Ở nhiều quốc gia trên thế giới, hoạt động của ngành du lịchchẳng những đem lại những lợi ích kinh tế mà còn đem lại cả những lợi ích vềchính trị, văn hóa, xã hội… Chính vì những lẽ đó, H
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 4
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do lựa chọn đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
5 Nguồn tài liệu, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 12
6 Đóng góp của luận văn 13
7 Bố cục của luận văn 13
Chương 1: ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TRONG NHỮNG NĂM 1996 - 2000 15
1.1 Tiềm năng du licḥ Ninh Binh̀ vàthực trạng kinh tế du l ịch của tỉnh trước năm 1996 15
1.1.1 Tiềm năng du lịch Ninh Bình 15
1.1.2 Thực trạng kinh tếdu lịch Ninh Bình trước năm 1996 27
1.2 Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch trong những năm 1996 - 2000 33
1.2.1 Đảng bộ tỉnh Ninh Bình với chủ trương phát triển kinh tế du lịch trong những năm 1996 - 2000 33
1.2.2 Quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình trong những năm 1996 - 2000 40
Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TRONG NHỮNG NĂM 2001 - 2010 48
2.1 Đường lối chung của Đảng và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình vềđẩy manḥ phát triển kinh tếdu licḥ trong những năm 2001 - 2010 48
2.1.1 Đường lối chung của Đảng 48
Trang 22.1.2 Đảng bộ tỉnh Ninh Bình với chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế
du lịch trong những năm 2001 - 2010 58
2.2 Quá trình đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch tỉnh Ninh Bình những năm 2001 - 2010 68
2.2.1 Công tác quản lý nhà nước về du lịch 68
2.2.2 Lao động ngành du lịch 73
2.2.3 Đầu tư hạ tầng du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho phát triển du lịch 75
2.2.4 Hoạt động xúc tiến, quảng bá và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch 81
2.2.5 Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch 85
Chương 3: MÔṬ SỐ NHÂṆ XÉT VÀKINH NGHIÊṂ 92
3.1 Môṭsốnhâṇ xét 92
3.1.1 Ưu điểm chính 92
3.1.2 Một số hạn chế 100
3.2 Một số kinh nghiệm chủ yếu vànhững vấn đềđăṭra 106
3.2.1 Một số kinh nghiệm chủ yếu 106
3.2.2 Những vấn đềđăṭ ra 112
KẾT LUẬN 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
PHỤ LỤC 131
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Các chỉ tiêu chủ yếu phát triển du lịch giai đoạn 1996 - 2000 44Bảng 2.2: Lượng khách du lịch đến Ninh Bình thời kỳ 2001 - 2005 86Bảng 2.3 Doanh thu của ngành du lịch tỉnh Ninh Bình (2001 - 2010) 88Bảng 2.4 Đóng góp vào ngân sách Nhà nước của ngành du lịch tỉnh Ninh Bình(2001 - 2010)……… 89Bảng 2.5 Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế ở Ninh Bình……….89
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng và xãhội hóa cao Ở nhiều quốc gia trên thế giới, hoạt động của ngành du lịchchẳng những đem lại những lợi ích kinh tế mà còn đem lại cả những lợi ích vềchính trị, văn hóa, xã hội… Chính vì những lẽ đó, Hội nghị Du lịch thế giới
năm 1980 họp tại Manila (Philippin) đã ra “Tuyên bố Manila” về du lịch,
trong điều 2 ghi rõ: “Trước ngưỡng cửa của Thế kỷ XXI và trước triển vọngcủa những vấn đề đang đặt ra đối với nhân loại, đã đến lúc cần thiết và phảiphân tích bản chất của du lịch, chủ yếu đi sâu vào bề rộng mà du lịch đã đạtđược kể từ khi người lao động được quyền nghỉ phép năm, đã chuyển hướng
du lịch từ một phạm vi hẹp của thú vui sang phạm vi lớn của đời sống kinh tế
và xã hội Phần đóng góp của du lịch vào nền kinh tế quốc dân, thương mạiquốc tế đang làm cho nó trở thành một luận cứ tốt cho sự phát triển của thếgiới Vai trò thiết thực của du lịch trong hoạt động kinh tế quốc dân, trongtrao đổi quốc tế và trong sự cân bằng cán cân thanh toán đang đặt du lịch vào
vị trí một trong số những ngành hoạt động kinh tế thế giới quan trọng nhất”[75; tr 45]
Hòa cùng với xu thế chung của thời đại, nhận thức được tầm quan trọngcủa kinh tế du lịch, hơn nữa Việt Nam lại được sở hữu một tiềm năng du lịchrất lớn, không chỉ về TNDL tự nhiên mà còn về TNDL văn hóa nên ngay saukhi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước (1986) vấn đề phát triển
du lịch đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm đầu tư Trong nội dung cácvăn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX và các Chỉ thị củaBan Bí thư Trung ương Đảng qua các kì Đại hội đã thể hiện hệ thống cácquan điểm và mục tiêu khá toàn diện về chiến lược phát triển du lịch ViệtNam theo hướng: tập trung phát triển du lịch văn hóa, lịch sử, cảnh quan môitrường, lịch sử truyền thống, tạo sức hấp dẫn đặc thù, giữ gìn và phát huy bảnsắc văn hóa dân tộc và nhân phẩm con người Việt Nam, phấn đấu đưa du lịch
Trang 6trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, trọng điểm trong cơ cấu kinh tế chung của
cả nước
Nhận được sự quan tâm đó, cùng với những nỗ lực không ngừng,ngành du lịch đã khởi sắc, vươn lên đổi mới quản lý và phát triển, đạt đượcnhững thành quả ban đầu quan trọng, ngày càng tăng cả quy mô và chấtlượng, dần khẳng định vị trí, vai trò của mình
Ninh Bình là một tỉnh nhỏ nằm ở rìa phía Nam và Tây Nam của đồngbằng sông Hồng Với vị trí địa lý tương đối thuận lợi và một nguồn tài nguyên
du lịch phong phú, Ninh Bình có đầy đủ cơ sở và những điều kiện thuận lợi đểphát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, chủ chốt trong cơ cấukinh tế Từ sau khi tái lập tỉnh, đặc biệt là thời gian từ 1996 đến 2010, dưới sựlãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình, ngành du lịch đã từng bước khắc phụckhó khăn, khai thác tiềm năng và phát huy mọi nguồn lực để tạo dựng mộtnền tảng vững chắc cho sự phát triển của ngành, đồng thời đóng góp tích cựcvào sự phát triển kinh tế của địa phương, tạo việc làm, nâng cao đời sống vậtchất và tinh thần cho nhân dân
Sự lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh đối với vấn đề phát triển kinh tế du lịch
là hết sức cần thiết và quan trọng Tìm hiểu quá trình lãnh đạo phát triển kinh
tế du lịch của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình trong những năm 1996 - 2010 sẽ giúpchúng ta thấy được những thành tựu đạt được cũng như những thời cơ vàthách thức mà Đảng bộ Tỉnh đã trải qua nhằm khai thác tốt nhất những nguồnlực, tiềm năng để đưa du lịch Ninh Bình phát triển đi lên, xứng đáng là ngànhkinh tế mũi nhọn của địa phương Với những ý nghĩa đó tôi đã chọn đề tài
“Quá trình lãnh đạo kinh tế du lịch của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình từ năm
1996 dến năm 2010” làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử Đảng
cộng sản Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Du lịch ngày nay đã gắn liền với cuộc sống của hàng ngày của hàngtriệu người Với việc mang lại những lợi ích to lớn về kinh tế, văn hóa - xã
Trang 7hội và ngày càng giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, vấn đề pháttriển kinh tế du lịch Việt Nam đã nhận được không ít sự quan tâm của các nhàkhoa học ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau.
Có thể kể đến một số công trinh̀ nghiên cứu như: Du lịch và kinh doanh
du lịch” (1996) của Trần Nhạn, Nxb Văn hoá thông tin Tác phẩm trình bày
khái niệm về du lịch; nguồn lực để phát triển và các thể loại du lịch; kinh
doanh du lịch và chân dung một số chủ doanh nghiệp du lịch Tài nguyên và
môi trường du lịch Việt Nam (2001), Phạm Trung Lương (chủ biên ), Nxb
Giáo dục Cuốn sách trình bày một số kiến thức về tài nguyên và môi trường
du lịch Tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên và môi trường ứng dụng công nghệ hệ thông tin địa lý trong quản lý tài nguyên và môi trường du lịch Phát triển du lịch bền vững trong mối quan hệ với tài nguyên và môi
trường Một số vấn đề về du lịch Việt Nam (2004) của Đinh Trung Kiên , Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội Tác phẩm t ìm hiểu những chặng đường du lịch; nguồn tài nguyên du lịch vật thể ở Hà Nam Ninh và việc khai thác cho hoạt
động du lịch ; đào tạo du lịch cho dân tộc Việt Nam Tuyến điểm du lịch Việt
Nam (2009) của Bùi Thị Hải Yến , Nxb Giáo dục Tác phẩm khái quát về điều
kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch và kết cấu hạ tầng của Việt Nam cùng một sốtuyến, điểm du lịch các vùng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ…
Trên các báo vàtap ̣ chícũng cónhiều bài viết vềvấn đềphát triển kinh
tếdu licḥ như: “Sự phát triển du lịch dưới đường đổi mới của Đảng cộng sản
Việt Nam” (2005) của tác giả Trần Đức Thanh , Tạp chí Du lịch Việt Nam,
Số 2, tr 20-21 Bài viết nêu lên đư ờng lối phát triển du lịch của Đảng trong
thời kỳ đổi mới và những thành tựu du lịch Việt Nam đạt được dưới sự chỉ
đạo của Đảng và Chính phủ Du lịch Việt Nam trước cơ hội mới (2007) của
Thúy Mơ, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương , Số 02, tr 15-16 Bài
viết khái quát những thành tưụ của du lịch Việt Nam năm 2006 và những mục
tiêu, khó khăn, thách thức của ngành năm 2007 Để du lịch Việt Nam không
mãi là tiềm
Trang 8ẩn (2008) của Phạm Hạnh , Tạp chí Tài chính doanh nghiệp , Số 3, tr 36-37.
