DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮTAPEC Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương AFTA Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN AIPA Hội đồng Liên nghị viện các quốc gia Đông Nam Á ASEM Diễn đàn hợp t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA QUỐC TẾ HỌC
-o0o -TRẦN ĐỨC DŨNG
Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và các quốc gia thuộc
khu vực Nam Mỹ giai đoạn 1991 -2011
Luận văn thạc sỹ Chuyên nghành : Quan hệ quốc tế
Hà Nội, 2015
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Chương 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỐI QUAN HỆ KINH TẾ CỦA VIỆT NAM VÀ CÁC QUỐC GIA NAM MỸ
1.1Quan hệ chính trị giữa Việt Nam và các nước Nam Mỹ
1.2 Chính sách hội nhập và quan hệ Kinh tế đối ngoại của Việt Nam và các quốc gia Nam Mỹ
1.2.1Việt Nam
1.2.2 Các quốc gia Nam Mỹ
Chương 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA VIỆT NAM VÀ
CÁC QUỐC GIA NAM MỸ
2.1Cơ chế hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Nam Mỹ
2.1.1Ủy ban Liên chính phủ hoặc Ủy ban hỗn hợp
2.1.2Diễn đàn Hợp tác Đông Á- Mỹ Latinh (FEALAC)
2.1.3Hiệp định thương mại tự do đầu tiên giữa Việt Nam và khu vực Mỹ Latinh: FTA Việt Nam- Chile
2.2 Thương mại giữa Việt Nam và các quốc gia Nam Mỹ
2.3 Quan hệ kinh tế song phương giữa Việt Nam và một số quốc gia khu vực Nam Mỹ
Chương 3: ĐÁNH GIÁ TRIỂN VỌNG QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC QUỐC GIA KHU VỰC NAM MỸ TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020 79
3.1 Thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển và đẩy mạnh hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và các quốc gia Nam Mỹ .
3.1.1 Thuận lợi
3.1.2 Khó khăn
3.2 Cơ hội và thách thức trong việc phát triển mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và các quốc gia khu vực Nam Mỹ .
1
Trang 33.3 Các phương hướng, biện pháp nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế Việt Nam-Mỹ
Latinh trong bối cảnh mới nhằm tận dụng những cơ hội và thách thức mới 87
3.3.1 Mục tiêu tổng quan: 88
3.3.2 Các phương hướng lớn 88
3.3.3 Đề xuất các nhóm giải pháp cụ thể: 90
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 102
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APEC Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
AFTA Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
AIPA Hội đồng Liên nghị viện các quốc gia Đông Nam Á
ASEM Diễn đàn hợp tác Á – Âu
EU Liên minh Châu Âu
FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
IBRD Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế
IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế
MOU Biên bản ghi nhớ
PVN Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
TPP Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương
UNDP Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
3
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, dưới tác động của cách mạng khoa học công nghệ và các nhân
tố khác xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa đang diễn ra hết sức mạnh mẽ,phân công lao động quốc tế trở nên ngày càng sâu sắc hơn Trong bối cảnh đócác quốc gia không thể thực hiện chính sách đóng cửa mà phát triển được.Đặcbiệt Việt Nam lại là một quốc gia đi lên từ nền kinh tế lạc hậu, yếu kém vềcông nghệ, kỹ thuật và nguồn vốn thì mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoàilại càng có vai trò quan trọng Do đó để hội nhập một cách có hiệu quả, tạiĐại hội Đảng toàn quốc lần thứ 7, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra đườnglối đối ngoại mở rộng nhằm đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tếtrên tinh thần “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trên thế giới phấnđấu vì hòa bình độc lập và phát triển” Việt Nam đã thiết lập được những quan
hệ ngoại giao quan trọng, dần nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế.Điều đó càng khẳng định đường lối đối ngoại của Đảng ta là hoàn toàn đúngđắn, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội trong thời đại mới
Trong những năm gần đây xuất khẩu của Việt Nam đã có những bước tăngtrưởng vượt bậc Xuất khẩu năm 2013 đóng góp đến 77% GDP, nhiều khảnăng đóng góp này sẽ lên đến con số 80% trong năm 20141 Điều này cho tathấy được kinh tế đối ngoại đóng một vai trò hết sức quan trọng quá trình pháttriển của nền kinh tế của Việt Nam Vì vậy ngoài việc chú trọng phát triểnnhững thị trường trọng điểm như : Châu Âu, Mỹ, Trung Quốc… Việt
Nam cũng cần tìm kiếm những thị trường mới cho xuất khẩu hàng hóa củamình Và một trong các thị trường mà Việt Nam muốn nhắm tới đó là thịtrường Nam Mỹ, đây là thị trường rất quan trọng và giàu tiềm năng tại khuvực Mỹ Latinh
1 Theo số liệu báo cáo của HSBC Globe Research
Trang 6Trong những năm vừa qua, các quốc gia Nam Mỹ đã thu hút được nhiều
sự chú ý của cộng đồng quốc tế với những chính sách tự do hóa thương mại,kiên trì thực hiện chiến lược tăng kim ngạch xuất khẩu Theo phân tích số liệuthống kể của Ủy ban Kinh tế Mỹ Latinh và các nước Carribe của Liên HiệpQuốc, tổng kim ngạch xuất khẩu của Khu vực Nam Mỹ 2011 đạt 675,6 tỷUSD và kim ngạch nhập khẩu tăng ở mức 560,2 tỷ USD Thêm vào đó vớiđiều kiện tự nhiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, rất giàu tàinguyên thiên nhiên và là nguồn cung cấp nhiều sản phẩm quan trọng cho thịtrường thế giới như dầu thô, quặng sắt, cà phê, đồng tinh chế…Và với vị tríđịa lý thuận lợi, thị trường Nam Mỹ cũng là cửa ngõ quan trọng cho hàng hóaViệt Nam thâm nhập sâu vào thị trường Mỹ và Canada
Trong khi đó Việt Nam và các nước Nam Mỹ có một mối quan hệkhăng khít, gắn bó, hữu hảo, một sự tương đồng về trình độ phát triển nóchính là tiền đề để hai bên hình thành và phát triển mối quan hệ kinh tế này
Và giờ đây xa cách địa lý và khác biệt ngôn ngữ không còn là trở ngại khôngthể vượt qua trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay để mọi người bắt tayvới nhau Thực tế xuất khẩu của Việt Nam sang các quốc gia Nam Mỹ đã đạtcon số 1,1 tỷ USD trong năm 20112 tăng 32% so với năm 2010 Mặc dù vậythì sự phát triển quan hệ kinh tế thương mại như trên vẫn chưa tương xứngvới tiềm năng to lớn mà hay bên có được
Dựa trên cơ sở thực tế quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa Việt Nam với cácnước khu vực Nam Mỹ, luận văn với đề tài “Quan hệ kinh tế giữa Việt nam vàcác quốc gia thuộc khu vực Nam Mỹ giai đoạn từ 1991 -2011” được thực hiệnvới mục đích một lần nữa nhìn nhận và đánh giá lại một cách khái quát nhấtmối quan hệ bang giao bằng hữu này để từ đó có những chiến lược, định
2 Theo số liệu của Tổng cục hải quan Việt Nam
5
Trang 7hướng nhằm cố gắng thúc đẩy hơn nữa quan hệ hữu nghị hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và các quốc gia khu vực Nam Mỹ.
