1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quan hệ việt nam thái lan dưới góc nhìn của chủ nghĩa tự do (2006 2015)

121 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 513,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo chủ nghĩa tự do, với một nước có nhiều biến động về chính trị như TháiLan thì việc thay đổi về lợi ích của các tổ chức trong quốc gia cũng sẽ ảnh hưởngđến các chính sách ngoại giao

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TẠ THỊ NGUYỆT TRANG

QUAN HỆ VIỆT NAM – THÁI LAN

DƯỚI GÓC NHÌN CỦA CHỦ NGHĨA TỰ DO

(2006-2015)

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN HỆ QUỐC TẾ

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TẠ THỊ NGUYỆT TRANG

QUAN HỆ VIỆT NAM – THÁI LAN

DƯỚI GÓC NHÌN CỦA CHỦ NGHĨA TỰ DO

(2006-2015)

Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế

Mã số: 60 31 02 06

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN HỆ QUỐC TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Khắc Nam

Hà Nội - 2016

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 5

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

1.1 Nguồn gốc và các luận điểm của chủ nghĩa tự do 5

1.1.1 Chủ nghĩa tự do cổ điển - Chủ nghĩa lý tưởng: từ Kant đến Wilson 5

1.1.2 Chủ nghĩa tự do mới 8

1.1.3 Các luận điểm chính 15

1.2 Cơ sở thực tiễn về mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan 18

1.2.1 Nhân tố nội tại của Thái Lan 18

1.2.2 Nhân tố nội tại của Việt Nam 27

1.2.3 Nhân tố bên ngoài 33

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LUẬN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA TỰ DO TRONG QUAN HỆ VIỆT NAM – THÁI LANError! Bookmark not defined. 2.1 Nền dân chủ chính trị của hai nước 37

2.2 Phát triển kinh tế thị trường hai nước 41

2.3 Sự tham gia của các chủ thể phi quốc gia 55

2.4 Phát triển hợp tác thay thế cho xung đột 65

2.5 Phát triển sự phụ thuộc lẫn nhau 73

2.6 An ninh chung 77

CHƯƠNG 3: TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM THÁI LAN DƯỚI GÓC NHÌN CỦA CHỦ NGHĨA TỰ DO 79

3.1 Điểm mạnh trong việc phát triển mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan 79

3.2 Điểm yếu trong việc phát triển mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan 84

3.3 Cơ hội phát triển mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan 86

3.4 Thách thức đối với mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan 90

KẾT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á AFTA: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FTA: Hiệp định thương mại tự do

GDP: Tổng sản phẩm Quốc nội

QHQT: Quan hệ quốc tế

TNC: Công ty xuyên quốc gia

WB: World Bank (Ngân hàng Thế giới)

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu chủ yếu 5 năm 2011 – 2015

Bảng 2.1: So sánh chỉ số phát triển kinh tế 2 nước năm 2014

Bảng 2.2: So sánh chỉ số phát triển 2 nước năm 2010 – 2015

Bảng 2.3: Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Thái Lan thời kỳ

2006 – 2011

Bảng 2.4: Đầu tư trực tiếp của Thái Lan vào Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010 Bảng 3.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực ASEAN năm 2014

Biểu 1.1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Thái Lan từ 2006 – 2014

Biểu 1.2: Tốc độ tăng trưởng Thái Lan qua các năm

Biểu 1.3: Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam

Biểu 1.4: GDP Nhật Bản từ quý 1/2007 – quý 3/2015

Biểu 1.5: GDP các nước đang phát triển từ quý 1/2007 – quý 3/2015

Biểu 2.1: Diễn biến thương mại Việt Nam – Thái Lan trong các năm 2012,

2013 và 11 tháng 2014

Biểu 2.2: Đầu tư Thái Lan vào Việt Nam giai đoạn 2012 – T2/2016

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Việt Nam và Thái Lan là hai quốc gia có mối quan hệ láng giềng lâu đời, liêntục với các liên hệ phong phú, đa tầng Thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1976,mối quan hệ hai nước bắt đầu khởi sắc từ sau chuyến thăm chính thức Thái Lan củaThủ tướng Phạm Văn Đồng vào năm 1978 Trong giai đoạn 1979 – 1989, trướcnguy cơ đe dọa chiến tranh ở cả hai đầu của đất nước, trước sự bạo tàn diệt chủngcủa Khme Đỏ đối với nhân dân Việt Nam và Campuchia Quan hệ Việt – Thái bướcsang giai đoạn mới với sự trở lại của tình trạng đối đầu Quan hệ giữa hai nướctrong giai đoạn này chủ yếu xoay quanh và lên xuống theo diễn biến của sự kiệnCampuchia Năm 1985 là năm bắt đầu có nhiều thay đổi trong lịch sử quan hệ quốc

tế Đã xuất hiện những cơ hội và điều kiện mới cho việc chấm dứt chiến tranh lạnh.Thời gian từ 1985-1989, mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan cũng chịu ảnh hưởngsâu sắc của các diễn biến này Sự đối đầu giảm bớt, xu thế hòa dịu và tăng cườngđối thoại tăng dần, tuy nhiên hòa dịu mới xuất hiện nhưng chưa đủ để tạo ra nhữngthay đổi cơ bản Trong thời kỳ từ 1989 – 2000, mối quan hệ Việt – Thái đã bắt đầuthời kỳ cải thiện quan hệ và phát triển hợp tác; trong đó có dấu mốc quan trọng vàotháng 7/1995 Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN, đây cũng chính là nền tảngcho sự phát triển tiếp tục của mối quan hệ này Bước sang thể kỷ XXI, sự hợp tác vàtình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam – Thái Lan ngày càng bền vững vàđóng góp nhiều hơn trên các lĩnh vực an ninh – chính trị và kinh tế Một sự kiện lớnnhất trong lịch sử quan hệ ngoại giao Việt Nam Thái Lan là ngày 16/2/2004 BộNgoại giao ra thông cáo chung, sau phiên họp nội các chung giữa hai nước diễn ratại Đà Nẵng, Việt Nam và Nakhon Phanom, Thái Lan, hai bên đã ký kết được rấtnhiều văn bản quan trọng; đây là những văn kiện quan trọng làm nền tảng cho sựhợp tác trên các lĩnh vực an ninh, quốc phòng, kinh tế, thương mại, khoa học kỹthuật và văn hóa giáo dục giữa hai nước trong tương lai Năm 2013, Việt Nam vàThái Lan chính thức nâng cấp mối quan hệ lên tầm “đối tác chiến lược”, đánh dấubước phát triển quan trọng của mối quan hệ hợp tác song phương Đặc biệt gần đâykhi diễn biến về xung đột Biển Đông đang trở thành đề tài nóng của an ninh trong

Trang 7

khu vực thì việc xây dựng mối quan hệ bền chặt của hai nước càng trở nên quantrọng hơn bao giờ hết.

Trong các lý thuyết về QHQT chủ nghĩa tự do (liberalism) là một trong hai lýthuyết có lịch sử lâu đời nhất, theo lý thuyết này thì QHQT chịu tác động đáng kểcủa nhiều yếu tố đối nội (Domestic Factors) Lợi ích quốc gia (National Interest) là

đa dạng và QHQT là đa lĩnh vực, sự đa dạng lợi ích này được quy định bởi quốc giađược cấu thành từ nhiềm nhóm lợi ích khác nhau và bởi sự đa dạng trong lợi ích conngười Chủ nghĩa tự do cho rằng hoàn toàn có khả năng hòa hợp lợi ích giữa ngườivới người và từ đó là khả năng hòa hợp lợi ích giữa các quốc gia với nhau Mộtđiểm quan trọng nữa đó là chủ nghĩa tự do đề cao vai trò của dân chủ tự do (LiberalDemoracy) như phương cách quan trọng thúc đẩy hợp tác, đảm bảo an ninh và duytrì hòa bình trong QHQT; luận điểm này được hiểu đơn giản là khi nhân dân đượchưởng các quyền tự do dân chủ trong nền công hòa, nhân dân sẽ bầu ra được mộtchính phủ đúng với ý nguyện của mình Nhân dân vốn yêu hòa bình nên chính phủ

đó sẽ thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình

Theo chủ nghĩa tự do, với một nước có nhiều biến động về chính trị như TháiLan thì việc thay đổi về lợi ích của các tổ chức trong quốc gia cũng sẽ ảnh hưởngđến các chính sách ngoại giao và hoạt động QHQT, trong đó có mối quan hệ ngoạigiao Việt Nam – Thái Lan Cuộc khủng hoảng chính trị của Thái Lan có thể nóiđược bắt đầu từ cuộc đảo chính do giới quân sự tiến hành nhằm lật đổ cựu thủ tướngThaksin Shinawatra năm 2006 Quá trình thay đổi và điều chỉnh các chính sách kinh

tế - xã hội của Thái Lan gắn liền với những chương trình, kế hoạch phát triển chungcủa toàn đất nước Trước tiên phải nói đến các kế hoạch 5 năm phát triển xã hội vàquốc gia của Thái Lan Đặc biệt là kế hoạch phát triển xã hội và quốc gia lần thứ 10(giai đoạn 2006-2011) với chủ trương tiếp tục phát triển nền kinh tế tự chủ, phấnđấu mang lại phúc lợi cho toàn xã hội Kế hoạch này bao gồm năm chiến lược pháttriển thuộc các lĩnh vực khác nhau, mà trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực, thiếtlập các cộng đồng kinh tế lớn mạnh, và cải tiến các biện pháp sản xuất để có thểcạnh tranh trên toàn cầu Để tìm hiểu sâu hơn về các vấn đề nêu trên, cũng nhưminh chứng cho sự tồn tại, tầm ảnh hưởng và phát triển của chủ nghĩa tự do trong

Trang 8

môi trường QHQT hiện tại, học viên đã lựa chọn đề tài luận văn “Quan hệ Việt Nam

– Thái Lan dưới góc nhìn của chủ nghĩa tự do (2006-2015)”.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ở từng góc độ tiếp cận và phạm vi nghiên cứu khác nhau, cho đến nay

đã có

rất nhiều công trình khoa học, bài viết về mối quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan

Tại Việt Nam, có thể kể đến nghiên cứu của các tác giả:

- Hoàng Khắc Nam với cuốn “Quan hệ Việt Nam – Thái Lan 1976 –

2000”

xuất bản năm 2007 Từ việc nghiên cứu tiến trình vận động của quan hệ Việt Nam –Thái Lan trong 25 năm quan hệ, tác giả đã chỉ ra những cơ sở lịch sử cũng như bảnchất và đặc điểm của mối quan hệ, đồng thời làm sáng tỏ động lực phát triển vànhững yếu tố tác động tới mối quan hệ này

- Nguyễn Diệu Hùng với cuốn “Quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ đầu

thập kỉ

90 (thế kỉ XX) tới nay” xuất bản năm 2001.

- Nguyễn Quốc Hùng với cuốn “Về mối quan hệ giữa các nước

ASEAN với

các nước Đông Dương” xuất bản năm 1990.

- Nguyễn Tương Lai với cuốn “Quan hệ Việt Nam – Thái Lan trong

những

năm 90” xuất bản năm 2001.

- Vũ Dương Ninh với đề tài nghiên cứu khoa học “Quan hệ Việt Nam –Thái

Lan trong mối quan hệ khu vực” năm 1992.

