1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hồ gươm trong đời sống đô thị thăng long hà nội đến đầu thế kỷ XX

285 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 285
Dung lượng 6,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng vì lẽ đó hồ Gươm đã trở thành một hình ảnh đầu tiên được nhắc đến trong bài hát trầm hùng, đầy khí thế của nhạc sỹ Nguyễn Đình Thi - bài hát Người Hà Nội: “Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

Hå G¦¥M TRONG §êI SèNG §¤ THÞ TH¡NG LONG - Hµ NéI §ÕN §ÇU THÕ Kû XX

LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

HỒ GƯƠM TRONG ĐỜI SỐNG ĐÔ THỊ THĂNG

LONG - HÀ NỘI ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XX

Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam

Mã số

Người hướng dẫn khoa học: PGS TSKH Nguyễn Hải Kế

Hà Nội - 2011

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: HỒ LỤC THỦY - HỒ GƯƠM TRONG THÀNH THĂNG LONG ĐẾN THỜI LÊ - TRỊNH 10

1.1 Các ý kiến về nguồn gốc của hồ 10

1.2 Những hoạt động liên quan đến hồ 14

1.2.1 Hồ Lục Thủy - hồ Gươm thời Lý, Trần 14

1.2.2 Hồ Trả Gươm thời Lê sơ (1428 - 1527) 20

1.2.3 Hồ Gươm thời Lê - Trịnh 25

Tiểu kết chương 1: 37

Chương 2: HỒ GƯƠM TRONG TỈNH THÀNH HÀ NỘI THỜI NGUYỄN ĐẾN NĂM 1888 38

2.1 Bối cảnh lịch sử Thăng Long - Hà Nội thời Nguyễn 38

2.2 Diện mạo khu vực hồ Gươm thời Nguyễn đến năm 1888 40

2.3 Khu vực hồ Gươm - trung tâm giáo dục, văn hóa, tinh thần của tỉnh thành Hà Nội thời Nguyễn 80

2.3.1 Khu vực hồ Gươm - trung tâm giáo dục của Hà Nội thế kỷ XIX 80

2.3.2 Khu vực hồ Gươm - trung tâm hoạt động chấn hưng văn hóa Thăng Long 86

Tiểu kết chương 2: 101

Chương 3: HỒ GƯƠM TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA THỜI PHÁP THUỘC 103

3.1 Quy hoạch về đường phố, phương tiện giao thông 108

3.2 Kiến thiết các công trình công cộng, nhà cửa 117

3.3 Xây dựng cửa hàng và phương thức kinh doanh 130

3.4 Đời sống sinh hoạt 136

Tiểu kết chương 3: 140

KẾT LUẬN 143

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 146 PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined.

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Miền đất Thăng Long - Hà Nội có thế “Rồng cuộn hổ ngồi,chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh” [39, tr 297], giữ vị trí là trung tâm của đất nước với quyết

định rời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La của Lý Công Uẩn (1010) Chính vì vậykhi chúng ta nói tới bề dầy lịch sử hơn nghìn năm Thăng Long - Hà Nội cũngchính là đang nói tới bề dầy văn hiến mà con người nơi đây trải qua bao đờixây dựng, phát triển và nuôi dưỡng

1.2 Hà Nội được “sinh ra từ những dòng nước như lịch sử đã thừa nhận” [59, tr 44], hình thành bởi phù sa dòng chảy tự nhiên của sông Hồng

và các chi lưu của nó Phần lãnh thổ chủ yếu của Thăng Long - Hà Nội xưa làđất bồi, được bao bọc bởi sông Hồng ở phía bắc và phía đông, bởi sông TôLịch và sông Kim Ngưu ở phía tây và phía nam Chính vì vậy ca dao xưa đãkhái quát:

“Nhị Hà quanh bắc sang đông, Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này”.

Thăng Long - Hà Nội được mệnh danh là “thành phố của sông hồ”.

Sông hồ là nguồn nước mặt dùng trong sinh hoạt, là hệ thống thủy lợi và giaothông truyền thống của cư dân sinh sống ở nơi đây Mặt khác, sông hồ cũng lànhững địa điểm được con người dùng làm nguyên lý sơ khởi chỉ đạo việc quy

tụ xóm làng, phố phường và thành lũy phòng vệ Nhị Hà, Tô Lịch, Kim Ngưu

là những trục chủ đạo; hồ Tây, hồ Gươm là những điểm trung tâm, từ đó mà

tỏa ra “phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ” Thăng Long tận dụng ngã

ba sông Tô - sông Cái là cái lõi cốt của khu Hoàn Kiếm cũ làm nơi buôn bán,những phố phường chính của Thăng Long xưa hội tụ quanh khu tam giác đó.Những cảnh quan đẹp của Thăng Long - Hà Nội đều có mối

Trang 5

liên quan với những hồ nước nổi tiếng như hồ Tây, hồ Gươm, hồ Trúc Bạch,

hồ Bảy Mẫu… Những sông ngòi, ao hồ của Thăng Long - Hà Nội một mặtgiúp cho khí hậu thêm êm dịu, mặt khác tạo thành những danh thắng để nhândân Thăng Long - Hà Nội trải qua bao thế kỷ làm nơi du ngoạn, giải trí Hìnhtượng mặt nước đã, đang và sẽ là một bản sắc rất riêng không thể thiếu khinói về Thăng Long - Hà Nội Chính vì vậy một nhà kiến trúc sư Pháp đã cho

rằng: “Hà Nội nằm giữa các hồ, như trước những tấm gương lớn, nơi soi bóng những bước thăng trầm lịch sử của thành thị và cư dân” [26, tr 93].

1.3 Xét trong chiều dài lịch sử nếu quận Ba Đình có thể tự hào là mộtkhu vực có lịch sử gắn liền với Hoàng thành Thăng Long, thì quận HoànKiếm có vị trí trung tâm và gắn liền với Kinh thành Thăng Long xưa và Thủ

đô Hà Nội ngày nay Thiên nhiên đã ưu ái cho quận Hoàn Kiếm được ở xungquanh hồ Gươm (hồ Hoàn Kiếm) Gắn với hồ Gươm là vô vàn di sản kiếntrúc, đền đài, cung điện, đặc biệt là các kiểu kiến trúc có mối quan hệ với tínngưỡng dân gian như các đền, đình, chùa, tháp là hiện thân của tài năng sángtạo qua nhiều thế hệ của cha ông Hồ Gươm như một gương nước xinh xắn,một không gian thiêng mang tính lịch sử chen lẫn huyền thoại giữa lòng HàNội Với tính huyền thoại - lịch sử đặc trưng, hồ Gươm đã trở thành mộttrong những biểu tượng không thể thiếu của Thủ đô văn hiến hơn nghìn nămtuổi Thật hiếm có một thủ đô nào trên thế giới lại lưu giữ được ở trung tâmthành phố một không gian đặc biệt như thế! Vì thế, GS TS Tô Ngọc Thanh

có nhận xét: “Hồ Gươm không lớn về diện tích mà lớn về tầm vóc lịch sử Từ hàng ngàn năm, những sự kiện, những biến thiên, những anh hùng liệt nữ, những thi nhân mặc khách, những buổi mưa dông, những ngày nở hoa, tất thảy đều đã soi bóng hồ Gươm và được lưu giữ và hôm nay trở về với chúng

ta” [11, tr 9] Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài Hồ Gươm trong đời sống

đô thị Thăng Long - Hà Nội đến đầu thế kỷ XX làm đối tượng nghiên cứu

cho luận văn Với đề tài này chúng tôi tìm hiểu vai trò, vị trí quan trọng của

Trang 6

hồ Gươm đối với đời sống của cư dân Thăng Long - Hà Nội Hồ Gươm bắtđầu có sự tác động đối với Thăng Long - Hà Nội từ khi nhà Lý dời đô từ Hoa

Lư ra Thăng Long (thế kỷ XI) cho đến khoảng 20 năm đầu thế kỷ XX - thờiđiểm khi hồ Gươm có một quy hoạch và diện mạo tương đối ổn định nhưngày nay Thông qua đó làm sáng rõ giá trị lịch sử và giá trị văn hóa của hồGươm trong kho tàng giá trị văn hiến của một Hà Nội có bề dầy lịch sử hơnmột nghìn năm Đồng thời từ những giá trị đó của hồ Gươm sẽ giải đáp cho

câu hỏi mang giá trị bất biến là: “Tại sao nhớ về Hà Nội là nhớ tới hồ Gươm với truyền thuyết trả gươm của Lê Lợi, tới Tháp Rùa, Tháp Bút - Đài Nghiên cùng cầu Thê Húc uốn cong bắc vào đảo Ngọc?” Cũng vì lẽ đó hồ Gươm đã

trở thành một hình ảnh đầu tiên được nhắc đến trong bài hát trầm hùng, đầy

khí thế của nhạc sỹ Nguyễn Đình Thi - bài hát Người Hà Nội:

“Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây Đây lắng hồn núi sông ngàn năm”.

2. Lịch sử vấn đề

Trong bối cảnh đô thị và đô thị hóa ngày nay, vấn đề nghiên cứu về các

hồ ở Hà Nội được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm trong đó có cả hồGươm Bởi vì, sông hồ là một trong những nét đặc trưng về địa lý của HàNội, liên quan đến vấn đề quy hoạch của Thủ đô Đồng thời, hồ ở Hà Nộiđược ví là tấm gương lớn phản chiếu lịch sử, văn hiến Thủ đô

Có hàng loạt công trình nghiên cứu về lịch sử Thủ đô nói chung: tác giả

Hoàng Đạo Thúy với các tác phẩm như Phố phường Hà Nội xưa; Đi thăm đất nước; Người và cảnh Hà Nội ; nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc với các tác phẩm Hà Nội; Hà Nội qua những năm tháng; Hà Nội thành phố ngàn năm; Lịch sử Thăng Long Hà Nội; Hà Nội con đường, dòng sông và lịch sử; Hà Nội cõi đất, con người; Phố và đường Hà Nội Đặc biệt, tác phẩm Lịch sử Thủ đô Hà Nội được xuất bản lần đầu vào năm 1960, do Trần

Trang 7

Huy Liệu làm chủ biên và được tái bản gần đây nhất vào năm 2009 Lần đầutiên lịch sử Thủ đô Hà Nội được nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống

về mọi mặt suốt từ thế kỷ XI đến năm 1960 Công trình nghiên cứu lịch sử

này đã có sự tham khảo công trình lịch sử rất lớn của Nga là Lịch sử Mátxcơva Trong các công trình kể trên có đề cập đến hồ Gươm Nhưng hồ

chỉ được đặt trong tiến trình lịch sử của Thủ đô với một vài giới thiệu sơlược, khái quát

Đặc biệt, trong dịp Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội,

Nhà xuất bản Hà Nội đã giới thiệu đến bạn đọc Tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến Các công trình nghiên cứu trong Tủ sách nhằm tổng kết, hệ

thống hóa một cách khái quát, sâu sắc giá trị mọi mặt của văn hiến ThăngLong - Hà Nội trong tiến trình 1000 năm lịch sử trên tất cả các lĩnh vực: địa

lý, lịch sử, kinh tế, văn hóa - xã hội, văn học - nghệ thuật, tư liệu tổng hợp.Đây là công trình văn hóa phi vật thể trọng điểm chào mừng kỷ niệm Đại lễ

1000 năm Thăng Long - Hà Nội, là nguồn tư liệu quý về Thủ đô, góp phầnphục vụ công tác nghiên cứu, nhu cầu tìm hiểu về Thăng Long - Hà Nội Một

số công trình tiêu biểu như: Đất thiêng ngàn năm văn vật do PGS TSKH.