Ở nước ngoài, đến thời điểm hiện tại chưa có một công trình nghiên cứuhay một bài viết nào cụ thể nói về mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và cácquốc gia khu vực Nam Mỹ Có chăng cũng chỉ là một số bài viết đơn lẻ nói về
Mỹ Latinh cũng như tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam đơn cử như cáctác phẩm “Aprender la Experiencia de Vietnam y los paises socialistas delsifglo XX”(Học tập kinh nghiệm Việt Nam và các nước Chủ nghĩa xã hội thế
kỷ 20 để phát triển xã hội chủ nghĩa thế kỷ 21) của tác giả Alberto Blancođăng trên báo Universal ngày 10/08/2010; “La pequena aldea contra la aldeaglobal”(Thời đại làng xã – Làng nhỏ chống lại toàn cầu hóa) của tác giảThomas, Victor Bulmer năm 2002; hay tác phẩm “La hora de America Latina
ha llegado”(giờ khắc của Mỹ Latinh đã đến) của tác giả Nidia Díaz đăng ngày30/04/2006 trên Granma Internacional Những bài viết này chủ yếu mới chỉdừng lại ở việc đưa ra kinh nghiệm của Việt Nam trong quá trình đấu tranhgiành độc lập, phát triển kinh tế, cũng như tình hình kinh tế của các quốc giatrong khu vực Mỹ Latinh chưa đi sâu vào phân tích mối quan hệ giữa ViệtNam với các quốc gia này
Ở Việt Nam, tuy chưa nhiều những cũng đã có một số đề tài, bài viếtnghiên cứu về tình hình hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và một số quốc giaNam Mỹ, chủ yếu của Bộ Ngoại Giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ CôngThương, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Nghiên cứu ChâuMỹ…Tiêu biểulà giáo trình “Việt Nam – Châu Mỹ cơ hội và thách thức” củaHọc viện Quan hệ Quốc tế 2005 do Nguyễn Đức Hùng làm chủ biên; đề tài
“Cải cách kinh tế ở một số nền kinh tế thị trường Mỹ Latinh” của TS Khu ThịTuyết Mai 2005; thêm vào đó cũng có rất nhiều các bài viết được đăng
Trang 8trên các tạp chí và báo như “ Argentina – cánh cửa vào thị trường Nam Mỹ”của Kim Thái đăng trên Thời báo kinh tế Việt nam ngày 14/08/2008; “Đẩymạnh xúc tiến thương mại Việt Nam – Nam Mỹ” đăng trên Báo điện tử ĐảngCộng Sản Việt Nam ngày 27/01/2008; “Nam Mỹ - Cơ hội xuất khẩu của cácdoanh nghiệp Việt Nam ” đăng trên trang thông tin của Infotv ngày20/03/2009…Về luận văn cao học của Học viện Quan hệ Quốc tế thì cũng rất
ít luận văn viết về đề tài Nam Mỹ Hầu hết các tài liệu này thường chỉ phântích tổng thể mối quan hệ với cả khu vực Mỹ Latinh rộng lớn hoặc tập trungvào một số nước nổi bật (Argentina, Brazil …) Cho đến nay chưa có một đềtài nghiên cứu có tính hệ thống nào đề cập đến chỉ riêng khu vực Nam Mỹhoặc mối quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam với mười hai quốc giathuộc khu vực này
Hiện nay, trước xu thế toàn cầu hóa và tiến trình hội nhập kinh tế cần mởrộng quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và các quốc gia khu vực Nam
Mỹ, việc nghiên cứu chuyên sâu vào đề tài là cần thiết góp phần đưa ra mộtcái nhìn tổng quan về mối quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và cácquốc gia Nam Mỹ
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mối quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và các quốc gia Nam Mỹ từ 1991 - 2011
Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian : Đề tài nghiên cứu chú trọng vào nền tảng và tình hìnhphát triển cũng như là triển vọng của mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam vàcác quốc gia Nam Mỹ
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu quan hệ giữa Việt Nam và các quốc gia Nam Mỹ giai đoạn từ 1991 đến năm 2011
7
Trang 95 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và phương phápduy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng căn bản, kết hợp vậndụng các phương pháp khoa học khác như tổng hợp, thống kê và so sánh sốliệu để có thể phân tích và cho thấy được cái nhìn thực tế về tình hình cũngnhư tiềm năng và triển vọng của mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và cácquốc gia khu vực Nam Mỹ
6 Bố cục
Luận văn gồm 3 chương :
Chương 1 : Những nhân tố tác động đến mối quan hệ kinh tế của Việt Nam
và các quốc gia Nam Mỹ
Chương 2: Thực trạng Quan hệ kinh tế của Việt Nam với các Quốc gia khu
vực Nam Mỹ
Chương 3: Định hướng và triển vọng Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam
với các Quốc gia khu vực Nam Mỹ từ nay đến năm 2020
Do hạn chế về mặt thời gian và kiến thức, trong khuôn khổ một bàiluận văn tốt nghiệp thạc sỹ, chắc chắn nội dung đề cập sẽ chưa được đầy đủ
và không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong các thầy cô và các bạn đónggóp ý kiến để đề tài được hoàn thiện hơn
Trang 10Chương 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỐI QUAN HỆ KINH TẾ CỦA VIỆT NAM VÀ CÁC QUỐC GIA NAM MỸ
1.1 Quan hệ chính trị giữa Việt Nam và các nước Nam Mỹ
Do những điều kiện lịch sử và địa lý, quan hệ của Việt Nam và cácquốc gia Nam Mỹ mới chỉ phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây Thời
kỳ trước năm 1975, một số nước dưới chế độ độc tài cực hữu và thân Mỹ đãcông nhận chính quyền Sài Gòn Một số nước không công nhận chính quyềnSài Gòn nhưng cũng không công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chínhphủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.Việt Nam Dân chủCộng hòa thiết lập quan hệ chính thức với Chile dưới thời kỳ tổng thốngAllende (06/1972 – 09/1973) và với Argentina năm 1973 Tuy không có quan
hệ ngoại giao, cuộc đấu tranh chống Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Namtrong thời kỳ này đã nhận được sự cảm thông sâu sắc và mạnh mẽ của lựclượng dân tộc, dân chủ và cách mạng của các nước Nam Mỹ Điển hình làtrong thời kỳ kháng chiến cứu nước của nhân dân Việt Nam(1964), phong tràođoàn kết và ủng hộ Việt Nam phát triển mạnh và rộng khắp ở Venezuela Mộttrong những biểu hiện sinh động của phong trào này là sự kiện các du kíchquân Venezuela đã bắt trung tá tình báo Mỹ Michael Smolen để đánh đổi tự
do cho Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi Sau năm 1975, đã có thêm 3 nước Nam
Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam là Guyana (1975), Colombia(1979), và Ecuado (1980) Đồng thời lúc này đã số các nước Nam Mỹ ủng hộviệc kết nạp Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc và phê phán thái độ cản trở ViệtNam của Hoa Kỳ
Từ năm 1986, Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới và đạt nhiềuthành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực, từng bước khai thông quan hệ với Hoa
Kỳ Quan hệ của Việt Nam và các nước Nam Mỹ cũng có những bước chuyểnbiến nhất định Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với
9
Trang 11Bolivia(1987), Brazil và Venezuela (1989) Sau đó cũng có thêm một số nướcthiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam là Uruguay (1993), Peru (1994),Paraguay(1995), Suriname (1997), và Chile (2001) Hiện nay Việt Nam đãthiết lập quan hệ ngoại giao với toàn bộ 12 quốc gia Nam Mỹ Quan hệ củaViệt Nam với các quốc gia Nam Mỹ có một số đặc điểm nổi bật Trên phươngdiện lịch sử - chính trị, Việt Nam và các quốc gia Nam Mỹ đều là các nướcthuộc địa và bị can thiệp từ nước ngoài vì thế có chung mục tiêu đấu tranhchống ách đô hộ của thực dân và can thiệp của nước ngoài vì độc lập, tự do vàchủ quyền dân tộc Vì vậy hai bên có những thông cảm nhất định và ủng hộlẫn nhau.Việt Nam và các quốc gia Nam Mỹ đều được xếp hạng là nhữngnước đang phát triển.Trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay, hai bên đềumong muốn tăng cường và mở rộng quan hệ trên các lĩnh vực, đặc biệt làquan hệ hợp tác kinh tế và thương mại Sự hợp tác giữa Việt Nam và các quốcgia Nam Mỹ tạo điều kiện học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, khai thác thế mạnhcủa cả hai bên về nguồn nhiên liệu, lực lượng lao động, trình độ khoa họccông nghệ, và thị trường tiêu thụ hàng hóa, ở một mức độ nhất định đã gópphần giảm sự lệ thuộc vào các cường quốc kinh tế đặc biệt là Hoa Kỳ.
Để tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các quốc giaNam Mỹ, hai bên đã trao đổi nhiều đoàn viếng thăm cấp cao trong thời gianqua, cũng như đã đàm phán và ký kết nhiều hiệp định khung về hợp tác kinh
tế, thương mại, khuyến khích và bảo hộ đầu tư, hợp tác văn hóa giáo dục,khoa học kỹ thuật , tạo khuôn khổ pháp lý cho việc thúc đẩy tăng cường quan
hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực ví dụ như :
Nổi bật về phía Argentina có các đoàn Bộ trưởng Ngoại giao, Ngoạithương và Tôn giáo Gui-đô Đi Tê-la (6/1996), Tổng thống Các-lốt Mê-nem(2/1997), Bộ trưởng Tư pháp G Cam-pô (1999), Phó Chủ tịch Ủy ban Đối