- Chulacheeb Chinwanno với cuốn Thailand – Vietnam Relations: an

overview, Vietnam-Thailand: Traditional and Modernity, xuất bản năm 1991.

- Hoàng Khắc Nam với bài báo “Chủ nghĩa tự do trong quan hệ quốc tế:

những luận điểm chính và sự đóng góp” năm 2013 Trong đó có nói rõ các luận

điểm chính của lý thuyết này

Có thể nói, mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan là một đề tài thu hút sự chú ýcủa các nhà nghiên cứu Đến nay, các công trình nghiên cứu đã bao quát được mốiquan hệ này cả về lĩnh vực hợp tác và lịch sử phát triển Tuy nhiên, việc đặt vấn đềnghiên cứu về mối quan hệ Việt – Thái dưới góc nhìn của chủ nghĩa tự do vẫn còn

Trang 9

3

Trang 10

nhưng mới mẻ về quan hệ ngoại giao giữa hai nước nói riêng và quan hệ trong khu vực nói chung.

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

1) Đối tượng nghiên cứu

-Quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ 2006 – 2015

Về mặt nội dung, luận văn nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Thái Lan trên tất

cả các lĩnh vực như chính trị, ngoại giao, an ninh quân sự và kinh tế Thêm vào đó

là những nhận định, đánh giá của học viên đối với triển vọng quan hệ của hai nước,những tác động của mối quan hệ đối với khu vực và thế giới

4 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là:

1) Nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan dưới góc nhìn của chủ nghĩa tự do

2) Tìm ra ý nghĩa của chủ nghĩa tự do trong mối quan hệ Việt Nam – TháiLan

3) Đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác những mặt tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực từ quan hệ Việt - Thái

5 Phương pháp nghiên cứu

Mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan dưới góc nhìn của chủ nghĩa tự do cũng làmột hiện tượng quan hệ quốc tế Vì vậy, để nghiên cứu đối tượng này, bên cạnh việc

sử dụng các phương pháp trên, học viên đã kết hợp các cách tiếp cận như: các cấp

độ phân tích quan hệ quốc tế, lý thuyết về chủ nghĩa tự do, các lý thuyết về hợp tác

và hội nhập, lý thuyết về nguyên nhân xung đột quốc tế, quan điểm về hệ thốngquốc tế, các quan điểm về chủ thể và lợi ích trong quan hệ quốc tế

Mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ xưa đến nay là một hiện tượng xã hộimang tính quá trình Do vậy, việc nghiên cứu đề tài này được dựa trên các phương

Trang 11

pháp nghiên cứu cơ bản như: phương pháp lịch đại, đồng đại, logic – lịch sử, so sánh lịch sử, phương pháp hệ thống cấu trúc.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Nguồn gốc và các luận điểm của lý luận quan hệ quốc tế chủ nghĩa tự do

1.1.1 Chủ nghĩa tự do cổ điển - Chủ nghĩa lý tưởng: từ Kant đến Wilson

Phong trào khai sáng bắt đầu từ thế kỉ 18 là một cuộc cách mạng tư tưởngquan trọng trong lịch sử văn minh thế giới Trong quá trình cách tân, một nhóm cácnhà tư tưởng luôn giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa lý trí (rationalism), họ tiếnhành phê phán mạnh mẽ đối với sự suy đồi của “chế độ cũ” ở Châu Âu với đại diện

là chủ nghĩa chuyên chế và tôn giáo thần quyền Chủ nghĩa lý trí và tư tưởng tôntrọng con người mang đến sức mạnh như một dòng nước lũ đã tẩy sạch những tưtưởng cố hữu nằm sâu trong tâm trí con người từ vài trăm năm trước đó Và đến thờiđại này con người dường như đã tiến thêm một bước phát triển trí tuệ của bản thân.Đúng giống như lời nhà triết học nước Đức Immanuel Kant đã nói, đây chính là thờiđại “mang tới ánh sáng chiếu rọi những góc khuất tối tăm trong tư tưởng conngười” [45]

Dù cho trong quá trình khai sáng, đại bộ phận các nhà tư tưởng đều xuất phát

từ góc độ của chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa lý trí để nghiên cứu những vấn đềtriết học thông thường, nhưng cũng có một vài nhà tư tưởng đã tiến hành nghiêncứu và suy ngẫm sâu sắc hơn đối với thể chế chính trị quốc tế và trật tự thế giới trên

cơ sở triết học cơ bản này Những nghiên cứu này là gốc rễ trực tiếp của lý luậnquan hệ quốc tế về Chủ nghĩa lý tưởng và Chủ nghĩa tự do sau này Những nhân vậtđại diện khai sáng cho tư tưởng Chủ nghĩa tự do gồm có: John Locke, Jean-JacquesRousseau và Kant Những nhà tư tưởng này đã thiết lập một số nguyên tắc cơ bảncủa chủ nghĩa tự do Khác với chủ nghĩa ngu dân và thần quyền ở giữa thế kỷ, họcho rằng: lý trí là một tư chất bẩm sinh tự nhiên và duy nhất chỉ có ở loài người Lýtrí của cá nhân có mục đích là tự mình thực hiện, đây cũng là một loại “trạng thái tựnhiên” của con người Còn quốc gia cũng chỉ là sản phẩm của “khế ước” được thiếtlập giữa những cá thể khác nhau trong xã hội, và nó phục vụ mục đích duy nhất là

Trang 12

bảo đảm quyền lợi tự nhiên mà con người được xây dựng dựa trên cơ sở hợp tình,hợp lý.

Trong những nhà tư tưởng vĩ đại này, Kant là người có ảnh hưởng lớn nhấtđến sự phát triển sau này của lý luận quan hệ quốc tế Trong lịch sử phát triển củachủ nghĩa tự do phương Tây, tư tưởng của Kant đóng một vai trò quan trọng trongviệc kế thừa những cái có trước và là tiền đề cho những cái ra đời sau Khác vớiquan niệm tự do cá nhân tiêu cực trong quan điểm tự do tuyệt đối (Perfect freedom)của John Locke; trong quan niệm của Kant, cái mà quan niệm tự do cá nhân nhấnmạnh là sự tham gia tích cực của cá nhân đối với đời sống chính trị Hoặc có thểnói, con người là tự do, họ có thể lập ra những tiêu chuẩn pháp luật riêng cho hành

vi của mình Chính phủ phải bảo vệ cho an toàn và phúc lợi của cá nhân dựa trênnguyên tắc pháp luật và chính nghĩa Trái ngược với Machiavelli, Kant cho rằng cánhân không phải là “thủ đoạn” mà phải là “mục đích” Quan điểm tích cực của tự

do cá nhân là hạt nhân trong tất cả tư tưởng triết học chính trị của Kant Trênphương diện triết học chính trị quốc tế, Kant cho rằng, chiến tranh giữa các quốc giamang đến tổn thất vô cùng nặng nề, sự phát triển của xã hội công dân và lý trí loàingười, cuối cùng sẽ khiến cho quan hệ giữa các quốc gia từ trạng thái riêng lẻ tựnhiên quá độ đến trạng thái pháp chế, từ đó thực hiện mục tiêu “hòa bình vĩnh cửu”

Tư tưởng hòa bình vĩnh cửu của Kant có ảnh hưởng trực tiếp đến lý luận quan hệquốc tế sau đó là chủ nghĩa tự do cộng hòa, và cũng ảnh hưởng trực tiếp tới sự rađời và phát triển của lý luận hòa bình dân chủ

Và trước khi nổ ra trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tư tưởng quốc tếphát huy sức ảnh hưởng quan trọng nhất trong lĩnh vực chính trị quốc tế lúc đó là lýluận cân bằng quyền lực (The Balance of power theory) Các nhà chính trị học Châu

Âu lấy Metternich và Bismarck làm đại diện đã trở thành những đại sứ duy trì cáncân quyền lực Châu Âu, họ cố gắng thông qua quan hệ liên minh mật thiết phức tạp

để bảo vệ lợi ích quốc gia và duy trì hòa bình Châu Âu Nhưng sự bùng nổ tàn bạocủa chiến tranh thế giới lần thứ nhất vô tình đã tạo ra một sự mỉa mai lớn đối vớinhững nỗ lực này Vì vậy, một số nhà chính trị và học giả thời đó đã suy nghĩ lạimột cách sâu sắc về lý trí của loài người, hi vọng thoát khỏi bi kịch đáng buồn của

Trang 13

lý luận cân bằng quyền lực này, điều này trực tiếp thúc đẩy sự ra đời của tư tưởngquan hệ quốc tế mang ý nghĩa hiện đại hơn là chủ nghĩa lý tưởng.

Từ những năm 20, 30 của thế kỷ 20, những đại diện tiêu biểu của lý luậnquan hệ quốc tế Chủ nghĩa lý tưởng hiện đại chủ yếu có tổng thống Mỹ kiêm họcgiả Woodrow Wilson, JohnMurray, Parker TMoon, học giả người Anh AlfredEzimmern, Philip Noel Baker và David Mitrany …

Chủ nghĩa lý tưởng phủ nhận quan điểm cho rằng bản chất cái ác trong conngười là nguồn gốc dẫn đến chiến tranh và xung đột giữa các quốc gia của chủnghĩa hiện thực Alfred Ezimmern cho rằng bản tính của con người không có cái gì

là thiện hay ác, quan trọng nó được quyết định bởi sự giáo hóa sau này Chiến tranhxảy ra không phải vì con người thiếu quan niệm về cộng đồng quốc tế, mà là vì sựhạn chế về kiến thức khiến họ chưa ý thức được điều này [29] Giống như Wilson đãnói “thiện ác lẫn lộn, vàng thỏi cũng bị ăn mòn” Cũng có thể nói rằng, dù bản tínhcủa con người tồn tại sự ngu muội và vô tri, những kẻ độc tài có thể lợi dụng điểmyếu này để thực hiện dã tâm của bản thân, nhưng sức mạnh của giáo dục và tuyêntruyền có thể khắc phục được điểm cực đoan này Vì vậy, những người theo Chủnghĩa lý tưởng vô cùng coi trọng sự giáo hóa đối với quần chúng nhân dân Đồngthời, sự giao lưu qua lại giữa nhân dân thế giới cũng giúp cho nhận thức lý trí và trítuệ của con người được phát huy một cách toàn diện, qua đó hình thành quan niệm

về thể cộng đồng thế giới và tinh thần chủ nghĩa quốc tế, từ đó loại bỏ nhữngnguyên nhân cơ bản của chiến tranh

Trên lĩnh vực chính trị quốc tế, tư tưởng cơ bản của Chủ nghĩa lý tưởng làdựa vào sức mạnh của tổ chức quốc tế và pháp luật quốc tế để theo đuổi công lý vàhòa bình lâu dài của xã hội quốc tế Điều này được tập trung thể hiện trong phương

án “Mười bốn điểm” của Wilson về sự sắp xếp sau hậu chiến, và thành quả trực tiếpcủa phương án này chính là sự thành lập của liên minh quốc tế Với vai trò vừa lànhà chính trị vừa là học giả của mình đã giúp Wilson có thể thực hiện được phương

án hòa bình theo Chủ nghĩa lý tưởng của mình Ngày 08/01/1918 trong quá trìnhdiễn thuyết tại quốc hội Mỹ, Wilson đã lần đầu tiên đưa ra kế hoạch “Mười bốnđiểm” để làm cương lĩnh cơ bản tạo nên hòa bình thế giới sau chiến tranh Nhắm

