1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử và ý nghĩa của nó đối với nhận thức bản chất của toàn cầu hóa

101 118 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 91,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến nay việc nghiên cứu riêng mặt phương pháp luận của quanniệm duy vật về lịch sử, trong đó có quan điểm cơ bản của nó, vẫn chưa được thểhiện một cách toàn diện và có hệ thống trong

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

VŨ THỊ THU HIỀN

QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI NHẬN THỨC BẢN CHẤT CỦA TOÀN CẦU HOÁ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Trang 2

sử trong quá trình Mác và Ăngghen phát triển quan niệm duy vật về

lịch sử 211.2 Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong quá trình Lênin

bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử 301.3 Nội dung phương pháp luận của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy

vật lịch sử 36

Chương 2 Ý NGHĨA CỦA QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT

LỊCH SỬ ĐỐI VỚI NHẬN THỨC BẢN CHẤT TOÀN CẦU HOÁ 512.1 Bản chất của toàn cầu hóa dưới ánh sáng phương pháp luận của quan

điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử 512.1.1 Bản chất của toàn cầu hoá là toàn cầu hoá kinh tế 532.1.2 Toàn cầu hoá kinh tế hiện nay về cơ bản là toàn cầu hoá tư bản chủ

nghĩa, hay là toàn cầu hoá mà “chủ nghĩa tư bản tạm thời thắng thế” 602.1.3 Toàn cầu hoá là quá trình đầy mâu thuẫn và chứa đựng những khuynh

hướng phát triển khác nhau 702.2 Sự phát triển của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế: cơ hội

và thách thức 792.2.1 Những cơ hội đối với sự phát triển Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu

hoá kinh tế 792.2.2 Những thách thức đối với sự phát triển Việt Nam trong bối cảnh toàn

cầu hoá kinh tế 822.2.3 Những nhận thức mang tính định hướng cho việc tranh thủ cơ hội,

vượt qua thách thức để phát triển kinh tế của Việt Nam 87

KẾT LUẬN 91

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Như đã biết, quan niệm duy vật về lịch sử là một trong hai phát minhquan trọng của Mác Chính sự hình thành quan niệm duy vật về lịch sử là nộidung cơ bản của cuộc cách mạng do Mác và Ăngghen thực hiện trong lịch sửtriết học Có thể chỉ ra nhiều nội dung với những ý nghĩa khác nhau của chủnghĩa duy vật lịch sử đối với nhận thức nói chung và nhận thức xã hội nóiriêng, nhưng cái có ý nghĩa lớn và căn bản nhất chính là quan điểm cơ bản của

nó Không phải ngẫu nhiên mà học thuyết triết học của Mác về xã hội lạimang tên là “quan niệm duy vật về lịch sử” hay “chủ nghĩa duy vật lịch sử”.Những tên gọi ấy nhấn mạnh quan điểm có tính chất nền tảng của toàn bộ hệthống lý luận triết học Mác về lịch sử Với việc xác lập quan điểm cơ bản này,triết học Mác về lịch sử không những khác về nguyên tắc so với tất cả nhữngquan điểm trước ông về xã hội, lịch sử, mà còn trở thành một học thuyết triếthọc khoa học và cách mạng Không thể phủ nhận những đóng góp đáng kể,không nhỏ của các nhà tư tưởng trước Mác trong nhận thức về xã hội, về lịch

sử, nhất là quan điểm biện chứng coi xã hội loài người là quá trình khôngngừng phát triển Những thành tựu mà những nhà tư tưởng trước Mác đạtđược trong nhận thức về sự phát triển của lịch sử nhân loại là tiền đề khôngthể thiếu được đối với sự hình thành quan điểm duy vật về lịch sử Nhưng dohạn chế hay do quan điểm duy tâm chi phối nên hầu hết nhận thức triết học về

xã hội trước Mác đã giải thích sai lầm về cơ bản tiến trình lịch sử Quan niệmduy vật về lịch sử hình thành đã kết thúc việc nhận thức lịch sử theo quanđiểm duy tâm và mở đường cho nhận thức xã hội, lịch sử một cách khoa học

Bằng quan điểm duy vật lịch sử, nhất là quan điểm cơ bản của nó Mác

và Ăngghen không chỉ chứng minh rằng toàn bộ sự hình thành, phát triển của

xã hội loài người là dựa trên sự phát triển của nền sản xuất vật chất, mà đặc

Trang 4

biệt còn chứng minh rằng, chính sản xuất phát triển, cụ thể là đại công nghiệp

và kinh tế hàng hoá đã đưa đến sự ra đời của chủ nghĩa tư bản và đến lượt nóchính sản xuất phát triển hơn sẽ làm cho chủ nghĩa tư bản sẽ bị diệt vong và

nó sẽ bị thay thế bởi chế độ xã hội khác cao hơn Tiếp tục sự nghiệp của Mác

và Ăngghen, Lênin cũng đã xuất phát từ nền kinh tế nước Nga để chứng minhrằng nước Nga không tránh khỏi cuộc cách mạng vô sản và sự thật ấy đã đượcchứng minh bằng sự thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng MườiNga năm 1917 và sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước Nga Ngàynay chủ nghĩa xã hội đã sụp đổ ở những nước như Liên Xô cũ và ở nhữngnước Đông Âu, còn ở những nước vẫn đi theo con đường xã hội chủ nghĩacũng vẫn đang gặp không ít khó khăn và trở ngại cả về thực tiễn và nhận thức.Tuy vậy, điều đó không có nghĩa là quan điểm duy vật lịch sử, cụ thể là quanđiểm cơ bản của nó đã mất đi giá trị cơ bản, mà trái lại, quan điểm đó vẫn cònnguyên giá trị Bằng chứng là ở những nước phát triển, nền kinh tế hùngmạnh của chúng vẫn là cơ sở của mọi tiến bộ xã hội, lịch sử trong những nước

đó, còn ở những nước khác cũng vậy, họ chỉ có thể tiến lên, phát triển đượckhi có được một nền kinh tế tự chủ, độc lập Vì thế, nếu thiếu quan điểm duyvật về lịch sử thì nhận thức của con người về xã hội và lịch sử vẫn tiếp tụcchìm trong đám mây mù duy tâm, sai lầm và chứa đựng bao điều lầm lạc khácnữa, nhất là trong việc nhận thức những hiện tượng xã hội hết sức phức tạp

Thế giới ngày nay đang diễn ra những thay đổi rất đa dạng, nhanhchóng và hết sức mạnh mẽ khiến cho nó mang nhiều tên gọi khác nhau, nhưthời đại thông tin, kinh tế tri thức, hội nhập, hậu công nghiệp hoặc hậu hiệnđại v.v, Tuy nhiên, bao trùm tất cả những hiện tượng ấy là một quá trìnhmang một tên gọi rất đặc trưng là “toàn cầu hoá” Thế giới ngày nay là thếgiới của toàn cầu hoá Hiện giờ ngay cả ở những nước nghèo nhất, người tavẫn có thể thấy hàng ngày, hàng giờ đời sống của nhân loại với rất nhiều vấn

đề, tình trạng khác nhau của nó như sự giàu có và nghèo đói, sức khoẻ và

Trang 5

bệnh tật, sự hoà hợp, hoà bình và chiến tranh, xung đột, sự sống, hạnh phúc vàcái chết v.v ùa vào nhà họ qua màn hình nhỏ hoặc trên các trang báo vànhững phương tiện thông tin khác Quan tâm đến những vấn đề của toàn nhânloại giờ đây không chỉ là công việc của mỗi cộng đồng, dân tộc quốc gia, màcòn là của từng cá nhân và sự quan tâm ấy ngày càng trở nên thiết thân, gầngũi và mang tính sống còn Chưa nói đến những gì xa xôi, mà ngay lúc nàyđây, cả nhân loại, cả những nước giàu và những nước nghèo nhất đang chứngkiến và chịu đựng những hậu quả, ảnh hưởng, thậm chí rất nặng nề của cơnbão khủng hoảng tài chính thế giới Những nước có nền kinh tế lớn đang căngsức chống trả sự đổ vỡ, suy thoái của nền kinh tế và đang khẩn thiết kêu gọimột sự hợp tác chung của cả cộng đồng nhân loại, hay ít ra là liên minh củanhững phát triển, còn những nước nghèo thì dù không rơi vào khủng hoảng,suy thoái trầm trọng nhưng cũng không thoát khỏi ảnh hưởng ít nhiều của nó,trong đó cả việc những nước này học được cách phòng xa cho sự phát triểntương lai của mình từ bài học của cuộc khủng hoảng này, thì đó vẫn là ảnhhưởng của toàn cầu hoá và những nước ấy phải “cảm ơn” khủng hoảng haytoàn cầu hoá nói chung Toàn cầu hoá thực sự đã đặt các quốc gia dân tộc,nhân loại, con người vào vòng xoáy của sự phát triển mà trong đó sự phụthuộc lẫn nhau giữa họ đã và ngày càng trở thành tất yếu hiển nhiên.

Việt Nam chưa phải là nước phát triển, nhưng có thể thấy toàn bộ đườnglối, chính sách phát triển của chúng ta từ chiến lược đến sách lược, từ nhữngchương trình vĩ mô đến vi mô, từ những quan điểm có tính toàn cục đến nhữngquan điểm có tính bộ phận, thậm chí cả những chủ trương, quyết sách đúng đếnnhững sai lầm, đều có mối liên hệ chặt chẽ hoặc tự giác hoặc tự phát với sự pháttriển của thế giới nói chung Thực ra, chúng ta đang ở trong cái thế giới mà chỉ

có thể thực hiện được sự phát triển rút ngắn, đuổi kịp và vượt được những mặtnhất định so với những nước phát triển, nếu chúng ta không tự cô lập mình, màbiết chủ động mở cửa ra đối với thế giới Và để hành động, ứng

Trang 6

xử có hiệu quả trong toàn cầu hoá, chúng ta nhất định phải hiểu đúng và hiểu

rõ, nhất là bản chất của quá trình này

Để hiểu bản chất của toàn cầu hóa từ đó có thể vận dụng vào phát triểnnền kinh tế nước ta, nhất định phải có phương pháp luận khoa học dẫn đường.Chúng ta không thể phủ nhận những phương pháp, quan điểm khoa học khác,nhất là những quan điểm, phương pháp mới, nhưng trong bối cảnh này rất cầnphải khẳng định, chứng minh nội dung và ý nghĩa của quan điểm cơ bản củachủ nghĩa duy vật lịch sử Xuất phát từ những lý do thực tiễn và lý luận nóitrên, tôi chọn đề tài nghiên cứu để thực hiện luận văn thạc sỹ triết học của

mình là “Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử và ý nghĩa của nó

đối với nhận thức bản chất toàn cầu hoá”.