Trang 12ngoại Hạ viện R Pu-ê-rơ-ta(10/2000), Đoàn Phó Quốc vụ khanh phụ tráchngoại thương- Bộ Ngoại giao, ngoại thương và Tôn giáo Lu-ít Ma-ri-a
(7/2008), Đoàn Thị trưởng Thành phố Bu-ê-nốt Ai-rết Mau-ri-xi-ô cri(7/2008), Thứ trưởng Ngoại giao Víc-tô-ri-ô Ta-xê-ti (6/2010), Bộ
Ma-trưởng Ngoại giao, Ngoại thương và Tôn giáo Héc-tô Ti-mờ-men (3/2012),Tổng thống Cri-xti-na Phéc-nan-đết (1/2013)
Về phía Việt Nam có đoàn Thứ trưởng Ngoại giao Lê Mai (10/1993),Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Hoàng Bích Sơn (7/1994), Tổng thanhtra Nhà nước Tạ Hữu Thanh (6/1998), Phó Thủ tướng, Bộ trưởng
Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (9/1999), Bộ trưởng Văn hoá và Thông tinNguyễn Khoa Điềm (2000), Chủ tịch nước Trần Đức Lương (11/2004), Chủtịch Quốc hội Nguyễn Văn An (3/2006), Thủ tướng
Tấn Dũng (4/2010), Thứ trưởng Ngoại giao Đoàn
và 8/2011), Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban chỉ
cách Tư pháp Trung ương Lê Thị Thu Ba (11/2011)
Hai nước đã khôi phục lại hoạt động của Ủy ban Hợp tác liên chính phủ(thành lập từ năm 1999), tiến hành khóa họp II tại Brunos Aires (5/2009) và tổchức khoá họp III dự kiến tại Hà Nội (10/2012)
Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư, Hợp tác Kinh tế-Thươngmại, Hợp tác Công và Nông nghiệp, Hợp tác Thú y, Tham khảo chính trị giữahai Bộ Ngoại giao (1996), Hợp tác Khoa học-Công nghệ, Hợp tác hai ngànhThanh tra (1997), Hợp tác Thể thao (1999), Hợp tác Văn hóa-Giáo dục, Hợptác Sử dụng Năng lượng Hạt nhân vào Mục đích Hòa bình (2002), thoả thuậnhợp tác về dầu khí giữa PVN và ENARSA, MOU cấp Bộ về hợp tác tronglĩnh vực năng lượng và dầu khí (3/2009), Tuyên bố chung cấp cao, Hiệp địnhcấp Chính phủ về Hợp tác Năng lượng, Bản Ghi nhớ hợp tác giữa hai BộNgoại giao về đàm phán kinh tế - thương mại và Chương trình hợp tác
11
Trang 13văn hóa giai đoạn 2010-2012 giữa hai Bộ Văn hóa (4/2010), Hiệp định Khung
về hợp tác kỹ thuật (8/2011)
- Với Brazil :
Về phía Việt Nam, nổi bật là các Đoàn Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh(5/2007), Chủ tịch nước Lê Đức Anh (10/1995) và Trần Đức Lương(11/2004), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An (3/2006), và nhiều đoàn cấpPhó Thủ tướng, Bộ/Thứ trưởng thăm Brazil;
Về phía Brazil, có đoàn Tổng thống Lula Da Silva(7/2008), Đoàn Quốchội - Ngoại giao - Thương mại do Chủ tịch Hạ viện Aldo Rabelo dẫn đầu(10/2003), Bộ trưởng Ngoại giao Celso Amorin (2/2008), Thứ trưởng Ngoạigiao Gomez de Mattos (11/2007), Thứ trưởng Bộ Phát triển và Công thươngIvan Ramalio (9/2007), một số đoàn Quốc hội, Bộ/ngành và doanh nghiệpthăm Việt Nam
Quan hệ văn hóa có bước phát triển mới: Bộ trưởng Văn hóa – Thểthao – Du lịch Hoàng Tuấn Anh thăm Brazil (10/2009) thống nhất triển khaichương trình hợp tác văn hóa giai đoạn 2010 -2012 và dự Tuần văn hóa ViệtNam tại Brazil;
Hội nghị sỹ Brazil-Việt Nam (thành lập từ 20/4/1999) đã hoạt động trởlại do Hạ nghị sĩ Colbenr làm Chủ tịch
Hai bên đã ký Thoả thuận về tham khảo chính trị giữa hai Bộ Ngoạigiao, Hiệp định về hợp tác văn hoá, Thoả thuận về hợp tác giữa hai PhòngThương mại, Thoả thuận về trao đổi công hàm dành cho nhau quy chế Tối huệquốc, Thoả thuận về miễn thị thực cho người mang hộ chiếu ngoại giao, Hiệpđịnh về Hợp tác Y tế và Y học, Bản Ghi nhớ thành lập Ủy ban hỗn hợp, Hiệpđịnh khung về hợp tác khoa học - công nghệ và Bản Ghi nhớ về hợp tácchống đói nghèo; Bản Ghi nhớ về hợp tác thể thao; Bản ghi nhớ hợp tác giữaNgân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) và Ngân hàng
Trang 14Brazil S.A Trong khóa họp đầu tiên của Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam-Brazil tạiBrazil (5/2009), hai bên đã ký Biên bản Thỏa thuận và tiếp tục thúc đẩy đàmphán các Hiệp định, Thoả thuận khác.Về hợp tác đa phương, Brazil đã ủng hộViệt Nam gia nhập WTO, ứng cử làm UV không thường trực HĐBA/LHQkhoá 2008-2009; Việt Nam khẳng định ủng hộ Brazil ứng cử làm Ủy viênkhông thường trực HĐBA LHQ nhiệm kỳ 2010-2011 và trở thành Ủy viênThường trực HĐBA/LHQ mở rộng
Về phía Uruguay, Chuyến thăm của Tổng thống Tabare Vazquez,
nguyên thủ đầu tiên của Uruguay thăm chính thức Việt Nam(11/2007)
- Với Chile :
Về phía Việt Nam thăm Chile gồm: Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởngNgoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (9/1999), Thủ tướng Phan Văn Khải(10/2002), Chủ tịch nước Trần Đức Lương (11/2004), TBT Nông Đức Mạnh(5/2007) Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (2009);
Các đoàn Chile thăm Việt Nam: Tổng thống Chi-lê Ri-các-đô La-gốt(10/2003), Tổng thống Chi-lê Michen Ba-chê-lê nhân dịp dự Hội nghị Cấpcao APEC 14 (11/2006); Phó Chủ tịch Thượng viện Chile Ma-ri-ô Ri-ốt(7/2000), Thứ trưởng Ngoại giao Thường trực Chi-lê H Mu-nhốt (10/2000),Phó Chủ tịch Thượng viện Chi-lê Ma-ri-ô Ri-ốt (9/2001), Bộ trưởng Ngoạigiao Chi-lê I Uôn-cơ (01/2006).Tổng thống Xê-bát-xti-an Pi-nhê-ra Ê-chê-ni-
kê (từ ngày 21 – 25/3/2012)
13
Trang 15Việt Nam và Chi-lê đã ký các Hiệp định Hợp tác Kinh tế - Thương mại(11/1993); Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư, Thoả thuận Tham khảo Chính trị
và Hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao (9/1999); Bản ghi nhớ về Hợp tác Văn hoá
- Giáo dục (12/2000); Kiểm dịch Động vật; Nghị định thư Hợp tác trong lĩnhvực mỏ và Thoả thuận Hợp tác giữa 2 Phòng Thương mại và Công nghiệp(10/2002); Miễn thị thực đối với hộ chiếu ngoại giao và công vụ (10/2003);Hợp tác Nghề cá và ý định thư về đàm phán đi đến ký kết Hiệp định Hợp tácKhoa học-Công nghệ (11/2004); Thỏa thuận Hợp tác về Du lịch (1/2006);Hợp tác Khoa học-Công nghệ và Thỏa thuận thành lập Uỷ ban hợp tác liênchính phủ Việt Nam-Chi-lê (5/2007); “Ý định thư lập Nhóm nghiên cứuchung về đàm phán Hiệp định Thương mại tự do song phương” và tiến tới lập
“Uỷ ban hợp tác liên chính phủ” (11/2006) Chi -lê ủng hộ Việt Nam vào Uỷban Kinh tế và Xã hội của Liên Hợp Quốc - ECOSOC (10/1997), Diễn đànHợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương - APEC (1998), ký Thoả thuậnkết thúc đàm phán song phương về việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thươngmại Thế giới - WTO, ủng hộ Việt Nam ứng cử Ủy viên không thường trựcHội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2008-2009 Tại cuộc gặp giữaNguyên thủ hai nước bên lề Hội nghị cấp cao APEC 15 tại Sydney (9/2007),Chi-lê tuyên bố công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam, thoảthuận hai bên xúc tiến đàm phán về Hiệp định tự do thương mại song phương(FTA) Công ty Ki-nhên-cô thuộc tập đoàn Lúc-xích tổ chức lễ ra mắt và nhậngiấy phép đầu tư tại Việt Nam (11/2006), Hiệp định Thương mại Tự do ViệtNam-Chi-lê được ký kết tháng 11/2011
- Với Paraguay :
Về phía Paraguay: Đoàn Tổng Vụ trưởng Chính sách song phương Bộ Ngoại giao Paraguay thăm Việt Nam (3/2005); Đại sứ Paraguay tại Nhật Bản
Trang 16kiêm nhiệm Việt Nam Isao Taoka trình Quốc thư (5/2006); Tổng thốngParaguay Mendez sang thăm chính thức Việt Nam (9/3/2011)
Về phía Việt Nam: Thứ trưởng Ngoại giao - Đặc phái viên TTCP LêVăn Bàng thăm Pa-ra-guay (3/2007); bạn khẳng định ủng hộ Việt Nam ứng cửlàm Uỷ viên không thường trực HĐBA/LHQ khoá 2008-2009 và nhân dịpnày, hai nước ký Hiệp định miễn thị thực cho người mang hộ chiếu ngoại giao
Đoàn cấp cao Venezuela sang thăm Việt Nam: Tổng thống U.Cha-vếtthăm Việt Nam (7/2006)
Tiếp xúc cấp cao: Chủ tịch nước Trần Đức Lương và Tổng thốngU.Cha-vết đã gặp nhau dịp Hội nghị Thượng đỉnh các nước phương Nam tại
La Ha-ba-na, Cu-ba (tháng 4/2000) và Hội nghị cấp cao Thiên niên kỷ củaLHQ tại Niu-Oóc (tháng 9/2000); Chủ tịch Nguyễn Minh Triết gặp Tổngthống U.Cha-vết tại La Ha-ba-na dịp dự HNCC 14 Phong trào Không LiênKết (9/2006) Quốc hội Venezuela đã thành lập Nhóm Nghị sĩ Hữu nghị vớiViệt Nam (3/2006)
Về mặt cơ sở pháp lý và cơ chế hợp tác Việt Nam đã ký với một sốnước trong khu vực Nam Mỹ các hiệp định khung về hợp tác kinh tế, thươngmại, khuyến khích và bảo hộ đầu tư, hợp tác văn hóa giáo dục, khoa học kỹthuật , tạo khuôn khổ pháp lý cho việc thúc đẩy tăng cường quan hệ hợp táctrên nhiều lĩnh vực giữa hai bên ví dụ như :
15
Trang 17Ngoài ra, Việt Nam còn đang trong quá trình đàm phán Hiệp định đốitác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) với một số nước trong đó có Chile,Peru ở Nam Mỹ…
Việt Nam cũng đã lập các cơ quan đại diện tại một số địa bàn trọng điểm trong khu vưc, và ngược lại một số nước lớn quan trọng trong khu vực Nam Mỹ cũng đã thiết lập cơ quan đại diện.Ngoài quan hệ song phương, Việt Nam còn có quan hệ với các nước tại khu vực trong khuôn khổ đa phương với
