Theo từ điển Anh - Việt thì cán bộ quản lý Manager là người điều hành hoạt động của các tổ chức kinh doanh theo một phương pháp nhất định nhằm thực hiện những chính sách và mục tiêu ki
Trang 1Cơ sở lý luận về quản lý nguồn nhân lực quản trị tại
doanh nghiệp.
1 Nguồn nhân lực quản trị tại doanh nghiệp.
Khái niệm.
Có rất nhiều định nghĩa về nguồn nhân lực quản trị, ở một góc độ nào đấy nguồn nhân lực quản trị có thể gọi là các nhà quản trị hay các cán bộ quản
lý, các cán bộ chuyên môn
Trong phạm vi của một tổ chức kinh doanh, thuật ngữ “ các nhà quản trị” ( managers ) có thể được sử dụng để chỉ những nhà điều hành cấp cao nhất của tổ chức Chẳng hạn như chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc là những người có trách nhiệm đối với toàn bộ các hoạt động của tổ chức Theo định nghĩa đơn giản của chúng ta, “các nhà quản trị ”là tất cả những người hiện đang đảm nhiệm những chức vụ khác nhau trong tổ chức kinh doanh Các trưởng phòng, quản đốc và đốc công đều là nhà quản trị vì
họ phải giao thiệp với cấp dưới và tiến hành công việc thông qua họ
Các nhà quản trị cũng có thể được gọi là cán bộ quản lý Theo từ điển Anh - Việt thì cán bộ quản lý ( Manager ) là người điều hành hoạt động của các tổ chức kinh doanh theo một phương pháp nhất định nhằm thực hiện những chính sách và mục tiêu kinh doanh đề ra
Giáo trình Tổ chức lao động khoa học – 1994 của trường Đại học Kinh tế Quốc dân xác định “ Lao động quản lý được hiểu là tất cả những người lao động hoạt động trong bộ máy quản lý và tham gia vào việc thực hiện các chức năng quản lý”.Trên cơ sở đó giáo trình này xác định cán bộ quản lý bao gồm : Giám đốc, Phó giám đốc, Quản đốc, và phó quản đốc, các trưởng ngành, đốc công, trưởng phó các phòng ban trong bộ máy quản lý của xí nghiệp
Trang 2Giáo trình Khoa học quản lý tập II – 2002 của trường Đại học Kinh tế Quốc dân viết : “ Cán bộ quản lý là những người thực hiện các chức năng quản lý nhằm đảm bảo cho tổ chức đạt đựoc mục đích của mình với kết quả
và hiệu quả cao ”
Giáo trình quản trị doanh nghiệp – 2004 của trường Đại học Kinh tế Quốc dân dựa trên việc phân loại lao động trong doanh nghiệp thành 2 loại : lao động trực tiếp và lao động gián tiếp đã xác định “Người thuộc về bộ máy đièu hành doanh nghiệp là lao động gián tiếp, lao động quản lý ” Như vậy, quan điểm này đã đồng nghĩa lao động gián tiếp và lao động quản lý Tóm lại ta có thể định nghĩa “ nguồn nhân lực quản trị hay các cán bộ quản lý ” như sau : Cán bộ quản lý là là những người giữ một chức vụ nhất định trong bộ máy quản lý, thực hiện chức năng quản lý nói chung, hay quản
lý các hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp Vậy bằng cách nào ta có thể nhận ra một nhà quản trị ? Câu trả lời thật đơn giản – Căn cứ vào chính chức vụ mà họ đang đảm nhiệm, nhưng điều quan trọng hơn là là căn cứ vào chức năng hoạt động của họ, bởi nhiều người đang giữ cương vị quản lý nhưng họ không có chức danh “ nhà quản trị
” Trường hợp này rất phổ biến trong các tổ chức phi lợi nhuận hay những tổ chức cung cấp dịch vụ dân sự
Phân loại.
Có nhiều cách phân loại các nhà quản trị, có thể theo vị trí hoăc theo chức năng
Phân loại theo cấp.
