Nhận thức sâu sắc vai trò củagiáo dục đại học với sự phát triển KT - XH, cùng với sự định hình đường lối đổi mớitrên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, đường lối phát tri
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*****
NGUYỄN VĂN SƠN
QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Mã số: 60 31 02 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Xuân Tuất
Hà Nội – 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướngdẫn của PGS.TS Đỗ Xuân Tuất Các số liệu, tài liệu trình bày trong luận văn là trungthực, đảm bảo tính khách quan, khoa học Các tài liệu có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.Những kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
Tác giả Luận văn
Nguyễn Văn Sơn
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Hiệp Định đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific
TPPStrategic Economic Partnership Agreement )
Hiệp Hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast ASEANAsian Nations)
Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Organization) WTO
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 13
1.1 Về lý luận 13
1.2 Về thực tiễn 18
1.3 Phát triển giáo dục đại học - những khái niệm cơ bản 25
Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 30
2.1 Xác định giáo dục đại học là quốc sách hàng đầu 30
2.2 Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 34
2.3 Phát triển hệ thống giáo dục đại học 41
2.4 Phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục đại học 45
2.5 Xã hội hóa giáo dục đại học và tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục đại học 49 Chương 3 TIẾP TỤC ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THEO QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 54
3.1 Góp phần vào thành tựu chung về công tác lý luận trong thời kỳ đổi mới 54
3.2 Tạo bước phát triển mới đối với giáo dục đại học, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế 56
3.2.1 Ưu điểm và nguyên nhân 56
3.2.2 Hạn chế và nguyên nhân 65
3.3 Một số vấn đề tồn tại của giáo dục đại học Việt Nam cần phải giải quyết gấp rút và có tính lâu dài 71
3.4 Giải pháp phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam đến năm 2020 72
3.4.1 Những yếu tố tác động đến giáo dục đại học Việt Nam thời gian tới 72
3.4.2 Giải pháp phát triển giáo dục đại học 82
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, khoa học và công nghệ (KH – CN) có những bước tiến kỳ diệu.Kinh tế tri thức ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển lực lượngsản xuất, tạo ra năng suất lao động ngày càng cao Hội nhập kinh tế quốc tế và toàncầu hóa là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, tuy nhiêntoàn cầu hóa đang bị một số nước phát triển và tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốcgia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có những mặt tích cực, song vừa cómặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh
Dưới tác động của cuộc cách mạng KH - CN, đặc biệt là công nghệ thông tin ởvào nửa sau thế kỷ XX đến nay, nền kinh tế thế giới đã có những bước chuyển biếnmạnh mẽ, sâu rộng về cơ cấu ngành nghề, về vai trò của các yếu tố trong sản xuất sảnxuất Sự thay đổi này không chỉ đơn giản là sự chuyển đổi về lượng mà là sự chuyểnđổi về chất hay nói cách khác đó là sự chuyển dịch từ nền kinh tế công nghiệp sangnền kinh tế tri thức Sự dịch chuyển này kéo theo một loạt sự biến đổi sâu sắc về cácmặt của đời sống xã hội
Sự thay đổi sâu sắc trong cơ cấu ngành nghề, đời sống KT - XH trở thành yêucầu khách quan đối với giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng Trong lĩnhvực giáo dục đại học, nhờ có sự hỗ trợ về công nghệ thông tin, giáo dục đại học cácnước đang có sự phát triển không ngừng, là nền tảng cho sự phát triển của tri thứcnhân loại Bên cạnh đó giáo dục đại học phải tự đổi mới để thích nghi với sự biến đổimau lẹ của xã hội, đổi mới giáo dục là một xu thế tất yếu hiện nay
Tháng 1- 2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổchức thương mại thế giới (WTO) Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thếgiới đánh dấu mốc quan trọng trong việc hội nhập nền kinh tế thế giới của Việt Nam.Trở thành viên của WTO, ngoài những thuận lợi thì nền kinh tế Việt Nam cũng phảiđối mặt với nhiều khó khăn thách thức mới trong sân chơi quốc tế đặc biệt là việccạnh tranh từ các công ty nước ngoài, các hàng rào bảo hộ của nhà nước bị rỡ bỏ.Trong khi nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh của nềnkinh tế còn thấp nhiều vấn đề kinh tế - xã hội (KT – XH) khác còn chậm được giảiquyết, gây nhiều bức xúc trong xã hội, nguồn nhân lực có
Trang 6trình độ và tay nghề vừa thiếu lại vừa yếu đó thực sự là một thách thức đối với ViệtNam.
Tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập quốc tếĐảng, Nhà nước Việt Nam đã dành sự quan tâm đặc biệt, tạo điều kiện cho giáo dụcđại học phát triển, nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệpphát triển đất nước là một vấn đề thức thiết Phát triển giáo dục đại học sẽ tạo tiền đề,động lực thúc đẩy và hoàn thành CNH, HĐH
Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12 - 1986) đã khởi xướngđường lối đổi mới toàn diện đất nước Đại hội nhận định đổi mới giáo dục là vấn đềcấp bách là động lực, là nền tảng cho phát KT - XH Nhận thức sâu sắc vai trò củagiáo dục đại học với sự phát triển KT - XH, cùng với sự định hình đường lối đổi mớitrên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, đường lối phát triển giáo dục -đào tạo (GD – ĐT) cũng từng bước được Đảng Cộng sản Việt Nam bổ sung và pháttriển hoàn thiện, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục đại học
Thế kỷ XXI được dự đoán là thế kỷ của KH - CN, của nền kinh tế tri thức Do
đó, đổi mới và phát triển giáo dục đại hoc phải đi trước một bước thậm chí là nhiềubước so với những lĩnh vực và ngành nghề khác, để tạo tiền đề cho phát triển KT -
XH Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: phải thực sự coi GD – ĐT là quốc sáchhàng đầu phục vụ đắc lực sự nghiệp CNH, HĐH hóa đất nước, trong đó chú ý pháthuy vai trò tích cực của giáo dục đại học
Chiến lược phát triển KT - XH 10 năm (2011 – 2020) một lần nữa khẳng địnhvai trò của lĩnh vực giáo dục đại học với sự phát triển của đất nước, đó là: Phát triểnnhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổimới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồnnhân lực với phát triển và ứng dụng KH - CN
Thực hiện đường lối phát triển GD - ĐT, trong đó phát triển giáo dục đại học
là một khâu then chốt trong đường lối đổi mới, giáo dục đại học Việt Nam đã đạtđược nhiều thành tựu quan trọng, góp phần tích cực vào sự nghiệp CNH, HĐH và hộinhập quốc tế Tuy nhiên, đến nay nền giáo dục đại học Việt Nam vẫn còn nhiều hạnchế, bất cập Chất lượng, hiệu quả GD - ĐT còn thấp so với yêu cầu phát triển KT -
XH của đất nước; Quản lí GD - ĐT còn nhiều yếu kém; Đội ngũ nhà giáo và cán bộ
Trang 7quản lí giáo dục còn nhiều bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; Đầu tư cho GD
- ĐT chưa hiệu quả Chính sách, cơ chế tài chính cho GD - ĐT chưa phù hợp… Dovậy, đổi mới và phát triển giáo dục đại học đáp ứng sự phát triển nhanh và bền vữngcủa đất nước là một nhu cầu bức thiết
Chính với những lý do trên tôi quyết định lựa chọn đề tài “Quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay” làm
nội dung nghiên cứu Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Chính trị học
2 Tình hình nghiên cứu
Ngày nay cuộc cách mạng KH - CN đang có những bước tiến nhảy vọt trongnhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin Điều đó đang hướngnhân loại bước vào nền văn minh trí tuệ với hai đặc trưng cơ bản là "xã hội thông tin"
và "kinh tế tri thức" Với xã hội thông tin và kinh tế tri thức, những thế mạnh tươngđối về nguồn lao động, tài nguyên thiên nhiên đã mất dần ý nghĩa và lợi thế đang dầnthuộc về những quốc gia có lực lượng lao động được đào tạo ở trình độ cao đáp ứngđược sự đòi hỏi của sự tiến bộ về KH - CN; sản phẩm được tạo ra ngày càng phảnánh sự kết tinh từ "chất xám", từ trí tuệ chứ không phải chủ yếu từ cơ bắp
Những năm gần đây, khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu với thế giới, bêncạnh những thuận lợi thì những thách thức luôn song hành Thực hiện đường lối đổimới đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Namkhẳng định đổi mới đất nước trên mọi phương diện Trong đó, đổi mới giáo dục nóichung và giáo dục đại học nói riêng là một khâu quan trọng then chốt GD - ĐT đượcxem là quốc sách hàng đầu, được ưu tiên, tạo điều kiện phát triển nhằm đào tạo nguồnnhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Do tầm quan trọngcủa nó, giáo dục đại học đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Đã có rấtnhiều công trình khoa học được công bố trên các sách báo, tạp chí với mong muốnchỉ ra những phương hướng và giải pháp nhằm phát triển giáo dục đại học Việt Nam
Liên quan đến vấn đề giáo dục nói chung có thể kể đến các công trình như: Đổi mới căn bản, toàn diện GD - ĐT Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội (Ban
Tuyên giáo Trung ương - Tổng cục dạy nghề - Viện nghiên cứu phát triển phương
Đông (2012)); Giáo dục Việt Nam hướng tới thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
6
Trang 8Nội (Vũ Đình Cự (chủ biên) (1990)); Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục, Hà Nội (Trần Khánh Đức (2010)); Bàn về triết lý giáo dục Việt Nam, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội (Phạm Minh Hạc – Phan Văn Kha (chủ biên) (2013)); Mười năm đổi mới giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội ( Phạm Minh Hạc (1996)); Nguyễn Thế Long (2006): Đổi mới tư duy, phát triển giáo dục Việt Nam trong kinh tế thị trường, Nxb Lao động, Hà Nội…cụ thể như sau:
- Năm 2002, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách:“GD - ĐT trong thời kỳ đổi mới: Chủ trương, thực hiện, đánh giá”, do Ban Khoa giáo Trung ương tổ
chức biên soạn Cuốn sách gồm những văn kiện của Đảng và Nhà nước về GD - ĐT,một số bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã tập trung đánhgiá những ưu điểm và khuyết điểm của ngành giáo dục trong những năm gần đây,đồng thời chỉ ra phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện trong thời gian tới
- Giáo dục Việt Nam 1945 – 2005 (2004), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
cuốn sách đã nêu một cách tổng quan về phát triển giáo dục ở Việt Nam, nhữngchặng đường phát triển từ 1945 – 1986 và giáo dục Việt Nam thời kỳ đổi mới
- Năm 2007, Nhà xuất bản giáo dục cho ra mắt cuốn “Giáo dục Việt Nam – đổi
mới và phát triển hiện đại hóa” Cuốn sách là cái nhìn tổng quát về phương hướng phát triển
của nền giáo dục Việt Nam từ năm 1945 đến 2006 và tầm nhìn đến năm 2020 Phát
triển giáo dục Việt Nam là đòi hỏi bức thiết phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.Đồng thời đã nêu những chính sách, chiến lược phát triển giáo dục trong thời kỳCNH, HĐH đất nước trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay và các giải pháp đổimới hệ thống giáo dục ở Việt Nam Mặt khác, qua đây tác giả cũng nhấn mạnh vai trò
to lớn của giáo dục - là nhân tố then chốt của sự phát triển của một quốc gia và ViệtNam cũng không phải một ngoại lệ
- Phạm Tất Dong – Đào Hoàng Nam (2011): Phát triển giáo dục hướng tới một xã
hội học tập, Nxb Dân trí, cuốn sách đưa ra bối cảnh kinh tế xã hội Việt Nam những năm 80
của thế kỷ XX, đưa ra quan điểm xác định giáo dục là động lực là mục tiêu cho sự phát triển,đổi mới tư duy về giáo dục, xây dựng xã hội học tập, những thách thức mà nền giáo dục ViệtNam gặp phải trong sự phát triển Đồng thời cuốn sách đưa ra
những định hướng phát triển giáo dục Việt Nam
Trang 9- Năm 2011, Ban Tuyên giáo Trung ương đã xuất bản cuốn sách “Đổi mới căn bản,toàn diện GD - ĐT Việt Nam”, Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia, cuốn sách gồm 3 phần(Phần 1: Đổi mới căn bản, toàn diện, GD - ĐT; Phần 2: Đổi mới và phát triển dạy nghề ởViệt Nam; Phần 3: Đổi mới và phát triển các trường ngoài công lập ở Việt Nam) tậphợp các bài viết của nhiều tác giả, bàn về những vấn đề căn cốt nhất tại sao phải đổimới giáo dục và đổi mới như thế nào, những vấn đề gì là trọng tâm.
