đã mở
ra một hướng đi mới cho mối quan hệ giữa các nước trong khu vực Quan hệViệt Nam - Thái Lan cũng đi theo cùng một hướng chung trong xu thế khuvực hóa và toàn cầu hóa
Trong giai đoạn thứ hai, 1989 – 2000, quan hệ Thái Lan và Việt Nam cónhiều bước tiến đột phá Đáng chú ý nhất là từ sau khi Việt Nam trở thànhthành viên của ASEAN (1995), quan hệ Việt - Thái vừa mang tính songphương giữa hai quốc gia, vừa mang tính đa phương trong mối quan hệ giữacác thành viên của Hiệp hội Do vậy, mối quan hệ đa phương đã tạo nênnhững hiệu ứng tích cực cho mối quan hệ Việt - Thái Mối quan hệ song
3 Nguyễn Quỳnh Nga (1997), Quan hệ Việt Nam – Thái Lan giai đoạn 1976-1996, Luật văn tốt nghiệp quan
hệ quốc tế, Khoa quốc tế học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Hà Nội.
Trang 16phương lại là một động lực góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của khuvực Tác động qua lại trong bối cảnh hòa bình và ổn định đã nhân lên gấp bộisức mạnh của từng nước thành viên, tạo dựng một môi trường thuận lợi cho
sự hợp tác và phát triển trong toàn Đông Nam Á.4
Tác giả Somchai Phagaphasvivat (1996) đã viết về “10 năm thương mại
và đầu tư Thái Lan tại Việt Nam: Những khó khăn và cơ hội hợp tác”, theo
đó, tác giả cho rằng, quan hệ thương mại và đầu tư của Thái Lan tại Việt Nam
có thế chia thành 2 giai đoạn: từ năm 1986 đến 1991 và từ 1992 đến 1995.Trong giai đoạn đầu, quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai nước còn thấp,nhưng từ năm 1992 trở đi, quan hệ thương mại giữa hai bên đã mở rộng,nhưng vẫn còn hạn chế nếu so với một số đối tác khác Tác giả đã lý giảinguyên nhân là do các nhà kinh doanh Thái Lan phần lớn chỉ chú trọng tậptrung đầu tư để kiếm lời nhanh, mà không chịu khó tìm hiểu rõ về điểm mạnh
và điểm yếu của Việt Nam Và một lý do khác nữa là do người Thái còn thiếukinh nghiệm và chưa có nhiều kĩ năng trong việc đầu tư ra nước ngoài, chưa
có kế hoạch đầu tư bài bản và chưa có chiến lược đầu tư một cách có hiệuquả Ngoài ra, trong quan hệ ngoại giao giữa hai nước thời kỳ này cũng gặpnhiều vấn đề khá nan giải, như vấn đề Campuchia, vì vậy cũng không tạonhiều thuận lợi cho quan hệ kinh tế và đầu tư Tác giả đề xuất biện pháp giảiquyết để thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa Thái Lan và Việt Nam là, Thái Lan cầnđào tạo thêm kỹ năng cho doanh nghiệp đầu tư, cần có sự hoạch định, cũngnhư có kế hoạch đầu tư phù hợp; đồng thời cần có chiến lược đầu tư và nênđầu tư trong thời gian dài hạn Tác giả cũng cho rằng, trong năm 1996, ViệtNam có kế hoạch đầu tư trong nhiều khu vực dành cho các nhà đầu tư nướcngoài ở 23 tỉnh miền Bắc Thêm vào đó, vùng tam giác phát triển kinh tế phíaBắc là Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long sẽ tập trung nhiều vào du lịch văn
4 Hoàng Khắc Nam (7002), Quan hệ Việt Nam-Thái Lan 1976-2000, NXB Đại học Quốc gia, Hà
Nội.
Trang 17hóa và sinh thái Thứ hai là khu vực phía bắc miền Trung với 5 tỉnh là Huế,
Đà Nẵng, Lao Bảo và ba huyện ở phía Nam của TP Huế tập trung vào du lịchvăn hóa, lịch sử và tham quan thiên nhiên Khu vực miền Nam với 25 tỉnh,gồm TP Hồ Chí Minh, Vũng Tàu và Biên Hòa Ngoài ra, tác giả còn có thôngđiệp hướng đến các nhà đầu tư Thái Lan rằng, trước khi đầu tư phải tìm hiểu
kỹ để hiểu biết khu vực nào phù hợp cho đầu tư và biết điểm mạnh yếu để lên
kế hoạch đầu tư và chiến lược đầu tư chi tiết.5
Bài viết “Quá trình phát triển đầu tư Thái Lan vào Việt Nam” của tác
giả Thanyathip Sripana (1998) đã đề cập đến đầu tư của Thái Lan tại ViệtNam từ năm 1993 và cho biết, số lượng và tổng giá trị của các dự án đầu tưcủa Thái Lan tại Việt Nam ngày càng gia tăng Tuy nhiên, so với các nướckhác, đầu tư Thái Lan vào Việt Nam vẫn còn thấp Chẳng hạn, năm 1988, đầu
tư của Thái Lan tại Việt Nam chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 3,55 % so với tổngđầu tư nước ngoài tại Việt Nam Tác giả cho rằng, muốn tăng cường đầu tưhơn nữa, cả hai bên đều phải cùng cố gắng nhiều hơn nữa.6
Ngoài các công trình, bài viết đã dẫn trên đây, còn có nhiều bài nghiêncứu viết về quan hệ giữa Thái Lan và Việt Nam được đăng tải trên các báo vàmột số tạp chí chuyên ngành khác mà tác giả luận văn không thể đề cập hết.Nhìn chung, các công trình trên đây đã đề cập đến các vấn đề có liênquan đến quan hệ giữa Thái Lan và Việt Nam, cũng như nguyên nhân, diễntiến của mối quan hệ giữa hai nước và đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩyquan hệ hợp tác thương mại và đầu tư giữa hai nước Tuy nhiên, nhìn chung
5Somchai Phagaphasvivat (1996), 10 năm Thương mại và đầu tư Thái Lan tại Việt Nam: Những khó khăn
và cơ hội hợp tác, Trong hội thảo kỷ nhiệm 20 năm quan hệ giữa Thái Lan và Việt Nam (1976 -1996) tháng 8
năm 1996 tại Khách san Rayalchid Sheraton Hotel Thái Lan (tr 106 -114) Băng kok: NXB Trường đại học
Thammasat.