tư cách là thành viên của một số diễn đàn và tổ chức quốc tế và khu vực (APEC, Diễn đàn hợp tác Đông Á- Mỹ Latinh), hợp tác ASEAN –
MECROSUR, Phong trào không liên kết…
1.2 Chính sách hội nhập và quan hệ Kinh tế đối ngoại của Việt Nam và các quốc gia Nam Mỹ
1.2.1 Việt Nam
Hiện nay Việt Nam đã bước vào một giai đoạn hội nhập quốc tế sâu sắc
và toàn diện hơn bao giờ hết Tính đến năm 2011, Việt Nam đã có quan hệngoại giao với 179 quốc gia, có quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với hơn
220 quốc gia và vùng lãnh thổ Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mạithế giới (WTO) năm 2007 đã đưa quá trình hội nhập của đất nước từ cấp độkhu vực (ASEAN năm 1995) và liên khu vực (ASEM năm 1996, APEC năm1998) lên đến cấp độ toàn cầu Việt Nam đã đảm nhận thành công vị trí Ủyviên không thường trực Hội đồng bảo an, cơ quan quyền lực hàng đầu củaLiên hợp quốc, nhiệm kỳ 2008 - 2009 Việt Nam cũng đảm nhận thành côngvai trò Chủ tịch ASEAN trong năm ASEAN 2010 Chặng đường hơn 25 nămđổi mới và hội nhập quốc tế là một quá trình nỗ lực bền bỉ của đất nước
Mười năm sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ViệtNam phải đối mặt trước những khó khăn thử thách hết sức nghiêm trọng: nềnkinh tế - xã hội lâm vào khủng hoảng gay gắt, an ninh quốc gia bị đe dọa bởi
Trang 18tình trạng vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh, các thế lực đế quốc thù địchxiết chặt bao vây cấm vận, quan hệ đối ngoại bị thu hẹp Bởi vậy, bước vàothời kỳ đổi mới (1986), Việt Nam đứng trước đòi hỏi cấp bách mang ý nghĩasinh tử là phải tìm cách thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, phá được thế
bị bao vây cô lập về đối ngoại, tiếp tục phát triển đất nước theo con đường đãlựa chọn
Trong bối cảnh đó, trên phương diện đối ngoại Đảng và Nhà nước ViệtNam nỗ lực đổi mới tư duy, vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí
Minh về“thêm bạn, bớt thù”, mở rộng và đa dạng hóa, đa phương hóa quan
hệ quốc tế, tìm ra khâu đột phá để thoát vòng bao vây cô lập của các thế lựcchống đối Sau Đại hội VI, đặc biệt là sau Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị(1988) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khóa VI (1989), Việt Nam đã
có những điều chỉnh cơ bản về chính sách đối ngoại Theo đó, cùng với chủtrương bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, Việt Nam coi trọngcải thiện quan hệ với các nước láng giềng Đông Nam Á, tạo môi trường quốc
tế hoà bình, ổn định ở khu vực, thuận lợi cho phát triển đất nước
Nhằm thúc đẩy tiến trình mở rộng quan hệ đối ngoại, Đại hội VI của
Đảng nêu chủ trương chiến lược: “mở rộng sự hợp tác và tranh thủ sự ủng hộ
quốc tế” Trên cơ sở đó và trước những diễn biến phức tạp của tình hình quốc
tế sau sự tan rã của Liên Xô, Hội nghị Trung ương 3 khóa VII (1992) chínhthức xác định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đaphương hóa các quan hệ quốc tế
Chủ trương chiến lược của Đại hội VII tiếp tục được Đại hội VIII khẳng
định, bổ sung và đến Đại hội IX phát triển thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn,
là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển” Như vậy, quá trình đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng
đã đưa đến việc xác lập những nội dung, tính chất cơ bản trong đường
17
Trang 19lối đối ngoại từ “rộng mở”, “là bạn” đến “đa dạng hóa, đa phương hoá quan
hệ quốc tế” và “sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy” Đây là sự thể hiện tinh
thần độc lập tự chủ, sáng tạo, kiên định về nguyên tắc và linh hoạt về sáchlược, gắn kết mục tiêu cách mạng và định hướng phát triển đất nước vàonhững xu thế phát triển của thời đại Với sự điều chỉnh chính sách đối ngoạinhư đã nêu, Việt Nam đã từng bước phá được thế bị bao vây cấm vận, hóagiải tương đối thành công những khó khăn, bất cập trong quan hệ đối ngoại,nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế, hội nhập ngày càng chủ động,tích cực và sâu rộng với khu vực và thế giới
Việt Nam đặc biệt coi trọng tiến trình bình thường hóa và phát triển
quan hệ với Trung Quốc Sau Đại hội VI, Việt Nam đã xem xét lại toàn bộ
mối quan hệ với Trung Quốc, khẳng định rõ Trung Quốc là một nước XHCN,nhân dân Trung Quốc là nhân dân cách mạng và có truyền thống hữu nghị lâuđời với nhân dân Việt Nam Trung Quốc trong tư cách vừa là một nước lánggiềng, vừa là một nước lớn, vừa là một nước XHCN được Việt Nam nhậnthức có vai trò rất quan trọng đối với hoà bình, ổn định của Việt Nam và của
cả Đông Nam Á, đồng thời cũng thấy rõ vị trí của Việt Nam trong chiến lượccủa Trung Quốc Với những nỗ lực của cả hai bên, nhất là sự chủ động củaViệt Nam, tháng 10/1991 quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước chính thứcbình thường hoá Việc bình thường hoá quan hệ Việt - Trung sau hơn mườinăm quan hệ không bình thường là một sự kiện rất quan trọng về mặt đảm bảo
an ninh quốc gia của Việt Nam cũng như tạo ra môi trường khu vực và quốc tếthuận lợi cho Việt Nam mở rộng quan hệ hợp tác với các nước khác Kể từ saubình thường hóa, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc phát triển nhanh và toàndiện Khuôn khổ quan hệ hai nước được chính thức xác định với 16 chữ:
“Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương
lai”, tiếp đó được bổ sung thêm tinh thần 4 tốt: “Láng giềng tốt, bạn bè tốt,
Trang 20đồng chí tốt, đối tác tốt” và gần đây là “Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” Hai bên có nhận thức chung rộng rãi, chia sẻ sự tương đồng quan
điểm đối với nhiều vấn đề quốc tế và khu vực Hợp tác kinh tế, thương mạiViệt Nam - Trung Quốc tăng trưởng nhanh Năm 2010, kim ngạch thương mạisong phương đạt trên 27 tỷ USD, tăng 28% so với năm 2009, chiếm khoảng17,6% tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam Tám tháng đầu năm 2011,kim ngạch thương mại hai chiều giữa hai nước đã đạt gần 22 tỷ USD, tăng31,52% so với cùng kỳ năm 20103 Hai nước đã ký Hiệp ước về biên giới trênđất liền, Hiệp định về phân định vịnh Bắc Bộ, Hiệp định giải quyết vấn đềlãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong vịnh Bắc
Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá trong vịnh Bắc Bộ Trong quan hệ với TrungQuốc, Việt Nam đã quán triệt tốt phương châm vừa hợp tác vừa đấu tranh đốivới những vấn đề còn bất đồng và tranh chấp thì kiên trì lập trường nguyêntắc và sự độc lập tự chủ của mình
Triển khai đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa,
Đảng và Nhà nước Việt Nam coi trọng xây dựng và phát triển quan hệ với các
nước ASEAN Gia nhập ASEAN trở thành bước đột phá trong chính sách đối
ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam, cho thấy rõ ưu tiên của Việt Nam đốivới khu vực Từ sau sự kiện này, Việt Nam bước vào giai đoạn hội nhập khuvực mạnh mẽ, đồng thời cải thiện rõ rệt thế và quan hệ với các nước lớn Nóicách khác, nếu không là thành viên ASEAN, quan hệ của Việt Nam với cácnước lớn khó có thể phát triển như thực tế đã diễn ra
Sau khi gia nhập ASEAN, Việt Nam nỗ lực thực hiện đầy đủ mọi camkết và trách nhiệm của một nước thành viên, chủ động đưa ra những sáng kiếnnhằm thúc đẩy hợp tác khu vực, hoàn thành nhiều trọng trách trước Hiệp hội.Việt Nam tiếp tục mở rộng quan hệ nhiều mặt, trên nhiều tầng nấc trong
3 Theo http://socongthuong.thaibinh.gov.vn/ct/news/Lists/thuongmai/View_Detail.aspx?
ItemId=3152
19
Trang 21khuôn khổ đa phương và song phương, đóng góp thiết thực vào quá trình hợptác liên kết ASEAN hướng tới mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN vàonăm 2015 với ba trụ cột chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội Trongnhững năm qua, Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng vào việc xâydựng cộng đồng Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Hiếnchương ASEAN, đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN, Chủ tịchHội đồng liên nghị viện các nước Đông Nam Á (AIPA) ASEAN là một trongnhững đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam Năm 2009, xuất khẩu củaViệt Nam sang ASEAN đạt 8,9 tỷ USD, tương đương 15% tổng kim ngạchxuất khẩu Giá trị nhập khẩu từ ASEAN đạt 14 tỷ USD, chiếm 20% tổng kimngạch nhập khẩu cả nước Tổng vốn đầu tư trực tiếp đăng ký của ASEAN tạiViệt Nam khoảng trên 60 tỷ USD4 Bên cạnh đó, Việt Nam còn tham gia vớitinh thần trách nhiệm cao vào các cơ chế hợp tác đa phương của ASEAN vớicác đối tác bên ngoài như: ASEAN+1, ASEAN+3, Hợp tác Á-Âu (ASEM),Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á.