- Nguyễn Văn Lượng: “Đổi mới quản lý – khâu đột phá trong đổi mới căn bản và
toàn diện giáo dục”, Tạp chí Lý luận Chính trị, Số 12 năm 2013 Bài viết đã đưa ra thực
trạng quản lý giáo dục hiện nay những thành tựu, những hạn chế và khẳng định đổi mới quản
lý là khâu then chốt cả đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam…
- Trần Ngọc Hiên: “Chất lượng GD - ĐT – Nhân tố quyết định sự phát triển bền
vững của Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, Số 854 tháng 12 năm 2013 Bài viết đã
khẳng định muốn giải quyết vấn đề chất lượng phát triển, như thực tiễn đặt ra chỉ cóthể bắt đầu từ chất lượng giáo dục, đào tạo nhân lực Do đó, cần nhận thức được vịtrí, vai trò của GD - ĐT trong giai đoạn hiện nay và đưa ra mấy vấn đề quyết địnhtrong chiến lược cải cách giáo dục
- Trần Thị Kiều Nga:“Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH”, Tạp chí Lịch sử Đảng, Số 3 năm 2014 Bài viết là đưa ra những quan điểm
cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực giai đoạn hiên nay,khẳng định quan điểm: phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cần tập trung vào đổimới căn bản toàn diện GD - ĐT và đưa ra những quan điểm về đổi mới giáo GD - ĐT
- Bùi Đình Phong: “Đổi mới căn bản, toàn diện GD – ĐT trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh”, Đặc sản Hồ Chí Minh (Viện Hồ Chí Minh – Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh), Số 4 năm 2013 Bài viết đã chỉ ra sự cần thiết của việc đổi mới căn
bản, toàn diện GD - ĐT, những mục tiêu, phương châm, phương pháp giáo dục trênnền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh
- Nguyễn Thị Mai:“Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về
hợp tác GD - ĐT với các nước ASEAN từ năm 1995 đến năm 2010”, luận án tiến sĩ chuyên
ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm
2013 Luận án đã nêu lên những quan điểm cơ bản, sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt
Trang 10Nam về hợp tác giáo dục với các nước ASEAN từ 1995 đến 2010 và đưa ra một sốkinh nghiệm sau khi đánh giá kế quả thực hiện.
Các công trình trên đã đưa ra một cách khái quát các vấn đề về giáo dục ViệtNam như những chặng đường phát triển, cơ sở lí luận và thực tiễn về xây dựng chiếnlược phát triển GD - ĐT ở Việt Nam hiện nay, với những định hướng, mục tiêu pháttriển của giáo dục Nhằm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam theo hướngchuẩn hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế trong GD - ĐT Chỉ ra vai trò của GD - ĐTđối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, sự tác động của kinh tế thị trường, vận dụng
cơ chế thị trường trong phát triển giáo dục…, đào tạo nguồn nhân lực nhân tài phục
vụ sự nghiệp CNH,HĐH đất nước
Một số công trình liên quan đến giáo dục đại học như:
- “Giáo dục đại học – quan điểm và giải pháp” của Lê Đức Ngọc, Nhà xuất bản
Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2004 Cuốn sách này bao gồm các bài tham luận tuyểnchọn từ các hội thảo quốc gia và quốc tế của tác giả, trình bày các quan điểm và giải pháp
về giáo dục đại học cho giai đoạn 1995 – 2010 Các quan điểm và giải pháp về giáo dụcđại học trình bày trong cuốn sách này được tác giả
đúc rút, từ các học giả trong nước, ngoài nước và kinh nghiệm của tác giả trong quá trình công tác
- Năm 2004, Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản cuốn sách: Giáo dục đại học Việt Nam, do Đoàn Duy Lục, Cù Đức Hoà, Nguyễn Đức Chỉnh đồng chủ biên Các tác giả đã
khái lược lịch sử phát triển của giáo dục học nước ta những thập niên đầu thế kỉ XXI.Trình bày các chiến lược và chính sách phát triển giáo dục đai học ở Việt Nam cũng nhưcác mục tiêu, nhiệm vụ; thực trạng nền giáo dục việt Nam về đội ngũ giảng viên; quy môđào tạo, ngành nghề đào tạo
- Vũ Ngọc Hải (2004): Cải cách giáo dục đại học ở Việt Nam phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH, từng bước xây dựng, phát triển nền kinh tế tri thức định hướng xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Phát triển giáo dục, Số 2 – 2004 Tác giả đã chỉ ra những yêu cầu
bức thiết phải đổi mới giáo dục đại học, nhằm đào tạo nhân lực nhân tài phục vụ sựnghiệp CNH, HĐH đất nước
- Trần Quốc Toản (2005): Diễn đàn quốc tế về giáo dục Việt Nam “Đổi mới giáo dục đại học và hội nhập quốc tế”, Nxb Giáo dục, Hà Nội Cuốn sách là tập hợp
Trang 11thông tin đa dạng - phong phú, những kinh nghiệm, ý tưởng, đề xuất có tính chất tư vấn cho việc đổi mới và phát triển giáo dục Đại học ở Việt Nam.
- Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2005), Một số vấn đề về Giáo dục đại học, Nxb Đại học
quốc gia, Hà Nội Tác giả đã chỉ ra những vấn đề chung về giáo dục đại học: vài nét vềlịch sử giáo dục đại học thế giới và Việt Nam Hệ thống đảm bảo chất
lượng cho giáo dục đại học Việt Nam Chương trình và quy trình đào tạo đại học ; Những vấn đề về tâm lý, sư phạm đại học
- Nguyễn Thị Hồng Hạnh:“Hồ Chí Minh về giáo dục và giáo dục đại học”, Tạp
chí Xây dựng Đảng, Số 6 năm 2013 Bài viết đã nêu ra các quan điểm của Hồ
Chí Minh về giáo dục, giáo dục đại học và phương châm của nền giáo dục mới đó là:học đi đôi với hành, thực hiện dân chủ trong giáo dục và lấy tự học làm cốt, tự họcsuốt đời
- Nguyễn Bá Cần: “Hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục đại học Việt Nam hiện nay”, luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị, Trường Đại học Kinh tế
quốc dân, năm 2009, đã nêu ra những vấn đề cơ bản của chính sách phát triển giáo dụcđại học trong nền kinh tế thị trường, phân tích đánh giá chính sách về
giáo dục đại học trong những năm qua và đề xuất quan điểm, phương hướng và giảipháp hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục đại học trong những năm tiếp theo
- Chu Trí Thắng: “Chính sách hợp tác với nước ngoài về đào tạo sau đại học ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế”, luận án tiến sĩ chuyên ngành quản lý giáo
dục, Trường Đại học giáo dục - Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2011, đề cập tới cácchính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học từ khi Chính phủ Việt Nam gửi người
đi học ở các nước xã hội chủ nghĩa đến nay, trọng tâm là thời gian gần đây Luận án
đã phân tích, đánh giá các chính sách về hợp tác quốc tế về GD - ĐT sau đại học Từ
đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách về phát triển nguồn nhân lực sauđại học phục vụ mục tiêu hội nhập của đất nước
Nhìn chung các công trình nghiên cứu công bố đã đề cập đến nhiều khía cạnhkhác nhau của việc giáo dục đại học Việt Nam hiện nay như: thực trạng chất lượngđào tạo giáo dục, cơ chế quản lý, quy mô và cơ cấu đào tạo Đồng thời chỉ ra vai tròquan trọng của giáo dục đại học đối với sự phát triển đất nước, từ đó đưa ra
Trang 12những quan điểm và giải pháp phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong thời giantới.
Một số công trình nước ngoài:
Ngày nay, đổi mới giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng là một xu thếcủa nhân loại, đặc biệt là các nước phát triển Do đó, trên thế giới có rất nhiều côngtrình nhiên cứu về giáo dục về tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển củamột quốc gia Ngày nay, giáo dục được xem là chìa khóa cho sự phát triển, chìa khóacủa tương lai
- WB (1994), Higher Education: The lessons of experience, A WB
publication, Washington, D.C Từ những năm đầu của thập niên 90 của thế kỳ
XX, Ngân hàng thế giới đã chỉ ra tầm quan trọng của giáo dục bậc cao và những kinhnghiệm phát triển giáo dục bậc cao ở các nước trên thế giới, đó là là xác định lại vaitrò quan trọng của Chính phủ trong việc thúc đẩy giáo dục bậc cao phát triển đồngthời mở rộng quyền tự chủ và trách nhiệm của các trường đại học công Nhưng đồngthời, cũng khuyến khích quá trình xã hội hóa GD - ĐT, tăng cường hợp tác quốc tể vềgiáo dục đào tạo, để các nước đang phát triển và chậm phát triển, tiếp cận được vớinền giáo dục tiên tiến, hiện đại trên thế giới, trong đó có Việt Nam
- Globalization and International Education, Robin Shields, (2013).
Bloomsbury Publishing Plc Tác giả đã chỉ ra một cách khái quát giáo dục về
một nền giáo dục và sự tác động của toàn cầu hóa đối với GD - ĐT, chỉ ra những sựbiến đổi trong quan niệm về vị trí, vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của mộtquốc gia dưới tác động của toàn cầu hóa Toàn cầu hóa một mặt tạo ra những tháchthức không nhỏ đối với các nước đang phát triển thì nó lại tạo điều kiện cho nền giáodục của các nước này tiếp cận với nền giáo dục hiện đại, giúp sinh viên có cơ hội tiếpxúc với các nền giáo dục tiên tiến
Tóm lại, đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục và giáo dụcđại học, tuy nhiên, còn thiếu vắng những công trình nghiên cứu sâu về quan điểm củaĐảng Cộng sản Việt Nam về phát triển giáo dục đại học như một hệ thống từ quanđiểm đến đánh giá quá trình quá trình triển khai thực hiện trong giai đoạn hiện nay
Trang 13được xem là điểm mới của đề tài này Những kết quả của các công trình nghiên cứunêu trên là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tàiLuận văn.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Khái quát quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển giáo dục đạihọc và rút ra giá trị của quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển giáodục đại học ở Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
- Làm rõ những nhân tố tác động đến đổi mới, phát triển giáo dục đại học ở ViệtNam hiện nay;
- Các quan điểm cơ bản của Đảng về phát triển giáo dục đại học từ 1996 đến nay;
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, những vấn đề đặt ra;
- Dự báo những yếu tố tác động;
- Đưa ra phương hướng, giải pháp phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam đến năm 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng nghiên cứu: Khái quát Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về phát triển giáo dục đại học hiện nay
- Về thời gian: Từ năm 1996 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Quan điểm của các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác – Lê nin, của
Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam về GD - ĐT và giáo dục đại học
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng chủ yếu là phương pháp lôgic vàlịch sử cụ thể; phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh; phương phápthống kê… để làm sáng tỏ những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt về phát triển giáodục đại học từ năm 1996 đến nay
6 Những đóng góp khoa học của luận văn
Qua nghiên cứu “quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về phát triển giáodục đại học ở Việt Nam hiện nay” Luận văn cho thấy bước phát triển trong tư duy,
Trang 14nhận thức của Đảng, Nhà nước về lãnh đạo, chỉ đạo phát triển giáo dục đại học ở ViệtNam hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới và chấn hưng đất nước.