Theo tiêu trí này các nhà quản trị được chia thành 3 loại;
Quản trị viên cấp cao ( Top manager ) : Bao gồm Giám đốc, Phó giám
đốc phụ trách từng phần việc, chịu trách nhiệm về đường lối, chiến lược, các công tác tổ chức hành chính tổng hợp của doanh nghiệp Có thể nêu lên những nhóm công tác chính sau :
Trang 3- Xác định mục tiêu doanh nghiệp từng thời kỳ, phương hướng, biện pháp lớn
- Tạo dựng bộ máy quản trị doanh nghiệp : Phê duyệt về cơ cấu tổ chức, chương trình hoạt động và vấn đề nhân sự như : tuyển dụng, lựa chọn quản trị viên cấp dưới, giao trách nhiệm, uỷ quyền, thăng cấp, quyết định mức lương…
- Phối hợp hoạt động của các bên có liên quan
- Xác định nguồn lực và đầu tư kinh phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Quyết định các biện pháp kiểm tra, kiểm soát như chế độ báo cáo, kiểm tra, định giá, khắc phục hậu quả
- Chịu trách nhiệm hoàn toàn về mỗi quyết định ảnh hưởng tốt, xấu đến doanh nghiệp
- Báo cáo trước hội đồng quản trị và Đại hội công nhân viên chức
Quản trị viên trung gian ( Mddle Manager ) : Bao gồm quản đốc phân
xưởng, trưởng phòng ban chức năng
Đó là đội ngũ những quản trị viên trung gian có nhiệm vụ chỉ đạo thực hiện phương hướng, đường lối của quản trị viên hàng đầu đã phê duyệt cho ngành mình, bộ phận chuyên môn của mình
Như vậy, quản trị vien trung gian là người đứng đầu một ngành hoặc một
bộ phận, là người chịu trách nhiệm duy nhất trước quản trị viên hàng đầu Nhiệm vụ của quản trị viên trung gian là :
- Nghiên cứu, nắm vững những quyết định cảu quản trị viên hàng đầu
về nhiệm vụ cảu ngành, bộ phận mình trong từng thời kỳ, mục đích, yêu cầu, phạm vi quan hệ với các bộ phận, với các ngành khác
- Đề nghị những chương trình, kế hoạch hoạt động, đưa ra mô hình tổ chức thích hợp, lựa chọn, đề bạt những người có khả năng vào những công việc phù hợp, chọn nhân viên kiểm tra, kiểm soát
Trang 4- Giao việc cụ thể cho từng nhân viên, tránh bố trí một người đảm nhận nhiều công việc không liên quan gi tới nhau
- Dự trù kinh phí trình cấp trên phê duyệt và chịu trách nhiệm về việc
sử dụng kinh phí ấy
- Thường xuyên rà soát kết quả và hiệu quả của từng công việc
- Báo cáo kịp thời với quản trị viên hàng đầu về kết quả, vướng mắc theo sự uỷ quyền và chịu trách nhiệm hoàn toàn về mọi công việc của đơn vị và việc làm của nhân viên cấp dưới
Những điều chú ý với quản trị viên trung gian :
- Phải nắm vững mục đích, ý định của cấp trên Báo cáo kịp thời cho cấp trên biết về các hoạt động của đơn vị mình
- Tìm hiểu, xác định mối liên hệ của các đơn vị mình với các đơn vị khác và tìm cách phối hợp hoạt động nhiệt tình, chặt chẽ với các đơn vị khác có liên quan
- Phải nắm vững lý lịch của từng người trong đơn vị Hướng dẫn công việc cho mọi người và đánh giá đúng mức kết quả của từng người, động viên, khích lệ họ làm việc
Quản trị viên cấp cơ sở ( First line Manager ) : Gồm những quản trị
viên thực thi những công việc rất cụ thể
Quản trị viên cơ sở có nhiệm vụ sau :
- Hiểu rõ công việc mình phụ trách, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ đúng kế hoạch, tiến trình, tiêu chuẩn quy định về số lượng và chất lượng
- Luôn cải tiến phương pháp làm việc, rèn luyện tinh thần kỷ luật lao động tự giác để trở thành thành viên đáng tin cậy của đơn vị, giữ gìn nơi làm việc gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ
- Rèn luyện thói quen lao động theo tác phong đại công nghiệp
- Báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo kịp thời của thủ trưởng đơn vị có tinh thần đồng đội, quan hệ mật thiết với đồng nghiệp
Trang 5Quản trị viên cấp cao
Quản trị viên cấp trung gian
Quản trị viên cấp cơ sở
Mô hình kim tự tháp quản trị
Phân loại theo chức năng.