Bên cạnh việc phát triển quan hệ với các nước láng giềng và khu vực,Việt Nam còn năng động cải thiện quan hệ với các nước, nhất là các nước lớn
và các tổ chức quốc tế trong quá trình hội nhập
Bình thường hoá quan hệ vớiMỹ là một hướng lớn trong hoạt động đối
ngoại của Việt Nam Quan hệ với Mỹ có ý nghĩa chiến lược đối với yêu cầu
an ninh và phát triển của nước ta Cải thiện mối quan hệ hai nước góp phầncủng cố vị thế quốc tế của Việt Nam, tác động tác động mạnh mẽ đến quan hệcủa tất cả các nước khác, nhất là các nước phương Tây đối với Việt Nam, thúcđẩy quan hệ của Việt Nam với các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế, từngbước đi vào thị trường rộng lớn của Mỹ, tranh thủ khoa học kỹ thuật tiên tiến,nguồn vốn đầu tư Năm 1994, chính quyền Mỹ huỷ bỏ cấm vận chống
4 Theo
http://www.tienphong.vn/Kinh-Te/hiep-dinh-thuong-mai-asean-bat-dau-co-hieu-luc-500345.tpo
Trang 22Việt Nam và tháng 11/7/1995 bình thường hoá quan hệ với Việt Nam Saubình thường hóa, quan hệ Việt - Mỹ có nhiều tiến triển thuận lợi Quan hệkinh tế - thương mại, khoa học - công nghệ được thúc đẩy Hai nước đã kýHiệp định thương mại năm 2000 và năm 2006, chính quyền Mỹ chính thứcban hành đạo luật về thiết lập Quy chế quan hệ thương mại bình thường vĩnhviễn (PNTR) với Việt Nam, đánh dấu việc bình thường hóa hoàn toàn quan hệsong phương giữa hai nước, tạo thuận lợi cho Việt Nam gia nhập WTO Năm
2010, kim ngạch mậu dịch hai chiều vượt 18,3 tỉ USD Kim ngạch xuất khẩucủa Việt Nam sang Mỹ trong 8 tháng đầu năm 2011 đạt 11,3 tỷ USD, tăng20,6% so với cùng kỳ năm 2010 và xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam đạt 2,7
tỷ USD, tăng 21,5% Hiện Mỹ đang là thị trường xuất khẩu lớn nhất của ViệtNam
Việt Nam tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác nhiều mặt với Nhật Bản,
nhất là trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, viện trợ phát triển, vănhóa, du lịch, chuyển giao công nghệ Hiện nay Nhật Bản là bạn hàng lớn nhất,
là nước cung cấp viện trợ phát triển nhiều nhất và đầu tư lớn ở Việt Nam.Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản hiện vẫn năng động tiến vững trên đường
hướng tới đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á.
Với Liên minh châu Âu (EU), Việt Nam đã ký với hầu hết các nước EU
Hiệp định khung về hợp tác, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, Hiệpđịnh tránh đánh thuế hai lần tạo cơ sở pháp lý cho xây dựng và phát triểnmối quan hệ hợp tác ổn định, lâu dài Phát triển quan hệ song phương đã góp
phần thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam - EU Việt Nam đang tích cực thực hiện “Đề án tổng thể về quan hệ Việt Nam - EU đến năm 2010 và định hướng
đến 2015” được đưa ra từ tháng 6/2005.
Hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những nội dung quan trọng hàng
đầu trong quá trình hội nhập quốc tế của nước ta Nước ta thực sự đẩy mạnh
21
Trang 23việc tham gia hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế từ khi tham gia ASEAN(1995) và các định chế kinh tế, tài chính thương mại của ASEAN như: Khuvực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Khu vực đầu tư ASEAN (AIA); ký Hiệpđịnh khung với EU (1995); tham gia Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM) năm
1996, Diễn đàn APEC năm 1998; ký Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ(2000) dựa trên những nguyên tắc cơ bản của WTO và năm 2007 đã chínhthức trở thành thành viên thứ 150 của WTO
Nhìn tổng quát, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta đã xúctiến với bước đi khá vững chắc và đạt được kết quả bước đầu rất đáng khích
lệ Trước hết, Việt Nam đã mở rộng quan hệ kinh tế với hàng loạt quốc gia vàkhu vực, trở thành thành viên của các tổ chức kinh tế, thương mại chủ chốt,tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng hiệu quả hơn
Việt Nam đã khắc phục được tình trạng khủng hoảng thị trường do cácđối tác truyền thống ở Liên Xô và các nước Đông Âu bị thu hẹp đột ngột, và
do tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực bắt đầu từnăm 1997 Một thành tựu nổi bật là đã thu hút được nguồn vốn đầu tư nướcngoài khá lớn, trước hết là FDI Số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vàoViệt Nam năm 2009 đạt 21,48 tỷ USD với 1.504 dự án FDI
Việt Nam có quan hệ thương mại với hơn 220 nước và vùng lãnh thổ,thu hút được hơn 8.000 dự án FDI từ 80 nước và lãnh thổ với tổng số vốnđăng ký hơn 100 tỷ USD Nhiều nhà đầu tư lớn, các tập đoàn xuyên quốc gia
đã và đang đặc biệt quan tâm đến Việt Nam Tại các Hội nghị tư vấn tài trợcho Việt Nam, tổng cam kết tài trợ liên tục tăng, từ 4,4 tỷ USD năm 2006 đếnhơn 7,9 tỷ USD năm 20105
Đây là sự thể hiện niềm tin và sự tín nhiệm của cộng đồng tài trợ quốc
tế đối với Việt Nam, đồng thời phản ánh quyết tâm cao độ của Việt Nam trên
http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/cs_doingoai/pbld/ns070912145510/newsitem_print_preview
Trang 24đường cải cách, phát triển Việt Nam hiện là một trong những nền kinh tế cótriển vọng thu hút đầu tư hấp dẫn nhất trên thế giới Bên cạnh các thị trườngchủ lực là Nhật Bản, ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, EU, Hoa Kỳ,Ôxtrâylia, hàng hóa Việt Nam đã vươn ra củng cố thế đứng trên nhiều thịtrường khác như Nga, Trung Đông, Mỹ Latinh và châu Phi.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam ngày càng năngđộng tiếp thu khoa học và công nghệ, kỹ năng quản lý, góp phần đào tạo độingũ cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh Đồng thời, từng bước đưa hoạtđộng của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế vào môi trường cạnh tranh, tạo
tư duy làm ăn mới, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nâng cao hiệu quả sảnxuất kinh doanh
Hoạt động ngoại giao đa phương có bước trưởng thành rõ rệt, góp
phần nâng cao vai trò và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế Tại các diễnđàn quốc tế và khu vực như Liên hợp quốc, Phong trào Không liên kết,ASEAN, ARF, ASEM, Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp ViệtNam đã phối hợp với nhiều nước, trước hết là các nước đang phát triển đấutranh bảo vệ hòa bình, bảo vệ các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế vàHiến chương Liên hợp quốc Việt Nam đã được bầu vào Hội đồng chấp hành
Tổ chức Kinh tế - Xã hội, trở thành ủy viên hội đồng điều hành của nhiều tổchức quan trọng trực thuộc Liên hợp quốc như UNDP, UNFPA, UNICEF, ủyban giải trừ quân bị
Đặc biệt, thành tựu ấn tượng trên lĩnh vực ngoại giao đa phương là việcViệt Nam đã đảm nhiệm tốt vai trò Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo
an Liên hợp quốc năm 2008 - 2009 Nếu việc tham gia Tổ chức Thương mạithế giới (WTO) mở đầu sự hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế quốc tế, thì khi trởthành thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Việt Nam đã bắt đầu hộinhập đầy đủ vào đời sống chính trị quốc tế Với vị thế và trọng trách này, Việt
23
Trang 25Nam không chỉ vươn lên tầm cao trong quan hệ đối ngoại ngoại, mà còn cótiếng nói quan trọng tại Liên hợp quốc - diễn đàn quốc tế đa phương lớn nhấttrên hành tinh Thông qua đó, Việt Nam có điều kiện thuận lợi tham gia giảiquyết những vấn đề chính trị - xã hội, an ninh quốc tế có liên quan trực tiếphoặc gián tiếp, đồng thời đóng góp tích cực hơn và nhiều hơn trong nỗ lựcduy trì hòa bình, ổn định và phát triển trên thế giới.
1.2.2 Các quốc gia Nam Mỹ
Từ thập niên 1960, các nước Nam Mỹ lại bước vào giai đoạn khủnghoảng mới Sự phụ thuộc vào các nước công nghiệp Âu – Mỹ làm cho đờisống kinh tế - xã hội tiếp tục gặp nhiều khó khăn Nạn thất nghiệp gia tăng, đedọa tới sự ổn định của xã hội Để đối phó với áp lực xã hội gia tăng, một sốnước Nam Mỹ đã thiết lập các chế độ hà khắc thường là thông qua đảo chínhquân sự như trường hợp của Brazil năm 1964, Argentina năm 1966, và Chilenăm 1973 Những bất đồng trong xã hội nảy sinh, chủ yếu giữa tầng lớp hữusản và tầng lớp lao động Các chế độ hà khắc làm cho đời sống chính trị mấttính dân chủ Tình trạng này từng bước được khắc phục trong thập niên 1990,một số chế độ độc tài chuyên chế bắt đầu chuyển hướng sang dân chủ Tuynhiên tình trạng nghèo đói vẫn tồn tại dai dẳng và khoảng cách giầu nghèokhông thể thu hẹp.Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, xu hướng thiên tảxuất hiện ở một số nước Nam Mỹ Đây là hiện tượng chính trị - xã hội khôngnhững thu hút sự quan tâm của chính người dân các nước Nam Mỹ mà cònthu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế
Nhưng trong những thập kỷ qua, các quốc gia Nam Mỹ đã khôngngừng đẩy mạnh tự do hóa thương mại và kiên trì thực hiện chiến lược tăngtốc xuất khẩu Nhiều nước Nam Mỹ đã chuyển đổi thành công từ một nềnkinh tế hướng nội sang hướng ngoại thể hiện rõ ở tỷ lệ tăng trưởng xuất nhập
Trang 26khẩu hàng năm khá cao (Trừ năm 2009 bị tác động của khủng hoảng tài chính
và kinh tế thế giới )
Bảng tăng trưởng xuất nhập khẩu của các quốc gia Nam Mỹ
Xuất khẩu
Nhập khẩu
(Theo số liệu của ủy ban kinh tế khu vực Mỹ Latinh và Caribe)
Bảng tăng trưởng tổng kim ngạch của khu vực Nam Mỹ với thế giới
(Theo số liệu của ủy ban kinh tế khu vực Mỹ Latinh và Caribe)
Năm 2011, tổng kim ngạch thương mại hai chiều của khu vực Nam Mỹ với thế giới là 1236 tỷ USD, tăng 27,5% so với năm 2010 con số này chỉ dừng
ở mức 969 tỷ USD, chiếm 2,5% tổng lượng giao dịch thương mại toàn cầu
Nợ công của các nước Nam Mỹ đã được thu hẹp, dữ trữ ngoại hối tăng cao.Các nước Nam Mỹ với đất đai rộng lớn và điều kiện tự nhiên thuận lợi chophát triển nông nghiệp, và rất giàu tài nguyên thiên nhiên là nguồn cung cấpnhiều sản phẩm quan trọng cho thị trường thế giới như dầu thô, quặng sắt,đồng tinh chế, đậu tương, các loại rau và hạt có dầu, cà phê, phương tiện vậntải với nền kinh tế ngày càng phát triển và mức sống của người dân ngày
25
Trang 27càng cao, khu vực này cũng là thị trường lớn về máy móc, thiết bị và hàngtiêu dùng.