Luận văn là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy có liênquan đến GD - ĐT và giáo dục đại học
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3chương, 12 tiết
Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG
VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
1.1 Về lý luận
Cùng với việc xây dựng và bảo vệ đất nước, tổ tiên ta đã dành nhiều công sứcphát triển nền giáo dục dân tộc Cơ sở giáo dục đầu tiên của nhà nước phong kiến ViệtNam (được ghi nhận trong sử sách) là Quốc Tử Giám - Thăng Long, do vua Lý NhânTông cho thành lập vào năm 1076 Lúc đầu Quốc Tử Giám chỉ nhằm dạy con em dòngdõi vua quan, hoàng thân quốc thích, sau mở rộng dần cho những thanh thiếu niên có tưchất và đủ trình độ trong dân gian Về lực lượng giảng dạy, ngoài những quan chức ởQuốc Tử Giám, triều đình còn cho phép các nhà Nho uyên thâm đến giảng dạy Sau này,triều Nguyễn đóng đô tại Phú Xuân, đã mở Quốc Tử Giám tại Huế Ngày nay, Quốc TửGiám - Thăng Long được xem là trường đại học đầu tiên của Việt Nam Sau khi mởmang việc dạy học ở kinh đô, dần dần nhà nước phong kiến chú ý đến việc tổ chức hoạtđộng giáo dục ở địa phương Năm 1397, thời vua Trần Thuận Tông, triều đình cho đặthọc quan ở các lộ, phủ lớn (đơn vị hành chính tương đương với cấp tỉnh ngày nay) để loviệc giáo dục “Đến thế kỷ XV - XVI, nền giáo dục Việt Nam đã phát triển rực rỡ Cácphủ, lộ đều có trường công” [21, tr 55] Đồng thời việc thi cử tuyển chọn các quan lạiđược tiến hành khá chặt chẽ xem đây là biện pháp quan trọng nhằm chọn người tài giỏitham gia bộ máy điều hành quốc gia Bằng việc tuyển chọn nhân tài thông qua thi cử, tuyhết sức khắt khe nhưng lại mang yếu tố dân chủ vì đã tạo được cơ may cho con cái tầnglớp bình dân Một điều đặc biệt lý thú là, trong giai đoạn mới thành lập, triều Trần cũng
Trang 15kỳ thi có hai trạng nguyên: kinh trạng nguyên cho khu vực thuận lợi và trại trạngnguyên cho khu vực khó khăn.
Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, nhân dân ta từ địa vị nô lệ trởthành người chủ vận mệnh của mình Nước ta từ nước thuộc địa nửa phong kiến trởthành quốc gia độc lập, tự do Bước vào xây dựng xã hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minhchủ trương “mở một chiến dịch chống mù chữ, coi đó là nhiệm vụ cấp bách thứ hai(chống nạn đói) trong nhiệm vụ cấp bách của chính quyền non trẻ Vì người cho rằngdốt cũng là kẻ địch Địch dốt nát giúp cho địch ngoại xâm Địch dốt nát cũng nhưđịch tấn công ta về mặt tinh thần cũng như địch thực dân tấn công ta bằng vũ lực.Địch thực dân dựa vào địch dốt nát để thực hiện chiến lược ngu dân Địch dốt nát dựavào địch thực dân để đưa ta vào nơi mù quáng”[100, tr 52] Hồ Chí Minh đã khẳngđịnh “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, dốt đồng nghĩa với kém, kém là đồngnghĩa với yếu Ngày 10/10/1945 chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 45 thành lậpĐại học Văn Khoa Hà Nội, nay là Đại học Quốc gia Hà Nội, nhằm đào tạo và bồidưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc
Ph Ăngghen đã từng khẳng định: “ chỉ có phương tiện cơ giới và hóa họcphụ trợ thì không đủ Cần phải phát triển một cách tương xứng năng lực của conngười sử dụng phương tiện đó nữa”[88, tr 474] Năng lực ấy, trong điều kiện hiệnnay chính là trí tuệ, bản lĩnh, năng lực sáng tạo của con người Nó không thể là cái
gì khác ngoài sản phẩm của một quá trình giáo dục và tự giáo dục Do đó, đầu tư chogiáo dục “phải đi trước một bước, thậm chí nhiều bước Điều này càng đúng hơn nếumuốn CNH, HĐH đất nước”[24, tr 5]
CNH, HĐH là quá trình tất yếu đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệptheo hướng hiện đại Nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực làkhâu quyết định sự thành bại của quá trình CNH, HĐH hóa đất nước Khi Cách mạngTháng Mười Nga thành công, bước vào xây dựng chế độ mới, V.I.Lênin đã chỉ rõ,''không có tri thức thì không có chủ nghĩa xã hội'' và Người đã yêu cầu mọi ngườiphải luôn luôn ''học, học nữa, học mãi"
Bên cạnh đó, nền kinh tế tri thức đang từng bước hình thành, phát triển, trở
thành một xu thế tất yếu chi phối lịch sử phát triển nhân loại Trong cuốn Thăng trầm quyền lực, Avin Toffler đã khẳng định: “Con đường quyền lực và phát triển kinh tế
Trang 16của thế kỷ XXI không còn là con đường khai phá phát từ nguyên liệu và gân cốt củacon người Mà như chúng ta đã thấy là phải vận dụng con đường Tâm Trí mà thôi”[113, tr 262] Nhận thức sâu sắc về sức mạnh của kinh tế tri thức Đảng Cộng sảnViệt Nam khẳng định: “Kinh tế tri thức là nền kinh tế mạng, một nền kinh tế có đặctrưng là thông tin, tri thức và kỹ năng có thể chuyển đi bất cứ đâu, bất chấp biên giớiquốc gia Những phương thức quản lý mới, các hình thức kinh doanh mới, những sảnphẩm mới trên thị trường hoàn toàn không có trong nền kinh tế công nghiệp…đã bắtđầu xuất hiện” [41, tr 8] Do đó, phải có nhận thức mới về con đường phát triển quốcgia, việc cấp bách hiện nay là phải phát triển nhanh giáo dục đặc biệt là giáo dục đạihọc nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự CNH, HĐH đất nước.Nền giáo dục ấy phải đáp ứng được những đòi hỏi gay gắt của xã hội hay nói mộtcách khác là phải phù hợp với thực tiễn – đào tạo gắn liền với nhu cầu xã hội và bắtkịp bước tiến của nhân loại Đặc trưng rõ rệt nhất của nền kinh tế tri thức, cuộc cáchmạng KH - CN so với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây là các ngành đãđưa ra các yếu tố là thông tin và tri thức lên hàng đầu, đẩy những yếu tố cạnh tranhtruyền thống như tài nguyên, vốn… xuống hàng thứ yếu, con người trở thành trungtâm của sự phát triển.
Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của giáo dục với sự phát triển của đất nước,Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng bổ sung hoàn thiện quan điểm chỉ đạo,nhằm giải quyết những vấn đề tồn tại, đồng thời đã xây dựng những chiến lược dàihơi với những mục tiêu dài hạn nhằm xây dựng nền giáo dục đại học Việt Nam hiệnđại, tiên tiến mang đậm bản sắc dân tộc Việt Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đểđạt được mục tiêu của sự nghiệp đổi mới, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐHđất nước, đổi mới không chỉ bằng sự nhiệt tình và lòng dũng cảm mà cần phải cótrình độ tri thức khoa học, huy động mọi tài năng sáng tạo và khẳng định: GD – ĐT làquốc sách hàng đầu Nhân thức rõ điều đó Đảng và Nhà nước đã ghi nhận một cách
cụ thể, rõ ràng lần lượt qua các bản Hiến pháp
Trong hai bản hiến pháp đầu tiên tuy giáo dục chưa được quy định trong một chếđịnh riêng biệt nhưng đã được đề cập đến trong phần quyền và nghĩa vụ của ngườicông dân
Trang 17Hiến pháp 1946 vấn đề GD- ĐT đã được đề cập trong điều 15: Nền sơ họccưỡng bách và không học phí Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số cóquyền học bằng tiếng của mình Học trò nghèo được Chính phủ giúp Trường tư được
mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước Tuy chưa được quy định cụ thểsong nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục nên Nhà nước đã ban hành hàngloạt các văn bản pháp luật như sắc lệnh số 17 ngày 08/9/1945 đặt ra một bình dân học
vụ, sắc lệnh số 19 ngày 08/9/1945 lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp bìnhdân buổi tối, sắc lệnh số 20 ngày 08/9/1945 định rằng việc học chữ quốc ngữ từ naybắt buộc và không mất tiền, sắc lệnh số 146 ngày 10/8/1946 đặt những nguyên tắccăn bản của nền giáo dục mới
Điều 33 Hiến pháp 1959: Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cóquyền học tập Nhà nước thực hiện từng bước chế độ giáo dục cưỡng bách, phát triểndần các trường đại học và cơ quan văn hóa phát triển hình thức giáo dục bổ túc vănhóa, kỹ thuật, nghiệp vụ, tại các cơ quan, xí nghiệp và các tổ chức khác ở thành thị vànông thôn để bảo đảm cho công dân được hưởng quyền đó
Đến Hiếp pháp 1980 giáo dục đại học bắt đầu được tách riêng ra và đưa vàotrong một chế định cụ thể, những quy định về giáo dục cũng cụ thể và hoàn thiện hơn,thể hiện trong điều 41: Sự nghiệp giáo dục do Nhà nước thống nhất quản lý Nhànước chăm lo phát triển cân đối hệ thống giáo dục đại học
Đến Hiến pháp năm 1992, những quy định cơ bản về giáo dục đã thể hiện rõnét tính kế thừa Hiến pháp năm 1980 đồng thời có bước phát triển mới Tuy chỉ thểhiện trong hai điều 35 và 36 nhưng những nội dung trong đó là tương đối đầy đủ,hoàn thiện và sát với yêu cầu thực tế, đó là: Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nângcao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Nhà nước thống nhất quản lý hệthống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêuchuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng Nhà nước ưu tiên đầu tư chogiáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tư khác Đặc biệt Hiến pháp năm 1992 đã ghinhận “ GD – ĐT là quốc sách hàng đầu”
Bên cạnh việc tiếp tục khẳng định quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu,điều 61, Hiến pháp 2013 quy định: Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu
Trang 18tư khác cho phát triển giáo dục đại học Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầunhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Cùng với đó, từ khi đổi mới đến nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quantâm, tạo điều kiện cho giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng phát triển.Nhằm nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.Điều đó, được cụ thể hóa trong đường lối chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quacác kỳ Đại hội, được xem như là nền tảng lý luận sâu sắc về đổi mới phát triển giáodục đại học ở Việt Nam hiện nay
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12 – 1986) của Đảng Cộng sản ViệtNam là dấu mốc quan trọng trong chặng đường phát triển của dân tộc Việt Nam Đạihội đề ra đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc trên tất cá các lĩnh vực của đời sống xãhội, trong đó có GD - ĐT nói chung, giáo dục đại học nói riêng
Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (tháng01/1993) về “tiếp tục đổi mới sự nghiệp GD - ĐT” đã khẳng định quan điểm: “GD -
ĐT cùng với KH - CN được xem là quốc sách hàng đầu Coi đầu tư cho GD - ĐT làmột trong những hướng chính của đầu tư phát triển”[41, tr 159]
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) Đảng Cộng sản Việt Nam
“chủ trương phát triển mạnh mẽ sự nghiệp GD - ĐT, cùng với khoa học là quốc sáchhàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Coi trọng cảquy mô, chất lượng và hiệu quả GD - ĐT, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầuCNH, HĐH”[20, tr 596]
Vì vậy, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi phát triển nguồn nhân lực lànhiệm vụ hàng đầu là khâu đột phá của nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay Trongchiến lược phát KT - XH 2001- 2010 và chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn
2011 – 2020 đã xác định rõ vai trò của phát triển nguồn nhân lực và khẳng định:
"Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao làmột đột phá chiến lược"(Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020) Nguồn nhânlực chất lượng cao là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy CNH, HĐH, làyếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng nhanh và bền vững” và nguồn nhânlực là yếu tố quyết định sự phát triển trong quá trình CNH, HĐH đất nước Tuy
Trang 19Đặc biệt là giáo dục đại học là khâu thiết yếu quan trọng có nhiệm vụ đào tạo nguồnnhân lực có trình độ cao.