2 Tình hình nghiên cứu

1 Cho đến nay việc nghiên cứu riêng mặt phương pháp luận của quanniệm duy vật về lịch sử, trong đó có quan điểm cơ bản của nó, vẫn chưa được thểhiện một cách toàn diện và có hệ thống trong một công trình thật đáng kể nào.Trong các tài liệu về lịch sử triết học, như “Sự hình thành và phát triển của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử” (Giai đoạn Mác, Ăngghen

và giai đoạn Lênin) của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô do Nhà xuất bản Sự thật

Hà Nội xuất bản bằng tiếng Việt năm 1962 và “Lịch sử phép biện chứng macxit”(Giai đoạn Mác Ăngghen và giai đoạn Lênin) của Viện hàn lâm Khoa học Liên Xô

do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 1998, quan điểm duy vật biệnchứng cũng như quan điểm duy vật lịch sử chỉ chủ yếu được quan tâm về mặt lýluận, còn mặt phương pháp luận chưa được quan tâm Cuốn sách của nhà nghiêncứu người Nga A Séptulin “Phương pháp nhận thức biện chứng” do Nhà xuất bảnTiến bộ Matxcơva và Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội ấn hành năm 1989, mặc dùtrình bày rất toàn diện và có hệ thống nội dung phương pháp nhận thức biệnchứng, nhưng chỉ tập trung vào mặt phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biệnchứng hay

Trang 7

phép biện chứng duy vật, chứ chưa nói đến phương pháp luận duy vật lịch sử.Trong các “Giáo trình triết học Mác-Lênin” được dùng trong các trường đạihọc ở nước ta hiện nay mới chỉ chú ý đến mặt phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng, còn phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch

sử hầu như chưa được quan tâm Trong “Giáo trình Triết học (dùng cho họcviên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học)” do nhàxuất bản Lý luận chính trị Hà Nội xuất bản năm 2006, các chuyên đề vềphương pháp luận triết học macxit cũng chỉ chủ yếu nói đến phương phápluận của phép biện chứng duy vật, trong đó tập trung vào một số quan điểm,nguyên tắc nghiên cứu cơ bản

Qua một số công trình nghiên cứu mang tính chất chuyên sâu về lịch sửtriết học Mác nói chung, lịch sử quan niệm duy vật lịch sử nói riêng, tác giảPhạm Văn Chung đã cho thấy rõ sự quan tâm của mình đến nội dung phươngpháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử Với tác phẩm “Học thuyết Mác vềhình thái kinh tế-xã hội và lý luận về con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam hiện nay”, tác giả đã vạch ra khá rõ nội dung phương pháp luận củahọc thuyết hình thái kinh tế-xã hội Mặc dù đây là công trình nghiên cứu tậptrung vào học thuyết Mác về hình thái kinh tế-xã hội, nhưng nội dung và ýnghĩa của phương pháp luận duy vật lịch sử nói chung, quan điểm cơ bản của

nó nói riêng cũng được thể hiện khá rõ trong nội dung phương pháp luận hìnhthái kinh tế-xã hội Đặc biệt, trong cuốn “Triết học Mác về lịch sử” tác giả đãcho thấy toàn bộ quá trình hình thành, phát triển của quan niệm duy vật lịch

sử cả về mặt lý luận và phương pháp luận Căn cứ vào những luận điểm củaMác và Ăngghen, nhất là của Ăngghen, tác giả cho thấy rõ nội dung và ýnghĩa của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử Chúng tôi coi đây

là một tài liệu quan trọng, cần thiết, giúp ích nhiều cho việc triển khai vấn đềnghiên cứu của mình Những nghiên cứu theo hướng này của tác giả PhạmVăn Chung còn được tiếp tục thể hiện trong cuốn “Giáo trình lịch sử triết học

Trang 8

Sự hình thành và phát triển triết học Mác” do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia

Hà Nội ấn hành năm 2011

Tuy vậy, chúng tôi nhận thấy rằng những tài liệu trên dù chưa có hay đã

có những thành tựu không đáng kể hoặc đáng kể trong nghiên cứu mặtphương pháp luận của quan niệm duy vật lịch sử, thì vẫn là những tài liệu tiếpcận phương pháp luận ấy về cơ bản theo quan điểm nghiên cứu lịch sử triếthọc là chính, chứ chưa phải nhằm tổng kết về mặt lý luận và phục vụ chonhững nghiên cứu cụ thể, trong đó có vấn đề toàn cầu hoá Đồng thời, trongnhững nghiên cứu ấy, việc đào sâu có tính chất tập trung vào quan điểm cơbản của chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng chưa được quan tâm Cho nên, vấn đềđặt ra ở đây là cần phải tập trung nghiên cứu sâu hơn nội dung và ý nghĩa củaquan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử và cần phải có sự tổng kếttoàn diện, có hệ thống nó về lý luận, để làm cơ sở cho nghiên cứu bản chấtcủa toàn cầu hoá

2 Những công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước vềbản chất của toàn cầu hoá có một dung lượng hết sức lớn và phong phú, trong đócác tài liệu của các nhà nghiên cứu trong nước cũng có số lượng không nhỏ Phầnlớn các nhà nghiên cứu đều trực tiếp hoặc gián tiếp nêu lên quan điểm, phươngpháp luận trong nghiên cứu bản chất của toàn cầu hoá Trong tay chúng tôi lànhững chuyên khảo, công trình, các bài báo quan trọng, rất đáng quan tâm sẽ đượcxem xét, tìm hiểu dưới đây, trong đó tập hợp những quan điểm nghiên cứu của cácnhà nghiên cứu trong và ngoài nước

1/ Công trình lớn “Toàn cầu hoá - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”,trình bày kết quả nghiên cứu đề tài KX 0801, do GS.TS Lê Hữu Nghĩa và

TS Lê Ngọc Tòng đồng chủ biên Đây là công trình rất quan trọng, bao gồmrất nhiều bài viết của hầu hết các tác giả có tên tuổi trong nước Những bàiviết đã được tổng hợp thành những cụm vấn đề, nội dung, đề cập một cáchtoàn diện bản chất, nội dung, xu hướng của toàn cầu hoá và những cách tiếp

Trang 9

cận khác nhau về toàn cầu hoá Đặc biệt, đây là tài liệu mang ý nghĩa thâutóm, tổng kết hầu như mọi quan điểm nghiên cứu tiêu biểu về toàn cầu hoáhiện nay của các học giả nổi tiếng trên thế giới Vì thế, công trình nghiên cứunày rất có ý nghĩa đối với chúng tôi khi chưa có điều kiện tiếp cận được nhiềutài liệu nghiên cứu nước ngoài, nhất là những tài liệu gốc Mặc dù công trình

là sự tập hợp của nhiều bài viết theo những chủ đề nhất định, nhưng mỗi bàiviết lại có nội dung và ý nghĩa độc lập của nó, điều đó đòi hỏi chúng tôi phải

có sự lựa chọn các bài viết sao cho phù hợp với nội dung vấn đề nghiên cứucủa mình Đáng chú ý là trong công trình này đã có những bài viết bàn chínhdiện về phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong nghiêncứu bản chất toàn cầu hoá Chẳng hạn như bài “Mở đầu” của GS.TS Lê HữuNghĩa đã nhấn mạnh sự cần thiết phải thấy toàn cầu hoá là quá trình đầy mâuthuẫn; bài “Toàn cầu hoá - Mấy vấn đề phương pháp luận và phương pháptiếp cận” của GS Nguyễn Đức Bình đã nhấn mạnh tầm quan trọng của cáchtiếp cận lịch sử, phương pháp luận duy vật biện chứng về sự vận động củalịch sử, xem như là phương pháp luận xuất phát; bài của TS Phạm Văn Chúc

“Toàn cầu hoá hay là tư bản hoá toàn cầu” đã khẳng định tầm quan trọng củaquan điểm tiếp cận hình thái kinh tế-xã hội, trong đó tác giả nhấn mạnh sự cầnthiết phải tiếp cận quá trình toàn cầu hoà từ góc độ con người, tránh rơi vàochủ nghĩa khách quan trong nghiên cứu, để từ đó đi đến khẳng định yếu tốchủ thể của toàn cầu hoá Tuy vậy, chúng tôi thấy rằng trong các công trìnhnày vẫn thiếu vắng việc đề cập đến quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vậtlịch sử, mặc dù các tác giả trực tiếp hay gián tiếp khẳng định bản chất củatoàn cầu hoá là toàn cầu hoá kinh tế, tức là liên quan đến quan điểm cơ bảncủa sự xem xét là quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử

Như đã nói, trong công trình nghiên cứu trên nhiều quan điểm nghiêncứu của các học giả nước ngoài và tổ chức quốc tế về bản chất của toàn cầuhoá cũng đã được tổng hợp, đề cập đến Như quan điểm của G Thompson

Trang 10

trong bài “Toàn cầu hoá - Mấy vấn đề phương pháp luận và phương pháp tiếpcận” của GS Nguyễn Đức Bình; quan điểm về bản chất của toàn cầu hoátrong bài “Những ý kiến và quan điểm khác nhau về toàn cầu hoá” của tác giảĐường Vĩnh Sường đã được tổng hợp thành 5 nhóm quan điểm, đồng thời bổsung thêm cả quan điểm của Uỷ ban châu Âu, quan điểm của nghị sĩ RolandBlum (Uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội nước cộng hoá Pháp); quan điểm của

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), của Mc Gren, của Hội nghịLiên hợp quốc về thương mại (UNCTAD) trong bài “Toàn cầu hoá và vấn đề

“phản toàn cầu hoá” của GS.TS Chu Văn Cấp Mỗi tác giả, mỗi tổ chức đượcnêu trên đây đã đưa ra những quan niệm, kết luận của mình về bản chất củatoàn cầu hoá với những cách nhìn rất đa diện Người hoặc tổ chức này thìnhấn mạnh mặt này, đặc trưng này, người hay tổ chức kia thì nhấn mạnh nộidung, mặt khác, nhưng nói chung tất cả đều khẳng định kinh tế là yếu tố nổibật, quy định tiến trình của toàn cầu hoá cả về không gian và thời gian của xãhội loài người hiện nay Mặc dù hầu như các tổ chức và những cá nhân tác giả

ấy không hề khẳng định rằng họ đã xem xét bản chất của toàn cầu hoá theoquan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhưng có thể khẳng địnhrằng, tất cả họ dù tự phát hay tự giác đã nhìn toàn cầu hoá theo quan điểm đó.Điều cần nói rõ ở đây là tất cả những quan điểm xem xét trên đã chưa chothấy nội dung lý luận của quan điểm cơ bản để từ đó có thể đi đến kết luậnđúng đắnvề bản chất của toàn cầu hoá

2/ Cuốn sách “Bình minh của một toàn cầu hoá khác” cũng tập hợpnhiều bài viết, quan điểm của các tác giả trong và ngoài nước do Nguyễn VănThanh chủ biên Bên cạnh việc trình bày những ý kiến, quan điểm khác nhau

về bản chất của toàn cầu hoá, tài liệu này tập trung nhấn mạnh một trong các

xu hướng của toàn cầu hoá, đó là xu hướng dân chủ - xã hội đối lập với chủnghĩa tự do mới Như vậy, có thể thấy đây là sự thể hiện quan điểm tiếp cận

về mặt xã hội đối với bản chất của toàn cầu hoá và dĩ nhiên không xa rời cơ

Trang 11

sở kinh tế của nó Điều đáng chú ý là sự xem xét các xu hướng dân chủ - xãhội của toàn cầu hoá đều gắn liền với phân tích những mâu thuẫn, nhất là mâuthuẫn kinh tế của đời sống xã hội, nảy sinh trong điều kiện chủ nghĩa tự domới đang tạm thời chiếm ưu thế Tuy nhiên, các tác giả của công trình này đãkhông khẳng định rằng họ đã xem xét những xu hướng xã hội dựa trên quanđiểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử như thế nào, mặc dù tự phát hay tựgiác, trực tiếp hay gián tiếp họ đã thể hiện quan điểm xem xét đó, nhất là khikhẳng định bản chất của toàn cầu hoá là toàn cầu hoá kinh tế.

