ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---NGUYỄN THỊ HUẾ HÀNH VI TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO CỦA NGƯỜI DÂN LÀNG NGHỀ Ở BẮC NINH Nghiên cứu trường hợp làng nghề Đông
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN THỊ HUẾ
HÀNH VI TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
CỦA NGƯỜI DÂN LÀNG NGHỀ Ở BẮC NINH
(Nghiên cứu trường hợp làng nghề Đông Xuất và Đông Bích, xã Đông Thọ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN THỊ HUẾ
HÀNH VI TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
CỦA NGƯỜI DÂN LÀNG NGHỀ Ở BẮC NINH
(Nghiên cứu trường hợp làng nghề Đông Xuất và Đông Bích, xã Đông Thọ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Thu Hương
XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG Giáo viên hướng dẫn Chủ tịch hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ khoa học
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trongbất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Huế
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG 3
DANH MỤC BIỂU 4
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 6
3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 13
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 14
6 Câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu 14
7 Phương pháp nghiên cứu 15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 18
1.1 Khái niệm công cụ 18
1.1.1 Tôn giáo tín ngưỡng 18
1.1.2 Hành vi tín ngưỡng, tôn giáo 20
1.1.3 Làng nghề 24
1.2 Các lý thuyết áp dụng 25
1.2.1 Lý thuyết trao đổi 25
1.2.2 Lý thuyết hành động xã hội 26
1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo 27
1.4 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 29
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGƯỜI DÂN LÀNG NGHỀ ĐÔNG XUẤT VÀ ĐÔNG BÍCH: ĐẶC ĐIỂM VÀ HÀNH VI THỜ CÚNG TRONG GIA ĐÌNH 33
2.1 Đặc điểm hộ gia đình làng nghề Đông Xuất và Đông Bích 33
2.1.1 Quy mô gia đình 33
2.1.2 Nghề gia đình 36
2.2 Đặc điểm của người dân làng nghề Đông Xuất và Đông Bích 39
2.2.1 Một số đặc điểm chung của người dân làng nghề Đông Xuất và Đông Bích 39
2.2.2 Đặc điểm nghề của người dân làng nghề Đông Xuất và Đông Bích 41
2.3 Hành vi thờ cúng trong gia đình 47
Trang 5CHƯƠNG 3: THỰC HÀNH TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO TRONG LÀNG
VÀ NGOÀI LÀNG CỦA NGƯỜI DÂN LÀNG NGHỀ ĐÔNG XUẤT
VÀ ĐÔNG BÍCH 53
3.1 Các hành vi tín ngưỡng, tôn giáo trong làng 53
3.1.1 Hành vi thờ cúng tổ nghề 54
3.1.2 Lễ hội làng 57
3.2 Các hành vi tín ngưỡng, tôn giáo ngoài làng 60
3.2.1 Hành vi lễ chùa, lễ đền phủ 61
3.2.2 Hành vi đi xem bói 64
3.2.3 Hành vi hầu đồng 66
3.3 Mối liên hệ của các yếu tố cá nhân tới hành vi tín ngưỡng tôn giáo của người dân ở hai làng nghề Đông Xuất và Đông Bích 69
3.3.1 Mối liên hệ của yếu tố cá nhân tới hành vi thờ tổ nghề và lễ hội 69
3.3.2 Mối liên hệ của yếu tố cá nhân tới hành vi lễ đền, phủ; xem bói và hầu đồng 72
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 85
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Đặc điểm quy mô hộ gia đình của hai làng nghề 34 Bảng 2.2: Nghề nghiệp gia đình của hai làng nghề Đông Xuất và Đông Bích 36 Bảng 2.3: Số lượng nhân công làm thuê ở làng nghề Đông Xuất và làng nghề
Đông Bích 37 Bảng 2.4: Đặc điểm về giới tính và tuổi của người dân ở cả hai làng nghề
Đông Xuất và Đông Bích 39 Bảng 2.5: Đặc điểm trình độ học vấn và tôn giáo của người dân ở cả hai làng nghề Đông Xuất và Đông Bích 40 Bảng 2.6: Đặc điểm nghề của người dân làng nghề Đông Xuất và Đông Bích 42 Bảng 2.7: Lý do chuyển nghề của người dân làng nghề Đông Xuất và Đông Bích 45 Bảng 2.8: Hình thức thờ cúng trong gia đình giữa làng nghề Đông Xuất và