Cán bộ quản lý chức năng là người quản lý trực tiếp các hoạt động cụ thể của từng chức năng trong 1 tổ chức Chức năng thường là nhóm các hoạt động có tính chất tương tự nhau, liên quan đến nhau trong một bộ phận nhất định trong một tổ chức Các chức năng chủ yếu trong quản trị kinh doanh gồm : Chức năng quản lý nhân sự, quản lý Marketing, tài chính kế toán, nghiên cứu và phát triển, quản lý các hoạt động tác nghiệp Vì vậy cán bộ quản lý theo chức năng sẽ gồm có :
- Cán bộ quản lý nhân sự
- Cán bộ quản lý Marketing
- Cán bộ quản lý tài chính, kế toán
- Cán bộ quản lý nghiên cứu và phát triển
- Cán bộ quản lý các hoạt động tác nghiệp
Trang 6Cán bộ quản lý phân loại theo chức năng có thể là những người quản lý theo các phòng ban, hay các bộ phận chức năng Đó cũng chính là những người làm các công việc mang tính chuyên môn hoá
1.3 Yêu cầu đối với nguồn nhân lực quản trị.
Yêu cầu đối với cán bộ quản lý là những yêu cầu, đòi hỏi về chất lượng cán bộ quản lý Chất lượng cán bộ quản lý thể hiện ở đức và tài Đức và tài
là 2 tiêu chuẩn cơ bản nhất của người cán bộ quản lý Chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý trước hết thể hiện cụ thể thông qua kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, sau đó chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý cong được thể hiện qua cơ cấu bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ quản lý tại doanh nghiệp Cơ cấu đội ngũ cán bộ quản lý cần đảm bảo gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả, không có sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, thể hiện được rõ vai trò và quyền hạn của mỗi vị trí trong đội ngũ cán bộ quản lý, từ
đó có thể phân định được rõ ràng trách nhiệm và công lao đóng góp của mỗi cán bộ Cơ cấu đội ngũ cán bộ quản lý phải đảm bảo được tính ổn định, tính
kế thừa và phát triển Bố trí cán bộ quản lý phải phù hợp với năng lực, trình
độ, tuổi tác, giới tính nhằm phát huy được hết các điểm mạnh và hạn chế tối
đa điểm yếu của cán bộ Cơ cấu bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ hợp lý, khoa học sẽ phát huy tối đa sức mạnh của đội ngũ
Để đánh giá được chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý ta phải dựa vào một số tiêu chí, đó là những quy định, những điều kiện về trình độ chuyên môn, năng lực công tác ( kỹ năng thực thi nhiệm vụ ), thái độ làm việc, phẩm chất, đạo đức, tiềm năng phát triển và các tiêu chuẩn cần thiết khác mà người cán bộ quản lý cần phải có để quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả Các tiêu chí đánh giá chất lượng cán
bộ quản lý được cụ thể hoá qua 4 nhóm tiêu
chí chủ yếu sau :