6 Thanyathip Sripana (1998), Quá trình phát triển đầu tư Thái Lan vào Việt Nam, Xem lại châu Á,
tập 19 (số
1), tr 44 - 70
Trang 18các vấn đề trong các công trình đó chưa được đề cập sâu, vẫn còn nhiều vấn
đề chung Mặc dù vậy, mỗi công trình trên đây đã giúp cho tác giả luận văn cónhững kiến thức cơ bản để tác giả đi sâu hơn trong việc nghiên cứu đề tài luận
văn của mình: “Quan hệ thương mại và đầu tư giữa Thái Lan và Việt Nam
3.2 Mục tiêu cụ thể:
Nghiên cứu cơ sở, thực trạng và kết quả của mối quan hệ thương mại vàđầu tư giữa Thái Lan và Việt Nam từ 1995 đến nay Từ đó, rút ra nhận xét,đánh giá hiệu quả của các mối quan hệ này và tác động của chúng đến quan
hệ chính trị - ngoại giao giữa hai nước Luận văn cũng sẽ dự báo triển vọngphát triển của mối quan hệ thương mại và đầu tư giữa Thái Lan và Việt Namtrong những thập niên tới
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Là những vấn đề lý thuyết và thực tiễn liên quan
đến quan hệ thương mại và đầu tư giữa Thái Lan và Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Quan hệ kinh tế giữa Thái Lan và Việt Nam trong
lĩnh vực thương mại và đầu tư năm 1995 đến nay và dự báo triển vọng
Trang 195 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯỚNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sẽ vận dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến trong khoahọc xã hội như: phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế, phương pháp sửhọc, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê số liệu Ngoài ra, luận văn cũng kếthừa kết quả các công trình khoa học đã từng nghiên cứ trước đây và sử dụngmột số phương pháp phân tích, đánh giá, cũng như nhận định của bản thântrên cơ sở những luật điểm đó
6 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Luận văn chủ yếu tham khảo tư liệu chuyên ngành bằng tiếng Việt,tiếng Thái và tiếng Anh Đó là các dữ liệu sơ cấp như dữ liệu thương mại vàđầu tư từ cơ quan nhà nước hoặc tài liệu thông báo, hiệp định giữa Thái Lan
và Việt Nam Luận văn cũng kế thừa các công trình đã được nghiên cứu vàcông bố tại các viện nghiên cứu, các trường đại học Ngoài ra, luận văn còn sửdụng các bài viết trong những hội thảo được tổ chức giữa các trường đại học,các viện nghiên cứu chủ yếu ở cả Thái Lan và Việt Nam
Trang 20nguyên nhân tác động đến quan hệ thương mại và đầu tư giữa Thái Lan và Việt Nam.
Chương 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ GIỮA THÁI LAN VÀ VIỆT NAM TỪ NĂM 1995 ĐẾN NAY
Đây là chương chính trong Luận văn, tập trung nghiên cứu những yếu tốtác động đến tiến trình hợp tác kinh tế Thái Lan – Việt Nam, quan hệ thươngmại và đầu tư giữa hai nước Các hoạt động đầu tư và thương mại hai chiềugiữa hai nước từ năm 1995 đến nay Ngoài ra, chương này còn xem xét đếntình hình trong nước, chính sách của hai nước liên quan đến thương mại vàđầu tư giữa hai bên
Chương 3: DỰ BÁO QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ GIỮA THÁI LAN VÀ VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA HAI NƯỚC
Trên cơ sở phân tích quan hệ thương mại và đầu tư Thái Lan - Việt Nam ởChương 1 và Chương 2, Chương 3 sẽ tập trung vào phân tích đến các nhân tốtác động tới Thái Lan và Việt Nam trong thời gian tới, những thuận lợi và khókhăn trong quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai nước Dự báo về quan hệthương mại và đầu tư Thái Lan – Việt Nam trong thời gian tới; đồng thời đưa
ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại và đầu tư giữa TháiLan và Việt Nam trong tương lai
Trang 21Chương 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH MỐI QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ
GIỮA THÁI LAN VÀ VIỆT NAM 1.1 Quá trình phát triển ngoại giao giữa Thái Lan và Việt Nam trước năm 1995
Quan hệ ngoại giao giữa Thái Lan và Việt Nam đã được thiết lập từ năm
0925 sau khi Việt Nam hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước Quan hệngoại giao giữa hai nước có thế chia thành những giai đoạn như sau:
1.1.1 Quan hệ ngoại giao giữa hai nước giai đoạn 1975 - 1979
Trước khi có sự thay đổi nền chính trị ở Đông Dương năm 1975, Thái Lan
đã có một số điều chỉnh chính sách đối ngoại, theo đó giảm bớt quan hệ quágắn bó với Mỹ và tăng cường quan hệ ngoại giao với các cường quốc theo hệthống cộng sản Khi ông Kukrit Pramoj lên nắm quyền, ông đã có chính sáchquan hệ ngoại giao chính thức với Trung Quốc trong tháng 7/1975, đồng thời
dự kiến cho rút căn cứ quân sự của Mỹ trên đất Thái Lan Đây chính là nhân
tố dẫn đến cuộc đàm phán để khôi phục quan hệ ngoại giao giữa Thái Lan vàViệt Nam
Tuy nhiên, những hành động trên đây không có nhiều kết quả, vì cònnhiều vấn đề không giải quyết được như vấn đề Việt Kiều, vấn đề về vũ khícủa quân đội Việt Nam cộng hòa7 Hai vấn đề này được tóm tắt như sau:
Sau khi Miền Bắc Việt Nam giành được thắng lợi, Thái Lan có đề nghịViệt Nam nhận 40.000 người Việt Kiều về nước vì Thái Lan không muốnnhận trách nhiệm, cũng như không biết rõ những người Việt Kiều này thuộcphe nào, tổ chức nào Tuy nhiên, phía Miền Bắc Việt Nam cũng cố gắng tránh
7 Suneerat Bounampon (2004), Thương mại và đâu tư giữa Thái Lan và Việt Nam, Luật văn tiến sĩ nhành kinh
tế học, Sau đại học, Trường đại học Ramkamhang, Băng kok, Thái Lan tr 40
Trang 22vấn đề này vì Miền Bắc Việt Nam vừa giành được thắng lợi và cũng như TháiLan, họ cũng không rõ những người Việt Kiều này thuộc phe nào?