Giáo dục đại học có vị trí đặc biệt trong hệ thống giáo dục quốc dân là nhân tốnòng cốt trong đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao để thỏa mãn nhu cầu phát triển xãhội, nên hầu hết các nước trong khu vực và trên thế giới, nhất là các nước có nền kinh
tế phát triển luôn quan tâm đến giáo dục đại học, tạo những điều kiện thuận lợi đểgiáo dục đại học có điều kiện phát triển tốt nhất Do đó, nội dung chương trình giảngdạy, phương pháp giáo dục đại học luôn luôn phải thay đổi để cung cấp, cập nhật trithức mới tiến bộ của nhân loại cho người học, đáp ứng yêu cầu phát triển mới của xãhội – giáo dục phải gắn liền với nhu cầu của xã hội, giáo dục phải đi sâu, đi sát vớithực tế, nắm bắt những đòi hỏi của thực tế, đồng thời có dự báo trong tương lai Đó làmột nền giáo dục linh hoạt, một nền giáo dục mở, đảm bảo được yêu cầu trên giáodục mới giải quyết được bài toán phát triển ở mỗi quốc gia
Tuy nhiên, mỗi nước cần có những bước đi đúng đắn, phù hợp với điều kiệnhoàn cảnh thực tế của mình, đảm bảo rằng quốc gia đó không bị “tụt hậu” trong thếgiới đang biến đổi không ngừng Từ những kinh nghiệm rút ra từ các nước đi trước,căn cứ vào xu thế phát triển của nhân loại và thực tiễn Việt Nam, Đảng, Nhà nướcViệt Nam luôn quan tâm, tạo điều kiện cho giáo dục phát triển, đặc biệt là giáo dụcđại học, nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp CNH, HĐHđất nước Quan điểm chỉ đạo về phát triển giáo dục trong tình hình mới có ý nghĩa lýluận và thực tiễn sâu sắc
1.2 Về thực tiễn
Thế kỷ XXI được đánh dấu với sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của lực lượngsản xuất Sự nhảy vọt của những thành tựu KH - CN đã đưa loài người tiến nhữngbước dài hơn trong tiến trình phát triển lịch sử của mình KH - CN phát triển như vũbão đã và đang làm cho hàm lượng tri thức trong mỗi sản phẩm chiếm tỷ lệ ngày càngcao, giá trị sản phẩm chủ yếu dựa trên giá trị tri thức tạo ra nó Thực tiễn đó đòi hỏicác quốc gia cần phải đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu tiến tiến củakhoa học công nghệ vào trong quá trình sản xuất để nâng cao năng suất lao động
Hiện nay, loài người đã bước vào nền văn minh tri thức, kỷ nguyên thông tin.Tính trung bình cứ 7 năm tri thức loài người tăng gấp đôi Như vậy, một phép tínhđơn giản là sau 4 năm đại học, kiến thức của người học đã lạc hậu tới 50% Sự bùng
Trang 20nổ thông tin đã làm đảo lộn mục tiêu giáo dục truyền thống, đặc biệt là mục tiêu củagiáo dục đại học mà cốt lõi là chuyển từ chủ yếu đào tạo kiến thức kỹ năng sang chủyếu đào tạo năng lực Điểm chốt này cũng dẫn đến từng người chúng ta không chỉhọc khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn có cơ hội học tập suốt đời tạo dựng một
xã hội học tập
Những tiến bộ của KH - CN và cuộc cách mạng thông tin đang làm thay đổiphương pháp dạy và phương pháp học một cách sâu sắc, thúc đẩy nhanh tốc độ toàncầu hóa Việc bùng nổ KH - CN đã làm cho công nghệ viễn thông, công nghệ điện tử,công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ Nano…phát triển với tốc độcao Điều đó đã làm cho lượng thông tin tăng với cấp số nhân, nhu cầu thông tin củamỗi cá nhân, tổ chức tăng lên với cấp số mũ, tốc độ truyền tin tăng theo cấp lũy thừa.Không chỉ vậy, sự phát triển của KH - CN còn làm phong phú các hình thức truyềntin: sách, báo, phát thanh, truyền hình, internet,… Do đó, tri thức nhân loại khôngngừng được mở rộng
Minh chứng cho những tiến bộ vượt bậc của KH - CN là sự thành công trongviệc ứng năng lượng nguyên tử vào trong sản xuất, làm cho năng suất lao động xã hộiđược nâng lên rõ rệt Việc xây dựng các nhà máy điện chạy bằng năng lượng hạtnhân, chế tạo những tàu thủy phá băng dùng năng lượng nguyên tử hay việc ứng dụngcông nghệ mới vào chữa bệnh, phát triển cây trồng Những thành tựu của công nghệsinh học đã tạo một bước ngoặt trong các lĩnh vực nông nghiệp, y học, dược học…đãgóp phần không nhỏ vào việc đưa nền kinh tế công nghiệp sang giai đoạn mới giaiđoạn hậu công nghiệp, giai đoạn văn minh thông tin giai đoạn của nền kinh tế trithức Ai giữ và nắm được nền kinh tế tri thức sẽ là người thắng cuộc trong sân chơiquốc tế Kinh tế tri thức đã và đang trở thành dòng thác lớn không gì ngăn nổi, là xuhướng tất yếu của thời đại, bất cứ cá nhân, tổ chức, quốc gia nào có đầy đủ tri thức,thông tin sẽ có cơ hội làm giàu và chiến thắng Vì vậy, thông tin, tri thức là cơ sở củaquyền lực mới về chính trị và kinh tế thế giới đương đại; là kim chỉ nam cho mỗiquốc gia, dân tộc, cá nhân trên con đường khẳng định mình trong tương lại
Nhìn lại lịch sử nhân loại thế kỷ XX, sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ lànước khởi đầu cuộc cách mạng KH - CN hiện đại và đạt được nhiều thành tựu to lớn,điều đó đã góp phần không nhỏ tạo động lực cho nền kinh tế phát triển và kết quả Mỹ
Trang 21vươn lên trở thành siêu cường số một thế giới về kinh tế, quân sự Mỹ là nước đi đầutrong các lĩnh vực chế tạo công cụ sản xuất mới (máy tính điện tử, máy tự động), vậtliệu mới (pôlime, vật liệu tổng hợp), năng lượng mới (năng lượng nguyên tử, nănglượng nhiệt hạch), chinh phục vũ trụ, và đi đầu trong cuộc cách mạng xanh trongnông nghiệp… Các nước tư bản chủ nghĩa trước hết là Mỹ, đã rất năng động trongviệc ứng dụng các thành tựu của cuộc cách mạng KH - CN để phát triển KT - XH Sựtận dụng hiệu quả các thành tựu của cuộc cách mạng KH - CN hiện đại cùng với tínhnăng động của nhiều nước tư bản chủ nghĩa kết quả là những nước này đã đạt đượcnhững bước đột phá Lý do là họ đã giải quyết thấu đáo bài toán giữa tăng trưởngkinh tế với nâng cao dân trí Một ví dụ khác là, năm 1957, Liên Xô đã làm cả thế giớikinh ngạc khi phóng thành công vệ tinh nhân tạo, đã mở ra một kỷ nguyên công nghệmới cho loài người Tiếp sau đó, Iu.Gagarin đã bay vòng quanh trái đất trên con tàu
vũ trụ mà con người sáng tạo ra, rồi hai phi hành gia người Mỹ đặt chân lên mặtTrăng Những sự kiện vĩ đại ấy nói lên rằng, con người đã sáng tạo ra được côngnghệ mới phục vụ cuộc sống của loài người, con người có thể chinh phục được thếgiới và ước mơ đó có thể thực hiện được
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là xu hướng khách quan Đó là quá trình vừahợp tác vừa đấu tranh của các quốc gia trên thế giới để bảo vệ lợi ích quốc gia dântộc Cạnh tranh kinh tế ngày càng diễn ra quyết liệt, vì vậy, các quốc gia cần thườngxuyên đổi mới công nghệ để tăng năng suất lao động Điều đó đã và đang tạo ranhững áp lực mới, gay gắt hơn đối với GD - ĐT, nhất là giáo dục đại học Giáo dụcđại học với tư cách là bậc học cao nhất, nơi tiếp thu ở trình độ cao nhất các thành tựu
KH - CN được đặc biệt đề cao, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của mộtquốc gia Phát triển giáo dục được xem là nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược pháttriển KT - XH ở mỗi quốc gia, các quốc gia đều ưu tiên đầu tư cho giáo dục, xem đầu
tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai, đầu tư cho phát triển, là chìa khóa để đi tớithành công
Vì vậy, bất kỳ quốc gia nào đặc biệt là các nước đang phát triển, nếu biết đềcao yếu tố tri thức và thông tin, bỏ qua những bước phát triển tuần tự, mạnh dạnchuyển sang bước phát triển mới, tập trung phát triển các ngành công nghệ cao, côngnghệ sản xuất mới, dựa vào quần chúng nhân dân để tiến hành công nghiệp hóa thì có
Trang 22thể rút ngắn thời gian hóa hiện đại hóa của mình Thực tế cho thấy, nhiều quốc gia đã
“cất cánh” do ứng dụng thành công, có hiệu quả những thành tựu của cuộc cách mạng
KH - CN như Nhật Bản, Hàn Quốc Đó là minh chứng rõ nét nhất cho việc cần thiếtphải thay đổi tư duy, cách làm cũ mà thay vào đó là mạnh dạn ứng dụng cái mới, phươngthức mới để phát triển đất nước Để làm được điều đó, thiết nghĩ không còn con đườngnào khác ngoài con đường phát triển GD - ĐT, trọng tâm là giáo dục đại học
Ngày nay, đổi mới giáo dục đại học đang diễn ra trên quy mô toàn cầu, đó làmột xu thế tất yếu của thời đại Hầu hết các nước trên thế giới, nhất là các nước pháttriển đều tiến hành cải cách hệ thống giáo dục đại học Mặt khác, một xu thế là hiệnnay các trường đại học trên thế giới đang tiến hành quá trình tự biến đổi, để trở thànhnhững trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, sản xuất, chuyển giao công nghệ vàxuất khẩu tri thức chứ không đơn thuần chỉ là một trung tâm đào tạo như truyềnthống
“GD - ĐT đang trở thành yếu tố quyết định là ưu tiên hàng đầu trong chínhsách phát triển của mỗi quốc gia Nhật Bản là một trong những nước đi đầu tronghoạt động giáo dục đào tạo Là quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên, để phát triểnNhật Bản chỉ có thể trông chờ vào chính mỗi người dân Nhận thức được điều đó,Chính phủ Nhật Bản đặc biệt chú trọng đến GD - ĐT, coi đây là quốc sách hàng đầu”[75, tr 478] Xingapo được biết tới như là một con rồng của châu