1.3.1 Trình độ chuyên môn và trình độ quản lý.
Trang 7Trình độ của cán bộ quản lý thể hiện ở mức độ trang bị kiến thức, sự am hiểu về các lĩnh vực tự nhiên, kinh tế, xã hội, nhân văn, tức là vừa có kiến thức cơ bản, kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và kiến thức về quản lý Như vậy cán bộ quản lý phải được đào tạo và trang bị kiến thức tổng hợp của nhiều lĩnh vực Trong nền kinh tế thị trường đối đầu với những thử thách trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, lĩnh vực chuyên môn và lĩnh vực quản lý đòi hỏi người cán bộ quản lý phải có kiến thức chuyên môn và năng lực quản lý ngày càng phải được hoàn thiện
Người cán bộ quản lý phải có kiến thức chuyên môn giỏi, nghiệp vụ sâu
về lĩnh vực đươc giao trách nhiệm quản lý.Phải có kiến thức về kinh tế thị trường, kinh tế quốc tế, phải nắm vững bản chất, quy luật vận động của nền kinh tế để vận dụng vào thực tế, đưa ra được nhữnn quyết định quản lý đúng đắn mang lại hiệu quả cho hoạt động sản xuất kinh doanh Phải có kiến thức
về khoa học quản lý hiện đại, từ đó vận dụng xây dựng đội ngũ cán bộ quản
lý chuyên nghiệp ở mọi cấp quản lý, hoạt động tuân thủ theo quy luật của nền kinh tế thị trường Phải nắm chắc đường lối, chính sách kinh tế của Đảng, pháp luật của nhà nước Có kiến thức về thông lệ quốc tế trong các hoạt động kinh tế, có hiểu biết về phong tục, tập quán của nước ngoài mà mình có quan hệ hợp tác kinh tế
1.3.2 Thực hiện công việc.
Khi đã có một trình độ, kiến thức nhất định, người cán bộ quản lý cần phải thể hiện được năng lực làm việc hay kĩ năng thực thi nhiệm vụ Năng lực làm việc ngày càng đặc biệt quan trọng khi tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đi vào chiều sâu, nó quyết định sự thành bại của mỗi cá nhân Kỹ năng thực thi nhiệm vụ của người cán bộ quản lý chính là khả năng biến những kiến thức, kinh nghiệm thành những hoạt động chỉ đạo cụ thế Kỹ năng thực thi nhiệm vụ có thể chia ra làm 2 nhóm kỹ năng : Kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ và lỹ năng về tổ chức quản lý
* Kỹ năng về chuyên môn
Trang 8Trong hoạt động quản lý, phải xuất phát từ thực tế sản xuất kinh doanh tai đơn vị, thực tế môi trường kinh doanh, đời sống kinh tế, xã hội, người cán bộ quản lý phải có khả năng chuyển hoá những kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ vào quá trình sản xuất kinh doanh , đưa ra các giải pháp cụ thể cho từng tình huống sản xuất Kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ bao gồm : + Cán bộ quản lý phải có năng lực hoạch định các chiến lược sản xuất kinh doanh và tổ chức thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đạt được kết quả tối ưu nhất
+ Biết sử dụng đúng khả năng chuyên môn của các cán bộ dưới quyền, biết lắng nghe, tập hợp, phân tích và sử dụng những ý kiến đóng góp của cấp dưới vận dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh của đơn vị
+ Có khả năng, kinh nghiệm thực tế, kịp thời nắm bắt được những biến động của thị trường, nắm bắt được tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế đất nước để điều chỉnh hoạt động của đơn vị, phải nắm bắt được nhu cầu của thị trường, nhu cầu và khả năng sử dụng sản phẩm dịch vụ của khách hàng để
có những quyết định sản xuất kinh doanh đúng đắn
+ Có năng lực thực tế và phân tích các tình huống, có khả năng quyết đoán và giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh trong quá trình điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
+ Có khả năng huy động được sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý chức năng, các đơn vị bạn để tạo ra sự phối hợp, liên kết, hỗ trợ trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm mang lại hiệu quả tối ưu
* Kỹ năng về tổ chức quản lý
Kỹ năng về tổ chức quản lý là yếu tố quan trọng của người cán bộ làm công tác quản lý Kỹ năng tổ chức quản lý của người cán bộ quản lý được thể hiện ở các măt cụ thể sau :
+ Có năng lực tổ chức, chỉ huy, phân công và khă năng lôi cuốn, tập hợp, giáo dục, thúc đẩy mọi người thực hiện công việc và hoàn thành nhiệm vụ