Đối với vấn đề có liên quan đến vũ khí trong cuộc chiến tranh giữa haimiền Nam Bắc cũng trở nên phức tạp bởi nhiều nguyên nhân Sau khi thất bạitrong cuộc chiến tranh, một số quân nhân thuộc ngụy quyền Sài Gòn đã sửdụng máy bay cũng như những vũ khí có liên quan khác để lẩn trốn Khi rútchạy, các quân nhân này để lại máy bay và vũ khí trên lãnh thổ Thái Lan Vềvấn đề này, phía miền Bắc Việt Nam đã yêu cầu Thái Lan trả lại cho mình với
lý do họ là người chiến thắng trong cuộc chiến tranh và những vũ khí thiết bịnày thuộc về phía miền Bắc Việt Nam Tuy nhiên, lúc đó phía Thái Lan cũngchưa có cách giải quyết, chỉ biết trả lời với phía Việt Nam rằng, máy bay cũngnhư những vũ khí liên quan thực tế là thuộc về quyền sở hữu của phía miềnNam Cộng hòa, hoặc chí ít đó là vũ khí của Hoa Kỳ, và họ chỉ có thể trao trảcho miền Bắc Việt Nam khi hai bên Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ đồng ý.Đây là những lý do tiêu biểu lúc đó làm cho mối quan hệ giữa Thái Lan
và Việt Nam vẫn chưa có thêm tiến triển Tuy vậy, bất chấp mâu thuẫn này,cuối cùng, ông Pichai Rattakul, Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan và ôngNguyễn Duy Trinh – Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam, cũng đã đặt bút kýtuyên bố thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Thái Lan và Việt Nam vào ngày6/8/1976 8
Tuy nhiên, một thời gian sau đó, quan hệ ngoại giao giữa hai nước lại trởlên xấu đi do nền chính trị Thái Lan bất ổn bởi cuộc đảo chính xảy ra vàongày 6/11/1976 Sau đảo chính, ông Thanin Kraivichian lên làm Thủ tướng,
đã thực hiện chính sách chống lại Chủ nghĩa Cộng Sản và điều này đã ảnh
8 Chulacheep Chinwanno, (1996), 2 thế kỳ quan hệ Thái Lan và Việt Nam từ Cuộc xung đột đến hợp tác
hiện nay,Trong hội thảo kỷ nhiệm 20 năm quan hệ giữa Thái Lan và Việt Nam (1976 -1996) tháng 8 năm
1996 Khách san Rayalchid Sheraton Hotel Thái Lan (tr 17 -19) Băng kok: NXB Trường đại học
Thammasat
Trang 23hướng không ít đến quan hệ giữa hai nước Thái Lan và Việt Nam vừa mớiđược thiết lập Đến năm 1997, quan hệ ngoại giao giữa hai nước có chiềuhướng tốt lên sau khi Thái Lan có cuộc đảo chính và ông đại tướng KriangsakChanmanan lên làm Thủ tướng Ông Thủ tướng mới đã có một số điều chỉnhtrong chính sách ngoại giao, theo đó Thái Lan tăng cường quan hệ với cácnước lớn như Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc và đặt tầm quan trọng của các quốcgia này ngang bằng nhau Thủ tướng Thái Lan cho rằng, cần khôi phục lạiquan hệ ngoại giao giữa Thái Lan với các nước Đông Dương để chung sốngmột cách hòa bình.
Thủ tướng Thái Lan, Đại tướng Kriangsak Chanmanan muốn bình thườnghóa quan hệ Thái Lan – Việt Nam và ông muốn thiết lập đại sứ quán ở thủ đôcủa cả hai nước để tạo sự liên lạc giao lưu với nhau Sau đó ngày 13/12/1977,
Ủy ban đại diện của Bộ Ngoại giao Việt Nam do ông Nguyễn Xuân dẫn đầu
đã đến thăm Thái Lan với mục đích khảo sát vị trí đặt đại sứ quán Việt Nam.Đến ngày 27/12/1977, ông Phasit Nalongdet, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Giao thôngVận tải Thái Lan và đoàn đã sang Việt Nam để trao đổi về quyền được bay
qua bầu trời Việt Nam và hai bên đã nhất trí trong biên bản “Hiệp định về
dịch vụ hàng không giữa chính phủ Thái Lan và chính phủ Việt Nam năm 1977”.
Từ ngày 9 đến ngày 12/1/1978, ông Nguyễn Duy Trinh Phó thủ tướngkiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam dẫn đầu một đoàn gồm 20 người đã đếnThái Lan để thảo luận về việc hai bên cùng trao đổi đại sứ với nhau Quan hệgiữa hai nước ngày càng thân thiện khi ông Phạm Văn Đồng đến thăm TháiLan ngày từ ngày mồng 6 đến ngày 10/9/1978
Trong cuộc đàm phám giữa Đại tướng Kriangsak Chamanan và ông PhạmVăn Đồng, cả hai bên đã tỏ rõ bầu không khí hữu nghị và Thái Lan và Việt
Trang 24Nam đã khắc phục được một số vấn đề như sau: 1) Về vấn đề Việt Kiều, haibên đã tổ chức một ủy ban nhằm khắc phục vấn đề này tại Thái Lan 2) Vềvấn đề máy bay cùng vũ khí mà quân đội Việt Nam Cộng hòa dùng để trốnthoát và đáp cánh tại Thái Lan, phía Việt Nam thấy rằng, phía Thái Lan nêntrao trả lại cho Việt Nam để tỏ rõ mong muốn làm bạn của Việt Nam.
Ngoài ra,Việt Nam đã trao trả 20 ngư dân Thái và 2 thuyền đánh cá, về phíaThái Lan cũng trao trả 5 người Việt Nam bị bắt do thực hiện hành vi phá hoạitại căn cứ căn Mỹ tại tỉnh Udon Thani hơn nữa Thái Lan sẽ cho Việt Nam vay
100 triệu Bath9 để mua hàng hóa từ Thái Lan
Thủ tướng Thái Lan Đại tướng Kriangsak Chamanan đã mời ông Phạm VănĐồng đến nhà mình và nấu món “Cà-ri gà kiểu Thái”, ông Phạm Văn Đồng đãthực sự rất xúc động trước hành động này Trước khi về, ông Phạm Văn Đồng
đã tuyên bố là Việt Nam sẽ không giúp đỡ Đảng Cộng sản Thái Lan nữa.Cuối năm 1978, sau khi Việt Nam đưa quân vào Campuchia, mặc dùChính phú Thại Lan của Đại tướng Kriangsak Chamanan đã thể hiện sự phảnđối trong việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia, song Thái Lan đã khôngđưa ra bất cứ chính sách nào thể hiện thái độ gay gắt với Việt Nam, do vậy màquan hệ ngoại giao giữa Thái Lan và Việt Nam cũng không bị ảnh hưởngnhiều từ vấn đề này.10
1.1.2 Quan hệ ngoại giao Thái Lan – Việt Nam giai đoạn 1979-1988
Tháng 3 năm 1980, có sự thay đổi trong chính phủ Thái Lan khi ông Đạitướng Kriangsak Chamanan từ chức thủ tướng và Đại tướng PremTinsulanonda lên giữ chức Thủ tướng và ông Siddhi Savetsila làm Bộ trưởng
9 Tỷ giá cuối năm 1978 đạt 20.40 bath trên 1 USD, khoảng 4,901 USD
10 Chulacheep Chinwanno, (1996), 2 thế kỳ quan hệ Thái Lan và Việt Nam từ Cuộc xung đột đến hợp tác
hiện nay,Trong hội thảo kỷ nhiệm 20 năm quan hệ giữa Thái Lan và Việt Nam (1976 -1996) tháng 8 năm
1996 Khách san Rayalchid Sheraton Hotel Thái Lan (tr 20 -21) Băng kok: NXB Trường đại học