3/ Bài viết “Đặc điểm và xu thế của toàn cầu hoá ở khu vực Châu Thái Bình Dương - Những góc nhìn khác nhau” của GS TS Dương Phú Hiệp

Á-và TS Vũ Văn Hà nói cụ thể hơn về toàn cầu hoá, tức là quá trình, đặc điểmcủa toàn cầu hoá ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trên tất cả các mặtkinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá Điều đó thể hiện rõ cách tiếp cận hìnhthái kinh tế - xã hội Với việc nhấn mạnh vai trò của yếu tố kinh tế trong quátrình khu vực hoá, các tác giả cũng thể hiện quan điểm cơ bản của chủ nghĩaduy vật lịch sử trong nghiên cứu Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng cần phải tiếpcận quá trình khu vực hoá theo quan điểm này với nội dung toàn diện hơn

4/ Gần đây nhất, chúng tôi đã được tiếp cận nguồn tài liệu của Hội thảoquốc tế “Toàn cầu hoá: Những vấn đề triết học ở Châu Á- Thái Bình Dương”

do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức tháng 11 năm 2005 với trên 30bài viết Mặc dù Hội thảo tập trung hướng vào những vấn đề chuyên sâu lànhững vấn đề triết học của toàn cầu hoá, nhưng vẫn có thể thấy, thông qua đó,nhiều ý kiến, quan niệm về bản chất của toàn cầu hoá và những quan điểmtiếp cận toàn cầu hoá cũng được thể hiện khá rõ Tuy nhiên, trong các báo cáotham gia Hội thảo dù khẳng định bản chất của toàn cầu hoá là toàn cầu hoákinh tế một cách gián tiếp hay trực tiếp, vẫn chưa khẳng định rõ nội dung và ýnghĩa của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong việc tiếp cậnvấn đề này

Trang 12

5/ Tác phẩm “Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu” của GeorgeSoros đã từ chỗ phân tích khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu từ nộidung kinh tế của nó, đi đến những khủng hoảng về xã hội của nó, để rút ra kếtluận về khả năng “tiến tới một chế độ xã hội mở” Về điểm này, tác giả G.Soros cũng như rất nhiều các tác giả nước ngoài và trong nước đều giốngnhau ở chỗ đã thấy bản chất của toàn cầu hoá là toàn cầu hoá kinh tế tư bảnchủ nghĩa, nhưng khác ở chỗ là tác giả chứng minh rằng chủ nghĩa tư bảnđang trong quá trình khủng hoảng và chứa đựng những khả năng phát triểnmới Một cách trực tiếp hay gián tiếp, tự giác hay không tự giác, tác giả cũngthể hiện quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử.

6/ Vấn đề nghiên cứu của đề tài này một phần đã được gợi ý trong bàiviết của TS Phạm Văn Chung: “Toàn cầu hoá, khu vực hoá Châu Á - TháiBình Dương và sự khẳng định dân tộc quốc gia Việt Nam” (Hội thảo quốc tế

“Toàn cầu hoá: Những vấn đề triết học ở Châu Á- Thái Bình Dương” do ViệnKhoa học Xã hội Việt Nam tổ chức tháng 11 năm 2005) Trong bài viết tácgiả chủ yếu đề cập đến vấn đề toàn cầu hoá, khu vực hoá và sự khẳng địnhdân tộc quốc gia Việt Nam, nhưng đã thể hiện khá rõ nội dung và ý nghĩa củaquan điểm duy vật lịch sử, nhất là quan điểm cơ bản của nó trong nhận thức

về toàn cầu hoá nói chung, bản chất của nó nói riêng Tác giả đã chứng minhrằng chính sự phát triển kinh tế mới là cơ sở thực sự của sự khẳng định dântộc quốc gia nói chung và dân tộc quốc gia Việt Nam nói riêng, còn chiếntranh nói chung chưa có ý nghĩa khẳng định dân tộc quốc gia thực sự

Còn có thể kể ra rất nhiều những công trình, bài viết khác về toàn cầuhoá của các tác giả trong và ngoài nước khác Nhưng nhìn chung, các tác giảđều thừa nhận bản chất của toàn cầu hoá là toàn cầu hoá kinh tế, cụ thể hơn,hiện nay toàn cầu hoá là toàn cầu hoá kinh tế tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên,trong khi hướng vấn đề nghiên cứu tập trung vào phương pháp, cách xem xét,chúng tôi nhận thấy rằng trong số rất nhiều những cách tiếp cận vấn đề bản

Trang 13

chất của toàn cầu hoá một cách tự giác hoặc tự phát, có hệ thống hoặc chưa hệthống, thì việc vận dụng quan điểm duy vật lịch sử (triết học macxit về lịchsử) nhất là quan điểm cơ bản của nó, trong xác định bản chất của toàn cầuhoá, là điều mà hầu như chưa có tác giả, công trình nào đề cập đến một cáchtoàn diện và có hệ thống Cho nên, vấn đề đặt ra đối với chúng tôi ở đâykhông phải là khẳng định hay phủ nhận bản chất của toàn cầu hoá, rằng nó làthế này hay thế kia, là như thế hay không phải là như thế, mà quan trọng làchứng minh điều đã được khẳng định đó dựa trên một quan điểm nghiên cứukhoa học xác định, rõ ràng như thế nào Vì thế, chúng tôi thấy rằng cần tậptrung nghiên cứu, tổng kết nội dung quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vậtlịch sử để từ đó vận dụng nó vào nhận thức bản chất của toàn cầu hoá, với hyvọng góp phần đem lại một cái nhìn hệ thống, toàn diện và rõ ràng hơn về bảnchất của toàn cầu hoá.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài: 1) Xác định rõ nội dung, ý nghĩa của

quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử căn cứ vào lịch sử của nó; 2)Làm rõ bản chất của toàn cầu hoá theo quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duyvật lịch sử, cho thấy ý nghĩa của quan điểm này đối với nhận thức sự pháttriển Việt Nam hiện nay

Nhiệm vụ nghiên cứu: Thứ nhất, vạch ra nội dung và ý nghĩa của quan

điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong quá trình hình thành và pháttriển của nó, thông qua khảo cứu những tác phẩm tiêu biểu của Mác, Ăngghen

và Lênin, đồng thời tìm hiểu một số những nghiên cứu khác, từ đó tổng kết

nội dung phương pháp luận của quan điểm này; Thứ hai, vận dụng quan điểm

cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử để chứng minh, xác định bản chất củatoàn cầu hoá, vạch ra, chứng minh ý nghĩa của quan điểm xem xét này đối vớinhận thức quá trình phát triển Việt Nam hiện nay

Trang 14

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng của đề tài là quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử

và ý nghĩa của nói đối với nhận thức bản chất của toàn cầu hoá

Phạm vi nghiên cứu: Việc nghiên cứu quan điểm cơ bản của chủ nghĩa

duy vật lịch sử sẽ được tập trung vào mặt phương pháp luận của nó và thôngqua quá trình các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác xây dựng và phát triển quanđiểm này gắn liền với việc xây dựng và phát triển quan niệm duy vật về lịch

sử nói chung Về ý nghĩa của quan điểm lịch sử cơ bản đối với nhận thức bảnchất của toàn cầu hoá, chúng tôi tập trung xem xét ý nghĩa phương pháp luậncủa quan điểm đó đối với nhận thức bản chất của toàn cầu hoá trong giai đoạnhiện nay của xã hội loài người

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận: đề tài nghiên cứu được thực hiện dựa trên những quan

điểm lý luận của chủ nghia Mác-Lênin và đường lối đổi mới, phát triển đấtnước của Đảng cộng sản Việt Nam

Về phương pháp nghiên cứu: căn cứ vào đối tượng, phạm vi, mục đích

và các nhiệm vụ nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu chính được xácđịnh là: 1) Phương pháp kết hợp giữa lịch sử và logic Phương pháp này chủyếu được áp dụng trong nghiên cứu quá trình các nhà sáng lập chủ nghĩa Mácxây dựng và phát triển quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử; 2)Các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, chủ yếu được áp dụng trongxem xét bản chất của toàn cầu hoá Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phươngpháp nghiên cứu khác, như trừu tượng hoá, khái quát hoá (chủ yếu trong việclựa chọn, phân tích các tài liệu, các quan điểm, số liệu thống kê…) Đồngthời, trong khi sử dụng các phương pháp nghiên cứu, chúng tôi kế thừa nhữngphương pháp và các kết quả nghiên cứu đã có liên quan đến đề tài này

Trang 15

6 Đóng góp và ý nghĩa của đề tài

Đề tài được thực hiện, sẽ giúp cho việc hiểu sâu hơn, cụ thể hơn nộidung và ý nghĩa của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử cả về lýluận và phương pháp luận, góp thêm một ý kiến, một cách hiểu cụ thể hơn vềbản chất của toàn cầu hoá, thông qua đó khẳng định nội dung và giá trị khoahọc bền vững của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử đối vớinhận thức xã hội, lịch sử nói chung Kết quả của đề tài có thể được dùng làmtài liệu tham khảo cho những nghiên cứu về phương pháp luận của chủ nghĩaduy vật lịch sử và về phương pháp luận nghiên cứu toàn cầu hoá

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược kết cấu thành 2 chương, 5 tiết:

Chương 1: Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Chương 2: Ý nghĩa của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch

sử đối với nhận thức bản chất toàn cầu hóa

Trang 16

Chương 1 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

Quan niệm duy vật lịch sử ra đời đã giúp cho nhận thức xã hội từ chỗ bịchi phối bởi quan điểm duy tâm được đặt trên cơ sở khoa học Ăngghen chorằng quan niệm duy vật về lịch sử là “một trong hai phát minh quan trọng của

Mác”, bên cạnh học thuyết về giá trị thặng dư Lênin khẳng định: “Chủ nghĩa

duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học Một lý

luận khoa học hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay thế cho sự lộn xộn và sựtuỳ tiện, vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chínhtrị; lý luận đó chỉ cho ta thấy rằng, do chỗ lực lượng sản xuất lớn lên, thì từmột hình thức tổ chức đời sống xã hội này, nảy ra và phát triển lên như thếnào một hình thức tổ chức đời sống xã hội khác, cao hơn; chẳng hạn, chủnghĩa tư bản đã nảy sinh ra như thế nào từ chế độ phong kiến” [29, tr.53]

Vậy điều gì đã làm cho quan niệm duy vật lịch sử mang nội dung và ýnghĩa một cuộc cách mạng trong nhận thức xã hội, lịch sử? Như mọi ngườiđều biết, trước khi triết học Mác ra đời triết học cổ điển Đức đã đạt đượcthành tựu lớn nhất là phép biện chứng Nhưng vì dựa trên quan điểm duy tâm,nên phép biện chứng ấy không giải thích đúng đắn, khoa học sự phát triển xãhội loài người Mác và Ăngghen đã kế thừa phép biện chứng ấy và cải tạo nótrên cơ sở chủ nghĩa duy vật khoa học do hai ông sáng lập, vì thế quan niệmduy vật về lịch sử đã được sáng tạo ra Cho nên, nguyên nhân lý luận cơ bảncủa cuộc cách mạng trong nhận thức xã hội chính là việc xác lập quan điểm

cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm cho rằng tồn tại xã hội quyếtđịnh ý thức xã hội, sinh hoạt kinh tế là nền tảng của mọi sinh hoạt xã hộikhác, quần chúng nhân dân là lực lượng cơ bản sáng tạo ra lịch sử Chínhquan điểm này làm thành bản chất của quan niệm duy vật lịch sử Để hiểu rõ

Trang 17

nội dung và ý nghĩa của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử trướchết, cần khảo cứu nó về mặt lịch sử.