Nguyễn Hải Kế (chủ trì) tuyển chọn và giới thiệu 35 công trình nghiên cứu và

bài viết của GS Trần Quốc Vượng về Thăng Long - Hà Nội, Hà Nội tiểu sử một đô thị của William S Logan do PGS TS Nguyễn Thừa Hỷ (dịch), Hà Nội với những tấm lòng gần xa của nhiều tác giả, Tư liệu văn hiến Thăng Long - Hà Nội tuyển tập tư liệu phương Tây do PGS TS Nguyễn Thừa Hỷ (chủ trì) tuyển dịch, Thăng Long - Hà Nội tuyển tập công trình nghiên cứu văn hóa do PGS TSKH Nguyễn Hải Kế (chủ trì) tuyển chọn và giới thiệu, Thăng Long - Hà Nội tuyển tập công trình nghiên cứu lịch sử (2 tập) do PGS TS Nguyễn Quang Ngọc (chủ trì) tuyển chọn và giới thiệu, Thăng Long - Hà Nội tuyển tập địa chí (3 tập) do TS Nguyễn Thúy Nga - PGS TS Nguyễn Kim Sơn (chủ trì) tuyển dịch, giới thiệu và chú giải, Tiến sỹ Nho học

Trang 8

Thăng Long - Hà Nội do Bùi Xuân Đính (biên soạn), 36 phố cổ Thăng Long

- Hà Nội do Lam Khê, Khánh Minh (sưu tầm, biên soạn), 36 lễ hội Thăng Long - Hà Nội do Quốc Văn (tuyển chọn, biên soạn)

Nghiên cứu về Hà Nội còn phải kể đến Luận án Phó tiến sỹ Sử học Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XVII - XVIII - XIX của Nguyễn Thừa Hỷ, được Hội

Khoa học Lịch sử Việt Nam - Hà Nội xuất bản năm 1993, mới được Nhà xuất

bản Hà Nội tái bản với tên gọi Kinh tế - xã hội đô thị Thăng Long - Hà Nội thế

kỷ XVII - XVIII - XIX, nằm trong Tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến Công trình này đã làm toát lên diện mạo kinh tế - xã hội của thành thị trung đại

Thăng Long - Hà Nội trong các thế kỷ XVII - XVIII - XIX, trong đó có đề cập

đến đời sống của thị dân vùng ven hồ Gươm, mà ở đó yếu tố “thị” đã bị pha loãng đi nhiều hay nói cách khác là đô thị bị “nông thôn hóa” một bộ phận.

Một công trình lớn khác nghiên cứu về Hà Nội là Hà Nội nửa đầu thế

kỷ XX của tác giả Nguyễn Văn Uẩn được Nhà xuất bản Hà Nội xuất bản năm

2000 và được tái bản năm 2010 nhân dịp kỷ niệm Đại lễ 1000 năm ThăngLong - Hà Nội Đây là công trình khoa học với quy mô và giá trị lớn đã đạtgiải thưởng Thăng Long của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội theo đề xuấtcủa Hội liên hiệp Văn hóa nghệ thuật Hà Nội năm 1996 và nhận giải A SáchVàng năm 2001 cuộc thi sách đẹp do Bộ Văn hóa và Thông tin trao tặng Với

sự nghiên cứu dầy công của tác giả đã cho chúng ta thấy sự biến đổi mạnh mẽcủa diện mạo Hà Nội trong quá trình khai thác và quy hoạch của thực dânPháp, đã chuyển từ một đô thị trung đại phong kiến phương Đông truyềnthống sang một đô thị hiện đại mang dáng dấp của phương Tây trên nhiềuphương diện: đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, quy hoạch kiến trúc, mạnglưới giao thông Trong đó sự biến đổi của vùng ven hồ Gươm cũng đượcnghiên cứu khá kỹ, với sự thay đổi diện mạo mạnh mẽ dưới bàn tay quyhoạch và cải tạo của thực dân Pháp

Trang 9

Bên cạnh đó còn có những du ký của người nước ngoài ghi lại diệnmạo và đời sống nhân dân ở khu vực xung quanh hồ Gươm vào cuối thế kỷ

XIX, điển hình như: Bắc Kỳ xưa của Claude Bourrin, Hà Nội giai đoạn 1873

- 1888 của Audré Massan Các tác phẩm này đã cung cấp cho chúng ta

những tư liệu lịch sử khá chính xác và sinh động về diện mạo vùng ven hồGươm vào thời điểm cuối thế kỷ XIX trên nhiều mặt của đời sống

Hồ Gươm còn được nhắc đến trong các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử,dưới dạng ghi lại những sự việc về đời sống của con người xung quanh hồ.Tiêu biểu năm 1976, nhà văn Chu Thiên cho ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết

lịch sử Bóng nước Hồ Gươm, gồm 2 tập Tác phẩm viết về phong trào đánh

Pháp của văn thân Hà Nội và vùng lân cận Tác giả Chu Thiên đã sưu tầm tàiliệu ở vùng Mậu Hòa - Dương Liễu thuộc huyện Đan Phượng cũ (nay là HoàiĐức), nơi có trường dạy học của nhiều thế hệ ông đồ họ Vũ và sau trở thànhmột trong những căn cứ kháng Pháp trong những năm 70 - 90 của thế kỷ XIX,nên ông là người đầu tiên cho bạn đọc biết về sự tham gia tích cực của con

cháu Vũ Tông Phan và môn sinh Tự Tháp vào phong trào “đánh Tây” Do

đặc điểm của thể loại tiểu thuyết là sự thật đan quyện với hư cấu, cho nênkhông gian và thời gian nhiều khi xê xích so với thực tế Tuy vậy, nó cũngchứa đựng những tư liệu quý giá về cuộc sống của cư dân ven hồ Gươm vàothời điểm cuối thế kỷ XIX

Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu còn có bài viết đăng trên các tạp chí khaithác về các vấn đề riêng lẻ liên quan đến hồ Gươm như tác giả Vũ Thế Khôi có

hàng loạt các bài nghiên cứu về Hội Hướng Thiện đền Ngọc Sơn như bài Hội Hướng Thiện với sự nghiệp chấn hưng văn hóa Thăng Long đăng trên tạp chí

Xưa và nay, số 30, năm 1996; bài Từ hội Hướng Thiện đền Ngọc

Sơn đến trường Đông Kinh Nghĩa Thục, đăng trên tạp chí Xưa và nay, số

283, năm 2007 ; nhà khoa học Hà Đình Đức giành nhiều tâm huyết để

Trang 10

nghiên cứu về rùa hồ Gươm, đã có hàng loạt các bài chuyên nghiên cứu về

rùa hồ Gươm như bài Rùa hồ Gươm phải chăng do vua Lê thả?, đăng trên tạp chí Xưa và nay, số 39, năm 1997; bài Rùa hồ Gươm: rùa leloii, đăng trên

tạp chí Xưa và nay, số 80, năm 2000

Có một số công trình chuyên khảo nghiên cứu về hồ Gươm (Hoàn Kiếm):

Một là, công trình Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn của nhà nghiên

cứu Nguyễn Vinh Phúc Công trình là tâm huyết nhiều năm của tác giả khinghiên cứu về hồ Hoàn Kiếm Hồ Hoàn Kiếm đã được nghiên cứu trên cácphương diện về truyền thuyết, lịch sử và các di tích ở khu vực xung quanh hồ.Nhưng công trình này cũng mang tính chất giới thiệu khái quát

Hai là, công trình Hồ Gươm - Hà Nội - Việt Nam của Hoàng Kim

Đáng, xuất bản năm 2000 Công trình này chỉ là một tập hợp có hệ thống theonhững chủ đề sáng tác văn, thơ, nhạc, họa, hình ảnh về hồ Gươm Qua đó hồGươm hiện lên dưới góc độ văn hóa, lồng trong cảm xúc của người viết, chứkhông được nghiên cứu dưới góc độ lịch sử

Ba là, Ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm cho xuất bản cuốn Di tích lịch sử - văn hóa trong khu phố cổ và xung quanh hồ Hoàn Kiếm Công

trình là một tập hợp những bài viết của các tác giả để khảo cứu về các di tíchlịch sử - văn hóa hiện nay còn tồn tại trong khu phố cổ và khu vực xungquanh hồ Hoàn Kiếm Qua đó làm toát lên giá trị văn hóa của các di tích trongkhu phố cổ và vùng ven hồ

Có thể thấy rằng việc nghiên cứu về hồ Gươm đã được giới khoa họcquan tâm Hồ Gươm đã được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu vềlịch sử Thủ đô Hà Nội nói chung, ở những vấn đề và khía cạnh khác nhau,mang tính khái lược, nghiêng về góc độ văn hóa nhiều hơn Chúng ta chưathấy có một công trình chuyên khảo nào cung cấp một cái nhìn mang tính hệthống về hồ Gươm từ khi nó hình thành cho đến khi nó có một diện mạo hoàn

Trang 11

chỉnh gần như hiện nay Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài Hồ Gươm trong đời sống đô thị Thăng Long - Hà Nội đến đầu thế kỷ XX để nghiên cứu Mong

rằng với đề tài này sẽ cung cấp được cho bạn đọc những tư liệu quý giá về vaitrò, vị trí của hồ Gươm trong tiến trình lịch sử Thủ đô hơn nghìn năm qua vàkhẳng định được sức sống trường tồn của hồ trong tâm thức người Hà Nội,trong giá trị văn hiến Hà Nội từ xưa đến nay và trong tương lai

3. Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi chọn đề tài Hồ Gươm trong đời sống đô thị Thăng Long

-Hà Nội đến đầu thế kỷ XX làm đối tượng nghiên cứu với mục đích:

1 Khái quát quá trình hình thành của hồ Gươm trong lịch sử thànhThăng Long - Hà Nội đến những năm 20 của thế kỷ XX, tức là bào hàm quátrình hồ Gươm và vùng ven hồ trong lòng một đô thị phong kiến chuyển sangmột đô thị thực sự với dáng vẻ phương Tây trong sự quy hoạch của Pháp

2. Phản ảnh những sinh hoạt của tầng lớp cư dân Thăng Long - Hà Nộivới hồ Gươm, qua đó nêu lên vai trò lịch sử, giá trị văn hóa của hồ Gươmtrong đời sống Thăng Long - Hà Nội và đất nước

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi chọn Hồ Gươm trong đời sống đô thị Thăng Long - Hà Nội làm đối tượng nghiên cứu và được giới hạn trong khoảng thời gian thời

Lý - Trần đến khoảng 20 năm đầu của thế kỷ XX

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này, tôi đã sử dụng phối hợp các phương phápnghiên cứu chuyên ngành như: phương pháp nghiên cứu lịch sử và phươngpháp lôgich, phương pháp so sánh sử học, phương pháp xác minh phê phán

tư liệu lịch sử Nguồn tư liệu mà tôi thu thập được là cơ sở để tôi hoàn thành

đề tài nghiên cứu này

Trang 12

6. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,Luận văn sẽ được triển khai trong ba chương:

Chương 1: Hồ Lục Thủy - hồ Gươm trong thành Thăng Long đến thời

Lê - Trịnh

Chương 2: Hồ Gươm trong tỉnh thành Hà Nội thời Nguyễn đến năm 1888

Chương 3: Hồ Gươm trong quá trình đô thị hóa thời Pháp thuộc đến

đầu thế kỷ XX

Trang 13

Chương 1:

HỒ LỤC THỦY - HỒ GƯƠM TRONG THÀNH THĂNG

LONG ĐẾN THỜI LÊ - TRỊNH1.1 Các ý kiến về nguồn gốc của hồ

Khi bàn về nguồn gốc của hồ Gươm đa phần các nhà nghiên cứu đềuđưa ra ý kiến cho rằng hồ là một khúc chết của sông Hồng Chẳng hạn như:

Doãn Kế Thiện trong Cổ tích và thắng cảnh Hà Nội xuất bản năm 1959, tái

bản năm 1999 có ghi: “Hồ Hoàn Kiếm là một đoạn dòng cũ của sông Hồng

còn sót lại” [71, tr 93]; hay Trần Quốc Vượng và Vũ Tuân Sán trong Hà Nội nghìn xưa xuất bản năm 1975 cũng cho rằng: “Cội nguồn của hồ Gươm,

cũng như hồ Cổ Ngựa, hồ Hàng Bạc - Hàng Đào, hồ Sao Sa (Hàng Chiếu) là một khúc sông Hồng” [93, tr 38] và “Hồ Gươm là một di tích khúc sông Nhị

bị những bãi cát chèn ở phía bắc, phía đông” [93, tr 38] Như vậy giống một

số hồ khác, hồ Gươm phát sinh và tiến hóa trong mối liên quan mật thiết vớilịch sử phát triển của sông Hồng và hệ thống sông chảy ngoằn ngoèo trongthành phố Hà Nội gắn liền với các pha biển tiến, thoái diễn ra ở thời kỳHolocen - một thời kỳ địa chất cách chúng ta khoảng vạn rưỡi năm

Dòng sông bao giờ (nhất là về mùa lũ) thường có khuynh hướng “cắt dòng” chảy thẳng, “bỏ lại” ở “chỗ uốn” nhiều phù sa Sau đó phù sa “lấp hẳn” nơi con sông uốn khúc, làm cho khúc uốn đó biến thành hồ Sông Cái

(sông Hồng, sông Nhị) nhiều phù sa, nhiều chi lưu, thường hay đổi dòng trên

vùng châu thổ do chính nó tạo ra Nguyễn Văn Siêu trong Bài ký về Nhị Hà

có ghi: “Sông Nhị có nhiều chỗ eo, nhiều chỗ hiểm trở; giống như đai áo,

đường thẳng bỗng khuất khúc; sông nghìn dặm tự nhiên quành, như cánh cung kéo căng dây” [66, tr 12] Khi đổi dòng phù sa của sông Cái nhiều khi lấp cửa các sông con và biến sông con từ một dòng chảy “nửa kín nửa hở” rồi sang “sông chết” Sau đó vì cả lý do thiên tạo và nhân

Trang 14

tạo (con người đắp đập - đường ngang các sông chết), dòng sông cũ trở thànhmột dãy ao hồ.

Diện mạo của khúc sông Hồng chảy qua nội thành Hà Nội bây giờ chỉmới định hình từ thế kỷ thứ IX hoặc X Trước đó dòng chảy có khác: sôngHồng chảy tới Yên Hà chỉ có một nhánh, nhánh ấy chảy qua Hải Bối, NôngGiang, Chiêm Trạch, Lực Canh, Xuân Canh Tới Xuân Canh nhánh ấy khôngchảy ngay vào sông Đuống và xuống phía nam mà chảy băng qua bãi TầmChâu Sông Hồng chảy vào Nhật Tân xuống đến Hồ Khẩu, qua khu vực hồTây có một nhánh chảy xuống phía nam, đó là sông Tô Lịch, còn một nhánhchảy vòng quanh Thụy Khuê tới Nghi Tàm Đến Nghi Tàm, sông Hồng lạichia hai nhánh khác, một nhánh chảy theo hồ Trúc Bạch tới hồ Gươm, ôĐông Mác, Thanh Nhàn, Lạc Trung rồi tới lòng sông bây giờ Ta có thể nhậnbiết được là khúc đê cũ bắt đầu từ phía tây ô Đông Mác, chạy theo đường LòĐúc - Hàm Long, tới Hàng Kèn qua phố Bà Triệu tới Hàng Trống đi lên cácphố Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường, chợ Đồng Xuân, phố Hàng Than.Một nhánh băng qua Yên Phụ, qua những bãi cát và lòng sông hiện nay rồichảy vào sông Đuống Sông Đuống lúc đó là nhánh chính của sông Hồng đổ

ra biển Có thể tới khoảng thế kỷ IX hoặc X, sau một trận lũ lớn, dòng chảysông Hồng tới Võng La không uốn cong lên Hải Bối mà phóng thẳng đi quaPhú Xá, Nhật Tân rồi buông xuôi dòng như hiện nay, để lại bên trái một bãicát sau bồi dần thành bãi Tàm Xá và bên phải một khuỷu sông đã bị nghẽn tức

là hồ Tây

Trang 16

lấp hoàn toàn thì hồ Tây mới chính thức hình thành Nước sông Nhị khôngthông với sông Tô nữa nên sông Tô cũng cạn dần.

Việc đổi dòng của sông Nhị và bít dòng chảy của sông Tô làm cho diệnmạo của Hà Nội cổ bị thay đổi Dòng chảy cũ của sông Hồng bị phù sa bồi lấptạo nên dải đầm hồ san sát nhau Những phố do con người lập nên trong quátrình sinh sống, ở giữa con đê cũ và con đê mới hiện nay xưa là bãi cát bồicủa sông Hồng, để lại nhiều mẩu sông tạo thành các hồ ao trong đó có hồ

Gươm Vì vậy, hồ Gươm cũng là một di tích khúc sông Nhị Trong Tang thương ngẫu lục có ghi: “Hồ Gươm thông với nước ngoài sông hình thế rất

to rộng” [19, tr 154] Nhìn trên các bản đồ cổ thì cũng thấy một dải hồ nối

thông với nhau: hồ Tây - hồ Cổ Ngựa - hồ Hàng Đậu - hồ Hàng Khoai - hồThái Cực (Hàng Đào) với Cầu Gỗ bắc xuống hồ Tả Vọng (hồ Gươm) - hồHữu Vọng và một số đầm hồ khác kéo dài tới chùa Trường Tín (nhà số 5Hàng Chuối) rồi nối với sông Nhị Toàn bộ dải hồ này là lòng cũ của sôngHồng đã bị bồi lấp, chia cắt mà thành Những vệt hồ ấy nối lại sẽ cho ta thấydòng chảy cổ của sông Hồng Chính vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa rakết luận rằng hồ Gươm là một khúc chết của sông Hồng khi nó đổi dòng

Nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc lại đưa ra kiến giải về mặt địa chất

liên quan đến hồ Gươm theo một hướng mới Ông đã căn cứ theo kết quả Bản điều tra về hồ Gươm của PGS Hà Đình Đức cho biết “trầm tích đáy hồ chủ yếu

sét pha bùn cát và có sự phân tầng: tầng dưới là trầm tích vịnh biển, tầng trên là hỗn hợp bùn cát xáo trộn do tác động nhân sinh (nạo, vét, xáo trộn lớp trầm tích thời Holocen trung, cách đây từ 6000 năm đến 4500 năm với lớp bùn cát hiện đại do nước mưa và dòng chảy bề mặt mang tới), chưa tìm thấy trầm tích lòng sông cổ có trên đáy hồ” [56, tr 35] Mặt khác, ngày nay khi xem xét các địa tầng

ở nhiều lỗ khoan trên vùng Hà Nội, ta có thể thấy một quy luật khá rõ nét: baogiờ cũng có một tầng cuội sỏi sạn và cát thô nằm bên dưới, đó là lòng sông cổ;bên trên là những tầng đất có hạt nhỏ dần đến mịn,

Trang 17

nhiều chỗ có sét dẻo màu xám hay xám đen, chứa nhiều chất hữu cơ, đặctrưng cho trầm tích đầm hồ Vì sông Hồng có hai giai đoạn hoạt động, lúcchảy xiết xói mòn mạnh, tạo nên hạt thô, lúc chảy chậm, êm đềm sản phẩm làhạt mịn (sét) lắng đọng Từ đặc điểm trầm tích của nhiều lỗ khoan trên vùng

Hà Nội đem so sánh, đối chiếu với các lớp trầm tích của đáy hồ Gươm nênông Nguyễn Vinh Phúc mới cho rằng kết luận hồ Gươm là một khúc chết củasông Hồng cần thời gian nghiên cứu kỹ hơn nữa

1.2 Những hoạt động liên quan đến hồ

1.2.1 Hồ Lục Thủy - hồ Gươm thời Lý, Trần

Năm 1010, vua Lý Thái Tổ quyết định dời đô từ Hoa Lư về Đại La, đổitên thành Thăng Long Cảnh quan Kinh thành còn hoang sơ Bởi cǎn cứ vào

tấm bản đồ được vẽ nǎm 1490, từ thời Hồng Đức mang tên Trung Đô đồ thấy

rằng cách thời vua Lý định đô đúng 480 nǎm, bốn phía Kinh thành còn mênhmang sông nước Nhìn trên bản đồ, so sánh với vị trí ngày nay ta thấy: phíađông có sông Hồng, nước đỏ phù sa Phía bắc có sông Tô Lịch nối với sôngHồng ở đoạn Chợ Gạo, chảy vòng qua Hàng Lược, Quán Thánh, đến ThụyKhuê - đầu làng Hồ Khẩu, lại nối với hồ Tây bằng hai cửa lớn, đến đoạn chợBưởi, Nghĩa Đô, lại nối với sông Thiên Phù Sông Thiên Phù thời nay hãycòn rất rộng, chảy từ sông Hồng, ở đoạn Phú Gia, Nhật Tân, theo hướng bắc -nam, đến chợ Bưởi thì nối dòng với sông Tô Lịch cùng xuôi xuống phía nam,hòa với nước sông Nhuệ Vùng Vǎn Miếu và Bẩy Mẫu lúc ấy là một hồ nướcrất rộng Nhìn trên bản đồ, thấy nước thành một mảng dài uốn lượn tới mấy

km, làm cho khu vực Vǎn Miếu bị nước bao quanh như một hòn đảo, mà trênbản đồ ghi là Đại Hồ và còn nhiều hồ, ao, ngòi, lạch khác

Vì nước bốn mùa xanh nên có một thời hồ mang tên là Lục Thuỷ Thờinày phạm vi của hồ Lục Thủy rất rộng, gấp khoảng ba, bốn lần bây giờ Hồ có

hình thế “giáp điệu xuyên hoa”, nghĩa là kiểu đất bươm bướm châm hoa Vì

Trang 18

hồ có hai phần đối nhau như hai cánh bướm xèo rộng ra hai phía, phần trênvào khoảng từ Hàng Đào, Hàng Dầu trở xuống Hàng Khay, phần dưới từHàng Khay - Tràng Tiền đến tận Hàng Chuối, Lò Đúc bây giờ, giữa hai phần

hồ thắt lại Chỗ hai phần tiếp giáp nhau bằng một khoảng đất dài (tươngđương với đoạn từ Hàng Khay tới gần Nhà Hát Lớn ngày nay), khoảng đất ấynhư hình thân con bướm [71, tr 94] Phía cuối có con ngòi nhỏ ăn thông rasông Hồng, thuyền có thể ra vào được Vì thế đến thời Trần tầu bè vẫn vàođến Hàng Đào để buôn bán Hồ Lục Thủy lúc ấy chưa hẳn đã là một hồ hoànchỉnh, nó chỉ là một nhánh cụt của sông Hồng, bị những bãi đất chèn ở phíabắc và phía đông Hồ khởi nguồn từ chỗ bệnh viện Hữu Nghị, chảy ngangđoạn cuối đường Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Hai Bà Trưng, lên đếntận mạn Cầu Gỗ, Hàng Đào Mặt nước có hình loe thắt không bằng nhau

Nhìn trên bản đồ Thành Thăng Long (đời Hồng Đức 1490) mà ước đoán

đoạn rộng nhất của hồ Lục Thủy to gấp nhiều lần sông Tô Lịch lúc bấy giờ

Khu vực xung quanh hồ Lục Thuỷ ngay từ thời Lý định đô đã ghi dấu

ấn văn hóa Phía đông nam Kinh thành, trong hai thời Lý - Trần có xây dựngnhững công trình để ghi công chiến thắng của những cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc suốt từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV

Để ghi công chiến thắng Chiêm Thành, vào giữa thế kỷ XI, nhà Lý cònxây dựng bên hồ Lục Thủy cung Chiêm Nữ Cung này để dành riêng cho các

cung nữ Chiêm Thành bị bắt tới ở Đại Việt sử ký toàn thư có ghi: “Năm Bính

Tuất (1046), dựng cung riêng cho các cung nữ Chiêm Thành” [39, tr 337].