Bài viết nêu lên những đóng góp của ngành du lịch Việt Nam trong sự pháttriển kinh tế- xã hội Ngành du lịch Việt Nam so với các quốc gia Đông Nam
Á Bước tiến của ngành khi Việt Nam gia nhập thị trường du lịch quốc tế vàViệt Nam là thành viên của WTO Một số yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp
du lịch Du lịch Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
(2008) của Hoàng Tuấn Anh , Tạp chí Quản lý nhà nước , Số 144, tr 22-26 Bài viết trình bày những bước tăng trưởng của ngành du lịch Việt Nam cả vềquy mô và chất lượng trong hơn 1 thâp ̣ kỷqua vànhững n hiệm vụ trọng tâmcủa ngành thời gian tới: nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch và tính chuyênnghiệp của công tác xúc tiến du lịch; nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ,nhân viên; mở rộng hợp tác quốc tế
Bên canḥ đó, còn phải kể đến các Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia và
quốc tế liên quan đến vấn đềnày như : Kỷ yếu hội thảo khoa học “70 năm
thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 - 3-2-2000)” (2000), Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội Kỷ yếu bao gồm các báo cáo khoa học tại hội thảo đềcập đến cương lĩnh và đường lối chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam
Ttrong đóc ó các bài viết đề cập đến đường lối phát triển kinh tế du lịch của
Đảng trong thời kỳđổi mới Kỷ yếu hội thảo khoa học “Tối ưu hóa các dịch
vụ du lịch: Triển vọng tương lai cho Việt Nam” (2005) Tổ chức bởi Chương
trình Hỗ trợ Phát triển vùng tại Việt Nam (DIREG), tháng 6 năm 2005 tại HàNội, bao gồm các bài nghiên cứu liên quan đến vấn đềphát triển du licḥ và dịch vụ du lịch ở Việt Nam thời gian trước năm 2005 cũng như những giảipháp nhằm tối ưu hóa các dịc h vu ̣du licḥ trong tương lai Kỷ yếu hội thảo
khoa hoc ̣ “Nghiên cứu và đào tạo du lịch ở Việt Nam trong quá trình hội
nhập quốc tế”(2007), do Trường ĐHKHXH&NV tổ chức ngày 8/5/2007; bao
gồm các báo cáo tham luận với 2 mảng nội dung chính là nghiên cứu du lịch
và đào tạo du lịch ở Việt Nam trong quá trình hội nhập Kỷ yếu hội thảo “Nhu
Trang 9cầu xã hội về đào tạo nhân lực du lịch và sự cần thiết mở mã ngành du lịch”,
Trường ĐHKHXH&NV tổchức ngày 28/12/2009…
Ngoài ra cũng có không ít các luận vă n, luâṇ án đa ̃nghiên cứu vềvấn đềphát triển kinh tế du lịch ViêṭNam cũng như chủ trương của Đảng đối với vấn
đềnày như : Luận án tiến sĩ kinh tế “Những điều kiện và giải pháp chủ yếu để
phát triển du lịch Việt Nam thành ngành kinh tế mũi nhọn” (1996) của tác giả
Vũ Đình Thụy , Đaịhoc ̣ kinh tếquốc dân Đề tài nêu lên cơ sở lý luận và thực tiễn đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân Tiềm năng và thực trạng của ngành du lịch Việt Nam Định hướng và giải phápchủ yếu để phát triển du lịch Việt Nam thành ngành kinh tế mũi nhọn Luâṇ án
tiến si ̃ kinh tế: “Hoàn thiện quản lý nhà nước về lao động trong kinh doanh
du lịch ở Việt Nam” (2002) của Hoàng Văn Hoan , Đại học Kinh tế Quốc dân
Luâṇ án trình bày cơ sở lý luận của nội dung quản lý nhà nước đối với kinh doanh du lịch Thực trạng quản lý nhà nước đối với lao động trong kinh doanh
du lịch Việt Nam và một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lí nhà nước đối
với lao động trong ngành này Luâṇ án t iến si ̃kinh tế: “Các giải pháp tài
chính nhằm phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010” (2004) của Chu Văn
Yêm , Học viện Tài chính Đềtài nghiên cứu thực trạng du lịch Việt Nam, thực trạng sử dụng các giải pháp tài chính đối với hoạt động du lịch nhằm chỉ ra những tác động tích cực và những hạn chế của chúng Qua đó đề xuất sửa đổi,
bổ sung, hoàn thiện hệ thống các giải pháp tài chính nhằm đẩy mạnh phát triển
du lịch Việt Nam đến 2010 Luận văn thac ̣ sỹ lịch sử: “Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch thời kỳ đổi mới (1986-2001)” (2007)
của Nguyễn Văn Tài , Trung tâm đào taọ , bồi dưỡng giảng viên lýluâṇ chinh́tri ̣Luâṇ văn đa ̃khái quát tình hình kinh tế du lịch qua các giai đoạn khác nhaucủa thời kỳ đổi mới, thời kỳ đầu (1986-1996) và giai đoạn phát triển quan trọng của du lịch (1996-2001) Tập trung nghiên cứu các quan điểm, chủ
trương, đường lối của Đảng trong lãnh đạo và phát triển kinh tế du lịch thời kỳ này Phân tích đánh giá các kết quả đạt được
Trang 10và những thành tựu bước đầu của kinh tế du lịch Rút ra kinh nghiệm về lãnhđạo phát triển kinh tế du lịch trong 15 năm đổi mới của Đảng Từ đó, nêu lên một số giải pháp cơ bản đối với sư ̣phát triển của ngành…
Đối với vấn đề phát triển kinh tế du lịch Nin h Bình cũng đa ̃có môṭsố
công trinh̀ nghiên c ứu như: Non nước Ninh Bình (2004) do Sở Du lịch Ninh
Bình xuất bản giới thiệu một cách hệ thống và đầy đủ về TNDL Ninh Bình;
“Địa chí Ninh Bình”(2010) do Ban Tuyên giáo Ninh Bình và Viện Khoa học
Xã hội Việt Nam phát hành, giới thiệu về các lĩnh vực: địa lý, lịch sử, kinh tế,văn hóa, hệ thống chính trị , quốc phòng, an ninh và các huyện , thị xã, thànhphố trên địa bàn Ninh Bình Cuốn sách cung cấp , cập nhật cho các nhà quản
lý, nghiên cứu lịch sử, văn hóa, độc giả trong và ngoài tỉnh những thông tin,hình ảnh, số liệu, tư liệu mới, chính xác và khoa học, tiện lợi cho việc tra cứu
và trích dẫn thông tin tư liệu; tìm hiểu về lịch sử hàng nghìn năm; những nétvăn hóa truyền thống cổ xưa, các di tích lịch sử, danh thắng, các món ẩm thực
đặc sắc của vùng đất cố đô xưa Luâṇ văn thac ̣ sỹ Kinh tế: “Phát triển kinh tế
du lịch Ninh Bình” (2007) của tác giả Mai Thị Thanh , Đaịhoc ̣ Kinh tế.
Luâṇ văn hê ̣thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động du l ịch,khẳng định du lịch là một ngành kinh tế quan trọng của nền kinh tế quốc dân.Nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế du lịch Ninh Bình thời gian qua; chỉ
ra những kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân, những vấn đề đặt ra cầngiải quyết Đề xuất phương hướng, mục tiêu và một số giải pháp cụ thể vềphía nhà nước trong công tác quản lý và doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
du lịch nhằm thúc đẩy phát triển du lịch Ninh Bình từ nay đến năm 2010 và
những năm tiếp theo Luâṇ văn thac ̣ sỹKhu vưc ̣ hoc ̣ : “Nghiên cứu phát triển
du lịch bền vững khu vực Hoa Lư và phụ cận” (2009) của tác giả Phạm Văn
Thắng, Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển Đềtài trinh̀ bày tổng quannhững vấn đề lý luận về phát triển bền vững và phát triển du lịch bền vững ởViệt Nam và trên thế giới Nghiên cứu về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội
và tài nguyên du lịch của huyện Hoa Lư và phụ cận Phân tích hiện trạng phát
Trang 11triển du lịch khu vực Hoa Lư và phụ cận qua: khách du lịch và thời gian lưu
trú; doanh thu và cơ cấu doanh thu; mức độ chi của khách du lịch ; tổ chức và quản lý về du lịch ; cơ sở vật chất phục vụ du lịch và hiện trạng tổ chức lãnh
thổ du lịch Đề xuất định hướng và giải pháp nhằm phát triển du lịch bền
vững khu vực Hoa Lư và phụ cận
Tuy nhiên, đối với vấn đề quá trình lãnh đạo kinh tế du lịch của Đảng
bô ̣tinh̉ Ninh Bình thì chưa có một công trình nghiên cứu riêng biệt nào mà
chủ yếu mới được đề cập môṭcách khái quát qua các Nghi quyếṭ , các báo cáohàng năm của Tỉnh ủy , UBND tỉnh và Sở Văn hóa, Thểthao vàDu licḥ tỉnhNinh Bình Các công trình này tuy chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên
biêṭvềvấn đềma luâṇ văn đềcâp ̣ tơi nhưng la nguồn tai liêụ quan trong ̣ ,
cung cấp cơ sơ ly luâṇ , tư liêụ va ca như ng gơị y khoa hoc ̣ đểtac gia thưc ̣
hiêṇ luâṇ văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ một cách toàn diện và khách quanquá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đối với vấn đề pháttriển kinh tế du lịch; tái hiện lại những kết quả đạt được của kinh tế du lịchtỉnh Ninh Bình từ năm 1996 đến năm 2010; bước đầu rút ra một số bài họckinh nghiệm về sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng bộ Tỉnh trong quá trình đẩymạnh phát triển kinh tế du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu vấn đề “Quá trình lãnh đạo kinh tế du lịch của Đảng bộ
tỉnh Ninh Bình từ năm 1996 đến năm 2010”, đề tài hướng đến giải quyết
những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến đề tài bao gồm các
chủ trương, chính sách của Đảng và Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về phát triểnkinh tế du lịch, các báo cáo của các cấp, các ngành có liên quan đến du lịchNinh Bình
Trang 12Thứ hai, mô tả lại một cách khách quan, toàn diện những chủ trương,
chính sách và quá trình Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo phát triển kinh tế dulịch ở địa phương từ 1996 đến 2010
Thứ ba, nêu lên những kết quả, hạn chế của trong phát triển du lịch ở
Ninh Bình; rút ra nhận xét, đánh giá và bài học kinh nghiệm trong quá trìnhĐảng bộ Tỉnh lãnh đạo phát triển du lịch
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu * Đối tượng nghiên cứu:
Luâṇ văn tâp ̣ trung nghiên cứu đường lối phát triển kinh tế du lịch củaĐảng; các chủ trương, biện pháp của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo, chỉđạo phát triển kinh tế du lịch của tỉnh; các hoạt động kinh tế du lịch của tỉnhNinh Bình trong những năm từ 1996 đến 2010
* Phạm vi nghiên cứu:
- Luận văn tập trung tìm hiểu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh NinhBình đối với vấn đề phát triển kinh tế du lịch Trên cơ sở đó trình bày những thànhtựu và một số hạn chế còn tồn tại, bước đầu rút ra một số bài học kinh nghiệmtrong công tác lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đối với vấn đề pháttriển kinh tế du lịch