1.1 Quá trình Mác và Ăngghen xây dựng và phát triển quan điểm

cơ bản của chủ nghĩa duy vật về lịch sử

1.1.1 Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong quá trình hình thành chủ nghĩa duy vật lịch sử

Kết quả đầu tiên trong khi nghiên cứu đời sống xã hội mà Mác thuđược khi phê phán triết học pháp quyền của Hêghen là khẳng định: “Trênthực tế, gia đình, xã hội công dân là những tiền đề của nhà nước, chính chúng

mới là những yếu tố thật sự tích cực”, “gia đình và xã hội công dân tự chúng

cấu thành nhà nước Chúng chính là động lực” và “nhà nước chính trị khôngthể tồn tại nếu không có cơ sở tự nhiên gia đình và cơ sở nhân tạo là xã hộicông dân” [33, tr.313-315] Nhận thức ấy của Mác là kết quả của việc lậtngược quan điểm của Hêghen khi ông ta cho rằng nhà nước và pháp quyền là

cơ sở của gia đình và xã hội công dân Vì thuật ngữ “xã hội công dân” (làthuật ngữ của triết học cũ) mặc dù chưa nói đầy đủ nội dung kinh tế nhưng nóchỉ lĩnh vực sinh hoạt của tầng lớp thị dân, những lợi ích tư nhân, cho nên cóthể khẳng định đây là tư tưởng của Mác về vai trò quyết định của kinh tế đốivới kiến trúc thượng tầng xã hội, một khía cạnh nội dung của quan điểm cơbản của chủ nghĩa duy vật lịch sử Sau tác phẩm trên, Mác tiếp tục đề xuất tưtưởng của ông về mối liên hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, về vai tròcủa quần chúng nhân dân trong tác phẩm “Lời nói đầu” của “Góp phần phêphán triết học pháp quyền của Hêghen” khi bàn về bản chất con người, vềcách mạng xã hội, về nguồn gốc, bản chất của tôn giáo Tư tưởng của Mác vềvai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội thể hiện rõ ở chỗông đòi hỏi phải hiểu bản chất con người một cách hiện thực, thấy rõ tầmquan trọng của bạo lực cách mạng và tìm nguồn gốc, bản chất tôn giáo trongđời sống hiện thực

Trang 18

Bước tiến quan trọng của Mác trong quá trình xây dựng quan điểm cơbản của chủ nghĩa duy vật lịch sử là khi ông viết “Bản thảo kinh tế - triết họcnăm 1844”, quan điểm nổi bật trong toàn bộ nội dung tác phẩm này chính làquan điểm của Mác về lao động khi ông nghiên cứu “lao động bị tha hoá” củangười công nhân Ở đây tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử đãđược Mác vạch ra không chỉ ở quan niệm về nội dung, vai trò quyết định củalao động đối với sự hình thành, phát triển của xã hội loài người nói chung, màcòn ở chỗ, quan niệm về lao động là cơ sở cho việc đề xuất những tư tưởngkhác như tư tưởng về con người, bản chất con người, tư tưởng về xã hội và về

sự phát triển con người, xã hội Như vậy, ở đây lần đầu tư tưởng cơ bản củaquan niệm duy vật về lịch sử đã được trình bày trong mối liên hệ hữu cơ vớinhững tư tưởng khác trong hệ thống của chúng

Trong tác phẩm “Gia đình thần thánh”, Mác và Ăngghen đã trình bàyquan điểm của mình về lợi ích và về mối liên hệ giữa kinh tế và tư tưởng, giữa

kinh tế và kiến trúc thượng tầng xã hội Hai ông cho rằng: “một khi “tư

tưởng” tách rời “lợi ích” thì nhất định nó sẽ tự làm nhục nó”, “tư tưởng căn

bản không thể thực hiện được cái gì hết Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có

những con người sử dụng những lực lượng thực tiễn” Và “ngày nay, chỉ có

sự mê tín về chính trị mới còn cho rằng nhà nước phải củng cố đời sống thị

dân, trong khi thực ra thì trái lại, chính là đời sống thị dân củng cố nhà nước”[35, tr.122] Việc bàn về lợi ích, tức là ích kinh tế, lợi ích vật chất đã làm nổibật khía cạnh nội dung của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, ởđây là về vai trò quyết định của kinh tế đối với tư tưởng, với nhà nước chínhtrị Đồng thời cũng trong tác phầm này, Mác và Ăngghen bổ sung thêm nộidung của quan điểm về quần chúng nhân dân, đó là về vai trò ngày càng tăngcủa quần chúng nhân dân trong lịch sử

Việc xác định rõ hơn nội dung của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duyvật lịch sử còn được thể hiện trong “Luận cương về Phoiơbắc” của Mác Ở

Trang 19

đây nội dung và ý nghĩa của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sửđược chỉ ra khi Mác nói về bản chất con người, về vị trí của thực tiễn trongđời sống xã hội và khi ông vạch ra bản chất duy tâm của quan điểm Phoiơbắc

về xã hội Trong luận cương 8 Mác viết: “Đời sống xã hội, về thực chất là có

tính chất thực tiễn Tất cả những sự thần bí đang đưa lý luận đến chủ nghĩa

thần bí, đều được giải đáp một cách hợp lý trong thực tiễn của con người vàtrong sự hiểu biết thực tiễn ấy” [36, tr.12] Luận điểm này của Mác đã chỉ rõthực tiễn mà trước hết là hoạt động sản xuất vật chất của con người, chính làbản chất (thực chất) của đời sống xã hội, cái bản chất ấy quy định những sinhhoạt khác của xã hội như những sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, chủ nghĩathần bí; do đó, về mặt phương pháp luận, chỉ có thể giải thích được một cáchhợp lý, chính xác những “sự thần bí”, “chủ nghĩa thần bí” khi xuất phát từthực tiễn, từ việc hiểu thực tiễn

Với sự ra đời của chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm cơ bản của nó

đã được thể hiện một cách chính diện và rõ ràng trong tác phẩm “Hệ tư tưởngĐức” Trước hết, đó là việc xác lập quan điểm về mối liên hệ giữa tồn tại xãhội và ý thức xã hội Trong “Hệ tư tưởng Đức” quan niệm của Mác vàĂngghen về tồn tại xã hội, về quá trình đời sống hiện thực của con ngườitrước hết được hiểu là sự sản xuất ra đời sống vật chất trực tiếp, tức là quátrình sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho sự tồn tại thể xác củacon người, còn quan niệm của hai ông về ý thức được hiểu là về ý thức xã hộinói chung Đây là hai luận điểm tiêu biểu của Mác và Ăngghen về mối liên hệgiữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội Hai ông viết: “Ý thức không bao giờ cóthể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức, và tồn tại của con người là quátrình đời sống hiện thực của con người” [37, tr.37] Và “không phải ý thứcquyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức” [37, tr.38] Quanđiểm chung thể hiện trong các luận điểm trên chính là về sự quyết định củatồn tại xã hội đối với ý thức xã hội

Trang 20

Khi đi sâu phân tích cấu trúc xã hội, Mác và Ăngghen đã vạch rõ hơnnội dung của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử Cụ thể là, haiông đã chỉ ra vai trò quyết định của “quan hệ giao tiếp”, của phương thức sảnxuất, của “xã hội công dân”, rộng ra là của toàn bộ nền sản xuất vật chất xãhội đối với các lĩnh vực sinh hoạt xã hội khác nhau, như đối với sản xuất tinhthần, đối với cơ cấu xã hội, nhất là cơ cấu giai cấp, đối với nhà nước và kiếntrúc thượng tầng xã hội Với việc hiểu “xã hội công dân” là lĩnh vực “baotrùm toàn bộ sự giao tiếp vật chất của các cá nhân trong một giai đoạn nhấtđịnh của lực lượng sản xuất Nó bao trùm toàn bộ đời sống thương nghiệp vàcông nghiệp trong giai đoạn đó…” [37, tr.52], Mác và Ăngghen coi “xã hộicông dân là trung tâm thực sự, vũ đài thực sự của lịch sử” [37, tr.51].

Mác và Ăngghen tiếp tục thể hiện khía cạnh này của quan điểm cơ bảncủa chủ nghĩa duy vật lịch sử khi trình bày lý luận về phát triển lịch sử Haiông đặc biệt coi trọng mối liên hệ giữa lực lượng sản xuất và “hình thức giaotiếp”, mà đặc trưng cơ bản của nó là sự phù hợp của “hình thức giao tiếp” vớimột giai đoạn phát triển nhất định của lực lượng sản xuất Hai ông chỉ ra rằngchính sự phát triển của lực lượng lượng sản xuất trong phạm vi những “hìnhthức giao” tiếp nhất định là nguyên nhân, động lực cơ bản nhất quyết địnhtoàn bộ sự vận động lịch sử Cụ thể, Mác và Ănghen viết: “Như vậy là theoquan điểm của chúng tôi, tất cả mọi xung đột trong lịch sử đều bắt nguồn từmâu thuẫn giữa những lực lượng sản xuất và hình thức giao tiếp” và “mâuthuẫn giữa lực lượng sản xuất và hình thức giao tiếp đã xảy ra nhiều lần tronglịch sử từ trước cho đến nay, song vẫn không làm hại đến cơ sở của nó, thì lầnnào cũng phải nổ ra thành một cuộc cách mạng, đồng thời lại mang nhữnghình thức phụ khác nhau như: tổng thể những xung đột, những xung đột giữacác giai cấp khác nhau, những mâu thuẫn về ý thức, đấu tranh tư tưởng, đấutranh chính trị, v.v…” [37 tr.107-108] Quan điểm nói trên của Mác vàĂngghen chính là quan điểm về quy luật cơ bản của sự phát triển lịch sử

Trang 21

Bên cạnh đó, Mác và Ăngghen đã trình bày mặt phương pháp luận củaquan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử Chỉ ra sai lầm, hạn chế củachủ nghĩa duy tâm Đức, cụ thể là của hai phái “Hêghen trẻ” và “Hêghen già”,hai ông cho rằng bản chất của chủ nghĩa duy tâm Đức chính là ở chỗ các nhà

tư tưởng đã không xuất phát từ hiện thực xã hội Đức, từ hoàn cảnh vật chấtquy định nội dung những quan điểm triết học của họ, để giải thích các họcthuyết triết học Đức đương thời Đồng thời, từ sự phê phán ấy Mác vàĂngghen khẳng định quan điểm xuất phát trong nghiên cứu lịch sử của cácông: “Những tiền đề xuất phát của chúng tôi là không phải là những tiền đềtuỳ tiện, không phải là giáo điều; đó là những tiền đề hiện thực mà người tachỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng mà thôi Đó là những cá nhân hiệnthực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, nhữngđiều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những điều kiện do hoạt động củachính họ tạo ra Như vậy, những tiền đề ấy là có thể kiểm nghiệm được bằngcon đường kinh nghiệm thuần tuý” [37, tr.28-29]

Mặt phương pháp luận của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vậtlịch sử còn được Mác và Ăngghen trình bày rõ ràng hơn như sau: “Như vậy,quan điểm đó về lịch sử là: phải xuất phát từ chính ngay sự sản xuất vật chất

ra đời sống trực tiếp để xem xét quá trình hiện thực của sản xuất và hiểu hìnhthức giao tiếp gắn liền với phương thức sản xuất ấy và do phương thức sảnxuất ấy sản sinh ra - tức là xã hội công dân ở những giai đoạn khác nhau của

nó - là cơ sở của toàn bộ lịch sử; rồi sau đó phải miêu tả hoạt động của xã hộicông dân trong lĩnh vực sinh hoạt nhà nước, cũng như xuất phát từ xã hộicông dân mà giải thích toàn bộ những sản phẩm lý luận khác nhau và mọihình thái ý thức, tôn giáo, triết học, đạo đức,… và theo dõi quá trình phát sinhcủa chúng trên cơ sở đó; nhờ vậy mà tất nhiên có thể miêu tả được toàn bộquá trình (và do đó cũng có thể miêu tả được cả sự tác động qua lại giữanhững mặt khác nhau của quá trình đó) Khác với quan niệm duy tâm về lịch