Theo phân tích số liệu thống kê của Ủy ban Kinh tế Mỹ La tinh và cácnước Caribe của Liên hợp quốc6, tổng kim ngạch xuất khẩu của khu vực Nam
Mỹ năm 2011 đạt 675,6 tỷ USD tăng 30% so với cùng kỳ năm 2010 trong khitổng kim ngạch nhập khẩu đã tăng 26,9% đạt con số 560,296 tỷ USD
Theo ECLAC dự báo suy thoái kinh tế ở khu vực đồng tiền chung Châu
Âu sẽ làm cho xuất khẩu từ khu vực Nam Mỹ sang EU giảm đáng kể vào năm
2012 Xuất khẩu của các nước Nam Mỹ sẽ giảm khoảng 7% Nếu tình hìnhnày là xảy ra nó có thể ảnh hưởng gián tiếp đến thương mại của khu vực nàyvới Trung Quốc do giảm nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc và các nướcChâu Á khác vì nhập khẩu hàng từ Châu Á và các nước EU ít đi Xu thế này
sẽ được dự báo sẽ trầm trọng hơn khi xuất khẩu của cả khu vực này sangTrung Quốc bị đình trệ và giá các mặt hàng xuất khẩu sang Trung Quốc, ví dụnhư đồng, quặng sắt và thức ăn cho cá suy giảm
Cũng như các khu vực khác trên thế giới, hạn cế thương mại ở khu vựcNam Mỹ có xu hướng tăng lên trong thời gian vừa qua Đặc biệt là Argentina
và Brazil, sự tăng trưởng chậm chạp trong một vài quý vừa qua đã khiến nhucầu bảo hộ một số nghành công nghiệp trong nước tăng lên Xu hướng nàydiễn ra trong bối cảnh hàng hóa nhập khẩu từ các khu vực khác là Châu Á(đặc biệt là từ Trung Quốc) đã thay thế nhu cầu nhập khẩu từ các khu vựckhác của thế giới cũng như thay thế hàng sản xuất trong nước Do vậy, một sốnước trong khu vực đã áp dụng các biện pháp hoặc ra thông báo sẽ áp dụng
6 Theo Phân tích Hồ sơ thị trường phiên bản tiếng anh trên wedsite của ECLAC tại
sustainable-growth-new
Trang 28http://www.cepal.org/en/publications/economic-survey-latin-america-and-caribbean-2014-challenges-những biện pháp hạn chế thương mại cứng rắn hơn , chủ yếu để hạn chế cácsản phẩm công nghiệp.
Đồng thời, một số nước trong khu vực vẫn tiếp tục đàm phán và chuẩn
bị ký kết các hiệp định thương mại mới Như hiệp định thương mại tự do giữaViệt Nam và Chile (2011), Đàm phán hiệp định thương mại từ do giữa Liênminh Châu Âu và Colombia và Peru (2011) Các nền kinh tế của khu vực đã
và đang được hưởng những ưu đãi thương mại với Hoa Kỳ và Liên minhChâu Âu Số hiệp định thương mại giữa các nước trong khu vực với các nướcChâu Á – Thái Bình Dương đã tăng lên đáng kể trong thời gian qua Các hiệpđịnh tự do thương mại giữa : Chile – Malaysia, Peru – Nhật Bản, Peru – Cộnghòa dân chủ nhân Triều Tiên Thêm vào đó các nước Chile và Peru còn đangđàm phán hiệp định TPP
Cơ cấu hội nhập kinh tế của khu vực thời gian vừa qua cũng có nhữngthay đổi đáng kể Trong đó phải kể đến việc Cộng hòa Venezuela đang đàmphán để trở thành thành viên đầy đủ của MERCOSUR, nhóm này sẽ trở thànhthị trường lớn với thị trường tiềm lực 3,3 nghìn tỷ USD với dân số 275 triệungười Nếu Venezuela trở thành thành viên chính thức của MERCOSUR thìnhóm này sẽ được bổ sung một thành viên giầu mạnh về năng lượng vào khốikinh tế có thế mạnh về nông nghiệp Tuy nhiên, có lẽ phải đến 2016 thìVenezuela tham gia được chính thức và mới đáp ứng được đầy đủ các cam kếtkhi là thành viên chính thức của MERCOSUR
Hiện nay, theo Ủy ban kinh tế Mỹ Latinh và Carribe của Liên HiệpQuốc (ECLAC), Trung Quốc từ một bạn hàng thương mại nhỏ, giờ đây TrungQuốc đã trở thành một bạn hàng lớn thứ hai của khu vực Mỹ Latinh vàCarribe trong đó có Nam Mỹ, từ trao đổi mậu dịch giữa hai bên từ 10 tỷ USDvào năm 2000 thì con số này đã lên đến 130 tỷ USD vào năm 2009 tăng gấp
13 lần Với 5 đối tác lớn nhất là Brazil, Mexico, Chile, Venezuela và
27
Trang 29Argentina Ngược lại với các nước Mỹ Latinh xuất khẩu sang Trung Quốcgồm : dầu , quặng sắt, đậu nành , Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớnnhất của Brazil, Chile, và Peru và thị trường nhập khẩu hàng hóa lớn thứ 2của Argentina, Costa Rica, Cuba Quan hệ Trung Quốc và các nước MỹLatinh – Carribean càng được khẳng định rõ tại bài diễn văn khai mạc tạiDiễn đàn Trung Quốc – Cộng đồng các nước Mỹ Latinh và Carribean (ChinaCELAC Forum) rằng đầu tư của Trung Quốc khu vực này sẽ tăng lên 250 tỷUSD trong thập kỷ mới Vị thế của Trung Quốc tại khu vực đã tăng lên đáng
kể trong thời gian qua cũng một phần do gần đây những doanh nghiệp Mỹcũng không còn quan tâm nhiều đến Mỹ Latinh, căn cứ số liệu thống kê của
Ủy ban Kinh tế các nước Mỹ Latinh và Carribean rằng đầu tư trực tiếp của
Mỹ và khu vực này đã giảm 20% kể từ đầu năm 2011 „‟ Khi Mỹ đã rút lui đểlại một khoảng trống và không lý do gì Trung Quốc lại không muốn lấp đầykhoảng trống đó.” theo David Morton, một chuyên gia về thị trường mới nổi
và nhà chiến lược hàng đầu tại công ty tư vấn tài chính Rocaton Advisers
Đến tháng 6 năm 2012, hiệp định khung thành lập Liên minh Thái BìnhDương đã được ký kết Bằng việc đưa 4 nước Chile, Colombia, Mexico vàPeru ngồi lại đàm phán với nhau, liên minh này nếu được thành lập họ mongmuốn sẽ xây dựng được một khu vực hội nhập gắn kết chặt chẽ và hợp tácphát triển, tự do về thương mại hàng hóa, dịch vụ, vốn và di chuyển thể nhângiữa các nước thành viên Bốn nền kinh tế này tạo nên một thị trường tiềmnăng khoảng 1,9 nghìn tỷ USD với dân số 207 triệu người Liên minh TháiBình Dương cũng kỳ vọng trở thành một cửa ngõ cho hợp tác chính trị và hộinhập thương mại và kinh tế có tầm toàn cầu trước hết là giữa Nam Mỹ vớikhu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Trang 30Tiểu kết
Có thể khẳng định quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và các nước Nam
Mỹ là quan hệ truyền thống tốt đẹp, gắn bó trên cơ sở những tương đồng vềlịch sử, khát vọng dân tộc về độc lập và tự do
Trong những năm 60 và 70 của thế kỷ XX, giữa khói lửa của cuộc đấutranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước của Việt Nam, phong trào ủng
hộ Việt Nam chống giặc ngoại xâm đã phát triển mạnh mẽ với nhiều cuộcbiểu tình lớn diễn ra rộng khắp ở các nước Nam Mỹ Những mối quan hệngoại giao đầu tiên giữa Việt Nam với Cu-ba, Chi-lê, và Ác-hen-ti-na đã đượcthiết lập Chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Cu-ba Fi-đen Cát-xờ-t-rô(Fidel Castro) năm 1973 và Chủ tịch Thượng viện Chi-lê San-va-đo A-len-đê(Salvador Allende) năm 1969 là những dấu ấn lớn của tình đoàn kết và sự ủng
hộ lớn lao mà Chính phủ và nhân dân các nước Nam Mỹ La-tinh dành choViệt Nam
Sau chiến thắng 1975, thống nhất đất nước và nhất là từ khi Việt Namtiến hành công cuộc Đổi mới năm 1986 đến nay, quan hệ của Việt Nam vớicác nước Nam Mỹ không ngừng phát triển mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực.Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước Nam Mỹ Nhiềuchuyến thăm cấp cao đã được thực hiện và đã góp phần quan trọng trong việchình thành một số khuôn khổ quan hệ đối tác toàn diện giữa hai bên
Bên cạnh sự phát triển quan hệ về chính trị, ngoại giao, sự hiểu biết,giao lưu và trao đổi về văn hóa giữa nhân dân Việt Nam và Mỹ La-tinh cũngđược tăng cường
Triển khai chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa,
vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển, Việt Nam luôn coi trọng và mongmuốn đưa quan hệ Việt Nam với các nước Nam Mỹ ngày càng đi vào chiều
29
Trang 31sâu, hiệu quả và bền vững hơn, góp phần thiết thực cho công cuộc phát triểncủa mỗi nước.