Trang 14

vào những nguyên nhân cực đoan của chính trị quốc tế đã dẫn đến chiến tranh thếgiới lần thứ nhất, kế hoạch “Mười bốn điểm” chủ trương các quốc gia nên từ bỏngoại giao bí mật, loại bỏ rào cản thương mại, thực hiện tự do hàng hải trên biển, cổ

vũ sự tự trị dân tộc, cắt giảm vũ khí ; điểm cốt lõi trong kế hoạch “Mười bốnđiểm” là việc Wilson nhấn mạnh sau chiến tranh phải thiết lập một tổ chức quốc tếlấy việc duy trì hòa bình và an ninh thế giới làm mục tiêu Phương án thành lập tổchức quốc tế này cùng nguyên tắc an toàn tập thể của Wilson đã thay thế hoàn toànnguyên tắc cân bằng lực lượng, là một tiên phong vĩ đại trong lịch sử phát triển của

lý luận quan hệ quốc tế Nó cũng tập trung phản ánh được quan niệm về trật tự quốc

tế của Chủ nghĩa lý tưởng Chủ nghĩa lý tưởng cho rằng sự sụp đổ của cán cânquyền lực trước chiến tranh và sự bùng nổ của thế chiến thứ nhất là hậu quả củaviệc các quốc gia không coi trọng nguyên tắc đạo đức chính nghĩa và pháp luật quốc

tế, và việc thiết lập một tổ chức quốc tế mang tính phổ biến là con đường tốt nhất đểgiải quyết vấn đề này Liên minh quốc tế (Hội Quốc liên) được thành lập sau chiếntranh là một thử nghiệm vĩ đại của quan niệm Chủ nghĩa lý tưởng này

[30] Nó mang tới những ý nghĩa vô cùng to lớn về cả mặt lý luận và thực tiễn choChủ nghĩa lý tưởng, mang đến cho sự phát triển của lý luận quan hệ quốc tế Chủnghĩa tự do sau này những kinh nghiệm và bài học vô cùng phong phú

1.1.2 Chủ nghĩa tự do mới

Lý luận quan hệ quốc tế những năm 50 và 60 thế kỉ 20 là lý luận được phát triểntrong quá trình biện luận giữa chủ nghĩa khoa học hành vi và chủ nghĩa truyền thống.Cuộc tranh luận này dù rất khốc liệt nhưng về cơ bản thì lại là “một cuộc chiến giả tạo”[44], sự tranh luận của hai bên chỉ là sự khác biệt về phương pháp nghiên cứu Dẫu saothì nó cũng có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy việc nghiên cứu sâu hơn đối với tư tưởng vàquan niệm cơ bản của lý luận quan hệ quốc tế Từ những ý nghĩa này, sau chiến tranhthì tiến bộ lớn nhất của hoạt động nghiên cứu lý luận quan hệ quốc tế đến vào giai đoạnnhững năm 60 và 70 của thế kỷ 20 là sự xuất hiện của chủ nghĩa tự do mới và chủnghĩa hiện thực mới, và cả sự đối đầu của hai lý luận này Những nghiên cứu này đã tạonên trào lưu chủ đạo trong sự phát triển lý luận quan hệ quốc tế và được duy trì đếnngày nay Cái được gọi là “Chủ nghĩa tự do

Trang 15

mới” và “Chủ nghĩa hiện thực mới” là cái dùng để phân biệt với Chủ nghĩa tự do cũ

là Chủ nghĩa lý tưởng và Chủ nghĩa hiện thực kinh điển truyền thống

Cái tên “Chủ nghĩa tự do mới” chỉ là một sự ám chỉ, bởi sự khác biệt củaquan niệm cụ thể và trọng điểm nghiên cứu nằm trong bản thân nó, trong nó vẫncòn tồn tại những trào lưu khác nhau Tại đây, chúng ta có thể tóm gọn thành 3 tràolưu mang tính tiêu biểu:

a Lý luận phụ thuộc lẫn nhau

Lực sát thương vô cùng lớn của vũ khí hạt nhân đã khiến cho con người đangtrong thời kỳ chiến tranh lạnh nhận ra rằng, hậu quả của chiến tranh hạt nhân khôngkhác gì sự hủy diệt toàn bộ của loài người; sự phát triển toàn cầu hóa của kinh tế vàthương mại khiến cho thế giới trở nên ngày càng “nhỏ”, những vấn đề chung mà cácquốc gia toàn cầu phải đối mặt như môi trường sinh thái ngày càng nhiều hơn.Những điều này giúp các nhà nghiên cứu chính trị quốc tế nhận thức sâu sắc hơnphụ thuộc lẫn nhau trong chính trị thế giới, cũng từ đó mà cuối cùng lí luận phụthuộc lẫn nhau được ra đời [55, 54, 53]

Những người đại diện cho lí luận phụ thuộc lẫn nhau bao gồm: RobertKeohane, Joseph Nye và Richard Rosecranse… Robert Keohane hiện là giáo sư tạiĐại học Duke của Mỹ, Joseph Nye là hiệu trưởng học viện chính phủ Kennedytrường Harvard, hai người đã có sự hợp tác nghiên cứu lâu dài và có những thànhquả vô cùng phong phú Tình hữu nghị sâu sắc giữa họ được giới lý luận quan hệquốc tế học gọi là một giai thoại Lý luận phụ thuộc lẫn nhau chính là lý luận đượcsáng lập bởi hai người họ, và những kiệt tác của họ cũng là hợp tác hoàn thành Chủ

yếu gồm có Quan hệ xuyên quốc gia và chính trị thế giới, Quyền lực và phụ thuộc

lẫn nhau… Tác phẩm thứ hai là tác phẩm xuất sắc nhất của lý luận phụ thuộc lẫn

nhau Ngoài ra còn có Rosecranse, hiện là một giáo sư tại Đại học California, LosAngeles Tác phẩm mang tính tiêu biểu phản ánh tư tưởng phụ thuộc lẫn nhau của

ông là Sự phát triển của mậu dịch quốc gia.

Lý luận về phụ thuộc lẫn nhau đã thách thức một số giả định cơ bản của Chủnghĩa hiện thực Chủ nghĩa hiện thực cho rằng, chính phủ quốc gia là thể hành viquan trọng duy nhất trong chính trị quốc tế, quan hệ giữa các quốc gia tạo nên

Trang 16

những nội dung cơ bản trong chính trị quốc tế, thể hành vi phi chính phủ dù có tồntại cũng không thể phát huy tác dụng thiết thực nào, mà chỉ là cái phụ thuộc vàoquyền lực chính trị của chính phủ quốc gia [39] Lý luận phụ thuộc lẫn nhau phảnđối chủ nghĩa trung tâm quốc gia, nó cho rằng chính phủ quốc gia không phải là thểhành vi duy nhất trong chính trị thế giới, ngày càng có nhiều những tổ chức siêuquốc gia và xuyên quốc gia phát huy tác dụng to lớn trên bình diện quốc tế, ví dụ: tổchức quốc tế liên hợp quốc, tổ chức phi chính phủ, công ty xuyên quốc gia… Lýluận phụ thuộc lẫn nhau coi trọng việc nghiên cứu quan hệ xuyên quốc gia, chútrọng việc phân tích hậu quả và ảnh hưởng của việc nhất thể hóa Chủ nghĩa hiệnthực cho rằng, mục tiêu đầu tiên của chính phủ quốc gia là theo đuổi sự an toàn trênlĩnh vực quân sự, tiếp đó mới đến kinh tế, môi trường… Lý luận phụ thuộc lẫn nhaucho rằng, sự phát triển của nhất thể hóa không chỉ khiến sự ỷ lại lẫn nhau giữa cácquốc gia ngày càng sâu sắc, mà còn làm cho “sự phụ thuộc lẫn nhau phù hợp”(Complex Interdependence) trong các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, môitrường và sinh thái…ngày càng gia tăng Sự sắp xếp cao thấp trong chính trị quốc tếtheo chủ nghĩa hiện thực lấy quyền lực và lợi ích quốc gia chủ quyền đặt lên trênsau đó mới đến kinh tế và môi trường đã bị phá vỡ, các sự vụ trên thế giới ngàycàng trở nên thành một chỉnh thể Mô hình chính trị quốc tế lấy chính phủ quốc gia

và lợi ích làm hạt nhân đã phải dần nhường chỗ cho những nghiên cứu về các vấn

đề xuyên quốc gia

Sự xuất hiện của lý luận phụ thuộc lẫn nhau đã phá vỡ trạng thái chiếm lĩnhtrong lý luận quan hệ quốc tế của chủ nghĩa hiện thực, mở rộng góc nhìn trongnghiên cứu lý luận, mang đến những vấn đề nghị sự và con đường tư duy hoàn toànmới về sự biến động trong chính trị thế giới, tạo nền móng vững chắc cho sự pháttriển nhanh chóng của lý luận quan hệ quốc tế về Chủ nghĩa tự do hiện đại Cũngtrên chính cơ sở của lý luận phụ thuộc lẫn nhau hoặc lý luận phụ thuộc phù hợp, thìChủ nghĩa chế độ tự do mới mới có thể được sinh ra, và tạo nên ảnh hưởng trực tiếpđối với những lý luận chính trị thế giới ra đời sau chiến tranh lạnh như lý luận toàncầu trị và lý luận chủ nghĩa tự do mới Kiệt tác tiêu biểu của lý luận phụ thuộc lẫn

nhau là cuốn quyền lực và sự phụ thuộc lẫn nhau nó được coi là “tác phẩm cột mốc

Trang 17

quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu chính trị kinh tế học quốc tế và quan hệ quốctế” [55]

b Chủ nghĩa thể chế tự do mới

Trên cơ sở lí luận phụ thuộc lẫn nhau phù hợp, một nhóm các nhà lý luậnquan hệ quốc tế học phương Tây trong đó lấy Robert Keohane làm trung tâm, đãtiến thêm một bước nghiên cứu một cách sâu sắc và phong phú hơn lý luận Chủnghĩa tự do trong quan hệ quốc tế Họ đã đưa ra lý luận chủ nghĩa chế độ tự do mớiđược gọi là “lý luận thể chế” (institution theory) hoặc “lý luận chế độ” (regimetheory) Ngoài Robert Keohane, những đại diện tiêu biểu trong lĩnh vực nghiên cứu

lí luận chủ nghĩa chế độ tự do mới còn có: Oran Young, Ernst Hass…[36, 64, 57,

58, 51, 42]

Khác với lý luận phụ thuộc lẫn nhau, lý luận Chủ nghĩa chế độ tự do mới đãtiếp nhận một vài giả thiết cơ bản của lý luận chủ nghĩa hiện thực mới, ví dụ như:chính phủ quốc gia là chủ thể quan trọng duy nhất trong chính trị quốc tế hay trạngthái vô chính phủ của xã hội quốc tế…mặc dù cũng có nhiều cách giải thích khácnhau về hậu quả và sự hiểu biết của những khái niệm này Đồng thời, lý luận nàycòn hấp thu cả lý thuyết trò chơi (Game Theory), lựa chọn lý trí bên cạnh đó lànhững phương pháp nghiên cứu mới, khiến cho phân tích lý luận của mình càngchặt chẽ và thực tế hơn