Trang 22

sử, quan niệm đó về lịch sử không đi tìm một phạm trù nào đó trong mỗi thờiđại, mà nó luôn luôn đứng trên miếng đất hiện thực của lịch sử; nó không căn

cứ vào tư tưởng để giải thích thực tiễn, nó giải thích sự hình thành của tưtưởng căn cứ vào thực tiễn vật chất, và do đó, nó đi tới kết luận rằng khôngthể đập tan được mọi hình thái và sản phẩm của ý thức bằng sự phê phán tinhthần, bằng việc quy chúng thành “Tự ý thức”, hay biến chúng thành những “uhồn”, “bóng ma”, “tính kỳ quặc”, v.v…, mà chỉ bằng việc lật đổ một cáchthực tiễn những quan hệ xã hội hiện thực đã sản sinh ra tất cả những điềunhảm nhí duy tâm đó; rằng không phải sự phê phán mà cách mạng mới làđộng lực của lịch sử, của tôn giáo, của triết học và của mọi lý luận khác” [37,tr.54]

Như vậy, khía cạnh phương pháp luận của quan điểm cơ bản của chủnghĩa duy vật lịch sử đòi hỏi phải xuất phát từ tồn tại để giải thích ý thức xãhội, từ sự sản xuất ra đời sống vật chất trực tiếp xem như cơ sở sâu xa nhất đểgiải thích toàn bộ sự vận động lịch sử Tuy nhiên, ở khía cạnh thứ hai nàyquan điểm cơ bản còn đòi hỏi phải vạch ra sự tác động của sản xuất vật chấttrực tiếp trong mối liên hệ với toàn bộ sản xuất xã hội, với hình thức giao tiếp

và xã hội công dân, để từ đó xem xét tác dụng của chúng đến mọi yếu tố xãhội khác nhau và toàn bộ đời sống xã hội nói chung

Sau tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” Mác tiếp tục bổ sung cho quan điểmlịch sử cơ bản những khía cạnh nội dung mới, rõ nhất là trong tác phẩm “Sựkhốn cùng của triết học” Trong tác phẩm này, bên cạnh việc vạch ra rõ hơnnội dung của quy luật lịch sử cơ bản - quy luật về sự phù hợp của quan hệ sảnxuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, khái niệm phương thức sảnxuất, Mác còn chỉ ra vai trò quyết định của chúng đối sự phát triển xã hội loàingười nói chung Điều đáng chú ở đây là, trong khi bàn về nội dung củaphương thức sản xuất và vai trò của nó Mác đã chỉ ra yếu tố đặc trưng chomột phương thức sản xuất cả về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Về

Trang 23

lực lượng sản xuất, đó là yếu tố công cụ; về quan hệ sản xuất đó là chủ thể lợiích của phương thức sản xuất Mác đòi hỏi việc giải thích xã hội và sự pháttriển của nó phải căn cứ vào quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất vớitrình độ phát triển của lực lượng sản xuất, vào phương thức sản xuất, nhất làvào yếu tố đặc trưng của nó là công cụ lao động và chủ thể lợi ích gắn liền vớiphương thức sản xuất ấy.

Với tác phẩm nổi tiếng “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” Mác vàĂngghen đã thể hiện rõ ràng và tài tình việc vận dụng quan điểm cơ bản củachủ nghĩa duy vật lịch sử trong việc làm sáng tỏ cơ sở khách quan của toàn bộlịch sử của đấu tranh giai cấp nói chung và cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản,cách mạng vô sản nói riêng Hai ông chứng minh rằng chính sự phát triển củasản xuất vật chất trong các giai đoạn khác nhau đã không những sản sinh racác giai cấp, mà còn quy định cuộc đấu tranh giữa chúng “lúc công khai lúcngầm ngầm” Đặc biệt hai ông cũng chứng minh hết sức rõ ràng rằng, cuộcđấu tranh của giai cấp vô sản, cách mạng vô sản một mặt là sự tiếp tục của cáccuộc đấu tranh giai cấp đã có trong lịch sử, mặt khác, do những điều kiện pháttriển mới của sản xuất, đó là sự ra đời của đại công nghiệp, cho nên cuộc đấutranh của giai cấp vô sản mà cách cách mạng vô sản là đỉnh cao của nó, sẽhướng đến xoá bỏ mọi giai cấp Tất nhiên, trong “Tuyên ngôn của Đảng cộngsản” quan điểm ấy được vận dụng gắn liền với học thuyết hình thái kinh tế -

xã hội và cấu thành nội dung của học thuyết này

1.1.2 Nội dung và ý nghĩa của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong quá trình Mác và Ăngghen phát triển quan niệm duy vật

về lịch sử

Sau khi sáng lập quan niệm duy vật về lịch sử với tư cách hệ thống lýluận, Mác và Ăngghen đã vận dụng lý luận này vào nhận thức thực tiễn đờisống xã hội và trong việc xây dựng các khoa học lý luận khác là kinh tế chínhtrị học và chủ nghĩa xã hội khoa học Đây được xem là quá trình phát triển

Trang 24

quan niệm duy vật lịch sử của hai ông Trong quá trình ấy, quan điểm cơ bảncủa chủ nghĩa duy vật lịch sử được phát triển hơn về nội dung cùng với sựphát triển của toàn bộ hệ thống quan niệm duy vật về lịch sử.

Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật về lịch sử được phát triển đặcbiệt sâu sắc, rõ ràng trong nghiên cứu kinh tế chính trị học Trước hết phải nóiđến tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” của Mác, nhất là

“Lời tựa” của nó Tác phẩm không chỉ thể hiện rõ việc Mác coi trọng quanđiểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử khi tập trung vào nghiên cứu kinh

tế chính trị học, mà còn ở chỗ đã vạch ra những nội dung cụ thể của quanđiểm này khi vận dụng vào nghiên cứu nền kinh tế của xã hội tư bản chủnghĩa Mác hiểu rằng, muốn hiểu được chế độ tư bản chủ nghĩa thì trước hếtphải hiểu được chế độ kinh tế của nó và để hiểu chế độ kinh tế ấy phải nghiêncứu trước hết sự phát triển của lực lượng sản xuất gắn liền với quan hệ sảnxuất, không thể nghiên cứu sự phát triển của lực lượng sản xuất ở bên ngoàinhững quan hệ sản xuất nhất định và ngược lại, không thể nghiên cứu quan hệsản xuất tách khỏi sự phát triển của lực lượng sản xuất Đồng thời, phải từ sựnghiên cứu ấy mà đi đến nghiên cứu toàn bộ cơ sở hạ tầng, tức là toàn bộ nềnkinh tế của xã hội Khi nghiên cứu cơ sở kinh tế của xã hội Mác đặc biệt coitrọng việc nắm vững các quy luật phát triển của nó, trong đó nổi bật là quyluật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất Ông khẳng định: “Không một hình thái xã hội nào diệt vong trướckhi tất cả những lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho

nó phát triển, vẫn chưa phát triển, và những quan hệ sản xuất mới cao hơn,cũng không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất củanhững quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ” Khôngnhững thế, quan điểm cơ bản của Mác còn được thể hiện trong việc giải thích

sự tồn tại và phát triển xã hội Ông thấy nguyên nhân cơ bản, sâu xa của cáchmạng xã hội là do sự xung đột giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất và

Trang 25

sự tiến triển của các hình thái kinh tế - xã hội diễn ra trên cơ sở các phươngthức sản xuất xã hội nhất định Đồng thời ông đòi hỏi rằng phải giải thích ýthức xã hội, những mâu thuẫn của nó, từ tồn tại xã hội, từ mâu thuẫn của đờisống vật chất, từ sự xung đột hiện có giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất [40, tr.14-16] “Lời tựa” này của Mác đã thể hiện sự phát triển sâu sắc,toàn diện nội dung quan điểm về mối liên hệ giữa cơ sở hạ tầng, đời sống kinh

tế của xã hội với kiến trúc thượng tầng, với toàn bộ đời sống xã hội nói chung

Sau khi tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” của Mác

ra đời, Ăngghen đã viết bài “Các Mác - Góp phần phê phán khoa kinh tếchính trị” để bình luận về tác phẩm này của Mác Chính Ăngghen đã chia nộidung của quan niệm duy vật về lịch sử thành hai thành phần lý luận chính: thứnhất là “quan điểm cơ bản” hay “quan điểm duy vật cơ bản”; thứ hai là “quanđiểm lịch sử” hay “phương pháp biện chứng” [1, tr.608] Sự phân chia nàycủa Ăngghen khẳng định rõ ràng sự tồn tại của quan điểm cơ bản của chủnghĩa duy vật lịch sử Tuy nhiên, Ăngghen không dừng lại ở sự phân chia ấy

mà đã đi sâu phân tích, chứng minh nội dung và ý nghĩa cách mạng của quanđiểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử Ông viết: “Cái luận điểm của Mác.Thứ nhất là “luận điểm cho rằng “phương thức sản xuất đời sống vật chấtquyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung; rằngchỉ khi nào hiểu được những điều kiện sinh hoạt vật chất của mỗi thời đạitương ứng, khi nào tất cả những cái khác đều được rút ra từ những điều kiệnvật chất ấy, thì mới có thể hiểu được tất cả các quan hệ xã hội và quốc gia, tất

cả các hệ thống tôn giáo và pháp luật, tất cả các quan điểm lý luận đã xuấthiện trong lịch sử, - luận điểm đó là một phát minh có tác dụng cách mạnghoá không chỉ dối với môn kinh tế chính trị, mà còn đối với tất cả các mônkhoa học lịch sử nữa” “Không phải ý thức của con người quyết định sự tồntại của họ, trái lại sự tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ Luận

Trang 26

điểm đó đơn giản đến mức mà bất cứ người nào, nếu không bị rơi vào nhữngluận điệu lừa dối duy tâm, thì đều có thể hiểu rõ Nhưng từ luận điểm đóngười ta lại rút ra được những kết luận hết sức cách mạng không chỉ đối với

lý luận, mà cả đối với thực tiễn nữa” [1, tr.606-607]

Ăngghen đã chỉ rõ nội dung của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duyvật lịch sử bao gồm hai luận điểm: thứ nhất là cho rằng phương thức sản xuấtvật chất quyết định các sinh hoạt xã hội khác; thứ hai là cho rằng tồn tại xãhội quyết định ý thức xã hội Đồng thời nội dung ấy còn bao gồm cả hai mặt:

lý luận về các mối quan hệ nói trên và phương pháp luận được rút ra từ lýluận ấy Bên cạnh đó, Ăngghen còn cho thấy tác dụng cách mạng hoá củaquan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử không chỉ đối với khoa kinh

tế chính trị, đối với nhận thức xã hội nói chung, mà còn đối với cả thực tiễn.Không chỉ có thế, ý nghĩa của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sửcòn được Ăngghen chỉ ra rằng “quan điểm cơ bản đó vẫn xuyên qua như mộtsợi chỉ đỏ tất cả mọi trước tác của đảng”, và được ông chứng minh rằng chính

nó đã làm cơ sở cho việc “khôi phục phép biện chứng, giải phóng nó khỏi cái

vỏ duy tâm” và do đó tạo nên quan điểm lịch sử khoa học hay phương phápbiện chứng, mà theo Ăngghen thì phương pháp này làm cơ sở cho sự phêphán của Mác đối với khoa kinh tế chính trị cổ điển [1, tr.608]

Khẳng định ý nghĩa của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sửcủa Mác trong bộ “Tư bản” Lênin cho rằng, sau khi nhận thấy rằng chế độ kinh

tế là cơ sở trên đó kiến trúc thượng tầng chính trị được xây dựng lên, Mác chú

ý nhất đến việc nghiên cứu chế độ kinh tế ấy Mác dành riêng tác phẩm chínhcủa mình là bộ “Tư bản” để nghiên cứu chế độ kinh tế của xã hội hiện đại” Tất nhiên,trong nghiên cứu kinh tế chính trị học mà kết quả lớn lao, rực rỡ nhất là bộ “Tư bản”,Mác đã không chỉ vận dụng quan điểm lịch sử cơ bản, mà là toàn bộ nội dung triếthọc của chủ nghĩa Mác Nhưng phải thấy rằng chỉ trên cơ sở của quan điểm cơ bản ấythì phép biện chứng duy vật nói chung cũng như quan