Thammasat
Trang 25Ngoại giao Lúc này, quan hệ giữa Thái Lan và Việt Nam trở nên căng thẳng
do vấn đề Việt Nam đưa quân vào Campuchia ngày 25/12/1978 theo yêu cầugiúp đỡ của Mặt trận cứu nước Campuchia và làm chủ được Phnom Penhngày 7/1/1979 Kết quả là biên giới giữa Thái Lan và Campuchia có rất nhiềulính Việt Nam Chính phủ Thái Lan cho rằng, điều này có thể ảnh hưởng đến
an ninh quốc gia Thái Lan và làm cho quan hệ Thái Lan - Việt Nam trở lêncăng thẳng hơn11
Quan hệ thân thiện giữa Việt Nam và Liên Xô ngày càng tiến triển với sựkiện Việt Nam đồng ý cho Liên Xô đặt căn cứ tại Vịnh Cam Ranh và ĐàNẵng Thái Lan cũng cho rằng, điều này ảnh hưởng đến an ninh quốc gia củaThái Lan, nên nước này đã dùng các hoạt động chính trị, ngoại giao và kinh tế
để gây sức ép với Việt Nam trong vấn đề Campuchia Thái Lan sử dụng cácdiễn đàn quốc tế như ASEAN, Liên Hợp Quốc đòi Việt Nam rút quân khỏiCampuchia12
Lúc này Việt Nam cũng bị sức ép bao vây từ cộng đồng quốc tế nên cần
sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước trong phe XHCN cả về chính trị và kinh
tế Tuy nhiên, lúc đó Liên Xô đang thực hiện cải cách kinh tế theo chính sáchPerestroika và cải cách chính trị (Glasnost) nên không thể giúp đỡ Việt Namnhư mong muốn Vì vậy, Việt Nam đã quyết định chủ động phá vỡ sự cô lậpbằng việc tuyên bố sẽ rút quân khỏi Campuchia trong thời hạn 5 năm Tuynhiên, Việt Nam đã hoàn thành việc rút quân khỏi Campuchia trước thời hạn
11 Chulacheep Chinwanno, (1980), Cuộc khủng hoảng biên giới Thái Lan Campuchia: trường hợp thôn huyền
Nôn Mank Mung, Tạp chí đằng sau vấn đề hiện tại, tr 1-38
12 Chulacheep Chinwanno, (1996), 2 thế kỳ quan hệ Thái Lan và Việt Nam từ Cuộc xung đột đến hợp tác
hiện nay, Trong hội thảo kỷ nhiệm 20 năm quan hệ giữa Thái Lan và Việt Nam (1976 -1996) tháng 8 năm
1996 Khách san Rayalchid Sheraton Hotel Thái Lan (tr 23 -24) Băng kok: NXB Trường đại học
Thammasat.
Trang 26một năm vào tháng 4/1989 Sau đó, Liên Hợp Quốc đã đóng vai trò quantrọng trong khắc phục vấn đề Campuchia.13
1.1.3 Quan hệ ngoại giao Thái Lan – Việt Nam giai đoạn 1988 – 1994
Sau khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, nghĩa là vấn đề Campuchiachấm dứt, thì quan hệ giữa Thái Lan và Việt Nam cũng trở lên tốt đẹp hơn.Phía Thái Lan cũng có sự thay đổi về chính trị, theo đó Đại tướng PremTinsulanonda đã từ chức Thủ tướng và tổ chức bầu cử; sau đó Đại tướngChatichai Choonhavan thắng cử và làm Thủ thướng vào tháng 9/1988 Thủ
tướng mới của Thái Lan đã tuyên bố chính sách “biến Đông Dương từ chiến
trường thành thị trường”, đồng thời cũng tiến hành điều chỉnh chính sách
ngoại giao Điều này đã mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ giữa Thái Lan
và Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư Đầunăm 1989, quan hệ giữa Thái Lan và Việt Nam đã khôi phục hoàn toàn, mởđầu bằng việc Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan, ông Siddhi Savetsila đã dẫnđầu đoàn quan chức Chính phủ và các doanh nhân Thái Lan sang thăm và tìmhiểu thị trường Việt Nam Đây là chuyến thăm đầu tiên kể từ khi vấn đềCampuchia xảy ra (1979)
Về phía Việt Nam cũng có sự điều chỉnh chính sách ngoại giao và kinh
tế, đồng thời cũng cải thiện quan hệ với các nước trong ASEAN Hơn nữa, lúcnày Việt Nam cũng tiến hành việc cải cách kinh tế theo chính sách Đổi Mới –vận dụng cơ chế kinh tế thị trường và bắt đầu việc mở cửa thu hút đầu tư nướcngoài
Sự kiện ký Hiệp định lập lại hòa bình ở Campuchia tại Paris năm 1992 đãlàm cho quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với các nước Đông Nam Á tốthơn, trong đó bao gồm cả Thái Lan Mặc dù Đại tướng Chatichai Choonhavan
13 Nguyễn Thị Quế (2006), 30 năm quan hệ Việt Nam – Thái Lan, Nghiên cứu Đông Nam Á Tập 4 tr.13
Trang 27đã bị đảo chính lật đổ vào ngày 23/2/1991, nhưng vị Thủ tướng tiếp theo củaThái Lan là ông Anand Panyarachun cũng thực hiện chính sách của người tiềnnhiệm, đó là thúc đẩy quan hệ hữu nghị với Việt Nam, nên khi ông Lê Mai(từng là Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan) đến thăm Thái Lan ngày 19/4/1991,khi đó Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan là ông Arsa Sarasin đã nhấn mạnhrằng, Thái Lan muốn thúc đẩy và chủ trương quan hệ lâu dài với Việt Nam cả
về kinh tế và chính trị, do đó Thái Lan và Việt Nam cần tạo ra cơ chế hợp tác
mới, đó là việc thiết lập “Ủy ban Hợp tác về thương mại và kinh tế” giữa hai
nước
Thái Lan và Việt Nam đã thống nhất ký thiết lập “Ủy bản Hợp tác về
thương mại và kinh tế” nhân chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Ngoại
giao Arsa Sarasin từ ngày 15 – 17/9/1991 Tiếp đó, quan hệ giữa Thái Lan vàViệt Nam đã tiến thêm một bước khi Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt sang
thăm Thái Lan ngày 31/10/1991 và ký kết hai văn kiện: “Hiệp định thúc đẩy
và bảo vệ đầu tư” và “Bản ghi nhớ về hợp tác năng lượng và dầu mỏ” giữa
hai nước
Tiếp theo đó, Thủ tướng Thái Lan Anand Panyarachun đã đến thăm ViêtNam chính thức từ ngày 15 – 17/1/1992 Nhà lãnh đạo Thái Lan cũng thể hiệnmong muốn Mỹ hủy bỏ lệnh cấm vận kinh tế (Economic Embargo) và bìnhthường hóa quan hệ với Việt Nam Trong chuyến thăm này, Thủ tướng TháiLan đã thông báo hỗ trợ Việt Nam bằng chương trình giúp đỡ về kinh tế vànghiên cứu khoa học trong khung khổ Chương trình 1995 – 1997 nhằm giúp
đỡ Việt Nam trong 5 dự án là: 1) Dự án y tế công cộng, trị giá 50 triệu bạt; 2)
Dự án nông nghiệp, trị giá 40 triệu bạt; 3) Dự án giáo dục, trị giá 35 triệu bạt;4) Dự án công nghiệp 22 triệu bạt; 5) Dự án về giao thông, trị giá 3 triệu bạt
Trang 28Ngoài ra, Thái Lan còn hỗ trợ Việt Nam 10 suất học bổng thạc sĩ, 40 học bổngđào tạo ngắn hạn và 50 học bổng khác mỗi năm14.
Quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan càng ngày càng trở nên thân thiếthơn do có sự qua lại của các nhà lãnh đạo hai nước Chẳng hạn, ông Đỗ MườiTổng Bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam sang thăm Thái Lan trong tháng 10năm 1993 Đến năm 1994, ông Chuan Leekpai Thủ thướng Thái Lan sangthăm Việt Nam từ ngày 16 - 19/3/1994 Lúc này, Chính phủ Thái Lan tuyên
bố thực hiện chính sách hữu nghị với Việt Nam và hỗ trợ các doanh nhân TháiLan đầu tư vào Việt Nam; đồng thời tiến hành cải thiện luật đầu tư ra nướcngoài của Thái Lan để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nhân Thái Lan khiđầu tư vào Việt Nam Tiếp đó, ngày 1/10/1995, Thủ tướng Banharn Silpa-archa, Thủ tướng nhiệm kì tiếp theo đã đến thăm Việt Nam nhằm tăng cườngmối quan hệ hữu nghị giữa hai nước15
Có thể nói, trong giai đoạn này, mối quan hệ giữa Thái Lan và Việt Nam
đã trải qua những thuận lợi và khó khăn tùy thuộc vào tình hình khu vực vàquan hệ quốc tế của thời kỳ kết thúc Chiến tranh Lạnh và sự mở rộng của toàncầu hóa, đặc biệt là trong môi trường kinh tế thị trường có thế giúp cho quan
hệ giữa Thái Lan và Việt Nam ngày càng hợp tác có hiệu quả hơn
1.2 Quá trình phát triển quan hệ thương mại và đầu tư giữa Thái Lan và Việt Nam trước năm 1995
Quá trình phát triển quan hệ thương mại và đầu tư giữa Thái Lan và ViệtNam trước năm 1995 có thế chia thành 2 giai đoạn như sau:
14 Đại sứ quán thường trực Hà Nội (1995) Sự phát triển mối quan hệ song phương Thái Lan – Việt
Nam.
Tr.16 Tỷ giá cuối năm 1992 đạt 25.30 bạt trên 1 USD, khoảng 5,928 USD
15 Chulacheep Chinwanno, (1996), 2 thế kỳ quan hệ Thái Lan và Việt Nam từ Cuộc xung đột đến hợp tác
hiện nay,Trong hội thảo kỷ nhiệm 20 năm quan hệ giữa Thái Lan và Việt Nam (1976 -1996) tháng 8 năm
1996 Khách san Rayalchid Sheraton Hotel Thái Lan (tr 23 -26) Băng kok: NXB Trường đại học
Thammasat
Trang 291.2.1 Quan hệ thương mại và đầu tư Thái Lan - Việt Nam năm 1975 – 1988
Trong khi Việt Nam tiến hành lập kế hoạch kinh kế theo mô hình kinh tếnhà nước, thì Thái Lan là một nước đối tác giao dịch thị trường với Việt Namnhưng lại không nằm trong hệ thống XHCN, nên mặc dù có quan hệ thươngmại với nhau, nhưng quan hệ thương mại giữa hai bên vẫn còn nhiều hạn chế,
cả về về giá trị kinh doanh nhỏ, lẫn tình hình bất ổn thường trực
Bảng 1.1 Tổng giá trị XNK giữa Việt Nam và Thái Lan giai đọan 1975 –
1997 (đơn vị: triệu USD):
NămKim ngạch
Nguồn: Hà Huy Thành (1996), Thailand’s trade with and direct investment in Vietnam In Special Seminar Thai – Vietnam Relation over the past 20 years (1976 -1978), August 2, 1996, Rayalchid Sheraton Hotel Thailand (p 116) Bangkok: Thammasat University Press.
Trong thời gian này, hàng hóa Thái Lan xuất khẩu sang thị trường ViệtNam chỉ khoảng 1,1 – 1,7% so với tổng khối lượng hàng hóa Thái Lan xuấtkhẩu sang các nước khác hàng năm Cũng như vậy, khối lượng hàng hóa xuấtkhẩu từ Việt Nam sang Thái Lan chỉ khoảng 0,07% so với tổng khối lượnghàng hóa Thái Lan nhập khẩu từ các quốc gia khác
Có thể thấy rằng, trong khoảng thời gian từ 1980 đến 1988, quan hệ kinh
tế giữa Thái Lan và Việt Nam bị ảnh hưởng bởi các vấn để chính trị - ngoại
Trang 30giao, xã hội trong khu vực, nên quan hệ thương mại giữa hai nước trở lên xấu
đi16
Bảng 1.2 Tổng giá trị XNK giữa Việt Nam và Thái Lan giai đoạn 1985 –
1988 (đơn vị: triệu USD)
NămKim ngạch
Nguồn: Ha Huy Thanh (1996) Thailand’s trade with and direct investment in Vietnam In Special Seminar Thai – Vietnam Relation over the past 20 years (1976 -1978) August 2, 1996, Rayalchid Sheraton Hotel Thailand (p 117) Bangkok: Thammasat University Press.
Từ dữ liệu trong bảng trên đây, chúng ta có thể thấy tổng giá trị xuấtnhập khẩu giữa Việt Nam và Thái Lan trong giai đoạn năm 1985 đến 1988 có
sự thay đổi theo chiều hướng đi lên Điều này không chỉ thể hiện ở nội dungliên quan đến thương mại, mà còn cho thấy, mối quan hệ giữa hai nước ngàycàng trở nên tốt đẹp hơn do bản thân cả hai nước đều có những thay đổi tíchcực tạo tiền đề cho quan hệ kinh tế giữa hai bên phát triển thuận lợi hơn
Về phía Việt Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của ĐảngCSVN (12/1986) trên cơ sở nhận thấy tình hình thế giới và khu vực có nhiềubiến đổi mạnh mẽ, cùng với sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học
- kỹ thuật, đang đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa lực lượng sản xuất, nênĐảng đã chủ trương phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
16 Ha Huy Thanh (1996), Thailand’s trade with and direct investment in Vietnam In Special Seminar
Thai –
Vietnam Relation over the past 20 years (1976 -1978) August 2, 1996 Rayalchid Sheraton Hotel Thailand (p.
115-122) Bangkok: Thammasat University Press.
Trang 31bằng việc mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước ngoài hệ thốngXHCN, với các nước công nghiệp phát triển, với các tổ chức quốc tế và tưnhân nước ngoài trên nguyên tác bình đẳng, cùng có lợi.