Căn cứ vào định nghĩa được đại đa số học giả đồng thuận của StephenCrasner, cái được gọi là “chế độ” chính là “sự tập hợp của một loạt những cá thể vớithứ tự sắp xếp rõ ràng hoặc mơ hồ về các nguyên tắc, qui phạm, qui tắc và quyếtsách đối với những vấn đề đặc biệt trong lĩnh vực quan hệ quốc tế” [65] Dù nhữnghọc giả khác nhau có những định nghĩa không giống nhau về “thể chế” hay “chếđộ”, nhưng khái niệm cơ bản của nó đều được bao hàm trong định nghĩa này, cườngđiệu thể chế trong hành động quy phạm của các cá thể Đây cũng là điểm xuất phát

và gốc rễ của những nghiên cứu về chủ nghĩa chế độ tự do mới

Lý luận lựa chọn lí trí (Rational Choice Theory) được xây dựng trên nền tảngcủa thuyết trò chơi là công cụ chủ yếu trong việc nghiên cứu chủ nghĩa chế độ tự domới Lý luận lựa chọn lí trí hay còn gọi là lý luận lựa chọn công cộng, xuất hiện

Trang 18

sớm nhất bắt nguồn từ phương pháp phân tích, nghiên cứu kinh tế học; quan điểm

cơ bản của nó bao gồm: coi cá thể trong hành động tập thể là đối tượng hành vi có

lý trí, mục đích của những cá thể này là tìm kiếm lợi ích tối đa cho riêng mình,trong quá trình hành động của bản thân họ có thể lựa chọn những gì có lợi nhất chomình sau khi đã cân nhắc kĩ càng [31, 60, 61] Từ đó mà tạo nên tính logic thôngthường trong hành động của một tập thể Những hành vi lý trí này được thiết lậpthông qua sự kết hợp của sự học tập, trò chơi và công năng

Lý luận chủ nghĩa chế độ tự do mới đã tham khảo tiền đề và phương phápphân tích lý trí của chủ nghĩa hiện thực, nhưng lại rút ra được một kết luận ngượclại Nó cho rằng hợp tác dưới trạng thái vô chính phủ là có thể, từ đó tạo nên mộtthái độ chủ nghĩa lạc quan trong thế giới quan Nó nắm bắt một cách rõ ràng các xuthế phát triển và vấn đề mới của chính trị thế giới, từ đó đưa ra một cách giải thíchhoàn toàn mới Sự vươn lên của chủ nghĩa chế độ tự do mới trong những năm 70,

80 thế kỷ 20 có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong lịch sử phát triển lý luận quan hệquốc tế, đặc biệt là trong lịch sử phát triển lý luận quan hệ quốc tế Chủ nghĩa tự do.Mặc dù bản thân Robert Keohane cũng thừa nhận nó vẫn tồn tại không ít nhữngkhuyết điểm, nhưng ý nghĩa mà nó mang lại cho lý luận và thực tiễn của lý luậnquan hệ quốc tế đương đại là rõ ràng và chắc chắn Là một trường phái quan trọngtrong lý luận quan hệ quốc tế chủ nghĩa tự do, tranh luận giữa nó và chủ nghĩa hiệnthực mới đã tạo nên những nội dung chủ yếu trong lịch sử phát triển lý luận quan hệquốc tế trước khi chiến tranh lạnh kết thúc Đương nhiên, chủ nghĩa thể chế khôngphải là tất cả trong sự phát triển lý luận quan hệ quốc tế chủ nghĩa tự do vào thờigian này, cụ thể là sự “tái phát hiện” của lý luận hòa bình dân chủ (Theory ofDemocracy Peace) trước khi chiến tranh lạnh kết thúc ở những năm 70 thế kỉ 20 làmột minh chứng

c Chủ nghĩa tự do cộng hòa: lý luận hòa bình dân chủ

Mặc dù “lý luận hòa bình dân chủ” được coi là thành quả có ý nghĩa nhất đốivới việc nghiên cứu chính trị thế giới sau chiến tranh lạnh [67] Nhưng nó đóng vaitrò là tư tưởng của một loại mô hình an toàn thì nó đã sớm tồn tại, vì thế nó đượcgọi là lý luận “tái khám phá” (Rediscoverd) [35] Người sớm nhất đưa ra lý luận

Trang 19

tương tự là Kant, ông đã đề cập và thảo luận đến mô hình an toàn được gọi là “hòabình vĩnh cửu” (Perpetual Peace) Những thể cộng đồng được mở rộng liên tục củacác quốc gia cộng hòa, có tinh thần dân chủ và pháp chế thì cuối cùng sẽ có thể đạtđược “hòa bình vĩnh cửu” dưới nguyên tắc pháp luật quốc tế chung Vì cơ chế kiểmsoát của thể chế chính trị cộng hòa có thể ngăn chặn các quốc gia cộng hòa mạohiểm tiến hành chiến tranh, còn các quốc gia phi dân chủ có tiến hành chiến tranhhay không lại hoàn toàn dựa vào quan điểm không chịu bất cứ kiểm soát nào củamột kẻ độc tài [41, 40] Tư tưởng của Kant được gọi là “chủ nghĩa quốc tế của chủnghĩa tự do” [46], và nó được phát triển thêm một bước sau chiến tranh thế giới lầnthứ nhất; trong “Mười bốn điểm” của mình tổng thống Mỹ Woodrow Wilson đã nóirằng: “dựa vào phương thức sinh hoạt của bản thân để quyết định chế độ riêng củaquốc gia”, “yêu hòa bình”, “có thể đạt được sự đảm bảo của chính nghĩa”, và nhậnđược sự đối đãi công bằng của những dân tộc khác trên thế giới, từ đó tránh đượcviệc nhận tổn thất lợi ích hay phải chịu bạo lực” Năm 1919, Schumpeter đã đưa ramệnh đề “Chủ nghĩa tư bản của dân chủ có thể dẫn đến hòa bình” [43] Học giảđương đại từ những năm 70 thế kỉ 20 đã bắt đầu nhận thức lại vấn đề hòa bình dânchủ, và từng bước lý luận hóa, hệ thống hóa nó Vào năm 1976 Mekvin Small vàDavid Singer đã lần đầu tiên tiến hành mô tả hiện tượng thực nghiệm hòa bình dân

tộc [48]; Vào năm 1983 Michael Doyle trong Kant, di sản chủ nghĩa tự do và ngoại

giao đã chính thức đề cập đến “hòa bình dân tộc” như một lý luận [49]; Sau khi

chiến tranh lạnh kết thúc, “hòa bình dân tộc” đã trở thành một trong những điểmnghiên cứu chính của giới lý luận quan hệ quốc tế phương Tây, ví dụ Bruce Russett

trong tác phẩm của mình nắm vững hòa bình dân chủ: nguyên tắc của thế giới sau

chiến tranh lạnh đã nghị luận một cách hệ thống đối với nó [32].

Là một giả thiết có liên quan đến mô hình an ninh quốc tế, quan điểm chủyếu của “lý luận hòa bình dân chủ” hiện đại bao gồm [47, 32, 46, 66]:

(1)Một nguyên tắc trong quan hệ quốc tế: giữa các quốc gia dân chủ không hoặc rất

ít khi xảy ra xung đột;

(2) Dù cho giữa các quốc gia có xảy ra xung đột, hai bên cũng không sử dụng vũ

lực hoặc lấy vũ lực để uy hiếp, bởi điều này trái với nguyên tắc dân chủ và lý tính;

Trang 20

(3)Giữa các quốc gia chuyên chế hoặc giữa các nước dân chủ và chuyên chế rất dễphát sinh xung đột, hơn nữa càng dễ dàng sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp.

Có những học giả còn cho rằng so với các nước dân chủ các quốc gia phi dân chủcàng hiếu chiến hơn [34]

Đóng vai trò là một loại kinh nghiệm pháp chế, một trong những căn cứ quantrọng của “lý luận hòa bình dân chủ” là: “kinh nghiệm thực tế” của “các quốc giadân chủ ít chiến tranh” Nếu nói “hòa bình vĩnh cửu” của Kant chỉ là một lý tưởng,thì “lý luận hòa bình dân chủ” lại cố gắng thông qua các thống kê và phân tích đểchứng minh hiện tượng này tồn tại phổ biến trong những giai đoạn khác nhau.Mekvin Small và David Singer và Michael Doyle cho rằng, từ năm 1816 đến naygiữa các quốc gia dân chủ hầu như không xảy ra chiến tranh thực sự [47, 63]

Có hai nguyên nhân dẫn tới “lý luận hòa bình dân chủ”, một là sự ràng buộcchế độ (institutional restraints) trong nội bộ quốc gia dân chủ, hai là qui phạm dânchủ và văn hóa chung (normand culture) trong cộng đồng giữa các quốc gia dân chủ[62]

Một mặt khác, “lý luận hòa bình dân chủ” cho rằng, trong sự phát triển chínhtrị trong nước thì sẽ có một vài thể chế và qui phạm ảnh hưởng tới mô thức đốingoại của quốc gia, sự khác biệt về chính trị trong nước giữa các nước dân chủ vàphi dân chủ dẫn đến sự khác biệt về chính sách đối ngoại của đôi bên Chính trị dânchủ nhấn mạnh việc thông qua phương thức hòa bình để tiến hành những cạnh tranhchính trị một cách có qui tắc Như vậy, cách giải quyết những mâu thuẫn chính trịtrong nước của các nước dân chủ không được thực hiện bằng cách loại bỏ đối thủ,điều này khiến cho xã hội dân chủ bất luận là quốc gia, khu vực hay cá nhân đều rất

ổn định Còn trong cạnh tranh chính trị của các quốc gia phi dân chủ, kẻ thắng sẽ cótất cả, kẻ bại không có cơ hội vực dậy được; sự ổn định của các nước phi dân chủbắt buộc được tạo nên trên cơ sở không có phe phản đối chính trị nào hiệu quả [67].Nói một cách cụ thể, sự ràng buộc chế độ được thể hiện như sau: Đầu tiên, chế độbầu cử của các nước dân chủ quyết định chính phủ phải chịu trách nhiệm đối với cửtri Thứ hai, nguyên tắc phân quyền (Power Division) và cân bằng chế độ(Checkand Balance) trong chính trị quốc gia dân chủ khiến cho trách nhiệm quyết

Trang 21

sách ngoại giao được đa dạng hóa, từ đó có thể tránh khỏi việc đưa ra những quyết địnhcực đoan Ngoài ra, do các quốc gia dân chủ muốn tiến hành chiến tranh phải thông quaviệc tranh luận công khai và cần nhận được sự đồng thuận của các nhà chính trị dânchủ, thời gian chuẩn bị chiến tranh lâu dài; những điều này mang đến cơ hội hòa hoãntrong thời gian thông qua con đường ngoại giao để giải quyết tranh chấp.