- Thời gian nghiên cứu giới hạn từ 1996 đến 2010
5. Nguồn tài liệu, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu * Nguồn
- Các Báo cáo tổng kết của các sở, ban, ngành có liên quan về vấn đề kinh tế du licḥ
Trang 13- Các công trình khoa học của các nhà nghiên cứu được đăng tải trên các tạp chí của Trung ương và địa phương…
* Cơ sở lý luận:
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh mà chủ yếu là phép duy vật biện chứng; những chủtrương, đường lối phát triển kinh tế du lịch của Đảng cộng sản Việt Nam vàĐảng bộ tỉnh Ninh Bình; những quan điểm của các nhà nghiên cứu về du lịchtrong và ngoài nước
Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc,ngoài ra còn sử dụng phương pháp đối chiếu, phân tích, tổng hợp bảng thống
kê để làm sáng tỏ vấn đề luận văn cần trình bày
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn trình bày những tiềm năng phát triển du lịch ở Ninh Bình ;
hê ̣thống hóa những chủ trương , chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đối với vấn đề phát triển kinh tế du lịch trong những năm 1996 - 2010
- Trên cơ sởcác nguồn tư liêụ licḥ sử, đặc biệt là nguồn tư liệu gốc, luậnvăn đã trình bày quá trình Đảng bô ̣tinh̉ Ninh Binh̀ lãnh đạo, chỉ đạo phát triểnkinh tếdu licḥ từ năm 1996 đến năm 2010; nêu những thành tựu chủ yếu của
kinh tếdu licḥ Ninh Binh̀ những năm 1996 - 2010; các ưu điểm và hạn chế của Đảng bô ̣tinh̉ trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện
- Luận văn nêu lên một số kinh nghiệm lịch sử trong quá trình Đảng bộtỉnh Ninh Bình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch, đề xuất một số phương hướng
và giải pháp chủ yếu góp phần thúc đẩy quá trình phát triển của kinh tế du lịchNinh Bình một cách bền vững trong tương lai
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương như sau:
Trang 14Chương 1: Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch
trong những năm 1996 - 2000 Chương 2: Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế
du lịch trong những năm 2001 - 2010 Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm
Trang 15Chương 1
ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH
TẾ DU LỊCH TRONG NHỮNG NĂM 1996 - 2000 1.1 Tiềm năng du licḥ Ninh Binh̀ vàthực trạng kinh tế du lịch của tỉnh trước năm 1996
1.1.1 Tiềm năng du lịch Ninh Bình
* Điều kiện tự nhiên
Về vị trí địa lý
Ninh Bình nguyên là kinh đô cũ của nhà Lê cho đến khi Lý Công Uẩnlên ngôi và dời đô về Thăng Long năm 1010 Tên Ninh Bình được gọi chínhthức từ 1831, đến năm 1975 thì sát nhập với hai tỉnh Nam Định và Hà Namthành tỉnh Hà Nam Ninh Từ 1992, Ninh Bình tách ra thành một tỉnh riêngnhư ngày nay
Ninh Bình là một tỉnh nhỏ, nằm ở rìa phía Nam và Tây Nam của đồngbằng sông Hồng Vị trí giới hạn từ 19o50 đến 20o26 vĩ độ Bắc, từ 105o32 đến
106o20 kinh độ Đông Phía Bắc giáp Hà Nam với một phần ranh giới tự nhiên
là sông Đáy; phía Đông giáp Nam Định; phía Đông Nam giáp biển Đông;phía Tây và Tây Nam giáp Thanh Hóa; phía Tây giáp Hòa Bình
Hiện nay, Ninh Bình có 8 đơn vị hành chính cấp huyện thị (1 thànhphố, 6 huyện và 1 thị xã) với 127 xã, 17 phường, thị trấn Thành phố NinhBình là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của toàn tỉnh
Nằm cách thủ đô Hà Nội hơn 90 km, trên trục quốc lộ 1A từ Bắc vàoNam, Ninh Bình có 20 km đường sắt Thống Nhất đi qua và còn có nhiềutuyến đường bộ quan trọng khác như: quốc lộ 1B, quốc lộ 10… Ninh Bìnhcũng nằm trong vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng: HàNội - Hải Phòng - Quảng Ninh Đây là điều kiện hết sức thuận lợi để thúc đẩy
sự phát triển của Ninh Bình
Về địa hình
Trang 16Ninh Bình có địa hình đa dạng, vừa có đồng bằng, vừa có đồi núi, nửa
đồi núi và vùng ven biển Vùng đồi núi, nửa đồi núi với các dãy núi đá vôi,
núi nhiều thạch sét, sa thạch, đồi đất đan xen các thung lũng lòng chảo hẹp,đầm lầy, ruộng trũng ven núi, có nhiều tiềm năng phát triển đặc biệt là phát
triển du lịch Vùng đồng bằng trung tâm là vùng đất đai màu mỡ, bãi bồi ven
sông, có nhiều tiềm năng để phát triển nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu lương
thực tại chỗ, và sản xuất hàng hóa xuất khẩu Vùng ven biển và biển có nhiều
điều kiện phát triển nuôi trồng thuỷ sản, khai thác các nguồn lợi ven biển Vớiđịa hình đa dạng như vậy, Ninh Bình có đủ điều kiện phát triển một nền kinh
tế tổng hợp
Về thổ nhưỡng
Ninh Bình có tổng diện tích tự nhiên là 139.011 ha, trong đó đất nôngnghiệp chiếm 44,57%, đất lâm nghiệp chiếm 19,89%, đất chuyên dùng chiếm10,93%, đất khu dân cư chiếm 3,85% và đất chưa sử dụng chiếm 12,3% Tàinguyên đất ở Ninh Bình nhìn chung có độ phì trung bình với ba loại địa hìnhven biển, đồng bằng và bán sơn địa nên có thể bố trí được nhiều loại câytrồng, nuôi trồng thủy sản, đồng cỏ chăn nuôi, cây rừng đa tác dụng Đây làmột lợi thế của Ninh Bình so với một số tỉnh trong vùng ĐBSH
Về khí hậu
Ninh Bình thuộc vùng tiểu khí hậu của đồng bằng sông Hồng, ngoàiảnh hưởng sâu sắc của gió mùa Đông Bắc, Đông Nam, còn chịu ảnh hưởngcủa khí hậu ven biển, khí hậu rừng núi và nửa rừng núi Thời tiết trong nămchia làm hai mùa khá rõ rệt: mùa khô từ tháng 11 - 12 năm trước đến tháng 4năm sau; mùa mưa từ tháng 5 - tháng 10 Nhiệt độ trung bình hàng năm là23,4oC và có sự chênh lệch không nhiều giữa các vùng Tổng nhiệt độ nămđạt tới trị số trên 8.500oC, có tới 8-9 tháng trong năm có nhiệt độ trung bìnhtrên 20oC Độ ẩm trung bình hàng năm là 86% Lượng mưa rơi trung bìnhtoàn tỉnh đạt từ 1.860 - 1.950 mm, phân bố tương đối đồng đều trên toàn bộlãnh thổ của tỉnh
Trang 17Về thủy văn
Ninh Bình là tỉnh có nhiều sông và đầm hồ Đây là nguồn nước mặtcung cấp nước cho công nghiệp, nông lâm nghiệp và bồi đắp phù sa cho đồngruộng Hàng năm, hệ thống sông ngòi ở Ninh Bình được nuôi dưỡng bằngnguồn nước mưa dồi dào, tạo nên lượng dòng chảy tương đối phong phú(khoảng 30 l/s/km2) Mật độ mạng lưới sông ngòi khoảng 0,6-0,9 km/km2.Ninh Bình có nhiều đầm hồ lớn như hồ Đồng Thái, hồ Yên Thắng, hồ ĐồngChương, đầm Cút, đầm Vân Long… Nguồn nước khoáng ở Ninh Bình cũngkhá phong phú, có một số suối nước khoáng đã được khai thác và đưa vàomục đích kinh tế và du lịch như: Kênh Gà, Kỳ Phú, Thường Sung
Về sinh vật
Ninh Bình là vùng đồng bằng được khai thác từ lâu đời để phát triểnnông nghiệp nên thực vật tự nhiên còn rất ít, chủ yếu là thực vật trồng Rừngnguyên sinh ở trong tỉnh chỉ còn ở khu vực vườn quốc gia Cúc Phương, vớinhiều loài thực vật phong phú: chò chỉ, chò xanh, lim, lát hoa… Ngoài ra, ởmột số nơi trên các sườn núi đá vôi còn có thảm thực vật thứ sinh nghèo Venbiển Kim Sơn có một ít rừng ngập mặn
Động vật trong tỉnh khá phong phú, vào bậc nhất ở khu vực ĐBSH ỞCúc Phương có 233 loài động vật có xương sống, 64 loài thú, 137 loài chim,
36 loài bó sát, 17 loài lưỡng cư đặc biệt có nhiều loài động vật quí hiếm
Về tài nguyên khoáng sản
Nguồn tài nguyên khoáng sản lớn nhất của Ninh Bình là đá vôi với trữlượng hàng chục tỷ m3, chất lượng tốt và đôlômít (hàng chục triệu tấn) phân
bố chủ yếu ở các huyện miền núi Ngoài ra còn một số khoáng sản khác như:đất sét, than bùn, cát xây dựng, sét gốm sứ, sét ximăng… trữ lượng nhỏ
Như vậy, Ninh Bình là tỉnh có vị trí địa lí khá thuận lợi, lại có nguồn tàinguyên thiên nhiên tương đối phong phú đặc biệt là tài nguyên du lịch Đây làmột thế mạnh để Ninh Bình phát triển kinh tế - xã hội nhất là kinh tế du lịch
Trang 18* Điều kiện kinh tế - xã hội
Về truyền thống - lịch sử
Ninh Bình là vùng đất giàu truyền thống lịch sử văn hóa, nhân dânđoàn kết, cần cù, sáng tạo trong lao động; anh dũng, kiên cường trong đấutranh dựng nước và giữ nước
Ngay từ thế kỷ X, khi đất nước rơi vào cảnh loạn lạc, Đinh Bộ Lĩnh người con của quê hương Ninh Bình đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy dẹp loạn
-12 sứ quân, thu non sông về một mối Sau khi lên ngôi, ông đóng đô ở Hoa
Lư, xây dựng triều chính Hoa Lư (nay thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư)trở thành kinh đô đầu tiên của nền phong kiến tập quyền ở nước ta
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, truyền thống cách mạng hàohùng của cha ông tiếp tục được các thế hệ con cháu trên mảnh đất Ninh Bình
tô thắm Sau khi có lệnh Tổng khởi nghĩa, Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo nhân dântiến hành khởi nghĩa đập tan chính quyền đế quốc, phong kiến Thắng lợi này
đã mở ra một thời kì mới trong lịch sử Đảng bộ và nhân dân Ninh Bình
Trong suốt 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhân dânNinh Bình đã cũng với nhân dân cả nước đồng lòng, đồng sức, kiên cườngchiến đấu, góp sức người, sức của vào thắng lợi chung của cả dân tộc
Sau đại thắng mùa xuân 1975, cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xãhội, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh (từ 1975 đến 1992 là Đảng bộ tỉnh HàNam Ninh), quân và dân Ninh Bình tiếp tục phát huy truyền thống lịch sử vẻvang và truyền thống cách mạng oanh liệt của quê hương anh hùng, khơi dậynhững tiềm năng to lớn để xây dựng Ninh Bình ngày càng phát triển
Đặc điểm dân cư và lao động
Dân số Ninh Bình theo số liệu điều tra dân số ngày 01/04/2009 là898.459 người So với dân số khu vực đồng bằng Sông Hồng, dân số tỉnhNinh Bình chiếm 5,6% và bằng 1,2% dân số cả nước Mật độ dân số của tỉnh(khoảng 675 người/km2) thấp hơn mật độ trung bình của vùng và đang nằm
Trang 19trong “thời kỳ dân số vàng”, là lợi thế không nhỏ để cung cấp nguồn lao động,thuận lợi trong quản lý và không gây sức ép lớn đối với phát triển kinh tế.