Đời vua Lý Thánh Tông (1054 - 1072) cho dựng một hành cung ở phía

nam hồ, làm nơi hóng gió Trong La Thành cổ tích vịnh của Trần Bá Lãm (1757 - 1815), bài Vịnh Tả Vọng có lời tiểu dẫn: “ Đời Lý Thánh Tông

dựng hành cung ở phía nam hồ làm nơi hóng gió” [56, tr 18].

Trang 19

Vua Lý Thánh Tông lên ngôi năm 1054, khi lên ngôi không gặp nhữngcuộc nổi loạn tranh giành giữa các hoàng tử anh em như thời vua cha Lý TháiTông Cũng từ khi Lý Thánh Tông lên ngôi, các nước láng giềng như ChiêmThành, Chân Lạp đều lần lượt tới triều cống Việc bang giao với nhà Tốngbên Trung Quốc cũng rất tốt đẹp, được nhà Tống nể vì Để kỷ công nhữngthắng lợi chính trị ấy, chùa và tháp Báo Thiên đã được xây dựng.

Đại Việt sử ký toàn thư có ghi: “Năm Bính Thân (1056), vua Lý Thánh

Tông làm chùa Sùng Khánh Báo Thiên, phát 1 vạn 2 nghìn cân đồng để đúc chuông lớn Chùa được xây dựng trên đất thôn Tự Tháp, huyện Thọ Xương Vua thân làm bài minh” [39, tr 343];

“Năm Đinh Dậu (1057), mùa xuân, tháng giêng, xây bảo tháp Đại Thắng Tư Thiên cao vài chục trượng, theo kiểu 12 tầng (tức là tháp Báo Thiên)” [39, tr 343].

Tháp Báo Thiên là vật báu của Kinh thành, được xây dựng ở phía tây

hồ Lục Thuỷ, giữa một cái hồ nhỏ trước chùa Báo Thiên Tháp Báo Thiên

được xây dựng với quy mô rất to lớn, liệt vào hàng “An Nam tứ đại khí”, tức

là một trong bốn công trình lớn ở An Nam trong hai thời đại Lý - Trần Thápđược người đương thời coi là một công trình tiêu biểu của Thăng Long, làmột cảnh quan đẹp của đế đô Nhà thơ Phạm Sư Mạnh sống ở thế kỷ XIV, đờiTrần có thơ ca ngợi:

“Trấn áp đông tây củng đế kỳ Khuy nhiên nhất tháp độc nguy nguy Sơn hà bất động kình thiên trụ, Kim cổ nan ma lập địa chùy”.

Trang 20

Tháp Báo Thiên đỡ cho cả bầu trời không bị lay động, giữ cho mặt đất không

bị chuyển dời Tòa tháp Báo Thiên sừng sững chính là biểu tượng sức mạnh đang lên của quốc gia Đại Việt nói chung và hào khí Thăng Long nói riêng.

Những tầng trên của tháp Báo Thiên bằng đồng, những tầng dưới bằng đá và

gạch Gạch xây tháp là thứ gạch hoa có khắc chữ ghi rõ “Lý gia đệ tam đế Long Thụy thái bình tứ niên tạo” (làm năm Long Thụy Thái Bình thứ tư, triều vua thứ ba

nhà Lý, tức là làm năm 1057 - niên hiệu vua Lý Thánh Tông) Nền tháp xây rộng như một tòa nhà, có bốn cửa đi vào Phía trong mỗi cửa có hai pho tượng bằng đá, tổng cộng có tám pho tượng Bên trong nền tháp còn có bày rất nhiều tượng tiên thánh, chim muông, giường ghế, chén bát, đều bằng đá [19, tr 181].

Thời Lý có nhiều hoạt động liên quan đến chùa Báo Thiên Chẳng hạnmỗi khi gặp hạn lớn vua thường ghênh rước bốn vị pháp: Pháp Vũ, Pháp Vân,Pháp Lôi, Pháp Điện cùng về chùa Báo Thiên để làm lễ cầu mưa Các vị sưđược vời vào kinh cũng thường lưu lại chùa này, để chữa bệnh cho nhà vua vàhoàng gia, mở trường dạy kinh Phật, truyền đạo cho đệ tử và lập tông phái

Nhà vua đã sai dựng một tòa Tịnh xá (nhà sạch sẽ, tĩnh mịch) ở bênchùa Sùng Khánh, mỗi khi Quốc sư Minh Không tới kinh đô có việc sẽ nghỉ

tại đó “Năm Tân Hợi (1131), vua Lý Thần Tông dựng nhà cho đại sư Minh Không” [39, tr 386].

Năm Thiên Chương Bảo Tự thứ tư (1136), nhờ chữa khỏi bệnh chovua Lý Thần Tông nên nhà sư Nguyễn Minh Không được phong là Quốc sư

Đại Việt sử ký toàn thư có ghi: “Năm Bính Thìn (1136), vua (Lý Thần Tông)

bệnh nặng, chữa thuốc không khỏi Nhà sư Minh Không chữa khỏi, phong là quốc sư” [39, tr 390]

“Năm Đinh Tỵ (1137), tháng 3, vua (Lý Thần Tông) ngự đến chùa Báo Thiên, làm lễ Phật Pháp Vân để cầu mưa Đêm ấy mưa to” [39, tr 391].

“Năm Mậu Ngọ (1138), mùa thu, tháng 7, không mưa Vua (Lý Thần Tông) sai Hữu ty làm lễ cầu ở Vu đàn và chùa Báo Thiên” [39, tr 392].

Trang 21

Trong Thiền uyển tập anh có mục ghi về nhà sư Đạo Huệ: “Năm Đại

Đính thứ 20 (1159, đời vua Lý Anh Tông) hoàng phi Thụy Minh bị ốm, vua sai

sứ vời sư Đạo Huệ đến xem bệnh Khi sư vào cung, ông vừa đến cửa phòng của hoàng phi thì bệnh của phi bèn khỏi Vua Lý Anh Tông mời sư nghỉ lại ở tân quán trong chùa Báo Thiên Trong khoảng một tháng, các quan công khanh, đạo hữu hâm mộ danh tiếng đến tham thỉnh nhiều không kể xiết Sư bèn đến thuyết pháp ở nhà giảng Từ đó sư không về núi nữa Tăng chúng các nơi đến xin làm đệ tử rất đông” [87, tr 98].

Cũng trong Thiền uyển tập anh có mục ghi về nhà sư Tịnh Giới:

“Năm 1177, gặp đại hạn, vua Lý Cao Tông xuống chiếu cho các danh tăng làm lễ cầu đảo đều không ứng nghiệm Vua từ lâu đã nghe danh tiếng của sư Tịnh Giới, bèn sai sứ thỉnh sư về kinh Sư nghỉ ở chùa Báo Thiên đến nửa đêm thắp hương đứng giữa sân chùa tụng niệm cầu khấn, trời bèn đổ mưa Vua hết lời khen ngợi sủng ái, thường gọi là Vũ sư (vị sư giỏi thuật cầu mưa)” [87, tr 135].

“Năm Mậu Thân (1188), mùa hạ, tháng 5, đại hạn Vua (Lý Cao Tông) thân ngự đến chùa Pháp Vân ở Duềnh Bà để cầu đảo, nhân rước tượng Phật Pháp Vân về chùa Báo Thiên” [39, tr 419].

Dưới thời Lý, cả chùa và tháp Báo Thiên đều vào loại lớn bậc nhấtKinh thành Nơi có chùa và tháp được gọi là phường Báo Thiên, mùng một

và ngày rằm có nhiều người lui tới tấp nập Với việc xây dựng chùa và thápBáo Thiên đã hình thành bên hồ Lục Thủy một trung tâm Phật giáo Nhữnghoạt động diễn ra ở đây mang tính chất tu hành của Phật pháp Đặc biệt nhàvua thường có hoạt động cầu đảo ở chùa Báo Thiên để mong mưa thuận gióhòa, mang lại sự yên ấm cho cuộc sống của nhân dân Điều này thể hiện phầnnào đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của dân tộc, đồng thời chứng tỏ các vị vuatriều Lý rất mộ đạo Phật, có lòng hướng Phật

Trang 22

Đầu đời Trần, nạn ngoại xâm đe dọa nghiêm trọng từ phía Bắc xuống,quân Mông Cổ ba lần xâm phạm đất nước ta, Kinh đô Thăng Long là mụctiêu chính của chúng Vua Trần tổ chức kháng chiến, dốc toàn lực, sức người

và sức của ra chống giặc Những hồ lớn ngoài bờ sông thành nơi chế tạothuyền chiến và luyện tập thuỷ quân bao gồm cả hồ Lục Thuỷ Theo Nguyễn

Vinh Phúc trong Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn căn cứ vào La Thành cổ tích vịnh, thời này hồ còn mang tên là đầm Thủy Quân “Đời Trần giặc

Nguyên xâm lược, vua sai tập thủy quân ở hồ, đặt tên là đầm Thủy Quân” [56, tr 18] Sau kháng chiến chống Nguyên thắng lợi, vua Trần Nhân Tông

(1279 - 1293) có dựng một ngôi đền thờ những anh hùng liệt sỹ đã hy sinhtrong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông cuối thế kỷ XIII trên gòNgọc Sơn ở phía bắc hồ Lục Thuỷ [84, tr 643-645]

Cũng dưới đời Trần, sau khi đã thắng quân Nguyên có mở ba ngày hộiThái Bình diên yến cho toàn quốc, nhân dân kinh đô tụ tập ở hồ Lục Thuỷ đuathuyền, múa hát Rồi từ đấy thành lệ, hàng năm dân chúng đều tụ tập ở đây

mở hội đua thuyền với nhà vua [69, tr 26]

Đời Trần Nhân Tông (1279 - 1293), vua cho dựng một tòa hành cungtránh nắng hè ở nơi nay là đảo Ngọc Những lần vua đến đây nghỉ ngơi chắc

là ngựa xe, người hầu tấp nập [56, tr 37]

Ở thôn Bảo Linh, thời Trần có lập đàn tế các chiến sỹ tử trận và nhândân bị nạn khi Chế Bồng Nga là chúa Chiêm Thành hai lần đem quân vào đốtphá Kinh thành, cướp của giết người, bắt đàn bà con trẻ mang đi [69, tr 18]

Như vậy sang đời Trần, mặc dù quần thể chùa và tháp Báo Thiên vẫnhiện hữu nhưng các hoạt động diễn ra xung quanh hồ Lục Thủy không cònmang tính chất Phật giáo rõ nét nữa Do bối cảnh lịch sử của dân tộc trongcông cuộc kháng giặc Nguyên - Mông nên các hoạt động ấy mang tính chấtquân sự nhiều hơn

Trang 23

1.2.2 Hồ Trả Gươm thời Lê sơ (1428 - 1527)

Hồ Trả Gươm (mà cách gọi tắt dân gian là HỒ GƯƠM) có tên chữHán được gọi là Hoàn Kiếm, liên quan đến một truyền thuyết về việc vua Lêtrả lại gươm cho Rùa thần tại hồ Kiếm và gươm đều là các loại vũ khí củachiến trận Phần quan trọng trong vận động của lịch sử dân tộc Việt Nam gắnvới nhiều cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm Hồ là nơi dân tộc ta gửi lạigươm báu cho Rùa thần giữ sau ngày dẹp xong giặc ngoại xâm

Hơn năm thế kỷ đã trôi qua, song truyền thuyết về hồ Trả Gươm - hồHoàn Kiếm và thanh thần kiếm Thuận Thiên mà Bình Định Vương Lê Lợihoàn trả cho Rùa thần sau khi quốc gia Đại Việt đã đánh tan 10 vạn quânMinh hung bạo vẫn lắng đọng trong đời sống tâm linh và ý thức dân tộc

Trong Lam Sơn thực lục của Nguyễn Trãi nói đến việc Lê Lợi được

- Sắt nào đây?