Trang 27

điểm lịch sử hay quan điểm phát triển lịch sử, mới có thể được thực hiện, mới

có thể phát huy tác dụng Vì vậy, nhiệm vụ cụ thể ở đây là làm rõ trước hếtquan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong “Tư bản” của Mác

Trong “Tư bản” Mác không nghiên cứu phương thức sản xuất tư bảnmột cách trừu tượng, thuần tuý lý luận, trái lại ông nghiên cứu nó một cáchhiện thực và cụ thể Đối với ông nhiệm vụ cơ bản là phải vạch ra những quyluật vận động khách quan của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là sự vậnđộng của chúng trong những mâu thuẫn Bằng phương pháp kết hợp giữa lịch

sử và logich, đi từ trừu tượng đến cụ thể, Mác đã xuất phát từ phân tích hànghoá để từ đó vạch ra hệ thống những mâu thuẫn kinh tế của chủ nghĩa tư bản

Ăngghen tổng kết hệ thống những mâu thuẫn ấy như sau: “Thứ nhất là, sự

không tương dung giữa sản xuất xã hội và sự chiếm hữu tư bản chủ nghĩa.Đây là mâu thuẫn cơ bản của nền sản xuất xã hội tư bản và do đó của kết cấu

xã hội đó nói chung, nó được biểu hiện ra và quy định một loạt các mâu thuẫn

tiếp theo; thứ hai là, sự đối kháng giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản; thứ

ba là, sự đối lập giữa tình trạnh có tổ chức của sản xuất trong các công xưởng

riêng biệt và tình trạng vô chính phủ của sản xuất trong toàn xã hội; thứ tư là, phương thức sản xuất nổi dậy chống lại phương thức sản xuất trao đổi; thứ

năm là, lực lượng sản xuất càng chứng tỏ tính chất xã hội, thì nó càng thoát

khỏi tư cách tư bản của mình” [3, tr.312-321] Với cách hiểu về nền kinh tế tưbản chủ nghĩa như thế này, lần đầu tiên quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duyvật lịch sử, cụ thể là quan điểm về quan hệ của kinh tế đối với đời sống xã hộinói chung, không còn chỉ là sự khẳng định chung rằng kinh tế là cơ sở củanhững sinh hoạt xã hội khác, mà bao hàm việc phân tích cụ thể những quyluật, hệ thống những mâu thuẫn của nền kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa Ýnghĩa quan trọng nhất của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sửđược vận dụng trong “Tư bản” chính ra là ở chỗ đó

Trang 28

Bàn về vấn đề nhà ở, Ăngghen cho rằng không thể chỉ giải thích sựkhủng hoảng nhà ở căn cứ vào phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa nóichung, mặc dù điều đó là cần thiết để thấy rằng chính phương thức sản xuất tưbản chủ nghĩa là nguyên nhân của mọi tình trạng xã hội hiện nay Ở đây, theoĂngghen cần chỉ ra nguyên nhân trực tiếp của tình trạng khủng hoảng nhà ở

đó là lĩnh vực phân phối Ăngghen chỉ rõ ràng rằng chính phương thức phânphối bất hợp lý, chỉ làm lợi cho những kẻ đầu cơ, kinh doanh nhà ở, là nguyênnhân trực tiếp dẫn đến tình trạng khủng hoảng nhà ở, đã đánh vào người laođộng một cách nặng nề Sự phân tích của Ăngghen về nguyên nhân của khủnghoảng nhà ở cho thấy rõ sự cần thiết phải hiểu quan điểm coi kinh tế là cơ sởcủa những sinh hoạt xã hội, một cách mềm dẻo, năng động, cụ thể, tránh rơivào cách hiểu chung chung, trừu tượng

Việc phê phán những quan điểm phản macxit và phản khoa học là mộttrong những điều kiện để Ăngghen triển khai sâu sắc nội dung quan điểm cơbản của chủ nghĩa duy vật lịch sử Chúng ta tập trung xem xét quan điểm củaĂngghen trong tác phẩm “Chống Đuyrinh” nổi tiếng của ông Ăngghen viết:

“Những giai cấp xã hội đấu tranh với nhau ấy lúc nào cũng là sản phẩm củanhững quan hệ sản xuất và quan hệ trao đổi, tóm lại là sản phẩm của những

quan hệ kinh tế của thời đại của các giai cấp ấy; rằng do đó kết cấu kinh tế của

xã hội của mỗi thời đại nhất định tạo nên cái cơ sở hiện thực mà xét đến cùng,phải bằng cái cơ sở hiện thực ấy mà giải thích toàn bộ thượng tầng kiến trúcbao gồm những thể chế pháp luật và chính trị cùng như những quan niệm tôngiáo, triết học và những quan niệm khác của mỗi thời kỳ lịch sử nhất định Do

đó, chủ nghĩa duy tâm đã bị tống cổ ra khỏi nơi ẩn náu cuối cùng của nó, tức

là ra khỏi quan niệm về lịch sử, người ta đã có một quan niệm duy vật về lịch

sử và đã tìm thấy con đường để giải thích ý thức con người từ sự tồn tại của

họ, chứ không phải lấy ý thức của họ để giải thích sự tồn tại của họ như từtrước đến nay người ta đã làm” [2, tr.43-44] Ở đây Ăngghen đã chỉ rõ hai

Trang 29

khía cạnh phương pháp luận nổi bật của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy

vật lịch sử: thứ nhất phải lấy kết cấu kinh tế của xã hội trong mỗi thời đại để

giải thích toàn bộ thượng tầng kiến trúc bao gồm những thể chế pháp luật,

chính trị và những quan niệm khác nhau của xã hội; thứ hai, phải căn cứ vào

tồn tại xã hội để giải thích ý thức xã hội chứ không phải làm ngược lại Tuynhiên, cần thấy rằng quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử ở đâyđược hiểu gắn liền với những nội dung khác của quan điểm duy vật lịch sửnói chung

Bên cạnh đó, quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử còn đượcthể hiện trong một loạt những giải thích của Ăngghen về pháp quyền, đạođức, tự do và tất yếu, bạo lực, bình đẳng và sự hình thành giai cấp Ăngghenchứng minh rằng chính kinh tế với những quy luật khách quan của nó là cơ sởquyết định sự xuất hiện, phát triển của pháp quyền, của đạo đức, của bạo lực,bình đẳng, của các quan hệ giai cấp; và chính việc người ta nhận thức được vàhành động theo những quy luật xã hội, trước hết là những quy luật kinh tế màngười ta trở nên tự do Cụ thể hơn, khi phê phán quan điểm duy tâm củaĐuyrinh về đạo đức, Ăngghen chỉ ra rằng “xét cho đến cùng, mọi học thuyết

về đạo đức đã có từ trước cho đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tếcủa xã hội” và “con người dù tự giác hay không tự giác, rút cuộc đều rút ranhững quan niệm đạo đức của mình từ những quan hệ thực tiễn đang làm cơ

sở cho vị trí giai cấp của mình, tức là từ những quan hệ kinh tế trong đó người

ta sản xuất trao đổi” Hoặc khi phê phán quan điểm của Đuyrinh cho rằngchính trị, bạo lực chính trị là “yếu tố lịch sử cơ bản” quyết định kinh tế,Ăngghen đã bằng nhiều thí dụ lịch sử sinh động cụ thể chứng minh rằng chínhkinh tế mới là yếu tố quyết định bạo lực, chẳng hạn ông chỉ rõ rằng người đi

nô dịch kẻ khác, tức là thực hiện hành vi nô dịch của nó bằng bạo lực, chỉ cóthể xảy ra khi kẻ đi nô dịch có sẵn những tư liệu sản xuất; hay “bạo lực có thểlàm thay đổi kẻ tư hữu tài sản, nhưng nó không thể đẻ ra chế độ tư hữu tài

Trang 30

sản” v.v Những giải thích này của Ăngghen cho thấy rõ quan điểm cơ bảncủa chủ nghĩa duy vật lịch sử trong giải thích những hoạt động hết sức phongphú của đời sống xã hội.

Mác và Ăngghen nói rằng trong thời kỳ đầu tiên hoạt động lý luận, đểđối lập về nguyên tắc với quan điểm duy tâm về lịch sử, nên các ông thườngtập trung nhấn mạnh quan điểm về vai trò quyết định của kinh tế, cơ sở hạtầng đối với các sinh hoạt xã hội khác nhau, vì thế đã bị kẻ thù xuyên tạckhiến cho có sự hiểu lầm rằng các ông đã tuyệt đối hoá kinh tế trong nhậnthức xã hội Cho nên, về sau này cùng với việc tiếp tục phát triển sâu sắc hơnquan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác và Ăngghen đã chú ýhơn đến vấn đề là sự tác động ngược lại của ý thức xã hội đến tồn tại xã hội,của kiến trúc thượng tầng và những sinh hoạt xã hội khác đến kinh tế

Với tiêu đề “Xác định rõ và mở rộng hơn nội dung quan điểm lịch sử

cơ bản” của mục I, Chương V của cuốn sách “Triết học Mác về lịch sử”, tácgiả Phạm Văn Chung đã phân tích với những khía cạnh nội dung phong phú

của quan điểm lịch sử cơ bản Thứ nhất, quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy

vật lịch sử khi thừa nhận các điều kiện vật chất (kinh tế) là “nguyên nhân đầutiên” không loại trừ điều là “các lĩnh vực tư tưởng, đến lượt chúng, lại có tácđộng ngược lại, nhưng là tác động cấp hai lên những điều kiện vật chất ấy”.Điều đó có nghĩa là tư tưởng không hoàn toàn thụ động chịu tác động củanhững điều kiện vật chất, kinh tế, mà có thể tác động ngược lại đối với nhữngđiều kiện đó, tuy nhiên là tác động “cấp hai”, nghĩa là chúng khi tác động lên

những điều kiện ấy, chúng vẫn phụ thuộc vào chính những điều kiện ấy Thứ

hai, Ăngghen cho rằng kinh tế chỉ được xem là yếu tố quyết định khi xét đến

cùng, còn những yếu tố xã hội khác không hoàn toàn thụ động, trái lại có thể

tác động đến kinh tế, đôi khi chiếm ưu thế so với kinh tế Thứ ba, Ăngghen

chỉ ra rằng sự tác động lẫn nhau giữa kinh tế và kiến trúc thượng tầng xã hội,các sinh hoạt xã hội khác, được hiểu là sự tác động lẫn nhau không chỉ giữa