Nguồn lao động khá về cả số lượng, chất lượng và đang ở thời kỳ đầuvới tổng lao động năm 2008 chiếm 51,2% dân số (khoảng 480,3 nghìn người).Ninh Bình có tỷ lệ lao động thất nghiệp đô thị khá thấp (3,7%), chất lượngnguồn nhân lực được đánh giá là khá so vùng ĐBSH cũng như cả nước Dovậy, đây là một nhân tố rất thuận lợi để phát triển kinh tế, nhất là đối với cácngành, lĩnh vực thủ công mỹ nghệ và công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều laođộng
Về cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật phục vụ phát triển kinh tế
Nằm trên trục đường quốc lộ 1A, Ninh Bình có hệ thống giao thôngkhá hoàn chỉnh, từ quốc lộ, tỉnh lộ tới huyện lộ Ninh Bình có gần 3000kmđường bộ các loại, trong đó có: gần 100km đường quốc lộ (đường 1A, đường
10, đường 12B); 118km đường tỉnh lộ (đường 477, 12C, 59B); 121km đườnghuyện lộ và 2600km đường nội thị Ngoài ra, Ninh Bình còn có hơn 20kmđường sắt Bắc - Nam, có một ga hành khách Đặc biệt, năm 2002, đường caotốc Pháp Vân được hoàn thành cho phép giảm thời gian từ Hà Nội, nơi có cửakhẩu hàng không quốc tế Nội Bài, với Ninh Bình xuống còn 1 giờ 45 phút.Yếu tố hạ tầng này tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế - xã hội nhất là kinh tế dulịch của Ninh Bình trong mối quan hệ phát triển với thủ đô Hà Nội Bên cạnh
đó, là một địa phương có hệ thống sông ngòi tương đối phát triển, giao thôngđường thuỷ cũng là thế mạnh của Ninh Bình Nhiều điểm du lịch Ninh Bình
có thể tiếp cận bằng đường thuỷ và đây là thế mạnh cần phát huy nhằm tạo racác tour du lịch hấp dẫn với việc xây dựng các bến thuyền du lịch ở nhữngđiểm thích hợp
Mạng lưới điện trong tỉnh đã được xây dựng với tổng chiều dài cácđoạn đường dây trung cao áp là 770km Hiện nay, tỉnh có 1 nhà máy điệnNinh Bình và 4 trạm điện phân phối Nguồn điện hiện nay, bao gồm cả mạnglưới điện phân phối về cơ bản có thể đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt
Trang 20Như vậy, qua phân tích những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tựnhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh, có thể thấy, Ninh Bình là tỉnh có vị trí địa lýtương đối thuận lợi so với các tỉnh khác của khu vực ĐBSH Nằm trên tuyếngiao thông đường sắt và đường bộ xuyên Việt, Ninh Bình trở thành một cầunối giao lưu kinh tế, văn hóa giữa hai miền Nam - Bắc Với hệ thống giaothông thuận lợi này, nếu biết liên kết với các tỉnh, thành phố thuộc vùngĐBSH (Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây) và các tỉnh thuộc miền núi Tây Bắc vàTrung Bộ, Nam Bộ, Ninh Bình sẽ tạo được những tuyến du lịch hết sức hấpdẫn, có khả năng đón tiếp cả khách du lịch nội địa lẫn quốc tế.
Ninh Bình còn nổi bật lên với các dạng địa hình Karst đặc sắc và hệsinh thái phong phú, đa dạng với cảnh quan độc đáo Trong đó độc đáo nhấtphải kể đến kiểu địa hình Karst vịnh Hạ Long và các hang động Karst Đây làtiềm năng và là điều kiện tự nhiên vô cùng thuận lợi cho việc phát triển kinh
Bên cạnh những thuận lợi như vậy, vấn đề phát triển kinh tế du lịch ởNinh Bình còn gặp nhiều khó khăn như: cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật phục
vụ cho phát triển du lịch (cấp thoát nước, cấp điện, bưu chính viễn thông…)tuy thời gian gần đây đã được chú trọng đầu tư nhưng còn hạn chế; hệ thốngdịch vụ y tế, bảo hiểm, ngân hàng… chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càngcao của khách du lịch; lực lượng lao động toàn tỉnh tuy đông nhưng số lao
Trang 21động hoạt động trong ngành còn ít, trình độ lực lượng cán bộ quản lí, nhất làcán bộ trực tiếp làm du lịch còn nhiều bất cập, lao động nhàn rỗi, thiếu việclàm còn nhiều
* Tiềm năng du lịch tỉnh Ninh Bình
*Tài nguyên du lịch tự nhiên
Ninh Bình là một tỉnh không lớn nhưng có địa hình rất đa dạng: có núi,
có đồng bằng, có ven biển, mang đầy đủ sắc thái địa hình Việt Nam thu nhỏ.Đặc điểm về địa hình kết hợp với các thành phần tự nhiên khác như hệ thốngthủy văn, lớp phủ thực vật đã tạo cho Ninh Bình tiềm năng du lịch đa dạng
và phong phú Thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất này nhiều danh lamthắng cảnh kỳ thú, nhiều hang động nổi tiếng với cảnh quan đặc sắc và tính đadạng sinh học cao… Đây là tiền đề quan trọng cho việc phát triển nhiều loạihình du lịch hấp dẫn như du lịch sinh thái, du lịch tham quan, du lịch chữabệnh, du lịch mạo hiểm,… Một số tài nguyên tiêu biểu như:
Quần thể khu du lịch sinh thái Tràng An
Nằm ở thôn Tràng An, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, diện tích trên1.961 ha Khu du lịch Tràng An có quần thể hang động như: hang Địa Linh,hang Tối, hang Sáng , các thung lũng như: thung Mây, thung Nấu rượu,thung Khống và các hang xuyên thuỷ dài và đẹp mới được khai thác sẽ làmcho du khách ngỡ ngàng
Nằm trong quần thể khu du lịch sinh thái Tràng An còn có động Sinh
Dược (thôn Xuân Trì, xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn) là động xuyên thuỷ dài
gần 2km và đặc biệt là núi chùa Bái Đính (xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn) Núi
Bái Đính đứng độc lập, cao đến hơn 200m, quay hướng Đông, có dáng vòngcung hai bên khép lại tựa tay ngai tạo thành một thung ở dưới rộng khoảng3ha gọi là thung Chùa Chùa ở vị trí đẹp, sơn thuỷ hữu tình với năm cái nhất:Chùa lớn nhất, tượng to nhất (100 tấn đồng), nhiều tượng nhất (500 pho tượng
La Hán), chuông to nhất, giếng ngọc lớn nhất
Trang 22Vườn quốc gia Cúc Phương
Vườn quốc gia Cúc Phương được thành lập vào 7/7/1962, có diện tích22.200 ha, trong đó 3/4 là núi đá vôi cao từ 300 đến 648 m so với mặt biển
Vườn quốc gia Cúc Phương có địa hình phức tạp, rừng ở dạng nguyênsinh chứa nhiều bí ẩn, và cảnh quan độc đáo Trong vườn còn có suối nướcnóng 380C Hệ thực vật rất phong phú với 1.944 loài thuộc 908 chi và 229 họ.Đặc biệt có cây chò xanh, cây sấu cổ thụ đều trên dưới 1.000 năm tuổi, cao từ50-70m Riêng hoa phong lan có tới 50 loài, có loài cho hoa và hương thơmquanh năm Hệ động vật đa dạng bao gồm 71 loài thú, hơn 300 loài chim, 33loài bò sát và 16 loài lưỡng cư Nhiều loài thú quí như: gấu, ngựa, lợn lòi, hổ,báo
Với những lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, sự đa dạng về hệ sinh thái,các giá trị văn hoá, lịch sử lâu đời, Cúc Phương trở thành điểm du lịch sinhthái nổi tiếng hấp dẫn du khách trong và ngoài nước
Khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long
Khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long là khu bảo tồn sinh cảnh đặctrưng cho hệ sinh thái núi đá ngập nước có diện tích lớn nhất ở vùng ĐBSH(khoảng 2.643 ha), nằm trên địa phận 7 xã thuộc huyện Gia Viễn Vân Long
là một vùng đất còn ít được khám phá với cảnh quan đặc biệt hấp dẫn
Rừng Vân Long có 457 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 327 chi,
127 họ Đặc biệt có 8 loài được ghi trong sách Đỏ Việt Nam (1996) là kiêng,lát hoa, tuế lá rộng, cốt toái bổi, sắng, bách bộ, mã tiền hoa tán… Về động vật
có 39 loài, 19 họ, 7 bộ thú; có 12 loài động vật quý hiếm như: Voọc quần đùitrắng, gấu ngựa, sơn dương, khỉ mặt đỏ, cày vằn,… Điều đáng chú ý là tại khuvực ngập nước Vân Long có loài cà cuống thuộc họ chân bơi, một loài côntrùng quý hiếm, hiện còn rất ít ở Việt Nam Khu Vân Long còn có 32 hangđộng đẹp có giá trị như hang Cá, hang Bóng, hang Rùa…
Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động
Trang 23Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động là một quần thể du lịch, một địadanh nổi tiếng từ xa xưa, thuộc địa phận xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư Nơi đâyvẫn giữ được nét nguyên sơ, thiên tạo, với nhiều hang động, nhiều di tích lịch
sử, văn hóa nổi tiếng trong và ngoài nước như: đền Thái Vi, Tam Cốc, chùaBích Động, động Tiên, chùa Linh Cốc… Tam Cốc - Bích Động là 1 trong 16khu du lịch chuyên đề quốc gia, được Chính phủ đầu tư xây dựng, nâng cấp
cơ sở hạ tầng, càng ngày càng thêm đẹp, thơ mộng hơn
Ngoài các điểm danh lam thắng cảnh trên, Ninh Bình còn có nhiềuvùng cảnh quan khác có giá trị, đặc biệt là hệ thống các hang động karst nằmtrải dài dọc theo lãnh thổ của tỉnh Ninh Bình Trong đó, đáng chú ý như: động
Địch Lộng, động Mã Tiên, động Tiên, động Vân Trình, Tam Cốc đều là
những tài nguyên du lịch có giá trị; cùng với hệ thống các hồ như hồ ĐồngChương, hồ Đồng Thái, hồ Yên Thắng là những điểm du lịch sinh thái hấpdẫn du khách
* Tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn là những giá trị vật chất cũng như tinhthần do bàn tay và khối óc của cộng đồng các dân tộc anh em cùng chungsống ở Ninh Bình sáng tạo và gìn giữ trong dòng chảy của cuộc sống Các tàinguyên này bao gồm những di tích lịch sử - văn hóa, di tích lịch sử - cáchmạng, các làng nghề thủ công truyền thống, những giá trị văn hóa phi vật thểnhư văn nghệ dân gian, lễ hội thể hiện bẳn sắc văn hóa hết sức đa dạng củanhân dân Ninh Bình và là nguồn lực thu hút khách du lịch trong và ngoàinước