Thận nói:

- Đêm trước quăng chài bắt được.

Nhà vua nhân xin lấy Thận liền cho ngay Nhà vua đem về đánh sạch

rỉ, mài cho sáng, thấy nó có chữ “Thuận Thiên”, cùng chữ “Lợi”.

Lại một hôm, nhà vua ra ngoài cửa, thấy một cái chuôi gươm đã

mài dũa thành hình, nhà vua lạy trời khấn rằng:

- Nếu quả là gươm trời cho, thì xin chuôi và lưỡi liền nhau!

Bèn lấy mảnh sắt lắp vào trong chuôi, thành ra một chiếc gươm hoàn chỉnh.

Trang 24

Tới hôm sau, lúc đêm, trời gió mưa, sớm ngày mai, hoàng hậu ra trông vườn cải, bỗng thấy bốn vết chân của người lớn, rất rộng, rất to Hoàng hậu

cả kinh, vào gọi nhà vua ra vườn, được quả ấn báu, lại có chữ Thuận Thiên (sau lấy chữ này làm niên hiệu) cùng chữ Lợi Nhà vua thầm biết ấy là của trời cho, lòng lấy làm mừng, giấu giếm không nói ra” [78, tr 29-30].

Trong Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy Chú có nói đến việc hoàn

trả gươm cho Rùa thần của vua Lê Thái Tổ sau công cuộc kháng Minh giành

thắng lợi: “ chuyện xưa kể rằng khi vua Lê Thái Tổ ngự thuyền chơi trong

hồ bỗng thấy một con rùa lớn nổi lên, vua rút bửu kiếm chỉ vào, rùa ngậm ngay thanh kiếm rồi lặn mất Vì vậy mà đặt tên là hồ Hoàn Kiếm” [7, tr 38].

Đầu thế kỷ XV, quân Minh xâm lược nước ta Với mục đích đồng hóa

Đại Việt, giặc Minh đã đàn áp dân ta hết sức dã man: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ” và tịch thu sách vở,

đập vỡ bia đá, đền miếu các nơi khiến dân chúng ai cũng căm thù, phẫn uất.Tất thảy đều mong ước có bậc hiền tài cứu giúp trăm họ ra khỏi cảnh lầmthan khốn cùng Bình Định Vương Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa chống ngoạixâm đã đáp ứng được nguyện vọng chính đáng đó của nhân dân, của lịch sử

dân tộc Lê Lợi đã được họ “thần thánh hóa” thành nhân vật được Trời - Đất

(Vũ trụ) trao cho sứ mệnh trọng đại diệt giặc Minh cứu nước, cứu dân khinhận được thanh kiếm thần Thuận Thiên Thần kiếm Thuận Thiên là sự kếttinh, hội tụ, thăng hoa của ba chiều không gian (lưỡi gươm ở dưới nước, đốcgươm trên mặt đất, bao gươm ở trên cây) và cũng là biểu tượng Thiên thời -Địa lợi - Nhân hòa Thanh kiếm thần Thuận Thiên đã bên cạnh Lê Lợi trongsuốt công cuộc kháng Minh mười năm ròng nếm mật nằm gai

Chuyện trả kiếm cho Rùa thần là một mô típ độc đáo thường gặp trongtruyện kể dân gian và nó thể hiện sâu sắc ý nguyện yêu chuộng hòa bình củadân tộc Việt Việc trả binh khí cho thần từng được truyền tụng trong lịch sử

An Dương Vương được thần Kim Quy cho mượn bảo kiếm để chém gà tinh

Trang 25

trắng Khi xây thành ốc xong, nhà vua đã trả kiếm cho thần Thần Kim Quycòn cho An Dương Vương mượn móng của mình làm lẫy nỏ thần, nhưng khidẹp tan quân xâm lược Triệu Đà, nhà vua lại không trả cho thần nên xảy ra cơsự: Triệu Đà lập kế tráo lẫy nỏ thần rồi đem quân vây đánh Loa thành khiến

An Dương Vương phải chịu cảnh nước mất, nhà tan Phải chăng Bình Định

Vương Lê Lợi đã nhớ tới bài học lịch sử về quy luật “vay” - “trả” đó? Cái gì

đã mượn thì phải trả, phải biết ơn người đã giúp mình dựng nên nghiệp lớn,phải giữ lòng trung tín Có như vậy, nghiệp lớn mới thành, đất nước mớiđược muôn thuở thịnh trị thái bình

Gắn liền truyền thuyết về hồ Trả Gươm là “Rùa thần”, thông qua đó

rùa đã trở thành một biểu tượng cho sự thiêng liêng về ước nguyện hoà bìnhtrong tâm thức của người dân Việt Nam Chính vì vậy khi nhắc tới hình ảnh

rùa, người Việt Nam đều nhớ về “Cụ Rùa” ở hồ Gươm với lòng kính trọng.

Hồ Trả Gươm trong truyền thuyết là biểu tượng của lòng yêu chuộnghoà bình, niềm tự hào gắn liền với đời sống tinh thần và tâm thức dân giancủa người Thăng Long - Hà Nội, mang đậm chất huyền thoại - lịch sử Thôngqua truyền thuyết nhân dân ta đã huyền thoại và thiêng liêng hóa một ướcnguyện hòa bình, để tạo dựng nên chất thiêng cho một hồ nước đẹp giữa lòngKinh thành Thăng Long - một chất thiêng lành mạnh của văn hóa cổ truyềncủa dân tộc Truyền thuyết đã nói lên một ý nghĩa cao đẹp thể hiện ước vọnghòa bình của dân tộc Việt Nam, hết chiến tranh gác vũ khí, nhân dân chăm losản xuất vì một nền hoà bình lâu dài Quả thực, sau công cuộc kháng chiếnchống giặc Minh của Bình Định Vương Lê Lợi thắng lợi, nước Đại Việt đã cakhúc khải hoàn và mở nền thái bình thịnh trị dài lâu trong lịch sử

Nhân dân ta bao đời nay vẫn muốn hòa bình để xây dựng đất nước,nhưng khi có giặc ngoại xâm thì thanh gươm báu sẽ vẫn được trao cho dân tộcViệt Nam đứng lên để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ đất nước mà các vua Hùng đã cócông tạo dựng Đó chính là lời cảnh báo đối với các thế lực ngoại bang

Trang 26

muốn xâm chiếm nước ta Truyền thuyết và tên gọi Trả Gươm (Hoàn Kiếm)cho thấy một khía cạnh nổi bật của tinh thần dân tộc, luôn cảnh giác trướcnhững âm mưu đen tối của ngoại bang và kiên quyết bảo vệ đất nước trướchọa ngoại xâm Bởi cái linh thiêng của thanh gươm báu Thuận Thiên vẫnsống mãi, lan tỏa và được gửi nơi đáy hồ Gươm:

Vạn kim bảo kiếm tàng thu thủy, Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.

sự bền vững, vua tôi một dạ, trên dưới đồng lòng Chính vua Lê Thái Tổ khi

lên ngôi cũng đã truyền dậy rằng: “ người dân thường mến phục vua nhân đạo, mà chính người dân cũng có thể lật đổ vua Ví như nước chở thuyền, mà thuyền đắm cũng vì nước: trời thường giúp người có đức, mà thay đổi bất thường cũng chính là trời vậy” [13, tr 90-91] Điều này cũng được Nguyễn

Trãi nói đến trong bài thơ Quan duyệt thủy quân: “Văn trị chung tu chí thái

bình” (dùng văn trị để đi tới nền thái bình).

Tới thế kỷ XV, do có sự tích gươm được trả cho Rùa thần trên hồ saucông cuộc kháng chiến chống quân Minh thắng lợi mà hồ Lục Thủy chínhthức được mang danh xưng là Hoàn Kiếm (hồ Gươm) Từ đó hồ còn mangnhững danh xưng khác nhau

Trang 27

Trong Long Biên bách nhị vịnh của Bùi Cơ Túc còn cung cấp một tên gọi mới của hồ là Hàm Kiếm Trong bài Vịnh Hàm Kiếm có lời tiểu dẫn: “

Tương truyền vua Lê Thái Tổ khi bắt đầu khởi nghĩa Lam Sơn, có nhặt được một thanh gươm ở trên bờ sông Lương Trên gươm có chữ Thuận Thiên, nên sau vua lấy niên hiệu là Thuận Thiên Khi dẹp xong giặc, gươm được cất tại

vũ khố (kho vũ khí) ở bãi giữa hồ, do vậy hồ có tên là Hàm Kiếm” [56, tr 20].

Theo Hà Nội địa dư của Dương Bá Cung hồ còn có tên là Kiếm Hồ:

“ Hồ còn có tên Kiếm Hồ Tương truyền khi vua Lê Thái Tổ đi du ngoạn trên hồ, chợt thấy một con rùa lớn nổi lên, bèn cầm thanh bảo kiếm chỉ vào rùa Con rùa ngậm ngay lấy thanh kiếm rồi lặn xuống nước Nhân câu chuyện đó mới đặt tên là Kiếm Hồ” [46, tr 43].

Ngoài ra, trong Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy Chú (1780 1840), Hà Nội địa dư của Dương Bá Cung (1795 - 1868) và Đại Nam nhất thống chí được biên soạn dưới thời Tự Đức (1847 - 1883) đều khẳng định

-thời Lê hồ được dùng làm nơi duyệt thủy quân nên hồ có tên là Thủy Quân

Từ đây hồ Gươm đi vào lịch sử mang tính chất đậm nét hơn Từ giữathế kỷ XV trở đi hồ Gươm bắt đầu trở thành nơi nghỉ ngơi của các bậc quyền

quý Hồ Gươm thời kỳ này còn rất to rộng và ăn thông với sông Hồng: “Về phía đông nam hồ này, vào đời Hồng Đức có đào một ngòi nhỏ thông ra sông Cái, để các thuyền nhỏ ở ngoài sông có thể vào trong hồ được” [71, tr 96].

Thời Lê sơ, ở vị trí bên cạnh hồ Gươm, chùa và tháp Báo Thiên được tu

bổ, gìn giữ chu đáo, vẫn là nơi sinh hoạt tín ngưỡng Phật giáo của Kinh thành

Năm Đinh Mùi (1427), khi Lê Lợi đem quân ra bao vây quân Minh ởthành Đông Đô, Vương Thông đã cho phá tháp Báo Thiên để lấy đồng đúcsúng làm kế giữ thành Sau khi đánh đuổi được giặc Minh ra khỏi đất nước,

“Tháng 5, năm Giáp Dần (1434), vua Lê Thái Tông điều động thợ ở các cục tất tác làm chùa Báo Thiên” [40, tr 395].

Trang 28

“Năm Ất Mão (1435), vua Lê Thái Tông cho sư trụ trì chùa Báo Thiên

là Huệ Hồng làm sa môn, ban cho áo tía” [40, tr 415].