Tháng 12/1987, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành.Đây là lần đầu tiên Nhà nước Việt Nam tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt độngđầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, mở cửa thu hút nguồn vốn đầu tư,cùng với công nghệ, thiết bị và kinh nghiệm tổ chức quản lý sản xuất.17
Về phía Thái Lan, giai đoạn 1987 - 1988 là giai đoạn kinh tế Thái Lanphát triển nhanh chóng, xuất khẩu tăng trưởng cao, điều này cũng là do kếtquả từ Hiệp ước Plaza Accord (năm 1985) khi Nhật Bản cho phép giá trị đồngtiền Yên cao hơn so với các đồng tiền khác trên thế giới Giá trị tiền Yên caonên Nhật Bản không thể sản xuất ở trong nước, do chi phí trên sản phẩm tăngdẫn đến không có khả năng cạnh tranh với các quốc gia khác trên thị trườngthế giới Điều này khiến cho Nhật Bản chuyển mục tiêu kinh doanh sang cácnước khác để giảm chi phí sản suất Trong đó, Thái Lan là một mục tiêu quantrọng của Nhật Bản với những nhân tố quan trọng như: lao động giá rẻ, môitrường đầu tư hấp dẫn, v.v Năm 1987, Thái Lan đã được hưởng lợi rất nhiều
từ việc mở rộng các nhà máy sản xuất của Nhật Bản tại đây để sản xuất hàngxuất khẩu Từ đó, trong những năm liên tiếp sau đó, tăng trưởng GDP củaThái Lan đạt giá trị rất cao Điểu này làm cho Thái Lan cần nhập khẩu nguyênliệu cho việc sản xuất trong nước nhiều hơn.18
17 Nguyễn Viết Thông, Đinh Xuân lý, Ngô Đăng Tri, NGuyễn Văn Hỏa, Ngô Quang Định và
Nguyễn Đăng Quang (2012), Đường lối cách mạng của đảng cộng sản Việt Nam, Nbx Chính trị quốc gia, Hà
Hội tr.238
18
Bảo siamintelligence (2011), Quá trình phát triển kinh tế Thái Lan, Truy cập 22 tháng 2 năm 2013, từ
http://www.siamintelligence.com/development-of-thai-economy/
Trang 321.2.2 Quan hệ thương mại và đầu tư Thái Lan - Việt Nam giai đoạn 1994
1989-Đặc điểm nổi bật của giai đoạn này là quan hệ thương mại và đầu tư giữaThái Lan và Việt Nam tăng trưởng khá nhanh Về thương mại, hai bên có kimngạch buôn bán 2 chiều gia tăng liên tục
Bảng 1.3 Tổng giá trị XNK giữa Việt Nam và Thái Lan giai đoạn
1989-1994 (đơn vị: triệu USD)
NămKim ngạch
Nguồn: Ha Huy Thanh (1996) Thailand’s trade with and direct investment in Vietnam In Special Seminar Thai – Vietnam Relation over the past 20 years (1976 -1978) August 2, 1996, Rayalchid Sheraton Hotel Thailand (p 117) Bangkok: Thammasat University Press.
Như vậy, có thế thấy, việc cải cách, mở cửa kinh tế của Việt Nam, cùngvới tình hình phát triển kinh tế thuận lợi của Thái Lan trong giai đoạn này, đãthúc đẩy sự xuất hiện một động thái mới trong quan hệ thương mại giữa TháiLan và Việt Nam Khối lượng trao đổi hàng hóa giữa hai nước tăng lên nhanhchóng, cùng với việc chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường và mức độ mở cửacủa Việt Nam, đã tác động đến quan hệ buôn bán giữa hai nước; từ đó, kimngạch thương mại giữa hai bên gia tăng Có thể thấy, tăng trưởng mậu dịchgiữa hai nước tăng 389,2% trong năm 1989 Bước sang năm 1990, lần đầutiên giá trị trao đổi mậu dịch giữa hai nước vượt qua mức 100 triệu USD (đạt114,7 triệu USD), rồi tăng lên tới 158,0 triệu USD năm 1992 Sau chuyếnthăm Việt Nam của Thủ tướng Thái Lan, quan hệ thương mại giữa hai nước
Trang 33có sự phát triển mạnh mẽ hơn; cho đến năm 1994 giá trị trao đổi mậu dịchgiữa hai nước đã vượt qua mức 200 triệu USD19, đạt tới mức 250 triệu USD.
Về đầu tư, từ cuối năm 1980, doanh nhiệp Thái Lan đã đầu tư ra nhiềunước bên ngoài như: Trung Quốc, Lào, Campuchia, Miến Điện, Inđônêxia vàPhilippin, v.v Tuy nhiên, cho tới lúc này, quan hệ đầu tư giữa Thái Lan vàViệt Nam vẫn còn rất chậm chạp và gặp nhiều khó khăn do hiểu biết về nhaucủa cả hai bên còn nhiều hạn chế Về phía Thái Lan, sự hiểu biết về khả năngkinh tế và kinh nghiệm tại thị trường Việt Nam còn yếu kém Về phía ViệtNam, hệ thống pháp luật đầu tư nước ngoài còn sơ khai cũng gây khó khănkhông ít cho doanh nghiệp Thái Lan khi tiếp cận thị trường này
Giai đoạn bốn năm đầu tiên 1988 – 1992 là những năm đầu mà cácdoanh nhân và nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có Thái Lan, vào Việt Nam đểtìm kiếm cơ hội kinh doanh tìm hiểu cách thức hoạt động kinh doanh hay làmquen với đội ngũ lao động Việt Nam Trong giai đoạn này, các mối quan hệchủ yếu liên quan đến thương mại nhiều hơn là đầu tư Nếu như trong trườnghợp có đầu tư, thì cũng thường là những đầu tư nhỏ bé và theo kiểu “đánhnhanh, thắng nhanh”, tức là chỉ chú trọng tới hình thức đầu tư làm sao để thulời nhanh, ít có đầu tư dài hạn và có bài bản
19Ha Huy Thanh (1996) Thailand’s trade with and direct investment in Vietnam Retrieved september 8, 2013, from
http://www.jpvn.org/viet-or/VSED/No.10/TI_Thai.html.