Có khả năng thấu hiểu lòng người, nắm được tâm lý của người lao động Có khả
Trang 9năng sử dụng lao động phù hợp với đặc điểm đào tạo, sở trường, sở thích để mang lại hiệu quả lao động cao nhất từ mỗi người lao động
+ Có khả năng quan sát để tổ chức cho doanh nghiệp hoạt động đồng bộ
có hiệu quả, nắm bắt kịp thời nhiệm vụ từ tổng thể để tổ chức cho hệ thống hoạt động đồng bộ có hiệu quả
+ Biết tự chủ, có nhiều sáng kiến, giải pháp phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Phản ứng nhanh nhạy, quyết đoán, dứt khoát trong công việc, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm Có khả năng chớp thời cơ và khả năng dự báo, dự đoán, biết dồn đúng tiềm lực vào thời điểm bà bộ phận thích hợp
1.3.3 Kỹ năng, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp
Người cán bộ quản lý phải có đạo đức, lối sống , tác phong làm việc dân chủ, khoa học Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, không tham nhũng , có ý thức tổ chức kỉ luật, trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với quần chúng, được quần chúng tín nhiệm, có khả năng tập hợp quần chúng, đoàn kết nội bộ Người cán bộ làm công tác quản lý phải có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định lập trường theo đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước
Thái độ làm việc của người cán bộ quản lý được biểu hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau : Biểu hiện thông qua sự nhiệt tình hay thờ ơ với công việc, biểu hiện thông qua tinh thần trách nhiệm đối với công việc , biểu hiện thông qua các mối quan hệ công tác, sự phối hợp hành động khi làm việc với đồng nghiệp hay cấp dưới, biểu hiện thông qua sự nhận thức với nhiệm vụ được giao, biểu hiện thông qua quá trình triển khai, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ …
Thái độ làm việc của người cán bộ quản lý còn phụ thuộc vào 1 số yếu tố như : sức khoẻ, kinh nghiệm công tác…Cán bộ quản lý cần có sức khoẻ tốt để đảm đương các nhiệm vụ được giao Đây cũng là cơ sở để đưa các quyết định đúng đắn trong quá trình quản lý Người cán bộ quản lý phải có kinh nghiệm trong công tác bao gồm : kinh nghiệm nghề nghiệp, kinh nghiệm quản lý, điều hành công việc…
Trang 101.3.4 Tiềm năng phát triển.
Đánh giá về tiềm năng phát triển là việc đánh giá khả năng của cán bộ quản lý có thể tiếp tục phát triển ở những cương vị cao hơn trong tương lai hay không
2 Quản lý nguồn nhân lực quản trị.
2.1 Khái niệm.
Quản lý nguồn nhân lực quản trị là việc dùng các biện pháp kinh tế, xã hội,
tinh thần và các biện pháp khác tác động vào các cán bộ quản lý để tạo ra một
bộ máy quản lý hoạt động hiệu quả nhất, giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu đã đề ra
2.2 Nội dung của quản lý nguồn nhân lực quản trị.
2.2.1 Lựa chọn và tuyển dụng nguồn nhân lực quản trị.
Lựa chọn và tuyển dụng cán bộ quản lý là công việc tìm kiếm những người
có đủ phẩm chất và năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định để bố trí sử dụng hoặc chuẩn bị sử dụng cho công việc trong doanh nghiệp Việc lựa chọn và tuyển dụng những người có đức, có tài để giao trọng trách phải rất công phu, tuân theo những quy định có tính chất khách quan, khoa học
Để lựa chọn và tuyển dụng cán bộ quản lý có kết quả tốt cho công việc cần phải trả lời tốt các câu hỏi sau : Công việc đòi hỏi làm gì? Phải thực hiện chúng như thế nào ? Kiến thức và kĩ năng cần thiết là gì?
Việc lực chọn cán bộ quản lý phải dựa vào các yêu cầu sau :
- Thứ nhất, phải xuất phát từ kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch nguồn nhân lực, phải dựa vào các tiêu chuẩn cán bộ quản lý,
cụ thể hoá tiêu chuẩn cán bộ cho từng vị trí chức danh về phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực, độ tuổi, sức khoẻ và kinh nghiệm
- Thứ hai, phải tuyển chọn được những người có trình độ chuyên môn cần thiết cho công việc để đạt tới năng xuất lao động cao, hiệu xuất công tác tốt, phù hợp với những tiêu chuẩn đề ra