“Năm Mậu Thìn (1448), vua Lê Nhân Tông sai Thái úy Lê Khả đến xã Cổ Châu rước tượng Phật Pháp Vân về chùa Báo Thiên ở Kinh thành Xuống chiếu cho các nhà sư tụng kinh cầu đảo Vua và hoàng thái hậu cũng đến làm lễ Ban cho các nhà sư 10 tấm lĩnh và vóc, 20 quan tiền mới” [40, tr 455-456].

Ông vua thi sỹ, giỏi chính trị và quân sự, mà cũng là ông vua ham vuichơi là Lê Thánh Tông (1460 - 1497), sai dựng một toà nhà lớn ở hòn đảophía bắc hồ chính là đảo Ngọc để mùa hè ra hóng mát câu cá trên hồ gọi làĐiếu Đài Ngư Vua truyền mua cá to, dùi đuôi đeo vòng vàng rồi thả xuống

hồ, gọi là “cá vàng” Gặp tiết trăng rằm trời đẹp, nhà vua tổ chức câu cá với các quan đại thần ở trước Điếu Đài: “Yến ẩm xong thả cá chép đeo vòng vàng

đuôi, gọi là “kim ngưu”, các quan ai câu được thì được thưởng Dân chúng tập trung quanh đó để cùng dự cuộc vui, đông như trẩy hội” [84, tr 645].

Sang thời Lê hồ gắn với tên gọi mới Trả Gươm (Hoàn Kiếm) đã hiệnthực hóa biểu tượng thiêng liêng về một nền hòa bình thịnh trị dài lâu tronglịch sử dựng nước, giữ nước, nhất là khi dân tộc, Kinh thành vừa trải qua mộtcuộc trường chinh gian khổ, vẻ vang chống giặc Minh xâm lược (1407 -1427) Đồng thời việc gửi gươm thần nơi đáy hồ Gươm là một sự khẳng địnhsức sống trường tồn của tinh thần đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân

ta Thanh gươm báu này chính là hiện thân của lòng yêu nước, tinh thần đoànkết của dân tộc

1.2.3 Hồ Gươm thời Lê - Trịnh

1.2.3.1 Bối cảnh lịch sử Thăng Long thời Lê - Trịnh

Sau khi họ Mạc lên cầm quyền, mầm Trịnh - Mạc phân tranh đã bắt đầuxuất hiện Năm 1529, một võ quan của nhà Lê ở Thanh Hóa là Nguyễn Kimchạy sang Sầm Châu (đất Lào) cùng người con rể là Trịnh Kiểm mưu đồ phù

Lê khởi nghĩa Sau những thắng lợi liên tiếp, năm 1551, Trịnh Kiểm cho

Trang 29

tướng là Lê Bá Vy, Vũ Văn Mật tiến đánh Thăng Long Vua Mạc là Mạc PhúcNguyên phải bỏ Kinh thành chạy đi nơi khác Đầu năm 1592, Trịnh Tùng (conTrịnh Kiểm) tiếp tục công việc đánh Mạc tại Thăng Long Quân của TrịnhTùng vượt sông Tô Lịch, đến cống Mọc và đóng quân ở Xạ Đôi Trịnh Tùngcho các tướng đánh phá các cửa thành Đại La, còn tự mình cầm quân tiến vàophường Hồng Mai (nay là Bạch Mai) Quân Trịnh phá tan quân Mạc ở cửaCầu Dền Trịnh Tùng cho san phẳng các tầng lũy đất ở ngoài Đại La Nhưngquân Trịnh vẫn chưa lấy được Kinh thành và Trịnh Tùng phải rút về ThanhHóa Cuối năm này, Trịnh Tùng lại đem quân tiến đánh Thăng Long Vua Mạc

là Mậu Hợp phải bỏ Kinh thành, chạy đi Hải Dương, rồi chạy qua huyệnPhượng Nhãn (nay thuộc Bắc Giang), nhưng bị quân Trịnh đuổi theo bắtđược Mạc Mậu Hợp bị đưa về Thăng Long bêu sống ba ngày rồi bị chémchết ở bến Bồ Đề, gần Kinh thành Trịnh Tùng đem quân vào Thăng Long,cho sửa sang lại Hoàng thành rồi đón vua Lê từ Thanh Hóa ra đóng đô ởThăng Long

Sau khi Trịnh Tùng đã đánh đuổi được họ Mạc, lấy lại giang sơn cho nhà

Lê, cậy công bắt ép vua Lê phải phong cho mình và con cháu nối nghiệp về sauđều làm vương (người bấy giờ gọi là chúa) Dưới đời Lê Trung Hưng, chúaTrịnh đã vượt quyền vua Lê, lập phủ riêng ngay bên cạnh hồ Gươm Đó là Phủliêu với hệ thống quan lại hoàn chỉnh ở mọi ngành mọi cấp Trung tâm chính trịkhông còn nằm tại Hoàng thành nữa mà đã chuyển sang Phủ chúa

1.2.3.2 Kiến trúc Phủ Chúa

Từ thế kỷ XVII trở đi vua chúa chú ý sử dụng hồ Gươm Hồ Gươm thời

này còn rộng, chạy đến tận Lò Đúc - Hàng Chuối Trong Thượng kinh ký sự của

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720 - 1791), còn kể rằng sau khi ông đượctriệu vào Phủ chúa chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán và chúa Trịnh Sâm năm 1781

- 1782, trở về xứ Nghệ đã xuống thuyền ở bến Trường Tín (đầu phố HàngChuối) [77, tr 216] Chứng tỏ hồ Gươm còn thông với sông Hồng

Trang 30

Các chúa Trịnh đã tập trung sức lực vào việc dựng một quần thể kiếntrúc Phủ chúa nguy nga đồ sộ ở ngoài Hoàng thành, liền sát khu dân cư, đểkhẳng định sự độc lập của mình đối với triều đình vua Lê trong Hoàng thành.

Tháng 12 năm 1592, sau khi chiếm được Thăng Long từ nhà Mạc, “Tiết chế Trịnh Tùng hạ lệnh cho các dinh cơ dời cả hành dinh Thảo Tân vào ở phường Phúc Lâm phía nam thành Thăng Long” [41, tr 219].Tháng 3 năm 1593,

“Tiết chế Trịnh Tùng sai thợ xây dựng cung điện, làm hành tại ở phía tây nam thành Thăng Long, phía bắc Cầu Dừa, tức là chỗ Cẩm Đình trước, một tháng làm xong” [41, tr 223] Tháng 12 năm 1594, “Lập phủ Thái Vương ở phường Phúc Lâm, sai dời hành tại đến bên tả cửa Nam của thành” [41, tr 231].

Thăng Long cổ tích khảo hội đồ có ghi về Phủ chúa như sau: “Ở cách

Kinh thành một dặm về phía đông nam, chỗ phố Cẩm Chỉ huyện Thọ Xương tức là cổng trước của phủ, phố Hoành Đình tức là cửa sau của phủ Phố Hoành Đình ở phường Phục Cổ phía ngoài cửa chính đông một dặm, đó là cổng sau của phủ Chúa Trịnh Tương truyền Trịnh vương làm sinh nhật, sai lấy dây chăng phía sau phố Hoành Đình, ở trong bày trò ca hát theo điệu của man di để vời quỷ sống” [46, tr 386] Theo tài liệu nghiên cứu của Nguyễn

Thừa Hỷ thì Phủ chúa Trịnh lúc đầu đóng khoảng thôn Thái Kiều (gần ngõchợ Khâm Thiên) và bãi Thảo Tân (gần Nhà Hát Lớn), sau chuyển về phườngPhúc Lâm ở phía nam Kinh thành [24, tr 35].Theo bản đồ của Trần Huy Bá

trong bài Thử tìm vị trí Phủ chúa Trịnh - Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 11

(2 - 1960), Phủ chúa được xác định với bốn mặt là: mặt bắc theo phố LýThường Kiệt, mặt tây là phố Quán Sứ, mặt nam là phố Nguyễn Gia Thiều,mặt đông là phố Quang Trung Kết hợp với các bản đồ Thăng Long đời Lê, cóthể thấy Vương Phủ chúa Trịnh ở phía đông nam so với Hoàng thành của vua

Lê, phía nam tháp Báo Thiên và phía tây hồ Gươm lúc bấy giờ còn khá rộnggồm hồ Tả Vọng và hồ Hữu Vọng

Trang 31

Vị trí Phủ chúa Trịnh theo Hồng Đức bản đồ

Quần thể Vương Phủ chúa Trịnh là một công trình kiến trúc có quy mô đồ

sộ, là điểm nhấn tạo ra sự chuyển biến quan trọng của đô thị Thăng Long thờitrung đại Đó là một quần thể kiến trúc phát triển đa chiều vây quanh phủ chính,được kế tục và phát triển gần ngót 200 năm, gồm 52 cung điện lớn và đềuhướng về hồ Gươm Kiến trúc chính của Phủ chúa gồm các cung điện nguy nga,

có tường thành rất dầy bao bọc hình vuông, mở hai cửa: Chính môn

ở phía nam và Tuyên Vũ môn ở phía đông Tuyên Vũ môn trông ra hồ TảVọng và lầu Ngũ Long, Tả Vọng đình (sau này là Tháp Rùa) và cung Khánh

Thụy (sau này là đền Ngọc Sơn) Philippe Papin còn lưu lý rằng: “lớp tường bao quanh phủ vẽ dày hơn so với bức tường bao quanh Hoàng cung” [59, tr.

80], giống như một pháo đài thực thụ vì đây là trung tâm quyền lực của ĐạiViệt thế kỷ XVII, XVIII

Trong cuốn Miêu tả vương quốc Đàng Ngoài, lái buôn S.Baron

-người Anh đến Thăng Long năm 1680 đã mô tả phủ Chúa như sau: “Phủ

Trang 32

Chúa ở trung tâm thành phố Kẻ Chợ Nó rất rộng rãi và có tường thành bao bọc chung quanh Bên trong và bên ngoài có nhiều nhà nhỏ, thấp để cho quân lính ở Những cung điện bên trong xây cao hai tầng, có nhiều cửa thoáng đãng Các cửa đều đồ sộ nguy nga, tất cả đều bằng gỗ lim, cũng như ở hầu hết các nơi của cung điện Các tư thất và các cung dành cho phụ nữ đều lộng lẫy, xa hoa, có chạm trổ sơn son thiếp vàng Ở sân đàng trước là các chuồng nuôi voi lớn và ngựa tốt, trong sân sau có nhiều vườn cảnh, bụi cây, lối đi, những chòi tháp nhỏ, ao cá và tất cả những gì có thể làm cho Chúa giải trí vui chơi, mặc dù họa hoằn đôi lúc, Chúa mới ra đến nơi đó” [24, tr 40].

Vì có Phủ chúa nên hồ Gươm trong thời kỳ này được sửa sang, tô điểmthêm, xây dựng thành nơi thừa lương và chiếm một vị trí được chiếu cố hơn

cả hồ Tây Chung quanh hồ trồng hoa cỏ, cây lạ, nuôi chim, giữ gìn sạch sẽ,nghiêm cấm dân thường không được đến câu cá, hái hoa Cuối hồ khơi mộtcon ngòi ra sông Hồng để thuyền ra vào được gọi là bến Tây Long để đối với

bến Đồng Tân, phường Hà Khẩu Trong Thượng kinh ký sự của Hải thượng

Lãn Ông Lê Hữu Trác miêu tả Phủ chúa như sau: “Đi tới cổng phủ, quan truyền mệnh dẫn qua hai lần cửa nữa rồi rẽ phía trái, tôi ngẩng đầu nhìn thấy bốn bề tám phía chỗ nào cũng cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, trăm hoa đua thắm, gió đưa thoảng hương trời Hành lang quanh co nối tiếp song song” [77, tr 40] Trong một đoạn khác ông cũng đã miêu tả: “Vòng qua ước chừng hơn một dặm, nơi nào cũng lầu đài đình gác, rèm châu cửa ngọc, ánh nước mây lồng, suốt lối toàn hoa kỳ cỏ lạ, gió thoảng hương trời, thú đẹp, chim quý, nhảy nhót bay hót, giữa đất bằng nhô lên ngọn núi cao, cây to bóng mát, nhịp cầu sơn vẽ, bắc qua lạch nước quanh co, lại có lan can làm toàn bằng đá màu Tôi vừa đi vừa ngắm: thực chả khác gì cõi tiên vậy” [77, tr 53].