Trang 34Bảng 1.4 Số lượng dự án đầu tư của Thái Lan vào Việt Nam được cấp phép từ 1988 - 1994
Trong những năm này, nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu xin giấy phép đầu
tư vào Việt Nam Trong năm 1988, các nhà đầu tư Thái được cấp phép 3 dự án
đó là dự án nuôi tôm, dự án sản xuất tôm đông lạnh xuất khẩu và dự án khaithác khoáng sản Tiếp theo đến năm 1991, các dự án được cấp phép đã tănglên đến 12 dự án, trong giai đoạn này các nhà đầu tư Thái Lan dành nhiều thờigian để tìm hiểu thị trường và đầu tư vào Việt Nam; đồng thời
Trang 35cũng tìm hiểu các vấn đề liên quan đến các quy định của các cơ quan chứcnăng như: thủ tục phê duyệt dự án đầu tư và thủ tục thực hiện đầu tư.20
Mặc dù Thủ tướng Chatichai Choonhavan đã thông báo thúc đẩy quan
hệ thương mại và đầu tư với Việt Nam và đề ra chính sách “biến Đông Dương
từ chiến trường thành thị trường” vào cuối năm 1988; tuy nhiên, theo thống
kê, thì trị giá về thương mại và đầu tư của Thái Lan tại thị trường Việt Namvẫn còn thấp so với tổng giá trị thương mại và đầu tư của Thái Lan vàoMyanmar, Campuchia hay Lào Tổng giá trị thương mại giữa Thái Lan và ViệtNam năm 1993 và 1994 có giá trị còn thấp hơn cả ba nước kia; cụ thể là giátrị thương mại giữa Thái Lan và Myanmar năm 1993 đạt 306,96 triệu USD;năm 1994 là 396,14 triệu USD 21; với Campuchia năm 1993 là 276,03 triệuUSD, năm 1994 là 387,21 triệu USD 22; với Lào năm 1993 là 238,84 triệuUSD, năm 1994 là 361,58 triệu USD 23 Còn với Việt Nam, năm 1993 là200,90 triệu USD, năm 1994 là 294,14 triệu USD; mặc dù Việt Nam có nhiềuhàng hóa và thị trường lớn nhất Đông Dương
Chúng ta có thể thấy, tổng giá trị thương mại Thái Lan và Việt Nam đãtăng lên nhanh chóng trong năm 1995, đạt đến 513,54 triệu USD (tốc độ tăngtrưởng 74,59 %), tăng gấp hai lần so với năm 1994 là 294,14 triệu USD (tốc
20 Thanyathip Sripana (1998), Quá trình phát triển đâu tư Thái Lan vào Việt Nam, Xem lại châu Á, tập 19
(số 1), tr 50-55
21 Trung tâm Công nghệ Thông tin , Bộ Thương mại Thái Lan ( (2013) Thông ke thông tin Thương mại
của Thái Lan và Myanmar năm 1992-1995 Truy cập 22 tháng 2 năm 2014, từ
23 Trung tâm Công nghệ Thông tin , Bộ Thương mại Thái Lan ( (2013) Thông ke thông tin Thương mại
của Thái Lan và Lào năm 1992-1995 Truy cập 22 tháng 2 năm 2014, từ http://www.ops3.moc
go.th/infor/MenuComTH/trade_sum/report.asp
Trang 36độ tăng trưởng 46,41%) 24 Tuy nhiên, nếu so sánh với lượng đầu tư vàthương mại giữa Thái Lan với các nước khác thì cặp quan hệ Thái – Việt vẫncòn thấp Việc mở rộng quan hệ thương mại sau khi Thái Lan và Việt Nam đã
ký kết thành lập tổ chức “Ủy bản hợp tác về thương mại và kinh tế” vẫn chưa
mang lại hiệu quả như hai bên mong đợi Về giá trị đầu tư của Thái Lan vàoViệt Nam, theo số liệu của năm 1995, tổng giá trị đầu tư của Thái Lan đạt135,71 triệu USD, đứng thứ 12 trong số các nhà đầu tư nước ngoài tại ViệtNam, thấp hơn nhiều so với các đối tác như: Đài Loan, Úc, Nhật Bản, Anh,Ireland, Hà Lan, Singapore và Malaixia
Mặc dù sau năm 1991, hoạt động của “Ủy ban hợp tác về thương mại
và kinh tế” chưa có kết quả tốt như mong muốn, nhưng vẫn có những hiệuquả khác như đã đưa đến một loạt các hiệp định khác, cụ thể là 6 hiệp địnhdưới đây như: Hiệp định về hợp tác giữa BOI và SCCI (CooperationAgreement between the office of the BOI of the Kingdom of Thailand andState Committee on Cooperation and Investment of the Socialirt Republic ofVietnam, 1992), Biên bản ghi nhớ (MOU) hợp tác về gạo năm 1992, Hiệpđịnh về tránh đánh thuế hai lần năm 1992, Thỏa thuận về giúp đỡ nghiên cứugiáo dục trị giá 150 triệu baht cho Việt Nam năm 1992, Hiệp định hợp tác về
Du lịch Thái Lan - Việt Nam năm 1994 và Hiệp định về hợp tác giữa Liênđoàn Công nghiệp Thái Lan và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Namnăm 1994 Vì vậy, Thái Lan và Việt Nam nên thúc đẩy những hiệp địch này
để có hiệu qủa kinh tế; đặc biệt là sự hợp tác của Hiệp định về hợp tác giữaLiên đoàn Công nghiệp Thái Lan và Phòng Thương mại và Công nghiệp ViệtNam năm 1994
24
Trung tâm Công nghệ Thông tin , Bộ Thương mại Thái Lan (2013) Thông ke thông tin Thương mại của
Thái Lan và Việt Nam năm 1992-1995 Truy cập 22 tháng 2 năm 2013, từ
http://www.ops3.moc.go.th/infor/MenuComTH/trade_sum/report.asp
Trang 371.3 Một số nguyên nhân hạn chế quan hệ thương mại và đầu tư giữa Thái Lan và Việt Nam
1.3.1 Những nguyên nhân trong giai đoạn ban đầu 1987-1989
Trước hết, doanh nhân Thái chưa có đầy đủ thông tin về tình hình kinh tế
và thương mại của Việt Nam, bởi trong giai đoạn này, thông tin thu hút đầu tưphần lớn là bằng tiếng Việt, là ngôn ngữ mà các nhà đầu tư Thái Lan khôngthông thạo; đồng thời doanh nhân Thái Lan cũng không theo dõi các thông tinliên quan đến đầu tư tại Việt Nam, nên không có định hướng về đầu tư và hoạtđộng thương mại; vì vậy, kết quả hoạt động kinh doanh không đạt hiệu quảcao
Thứ hai, trong giai đoạn đầu khi tiến hành hoạt động kinh doanh tại thị
trường Việt Nam, các doanh nhân Thái Lan đã tiến hành công việc kinh doanhcủa mình bằng cách đi lại giữa hai nước mà không có văn phòng đại diện đểtìm kiếm thông tin và liên lạc Đây là một lý do rất căn bản gây khó khăn choviệc theo dõi và tìm kiếm thông tin toàn diện phục vụ cho kinh doanh Như đãnói ở trên đây, doanh nhân Thái Lan muốn đầu tư và ngay lập tức muốn kiếmđược lợi nhuận trong một khoảng thời gian ngắn Thêm vào đó, các doanhnhân Việt Nam không quan tâm đến đầu tư của Thái Lan, do nhận thấy doanhnhân Thái Lan không đầu tư một cách nghiêm túc vào Việt Nam như nhữngquốc gia khác
Thứ ba, trong giai đoạn đầu tiên, doanh nhân làm kinh doanh không có
hướng đi rõ ràng, thử làm và tìm kiếm vận may Về phía chính phủ Thái Lan,Chính phủ cũng không xác định và thể hiện bất cứ biện pháp nào để có thểgiúp đỡ các doanh nhân Thái Lan, hoặc thực hiện các biện pháp phối hợp vớicác cơ quan hữu trách của Việt Nam trong các trường hợp cần thiết Hơn nữa,phía Thái Lan cũng chưa có cơ quan thu thập thông tin một cách có hệ thống
Trang 38nhằm phục vụ cho các doanh nhân Thái Lan hoạt động tại thị trường ViệtNam.