làng nghề Đông Bích 48 Bảng 2.9: Thời điểm lập ban thờ thần tài và thờ Mẫu trung bình của
hai làng nghề 49 Bảng 3.1: Mức độ thường xuyên thờ cúng tổ nghề của người dân làng nghề
Đông Xuất 55 Bảng 3.2: Số lượng chùa đi lễ trong năm nay của người dân làng nghề Đông Xuất
và làng nghề Đông Bích 62 Bảng 3.3: Số lượng đền, phủ mà người dân làng nghề Đông Xuất và làng nghề Đông Bích đi lễ trong năm nay 62 Bảng 3.4: Người đi lễ cùng người dân làng nghề Đông Xuất và làng nghề
Đông Bích 63 Bảng 3.5: Chi phí người dân làng nghề Đông Xuất và người dân làng nghề
Đông Bích bỏ ra cho lần đi xem bói gần nhất 65 Bảng 3.6: Hành vi hầu đồng giữa người dân làng nghề Đông Xuất với người dân làng nghề Đông Bích 67 Bảng 3.7: Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi thờ tổ nghề và lễ hội của
người dân cả hai làng nghề Đông Xuất và Đông Bích 69 Bảng 3.8: Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tín ngưỡng, tôn giáo của
người dân cả hai làng nghề Đông Xuất và Đông Bích 72
Trang 7DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 3.1: Hình thức đóng góp công đức ở lễ hội làng truyền thống giữa
làng nghề Đông Xuất và làng nghề Đông Bích 58 Biểu đồ 3.2: Một số hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của người dân làng nghề
Đông Xuất và làng nghề Đông Bích trong năm nay 61
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện từ rất sớm trong lịch
sử xã hội loài người Trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo luôn ảnhhưởng đến đời sống chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội và tâm lý, đạo đức, lốisống, phong tục tập quán của nhiều quốc gia, dân tộc Việt Nam là quốc gia đatôn giáo Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận đời sốngnhân dân Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán chính sách tôntrọng tự do, tín ngưỡng tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo
Trong thời gian gần đây, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam sôiđộng hẳn lên Trong khi các tôn giáo truyền thống hồi sinh với sức sống mớithì các tôn giáo mới cũng nở rộ Theo thống kê của các cơ quan chức năng, từnăm 1980 trở lại đây, ở nước ta xuất hiện khoảng 60 hiện tượng tôn giáomới,trong đó có những hiện tượng khá phổ biến như Long Hoa Di Lặc, NgọcPhật Hồ Chí Minh, Tiên Phật Nhất Giáo, đạo Thánh Mẫu, đạo Trần HưngĐạo, đạo Tiên, đạo Tâm linh dân tộc [6; tr1] Có lẽ sinh hoạt tín ngưỡng, tôngiáo không chỉ sôi động ở các đô thị, thành phố lớn mà còn lan tỏa tới các khuvực làng nghề ở nông thôn Người ta thực hiện hành vi tín ngưỡng tôn giáo ởnhiều nơi như chùa, đền (phủ) và tại nhà riêng
tế - xã hội đất nước nói chung và đối với nền kinh tế nông thôn nói riêng Cáclàng nghề phát triển thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nôngthôn theo hướng “ Ly nông bất ly hương” Sự lan tỏa của các làng nghề đã
mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất thu hút nhiều lao động kéo theo sự pháttriển của các ngành nghề khác, làm tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ làmbiến đổi mọi mặt của xã hội trong đó có hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo Thếnhưng những nghiên cứu hiện nay về làng nghề dưới lăng kính xã hội học
Trang 9chủ yếu là cấu trúc dân số, lựa chọn giá trị của thanh niên mà còn thiếu vắngnhững nghiên cứu về hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng ở làng nghề.