Nhìn lại chặng đường phát triển quan hệ giữa Việt Nam và các nước
Mỹ La-tinh, chúng ta tự hào về những thành quả đạt được nhưng cũng thấykết quả đó còn chưa tương xứng với tiềm năng và mong muốn của hai bên
Trang 32Chương 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA VIỆT NAM VÀ
CÁC QUỐC GIA NAM MỸ
2.1 Cơ chế hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Nam Mỹ
Để thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế và thương mại với các nước Nam
Mỹ, Việt Nam đã và đang đàm phán, ký kết các Hiệp định với các đối tác khuvực Nam Mỹ như sau:
- Với Chile: Việt Nam đã ký Hiệp định thương mại tự do FTA vào
ngày 11 tháng 11 năm 2011 và đi vào hiệu lực từ ngày 01/01/2014;
- Với Argentina: hai bên đã ký Hiệp định hợp tác Kinh tế- Thương mại 06/1996, Hiệp định về hợp tác năng lượng 4/2010
- Với Colombia: hai bên đang trao đổi dự thảo Hiệp định Kinh tế- Kỹ
ký kết bởi 4 nước thành viên ban đầu vào năm 2005 bao gồm Brunei, Chile,New Zealand và Singapor Mục tiêu của hiệp định này là tự do hóa hơn nữacác nền kinh tế khu vực Châu Á- Thái Bình Dương Kể từ năm 2010, P4 được
mở rộng cho các thành viên khác tham gia đàm phán và được gọi là TPP(Trans- Pacific Parnership)
2.1.1 Ủy ban Liên chính phủ hoặc Ủy ban hỗn hợp
Đến nay, cơ chế ủy ban liên chính phủ, ủy ban hỗn hợp đang trở thànhmột kênh quan trọng trong việc thúc đẩy quan hệ giữa Việt Nam và các nướcNam Mỹ Thông qua các ủy ban này, hai bên trao đổi thông tin về tình hìnhkinh tế, xã hội; xác định các lĩnh vực, cơ chế và dự án hợp tác; hỗ trợ và thúc
Trang 3331
Trang 34đẩy thực hiện các chương trình dự án hợp tác mà hai bên cùng quan tâm Đây
là những diễn đàn chính thức để chính phủ Việt Nam và các nước Nam Mỹtrao đổi, đề xuất xây dựng các chương trình, dự án hợp tác; đề xuất những cơchế hợp tác song phương mới giữa các bộ ngành; và giúp doanh nghiệp cácBên tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai hợp tác
Ủy ban hỗn hợp, ủy ban liên chính phủ là một tổ chức do Chính phủ hainước đồng thuận thành lập, năm trong khuôn khổ Hiệp định khung về hợp táckinh tế thương mại và đầu tư hoặc trong các thỏa thuận khác giữa hai Chínhphủ (Việt Nam và một nước khác) Tổ chức này được thành lập nhằm mụcđích tăng cường, thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương giữa hai nước vàđược gọi là Ủy ban Hỗn hợp về hợp tác kinh tế thương mại và đầu tư hoặc Ủyban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế, khoa học và kỹ thuật, gọi tắt là các Ủyban
Các Ủy ban về cơ cấu tổ chức được chia làm hai phía tương ứng với haiBên, bao gồm: Phân ban Việt Nam và Phân ban nước ngoài Các Phân banđược thành lập với chức năng chỉ đạo, theo dõi, giám sát và điều phối các hoạtđộng hợp tác của nước mình trong khuôn khổ hoạt động của ủy ban hỗn hợphoặc ủy ban liên chính phủ
Hiện nay, trong quan hệ với các nước Nam Mỹ, Việt Nam đã có ủy banliên chính phủ/ ủy ban hỗn hợp với các nước Argentina, Brazil và Venezuela
Với Argentina, Ủy ban Liên chính phủ Việt Nam- Argentina vừa qua
đã tổ chức kỳ họp lần thứ III vào ngày 31/10/2012 tại Hà Nội Thông qua cáccuộc họp của Ủy ban này, hai bên cùng nhau tìm ra các biện pháp để mở rộng
và đa dạng hóa thương mại bằng cách trao đổi các mặt hàng có giá trị lớn hơn
và trình độ kỹ thuật phức tạp hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa củanhau thâm nhập thị trường Đặc biệt, hai bên thỏa thuận được lộ trình để giảiquyết các vấn đề kỹ thuật về xuất khẩu hàng hóa có nguồn gốc động thực vật
32
Trang 35Chẳng hạn, tại cuộc họp của Ủy ban lần thứ III vừa qua, phía Argentina mongmuốn Việt Nam sớm đưa Argentina vào danh sách các nước được phép xuấtkhẩu có nguồn gốc thực vật vào Việt Nam.
Với Brazil, Sau khi họp lần I vào ngày 12/5/2009, Ủy ban hỗn hợp Việt
Nam- Brazil dự kiến họp lần thứ II tại Brazil vào ngày 11 tháng 4 năm 2012.Tại các cuộc họp của mình, Ủy ban hai bên trao đổi về nhiều lĩnh vực nhưchính trị và ngoại giao; kinh tế, thương mại và năng lượng; khoa học và côngnghệ, viễn thông; văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội, và du lịch… Trong các cuộchọp , hai bên trao đổi thông tin về tình hình kinh tế của mỗi nước trong nhữngnăm gần đây Đặc biệt, Việt Nam đề nghị Brazil có cách tiếp cận khách quan,công bằng và minh bạch trong các vụ điều tra chống bán phá giá hàng nhậpkhẩu từ Việt Nam Việt Nam cũng bày tỏ sự quan tâm đặc biệt đến vụ điều tranghi ngờ chuyển tải trái phép hàng giầy dép qua Việt Nam vào Brazil và đềnghị Brazil lưu ý thực tế ngành công nghiệp giầy dép Việt Nam là một ngànhcông nghiệp lớn và có khả năng xuất khẩu thực sự Phía Việt Nam đề nghị haiBên ký Bản ghi nhớ hợp tác trong lĩnh vực phòng vệ thương mại.Tuy nghiên,
do không muốn tạo tiền lệ để phải ký những biên bản ghi nhớ tương tự vớicác nước khác, nên Brazil đã không chấp nhận đề xuất ký bản ghi nhớ củaViệt Nam.Mặc dù vậy, Brazil vẫn đồng ý cố gắng trao đổi các đoàn kỹ thuật
và tài liệu trong lĩnh vực phòng vệ thương mại
Với Venezuela, Sau kỳ họp thứ I của Ủy ban Liên chính phủ giữa Việt
Nam và Venezuela ngày 20-22/08/2008 kết thúc tốt đẹp với 8 văn kiện đãđược ký kết, hai bên đã thống nhất tổ chức Khóa họp lần thứ II vào các ngày
18, 19 tháng 4 năm 2012 tại Caracas, Venezuela7 Qua cuộc họp này, hai Bên
rà soát tình hình thực hiện các Hiệp định/ Thỏa thuận đã được ký kết và ghinhận những kết quả tích cực đạt được trong việc triển khai các dự án Đồng
7 Theo
http://www.vietnamembassy-venezuela.org/vi/nr070521165956/nr090608085114/ns090624155435
Trang 36thời, hai Bên cũng xác đinh một số vấn đề còn tồn tại trong quá trình triểnkhai các dự án hợp tác giữa hai nước Theo đó, hai Bên đã nhất trí sẽ cónhững điều chỉnh cần thiết nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả các dự án.