Nhóm các di tích lịch sử - văn hóa:
Cố đô Hoa Lư: (thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư) là kinh đô đầu
tiên của nền phong kiến tập quyền ở Việt Nam
Khu thành Hoa Lư rộng 300ha, gồm hai khu: khu trong và khu ngoài,thông với nhau bằng một lối đi nhỏ hẹp và hiểm trở Theo truyền thuyết, cungđiện được xây ở thành ngoài Ở phía Đông có lối đi chính vào thành Đến năm
Trang 241010 Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, từ đó kinh đô Hoa Lư trởthành cố đô Ngày nay trên nền cung điện năm xưa là hai ngôi đền cách nhauchừng 500m Đền thờ Đinh Tiên Hoàng (làng Trường Yên Thượng, xãTrường Yên, huyện Hoa Lư) và đền thờ Lê Đại Hành (làng Trường Yên Hạ,
xã Trường Yên, huyện Hoa Lư) đều là những công trình tiêu biểu cho nghệthuật chạm khắc gỗ và đá của các nghệ sĩ dân gian Việt Nam ở thế kỷ 17 - 19
Nhà thờ đá Phát Diệm: (thuộc thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn),
được xây dựng từ năm 1875 đến năm 1898 Với trình độ kỹ thuật và điều kiệngiao thông của những năm cuối thế kỷ 19, việc vận chuyển hàng nghìn tấn đá,
có những phiến nặng 20 tấn, hàng trăm cây gỗ lim về tới Phát Diệm để xâynhà thờ là một kỳ công Đây là một quần thể kiến trúc gồm có: Ao hồ,Phương Đình, Nhà thờ lớn và Nhà thờ đá Trong đó, Nhà thờ đá - Nhà thờdâng kính trái tim Đức Mẹ, tất cả từ nền, tường, chấn song, cột, xà đều làmbằng đá Vì thế người ta đã lấy tên gọi của nó để gọi chung cho cả khu nhàthờ xứ Phát Diệm Nhà thờ đá Phát Diệm phản ánh một nền kiến trúc điêukhắc, đặc biệt là điêu khắc đá của Việt Nam, là sự hài hòa về nghệ thuật kiếntrúc Châu Âu và Á Đông
Đền Thái Vy (thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư): Đền thờ
Trần Nhân Tông, hoàng hậu Thuận Thiên và Trần Thánh Tôn Đền Thái Vy
được xây dựng theo kiểu “nội công, ngoại quốc” Đền có giếng Ngọc xây
bằng đá xanh Qua nghi môn phía bên phải là gác chuông hai tầng, tám mái,xây theo kiểu chồng diêm, trên treo một quả chuông đúc từ năm Chính Hòathứ 19 (1689) Phía trong đền có nhiều cột đá được chạm khắc nổi: long, ly,quy, phượng, cá chép hóa long… vô cùng tinh xảo
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn phải kể đến nhiều công trình có ý nghĩa
về mặt kiến trúc, nghệ thuật khác như: chùa Bích Động, đền đức ThánhNguyễn, đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng, chùa Nhất Trụ…
Trang 25Nhóm các lễ hội:
Ninh Bình không thật sự phong phú về các lễ hội như ở các địa phươngkhác trong khu vực ĐBSH, nhưng ở đây cũng có một số lễ hội quan trọngnhư:
Lễ hội đền Đinh - Lê (lễ hội Trường Yên): là lễ hội truyền thống lớn
nhất của Ninh Bình, tổ chức hàng năm vào ngày 10 -13/3 (âm lịch) tại xãTrường Yên, huyện Hoa Lư để tưởng nhớ công đức của vua Đinh và vua Lê
Lễ hội bao gồm hai phần: phần Lễ tổ chức rước nước ở bến sông Trường Yên
và được tổ chức tế lễ rất trang nghiêm ở hai đền vua Đinh và vua Lê, phầnHội tổ chức diễn trò “cờ lau tập trận”, cờ tướng, múa rồng…
Lễ hội đền Thái Vi: Hội được tổ chức hàng năm từ ngày 14 đến ngày
17 tháng 3 âm lịch tại thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư Đây là dịp
để nhân dân Ninh Bình và nhân dân cả nước tưởng nhớ công lao các vuaTrần
Lễ hội chùa Bái Đính: được tổ chức vào ngày mồng 6 tháng giêng hàng
năm tại thôn Sinh Dược xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn
Ngoài ra, hàng năm trên địa bàn tỉnh còn diễn ra nhiều lễ hội như: lễhội chùa Bích Động, lễ hội Báo bản Nộn Khê, lễ hội đền Nguyễn Công Trứ…
Các làng nghề truyền thống:
Thêu ren Ninh Hải: nghề thêu ren ở đây đã có từ rất lâu, tương truyền
là từ 700 năm trước, do bà Trần Thị Dung (vợ Thái sư Trần Thủ Độ) truyềndạy Với đôi bàn tay khéo léo, người thêu ren đã tạo nên sản phẩm thêu ren rất
đa dạng và tinh xảo, bao gồm các loại: ga trải giường, rèm cửa, tranh, ảnh…
Mỹ nghệ cói Kim Sơn: cây cói xuất hiện ở Kim Sơn mới gần 2 thế kỷ
nhưng đã có một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế của huyện Người dânKim Sơn đã dùng cây cói làm nhiều sản phẩm độc đáo như: chiếu, thảm, làn,khay, hộp trong đó sản phẩm đặc trưng nhất là chiếu cói
Trang 26Chạm khắc đá Ninh Vân: chạm khắc đã là một nghề kĩ thuật và mĩ
thuật Từ những hòn đá sù sì, qua bàn tay người thợ đã trở thành những tácphẩm hoàn hảo đủ loại: tượng, chim, thú… tất cả đều tinh xảo và sống động
Đặc biệt, du khách đến với Ninh Bình sau khi thăm các di tích lịch sửvăn hoá, chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên có thể lưu lại và thưởng thứcnhiều món ăn đặc sản, đậm hương vị của vùng đất Ninh Bình như: tái dê, cơmcháy, rượu Lai Thành, nem Yên Mạc… Đây có thể coi là nguồn tài nguyên dulịch vô tận của Ninh Bình trong sự nghiệp phát triển du lịch
Như vậy, qua nghiên cứu, khảo sát, đánh giá TNDL Ninh Bình trên cơ
sở so sánh với các địa phương phụ cận, đặc biệt là các địa phương trongTrung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận có thể đưa ra một số đánh giá cơ bảnsau:
Ninh Bình là tỉnh có tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú, trong đó
có nhiều tài nguyên có giá trị đặc biệt mà tiêu biểu là thắng cảnh Tam Cốc Bích Động, khu hang động sinh thái Tràng An; quần thể di tích lịch sử vănhoá Hoa Lư, vườn quốc gia Cúc Phương; khu bảo tồn đất ngập nước VânLong; và làng quê, làng nghề (chạm khắc đá, thêu ren…) với những sinh hoạttruyền thống đậm đà bản sắc văn hoá Việt Nam Tiềm năng du lịch đa dạngnày là một trong những điểm mạnh quan trọng của du lịch Ninh Bình so vớinhiều địa phương thuộc trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận
-Với tính đa dạng về TNDL, trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc, NinhBình hoàn toàn có cơ sở để phát triển những sản phẩm du lịch không trùng lặpkhông chỉ đối với hoạt động phát triển du lịch của bản thân địa phương NinhBình mà còn sẽ không trùng lặp với sản phẩm du lịch nhiều địa phương kháctrong khu vực, đặc biệt là những địa phương phụ cận như Hà Nam, NamĐịnh, Thanh Hóa Điều này sẽ tạo cho du lịch Ninh Bình có sức hấp dẫn dulịch riêng và là yếu tố quan trọng đối với phát triển du lịch Ninh Bình trongbối cảnh hiện nay của du lịch Việt Nam, khi mà tình trạng “trùng lặp” về sảnphẩm du lịch đang là yếu tố cản trở sự phát triển, làm hạn chế tính hấp dẫn du
Trang 27lịch Việt Nam nói chung, du lịch các “vùng miền” và các địa phương nóiriêng.
Khả năng khai thác các giá trị TNDL của Ninh Bình tương đối thuậnlợi do đặc điểm phân bố và điều kiện khai thác Tuy nhiên, do đặc điểm về tựnhiên và nhân văn, TNDL của Ninh Bình khá nhạy cảm và dễ bị “tổn thương”
do tác động của hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nếu thiếu các biện phápbảo tồn và phát triển trên quan điểm bền vững
Những năm qua, mặc dù đã đạt được một số kết quả đáng kể nhưngngành du lịch Ninh Bình chưa phát triển tương xứng với tiềm năng Trongthời gian tới, Đảng bộ tỉnh cần phải đề ra một chiến lược cụ thể, thích hợp đốivới việc đầu tư, qui hoạch và khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên này
1.1.2 Thực trạng kinh tếdu lịch Ninh Bình trước năm 1996
Tháng 12/1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp đã
mở ra công cuộc đổi mới toàn diện đối với tất cả các ngành kinh tế nói chung
và du lịch nói riêng
Trong mấy năm đầu, Đảng và Nhà nước ta đã thử nghiệm và chuyểnđổi mau lẹ về mô hình tổ chức ngành du lịch Việt Nam cho phù hợp với sựchuyển đổi giai đoạn phát triển kinh tế mới của đất nước Ngày 31/3/1990,Hội đồng Nhà nước ban hành Qui định 244/QĐ-HĐNN, giao cho Bộ Văn hóa
- Thông tin - Thể thao và Du lịch quản lí nhà nước đối với ngành du lịch Đếntháng 12/1991, căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ lại quyết địnhchuyển chức năng quản lí nhà nước đối với ngành du lịch sang Bộ Thương mại và
Du lịch
Trước thực tiễn của ngành du lịch Việt Nam và tiếp tục phát triển quanđiểm của Đại hội Đảng toàn quốc lần VI, Đại hội đại biểu toàn quốc lần VII(1991) đã đặt ra việc phát triển du lịch như là một nội dung của đa dạng hóa
và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại Trong “Chiến lược ổn định và
phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000”, Nghị quyết Đại hội VII của Đảng
đã chỉ rõ: “Khai thác sự hấp dẫn của thiên nhiên, di sản văn hóa phong phú
Trang 28và các lợi thế khác của đất nước, mở rộng hợp tác với nước ngoài để phát triển mạnh du lịch” [26, tr 350].