Bắc Ninh là một trong trong những nơi có nhiều làng nghề, có nền vănhóa đậm đà bản sắc riêng ở Việt Nam, là cái nôi của đạo phật ở Việt Nam và cóđời sống tín ngưỡng điển hình của vùng đồng bằng bắc bộ như thờ cúng tổ tiên,tín ngưỡng thờ mẫu…trong quá trình tồn tại và phát triển những loại hình tôngiáo tín ngưỡng này ảnh hưởng rất nhiều vào trong lối sống, phong tục, tập quánthậm chí cả trong vấn đề sinh kế Xã hội mở cửa, hội nhập, kinh tế ngày càngphát triển gây ra nhiều biến đổi trong nghề nghiệp kéo theo đó là biến đổi trongđời sống tín ngưỡng, tôn giáo tại những làng nghề xưa cũ Xã Đông Thọ thuộchuyện Yên Phong trên địa bàn tỉnh có thôn Đông Xuất điển hình cho làng nghề
cổ truyền có nghề đẽo cày bừa song nay đã không còn đáp ứng nhu cầu xã hội vàthôn Đông Bích điển hình cho làng nghề mới xuất hiện có nền kinh tế giàu lênnhanh chóng Hai làng nghề này bổ sung cho nhau thể hiện đầy đủ cái nhìn vềngười dân làng nghề ở Bắc Ninh nói chung trong đó bao gồm cả cái nhìn về hoạtđộng tín ngưỡng, tôn giáo
Vì những lý do trên mà tôi chọn đề tài “Hành vi tín ngưỡng, tôn giáo
của người dân làng nghề ở Bắc Ninh (Nghiên cứu trường hợp làng nghề Đông Xuất và Đông Bích, xã Đông Thọ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh)”.
mong muốn tìm hiểu thực trạng hành vi tín ngưỡng, tôn giáo của người dânlàng nghề ở Bắc Ninh và động cơ, mục đích thực hiện các hành vi tínngưỡng, tôn giáo của người dân hai làng nghề trong bối cảnh công nghiệphóa và hội nhập quốc tế
2 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
2.1 Ý nghĩa lý luận
về lý luận và thực nghiệm Hơn nữa những lý luận tôn giáo chủ yếu sử dụngnhững lý thuyết của phương Tây ít nhiều sẽ tồn tại những hạn chế nhất định khi
áp dụng vào thực tiễn tại Việt Nam
Trang 10Do đó, nghiên cứu này sẽ góp phần vào việc vận dụng và xem xét sựvận dụng quan điểm lý thuyết xã hội học tôn giáo ở Phương Tây vào nghiêncứu hành vi tín ngưỡng, tôn giáo của người dân ở hai làng nghề.
2.2 Ý nghĩa thực tiến
Trên cơ sở nghiên cứu về hành vi tín ngưỡng, tôn giáo của người dânlàng nghề ở Bắc Ninh hiện nay và những mối liên hệ của yếu tố cá nhân đếnhành vi tín ngưỡng, tôn giáo của người dân làng nghề, sẽ cung cấp nhữngthông tin hữu ích cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách về tôn giáo cũngnhư những ai quan tâm nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, tôngiáo ở làng nghề
3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
3.1 Những nghiên cứu về tín ngưỡng, tôn giáo gắn với làng
Chủ đề tín ngưỡng, tôn giáo gắn với làng đã có khá nhiều nhưng chủyếu là các nghiên cứu nhìn dưới khía cạnh văn hóa, du lịch, an ninh Nhữngnghiên cứu này mới chỉ đi sâu vào quá trình xâm nhập, phát triển, mô tả đơnthuần về một số tín ngưỡng ở làng thuộc nông thôn Việt Nam và mối quan hệqua lại giữa văn hóa với tín ngưỡng, tôn giáo mà chưa có cái nhìn từ góc độ
xã hội học, chưa quan tâm tới mô tả hành vi và phân tích hành vi tín ngưỡng,tôn giáo của người dân nông thôn nói chung, làng nghề nói riêng