Đối với nhân tố văn hóa và qui phạm của dân chủ, lý luận hòa bình dân chủcho rằng khí chất tinh thần (ethos) mà các quốc gia dân chủ có chung cũng khiếncho giữa các nước dân chủ ít xảy ra chiến tranh, đặc trưng căn bản của tinh thần nàynằm ở cạnh tranh hòa bình và thỏa hiệp chính trị Một quốc gia dân chủ sẽ nghĩ rằngcác quốc gia dân chủ khác cũng sẽ giải quyết các tranh chấp bằng những biên phápcạnh tranh hòa bình có nguyên tắc, hơn nữa sẽ vận dụng nó trong cả quan hệ đốingoại; vì vậy, ấn tượng của quốc gia dân chủ đối với các quốc gia dân chủ khác làtích cực, họ cho rằng đôi bên là hòa bình, từ đó tạo nên quan hệ tôn trọng lẫn nhau.Ngược lại, giữa các quốc gia dân chủ và phi dân chủ lại thiếu tinh thần tôn trọngnhau này [62]

Dù “lý luận hòa bình dân chủ” từ khái niệm, thực tế đến logic đều tồn tại rấtnhiều thiếu xót, bị không ít những học giả phê phán, nhưng hàm ý logic của nó lại là

cơ sở ổn định của hòa bình thế giới với chế độ dân chủ đã được phương Tây thừanhận, cho nên nó có sức ảnh hướng rât lớn đối với giới chính trị và giới lý luận quan

hệ quan hệ quốc tế phương Tây, nó mở ra một con đường khiến mọi người phải coitrọng trong sự phát triển của tư tưởng lý luận quan hệ quốc tế về chủ nghĩa tự do

1.1.3 Các luận điểm chính

Chủ nghĩa Tự do được xây dựng trên một số cơ sở lý luận và thực tiễn Các

cơ sở này bao gồm quan niệm về mối quan hệ giữa môi trường vô chính phủ vàxung đột trong QHQT, tính đa nguyên về chủ thể QHQT, bản chất của con người,chủ nghĩa duy vật kết hợp duy tâm chủ quan, quan điểm về sự vận động của thựctiễn lịch sử, quan niệm về tự do Chủ nghĩa Tự do có những luận điểm cơ bản vềQHQT như sau [16]:

Trang 22

- Chủ nghĩa Tự do cho rằng trong QHQT, bên cạnh quốc gia còn các chủ thểphi quốc gia như các tổ chức quốc tế, công ty xuyên quốc gia… Các chủ thể phiquốc gia đang tham gia ngày càng nhiều vào QHQT với vai trò ngày càng tăng.

- QHQT chịu tác động đáng kể của nhiều yếu tố đối nội Vì quốc gia khôngphải là nhất thể, nên bên trong quốc gia có nhiều lực lượng cùng tham gia xác địnhlợi ích quốc gia và hoạch định chính sách đối ngoại Lợi ích quốc gia và chính sáchđối ngoại nhiều khi là kết quả của sự đấu tranh, thỏa hiệp, liên minh giữa các nhómchứ không phải lúc nào cũng phản ánh trung thành lợi ích quốc gia Chính trị đốinội trở thành một phần của QHQT và các nhóm trong nước trở thành một trongnhững đơn vị phân tích trong nghiên cứu QHQT Các yếu tố đối nội mà Chủ nghĩa

Tự do nhấn mạnh có thể tác động tới chính sách đối ngoại và QHQT chính là tự do,dân chủ, nhân quyền…thông qua kênh phổ biến nhất là công luận

- Lợi ích quốc gia là đa dạng và QHQT là đa lĩnh vực Sự đa dạng lợi ích này

được cấu thành từ nhiều nhóm lợi ích khác nhau và bởi sự đa dạng trong lợi ích conngười Cũng giống như con người, lợi ích của quốc gia không phải chỉ có mỗi anninh và quyền lực mà còn cả sự thịnh vượng kinh tế và những lợi ích khác Chủnghĩa Tự do coi QHQT là sự hỗn hợp của nhiều lĩnh vực và vấn đề tương tác vớinhau Cũng theo Chủ nghĩa Tự do, những lợi ích quốc gia quan trọng nhất là hòabình (chính trị) và thịnh vượng (kinh tế) nên chính trị và kinh tế cũng là hai lĩnh vực

cơ bản nhất trong QHQT Những người theo Chủ nghĩa Tự do luôn cho rằng kinh tế

và chính trị luôn gắn bó mật thiết với nhau, có tác động qua lại Bởi vậy, Chủ nghĩa

Tự do rất quan tâm tới mối tương tác giữa hai lĩnh vực này trong đời sống quốc tế

và coi các vấn đề này đều quan trọng như nhau Chính sự quan tâm này khiến Chủnghĩa Tự do còn được gọi là “lý thuyết kinh tế chính trị quốc tế”

- Chủ nghĩa Tự do cho rằng hoàn toàn có khả năng hòa hợp lợi ích giữangười với người và từ đó là khả năng hòa hợp lợi ích giữa các quốc gia với nhau.Chính sự tự do cá nhân sẽ làm bộc lộ nhiều lợi ích và ý tưởng khác nhau của conngười và ý tưởng khác nhau của con người và nhận thức lý trí sẽ giúp con ngườinhận thức được đâu là lợi ích chung bên cạnh lợi ích riêng và những ý tưởng tốtnhất

Trang 23

- An ninh tập thể là một phương thức ngăn chặn chiến tranh, duy trì hòa bìnhcủa Chủ nghĩa Tự do An ninh tập thể có nghĩa là an ninh được nhận thức là vấn đề

có tính tập thể và bảo vệ an ninh là trách nhiệm của tập thể hơn là của cá nhân quốcgia nào đó Đây chính là cách thức “mọi người chống lại một người” nhằm đảm bảo

an ninh, loại trừ chiến tranh ra khỏi đời sống

- Chủ nghĩa Tự do cũng coi phát triển kinh tế thị trường như phương cách

quan trọng khác để thúc đẩy hợp tác, đảm bảo an ninh và duy trì hòa bình trongQHQT Kinh tế thị trường được xây dựng trên cơ sở tự do kinh tế và một phần tự dochính trị Kinh tế thị trường giúp đem lại lợi ích kinh tế và thịnh vượng mà tất cảđều cần; đòi hỏi phải thúc đẩy hợp tác bởi đây là phương thức quan hệ chủ yếutrong kinh tế thị trường; yêu cầu phải duy trì môi trường an ninh để phát triển Bêncạnh đó, kinh tế thị trường phát triển còn đem lại một thực tế khác nữa rất có ýnghĩa đối với hòa bình và hợp tác trong QHQT Đó là sự phụ thuộc lẫn nhau Kinh

tế thị trường là phương tiện, còn sự phụ thuộc lẫn nhau là kết quả và kết quả nàymới tác động mạnh mẽ đến QHQT

- Chủ nghĩa Tự do Mới đặc biệt đề cao vai trò của thể chế quốc tế nhưphương án chủ yếu để xây dựng và sắp xếp lại QHQT theo tinh thần của lý thuyếtnày Thể chế đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hòa bình, quản lý xung đột,thúc đẩy hợp tác và hội nhập

- Theo Chủ nghĩa Tự do, xung đột không phải là hình thái QHQT duy nhấttrong môi trường vô chính phủ, mà bên cạnh đó vẫn có chỗ cho sự hợp tác trongmôi trường vô chính phủ Hợp tác có thể được thực hiện trên cơ sở tương đồng nhấtđịnh chứ không nhất thiết phải có sự hài hòa hay thống nhất Hợp tác có thể diễn ratrong vấn đề cụ thể nào đó mà không nhất thiết phải là trên tất cả các lĩnh vực Xungđột và hợp tác có tác động qua lại với nhau nên phải tính đến cả hai hình thái nàymới đánh giá đúng bản chất và sự vận động của các mối QHQT

- Hợp tác sẽ ngày càng tăng, và dần thay thế cho xung đột, trở thành xu thếchính trong QHQT Đó là do mong muốn hòa bình, nhu cầu thịnh vượng kinh tế,phát huy dân chủ tự do, phát triển kinh tế thị trường, thúc đẩy luật pháp quốc tế và

mở rộng thể chế quốc tế

Trang 24

- Chủ nghĩa Tự do cho rằng hợp tác chính là xu hướng phát triển của lịch sử

QHQT thế giới Xu thế hợp tác phát triển không chỉ về bề rộng mà còn về bề sâuvới sự phát triển của hội nhập quốc tế Hội nhập quốc tế tuy xuất hiện muộn hơnhợp tác từ nửa cuối thế kỳ XIX nhưng phát triển khá mạnh mẽ trong thời kỳ hiệnđại Hiện nay, hội nhập quốc tế tuy chủ yếu diễn ra trong lĩnh vực kinh tế nhưng đãlôi cuốn mọi quốc gia tham gia với nhiều hình thức (khu vực thương mại tự do, liênhiệp thuế quan, thị trường chung…) và cấp độ khác nhau (song phương, khu vực,toàn cầu…)

- Chủ nghĩa Tự do Mới cũng thừa nhận sự tồn tại của hệ thống quốc tế,nhưng đó đơn giản chỉ là một trong những yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng đếnQHQT Chủ nghĩa Tự do chủ yếu quan tâm đến sự tương tác giữa các chủ thểQHQT trong việc hình thành hệ thống và ảnh hưởng đến nhau bên trong hệ thống.Trong hệ thống phụ thuộc lẫn nhau này, các chủ thể rất dễ chịu tác động cũng như

dễ bị tổn thương bởi hành vi của chủ thể khác

- Chủ nghĩa Tự do cũng đề cập đến vai trò của luật pháp quốc tế như một

phương thức khác dù không quá đề cao như dân chủ tự do, kinh tế thị trường haythể chế quốc tế Luật pháp giúp điều chỉnh các quan hệ xã hội theo hướng ngăn chặnxung đột và hợp tác thực hiện các vấn đề chung

- Chủ nghĩa Tự do đề cao vai trò của dân chủ tự do, là yếu tố quan trọng thúcđẩy hợp tác, đảm bảo an ninh và duy trì hòa bình trong QHQT Khi nhân dân thếgiới đều được hưởng quyền tự do cộng hòa, chính phủ các nước trên thế giới đều sẽthi hành chính sách đối ngoại hòa bình

Nhìn từ những luận điểm của lý thuyết chủ nghĩa tự do, mối quan hệ ViệtNam – Thái Lan có nhiều lý do để trở nên gắn bó với nhau hơn Không chỉ đơnthuần là sự hợp tác trên góc độ vì lợi ích của hai quốc gia, mà nó còn là điều kiệnbắt buộc để cả hai nước xây dựng nền kinh tế, chính trị ổn định trong nước, an ninhcủa quốc gia cũng như khu vực

1.2 Cơ sở thực tiễn về mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan

1.2.1 Nhân tố nội tại của Thái Lan

Bối cảnh chính trị - xã hội bất ổn

Trang 25

Trước năm 1932, Thái Lan theo chế độ Quân chủ chuyên chế Ngày10/12/1932 Vua Prachadhipok (Rama VII) đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên vàThái Lan theo chế độ quân chủ lập hiến Hơn 60 năm qua Thái Lan đã thay đổi 16hiến pháp, nhưng chủ yếu vẫn dựa trên cơ sở Hiến pháp 1932 Sau sự kiện19/9/2006, Thái Lan lập chính phủ mới do Thủ tướng Su-ra-dút Chu-la-nôn đứngđầu Sau đó Thái Lan đã tiến hành soạn thảo hiến pháp mới và tổ chức thực hiệnTổng tuyển cử vào tháng 11/2007.