Như vậy sau một thế kỷ so với sự mô tả của S.Baron thì Phủ chúa vẫn giữđược vẻ tráng lệ Nhà quan to thì ở quanh hồ Gươm và hồ Tây Cho nên thờinày quanh hồ Gươm nhà làm san sát bờ hồ

Trang 33

Đặc biệt trong những ngày lễ hội, Phủ chúa càng được trang hoàng

nguy nga lộng lẫy: “Mỗi năm đến tết trung thu, từ trước mấy tháng, Chúa phát gấm trong cung ra để làm hàng trăm, nghìn cái đèn lồng, cái nào cũng tinh xảo tuyệt vời, mỗi cái giá đến mấy chục lạng vàng Đến ngày, Chúa ngự giá ra Bắc cung Cung có ao gọi là Long Trì, rộng nửa dặm Trong ao trồng rất nhiều hoa sen, hoa súng Ven ao đắp đất trồng đá làm núi, chỗ cao, chỗ thấp dàn đặt có hình thế Có những chỗ khuỷu để cho nhạc công ngồi đàn sáo Bờ ao trồng hàng mấy trăm cây phù dung, treo đèn ở trên, sóng trăng rập rờn, hàng vạn ngôi sao sáng Nội thị từ tam phẩm trở lên, chít khăn, mặc

áo như đàn bà, bày hàng ở ria đường, bán những tạp hóa cùng các đồ hoa quả, chả, rượu, thức gì cũng có, chồng chất như núi Cung nhân qua lại mua bán, vừa mua vừa cướp, không cần hỏi giá cả bao nhiêu; đua nhau đem những câu hát quê ra đối đáp với nhau, tiếng cười đùa vang cả trong ngoài Nửa đêm, Chúa ngự kiệu đến ao, xuống thuyền Quan hầu và các phi, thiếp

gõ ván hò reo, đi lại vùn vụt và lênh đênh trên sông Bỗng chốc lại đánh đàn, lại thổi sáo, lại ca hát, tiếng vang lanh lảnh, khiến người tưởng như lên chơi cung Quảng Hàn mà nghe khúc nhạc Quân thiên Chúa nhìn ngắm lấy làm vui sướng, đến mãi gà gáy mới về” [19, tr 12].

Ngoài phủ Chúa còn có nhiều kiến trúc quan trọng khác bố trí bên bờ

hồ Gươm kéo dài đến bờ sông Hồng Ven hồ có Nguyệt Đài, Thuỷ Tạ, cungKhánh Thụy, trên gò Rùa có Tả Vọng Đình Đến đời Chúa Trịnh Căn đã xâydựng Tả Vọng Đình cao hai tầng Lầu vuông mái cong có đắp bốn con rồng

bò trườn trên mái ngoảnh đầu lại, khảm sứ màu óng ánh (nghệ thuật nề ngõa)

Lầu quay hướng nam, trên cửa có ba chữ đại tự “Tả Vọng đình” Tầng trên là

chỗ chúa ngự xem tập thủy trận Hai đầu phía đông và tây có lan can trang trímặt sân thượng lộ thiên để các quan và cung nữ theo hầu có thể lên đây cùngngắm Tường hoa lan can ghép sứ óng ánh, tầng dưới hình chữ nhật, chạy dàichiều đông tây, làm thành ba cửa kiểu tam quan như ở cửa Đoan Môn Tả

Trang 34

Vọng Đình kiến trúc thanh nhã chắc chắn với một tường hoa vây lấy lầu trên[10, tr 123] Gần bờ sông có chuồng nuôi nhiều voi chiến, có kho thuốc súng

và một bãi duyệt quân rộng gọi là Diễn Vũ Trường Cạnh hồ phía nam có mởtrường đúc súng thần công và xưởng đóng thuyền chiến Nhà du hành -

thương nhân William Dampier đã miêu tả: “Trước cung điện của Chúa có một thao trường hay một cái sân hình vuông để cho binh sĩ dàn quân Cái sân được chia ra hai bên: một bên dành cho các quan ngồi xem binh sĩ luyện tập còn bên kia có dãy nhà cất giữ những khẩu thần công và các loại súng hạng nặng khác” [95, tr 94].

Ở quá phía nam hồ Gươm, năm 1728, Trịnh Giang cho đào hầm để xâydựng một cung điện ngầm ở dưới đất gọi là Thưởng Trì cung, cũng đồ sộ như

một tòa ly cung trên mặt đất [71, tr 89]

Năm 1739, chúa Trịnh Giang lập cung Khánh Thụy trên nền Điếu Đàilàm nơi hóng gió ngày hè Chúa Trịnh Doanh cho đắp ở bờ hồ phía đông một

gò đất đặt tên là núi Độc Tôn, bờ phía tây cho đắp núi Ngọc Bội để kỷ niệmchiến thắng đánh tan cuộc khởi nghĩa của Quận Hẻo Nguyễn Danh Phương ởvùng có hai ngọn núi Độc Tôn và Ngọc Bội thuộc khu vực Tam Đảo tỉnh Vĩnh

Phúc ngày nay: “Thời Vĩnh Hựu nhà Lê (1735 - 1740), nghịch Phương chiếm

cứ núi Độc Tôn ở Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên, quân nhà vua chinh phạt, tiến đến Ngọc Bội, đánh thắng liền mấy trận rồi rút quân Nhân tìm chỗ đất cao, đắp núi ghi chiến công đó, bởi vậy mới lấy tên núi Độc Tôn đặt cho tên núi để ghi công” [66, tr 25].

Bên cạnh hồ trên bờ đông - nam, khoảng giữa hồ Gươm và cung TâyLuông, năm 1744, Trịnh Doanh cho xây một lầu cao khoảng 300 thước (thônCựu Lâu, khoảng Tràng Tiền) Lầu được xây dựng kiên cố bằng đá phiến lớn

Có hai mặt thềm đá bậc lên tầng lầu, chính giữa là điện Quang Minh, phíangoài lan can, cửa lớn rộng sơn son Trong điện cột lớn sơn son thếp vàng.Tầng dưới lầu là nơi thiết yến tiệc, đón các tân khoa làm lễ trao áo mũ Trên

Trang 35

điện Quang Minh là nơi chúa ngự duyệt thủy quân ngoài sông Hồng, làm lễ

kỳ đạo Lầu có ba cửa lớn Khuôn cửa có đặc điểm ghép chéo góc với bộkhung lớn Phần mái trên điện Quang Minh có năm tầng, đắp năm con rồngnổi thân vẩy dát mảnh sứ tầu vàng óng ánh, vây rồng bằng đá cẩm thạch mầu.Cho nên lầu có tên là Ngũ Long Lâu Khi mặt trời chiếu sáng, ánh nắng dọivào mình rồng óng ánh như đang chuyển động theo ánh mặt trời khi ánh sángthay đổi Dưới chân lầu là nơi diễn võ thuật, thi bắn, đánh vật Đây là côngtrình mang tính chất quân sự phòng thủ rất vững chắc [10, tr 125] Trong lần

quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ dưới danh nghĩa “phù Lê, diệt Trịnh” tiến quân ra Bắc Hà đánh vào thành Thăng Long, “Chúa Trịnh dốc hết quân trong thành ra, bầy trận ở dưới lầu ngũ Long, chính chúa tự mình làm tướng” [36, tr 561].

Cuối thời Lê Mạt, hồ Gươm bị lấp cửa thông ra sông Cái và chúa Trịnh

cho “chở đất về lấp làm đường xe chạy cho suốt đến Long Lâu ở Nhĩ Hà, nửa

hồ bên hữu gọi là Hữu Vọng, nửa hồ bên tả gọi là Tả Vọng” [86, tr 70] Con

đường này kéo dài từ Tuyên Vũ môn trước Phủ chúa ra đến bờ sông Hồng

(nay là đường Tràng Tiền - Hàng Khay) Gọi là “vọng” theo ý riêng của giai

cấp phong kiến họ Trịnh là cả hai bên hồ đều trông chầu vào Phủ chúa [71, tr.95] Hữu Vọng là phần hồ từ Hàng Chuối đến Tràng Tiền, nay đã bị lấp chỉcòn di tích là phố Vọng Đức (vốn là hai thôn cũ Hữu Vọng và Đức Bác gộpchung) Vì cho đến năm 1783, khi Lê Hữu Trác rời kinh đô Thăng Long về

quê, vẫn còn một bến đò, mà ông gọi là “bến đò chùa Trường Tín” [77, tr.

216] Tả Vọng chính là hồ Gươm bây giờ và thời đó còn ăn sâu vào đến HàngĐào Nhân hình thế hồ có hai phần đối nhau, chúa Trịnh dùng hồ làm nơiluyện tập thuỷ quân, hai bên hồ làm trận địa cùng nhau biểu diễn các chiếnpháp thuỷ công Chúa Trịnh ngồi trên đài cao xem xét để định được thua, hơnkém Vì vậy hồ còn được gọi với tên Thuỷ Quân [71, tr 95] Con đường chúangự được lát đá tảng để voi ngựa có thể đi lại được mỗi khi chúa ra lầu Ngũ

Trang 36

Long - nơi diễn ra lễ kỳ đạo, duyệt binh đãi yến các tân khoa tiến sĩ Conđường này rất có thể là con đường mà giáo sĩ Alexan de Rhodes từng nói đến

trong tập ký sự của mình “…Đường phố Kẻ chợ rộng lớn, thẳng đến mức 10 hoặc 12 ngựa có thể đi hàng ngang một cách dễ dàng” [24, tr 69].

Như ta đã thấy dưới thời Lê - Trịnh, quanh hồ đều có ly cung, biệtđiện, đền chùa xen lẫn với làng xóm của nhân dân Khu vực hồ Gươm trở nênphồn thịnh, sầm uất, là nơi các chúa đi lại thường xuyên, là nơi vui chơi andưỡng và luyện tập quân sự của họ Cho nên bờ hồ Gươm trở nên quang quẻ

sạch sẽ, cây cối xanh tốt “Người ta thấy ở đó sự giàu sang và những của lạ

mà các vị chúa tể quyền lực và chuyên chế đã sống ở đây những năm dài sau đó” [25, tr 422] Với việc xây dựng quần thể Phủ chúa Trịnh ở đông nam

Kinh thành, hồ Gươm thực sự được sửa sang, xây dựng thành nơi thừa lương

và chiếm một vị trí là nơi giải trí được chiếu cố hơn cả hồ Tây

Về mặt cư trú, quần thể Phủ chúa Trịnh ở bên ngoài Hoàng thànhThăng Long, không tách biệt mà xen kẽ với khu bình dân Cho nên, chungquanh hồ Gươm thời này đã tập trung nhiều dân cư Nhà cửa dựng đến bờ hồGươm Nhưng bờ phía đông hồ chỉ có nhiều vườn và những ruộng dâu.Riêng dưới Ngũ Long Lâu, chỗ góc hồ phía đông, có một thôn, sau thờiNguyễn gọi là thôn Cựu Lâu Dân cư xây dựng làng mạc đồng thời cũngdựng đình chùa, miếu mạo Ngoài những ngôi đình của riêng từng làng sở tạiquanh hồ như Yên Trường, Nghĩa Lâu, Vũ Thạch, Phúc Tô, Báo Khánh, cònnhiều đền miếu khác Phía đông bờ hồ có đền Bảo Linh thường gọi là ChùaTầu Cạnh Chùa Tầu có miếu Dương Võ thờ các vị tướng đời Hậu Lê chỉ huy

và huấn luyện giỏi đội quân voi trận Tại thôn Yên Trường còn có một ngôiđền nhỏ nữa thờ công chúa Huyền Trân đời Trần Anh Tông (1293 - 1314), cóliên quan đến lịch sử bang giao Việt Chiêm [84, tr 646] Phía đông bắc hồ cóChân Tiên Điện để các cung phi, công chúa, cung nữ trong Vương phủ ra lễ,

an chay tu đạo Sau này điện Chân Tiên do một thái giám là Lê Trọng Hiên

Trang 37

huyện Đường Hào đứng ra mở mang to thêm vào năm Vĩnh Trị (1680) Tiếpsau cháu là Hoàng Thị Bột trông nom, trùng tu Từ bấy đến cuối đời CảnhHưng thành của tư của dòng họ Lê ở Đường Hào, người trông nom có têntục là Bà Kiệu thường gọi là đền Bà Kiệu cho đến ngày nay.