Á Cũng giống như nhiều nước khác trên thế giới, Xingapo đang chuyên dần sangchiến lược dựa vào tri thức để phát triển kinh tế, đặc biệt là thương mại hóa tri thức đểtạo ra giá trị gia tăng cao Là quốc gia có diện tích nhỏ, tài nguyên thiên nhiên khan hiếm,tuy nhiên, lại được thừa hưởng và phát triển từ hệ thống giáo dục lâu đời của Anh
“Xingapo đặt nền giáo dục là yếu tố chủ chốt trong sự lớn mạnh và phát triển xã hội”[75,
tr 505]
Sau gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩalịch sử to lớn, với vị thế và diện mạo mới Kinh tế có bước phát triển, chính trị ổnđịnh, quốc phòng, an ninh được giữ vững Tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức hợp lý,
từ năm 2013 dần phục hồi, năm sau cao hơn năm trước, “tăng trưởng GDP năm 2011đạt 6,24%, năm 2012: 5,25%, năm 2013: 5,42%, năm 2014: 5,98% và kế hoạch năm
Trang 23quân 5 năm đạt 5,825/năm Quy mô và tiềm lực của nền kinh tế tiếp tục tăng lên;GDP năm 2015 đạt khoảng 204 tỷ USD, bình quân đầu người khoảng 2.200 USD”[8,
tr 2]
Mới đây ngày 29 tháng 5 năm 2015, tại Kazakhstan, Thủ tướng Nguyễn TấnDũng cùng Thủ tướng các nước thành viên Liên minh Kinh tế Á-Âu, bao gồm Nga,Armenia, Belarus, Kazakhstan và Kyrgyzstan đã ký chính thức Hiệp định Thươngmại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á-Âu…Bên cạnh những cơ hội lớn, làbàn đạp để thúc đẩy phát triển thương mại và đầu tư vào Việt Nam thì cũng còn nhiềukhó khăn nhất định mà Việt Nam phải đối mặt trong sân chơi quốc tế khi Việt Namngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới là sự cạnh tranh gay gắt từ các quốcgia trên thế giới và khu vực, đặc biệt là từ các quốc gia có trình độ phát triển cao
Đặc biệt năm 2015 khi Hiệp định thương mại tự do khu vực ASEAN được hoàntất thì áp lực cạnh tranh lại càng lớn Để giải quyết bài toán phát triển đất nước, khôngcòn con đường nào khác là phải đầu tư cho phát triển giáo dục bậc cao, đào tạo nguồnnhân lực có chất lượng, đủ sức để cạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới
Những năm tới là giai đoạn kinh tế Việt Nam phục hồi, lấy lại đà tăng trưởngsau thời kỳ suy thoái, việc cấu trúc lại nền kinh tế để phát triển nhanh, bền vững là rấtquan trọng Sau đổi mới năm 1986, diện mạo Việt Nam có nhiều thay đổi, thế và lựcvững mạnh hơn nhiều Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, đã vàđang tạo ra những tiền đề quan trọng thúc đẩy hội nhập quốc tế, đẩy nhanh CNH,HĐH và nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân Năm năm tới là thời kỳ Việt Namthực hiện đầy đủ các cam kết trong Cộng đồng ASEAN và WTO, tham gia các hiệpđịnh thương mại tự do, hội nhập quốc tế ở mức sâu rộng hơn giai đoạn trước, đòi hỏi,Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải nỗ lực rất cao để tận dụng thời cơ, vượt quathách thức trong quá trình hội nhập
Tuy nhiên, những thành tựu đạt được là chưa tương xứng với tiềm năng hiện có,Việt Nam vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễnbiến phức tạp Nguy cơ tụt hậu về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giớivẫn tồn tại, bẫy nghèo đói vẫn luôn rình rập Các lĩnh vực văn hóa xã hội, có một số mặtyếu kém chậm được khắc phục, nhất là về GD - ĐT và y tế…Trong khi đó, chuyển dịch
Trang 24cơ cấu kinh tế còn chậm, tỷ trọng dịch vụ và công nghiệp trong Tổng thu nhập quốcdân (GDP) còn thấp, tỷ trọng nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ cao Quản lý nhà nước củanhà nước đối với nhiều lĩnh vực KT - XH còn chưa hiệu quả, trong đó có quản lý vềgiáo dục đại học.
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra chủ trương đẩy mạnhCNH, HĐH đất nước và xây dựng nền kinh tế hàng hóa, nhiều thành phần theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa (nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa) Giáodục đại học đã trở thành một ngành sản xuất đặc biệt – sản xuất nguồn nhân lực vàcũng tuân theo quy luật cạnh tranh của nền kinh tế thị trường Kinh tế thị trường tạonên một môi trường cạnh tranh đòi hỏi phải đào tạo nguồn nhân lực có số lượng, chấtlượng và hiệu quả cao
Tri thức ngày nay đã trở thành lực lượng sản xuất chủ yếu, trực tiếp tham giavào tất cả các khâu trong mọi hoạt động đời sống xã hội Cuộc cách mạng công nghệngày càng phát triển, những thế mạnh tương đối về nguồn lao động đơn giản hoặc taynghề thấp sẽ dần mất đi ý nghĩa của nó và lợi thế sẽ thuộc về quốc gia nào có nguồnnhân lực trí tuệ cao, có kỹ năng vững vàng, có khả năng sáng tạo theo kịp sự pháttriển của khoa học công nghệ hiện đại Nên giáo dục đại học cần phải gắn bó chặt chẽhơn nữa với thực tế sản xuất và đời sống Thực hiện phương châm học đi đối vớihành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với đời sống xãhội Vì đầu tư vào giáo dục là đầu tư thông minh nhất, đem lại hiệu quả cao nhất
Đánh giá đúng vị trí, vai trò của GD - ĐT trong sự nghiệp đổi mới đất nước,Đảng, Nhà nước Việt Nam đã khẳng định: GD - ĐT là quốc sách hàng đầu trong quátrình đổi mới và hội nhập thế giới Do đó, tiến hành sự nghiệp đổi mới từ năm 1986đến nay, Việt Nam luôn có sự quan tâm đặc biệt tới giáo dục nói chung và giáo dụcđại học nói riêng Nhằm đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trình độ cao phục vụ yêucầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Toàn cầu hóa là xu thế phát triển khách quan
đã và đang lôi cuốn nhiều nước tham gia vào sân quốc tế này, mở ra những vận hội vàthách thức mới cho các quốc gia dân tộc Đối với Việt Nam, hội nhập quốc tế đã tạođiều kiện cho giáo dục đại học Việt Nam phát triển, hội nhập, hiện đại hóa, vươn lên
Trang 25thế giới, chỉ có GD - ĐT mới biến gánh nặng dân số của Việt Nam trở thành lợi thế
so sánh của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới Vì trong nền kinh tế mớinguồn nhân lực chất lượng cao là cơ sở căn bản, nguồn lực quyết định sự phát triển,đồng thời rút ngắn khoảng cách với các nước, khai thác được những tiềm năng củatoàn cầu hóa mang lại
Mặt khác, hội nhập quốc tế cũng đặt ra những thách thức lớn đối với ViệtNam, đó là giải quyết bài toán phát triển đất nước đi đôi với giữ vững độc lập, tự chủtrong quá trình hội nhập quốc tế, hội nhập quốc tế cũng nảy sinh những tiêu cực mới
do chủ nghĩa thực dụng, làm xói mòn truyền thống đạo đức, bản sắc văn hóa dân tộcViệt Nam Hơn lúc nào hết, cần có những giải pháp phát huy truyền thống quý báucủa cha ông, giữ gìn bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc Trong đó nhấn mạnh vai tròcủa ngành giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học là chìa khóa để giải quyết vấn đề -giáo dục đại học có vị trí, vai trò quan trọng trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc vănhóa dân tộc
Sau nhiều năm phát triển, giáo dục đại học Việt Nam đã có bước tiến nhất định vàđạt được những thành tựu bước đầu Quy mô giáo dục đại học tăng nhanh, các loại hìnhđào tạo được phát triển, bao gồm các đại học quốc gia, đại học khu vực đa ngành, đa lĩnhvực, các trường đại học và cao đẳng dân lập Cơ cấu đào tạo đại học với ba cấp chính là
cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ được xác lập, phù hợp với sự phát triển KT - XH nước ta vàhội nhập khu vực, thế giới Mục tiêu chương trình đào tạo đại học được cải tiến dần dần
Cơ sở vật chất các trường đại học bước đầu được tăng cường
Mặc dù đã đạt được những thành công đáng khích lệ nhưng giáo dục đại học ViệtNam vẫn đang tồn tại nhiều nhiều yếu kém, bất cập Điểm nổi bật là chất lượng đào tạocòn rất yếu, việc đào tạo đại học còn ít gắn với sản xuất và đời sống, với nghiên cứukhoa học Phương pháp dạy học còn lạc hậu, chưa phát huy tính chủ động, tư duy sángtạo của người học Giáo dục trí lực chưa kết hợp nhuần nhuyễn với trau dồi đạo đức Độingũ nhà giáo đại học vừa thiếu lại vừa yếu Hệ thống thi cử còn nặng nề, kém khoa học,đặc biệt là thi tuyển đại học Những hiện tượng tiêu cực trong thi cử, trong quản lý vănbằng còn phổ biến gây bức xúc trong xã hội, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục còn nhữngnếp nghĩ, cách làm giống vài chục năm trước đây, điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến
sự phát triển chung của toàn ngành giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học Những yếu
Trang 26kém trên đã kìm hãm sự phát triển của giáo dục đại học ở Việt Nam Như vậy, đổimới giáo dục đại học là tất yếu không chỉ phù hợp với kỳ vọng của xã hội đối vớigiáo dục đại học mà còn phù hợp với bối cảnh của thời đại Điều đó dẫn tới việc tấtyếu phải đổi mới để phát triển giáo dục đại học.