Cuộc đảo chính ngày 19-9-2006 bùng nổ vào đúng thời điểm Thaksin đang ởNew York (Mỹ) tham dự kỳ họp thường niên của Đại hội đồng Liên hợp quốc Toàn

bộ diễn biến của cuộc đảo chính đều hiện hữu ở thủ đô Bangkok, trung tâm chínhtrị, quyền lực của Thailand Phạm vi của cuộc đảo chính thậm chí còn mở rộng tậnsang Mỹ qua mạng lưới truyền thông, vào thời điểm mà Thaksin đang chuẩn bị phátbiểu về “Tương lai dân chủ ở châu Á” Lý do của cuộc đảo chính này bắt nguồn từ

“phong cách Thaksin” tạo ra những lực lượng đối lập mạnh mẽ cho Thaksin, trong

đó tầng lớp trung lưu với thượng lưu thành thị và phần đông giới quân sự giữ vị tríchủ chốt Lực lượng thứ nhất phát động các cuộc biểu tình chống chính phủ trênđường phố trong suốt những tháng đầu năm 2006, dẫn đến cuộc khủng hoảng chínhtrị ngày càng trầm trọng Lực lượng thứ hai đưa cuộc khủng hoảng đó lên đỉnhđiểm, đồng thời chấm dứt nó bằng hành động đảo chính “Phong cách Thaksin” trởthành nguồn gốc quyết định sự kiện ngày 19-9-2006 Ngoài ra phải kể đến một số lí

do quan trọng mang tính chủ quan mà chính phủ Thaksin không may gặp phải Đó

là nạn tham nhũng trong bộ máy quan liêu di căn từ các thời kỳ trước, cùng với đó

là sự gia tăng những tệ nạn xã hội như mại dâm, buôn lậu vũ khí, buôn bán và sửdụng ma túy… sản phẩm của nền văn hóa “mở” thời hiện đại, và nhất là tình trạngtái phát bạo loạn ở miền Nam từ đầu năm 2004

Sau cuộc đảo chính này, tình hình chính trị của Thái Lan rơi vào tình trạngkhủng hoảng triền miên, người dân Thái Lan bị cuốn vào vòng xoáy các cuộc biểutình, hết của phe Áo Đỏ ủng hộ Thaksin đến phe Áo Vàng bảo hoàng và chống đếncùng hệ thống của Thaksin Bên cạnh đó là những phong trào ly khai của người Hồigiáo gốc Malay ở miền Nam Thái Lan chống đối chính quyền tại Bangkok từ hơn

Trang 26

10 năm qua và gia tăng cường độ kể từ năm 2004 Trong khi đó, ở miền Nam Thái Lan,chiến dịch đòi ly khai vẫn diễn ra, tập trung ở vùng Pattani và liên tục lan sang các tỉnhlân cận, đe dọa lan đến thủ đô Bangkok Một loạt xung đột dẫn khiến 1.200 người thiệtmạng trong một thập kỷ, với hơn 1.000 người chết kể từ khi bạo loạn nổ ra tháng1/2004 [69] Vùng bạo loạn là nơi đa số cư dân lại là thiểu số Hồi giáo trên một đấtnước Phật giáo Sau cuộc đảo chính năm 2006, những cuộc đụng độ giữa phe chống đối

và ủng hộ Thaksin diễn ra liên tục; tới năm 2008 tưởng như việc đồng minh chính trịcủa ông Thaksin – Abhisit Vejjajiva, lãnh tụ đảng dân chủ được dân bầu lên để giữ chức

vụ thủ tướng sẽ có thể bình ổn tình trạng chính trị bất ổn này sau khi chính phủ mới đãvượt qua được cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm vào ngày 20 tháng 3 năm 2009; đúng lúcnày lại có hơn 20000 người biểu tình bao vây văn phòng thủ tưởng, đòi chính phủ phải

từ chức, mặc dù chính phủ của thủ tướng Vejjajiva đã phát chi phiếu cho người dânnhưng cũng không mang lại hiệu quả, thậm chí thời gian sau đó người biểu tình cònbao vây và tấn công xe của thủ tướng, dù cuối cùng cuộc biểu tình cũng được dẹp yênvới sự giam cầm những nhà lãnh đạo biểu tình, nhưng tình trạng bạo động cũng đãmang đến những thiệt hại không nhỏ

Liên tục hai năm sau đó các cuộc bạo lực phe phái không lúc nào có dấu hiệudừng lại, tới năm 2011 khi em gái của Thaksin là bà Yingluck Shinawatra lên cầmquyền, sau chiến thắng vang dội trong cuộc bầu cử quốc hội năm đó, thì sóng giótrên chính trường Thái Lan đã tạm lắng lại, dù mâu thuẫn lợi ích phe phái vẫn còn

âm ỉ

Tới năm 2013, bất ổn chính trị lại được đẩy lên cao trào khi bà Thủ tướngYingluck Shinawatra tìm cách thông qua dự luật ân xá gây tranh cãi Bước vàonhững tháng đầu tiên của năm 2014, làn sóng biểu tình vẫn rầm rộ tại Thái Lan vớichiến dịch đóng cửa Bangkok bắt đầu từ ngày 13/1/2014 Người biểu tình vẫn tiếptục bày tỏ sự phản đối đối với Dự luật ân xá của Thủ tướng Yingluck Shinawatra; họcho rằng, mục đích chính của Dự luật ân xá là nhằm "xóa tội" cho cựu Thủ tướngThaksin Shinawatra – anh trai của bà Yingluck thông qua điều khoản xóa tội chocác cá nhân có hành vi sai trái và mở đường cho ông trở về nước mà không phảichịu án tù sau thời gian dài sống lưu vong như: sát hại người biểu tình không có vũ

Trang 27

trang Ông Thaksin đã bị tòa án Thái Lan kết tội tham nhũng và kết án vắng mặt 2năm tù Trong một nỗ lực hạ nhiệt cuộc khủng hoảng chính trị do làn sóng biểu tìnhphản đối chính phủ gây ra, bà Yingluck trước đó đã ra lệnh giải tán Quốc hội và kêugọi tiến hành bầu cử vào ngày 2/2/2014 Tuy nhiên, người biểu tình tuyên bố, họkhông muốn tiến hành bầu cử vì họ biết rõ rằng, đảng Vì nước Thái (Puea Thai) của

bà Yingluck gần như chắc chắn sẽ tiếp tục giành phần thắng nhờ sự ủng hộ của đôngđảo người dân khu vực nông thôn ở đất nước 66 triệu dân này Họ cho biết, sẽ ngăncản bầu cử Và đây chính là nguyên nhân khiến cho cuộc tổng tuyển cử tháng 2 tạiđất nước chùa Vàng này thất bại

Hàng loạt xung đột giữa phe Áo Đỏ (ủng hộ chính phủ của Thủ tướngYingluck) và phe Áo Vàng thuộc lực lượng Liên minh Nhân dân vì Dân chủ (PAD)

đã nổ ra trong 5 năm qua Tháng 5/2014, Tư lệnh lục quân Thái Lan, Tướng PrayutChan-ocha đảo chính quân sự và cầm quyền thay cho đảng Pheu Thai (Vì nướcThái) của bà Yingluck Tháng 8/2015, phe cánh ủng hộ ông Thaksin đã phản đốichính quyền quân sự cấm một số nhà chính trị thuộc phe này hoạt động chính trị.Bên cạnh đó đó là vụ đánh bom gần đền Erawan ở thủ đô Bangkok khiến 20 ngườithiệt mạng và hơn 120 nạn nhân khác bị thương vào tối 17/8/2015 xảy ra vào thờiđiểm căng thẳng gia tăng tại quốc gia bị chia rẽ sâu sắc về mặt chính trị [76]

Theo như lộ trình đã vạch ra, chính quyền quân sự Thái Lan ngày 23/7/2015,

đã công bố chi tiết bản Hiến pháp tạm thời, theo đó, cho phép Tướng Prayuth ChanO-cha trở thành Thủ tướng lâm thời của nước này Điều này có nghĩa, chính quyềnquân sự Thái Lan khẳng định, sẽ vẫn nắm giữ quyền kiểm soát đất nước cho đến khicuộc bầu cử được tổ chức vào thời gian tới theo Hiến pháp mới Theo lộ trình màThủ tướng Thái Lan Prayuth Chan-o-cha đưa ra, bản dự thảo hiến pháp sẽ được đưa

ra trưng cầu dân ý vào tháng 11/2016 Sau đó, một cuộc tổng tuyển cử sẽ được tổchức vào năm 2017 [109] Tuyên bố mới nhất này của Thủ tướng Prayuth là sựkhẳng định công khai của người đứng đầu chính quyền Thái Lan hiện nay cho thấy,

lộ trình cải cách Thái Lan gồm 3 giai đoạn, dự kiến kết thúc vào cuối năm 2016nhưng bị kéo dài sang năm 2017 Hiện Thái Lan đang trong giai đoạn 3 của cuộc cảicách với nội dung là tổ chức một cuộc tổng tuyển cử để thành lập một chính phủ

Trang 28

dân cử Và theo chủ nghĩa tự do thì tình hình chính trị bất ổn có ảnh hưởng khôngnhỏ tới chính sách ngoại giao của một quốc gia.

Kinh tế trong vòng xoáy bất ổn của chính trị

Cũng như chính trị nền kinh tế Thái Lan cũng bị ảnh hưởng nặng nề dokhủng hoảng kinh tế toàn cầu và tình hình chính trị bất ổn trong nước Cứ sau mỗilần đảo chính kinh tế Thái Lan lại phải vật lộn để đi lên

Sau cuộc đảo chính năm 2006, tình hình đầu tư có mức độ tăng trung bình2,7% một năm, nhưng chủ yếu đến từ các nhà đầu tư Thái Lan Sau cuộc khủnghoảng kinh tế năm 2008 thì tình hình đầu tư vào Thái Lan còn ảm đạm hơn, tỷ lệđầu tư công so với GDP trung bình chỉ ở mức 5,7% so với 10% trước cuộc khủnghoảng năm 1998; bên cạnh đo con số này đã giảm xuống chỉ còn 5% trong năm

2008 do những bất ổn chính trị đã trì hoãn các quyết định đầu tư Năm 2009, chínhphủ Thái Lan có công bố chương trình kích thích kinh tế với tổng giá trị khoảng 1,6nghìn tỷ baht (tương đương 45 tỷ USD) Gói kích thích kinh tế này tập trung vàođầu tư công trong các dự án cơ sở hạ tầng Tuy nhiên, Ngân hàng Thế giới chỉ rađầu tư Thái Lan bị hạn chế không phải do kinh phí mà còn do những ràng buộc vềchính trị và thể chế [86] Một phần quan trọng của kinh tế Thái Lan là sự sụt giảmcủa thu nhập trong ngành du lịch, do những cuộc biểu tình và đấu tranh chính trịdiễn ra thường xuyên, điều này đã làm khủng hoảng lòng tin của người tiêu dùng vàkhiến du khách lo ngại Người tiêu dùng Thái Lan đã phải thắt chặt chi tiêu do ngàycàng lo ngại về tình hình chính trị trong nước

Biểu 1.1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Thái Lan từ 2006 – 2014

(đơn vị: tỷ USD)

Trang 29

1 http://search.worldbank.org/all?qterm=GDP+Thailand#

Trang 30

tháng 4/2014 sản lượng ô tô Thái Lan đã giảm ¼ so với cùng kỳ còn 126.730 xe; sốlượng xe bán ra cũng giảm 1/3 còn 73.242 xe [87]