Năm 1992, Tổng cục Du lịch Việt Nam được lập lại đã đánh dấu sựchuyển đổi về tổ chức bộ máy của ngành du lịch Sau khi lập lại Tổng cục Dulịch, công tác quản lí nhà nước về du lịch được tăng cường, qui hoạch tổngthể về du lịch được khẩn trương thực hiện Hệ thống doanh nghiệp được sắpxếp lại theo hướng chuyên môn hóa ngành nghề, cơ sở vật chất từng bướcnâng cấp và tích cực xây dựng mới Mối quan hệ quốc tế về du lịch theohướng đa phương hóa, đa dạng hóa Trình độ nghiệp vụ và ngoại ngữ của độingũ những người làm công tác du lịch từng bước được nâng lên; công táctuyên truyền, quảng cáo, thông tin, tiếp thị được chủ động Vì vậy thị trường
du lịch được mở rộng, số lượng khách du lịch trong và ngoài nước cũng nhưdoanh thu từ du lịch không ngừng được tăng lên
Ngày 14/10/1994, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số46-CT/TW về lãnh đạo đổi mới và phát triển du lịch trong tình hình mới BảnChỉ thị đã nêu lên quan điểm, mục tiêu và giải pháp phát triển ngành du lịchđến năm 2000 Trong đó Chỉ thị đã khẳng định phát triển du lịch là mộthướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội củaĐảng và Nhà nước Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liênvùng và xã hội hóa cao, vì vậy phát triển du lịch là nhiệm vụ và trách nhiệmcủa các ngành, các cấp, các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội Phát triển dulịch phải gắn liền với mở rộng giao lưu, hợp tác để phát triển du lịch quốc tếđồng thời chú trọng phát triển du lịch nội địa, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăngcủa nhân dân Chỉ thị 46-CT/TW của Đảng đã mở ra một giai đoạn mới cho
sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam
Trong bối cảnh chung của du lịch cả nước như vậy, Ninh Bình mặc dù
là tỉnh có nhiều tiềm năng về du lịch nhưng ngành du lịch lại phát triển tươngđối muộn so với các ngành kinh tế khác trong tỉnh và so với nhiều địa phương
Trang 29khác trong cả nước do chịu tác động của những điều kiện kinh tế - xã hộiriêng ở địa phương.
Ngày 26/12/1991, tại kì họp thứ 10, Quốc hội khoá VIII đã thông quanghị quyết về việc điều chỉnh, phân định lại địa giới một số tỉnh, trong đó cóquyết định về việc chia tách tỉnh Hà Nam Ninh thành 2 tỉnh Ninh Bình vàNam Hà Thực hiệc chủ trương của Bộ chính trị và nghị quyết của Quốc hội,ngày 7/1/1992, Ban thường vụ Tỉnh uỷ Hà Nam Ninh ra các quyết định vềviệc thành lập ban chỉ đạo chia tách tỉnh Ngày 13/1/1992, Tỉnh uỷ Hà NamNinh ra Nghị quyết số 32-NQ/TU lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện việcchia tách tỉnh Hà Nam Ninh, thành lập lại 2 tỉnh Nam Hà và Ninh Bình
Tỉnh Ninh Bình được tái lập trên cơ sở giữ nguyên trạng vị trí địa lí, địagiới hành chính của tỉnh Ninh Bình thời điểm hợp nhất thành tỉnh Hà NamNinh (tháng 2/1976) Diện tích tự nhiên 1386 km2, gồm 7 đơn vị hành chínhcấp huyện, thị xã (5 huyện: Hoàng Long, Gia Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp, KimSơn và 2 thị xã: Ninh Bình, Tam Điệp) với tổng số 121 xã, 11 phường, thịtrấn, dân số 823.496 người Toàn tỉnh có khoảng 370.000 lao động
Khi tái lập tỉnh Ninh Bình, bộ máy tổ chức, cán bộ trong hệ thống chínhtrị các cơ quan, tỉnh uỷ, UBND tỉnh Ninh Bình đến các sở, ban, ngành, đoànthể của tỉnh vừa thiếu đồng bộ Cơ sở vật chất - kĩ thuật phục vụ sản xuất vàđời sống xã hội trong tình trạng thấp kém, lạc hậu, nhiều công trình giaothông, thuỷ lợi được xây dựng trước đây bị xuống cấp nghiêm trọng
Trong bối cảnh kinh tế - xã hội của tỉnh còn nhiều khó khăn như vậy,Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đặc biệt chú trọng đến việc phát triển kinh tế nôngnghiệp nhằm giải quyết vấn đề lương thực thực phẩm Ngành du lịch mặc dù
có nhiều tiềm năng nhưng chưa được quan tâm đầy đủ Ngày 7/5/1992,UBND tỉnh Ninh Bình quyết định thành lập Công ty du lịch Ninh Bình Cơ sởban đầu chỉ có khách sạn Hoa Lư ở cạnh núi Kỳ Lân (đường Trần Hưng Đạo,thị xã Ninh Bình) Tổng số cán bộ, nhân viên là 150 người Nguồn vốn đầu tưcho du lịch vô cùng eo hẹp Cơ sở hạ tầng, vật chất yếu kém Ngoài khách sạn
Trang 30Hoa Lư, chỉ có một xí nghiệp sản xuất dịch vụ du lịch và 2 nhà hàng thuộccông ty Khách sạn Hoa Lư có 32 phòng ngủ, trong đó có 5 phòng đạt tiêuchuẩn quốc tế, 3 phòng ăn, 1 quầy Bar và 1 phòng lễ tân Nhu cầu về hệ thốngkhách sạn phục vụ du lịch đòi hỏi phải nhanh chóng nâng cấp và hoàn thiện.
Sau ngày thành lập, Công ty đã sớm triển khai việc từng bước tu bổkhách sạn, ổn định tổ chức, tập trung hoàn thiện dự án du lịch năm 1993 -
2005, đồng thời bắt đầu tổ chức công tác tuyên truyền, quảng cáo, tuyển chọn
và hợp đồng với trường Đại học Kinh tế quốc dân mở lớp khoá I, đào tạo 38nhân viên du lịch cho ngành, nhằm chuẩn bị thực hiện các dự án
Tháng 12/1992, Đại hội đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XII họp, cùngvới việc kiện toàn lại bộ máy tổ chức, Đảng bộ tỉnh đã nhanh chóng đề ra cácchỉ tiêu, biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Đối vớivấn đề thương mại, du lịch, dịch vụ nói chung, Đảng bộ tỉnh chủ trương: “Tổchức, sắp xếp lại hệ thống thương mại, dịch vụ phù hợp với yêu cầu phát triểnsản xuất và phục vụ đời sống” Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội đảng bộtỉnh lần thứ XII về phát triển du lịch, ngành du lịch Ninh Bình đã nhanhchóng triển khai thực hiện nhằm đẩy mạnh sự phát triển của ngành
Trong giai đoạn này, hệ thống các điểm du lịch Ninh Bình được quyhoạch thành 3 cụm:
1 Cụm du lịch trung tâm bao gồm: Khu đền Đinh Lê, hang Quàn, hang
Muối, xuyên thuỷ động, động An Tiêm; Tam Cốc động; Nam thiên đệ nhị động,Bích Động và Động Tiên; Đền Thái Vi; Chùa Bàn Long và Thiên Tôn động
2 Cụm du lịch vùng rừng: Rừng cổ nguyên sinh Cúc Phương; Đầm Cút
- Đá Hàn; Suối nước khoáng Kênh Gà; Nam thiên đệ tam động - Địch Lộng
và đền Đinh (Gia Phương - Gia Viễn)
3 Cụm du lịch Kim Sơn: Quần thể kiến trúc văn hoá nhà thờ đá Phát
Diệm; Bãi săn bắn biển Cồn Thoi
Trang 31Ngoài ra còn một số điểm rải rác khác núi Non Nước; phòng tuyếnTam Điệp - Biện Sơn; động Tam Giao; bãi săn bắn Ghềnh (Tam Điệp)…
Trong những năm 1992 - 1995, với việc đưa vào khai thác các cụm dulịch trọng điểm trên, ngành du lịch Ninh Bình liên tục phát triển cả về lượngkhách (từ 6.380 lên 240.302 lượt) và doanh thu (từ 904 triệu đồng lên 9.842triệu đồng) Đặc biệt là sau khi ổn định về tổ chức, kinh tế du lịch giai đoạn
1992 - 1993 đã có bước tiến đáng kể So với 6.380 lượt khách năm 1992,lượng khách du lịch đến Ninh Bình năm 1993 tăng mạnh, đạt 23.688 lượt,tăng gấp 4 lần so với năm trước Nhờ đó doanh thu của ngành du lịch cũngtăng từ 904 triệu đồng (1992) lên 3.400 triệu đồng (1993) Giai đoạn này, trêntổng số 8 đơn vị huyện, thị của tỉnh mới chỉ có 3 đơn vị có doanh thu về dulịch, đó là: huyện Hoàng Long (huyện Nho Quan sau này); huyện Hoa Lư vàthị xã Ninh Bình
Dấu hiệu đáng mừng nhất đối với du lịch Ninh Bình giai đoạn này làlượng khách quốc tế đến Ninh Bình ngày càng nhiều Năm 1992, mới chỉ có
126 khách du lịch quốc tế đến Ninh Bình nhưng đến năm 1993 đã tăng lên1.059 người và đến năm 1995 con số này đạt 86.094 người Có được kết quảnày là do công tác thông tin, quảng cáo, mở rộng quan hệ, hợp tác với cáccông ty nước ngoài của Công ty du lịch Ninh Bình được tăng cường một cáchhiệu quả Bên cạnh đó còn phải kể đến những cố gắng trong hoạt động củacác đơn vị kinh doanh thương mại, du lịch và khách sạn, nhà hàng trên địabàn Con số này tuy tăng lên không đáng kể nhưng là một trong những điềukiện quan trọng để thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến với NinhBình
Tuy nhiên, trong những năm đầu của thâp ̣ kỷ 90, cũng như nhiều điạphương khác trên cả nước, ở Ninh Bình du licḥ còn là một ngành kinh tế khámới mẻ Nhâṇ thức của các cấp ủy Đảng , của chính quyền, của ngành du lịchvềvai trònhiều măṭcủa du licḥ còn ởmức haṇ chế Vì vậy, kinh tếdu lịch
chưa đươc ̣ quan tâm đầu tư đúng mức vềcơ chế , chính sách Nguồn tài
Trang 32nguyên du licḥ phần lớn vâñ còn ởdang ̣ tiềm năng , chưa đươc ̣ khai thác , môṭ sốđa ̃đươc ̣ quan tâm nhưng vâñ ởdưới dang ̣ quy hoacḥ màchưa triển khai
thành các dư ̣án đầu tư cu ̣thể, hoăc ̣ đa ̃lâp ̣ dư ̣án đầu tư nhưng công tác triển khai còn châṃ nên chưa thểbiến tiềm năng thành những sản phẩm du licḥ Môṭsốtai biến tư ̣nhiên bất lơị như lũquét , bão lụt, ngâp ̣ úng cùng những tác động tiêu cưc ̣ của con người như chăṭphárừng hay khai thác vâṭliêụ xây dưng ̣ bừa baĩ cũng gây cản trở không nhỏ đối với công tác gìn giữ và khai thác tài nguyên du lịch, môṭsốvùng cảnh quan bi ộ nhiêm̃ vàxuống cấp Hơn nữa, do haṇ chếvề nguồn vốn nên hê ̣thống cơ sởha ̣tầng , vâṭchất kỹthuâṭ