Phát triển giáo dục nói chung và phát triển giáo dục đại học nói riêng là nhiệm vụquan trọng, then chốt của toàn Đảng, toàn dân trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.Điều này được Đảng khẳng định trong các văn kiện, các kỳ Đại hội và Hội nghị Trungương, đó là: GD - ĐT tạo cùng với KH - CN là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và độnglực thúc đẩy CNH, HĐH đất nước Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai, đầu tưcho phát triển bền vững “Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, đất nước nào không có chínhsách giáo dục đúng đắn, đất nước nào bất lực trong việc phát triển kiến thức và tay nghềcho nhân dân mình và không sử dụng cái đó một cách hữu hiệu trong nền kinh tế quốcdân, thì sẽ không phát triển được bất kỳ một thứ gì Vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều
có sự thay đổi trong chiến lược phát triển của mình theo hướng chú trọng nhiều hơn đến
GD - ĐT Nhiều quốc gia coi GD – ĐT là nguồn lực hàng đầu cho phát triển kinh tế”[44,
tr 156] Giáo dục đại học là chìa khóa cho sự thành công của các quốc gia trên thế giới
1.3 Phát triển giáo dục đại học - những khái niệm cơ bản
* Giáo dục:
Giáo dục là một lĩnh vực quan trọng của mỗi quốc gia, là hình thức học tậptheo đó kiến thức, kỹ năng và thói quen của một nhóm người được truyền từ thế hệnày sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu Giáo dục thườngdiễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học
“Giáo dục như là hoạt động gây ảnh hưởng, đào tạo, uốn nắn – tức là quá trình hìnhthành dạng thức hoạt động xã hội được thừa nhận”[25, tr 27]
Có nhiều quan điểm về giáo dục như: “Giáo dục là một ngành sản xuất đặc biệt– sản xuất nguồn nhân lực và tri thức”[93, tr 48] Nó đặc biệt là vì: sản phẩm củagiáo dục không cố định luôn biến đổi và phát triển tùy theo động cơ và môi trườngphát triển; hiệu quả của giáo dục được chia đều cho các nhà đầu tư (Nhà nước, doanhnghiệp, phụ huynh ), cho người thực hiện (giảng viên, nhà quản lý ) và cho người
Trang 27học Đầu tư cho giáo dục mang lại hiệu quả cao, vì lẽ đó, giáo dục trở thành mối quantâm hàng đầu của nhiều quốc gia Ở Việt Nam giáo dục được coi quốc sách hàng đầu.
“Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triểntinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có đượcnhững phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra”[128, tr 379]
Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnhhội lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người (Dẫn theo báo điện tử Đảng Cộng sảnViệt Nam ngày 27/7/2009) Như vậy, có thể thấy: Giáo dục là hiện tượng xã hội đặcbiệt, mang tính lịch sử và xã hội, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội nhữngtri thức của các thế hệ loài người, để con người hiểu hơn về cội nguồn dân tộc vànhững chặng đường phát triển của xã hội loài người Đồng thời kiến tạo và xây dựngmột xã hội tốt đẹp hơn Ở đó con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có cơhội phát triển toàn diện
Tuy nhiên, dù quan niệm giáo dục như thế nào thì: Giáo dục phải trang bị trithức, kỹ năng cần thiết cho cuộc sống, đem lại cho con người những hiểu biết cầnthiết về xã hội cùng những tri thức của nhân loại Một nền giáo dục hiệu quả sẽ giúpquốc gia có nhiều công dân có khả năng, kiến thức, trình độ đồng thời có cả ý thứctrách nhiệm và ý thức dân tộc để áp dụng sở học vào việc xây dựng, đóng góp, phục
vụ tổ quốc, phục vụ đồng bào của mình Vì lẽ đó, giáo dục phải giúp phát triển conngười toàn diện, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nền giáo dục ấy phải đào tạo nênnhững con người “vừa hồng vừa chuyên” để phục vụ Tổ quốc phục vụ nhân dân
* Giáo dục đại học:
Gần đây, cụm từ giáo dục đại học đã trở thành một khái niệm được nhắc khánhiều trên các diễn đàn lớn nhỏ ở Việt Nam thu hút sự quan tâm của đông đảo quầnchúng nhân dân cũng như các học giả, chuyên gia, lãnh đạo Đảng, Nhà nước Điều đócho thấy, phát triển giáo dục đại học là một vấn đề bức thiết Giáo dục đại học có vị trí,vai trò to lớn trong đời sống xã hội Luật giáo dục đại học năm 2012 quy định rõ: Đạihọc là cơ sở giáo dục đại học bao gồm tổ hợp các trường cao đẳng, trường đại học, việnnghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theohai cấp, để đào tạo các trình độ của giáo dục đại học Nhằm đào tạo nhân lực, nâng cao
Trang 28dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩmmới, phục vụ yêu cầu phát triển KT - XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhậpquốc tế Đồng thời đào tạo cho người học có những phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiếnthức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng KH -
CN tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệmnghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân, phục vụ tổquốc Như vây, phát triển giáo dục là vấn đề trọng tâm của một quốc gia
Giáo dục đại học là bậc học cao nhất trong hệ thống giáo dục Vì đại học là nơitiếp cận tri thức ở mức cao nhất, là nơi đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao nhấtcho đất nước, cũng là nơi đào tạo các nhà giáo cho các bậc học thấp hơn Do đó,trong sự nghiệp giáo dục, giáo dục đại học giữ vai trò đi đầu, hướng dẫn, nên giáodục đại học có tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của xã hội
Giáo dục đại học nói chung thường được hiểu là bao gồm giảng dạy, nghiêncứu và chuyển giao ứng dụng Thực ra, khi phân tích kỹ những quan điểm khác nhau
về giáo dục đại học, có thể kể ra nhiều vai trò khác nhau của giáo dục đại học trong
xã hội Giáo dục đại học đóng vai trò là “hệ thống nuôi dưỡng” của mọi lĩnh vựctrong đời sống, là nguồn cung cấp nhân lực tối cần thiết để phục vụ các công tác quản
lý, quy hoạch, thiết kế, giảng dạy và nghiên cứu
Một quốc gia muốn phát triển về KH - CN và tăng trưởng về kinh tế thì nhấtthiết phải có cả hai yếu tố: một hệ thống giáo dục đại học và lực lượng lao động có sốlượng, cơ cấu hợp lý và chất lượng cao Giáo dục đại học còn tạo ra cơ hội cho họctập cho tất cả mọi người, cho phép con người cập nhật các kiến thức và kỹ năngthường xuyên theo nhu cầu của xã hội nhằm: tìm kiếm và trau dồi tri thức mới, khôngngừng nghỉ và không chùn bước trong quá trình kiếm tìm chân lý, thường xuyên xemxét lại ý nghĩa của những kiến thức, niềm tin cũ dưới ánh sáng của những nhu cầumới và khám phá mới Giáo dục đại học có vai trò đào tạo nguồn nhân lực chất lượngcao phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Trước đây, chúng ta vẫn thường quan niệm nguyên nhân làm chậm tốc độ pháttriển KT - XH chủ yếu là do sự yếu kém và nghèo nàn của cơ sở vật chất, quan niệm này
đã tồn lại rất lâu quan niệm của nhân loại, nhưng trong giai đoạn hiện nay, thực tế đãchứng minh đóng góp chủ yếu vào tộc độ phát triển KT - XH đất nước gắn liền với chất
Trang 29lượng lao động hay nói cách khác chính là dựa trên sự phát triển của hệ thống giáo dụcquốc gia Trong đó, giáo dục đại học giữ vai trò then chốt Một khoảng thời gian dàitrước đây, nền kinh tế của mỗi quốc gia chủ yếu dựa vào lao động tự nhiên, thì ngày naychủ yếu dựa vào thông tin và lao động trí tuệ, bất cứ ai nắm được thông tin và làm chủđược tri thức sẽ thành công Kỷ nguyên mới coi đầu tư phát triển nguồn nhân lực là quantrọng hơn các loại đầu tư khác Để có được nguồn nhân lực chất lượng cao thì đòi hỏi hệthống giáo dục phải phát triển mạnh mẽ, trực tiếp ở đây là hệ thống giáo dục đại học.
Tuy nhiên, để đi sâu nghiên cứu đề tài luận văn cần quan tâm tới một số kháiniệm liên quan khác như đổi mới, phát triển
Đổi mới theo Từ điển tiếng Việt là “thay đổi cho khác hẳn với trước, tiến bộ hơn,khắc phục tình trạng lạc hậu, trì trệ và đáp ứng yêu cầu của sự phát triển”[128, tr 236]
Phát triển theo Từ điển tiếng Việt “là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đếnnhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”[128, tr 743] Theo từ điểnTriết học, Phát triển là: “quá trình vận động từ thấp (đơn giản) lên cao (phức tạp), mà nétđặc trưng chủ yếu là cái cũ biến mất và cái mới ra đời […] Đối với sự phát triển, nét đặctrưng là hình thức xoắn trôn ốc Mọi quá trình phát triển riêng rẽ đều có sự khởi đầu vàkết thúc Vả lại, ngay từ đầu, trong khuynh hướng đã chứa đựng sự kết thúc của pháttriển, còn việc hoàn thành chu kỳ phát triển đó thì lại đặt cơ sở cho một chu kỳ phát triểnmới, trong đó không thể tránh khỏi sự lặp lại một số đặc điểm của chu kỳ đầu tiên Pháttriển là một quá trình nội tại, bước chuyển từ thấp lên cao xảy ra bởi vì ở trong cái thấp
đã chứa đựng dưới dạng tiềm tàng những khuynh hướng dẫn tới cái cao, còn cái cao làcái thấp đã phát triển Đồng thời chỉ ở một mức phát triển khá cao thì những mầm mốngcủa cái cao chứa đựng trong cái thấp mới bộc lộ ra”[129, tr 432]
Phát triển giáo dục đại học được xem là một vấn đề cấp bách hiện nay, nhằm xâydựng một nền giáo dục đại học phát triển hiện đại, phù hợp với điều kiện thực tiễn đấtnước và xu thế phát triển của nhân loại Nền giáo dục ấy phải đào tạo ra những conngười vừa “hồng” vừa “chuyên” góp phần vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Pháttriển giáo dục đại học từ nội dung, chương trình đến phương pháp, đội ngũ giảng viên,cán bộ quản lý giáo dục phát triển, quy mô và cơ cấu đào tạo gắn đào tạo với nhu cầuphát triển của xã hội, đến việc hoàn thiện thể chế chính sách pháp luật tạo điều kiện chogiáo dục đại học phát triển Nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, nâng cao chất lượng
Trang 30nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, trong điều kiện kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Nhưng đổi mới và phát triển giáo dục đại học hiện nay không phải là phủ địnhsạch trơn những thành tựu của giai đoạn trước mà phải trên cơ sở kế thừa và phát huynhững thành tựu đạt được, khắc phục sớm những hạn chế, khiếm khuyết của nền giáodục hiện nay, nhằm xây dựng và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, đápứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước
Tóm lại, chương 1 đã đưa ra những nhân tố tác động kể trên là nền tảng vữngchắc cho việc hoạch định những đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, phápluật của Nhà nước về phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam hiện trong giai đoạnhiện nay Việc đổi mới tư duy về giáo dục đại học để có cách nhìn hệ thống, nhằmxây dựng một hướng chiến lược cho phát triển giáo dục đại học có tính đột phá: Lấygiáo dục đại học làm đòn bẩy để nhanh chóng rút ngắn khoảng cách tụt hậu, đào tạonguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, phát triểnnền kinh tế tri thức ngang tầm các nước trong khu vực và trên thế giới
Trang 31Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12 – 1986) của Đảng Cộng sản ViệtNam là dấu mốc quan trọng trong chặng đường phát triển của dân tộc Việt Nam Đạihội đề ra đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc trên tất cá các lĩnh vực của đời sống xãhội Từ khi đổi mới đến nay, đi đối với sự phát triển của đất nước là sự định hìnhcàng rõ nét hơn đường lối đổi mới trên các lĩnh vực khác của đất nước như kinh tế,chính trị, văn hóa – xã hội , đường lối phát triển GD - ĐT cũng từng bước được bổsung và dần dần hoàn thiện nhằm phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam và xuthế vận động, phát triển của các nước trên thế giới
Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của giáo dục với sự phát triển của đất nước, ĐảngCộng sản Việt Nam đã không ngừng bổ sung hoàn thiện quan điểm chỉ đạo, nhằm giảiquyết những vấn đề tồn tại, đồng thời đã xây dựng những chiến lược với những mục tiêudài hạn nhằm xây dựng nền giáo dục đại học Việt Nam hiện đại, tiên tiến mang đậm bảnsắc dân tộc Việt Đảng Cộng sản Việt Nam xác định để đạt được mục tiêu của sự nghiệpđổi mới, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, đổi mới không chỉ bằng