“Thảo thuận Hiệp định bổ sung cho Hiệp định hợp tác khung giữa Chính phủnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòaBolivia Venezuela trong lĩnh vực thương mại song phương
Ngoài các Ủy ban đã được thành lập và đi vào hoạt động, trong cáccuộc gặp gỡ giữa các nhà lãnh đạo cao cấp của Việt Nam và các nước MỹLatinh, các bên đều bày tỏ mong muốn thành lập các ủy ban hỗn hợp mới như
Ủy ban hỗn hợp giữa Việt Nam- Chile, giữa Việt Nam- Ecuador, giữa ViệtNam- Bolivia,…
2.1.2 Diễn đàn Hợp tác Đông Á- Mỹ Latinh (FEALAC)
Diễn đàn Hợp tác Đông Á- Mỹ Latinh (FEALAC) là một hiệp hội gồm
36 nước Đông Á và Mỹ Latinh trong đó có các nước khu vực Nam Mỹ nhómhọp lại với nhau để thành lập một kênh đối thoại chính thức và thường xuyêngiữa 2 khu vực gồm chủ yếu là các nước đang phát triển, có nền kinh tế năngđộng và bổ sung cho nhau Cùng với xu thế hợp tác khu vực trên phạm vi toàncầu, nhu cầu hợp tác liên lục địa giữa 2 khu vực này ngày càng lớn do chưa cómột cơ chế hợp tác nào chính thức trước đó giữa hai khu vực Tháng 9 năm
1998, Thủ tướng Singapor Goh Chok Tong, đã đề xuất thành lập Diễn đànĐông Á- Mỹ Latinh (FEALAC) và tại cuộc họp lần đầu tiên của các bộtrưởng ngoại giao các nước tổ chức tại Santiago, Chile vào tháng 3 năm 2001,Diễn đàn Đông Á- Mỹ Latinh (EALAF) chính thức được đổi tên thành Diễnđàn Hợp tác Đông Á- Mỹ Latinh (FEALAC)
Cơ chế hợp tác của FEALAC chủ yếu thông qua các cuộc họp thườngxuyên ở 3 cấp độ: cấp bộ trưởng ngoại giao, cấp quan chức cao cấp và cấpnhóm làm việc chính thức Các cuộc gặp chính giữa các điều phối viên của
34
Trang 37FEALAC và các nước liên quan cũng được tổ chức nhằm tạo điều kiện thuậnlợi cho quá trình hợp tác của FEALAC
Mục tiêu chính của FEALAC là thúc đẩy hợp tác, hiểu nhau hơn, đốithoại kinh tế và chính trị giữa Đông Á và Mỹ Latinh nhằm xây dựng quan hệhợp tác hiệu quả và thành công trong mọi lĩnh vực
Các nguyên tắc hoạt động của FEALAC là tôn trọng chủ quyền và toànvẹn lãnh thổ; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; bình đẳng, cùng
có lợi và theo đuổi mục tiêu phát triển chung, tôn trọng và hiểu văn hóa, lốisống ở của nhau; đồng thuận
Việt Nam là thành viên sáng lập FEALAC Đặc biệt, tại Hội nghị Bộtrưởng Ngoại giao lần thứ 5 tại Argentina vào tháng 8 năm 2011, cùng vớiEcuador, Việt Nam đã ứng cử thành công Đồng chủ trì nhóm Công tác Kinhtế- Xã hội và Tiểu nhóm Du lịch, nhiệm kỳ 2011- 2013
2.1.3 Hiệp định thương mại tự do đầu tiên giữa Việt Nam và khu vực
Mỹ Latinh: FTA Việt Nam- Chile
Sau gần 3 năm đàm phán, ngày 11 tháng 11 năm 2011, tại Hawai, Hoa
Kỳ, bên lề Hội nghị Thượng đỉnh APEC, trước sự chứng kiến của Chủ tịchnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trương Tấn Sang và Tổng thốngCộng hòa Chile Sebastian Pinera, FTA Việt Nam- Chile đã được ký kết
Theo Hiệp định này, Chile cam kết xóa bỏ thuế quan đối với 99,62% sốdòng thuế (chiếm 100% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Chile năm2007) trong thời gian không quá 10 năm Trong đó 83,54% dòng thuế (chiếm81,8% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam) sẽ được hưởng thuế 0%ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực Danh mục này bao gồm những mặt hàngxuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào Chile như thủy sản, cà phê, chè đen, dầuthô, rau quả tươi và chế biến, thịt gia súc, gia cầm đông lạnh và chế biến, một
số mã hàng dệt may, giầy dép 537 dòng thuế (chiếm 6,96% số
Trang 38dòng thuế và 4,6% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Chile) sẽ được hạthuế về 0% trong vòng 5 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực 704 dòng thuếnữa (chiếm 9,12% số dòng thuế và 13,6% kim ngạch) sẽ được hạ về 0% trongvòng 10 năm Danh mục loại trừ của Chile chỉ có 29 dòng thuế (chiếm 0,38%
số dòng thuế và là những mặt hàng Việt Nam chưa xuất khẩu vào Chile)
Việt Nam cũng cam kết xóa bỏ thuế quan đối với 87,8% số dòng thuế(chiếm 91,22% kim ngạch nhập khẩu từ Chile năm 2007) trong vòng 15 năm.12,2% số dòng thuế còn lại sẽ không xóa bỏ thuế, được chia vào ba danh mục:(1) Danh mục loại trừ gồm 374 dòng thuế (chiếm 4,08% số dòng thuế) trong
đó có các mặt hàng như xăng dầu, đường, lốp cũ, vải vụn, ô tô (xe con, dưới
10 chỗ, thiết kế đặc biệt, trên 10 chỗ), quần áo cũ, rác thải y tế và côngnghiệp, tàu thuyền đánh bắt thủy sản dưới 250 tấn, thuốc lá điếu,…; (2) Danhmục giữ nguyên thuế suất cơ sở gồm 309 dòng thuế (chiếm 3,37% số dòngthuế) gồm các mặt hàng như cánh và đùi gà và phụ phẩm, bã rượu vang, cặnrượu, đồ uống có rượu khác, động cơ bộ phận phụ tùng ô tô – xe máy, tấmthép đen, thép cơ khí chết tạo, xe máy, xe tải…; (3) Danh mục chỉ thực hiệncắt giảm thuế một phần gồm 435 dòng thuế (chiếm 4,75% số dòng thuế)8
Bước khởi đầu trên con đường chinh phục thị trường
Trước đây, khi chưa có hiệp định thương mại tự do, mặc dù hàng hóacủa Việt Nam phải chịu thuế nhập khẩu vào Chile trung bình là 6% và hànghóa của Chile nhập khẩu vào Việt Nam còn phải chịu thuế suất cao, song kimngạch xuất nhập khẩu hai chiều giữa hai nước đã liên tục tăng trưởng, ngay cảtrong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới trong thời gian vừa qua, từ mức
157 triệu USD năm 2007 lên 473 triệu USD năm 2011 Hàng xuất khẩu củaViệt Nam sang Chile hiện nay chủ yếu là giày dép và quẩn áo, chiếm khoảng63% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Chile (số liệu năm 2011)
8 Theo : vcfta
http://www.trungtamwto.vn/cachiepdinhkhac/hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-viet-nam-chile-36
Trang 39Danh mục xuất khẩu của Việt Nam sang Chile hiện có khoảng trên 40 mặthàng Tuy nhiên, trừ giày dép và quần áo ra, giá trị kim ngạch của các nhómhàng khác còn rất nhỏ, chỉ từ vài nghìn đến trên trăm nghìn USD/ năm và chỉchiếm 37% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Chile.
Kim ngạch xuất khẩu của Chile sang Việt Nam năm 2011 đạt 335,7%triệu USD, bằng 0,4% tổng kim ngạch xuất khẩu của Chile và 0,31% kimngạch nhập khẩu của Việt Nam Các mặt hàng xuất khẩu chính của Chile sangViệt Nam gồm đồng và quặng đồng và các khoáng sản khác (chiếm gần 80%tổng kim ngạch xuất khẩu của Chile sang Việt Nam); gỗ thông và bột giấy;bột cá; hoa quả tươi; cá hồi; rượu vang Các mặt hàng xuất khẩu của Chilevào thị trường Việt Nam tăng trung bình 37%/ năm trong vòng 5 năm qua.Riêng rượu vang Chile đã có thị phần lớn thứ 2 tại thị trường Việt Nam (saurượu vang Pháp)
Trong bối cảnh Chile đã ký 23 hiệp định thương mại tự do và ưu đãithương mại với trên 60 đói tác thương mại và khoảng 93% kim ngạch xuấtnhập khẩu với thế giới của Chile là với các đối tác mà Chile đã ký những hiệpđịnh trên trong đó có những nước cạnh tranh chính với Việt Nam tại Chilenhư Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia,… thì việc trên 40 mặt hàng xuất khẩucủa Việt Nam đã có mặt tại thị trường Chile là một sự cố gắng lớn, thể hiệnkhả năng cạnh tranh của các mặt hàng này Do phải chịu thuế nhập khẩu trungbình khoảng 6% nên giá bán lẻ hàng Việt Nam tại Chile đắt hơn và khó tiêuthụ hơn so với hàng cùng loại nhập từ những nước được miễn thuế nhập khẩu.Tương tự như vậy, một số mặt hàng có thế mạnh xuất khẩu của Chile cũngchưa thâm nhập được mạnh vào Việt Nam do còn phải chịu mức thuế nhậpkhẩu cao
Cơ cấu kinh tế, xuất nhập khẩu của Việt Nam và Chile có ít những mặthàng cạnh tranh nhau, chủ yếu có tính bổ sung cho nhau Hiệp định thương
Trang 40mại tự do Việt Nam- Chile có hiệu lực chắc chắn sẽ tạo ra những cơ hội to lớncho tăng trưởng thương mại giữa hai nước Các mặt hàng như giày dép, quần
áo, đồ gỗ, cà phê của Việt Nam cũng như cá hồi, nho, sê ri, gỗ thông và bộtgiấy,… của Chile được dự báo sẽ có cơ hội tăng kim ngạch do được giảm thuếnhập khẩu Ngoài ra, Việt Nam còn được kỳ vọng là cửa ngõ cho hàng hóaChile thâm nhập thị trường ASEAN và Chile là cửa ngõ cho hàng Việt Namvào Mỹ Latinh
Chile tuy chỉ có 17 triệu dân nhưng mỗi năm nhập khẩu tới 74,2 tỷUSD (số liệu năm 2011) hàng hóa Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu hàng hóahàng năm bình quân đạt 20% trong suốt 10 năm qua Những mặt hàng nhậpkhẩu chính của Chile gồm hàng bán thành phẩm (39,4 tỷ USD, chiếm53,13%); nhiên liệu (6,5 tỷ USD, chiếm 8,73%); hàng hiêu dùng (16 tỷ USD,chiếm 21,6%); máy móc thiết bị (11,9 tỷ USD, chiếm 16%) Chile cũng lànước xuất khẩu lớn và thường xuyên xuất siêu với kim ngạch năm 2011 lênđến 80,6 tỷ USD Những mặt hàng xuất khẩu chính của Chile gồm đồng vàquặng đồng (42,63 tỷ USD); các khoáng sản khác (5,52 tỷ USD); bột giấy(2,9 tỷ USD); hoa quả tươi (4,1 tỷ USD); thực phẩm chế biến (5 tỷ USD); cáhồi và cá truchas (2,86 tỷ); rượu vang (1,7 tỷ USD); các sản phẩm lâm nghiệp
và đồ gỗ (2,2 tỷ USD).9
Cùng với thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, các tập đoàn lớn củaChile cũng đang đẩy mạnh đầu tư ra các nước trong khu vực Đáng chú ý làcác tập đoàn siêu thị lớn của Chile như Tập đoàn Cencosud, Felabella,Sodimac,… đang triển khai các dự án đầu tư hàng tỷ USD sang các nước Nam
Mỹ khác như Argentina, Brazil, Peru.… Thực tế, đã có nhiều mặt hàng
của Việt Nam như quần áo, giày dép, đồ nhựa, hàng thủ công mỹ nghệ… theochân các tập đoàn này để có mặt ở các nước Nam Mỹ khác Vì vậy, hoàn toàn
9 Trích dẫn le.aspx
http://www.moit.gov.vn/vn/tin-tuc/3871/fta-giup-viet-nam-tang-toc-xuat-khau-sang-chi-38