Trang 31

các tổng thể với nhau, mà còn là giữa các yếu tố của sinh hoạt kinh tế với

những yếu tố xã hội, kiến trúc thượng tầng nhất định Thứ tư, kinh tế được coi

là yếu tố tất yếu, quyết định đối với mọi sinh hoạt xã hội, nhưng không vì thế

mà có thể đem kinh tế để giải thích một cách máy móc mọi hiện tượng của

đời sống xã hội Thứ năm, Ăngghen thấy rằng kinh tế nói chung quyết định

các sinh hoạt xã hội khác nhau của con người, nhưng mỗi khâu, mỗi mặt củakinh tế lại có thể đi theo những quy luật của riêng nó Chẳng hạn như sự buônbán sản phẩm diễn ra ở bên ngoài sản xuất lại có những quy luật riêng của nó,cho nên không thể cứng nhắc xuất phát từ sản xuất để giải thích những cuộc

chinh phục của người Bồđàonha, Hàlan đối với châu Phi và Ấn độ được Thứ

sáu, khi nói về tác động ngựơc lại của quyền lực nhà nước đến kinh tế

Ăngghen đã chỉ ra ba loại tác động: một là, quyền lực chính trị đi song songvới kinh tế, trong trường hợp này nó thúc đẩy kinh tế phát triển; hai là, quyềnlực chính trị đi ngược lại với kinh tế, trong trường hợp này nó kìm hãm kinhtế; ba là, nó thúc đẩy kinh tế ở mặt này, nhưng lại kìm hãm ở mặt khác v.v [13, tr.315-328] Tóm lại, tinh thần quan điểm trên của Ăngghen là khôngđược tuyệt đối hoá yếu tố kinh tế trong giải thích các hiện tượng của đời sống

xã hội, trái lại chỉ có thể khẳng định, chứng minh vai trò quyết định của kinh

tế khi xem xét nó, đặt nó trong mối liên hệ với vô số các yếu tố xã hội khác vàchỉ ra được sự tác động cụ thể của những yếu tố đó đối với kinh tế

Ngoài ra, trong một số tác phẩm khác của mình, nhất là như “Nguồngốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”, “Lútvich Phoiơbắc và

sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”, Ăngghen đã tiếp tục phát triển sâusắc hơn quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng như toàn bộ nộidung của quan niệm duy vật lịch sử Trong những tác phẩm này, quan điểm

cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử được thể hiện rõ ở việc giải thích nguồngốc kinh tế, sản xuất của sự hình thành, phát triển gia đình, của chế độ tư hữu

Trang 32

và của nhà nước, ở việc giải thích mối liên hệ giữa kinh tế và nhà nước, phápquyền, hệ tư tưởng và tôn giáo v.v

1.2 Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong quá trình Lênin bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử

Trước những yêu cầu mới của thực tiễn phong trào công nhân, trực tiếp

là phong trào công nhân Nga, Lênin thấy rõ sự cần thiết phải nghiên cứu hìnhthái xã hội Nga, trước hết là hình thái kinh tế của nó để luận chứng cho khảnăng xuất hiện cuộc cách mạng vô sản ở Nga, từ đó cho phép có thể thành lậpđảng macxit kiểu mới ở Nga Chính vì hiểu rõ nội dung, bản chất và ý nghĩa

to lớn của quan điểm duy vật lịch sử cho nên Lênin mới thấy rõ được sự cầnthiết phải nghiên cứu đời sống kinh tế của xã hội Nga Trong cuốn sách nổitiếng “Những người “bạn dân” là thế nào và họ đấu tranh chống những ngườidân chủ - xã hội ra sao?” Lênin đã thể hiện rõ việc ông nắm vững, đánh giácao quan điểm duy vật lịch sử của Mác như thế nào Ở đây Lênin khẳng địnhlại nội dung và ý nghĩa của quan điểm duy vật lịch sử nói chung và quan điểm

cơ bản của nó nói riêng, đồng thời giải thích sáng tỏ hơn những nội dung nhấtđịnh của quan niệm đó Song điều cơ bản là việc Lênin đã vận dụng quanniệm duy vật lịch sử vào nghiên cứu chế độ kinh tế của xã hội Nga Lênin

hiểu rõ rằng phải "vẽ ra được bức tranh trọn vẹn về hiện thực nước ta, với

tính cách là hệ thống quan hệ sản xuất xã hội nhất định, nó phải chỉ rõ rằng với hệ thống đó thì tất nhiên phải có sự bóc lột và tước đoạt những người lao động, nó phải vạch ra con đường thoát khỏi hệ thống đó, con đường mà sự phát triển kinh tế đề ra" [27, tr.380] Luận điểm của Lênin khẳng định rất rõ,

chính diện ý nghĩa, tầm quan trọng to lớn của quan điểm cơ bản của chủ nghĩaduy vật lịch sử Và ông đã thực hiện nhiệm vụ ấy một cách xuất sắc với tácphẩm “Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga” Điều rất tuyệt vời là bằng

sự phân tích nền kinh tế của xã hội Nga trước cách mạng 1905-1907, Lênin đãrút ra kết luận về khả năng của một cuộc cách mạng vô sản không tránh được

Trang 33

ở Nga Tác phẩm của Lênin “Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga” đãchứng minh một cách thực tế sức mạnh, giá trị không thể bác bỏ được của quanđiểm duy vật lịch sử của Mác, trước hết là quan điểm cơ bản của nó Tất nhiên,Lênin không chỉ nghiên cứu chế độ kinh tế của nước Nga chỉ bằng quan điểm cơbản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà bằng toàn bộ nội dung quan điểm duy vậtlịch sử đã được ông nhận thức và giải thích sáng tỏ trong cuốn “Những người “bạndân” là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao?”.Nhưng phải thấy rằng, chính quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chứkhông phải là quan điểm nào khác đã khiến ông thấy ra được tầm quan trọng củanghiên cứu chế độ kinh tế của nước Nga, và ông đã tập trung nghiên cứu nó mộtcách khoa học và thành công.

Không chỉ có thế, trong quá trình theo dõi những diễn biến của phongtrào công nhân Nga, cách mạng Nga từ khi cuộc cách mạng 1905-1907 nổ ra

và thất bại, cho đến khi cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 thành công,Lênin đã luôn luôn xuất phát từ sự vận động kinh tế của xã hội để giải thíchtất cả các sự kiện lịch sử quan trọng Điều nổi bật là Lênin luôn lấy nhữnghoàn cảnh, tình hình kinh tế cụ thể của nước Nga để giải thích những sự kiện

xã hội cụ thể Trong toàn bộ sự phát triển lý luận macxit thuộc giai đoạn này,chúng ta chú ý đến hai tác phẩm quan trọng, nổi bật của Lênin, thể hiện rõquan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử đã được Lênin phát triển, đó

là tác phẩm “Các Mác (Sơ lược tiểu sử, kèm theo sự trình bày chủ nghĩaMác)” và tác phẩm “Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tưbản”

Trong bài “Các Mác (Sơ lược tiểu sử, kèm theo sự trình bày chủ nghĩaMác)”, điểm nổi bật liên quan đến vấn đề quan điểm cơ bản của chủ nghĩaduy vật lịch sử mà chúng ta đang nghiên cứu ở đây, là sự đánh giá của Lênin

về ý nghĩa và nội dung của quan điểm duy vật lịch sử của Mác Lênin viết:

“Việc phát hiện ra quan niệm duy vật lịch sử, hay nói cho đúng hơn, việc áp

Trang 34

dụng, việc vận dụng triệt để chủ nghĩa duy vật để xem xét lĩnh vực nhữnghiện tượng xã hội, đã loại bỏ được hai khuyết điểm căn bản của lý luận lịch sửtrước kia Một là, những lý luận này cùng lắm cũng chỉ xem xét những động

cơ tư tưởng của hoạt động lịch sử của con người, mà không nghiên cứu cănnguyên của những động cơ đó, không phát hiện ra tính quy luật khách quantrong sự phát triển của hệ thống quan hệ xã hội và không nhận thấy rằng trình

độ phát triển của sản xuất vật chất là nguồn gốc của những quan hệ ấy Hai là,

những lý luận trước kia đã không nói đến chính ngay hành động của quần

chúng nhân dân, còn chủ nghĩa duy vật lịch sử, thì lần đầu tiên, đã giúp ta

nghiên cứu một cách chính xác như khoa học lịch sử tự nhiên, những điềukiện xã hội của quần chúng và những biến đổi của những điều kiện ấy” [24,tr.68] Như vậy, khi vạch ra những khuyết điểm được coi là căn bản của lýluận về lịch sử trước kia và chứng minh rằng chủ nghĩa duy vật lịch sử đãkhắc phục được hai khuyết điểm đó, Lênin đã khẳng định và bổ sung cho nộidung quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử Ở khía cạnh thứ nhấtcủa nội dung quan điểm này, Lênin đòi hỏi cụ thể hơn là, phải thấy được “tínhquy luật khách quan trong sự phát triển của hệ thống quan hệ xã hội và trình

độ phát triển của sản xuất là nguồn gốc của những quan hệ ấy” Tuy nhiên,điểm nổi bật nhất ở đây là sự bổ sung của Lênin vào nội dung quan điểm cơbản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, đó là quan điểm về vai trò của quần chúngnhân dân trong lịch sử

Tác phẩm “Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”

là kết quả của sự nghiên cứu chủ nghĩa đế quốc, một giai đoạn phát triển mớicủa chủ nghĩa tư bản Lênin đã vạch ra phép biện chứng của chủ nghĩa đếquốc trước hết và về cơ bản là phép biện chứng của đời sống kinh tế của nó.Lênin nói rõ như sau: “Vì muốn chứng minh tính chất xã hội thật sự, hay nóicho đúng hơn, tính chất giai cấp thật sự của cuộc chiến tranh, thì cố nhiên làkhông thể căn cứ vào lịch sử ngoại giao của cuộc chiến tranh, mà phải căn cứ

Trang 35

vào sự phân tích địa vị khách quan của các giai cấp cầm đầu trong tất cả các

cường quốc tham chiến Để vạch rõ địa vị khách quan ấy, không nên lấynhững ví dụ hay những tài liệu lẻ tẻ (vì các hiện tượng trong đời sống xã hộicực kỳ phức tạp, nên bao giờ người ta cũng có thể tìm được, với một số lượngbao nhiêu cũng có, những ví dụ hoặc tài liệu lẻ tẻ để chứng minh cho bất cứ

một luận điểm nào), mà nhất thiết phải lấy toàn bộ các tài liệu về cơ sở của đời sống kinh tế của tất cả các cường quốc tham chiến và của toàn thế giới”

[31, tr.388] Đó là sự khẳng định chính diện quan điểm cơ bản của chủ nghĩaduy vật lịch sử trong nghiên cứu chủ nghĩa đế quốc và quan điểm đó cũngđược thể hiện hết sức rõ ràng trong toàn bộ nội dung cuốn “Chủ nghĩa đếquốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” Trên thực tế phép biện chứngcủa chủ nghĩa đế quốc chính là quá trình phát triển kinh tế của nó, một giaiđoạn mới của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Điều này được chứng minh rõràng bằng định nghĩa của Lênin về chủ nghĩa đế quốc

Lênin cho rằng một định nghĩa về chủ nghĩa đế quốc phải bao gồm nămdấu hiệu cơ bản sau đây: 1) sự tập trung sản xuất và tư bản đạt tới một mức độphát triển cao khiến nó tạo ra những tổ chức độc quyền có một vai trò quyếtđịnh trong sinh hoạt kinh tế; 2) sự hợp nhất tư bản ngân hàng với tư bản côngnghiệp và trên cơ sở “tư bản tài chính” đó xuất hiện một bọn đầu sỏ tài chính;3) việc xuất khẩu tư bản khác với việc xuất khẩu hàng hoá, đã có một ý nghĩaquan trọng đặc biệt; 4) sự hình thành những liên minh độc quyền quốc tế của bọn

tư bản chia nhau thế giới; 5) việc các cường quốc tư bản chủ nghĩa lớn nhất đã chianhau xong đất đai trên thế giới” [31, tr.489-490] Định nghĩa này về chủ nghĩa đếquốc, rõ ràng là một định nghĩa thiên về mặt kinh tế Tất nhiên, tác phẩm “Chủnghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” không phải là kết quả củaviệc chỉ vận dụng riêng quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà là sựkết hợp nó với nhiều quan điểm, phương pháp khác, như quan điểm hình thái kinhtế-xã hội và quan điểm giai cấp, quan