Năm 2015, nền kinh tế Thái Lan lại càng hồi phục chậm hơn do cả nhữngnguyên nhân xuất phát từ bối cảnh kinh tế toàn cầu hồi phục chậm, những ưu đãithuế quan phổ cập mà Liên minh Châu Âu dành cho Thái Lan cũng hết hiện lực làmcản trở tới hàng hóa Thái Lan nhập khẩu vào thị trường này Kể từ khi lên nắmquyền vào tháng 5/2014, Thủ tướng Prayut Chan-O-Cha đã thực hiện chính sách cảicách kinh tế thông qua các biện pháp cải tổ trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế.Nổi bật trong số những chính sách được thực hiện là những thay đổi về ưu đãi, thuhút đầu tư nước ngoài, cải tổ hệ thống doanh nghiệp Nhà nước và phát triển sản xuấthướng vào thị trường nội địa thay vì hướng về xuất khẩu

Với những nỗ lực của Chính quyền quân sự, trong 9 tháng đầu năm 2015kinh tế đã tăng trưởng 2,9% so với cùng kỳ năm ngoái, xuất khẩu đạt kim ngạch161,56 tỉ USD Dự kiến cả năm 2015, kinh tế Thái Lan sẽ tăng trưởng khả quan ởmức 2,7% Một trong những điểm tối của bức tranh kinh tế 2015 là đầu tư nướcngoài giảm mạnh, trong 9 tháng đầu năm 2015 đã giảm 33% so với cùng kỳ năm

2014 Tuy nhiên, du lịch là ngành giúp nền kinh tế Thái Lan khởi sắc Trong đó, sốlượng khách du lịch tăng 9% so với cùng thời điểm của năm 2014 Nhìn chung, cảnăm 2015, nền kinh tế Thái Lan sẽ phục hồi lại đà tăng trưởng và tạo tiền đề chobước phát triển tốt hơn trong năm 2016 [70]

Chính phủ Thái Lan đã thông qua Chiến lược Xúc tiến Đầu tư mới giai đoạn2015-2021 Chiến lược mới đã chính thức có hiệu lực từ tháng 01/2015 So vớichiến lược được thông qua vào năm 2013, sự khác biệt nổi bật bao gồm: thay đổi về

cơ chế ưu tiên các nhà đầu tư nước ngoài; mở rộng phạm vi hỗ trợ thông qua cáchoạt động tăng cường tính cạnh tranh Trước đây, mức độ ưu tiên các nhà đầu tưnước ngoài được phân loại dựa trên yếu tố địa lý (geography) tại 03 khu vực chính:Bangkok, Nakhon Pathom, Nonthaburi, Pathoum Thani, Samut Prakan, và SamutSakhon; Ang Thong, Ayutthaya, Chachoengsao, Chon Buri, Kanchanaburi, NakornNayok, Ratchaburi, Samut Songkhram, Saraburi, Supanburi, Phuket và Rayong; và

59 tỉnh thành còn lại Tuy nhiên, Chiến lược Xúc tiến Đầu tư mới giai đoạn

Trang 31

2015-2021 sẽ phân loại mức độ ưu tiên đối với các nhà đầu tư theo từng nhóm ngànhcông nghiệp Ngoài ra, chiến Chiến lược Xúc tiến Đầu tư mới của Chính phủ TháiLan sẽ dành nhiều ưu đãi đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực nghiên cứu và pháttriển, thiết kế sản phẩm và bao bì, đào tạo công nghệ và phát triển các nhà phân phốinội địa Điều này giúp Chính phủ Thái Lan gián tiếp điều tiết sự phát triển của cácngành công nghiệp là trọng tâm phát triển trong chiến lược kinh tế tổng thể.

Song song với việc thực hiện các chính sách ở trên, Chính phủ Thái Lan cũngđang rất tích cực phát triển các mối quan hệ về thương mại, đầu tư và du lịch vớinước ngoài, trong đó, ưu tiên kết nối với các nền kinh tế trong khu vực như TrungQuốc, Nhật Bản, Hàn Quốc Đồng thời, Chính phủ cũng bày tỏ rõ quan điểm xúctiến đàm phán nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) và coi đây là trọng tâm quantrọng trong chiến lược phát triển thương mại của Thái Lan thời gian tới Thái Lanhiện có tổng cộng 12 FTA với các nước và khu vực và đang xem xét xúc tiến đàmphán tiếp với Pakistan và Thổ Nhĩ Kỳ Hiện nay, một trong những mối quan tâm lớnnhất của Chính phủ là cân nhắc việc tham gia Hiệp định Đối tác Xuyên Thái BìnhDương (TPP) trong bối cảnh một số nền kinh tế trong khu vực là thành viên củaTPP đang bắt đầu cho thấy hiệu quả mà TPP mang lại, đặc biệt là trong việc thu hútđầu tư nước ngoài dù nó chưa chính thức được thực hiện Phía cộng đồng doanhnghiệp trong và ngoài nước tại Thái Lan cũng tỏ ra hết sức sốt sắng và mong muốnChính phủ sớm tham gia đàm phán để gia nhập trong thời gian tới Bên cạnh đó,Thái Lan cũng đang tham gia tích cực vào đàm phán các hiệp định thương mại đaphương khác như APEC, RCEP, Tất cả những động thái này cho thấy Chính phủThái Lan đang tăng cường hội nhập sâu rộng hơn nữa vào nền kinh tế thế giới.Những mục tiêu kinh tế nhằm thúc đẩy sự hồi phục nền kinh tế nhiều biến động cóảnh hưởng rất lớn tới chính sách đối ngoại của quốc gia này

Chính sách ngoại giao của Thái Lan

Thái Lan là nước duy nhất trong khu vực chưa từng bị đô hộ Các nhà họcgiả luôn chỉ trích về sự bất ổn phân hóa chính trị đã cản trở sự linh hoạt của chínhsách ngoại giao Thái Lan Thực tế, nhìn vào lịch sử, Thái Lan luôn phải đối mặt vớinhững bất ổn và mâu thuẫn trong nước Dù Thái Lan có làm gì đi nữa, trên phương

Trang 32

diện cá nhân hay thay mặt ASEAN, thì vẫn bị cho là hành vi chịu sự tác động từ cácnước phương Tây, đặc biệt là Mỹ Trong ý nghĩ của người Thái, chính sách nàycũng đồng nghĩa với việc không có quyết định nào được thực hiện cho đến khi cóngười chiến thắng Nếu có thể và mọi sự thuận lợi, Thái Lan sẽ nhảy sang “con tàuchiến thắng” [68]

Tuy nhiên, sau cuộc đảo chính quân sự hồi tháng 5/2014, các tướng lĩnhthuộc Hội đồng vì Hòa bình và Trật tự Quốc gia cầm quyền ở Thái Lan cảm thấytức giận với những chỉ trích gay gắt từ Mỹ, và đang có xu hướng áp dụng chiến lượcngoại giao mềm dẻo để ngả sang Bắc Kinh Kể từ sau vụ đảo chính, số lượng cácchuyến viếng thăm cấp cao giữa các lãnh đạo Thái Lan và Trung Quốc đã tăngmạnh Tháng 12/2014, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường tới Bangkok vàingày trước khi tướng Prayuth Chan-ocha, người đứng đầu chính quyền quân sự TháiLan, có chuyến thăm đáp lễ Tháng 2/2015, Bộ trưởng Quốc phòng Trung QuốcThường Vạn Toàn tới Thái Lan và tới tháng 4, đến lượt Phó chủ tịch Quân ủy trungương Trung Quốc Hứa Kỳ Lượng công du tới quốc gia Đông Nam Á này

Vào mùa hè 2015, trước khi tới Bắc Kinh, Bộ trưởng Quốc phòng Thái LanPrawit Wongsuwan tuyên bố đang thương thảo với Trung Quốc để mua ba tàu ngầmtấn công trị giá một tỷ euro Dù thỏa thuận này không được cụ thể hóa do nhữngquan ngại từ phía Mỹ, nó cho thấy sự cạnh tranh ảnh hưởng ở Thái Lan ngày cànggay gắt giữa hai cường quốc Trong lĩnh vực kinh tế, sự năng động của cộng đồngngười Hoa ở Thái Lan với nhiều doanh nhân thành đạt và có vị trí trong xã hội sở tạicũng giúp tạo nên mối liên kết thương mại giữa Bangkok và Bắc Kinh sau khiTrung Quốc thực hiện chính sách mở cửa vào cuối những năm 1970 Hai bên đã đadạng hóa lĩnh vực thương mại song phương Trung Quốc và Thái Lan đang thảoluận để thực hiện một dự án đường sắt cao tốc tham vọng nối biên giới Lào với vịnhThái Lan trị giá 11,8 tỷ USD Trung Quốc cũng đã hứa hẹn sẽ mua hai triệu tấn gạo

và 200.000 tấn cao su của Thái Lan [81]

Với những chuyển biến này thì chính sách đối ngoại của Thái Lan cũng sẽcòn rất nhiều thay đổi, bởi tranh chấp biển đông giữa ASEAN và Trung Quốc đang

là vấn đề nóng trong giai đoạn này Giữ nhiệm vụ hàn gắn quan hệ ASEAN – Trung

Trang 33

Quốc, Thái Lan có một vai kép trong vòng 03 năm gần đây (từ 2013 – 2015) Ưutiên hàng đầu trong chính sách ngoại giao của Thái Lan thời điểm này là phải bảođảm sự tiến triển trong các nỗ lực chung nhằm dự thảo Quy tắc ứng xử trên biểnĐông Sự tin tưởng lẫn nhau cần phải được phục hồi càng sớm càng tốt.

1.2.2 Nhân tố nội tại của Việt Nam

Bối cảnh chính trị

So với Thái Lan thì nền chính trị Việt Nam ổn định hơn Chế độ chính trịViệt Nam là thể chế chính trị một đảng duy nhất cầm quyền Trong những giai đoạnlịch sử nhất định, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam còn có Đảng Dân chủ và Đảng Xãhội Tuy nhiên, hai đảng này được tổ chức và hoạt động như những đồng minhchiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam, thừa nhận vai trò lãnh đạo và vị trí cầmquyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam Hệ thống chính trị ở Việt Nam là thếchế nhất nguyên chính trị, không tồn tại các đảng chính trị đối lập Hệ thống chínhtrị Việt Nam gắn liền với vai trò tổ chức và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam.Mỗi tổ chức thành viên của hệ thống chính trị đều do Đảng Cộng sản Việt Nam sánglập, vừa đóng vai trò là hình thức tổ chức quyền lực của nhân dân (Nhà nước), tổchức tập hợp, đoàn kết quần chúng, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của quầnchúng (Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội), vừa là tổ chức mà qua đóĐảng Cộng sản thực hiện sự lãnh đạo chính trị đối với xã hội

Hệ thống chính trị Việt Nam bao gồm nhiều tổ chức có tính chất, vị trí, vaitrò, chức năng khác nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽ, gắn bó với nhau, tạo thànhmột thể thống nhất Sự thống nhất của các thành viên đa dạng, phong phú về tổchức, phương thức hoạt động trong hệ thống chính trị đã tạo điều kiện để phát hiệnsức mạnh tổng hợp và tạo ra sự cộng hưởng sức mạnh trong toàn bộ hệ thống Đặcđiểm nổi bật của hệ thống chính trị Việt Nam là hệ thống chính trị đại diện chonhiều giai cấp, tầng lớp nhân dân Các giai cấp, tầng lớp nhân dân được đại diện bởicác tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị, đều thừa nhận vai trò lãnh đạo củagiai cấp công nhân Do vậy, hệ thống chính trị nước ta mang bản chất giai cấp côngnhân và tính dân tộc sâu sắc

Trang 34

Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nướcthuộc về nhân dân Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnhvực của đời sống xã hội Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trìnhđưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân.