phục vụ cho phá t triển du licḥ còn sơ sài , chưa đáp ứng đươc ̣ yêu cầu phát triển Hoạt động xúc tiến , quảng bá hình ảnh du licḥ chưa đươc ̣ chútrong ̣
Trình độ dân trí còn thấp , nguồn nhân lưc ̣ vàđ ội ngũ cán bộ quản lý và kinhdoanh du licḥ còn thiếu vềsốlương ̣ , yếu vềchất lương ̣ , lao đông ̣ nhàn rỗi ,
thiếu viêc ̣ lam con nhi ều So vơi cac nganh k inh tếkhac , du licḥ còn là một
cố, xây dựng cơ sở vật chất; đào tạo nhân lực để trong tương lai có đủ điềukiện đáp ứng nhu cầu phục vụ lượng khách du lịch ngày một đông lên Bêncạnh đó, sớm mở rộng sự hợp tác, đầu tư với các công ty nước ngoài, nhanhchóng rút ngắn giai đoạn thiếu vốn và giải quyết những khó khăn mà bước điđầu tiên đang gặp phải
Mặc dù vâỵ, những cố gắng, nỗ lực của ngành du lịch Ninh Binh̀ vànhững đóng góp của ngành vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnhtrong những năm đầu sau khi tái lập rất đáng được ghi nhận Những kết quả
Trang 33đã đạt được này là những bước đi cơ bản, có ý nghĩa đặt nền móng cho nhữngbước phát triển tiếp theo của ngành.
1.2 Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch trong những năm 1996 - 2000
1.2.1 Đảng bộ tỉnh Ninh Bình với chủ trương phát triển kinh tế du lịch trong những năm 1996 - 2000
Sau 10 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước (từ 1986),các ngành kinh tế nước ta nói chung đã dần bước ra khỏi tình trạng khủnghoảng và bước đầu đi vào phát triển ổn định Riêng đối với ngành du lịch, từsau Chỉ thị 46-CT/TW ngày 14/10/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về
“Lãnh đạo đổi mới và phát triển du lịch trong tình hình mới”, đã có những
biến chuyển và tiến bộ cơ bản trong hoạt động kinh doanh, quản lí nhà nước,đầu tư cơ sở hạ tầng và tuyên truyền, quảng bá hình ảnh du lịch
Ngày 25/5/1995, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 307/QĐ-TTg
phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995
-2000” Tuy nhiên, việc triển khai trên thực tế quy hoạch này còn chậm, chưa
có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp từ trung ương đến địaphương trong việc phát triển du lịch gắn với việc chống tệ nạn xã hội, giữ gìnbản sắc văn hóa dân tộc, bảo đảm an ninh chính trị và giữ vững trật tự an toàn
xã hội
Bước sang giai đoạn mới, giai đoạn 1996 - 2000, với chủ trương đưa dulịch Việt Nam phát triển tương xứng với tiềm năng phong phú về TNDL tựnhiên và TNDL nhân văn, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng(1996) đã nêu rõ: “Triển khai thực hiện qui hoạch tổng thể phát triển du lịchtương xứng với tiềm năng du lịch to lớn của đất nước theo hướng du lịch vănhóa, sinh thái môi trường Xây dựng các chương trình và các điểm du lịch hấpdẫn về văn hóa, di tích lịch sử và khu danh lam thắng cảnh Huy động cácnguồn lực tham gia kinh doanh du lịch, ưu tiên xây dựng kết cấu hạ tầng ởnhững khu vực du lịch tập trung, ở các trung tâm lớn Nâng cao trình độ văn
Trang 34hóa và chất lượng dịch vụ phù hợp với các loại khách du lịch khác nhau” [26,
tr 568] Đại hội cũng nhấn mạnh, phát triển du lịch trong thời gian tới phảichú trọng tới đầu tư cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật nhất là việc nâng cấp, xâydựng mới các cơ sở lưu trú hiện đại, có chất lượng phục vụ tốt, đáp ứng yêucầu ngày càng cao của khách du lịch Đẩy mạnh huy động vốn và các nguồnlực trong nước đầu tư vào khách sạn Cổ phần hóa một số khách sạn hiện cónhằm huy động tối đa các nguồn vốn vào việc đầu tư cải tạo, nâng cấp Bêncạnh đó, ngành du lịch phải không ngừng mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế,học tập kinh nghiệm và thu hút các nguồn vốn đầu tư của nước ngoài để việcphát triển du lịch đạt kết quả cao nhất
Trong giai đoạn này, Đảng cũng chủ trương sự nghiệp du lịch cần được
tiếp tục phát triển theo tinh thần của Chỉ thị số 46-CT/TW về “Lãnh đạo đổi
mới và phát triển du lịch trong tình hình mới” với 3 quan điểm cơ bản:
- Phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lốiphát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm góp phần thực hiện côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hoạt động du lịch phải đồng thời đạt hiệu quảtrên nhiều mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, góp phần thực hiện chính sáchđối ngoại của Đảng và Nhà nước
- Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng và xãhội hóa cao, vì vậy phát triển du lịch là nhiệm vụ và trách nhiệm của các ngành,các cấp, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội Khuyến khích các thànhphần kinh tế tổ chức kinh doanh du lịch dưới sự quản lí thống nhất của Nhà nước,trong đó doanh nghiệp Nhà nước phát huy vai trò chủ đạo
- Mở rộng giao lưu và hợp tác để phát triển du lịch quốc tế, đồng thờichú trọng phát triển du lịch nội địa, đáp ứng nhu cầu du lịch ngày càng tăng củanhân dân, góp phần nâng cao dân trí, lòng yêu nước, cải thiện đời sống vật chất vàtinh thần của nhân dân
Mục tiêu của ngành du lịch đến năm 2000 là “đổi mới và phát triển các
cơ sở và phương thức kinh doanh phục vụ, tạo được các sản phẩm du lịch
Trang 35mang tính dân tộc, kết hợp với tính hiện đại, đa dạng hóa và nâng cao chấtlượng sản phẩm, hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu đón khách dulịch và những chỉ tiêu kinh tế, xã hội Nhà nước giao, tạo điều kiện cho sự pháttriển mạnh mẽ và lành mạnh du lịch Việt Nam vào đầu thế kỷ XXI” [26, tr642] Để thực hiện phương hướng và mục tiêu trên, các cấp ủy, các tổ chứcđảng phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác du lịch; chỉ đạocác cơ quan nhà nước tăng cường quản lí; ban hành, sửa đổi, bổ sung cácchính sách, luật pháp về công tác du lịch phù hợp với yêu cầu phát triển tronggiai đoạn mới; chỉ đạo ngành du lịch đổi mới quản lí; phối hợp với các banngành, địa phương, đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội để hướng dẫn, tổ chứcphát triển du lịch theo đúng pháp luật…
Đến những năm 1997 - 1998, cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ châu
Á đã cuốn nền kinh tế nhiều nước trên thế giới vào vòng suy thoái, đặc biệt làlĩnh vực dịch vụ Ngành du lịch nước ta, sau một thời gian dài tăng trưởng
liên tục, đã chững lại và sụt giảm cả về lượng khách, doanh thu và thu hút đầu
tư Trước tình hình ấy, Tổng cục Du lịch đã trình Chính phủ đề án phát triển
du lịch trong tình hình mới, đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn nhằm chặn đàsuy giảm, phục hồi tăng trưởng và tạo đà cho du lịch Việt Nam phát triển khibước vào thiên niên kỷ mới Thủ tướng Chính phủ đã báo cáo Bộ Chính trị vàngày 11/11/1998, Bộ Chính trị đã có kết luận, ra Thông báo số 179/TB-TW
về việc phát triển du lịch trong tình hình mới Từ đó, Ban chỉ đạo Nhà nước
về Du lịch được thành lập; Chương trình hành động quốc gia về Du lịch và
các sự kiện du lịch Việt Nam năm 2000 với tiêu đề “Việt Nam - Điểm đến của
Thiên niên kỷ mới” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, triển khai thực hiện
trong 2 năm 2000 - 2001
Năm 1999, dựa trên tinh thần Chỉ thị 46-CT/TW và quan điểm củaĐảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII nhằm phát triển kinh tế dulịch đúng với vị trí của nó, tăng cường hiệu lực quản lí nhà nước về du lịch vàgóp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ngày 8/2/1999, Ủy ban
Trang 36Thường vụ Quốc hội (Khóa X) đã thông qua Pháp lệnh Du lịch số
11/1999/PL-UBTVQH10, có hiệu lực kể từ ngày 1/5/1999 Pháp lệnh Du lịchViệt Nam bao gồm 9 chương, 56 điều với những qui định chung và qui định
cụ thể về các vấn đề: bảo vệ, khai thác, sử dụng và phát triển TNDL; xúc tiến
du lịch; khách du lịch; kinh doanh du lịch; hợp tác quốc tế về du lịch; quản lýnhà nước về du lịch;… Pháp lệnh đã khẳng định lại vị trí của ngành du lịch
“là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc,
có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao; phát triển du lịch nhằm đápứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du lịchquốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước” [44, tr 6] Việc ban hành Pháp lệnh nhằm điều chỉnh các hoạtđộng du lịch; xác định quyền và nghĩa vụ của khách du lịch, quyền và nghĩa
vụ của tổ chức cá nhân kinh doanh du lịch tại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam
Pháp lệnh Du lịch ra đời năm 1999 là khung pháp lý cao nhất, là bướcngoặt quan trọng khẳng định vai trò của Ngành và thể chế hóa đường lối pháttriển du lịch của Đảng và Nhà nước, tạo điều kiện cho hoạt động du lịch pháttriển đi vào nề nếp và có định hướng mục tiêu rõ ràng
Tiếp đó, ngày 13/2/1999, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số23/1999/QĐ-TTg về việc thành lập Ban chỉ đạo Nhà nước về Du lịch để giúpThủ tướng Chính phủ chỉ đạo và điều phối các hoạt động về du lịch
Như vậy, trong 5 năm (1996 - 2000), Đảng và Nhà nước ta đã có nhiềuchủ trương, chính sách quan tâm đến việc phát triển kinh tế du lịch trên phạm
vi cả nước Đây là cơ sở để ngành du lịch nước ta trong giai đoạn tới thựchiện thắng lợi mục tiêu: “Từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch,thương mại - dịch vụ tầm cỡ trong khu vực” [26, tr 474] mà Đại hội Đảng toànquốc lần thứ VIII đã đề ra
Ninh Bình là một địa phương nằm trong vùng ĐBSH, sự phát triển kinh
tế - xã hội trong một thời gian dài dựa trên kinh tế truyền thống là nông
Trang 37nghiệp Cùng với sự phát triển và chuyển đổi cơ cấu kinh tế của cả nước,chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Ninh Bình cũng đã xác định vai tròcủa công nghiệp và dịch vụ, trong đó, du lịch được đánh giá là ngành kinh tế
có nhiều triển vọng trên cơ sở khai thác những lợi thế về vị trí và tiềm năngtài nguyên du lịch của địa phương
Tháng 4/1996, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XIII
họp (từ ngày 25/4 đến ngày 27/4/1996) trong “Phương hướng, mục tiêu,
nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu đến năm 2000” đã khẳng định phải “chấn
chỉnh và tăng cường hiệu quả hoạt động của ngành du lịch và thương mại”[66, tr 47] Riêng đối với ngành du lịch phải “tạo bước chuyển biến thực sựmạnh mẽ, toàn diện, có hiệu quả, tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và vị
trí của một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh” [66, tr 47] Mặc dù trong thời
gian trước mắt, kinh tế - xã hội của tỉnh còn khó khăn, chưa có nhiều điềukiện để đầu tư cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật cho ngành du lịch, nhưng vềmặt lâu dài, chọn du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của Ninh Bình là hoàntoàn có cơ sở và phù hợp với chiến lược phát triển du lịch chung của cả nước
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII cũng nhấn mạnh, trên cơ sở bản “Quyhoạch tổng thể du lịch Ninh Bình giai đoạn 1995 - 2010”, với khả năng vốnđầu tư cho phép, bằng huy động từ nhiều nguồn, tích cực xây dựng kết cấu hạtầng (đường, khách sạn) tại các điểm du lịch, trước hết là điểm Tam Cốc -Bích Động, cố đô Hoa Lư, thị xã Ninh Bình Phát triển du lịch phải chú ý đếnviệc bảo tồn giá trị cảnh quan và môi trường theo luật định, không được gâytổn hại đến môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa xã hội Phân định rõquản lí Nhà nước và quản lí sản xuất, kinh doanh Chấn chỉnh, tăng cường tổchức dịch vụ du lịch theo hướng gọn nhẹ, hợp lí, hiệu quả, không gây phiền
hà cho khách du lịch Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn đội ngũ cán
bộ, nhân viên du lịch có nghiệp vụ chuyên môn để nâng cao chất lượng phục
vụ Giải quyết tốt mối quan hệ, có quy chế cụ thể, tạo sự phối kết hợp chặt chẽgiữa du lịch với các ngành, địa phương, cơ sở có điểm du lịch Khuyến
Trang 38khích các thành phần kinh tế kinh doanh du lịch Phát triển du lịch Ninh Bìnhphải đặt trong mối quan hệ với sự phát triển du lịch của các tỉnh lân cận vàkhu vực để đảm bảo tính liên kết vùng để tạo thành một chương trình du lịchhoàn chỉnh Đồng thời, không ngừng đẩy mạnh quan hệ giao lưu, hợp tácquốc tế nhằm thu hút vốn đầu tư và lượng khách du lịch quốc tế đến NinhBình.
Đảng bộ tỉnh cũng xác định, bên cạnh vai trò kinh tế, phát triển du lịchcòn có ý nghía đặc biệt trong việc tạo ra sự gia tăng của các ngành kinh tế cóliên quan như thương mại, giao thông vận tải, xây dựng, sản xuất hàng tiểuthủ công nghiệp… Hơn thế nữa, sự phát triển du lịch Ninh Bình còn tạo cơhội cho cộng đồng địa phương có thêm nhiều việc làm và tăng thêm thu nhậpthông qua việc tham gia vào các hoạt động dịch vụ du lịch Qua đó, từng bướcxây dựng một nông thôn mới, một nông thôn văn minh lấy du lịch - dịch vụlàm cơ sở để phát triển trù phú, thịnh vượng
Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, tháng
8/1996, UBND tỉnh Ninh Bình ra Kế hoạch 19/KH-UBND về vấn đề “Thúc
đẩy hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đến năm 2000”,
nhằm đưa các hoạt động kinh doanh du lịch trong toàn tỉnh đi vào hoạt động
nề nếp và có hiệu quả hơn
Trong 5 năm (1996 - 2000), Đảng bộ tỉnh chủ trương tích cực triển khai
trên thực tế dự án “Qui hoạch tổng thể du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 1995
- 2010” đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 949/QĐ-UB ngày
22/9/1995 Coi đây là công cụ đắc lực và hữu hiệu cho công tác quản lí và pháttriển du lịch Ninh Bình trong thời gian tới Theo dự án quy hoạch này, không gian
du lịch Ninh Bình bao gồm các yếu tố chính sau:
+ Các điểm thuộc khu vực Hoa Lư
+ Các điểm du lịch thuộc khu vực Tam Cốc - Bích Động
+ Nhà thờ Phát Diệm
Trang 39+ Vườn quốc gia Cúc Phương
+ Tuyến thị xã Ninh Bình - Hoa Lư
+ Tuyến thị xã Ninh Bình - Tam Cốc - Bích Động
+ Tuyến thị xã Ninh Bình - Địch Lộng - Đầm Cút - Kênh Gà
+ Tuyến thị xã Ninh Bình - Cúc Phương - Kỳ Phú - Căn cứ Quỳnh Lưu+ Tuyến thị xã Ninh Bình - Phát Diệm - Cồn Thoi - Hòn Nẹ
+ Các tuyến du lịch liên tỉnh gồm các tuyến theo trục Quốc lộ 1 và Quốc lộ 10
+ Dự án 1: Khu trung tâm thị xã Ninh Bình, cố đô Hoa Lư (trước 2000)+ Dự án 2: Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động và phụ cận (trước 2000)+ Dự án 3: Tổ chức điều hành các tuyến du lịch nội tỉnh (trước 2000)+ Dự án 4: Phát triển cụm du lịch Nhà thờ đá và các cơ sở dịch vụ ven sông Kim Sơn (trước 2000)
+ Dự án 5: Dự án du lịch ven biển Cồn Thoi - Hòn Nẹ
+ Dự án 6: Khai thác khu du lịch Vườn quốc gia Cúc Phương (trước2000)
+ Dự án 7: Dự án điểm nước nóng Kỳ Phú (sau 2000)
+ Dự án 8: Khai thác khu du lịch suối nước nóng Kênh Gà và phụ cận
Như vậy, có thể thấy tổ chức không gian của quy hoạch du lịch NinhBình 1995 được xây dựng trên cơ sở phát triển 4 điểm du lịch trọng điểm; 4 cụm du lịch; 5 tuyến du lịch nội tỉnh và 2 tuyến du lịch liên tỉnh Việc thực
Trang 40hiện tổ chức không gian này được triển khai thông qua 8 dự án đầu tư trọngđiểm với 6/8 dự án sẽ được triển khai thực hiện trước năm 2000.
Ngày 20/12/1997, UBND tỉnh chính thức ra Quyết định số
1713/QĐ-UB phê duyệt dự án “Quy hoạch phát triển khu du lịch Tam Cốc - Bích Động” nhằm đưa khu vực này trở thành một trong những trọng điểm du lịch ở Ninh
Bình Tiếp đó, UBND tỉnh cũng phê duyệt các dự án đầu tư vào khu lịch sinhthái Vân Long, cụm du lịch Nhà thờ đá và các cơ sở dịch vụ ven sông KimSơn, dự án du lịch ven biển Cồn Thoi - Hòn Nẹ Đây là những điều kiện hếtsức thuận lợi cho sự phát triển của du lịch Ninh Bình trong giai đoạn mới
Như vậy, giai đoạn 1996 - 2000, trên cơ sở nắm vững chủ trương củaTrung ương Đảng về vấn đề phát triển kinh tế du lịch trong giai đoạn mới vàđánh giá đúng những thế mạnh của địa phương, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã đề
ra những phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ để đưa kinh tế du lịch pháttriển tương xứng với vị trí và tiềm năng vốn có Mặc dù chưa đưa ra được một
hê ̣thống giải pháp cụ thể, chi tiết và đồng bộ để phát triển kinh tế du lịch trênđịa bàn tỉnh song những chủ trương khuyến khích của Đảng bộ cũng đã bướcđầu tạo ra một môi trường mới cho kinh tế du lịch của tỉnh phát triển
Trong thời gian tới, ngành du lịch phải nỗ lực hết sức, kế thừa nhữngkết quả đã đạt được của giai đoạn trước, đưa kinh tế du lịch phát triển tươngxứng với tiềm năng to lớn của tỉnh, hoàn thành thắng lợi mục tiêu mà Đại hộiĐảng bộ tỉnh lần thứ XIII đã đề ra đến năm 2000 là: “Phấn đấu để tỉnh ta sớmtrở thành một trong những trung tâm du lịch lớn của đất nước” [51, tr 47]
1.2.2 Quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình trong những năm 1996 - 2000
Thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, được sự chỉ đạo trựctiếp của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, trong 5 năm (1996 - 2000), ngành du lịch NinhBình đã có nhiều cố gắng khắc phục khó khăn, ổn định tổ chức và bước đầu đivào phát triển Ngành du lịch và mạng lưới dịch vụ du lịch dần được hìnhthành