Trang 36

điểm về chiến tranh và cách mạng và cả quan điểm, phương pháp của kinh tếchính trị học nữa Tuy nhiên, Lênin hiểu rất rõ rằng nếu không nhấn mạnhtầm quan trọng số một của nghiên cứu kinh tế, nếu không tập trung nhiều nhất

và đầu tiên cho nghiên cứu kinh tế thì không những không hiểu được bản chấtcủa chủ nghĩa đế quốc, mà còn không hiểu được bản chất của chiến tranh đếquốc, do đó không dự báo được khả năng của cách mạng xã hội chủ nghĩa vàxác định được thái độ của đảng macxit đối với chiến tranh và cách mạng Tácphẩm “Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” là mộtkiểu mẫu về sự phân tích theo quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sửphép biện chứng của kinh tế đế quốc chủ nghĩa

Sau khi Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917 thànhcông, nhiệm vụ đặt ra đối với Lênin và Đảng cộng sản Nga chính là nghiêncứu, vạch ra con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Nếu như trướcđây quan điểm duy vật lịch sử cơ bản làm cơ sở cho nghiên cứu phép biệnchứng của chủ nghĩa đế quốc, chiến tranh và cách mạng xã hội chủ nghĩa, thìgiờ đây quan điểm ấy sẽ làm điểm tựa cho phân tích phép biện chứng của sựquá độ lên chủ nghĩa xã hội Sau rất nhiều những trăn trở, thể nghiệm, trong

đó có cả thất bại, cống hiến nhiều nhất của Lênin cho sự phát triển lý luậnmacxit, vẫn là những suy nghĩ không biết mệt mỏi của ông về sự phát triểnkinh tế, hay phép biện chứng của kinh tế nước Nga, với mong mỏi sao chochủ nghĩa xã hội phải cao hơn chủ nghĩa tư bản về năng suất lao động Cụ thể,Lênin đã vận dụng quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử vào xâydựng mô hình của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước Nga Theo quan điểm ấy,Lênin chỉ ra những đặc điểm về kinh tế của mô hình ấy là năng suất lao độngphải cao hơn chủ nghĩa tư bản, rằng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản lànền sản xuất đại công nghiệp, là điện khí hoá toàn nước Nga v.v Hoặc Lênin

đã chỉ ra những đặc trưng của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, xét vềmặt kinh tế của nó Ông viết: “Vậy thì danh từ quá độ có nghĩa là gì?

Trang 37

Vận dụng vào kinh tế, có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những

thành phần, những bộ phận, những mảnh của cả chủ nghĩa tư bản lẫn chủ

nghĩa xã hội không? Bất cứ ai cũng đều thừa nhận là có” [32, tr.362] Chínhnhững đặc trưng quá độ về kinh tế này là cơ sở cho những sự quá độ về chínhtrị của xã hội

Tuy nhiên, ở đây trong số nhiều cống hiến mà Lênin để lại trong pháttriển lý luận macxit thì “Chính sách kinh tế mới” của ông là điểm nổi bật Nóđược sản sinh ra trong quá trình khai phá con đường xây dựng một nước Ngamới dân chủ và giàu mạnh, đem lại hạnh phúc cho toàn xã hội Nó là một phátminh kinh tế quan trọng không chỉ đối với nước Nga mà còn đối với nhữngnước chưa trải giai đoạn phát triển tư bản, tức là những nước vẫn còn ở thời

kỳ tiền công nghiệp Và sự phát minh này là kết quả của việc nghiên cứu nềnkinh tế nước Nga trước hết theo quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch

sử Mặc dù “chính sách kinh tế mới” liên quan, bao gồm cả những giải phápkinh tế lẫn xã hội, văn hoá, nhưng tên gọi của nó đã cho thấy rõ rằng nhiệm

vụ phát triển kinh tế là hàng đầu Nói cách khác, “chính sách kinh tế mới” làbiểu hiện rất rõ việc Lênin đã coi trọng quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duyvật lịch sử như thế nào Tư tưởng trung tâm của “Chính sách kinh tế mới” làviệc thấy và thừa nhận giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội là một thời

kỳ quá độ không phải một chiều, trực tiếp, mà là quá trình đầy mâu thuẫn, baogồm vô số những khâu trung gian, quá độ Chẳng hạn, phải thừa nhận kinh tế

cá thể của nông dân, phải thừa nhận kinh tế tư bản chủ nghĩa, không thể lậptức thủ tiêu thành phần kinh tế này, phải phát triển kinh tế tô nhượng, chủnghĩa tư bản nhà nước, người cộng sản cũng phải học cách buôn bán, phảithuê chuyên gia tư sản, nền kinh tế quốc dân phải chịu những thua thiệt trướcmắt, có thể là lớn để được lợi về lâu dài v.v Bằng “chính sách kinh tế mới”nền kinh tế nước Nga trong một thời gian ngắn đã được phục hồi và phát triểnsau những hậu quả nặng nề của chiến tranh và sự phát triển thấp kém Một lần

Trang 38

nữa “Chính sách kinh tế mới” đã chứng minh rằng quan điểm cơ bản của chủnghĩa duy vật lịch sử là quan điểm làm cơ sở cho những quan điểm khác, cụthể là quan điểm biện chứng, trong nghiên cứu sự phát triển của đời sống xãhội, lịch sử.

1.3 Nội dung phương pháp luận của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử

Từ toàn bộ sự xem xét, phân tích quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duyvật lịch sử được các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, cụ thể là Mác, Ăngghen vàLênin xây dựng và phát triển không tách rời quá trình sáng lập, phát triển chủnghĩa duy vật lịch sử và triết học Mác nói chung, cần có sự tổng kết nội dungquan điểm đó, nhất là về phương pháp luận của nó để làm cơ sở cho giải đápvấn đề ở chương sau Mỗi nhà kinh điển đã từ những yêu cầu thực tiễn vànhận thức cụ thể mà trình bày, phát triển lý luận với những khía cạnh nộidung không hoàn toàn giống nhau; mỗi người đã làm phong phú lý luận củachủ nghĩa Mác trong những hình thức khác nhau, rất cụ thể Vì thế, sự tổngkết không phải là nhắc lại những gì mà các nhà kinh điển Mác-Lênin đã trìnhbày, mà là khái quát những nội dung quan điểm ấy từ tất cả sự trình bày củacác nhà kinh điển, để sao cho chúng mang ý nghĩa lý luận chung Hơn nữa, sựtổng kết còn bao gồm cả những suy nghĩ, nhận thức riêng của người nghiêncứu

Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử có nội dung rộng, baogồm các yếu tố và các mặt hợp thành khác nhau, trong đó lại gồm rất nhiềucác khía cạnh hợp thành được biểu hiện dưới rất nhiều hình thức phong phú,sinh động Tuy nhiên, chúng ta có thể tóm tắt nội dung quan điểm cơ bản này

thành ba yếu tố chính sau đây Thứ nhất là quan điểm về vai trò quyết định

của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội và về sự tác động ngược lại hay tính

độc lập tương đối của ý thức xã hội Thứ hai là quan điểm xem kinh tế là yếu

tố có vai trò quyết định đối với các lĩnh vực sinh hoạt xã hội khác và về sự tác

Trang 39

động trở lại của các lĩnh vực sinh hoạt xã hội khác đối với kinh tế, nhưng là

tác động trên cơ sở những điều kiện vật chất, kinh tế của xã hội Thứ ba là

quan điểm về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử Trongnội dung quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, ba yếu tố này có sựđộc lập nhất định của chúng, tuy nhiên chúng liên hệ hữu cơ với nhau Việcthừa nhận tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội đặt cơ sở và mở đường choviệc nghiên cứu khoa học đời sống xã hội, trước hết là cho việc đi sâu nghiêncứu tồn tại xã hội, cho việc phân tích cấu trúc đời sống xã hội và kết quả tấtnhiên của sự phân tích đó là sự hình thành quan điểm về vai trò quyết địnhcủa kinh tế đối với những sinh hoạt xã hội khác Và một khi đã thừa nhậnquan điểm này thì tất nhiên sẽ đi đến quan niệm cho rằng quần chúng nhândân, chứ không phải ai khác là lực lượng, động lực cơ bản quyết định sự pháttriển xã hội

Đồng thời, nội dung của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch

sử còn bao gồm hai mặt: một mặt là lý luận về quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý

thức xã hội, về quan hệ của kinh tế đối với những lĩnh vực sinh hoạt khác

nhau của xã hội, về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử; mặt khác là

nội dung phương pháp luận của nó, được rút ra từ nội dung lý luận nói trên

Trong hệ thống quan điểm duy vật lịch sử ba yếu tố với hai mặt nói trêncủa quan điểm cơ bản của nó cấu thành bản chất của quan điểm duy vật lịch

sử nói chung Mỗi yếu tố ấy cả về lý luận và phương pháp luận trong sự thốngnhất của chúng, vừa tồn tại với tư cách là quan điểm lý luận, phương phápluận làm nền tảng cho các quan điểm khác như quan điểm về cấu trúc xã hội,hình thái kinh tế - xã hội, sự phát triển của các hình thái xã hội, về con người,

về giai cấp, về nhà nước, về cơ cấu xã hội, về sinh hoạt tinh thần, kiến trúcthượng tầng xã hội v.v , vừa là yếu tố cấu thành bên trong của mỗi quanđiểm ấy và của hệ thống quan điểm duy vật lịch sử nói chung

Trang 40

Trong ba yếu tố cấu thành nội dung quan điểm cơ bản của chủ nghĩaduy vật lịch sử, thì yếu tố thứ hai, tức là quan điểm coi kinh tế là nền tảng củamọi sinh hoạt xã hội là quan điểm cơ bản nhất, bao trùm những quan điểm nóitrên Bởi vì, khi nói về tồn tại xã hội, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác quanniệm tồn tại xã hội trước hết là quá trình sản xuất ra đời sống vật chất trực tiếp

và khi nói về quần chúng nhân dân, họ coi lực lượng sản xuất hàng đầu củanhân loại chính là những người lao động sản xuất vật chất Chính vì vậy, việctập trung xem xét, nhấn mạnh vai trò của yếu tố kinh tế đối với đời sống xãhội, lịch sử có thể thấy rõ, đó là mối quan tâm thường xuyên và có nhiều nộidung nhất của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác trong nghiên cứu đời sống xãhội, lịch sử Do đó, luận văn sẽ tập trung trình bày nội dung phương pháp luậncủa quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ yếu căn cứ vào yếu

tố thứ hai này

Nói về bản chất, chức năng và ý nghĩa của mặt phương pháp luận trongcác học thuyết, lý luận nói chung, tác giả của cuốn sách “Học thuyết Mác vềhình thái kinh tế - xã hội và lý luận về con đường phát triển xã hội chủ nghĩa

ở Việt Nam” đã viết: “Các học thuyết triết học cũng như các lý luận khác đềugiống nhau ở chỗ là trước khi chuyển thành hoạt động sáng tạo ra những tri thứcmới, thành kỹ thuật và trước khi được vận dụng để biến đổi hiện thực, chúng đềuphải được chuyển hoá thành những quan điểm, nguyên tắc, phương pháp nhất định

để chỉ đạo, quy định những hoạt động đó Nếu thiếu những nguyên tắc, quan điểm

và phương pháp ấy, hoạt động của con người sẽ mất phương hướng, trở nên mòmẫm và do đó, khó có thể đạt được mục đích Việc xây dựng nên hệ thống cácnguyên tắc, quan điểm, phương pháp như vậy đã hình thành nên mặt phương phápluận của các học thuyết, lý luận nhất định” [5, tr.121-122] Cho nên, việc xem xétbản chất của toàn cầu hoá dưới đây sẽ chủ yếu căn cứ vào nội dung phương phápluận của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, cụ thể là nội dungphương pháp luận được rút

Ngày đăng: 27/10/2020, 21:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w