sự nhiệt tình và lòng dũng cảm mà cần phải có trình độ tri thức khoa học, huy động mọitài năng sáng tạo và khẳng định: GD - ĐT là quốc sách hàng đầu
Sau đây là một số nội cơ bản quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam vềphát triển giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay:
2.1 Xác định giáo dục đại học là quốc sách hàng đầu
Bước sang thế kỷ XXI, sự phát triển nhanh chóng của KH - CN, xu thế toàncầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang tác động mạnh mẽ tới nền giáo dục đạihọc nước nhà Nhiệm vụ bao quát hàng đầu của sự nghiệp GD - ĐT ở Việt Nam làxây dựng con người với tư cách vừa là động lực vừa là mục tiêu của cách mạng,thuấn nhuần những giá trị và chuẩn mực tri thức khoa học phù hợp với yêu cầu pháttriển đất nước trong giai đoạn mới
Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định:
“Phát triển KH - CN cùng với phát triển GD - ĐT là quốc sách hàng đầu, là nền tảng
và động lực để đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”[28, tr 57]
Trang 32“Phát triển GD - ĐT là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sựnghệp CNH, HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản đểphát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và vững bền” [28, tr 53] Và được cụ thể
ở điều 35 của Hiến pháp 1992: giáo dục là quốc sách hàng đầu, việc thể chế hóa quanđiểm của Đảng vào Hiến pháp cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam nhìn nhận vai trò tolớn của giáo dục nói chung giáo dục đại học nói riêng đối với sự phát triển đất nước.Giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng là nhân tố chìa khóa, là động lực thúc đẩynền kinh tế phát triển Không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia khác trên thếgiới, các chính phủ đều coi giáo dục đại học là quốc sách hàng đầu
Đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã đưa ra những định hướng quanđiểm về phát triển giáo dục trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH với những tư tưởngchỉ đạo: thực sự coi GD - ĐT là quốc sách hàng đầu; phát triển GD - ĐT gắn với nhucầu phát triển KT - XH, giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với việc
đa dạng hóa các loại hình GD - ĐT, trên cơ sở nhà nước thống nhất quản lý “Pháttriển và nâng cao chất lượng đào tạo đại học[ ] tập trung xây dựng một số trường đạihọc trọng điểm quốc gia, ngang tầm khu vự, tiến tới đạt trình độ quốc tê”[32, tr 528].Nhằm đào tạo, bồi dưỡng nhân lực, nhân tài cho đất nước
Tiếp tục khẳng định quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu, Đại hội X của
Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định quan điểm: Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phá triển kinh tế tri thức Một trong những đặc điểm nổi bật của đất nước ta trong quá
trình đi lên chủ nghĩa xã hội là đặc điểm xuất phát thấp, kinh tế kém phát triển Bởivậy, tiến hành CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức với những bước đi, hìnhthức phù hợp là một quá trình mang tính tất yếu khách quan
Nền kinh tế tri thức có những đặc trưng cơ bản như: Tri thức đã trở thành lựclượng sản xuất trực tiếp, là vốn; Trong nền kinh tế tri thức, cơ cấu sản xuất dựa ngàycàng nhiều vào việc ứng dụng các thành tựu của KH - CN, đặc biệt là công nghệ cao;
Cơ cấu lao động trong kinh tế tri thức có những biến đổi như lao động tri thức chiếm
tỷ trọng cao (70-90%), nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hóa, sự sáng tạo,đổi mới, học tập trở thành nhu cầu thường xuyên đối với mọi người Ở đỉnh cao của
nó, xã hội của nền kinh tế tri thức sẽ trở thành xã hội học tập; Trong nền kinh tế tri
Trang 33thức đều liên quan đến vấn đề toàn cầu hóa Do đó, phát triển giáo dục bậc cao – giáodục đại học là một khâu quan trọng trong chiến lược pháp triển đất nước Giáo dụcphải đi trước một bước, thậm chí là nhiều bước, tạo tiền đề nền tảng thúc đẩy các lĩnhvực xã hội phát triển.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổsung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: Phát triển giáo dục là quốc sách hàngđầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phầnquan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam Pháttriển GD - ĐT cùng với phát triển KH - CN là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáodục là đầu tư phát triển
Do đó, cần tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng,lợi thế của đất nước để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước theo định hướng xãhội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức Vì vậy, cần đẩy mạnh phát triển GD
- ĐT đặc biệt là giáo dục đại học nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đápứng nhu cầu xã hội Là quốc gia đi sau Việt Nam có thể không cần qua các bước tuần
tự từ kinh tế nông nghiệp đến kinh tế công nghiệp rồi mới đến phát triển kinh tế trithức mà Việt Nam có thể tiến hành CNH, HĐH đất nước và xây dựng nền kinh tế trithức ngay Đó là lợi thế của các nước như Việt Nam, tuyệt nhiên không phải là nóngvội chủ quan, duy ý chí về con đường xây dựng và phát triển nền kinh tế đất nước.Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: trong thế kỷ XXI: “Con đường CNH, HĐH củanước ta cần và có thể rút ngắn thời gian ,vừa có những bước tuần tự, vừa có nhữngbước nhảy vọt Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạttrình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học,tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn nhữngthành tựu về KH - CN, từng bước phát triển kinh tế tri thức”[28, tr 25]
Do đó, phải thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp củaĐảng, Nhà nước và của toàn dân Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai tròcác tổ chức, đoàn thể chính trị, kinh tế, xã hội trong phát triển giáo dục Đầu tư chogiáo dục là đầu tư cho tương lai, đầu tư cho phát triển bền vững Thực hiện các chínhsách ưu tiên đối với ngành giáo dục – giáo dục đại học, đặc biệt là chính
Trang 34sách đầu tư và chính sách tiền lương để cán giảng dạy yên tâm công tác Phát triểngiáo dục đại học tạo điều kiện cho mọi người, mọi tầng lớp trong xã hội có cơ hộinhư nhau tiếp cận với nền giáo dục mới, có cơ hội phát triển toàn diện Đồng thời đápứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Đảng khẳng định:“ Ở Việt Nam hiện nay, đã và đang chín muồi yêu cầu khách
quan, bức xúc của một cuộc cải cách giáo dục Nó đòi hỏi phải đặt vấn đề và giảiquyết vấn đề theo một cách mới, khác về nguyên tắc và phương pháp so với các cuộccải cách giáo dục trước đây – đó là cải cách giáo dục trên tinh thần cách mạng hóalĩnh vực GD - ĐT, nhằm phát triển con người và xã hội Việt Nam trong bối cảnh đổimới để phát triển, trong điều kiện xuất hiện kinh tế tri thức và toàn cầu hóa trên thếgiới mà ta không thể không lảnh tránh, không thể không chuẩn bị những hành trang
để chuẩn bị hội nhập”[94, tr 181]
Sự nghiệp GD - ĐT có vị trí quan trọng trong chiến lược con người, chiến lượcphát triển KT - XH của đất nước “Nguồn tài nguyên và sự giàu có của một quốc giakhông phải nằm trong lòng đất mà chính là nằm trong bản thân con người, trí tuệ conngười” Muốn tiến hành CNH, HĐH thắng lợi phải đẩy mạnh phát triển giáo dục đạihọc vì giáo dục đại học có vai trò quan trọng trong lĩnh vực sản xuất vật chất xã hộicũng như xây dựng nền văn hoá
Trong thời đại KH – CN phát triển như vũ bão hiện nay, hàm lượng trí tuệ khoahọc kết tinh trong sản phẩm hàng hoá ngày càng tăng; tài năng trí tuệ, năng lực và bảnlĩnh trong lao động sáng tạo của con người, không phải xuất hiện một cách ngẫu nhiên,
tự phát, mà phải trải qua quá trình đào luyện công phu có hệ thống Vì vậy giáo dục nóichung, giáo dục đại học nói riêng hiện nay được nhìn nhận không phải là yếu tố phi sảnxuất mà là yếu tố bên trong cấu thành của nền sản xuất xã hội Thực tiễn cho thấy rằngkhông có quốc gia nào muốn phát triển mà ít đầu tư cho giáo dục Công cuộc chạy đuaphát triển kinh tế của thế giới hiện nay là cuộc chạy đua về KH - CN, chạy đua về pháttriển GD - ĐT Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đãnhấn mạnh: Thực sự coi GD - ĐT là quốc sách hàng đầu Nhận thức sâu sắc giáo dục đạihọc là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Đầu tư cho giáo dụcđại học là đầu tư phát triển, đầu tư cho tương lai
Giáo dục đại học không chỉ có vai trò quan trọng trên lĩnh vực sản xuất vật
Trang 35Giáo dục có tác động vô cùng to lớn trong việc truyền bá hệ tư tưởng chính trị xã hộichủ nghĩa, xây dựng ý thức pháp quyền và ý thức đạo đức, xây dựng nền văn hoá, vănhọc nghệ thuật, góp phần cơ bản vào việc hình thành lối sống mới, nhân cách mới củatoàn bộ xã hội Đảng ta đã chỉ rõ: Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằmxây dựng con người và thế hệ thiết tha, gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường, xây dựng và bảo vệ tổquốc; thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị vănhoá của dân tộc…là những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội…Như vậy giáodục đại học có tác dụng to lớn đến toàn bộ đời sống vật chất và đời sống tinh thần của
xã hội Phát triển giáo dục đại học là cơ sở để thực hiện chiến lược phát triển KT
-XH, chiến lược con người của Đảng và Nhà nước ta
Giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu trong chính sách phát triển đất nướchiện nay, thì giáo dục đại học phải được ưu tiên trước nhất trong sự nghiệp phát triểngiáo dục đất nước vì giáo dục đại học là bậc học cao nhất trong hệ thống giáo dục,nơi tiếp cận nền tri thức cao nhất, mới nhất do đó, phát triển giáo dục đại học là quốcsách hàng đầu nhằm đào tạo nhận lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH đất nước Phát triển giáo dục đại học sẽ tạo động lực, nền tảng cho các ngànhnghề khác phát triển là yếu tố quan trọng cho sự phát triển nhanh và bền vững của đấtnước
2.2 Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học, phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao
Trong những năm đổi mới, Việt Nam đã giành được nhiều thành tựu to lớn, có
ý nghĩa lịch sử sâu sắc Việt Nam thực hiện thành công bước đầu công cuộc đổi mới,
ra khỏi tình trạng kém phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Hệ thốngchính trị, khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố, tăng cường Độc lập, chủ quyền,thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và uytín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên Sức mạnh tổng hợp của đất nước
đã tăng lên rất nhiều, tạo tiền đề để Việt Nam tiếp tục phát triển theo con đường xãhội chủ nghĩa, nền giáo dục đại học Việt Nam đã có một số thành tựu đáng kể thôngqua việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhànước Mặc dù, trong những năm qua mặc dù giáo dục Việt Nam đã đạt
Trang 36được những bước tiến dài, chất lượng được nâng lên, nhưng nền giáo dục đại họcViệt Nam vẫn chưa thoát hết sự ảnh hưởng của lối học cũ theo kiểu khoa bảng, bằngcấp Hơn nữa giáo dục đại học chưa thật sự là giáo dục của dân, do dân và vì dân,chưa có quan hệ hữu cơ với quá trình phát triển KT - XH, chưa gắn với nhu cầu pháttriển của xã hội, đào tạo chưa gắn với sử dụng Mục tiêu, nội dung, phương pháp còn lạc hậu so với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệpđẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Nên giáo dục Việt Nam còn thua kém so với nhiềunước trong khu vực và trên thế giới, chất lượng lao động Việt Nam còn thấp chưa đápứng được yêu cầu hội nhập phát triển.