Theo tinh thần nội dung Hiến pháp năm 2013, liên quan đến dân chủ trựctiếp và dân chủ đại diện, Văn kiện Đại hội XII của Đảng xác định: Thể chế hoá vànâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền

và nghĩa vụ công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 Tập trung xây dựngnhững văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền làm chủ của nhân dân Pháthuy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội Tiếp tục thực hiệntốt Quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 06-4-

2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.Thể chế hóa và thực hiện tốt phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểmtra, giám sát"

Trên thực tế, có thể chỉ ra sự tương phản giữa thứ hạng thấp mà Việt Nam bịxếp theo điều tra của các tổ chức quốc tế về dân chủ, tự do với sự đánh giá cao màchính các công dân Việt Nam dành cho hệ thống chính trị ở Việt Nam Trong cáccuộc điều tra dư luận xã hội của các tổ chức khác nhau tại Việt Nam, kể cả điều tracủa một số tổ chức nước ngoài, kết quả cho thấy người dân tỏ ra tin tưởng cao đốivới Nhà nước Hơn 90% số người được thăm dò trả lời tin tưởng vào Chính phủ,Quốc hội và Đảng Các nhà điều tra của cuộc Điều tra về giá trị thế giới cho biết:mức độ tin tưởng vào thể chế chính trị của Việt Nam là rất cao khi so sánh với đa sốcác nước khác ở vùng Đông Á Một điểm cần nhấn mạnh hơn khi 96% số ngườiViệt Nam được hỏi trả lời tích cực về hệ thống quản lý nhà nước [82]

Thực tế xây dựng và thực hành dân chủ trực tiếp ở cơ sở tại Việt Nam cũngtương đồng với nhiều nước trên thế giới Nhìn chung, mục tiêu đề ra của nhiều nước

là khuyến khích sự tham gia của người dân, trước tiên ở cấp hành chính thấp nhất,nơi mà người dân gần gũi nhất với các thể chế có tác động đến cuộc sống của họ.Tại Việt Nam cũng như nhiều nước, sự tham gia của người dân vào công tác quản

Trang 35

lý ở địa phương diễn ra từ mức độ tham vấn hạn chế cho tới sự tham gia và kiểmsoát tích cực.

Kinh tế

Nhìn lại lịch sử dân tộc cho thấy, trước những khó khăn, chính nhờ có sựđồng thuận của nhân dân “triệu người như một”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộcViệt Nam đã làm nên những kỳ tích có ý nghĩa thời đại Truyền thống dân tộc, lòngtin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng là sức mạnh vô địch để dântộc Việt Nam tiến lên phía trước Điều này càng được khẳng định thông qua đánhgiá về tăng trưởng kinh tế của nước ta trong những năm gần đây

Văn kiện Đại hội XII Đảng CSVN đánh giá Việt Nam đã thoát khỏi khủnghoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển

có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhậpquốc tế Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa từng bước hình thành, phát triển Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam hiện phát triểnchưa bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng, yêu cầu và thực tế nguồn lực đượchuy động Trong 10 năm gần đây, kinh tế vĩ mô thiếu ổn định, tốc độ tăng trưởngkinh tế suy giảm, phục hồi chậm Chất lượng, hiệu quả, năng suất lao động xã hội

và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, phát triển thiếu bền vững

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2015 [97] ước tính tăng 6,68% so vớinăm 2014, mức tăng trưởng năm 2015 cao hơn mục tiêu 6,2% đề ra và cao hơn mứctăng của các năm từ 2011-2014, cho thấy nền kinh tế phục hồi rõ nét Trong mứctăng 6,68% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,41%,thấp hơn mức 3,44% của năm 2014, đóng góp 0,4 điểm phần trăm vào mức tăngchung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,64%, cao hơn nhiều mức tăng6,42% của năm trước, đóng góp 3,2 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,33%,đóng góp 2,43 điểm phần trăm Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngànhlâm nghiệp có mức tăng cao nhất với 7,69%, nhưng do chiếm tỷ trọng thấp nên chỉđóng góp 0,05 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành nông nghiệp mặc dùtăng thấp ở mức 2,03% do ảnh hưởng của thiên tai, hạn hán, nhưng quy mô trongkhu vực lớn nhất (chiếm khoảng 75%) nên đóng góp 0,26 điểm phần trăm; ngành

Trang 36

thủy sản tăng 2,80%, đóng góp 0,09 điểm phần trăm, là mức tăng trưởng thấp nhấtcủa ngành này trong 5 năm qua do đối mặt với nhiều khó khăn về thời tiết, dịchbệnh, giá cả và thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 9,39% sovới năm trước, trong đó côngnghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,60%, cao hơn nhiềumức tăng của một số năm trước, đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng của khu vực II

và góp phần quan trọng trong mức tăng trưởng chung Ngành khai khoáng tăng6,50% Ngành xây dựng đạt mức tăng 10,82% so với năm trước, đây là mức tăngcao nhất kể từ năm 2010

Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mứctăng trưởng chung như sau: Bán buôn và bán lẻ chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt mứctăng 9,06% so với năm 2014, đóng góp 0,82 điểm phần trăm vào mức tăng chung;hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,38%, đóng góp 0,41 điểm phầntrăm; hoạt động kinh doanh bất động sản được cải thiện hơn với mức tăng 2,96%,cao hơn mức tăng 2,80% của năm trước và chủ yếu tập trung vào mua nhà ở, đónggóp 0,16 điểm phần trăm

Quy mô nền kinh tế năm nay theo giá hiện hành đạt 4192,9 nghìn tỷ đồng;GDP bình quân đầu người năm 2015 ước tính đạt 45,7 triệu đồng, tương đương

2109 USD, tăng 57 USD so với năm 2014 Cơ cấu nền kinh tế năm nay tiếp tục có

sự chuyển dịch nhưng tốc độ chậm, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sảnchiếm tỷ trọng 17,00%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,25%; khu vựcdịch vụ chiếm 39,73% (thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm là 10,02%) Cơ cấutương ứng của năm 2014 là: 17,70%; 33,21%; 39,04% (thuế là 10,05%) Xét về góc

độ sử dụng GDP năm 2015, tiêu dùng cuối cùng tăng 9,12% so với năm 2014, đónggóp 10,66 điểm phần trăm vào mức tăng chung; tích lũy tài sản tăng 9,04%, đónggóp 4,64 điểm phần trăm; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ làm giảm8,62 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung

Trang 37

Biểu 1.3: Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam (%)

(Nguồn: indexmundi.com) 3

Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu chủ yếu 5 năm 2011 – 2015

(Nguồn:chinhphu.vn) 4

Trang 38

Chính sách ngoại giao

Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chủ trương: “Thực hiện nhất quán đường lốiđối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạnghóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thànhviên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì mộtnước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh” Báo cáo Chính trị xác định: “Nhiệm

vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất vàtoàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấutranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” [88]

Trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị hội nhập sâu rộng, đường lối đối ngoạicủa Đại hội XI đã có một số phát triển mới, quan trọng để phù hợp với nhiệm vụmới và tình hình mới, cụ thể là:

- Lợi ích quốc gia - dân tộc vừa là mục tiêu vừa là nguyên tắc cao nhất củacác hoạt động đối ngoại Lợi ích quốc gia - dân tộc là lợi ích tối cao của gần 90 triệunhân dân Việt Nam và hơn 4 triệu người Việt Nam ở nước ngoài

- Hội nhập quốc tế trở thành định hướng đối ngoại lớn, lấy hội nhập kinh tế

là trọng tâm và mở rộng sang các lĩnh vực khác: chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa-xã hội và ở mọi cấp độ song phương, khu vực, đa phương và toàn cầu

- Từ chủ trương “là bạn và đối tác tin cậy” của Đại hội IX, Đại hội XI bổ

sung thêm Việt Nam là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế

- Xây dựng cộng đồng ASEAN trở thành một trọng tâm đối ngoại Đại hội

XI khẳng định Việt Nam là thành viên ASEAN, cam kết phấn đấu cùng các nướcxây dựng thành công Cộng đồng ASEAN

Các hoạt động đối ngoại sẽ được triển khai đồng bộ, toàn diện trên cơ sởphát huy tiềm lực của mọi lực lượng và thực thi trên mọi kênh, nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trên mặt trận đối ngoại

Trang 39

32

Trang 40

Tuy nhiên, việc Trung Quốc gần đây triển khai giàn khoan HD-981 và hối hảhoàn tất xây dựng đường bay trên các đảo nhân tạo (tại Trường Sa) cho thấy ViệtNam, cũng như một số nước Đông Nam Á khác, sẽ phải đối mặt với một thời kỳkhó khăn trong quan hệ với Trung Quốc, vốn luôn chủ trương hành động đơnphương thay vì hợp tác.

1.2.3 Nhân tố bên ngoài

Tình hình chính trị trên thế giới từ năm 2006 đến 2015 luôn tồn tại nhữngnguy cơ, thách thức, mối đe doạ nhiều loại, nhiều mặt, từ nhiều phía Chúng tácđộng, ảnh hưởng tiêu cực đến hoà bình, ổn định của thế giới cũng như an ninh củacác quốc gia, dân tộc và cuộc sống của tất cả mọi người Tiêu biểu nhất là các hoạtđộng khủng bố nguy hiểm, là hiểm hoạ mang tính toàn cầu Quy mô và cường độhoạt động của khủng bố có giảm vào giai đoạn từ 2006 đến 2009, nhưng lại tăng độtbiến trong giai đoạn từ 2013 đến 2015; Các tổ chức khủng bố đang tích cực củng cố

về mặt tổ chức, bổ sung lực lượng, phát triển các phương tiện khủng bố kĩ thuật cao,trong đó số người tham gia lực lượng khủng bố trong các nước thuộc ASEAN, đặcbiệt là Indonesia không ngừng gia tăng

Chủ nghĩa bá quyền cũng thực sự là một thách thức, mối đe doạ với hoàbình, ổn định thế giới, an ninh của các quốc gia, dân tộc, Trung Quốc cũng khôngngừng gia tăng sức mạnh của mình trên biển Đông, tạo ra nhiều mâu thuẫn và có cảnguy cơ xung đột vũ trang với các nước láng giềng như Nhật Bản, Hàn Quốc,Philippines và Việt Nam

Chiến tranh và xung đột vũ trang là mối đe doạ, thách thức mang tính truyềnthống, bên cạnh đó là sự tồn tại của các mâu thuẫn, đối kháng giai cấp, tôn giáo, tiêubiểu nhất là sự bất ổn tại khu vực Trung Đông từ năm 2006 đến nay vẫn chưa códấu hiệu giảm nhiệt, biểu hiện bằng cả chiến tranh, xung đột vũ trang, khủng hoảngchính trị, khủng hoảng nhân đạo…, những cuộc nội chiến giữa người Hồi giáo dòngSi-ai và Săn-ni gây nên bất ổn ở những nước như Irắc hay Siri Trong khi đó tại khuvực châu Á, Triều Tiên đang trở thành một điểm nóng trong những năm gần đây với

sự bất đồng và mâu thuẫn về chính trị và an ninh với Hàn Quốc và các nước đồngminh, trong đó có Mĩ và Nhật Bản

Ngày đăng: 27/10/2020, 21:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w