Thứ tư, doanh nhân Thái Lan chưa hiểu về người Việt Nam Hơn nữa, lối
kinh doanh của người Việt Nam cũng chưa hợp với lối kinh doanh quốc tế,theo đó, họ có thể sửa đổi thỏa thuận bất cứ lúc nào do quy định của luật pháptrong thời kỳ này chưa cụ thể và chặt chẽ Ngoài ra, còn có những vấn đềtrong việc phân chia lợi ích giữa hai bên đầu tư và tiếp nhận đầu tư Ở đây,mọi thứ đều chưa được rõ ràng
Thứ năm, vấn đề về môi trường đầu tư tại Việt Nam thời gian đầu vẫn
chưa được thuận lợi, đặc biệt là những vấn đề có liên quan đến giấy tờ, hồ sơthủ tục cấp phép đầu tư và kinh doanh còn quá nhiều khâu phức tạp; thiếu sựphân cấp quản lý một cách khoa học cho các cơ quan hữu quan, nên đã làmcho quá trình kinh doanh bị chậm trễ
Thứ sáu, chi phí cho quá trình đầu tư và kinh doanh còn quá tốn kém, kể
cả chi phí chính thức và không chính thức Các chi phí chính thức như: tiềnthuê văn phòng, thuê nhà ở, chi phí liên hệ, truyền thông, chi phí xin cấp phépđầu tư, v.v còn tương đối cao đã không hỗ trợ thuận lợi cho kinh doanh Còncác khoản chi phí không chính thức, như quà cáp biếu xén cho các nhân viênnhà nước để tránh bị chậm trong quá trinh làm kinh doanh… cũng là một vấn
25 Đại sứ quán Vương quốc Thái Lan tại Hà Nội ( 1995) , Sự phát triển mối quan hệ song phương Thái
Lan – Việt Nam tr 16.
Trang 39Đó là việc Mỹ quyết định hủy bỏ việc tẩy chay Việt Nam (tháng 2/1994),chuẩn bị cho việc tháo dỡ hoàn toàn lệnh cấm vận đối với Việt Nam từ bấylâu nay và thiết lập quan hệ bình thường hóa với Việt Nam vào một năm sau
đó (1995)
Mặt khác, bắt đầu từ năm 1992, Chính phủ Thái Lan dưới sự lãnh đạocủa Thủ tướng Anand Panyarachun (lên làm Thủ tướng năm 1991) đã cảithiện một bước quan hệ với các nước Đông Dương, tăng cường quan hệ hữunghị với Việt Nam, như lập Ủy ban Hợp tác kinh tế với Việt Nam, thực hiện
ký kết những hiệp định hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai nước;
tổ chức cơ quan cung cấp thông tin và tư vấn cho các doanh nghiệp Thái Lanlàm ăn tại Việt Nam, với mong muốn thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa Thái Lan
và các nước Đông Dương nói chung, giữa Thái Lan và Việt Nam nói riêng.Đồng thời năm 1992 Thái Lan cũng thiết lập cơ quan Lãnh sự và cơ quan xúctiến đầu tư của mình tại TP Hồ Chí Minh tạo thuận lợi cho các doanh nhânThái Lan khi muốn đầu tư vào Việt Nam26
Về phía các doanh nghiệp Thái Lan, lúc này họ đã hiểu biết về Việt Namnhiều hơn, chú trọng nâng cao năng lực thông tin và tư vấn về thị trường ViệtNam thông qua việc thiết lập các văn phòng đại diện tại Việt Nam, v.v…Tất cả những động thái trên đây đều có tác động tích cực đến quan hệgiữa Thái Lan và Việt Nam Bằng chứng là kim ngạch thương mại giữa haibên đã tăng nhiều so với các giai đoạn trước đó; số vốn đầu tư của Thái Lantại Việt Nam đã tăng lên nhanh chóng, từ 5,54 triệu USD năm 1992, đã tănglên tới 78,04 triệu USD vào năm 199327; nhiều dự án quan trọng của các nhà
26 Thanyathip Sripana (1998), Quá trình phát triển đầu tư của Thái Lan vào Việt Nam, Xem lại châu
Á, tập
19 (số 1), tr 53.
27 Suneerat Bounampon (2004), Thương mại và đầu tư giữa Thái Lan và Việt Nam, Luật văn tiến sĩ ngành
kinh tế học, Sau đại học, Trường đại học Ramkamhang, Bangkok, Thái Lan tr 42-43
Trang 40đầu tư Thái Lan đã được cấp phép hoạt động như: Dự án xây dựng khách sạn
5 sao của Công ty SAS; Dự án xây dựng các nhà máy chế biến thực phẩm; Dự
án xây dựng khu công nghiệp Amata City của Công ty Bangpakong IndustrialPark II; Dự án Chế biến thức ăn cho gia súc tại Biên Hòa (Đồng Nai); một số
dự án của Tập đoàn Ban-Chang và Tập đoàn Bam–Pu; dự án đầu tư phát triển
và cải thiện cảng nước sâu Hải Phòng, v.v…
1.4 Tiểu kết
Quá trình phát triển ngoại giao giữa Thái Lan và Việt Nam trước năm
1995, trong phần một này mối quan hệ ngoại giao giữa hai nước được chiathành những giai đoạn khác nhau, trong đó giai đoạn đầu tiên từ năm 1975đến năm 1979, trong giai đoạn này có thể thấy được một số nội dung nổi bậtnhư phía Thái Lan có sự thay đổi chính sách đối với Mỹ, đồng thời cũng cónhững chính sách tích cực đối với các nước theo Chủ nghĩa xã hội như ViệtNam, điều này dẫn đến đàm phán khôi phục quan hệ ngoại giao giữa Thái Lan
và Việt Nam Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề không được giải quyết songnước luôn cố gắng để phát triển mối quan hệ Mối quan hệ có sự thay đổibước ngoặt đặc biệt vào ngày mùng 6/8/1976 khi hai nước tuyên bố thiết lậpquan hệ ngoại giao giữa Thái Lan và Việt Nam Giai đoạn thứ hai từ năm
1979 đến năm 1988 Trong giai đoạn này vấn đề Campuchia làm cho mốiquan hệ giữa Thái Lan và Việt Nam trở nên căng thẳng nhưng sau đó để thayđổi tình trạng căng thẳng phía Việt Nam đã có những hành động tích cực nhưquyết định chủ động phá vỡ sự cô lập bằng việc tuyên bố rút quan khỏiCampuchia trong vòng năm năm Giai đoạn thứ ba, từ đến năm 1988 đến
1994, Việt Nam rút quan ra khỏi Campuchia điều này cũng đồng nghĩa vớiviệc mối quan hệ của hai nước Thái Lan và Việt Nam trở nên tốt đẹp hơn.Thái Lan đồng thời cũng có những chiến lược nhất định về đầu tư, đến đầunăm 1989 quan hệ Thái Lan và Việt Nam được khôi phục hoàn toàn