Trước thực trạng nêu trên, kế thừa phát triển quan điểm chỉ đạo từ các kỳ đạihội trước, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa
ra quan điểm chỉ đạo: đổi mới toàn diện GD - ĐT, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Định hướng bao trùm là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới
cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học, thực hiện chuẩnhóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam
Tiếp nối quan điểm đó của Đại hội X, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XInhấn mạnh: “Đổi mới căn bản GD - ĐT,… Phát triển nguồn nhân lực chất lượngcao”[30, tr 217], và Cương lĩnh năm 2011 tiếp tục khẳng định quan điểm đổi mới cănbản toàn diện giáo dục nói chung và nói riêng, bên cạnh đó Cương lĩnh 2011 đã cóbước phát triển mới: Đổi mới căn bản và toàn diện GD - ĐT theo nhu cầu phát triểncủa xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dânchủ hoá và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân đượchọc tập suốt đời
Do đó, trong những năm trước mắt, giải quyết dứt điểm những vấn đề bức xúc
đó là sửa đổi chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực của sự nghiệpCNH, HĐH; cải tiến chế độ thi cử, khắc phục khuynh hướng "thương mại hoá" giáodục, ngăn chặn những tiêu cực trong giáo dục; quản lý chặt chẽ việc cấp vă n bằng,công nhận học hàm, học vị; chấn chỉnh công tác quản lý hệ thống trường học cả cônglập và ngoài công lập Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho
Trang 37môn khoa học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học Thực hiệncông bằng xã hội trong giáo dục đại học, tạo điều kiện cho sinh viên có hoàn cảnhkhó khăn có cơ hội học tập Có quy hoạch và chính sách tuyển chọn sinh viên giỏi,đặc biệt chú ý trong con em công nhân và nông dân, để đào tạo ở bậc đại học.
Chương trình đào tạo đại học phải thiết thực, vừa đáp ứng yêu cầu của thựctiễn phát triển KT - XH của đất nước, vừa tiếp cận trình độ tiên tiến của khu vực vàthế giới Quan tâm thích đáng đến đội ngũ giảng viên, đẩy mạnh đào tạo, lựa chọn độingũ nhà giáo cho các trường đại học, cao đẳng, cả trường công lập và ngoài công lập,cải tiến chế độ lương cho giáo viên Đảm bảo đủ số lượng, nâng cáo chất lượng độingũ giáo viên ở tất cả các cấp bậc học Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáodục, phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học
Định hướng là: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; đổi mới chương trình, nội dung phương pháp dạy và học; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành Đẩy mạnh đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội; xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời” [30, tr 41–42] Đối với giáo dục đại học: “Thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, bảo đảm cơ chế
tự chủ gắn với nâng cao trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo Tập trung đầu tư xây dựng một số trường, khoa, chuyên ngành mũi nhọn, chất lượng cao”
[30, tr 131]
Ngày 4/11/2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyếtHội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW)
về đổi mới căn bản, toàn diện GD - ĐT Nghị quyết đã nêu bật những thành công, hạn
chế của nền giáo dục Việt Nam sau nhiều năm đổi mới đồng thời đưa ra quan điểmchỉ đạo, mục tiêu và giải pháp thực hiện Đó là tiếp tục khẳng định quan điểm: giáodục là quốc sách hàng đầu, đồng thời tiến hành đổi mới căn bản, toàn diện giáo dụcnói chung và giáo dục đại học nói riêng, nhằm nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực,nhân tài phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước
Trang 38Nghị quyết nhấn mạnh: đổi mới giáo dục là đổi mới ở tất cả bậc học và ngànhhọc; Chuyển mạnh quá trình giáo dục đại học từ chủ yếu trang bị kiến thức sang pháttriển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; Phát triển giáo dục đại học phải gắnvới nhu cầu phát triển KT - XH và bảo vệ Tổ quốc; Đổi mới hệ thống giáo dục theohướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học đảm bảo chuẩn hóa, hiện đại hóa vàdân chủ trong GD - ĐT; Hoàn thiện cơ chế quản lý dục (giáo dục công lập, giáo dụcngoài công lập, và các cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài), tăng cường tính tự chủcho các cơ sở đào tạo; có bước đi, lộ trình cụ thể về hợp tác phát triển giáo dục đốivới các nước trong khu vực và trên thế giới…Thiết kế cơ cấu hệ thống giáo dục đạihọc hoàn chỉnh, đồng bộ với giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp, nhằm vừađào tạo đỉnh cao, vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển ở các trình độ khácnhau và nâng cao dân trí Giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển đồng thời cả quy
mô và nâng cao chất lượng giáo dục đại học Cải tiến công tác tuyển sinh để giảm nhẹcông tác tuyển chọn đầu vào Giữ gìn kỷ cương, nề nếp trong học tập, giảng dạy, thi
cử, đánh giá, đẩy lùi tiêu cực, gian lận trong giảng dạy, học, thi, để đảm bảo chấtlượng đầu ra, chất lượng đào tạo
Mục tiêu của đổi mới giáo dục là tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả GD - ĐT; Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt,
học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xãhội học tập; Đối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồidưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạocủa người học Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề
và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia; trong đó, cómột số trường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực và quốc tế
Nhiệm vụ, giải pháp thực hiện là: đổi mới chương trình, phương thức dạy vàhọc Đối với giáo dục đại học: Đổi mới mạnh mẽ nội dung giáo dục đại học theohướng hiện đại, phù hợp với từng ngành, nhóm ngành đào tạo và việc phân tầng của
hệ thống giáo dục đại học Quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục đại học gắn vớiquy hoạch phát triển KT - XH, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực; đa dạng hóa cácloại hình đào tạo, khuyến khích xã hội hóa để đầu tư xây dựng và phát triển các
Trang 39lý giáo dục (giáo dục công lập, giáo dục ngoài công lập, và các cơ sở giáo dục có yếu
tố nước ngoài); Đồng thời tiến hành điều chỉnh chương trình giáo dục đại học đápứng yêu cầu về chất lượng đào tạo và nhân lực của từng ngành, nghề, địa phương,toàn xã hội theo hướng tăng cường năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, đạo đứcnghề nghiệp và hiểu biết xã hội Hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường tính tự chủcho các cơ sở đào tạo; có bước đi, lộ trình cụ thể về hợp tác phát triển giáo dục đối
với các nước trong khu vực và trên thế giới…“Phát triển hệ thống kiểm định và công
cố công khai kết quả kiểm định chất lượng GD - ĐT; tổ chức xếp hạng các cơ sở GD
- ĐT Tăng cường công tác thanh tra; kiên quyết khắc phục các hiện tượng tiêu cực
trong GD - ĐT Hoàn thiện cơ chế, chính sách xã hội hóa GD - ĐT trên cả ba
phương diện: động viên các nguồn lực xã hội (xã hội hóa GD - ĐT); phát huy vai trògiám sát của cộng đồng; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xâydựng xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân được học tập suốt đời Nâng cao hiệuquả hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo”[32, tr 818]
Tuy nhiên, cần lưu ý đổi mới căn bản, toàn diện không có nghĩa là làm lại tất cả,làm lại từ đầu, phủ định sạch trơn những thành tựu trong đổi mới giáo dục ở giai đoạntrước, những quan điểm chỉ đạo đúng đắn, đồng thời tiếp tục thực hiện những bước đi cụthể chưa hoàn thành của giai đoạn trước (phù hợp) Yêu cầu đặt ra trong đổi mới là cầncân nhắc xem xét, kế thừa những gì và phải thay đổi những gì cho phù hợp với giai đoạnphát triển mới của đất nước, không được nóng vội chủ quan, duy ý chí
Về chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa: đó là chuẩn hoá về mọimặt, từ chương trình, sách giáo khoa, đội ngũ giảng dạy… đến trường lớp, bàn ghế, thiết
bị dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục; Hiện đại hóa trong giáo dục được hiểu làhiện đại hóa các thành tố của giáo dục, trước hết phải hiện đại hóa nội dung, phươngpháp giáo dục và cùng với nó là cơ sở vật chất, thiết bị dạy học Nội dung giáo dục phảiphản ánh những thành tựu mới nhất của các khoa học và thành tựu phát triển KT - XHcủa đất nước, của thế giới phù hợp với điều kiện thực tiễn và xu hướng đi lên của nhânloại Phương pháp giáo dục đổi mới theo hướng thức tỉnh tối đa tiềm năng của ngườihọc, hình thành và phát triển ở người học những năng lực chung và năng lực chuyên biệt,khả năng thích nghi tốt nhất, nhanh nhất, tinh thần phê phán khách quan, khoa học, tưduy sáng tạo và có phương pháp tự học suốt đời, nhằm phát triển toàn diện năng lực của
Trang 40người học Đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào giáo dục, đặc biệt
là giáo dục đại học; thực hiện công khai, minh bạch, công bằng các chính sách, chế
độ đối với cán bộ giảng dạy, cán bộ quản lý và người học Dân chủ hóa nhà trườngphải đảm bảo nguyên tắc dân chủ trong mọi quan hệ trong nhà trường; Xã hội hóagiáo dục thể hiện sự nghiệp giáo dục là của toàn dân, của toàn xã hội, đồng thời mọingười có quyền được hưởng nền giáo dục mới, hướng tới một xã hội học tập Ngườihọc có điều kiện được học tập suốt đời
Xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý đáp ứng yêu cầu của nền giáo dụchiện đại; hoàn hiện chính sách, cơ chế tài chính và xã hội hóa trong GD - ĐT; chủđộng hội nhập quốc tế (kêu gọi đầu tư trực tiếp vào giáo dục, tăng quy mô đào tạo tạinước ngoài bằng ngân sách nhà nước…)
Đồng thời tiến hành điều chỉnh chương trình giáo dục đại học đáp ứng yêucầu về chất lượng đào tạo và nhân lực của từng ngành, nghề, địa phương, toàn xã hộitheo hướng tăng cường năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, đạo đức nghề nghiệp
và hiểu biết xã hội Hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường tính tự chủ cho các cơ sởđào tạo; có bước đi, lộ trình cụ thể về hợp tác phát triển giáo dục đối với các nướctrong khu vực và trên thế giới…
Về đổi mới cơ chế quản lý giáo dục: Chuyển các cơ sở giáo dục đại học công
lập sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, có pháp nhân đầy đủ, có quyền quyết định vàchịu trách nhiệm về đào tạo, nghiên cứu, tổ chức, nhân sự và tài chính Quản lý nhànước tập trung vào việc xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược phát triển; chỉ đạotriển khai hệ thống bảo đảm chất lượng và kiểm định giáo dục đại học; hoàn thiệnmôi trường pháp lý; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, điều tiết vĩ mô cơ cấu vàquy mô giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu nhân lực của đất nước trong từng thời kỳ;Xây dựng Luật Giáo dục đại học; Đổi mới toàn diện công tác quản lý nhà nước vềgiáo dục theo hướng phân công, phân cấp rõ trách nhiệm, quyền hạn của Bộ Giáo dục
và Đào tạo của các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ sở giáo dục,lấy việcquản lý chất lượng làm nhiệm vụ trọng tâm; củng cố, tổ chức thanh tra và đẩy mạnhcông tác thanh tra giáo dục, thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục hàng năm, đổimới thi đua trong giáo dục, khắc phục bệnh thành tích chủ nghĩa