Quần thể Phủ chúa Trịnh được xây dựng thời kỳ này đã đưa đến hệ quả

là một luồng chuyển dịch lớn về người (thợ thủ công và thương nhân) vàhàng hóa về khu vực này Bởi vì một mặt, để xây dựng những công trình nguynga, đồ sộ ở Phủ chúa cần huy động một lượng lớn nhân công là thợ thủ công

ở các địa phương đến đây Do công việc nên họ phải lưu trú ở đây trong mộtthời gian dài và sau đó ở lại làm việc trong các cục bách tác hoặc làm nghề tự

do Thợ thủ công từ các địa phương mang theo kỹ thuật và công cụ sản xuất,lên định cư tập trung ở một phố phường Các nghề thủ công cung đốn choquan, cho tướng, lúc ấy chật đường, tập trung nhiều ở đông nam thành: cácphố Hàng Đàn, Hàng Hòm, Hàng Trống, Hàng Kèn (nay là phố Quang Trung)trở nên tấp nập [75, tr 11] Mặt khác, để phục vụ cho nhu cầu đời sống củamột bộ phận quan lại và quân lính ở Phủ chúa cần có một khối lượng lớn vềlương thực, thực phẩm, hàng hóa, vật dụng, nguyên liệu Các thứ này cũng từnhững vùng phụ cận đổ về Kinh thành Cho nên, khu vực Phủ chúa và vùngxung quanh nó đã thu hút dân cư ở các địa phương lận cận đến sinh sống,buôn bán, làm ăn Dẫn đến dân số của Kinh thành tăng lên Phương thức didân chủ yếu là đồng loạt: cả một tập thể thôn xóm hoặc một làng đã theonhững người họ hàng hoặc các vị tổ nghề, cùng nhau lên kinh đô, rồi cũng lạicùng nhau quây quần cư trú tại một địa điểm, một phố phường nhất định vàvẫn giữ mối quan hệ mật thiết với làng quê Chẳng hạn, các thợ nhuộm làngĐan Loan (Bình Giang, Hải Dương) di cư ra phố Hàng Đào, thợ thêu làngQuất Động, Hướng Dương (Thường Tín, Sơn Nam) di cư ra ngõ Yên Thái

và thôn Tự Tháp (Hàng Trống), thợ đúc bạc làng Trâu Khê (Bình Giang, HảiDương) ra phố Hàng Bạc, thợ giầy ở ba làng Chắm (Trúc Lâm, Văn Lâm,

Trang 38

Phong Lâm, Tứ Kỳ, Hải Dương) ra hành nghề ở ngõ Hài Tượng (HàngGiầy) Vì thế đã tạo ra các phố chuyên nghề, chuyên mặt hàng ở nơi đây.Mỗi phố chỉ sản xuất và bầy bán một loại mặt hàng nhất định Chính vì vậy đã

làm cho yếu tố “thị” của vùng càng trở nên đậm nét hơn Yếu tố “thị” đã góp phần kéo dần cán cân đô thị về phía khu vực này Nhờ đó làm cho khu vực đông và đông nam Kinh thành thịnh vượng lên ít nhiều Lúc này “trọng tâm của kinh đô đã chính thức chuyển dịch ra phía thành phố bên ngoài” [24, tr 35] Mặt khác, thời kỳ này nhờ có sự phát triển mạnh mẽ của yếu tố “thị”

không chỉ thúc đẩy nền nội thương giữa Kinh thành và tứ trấn, mà còn đặttiền đề cho phát triển ngoại thương với phương Tây khi các chúa Trịnh cho

mở thương điếm Hà Lan (1645 - 1699), thương điếm Anh (1683 - 1697) ngaytại trung tâm đô thị

Sự tồn tại của của một quần thể quan liêu ở xen kẽ với khu bình dân đã cónhững tác động nhất định: một mặt, nó làm cho khu phố phường cũ phía đôngcủa Hoàng thành ra đến bờ sông Hồng phồn vinh tới một mức độ chưa từng có,trở thành khu buôn bán đông vui nhất với mật độ cư dân cao nhất của ThăngLong; mặt khác, nó cũng đô thị hóa phần nào một khu vực khác (khu vực phíanam) cho đến lúc bấy giờ dân cư vẫn còn thưa thớt và đất đai phần lớn là các hồ

ao Các nghề thủ công truyền thống ở phía đông Hoàng thành phong phú, đadạng, nằm xen lẫn giữa khu phố xá buôn bán tấp nập Đấy là các nghề: nhuộm,thêu, mộc, tiện, sơn, khảm xà cừ, khắc gỗ in, làm quạt, làm đồ mây tre, làm đồ

da, rèn sắt, làm đồ vàng bạc, đồ mỹ nghệ, nghề vàng mã, hương nến, các nghềchế biến thực phẩm như làm bánh kẹo, nấu rượu, làm bún [38, tr 451] Nhữngnghề thủ công này quy mô sản xuất nhỏ, nhưng đòi hỏi kỹ thuật tinh xảo và phầnnhiều có nguồn gốc mới di cư đến Những người thợ cùng nghề, cùng quêthường họp nhau lại trong từng phố phường và vẫn giữ quan hệ mật thiết vớilàng quê Một khu phố phường cũ phía đông Hoàng thành liền kề Vương phủđược đô thị hóa, bao gồm nhiều phường thợ:

Trang 39

phường Tàng Kiếm (Hàng Trống) vừa làm nghề thêu ren vừa buôn bán kiệu,giáp, dù, lọng; phường Hàng Đào chuyên nhuộm điều và bán hàng vải lụa;phường Đường Nhân (Hàng Ngang) vừa may vừa bán diệp y; Cựu Lâu đúc

tiền [53, tr 437] Vũ Trung tùy bút của Phạm Đình Hổ cũng cho biết thêm:

“Lại như kinh thành có phường Giang Khẩu, sau đổi là phường Hà Khẩu, tiếp giáp bờ sông Nhị, liền với cái ngòi sông Nhị chảy vào sông Tô, hàng năm

bờ sông bị nước xói, không thể giữ cho khỏi lở được Đời Lê Trung hưng, mới đạc suốt dọc bến phường Hà Khẩu để cho Hoa kiều trú ngụ Các hiệu khách liền làm đơn xin tải đá để làm mỏ hàn chắn phía thượng lưu, từ bấy giờ mới bớt nạn nước xói lở Ven sông về phía Nam, dần dần ở bãi phù sa, người đến

tụ họp đông đúc Bởi thế những phường Thái Cực, Đông Các, nhà ở hai dãy phố xen liền mãi cho đến vạn Hàng Mắn, vạn Hàng Bè, bến Tây Long đều trở thành phố phường đô hội cả” [18, tr 21] Với việc xây dựng quần thể Phủ chúa gần khu dân cư có tác dụng như một “đột phá khẩu”, làm mất dần đi

tính chất phong bế của Hoàng thành, có sự phát triển dần về phía đông vàđông nam Kinh thành, tạo nên cái cầu nối giữa khu cư trú và sinh hoạt củatầng lớp quan lại quý tộc với khu sinh sống của tầng lớp bình dân Phủ chúaTrịnh có thể nói là một trung tâm hành chính, một yếu tố tạo thị thời phong

kiến đã có tác dụng “đô thị hoá” các làng xóm xung quanh thành Thăng Long, làm giảm đi sự ngăn cách giữa phần “đô” và phần “thị” Từ một khu

vực trước kia tồn tại phụ thuộc vào phần thành, chủ yếu phục vụ cho nhu cầusinh hoạt của khối vua quan thống trị, giờ đây phần thị của Thăng Long đã cómột cuộc sống độc lập, ngày càng trở nên phồn thịnh Khu vực vùng ven hồGươm lần đầu tiên gia nhập vào cơ cấu chung của Hà Nội với tư cách là một

trung tâm mới của Thăng Long thời phong kiến, mặc dù quá trình “trung tâm hóa” khu vực hồ Gươm khi đó chưa tới đích trọn vẹn [22, tr 69].

Trang 40

Tiểu kết chương 1:

Thời Lý bên hồ Gươm đã hình thành một trung tâm Phật giáo với sự hiệndiện của chùa và tháp Báo Thiên Việc xây dựng chùa và tháp Báo Thiên đãchính thức mở đầu cho sự tác động của hồ Gươm đối với Kinh thành ThăngLong Sang thời Trần các hoạt động diễn ra xung quanh hồ liên quan đến hoạtđộng quân sự phục vụ cho công cuộc chống giặc Nguyên - Mông xâm lược

Sang thời Lê Thái Tổ, với huyền thoại “trả gươm báu” sau công cuộc kháng

Minh giành thắng lợi, hồ chính thức mang tên là Trả Gươm (Hoàn Kiếm) với ýnghĩa lịch sử lớn lao mong muốn về một nền hòa bình thịnh trị dài lâu của dântộc Có thể thấy rằng ở khu vực hồ Gươm trước thế kỷ XIV chỉ mới xây dựngđược một số công trình mang dấu ấn văn hóa Sang thời Lê

- Trịnh, diện mạo khu vực hồ Gươm mới có những bước thay đổi quan trọngmang tính đột phá Vương Phủ chúa Trịnh được xây dựng đã biến khu vựcxung quanh hồ Gươm trở thành đệ nhất danh lam thắng cảnh, trung tâm chínhtrị và quyền lực của chốn kinh đô vô cùng sầm uất Sự ra đời quần thể VươngPhủ Trịnh ghi một dấu son trong lịch sử kiến trúc phong kiến Việt Nam, biếnkinh đô Đông Kinh trở thành một đô thị trung đại theo đúng nghĩa có cả thànhlẫn thị, hoành tráng và sầm uất vào bậc nhất trong suốt lịch sử tồn tại của nó.Đây cũng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự hưng khởi của thành thị Thăng

Long - Kẻ Chợ trong hai thế kỷ XVII, XVIII Có thể thấy yếu tố “thị” của Thăng Long từ chỗ là một bộ phận cộng sinh của phần “thành” trước kia, giờ

đây đã thoát khỏi tình trạng lệ thuộc vào thành và trở thành một yếu tố pháttriển độc lập không cần đến sự thúc đẩy của phần thành Phủ chúa và kiến trúcngoại vi, trên thực tế đã tạo thành một trung tâm chính trị không những vượtqua Hoàng thành về quyền uy, mà cả về mặt dinh tạo, lộng lẫy xa hoa Khái

niệm “Thành - chính trị” của Thăng Long đã thay đổi, bao gồm cả khu vực

Hoàng thành của triều đình vua Lê và khu Phủ chúa ngoài Hoàng thành

Ngày đăng: 27/10/2020, 21:29

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w