Theo quan điểm của Nguyễn Đức Lữ (2011) in trong cuốn “ Lý luận vềtôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” và “ Tìm hiểu về tôn giáo và chínhsách đối với tôn giáo của Đảng và nhà Nước ta Việt Nam hiện nay” cho rằngViệt Nam là một quốc gia đa tôn giáo Bên cạnh các tín ngưỡng dân gian, bảnđịa, có những tôn giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ đầu Công nguyên, lại cónhững tôn giáo xuất hiện ở nước ta vào những thập niên đầu thế kỷ này Ở ViệtNam tôn giáo và tín ngưỡng đan xen, hòa đồng, khoan dung lẫn nhau được thểhiện ở những điểm: Trên điện thờ của một số tôn giáo
Trang 11có sự hiện diện của một số vị thần, thánh, tiên, phật… của nhiều tôn giáo.Không ít người sẵn sàng thờ cúng cả thần, thánh, tiên, phật lẫn thổ công, hàbá… Họ có thể đều đặn đến chùa mà vẫn say sưa hầu bóng; có thể vừa chực
đủ những phép bí tích mà vẫn ham bói toán, tử vi, tham gia nghi lễ tôn giáolớn và vẫn chăm chỉ thờ cúng tổ tiên, tổ chức hội làng, thờ Đạo Mẫu [23,24].Hơn nữa, theo quan điểm của Đặng Nghiêm Vạn (2001) trong cuốn “ Lý luận
về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam” thì đời sống tôn giáo Việt Namđược vận hành đặc trưng xu thế hòa nhập mà không hợp nhất, mang tính đathần khó mà phân biệt được cái thiêng và cái tục Trong tâm thức người Việtkhông có ranh giới giữa hai thế giới hư và thực Con người thân thương,không xa cách với đối tượng mình thờ phụng Bởi vì họ tin đó là người bảo
vệ cho mình Mối quan hệ trong xã hội hiện thực “có cầu, có được”, “cókiêng, có lành” [35]
Viết về tín ngưỡng Việt Nam, Ngô Đức Thịnh (2001) chủ biên cuốnsách “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam” và Nguyễn ThọKhang với bài viết “Đặc điểm và giá trị văn hóa của tín ngưỡng dân gian ởViệt Nam” đã khái quát về sự ra đời, phát triển và bản chất của tín ngưỡngcho rằng tín ngưỡng đi đôi với thời gian hình thành và phát triển lịch sử dântộc, bản chất của tín ngưỡng cũng là nhận thức hư ảo thế giới, là niềm tin củacon người vào sức mạnh siêu nhiên vào “cái thiêng” Tín ngưỡng dân gian làmột một bộ phận cấu thành của tín ngưỡng, tôn giáo; là phương thức và hành
vi của cộng đồng dân cư đối với hiện tượng và sức mạnh siêu nhiên (NguyễnThọ Khang) Tín ngưỡng và tín ngưỡng dân gian chưa phát triển như tôngiáo mới chỉ dừng lại ở các huyền thoại, thần tích, truyền thuyết mà chưa có
hệ thống giáo lý; chưa đối lập hẳn thế giới thần linh với con người nên chưa
có tính cứu thế đầy đủ; sự gắn bó giữa cá nhân với cộng đồng làng xã dân tộctrong sinh hoạt tín ngưỡng còn mang tính tự nhiên, dân gian mà chưa hình
Trang 12thành giáo hội; nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán chưa thành quy ước chặtchẽ để ràng buộc cộng đồng như một giáo luật Trong khi Ngô Đức Thịnh đisâu vào mô tả một số loại hình tín ngưỡng tiêu biểu ở Việt Nam thì NguyễnThọ Khang nêu rất khái quát nhưng cả hai đều đồng quan điểm cho rằng một
số loại hình tín ngưỡng chủ yếu là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡngthờ thần như thần tài, tín ngưỡng thờ thành hoàng làng, tín ngưỡng nghềnghiệp như thờ tổ nghề, tín ngưỡng Đạo Mẫu Thông qua việc đi sâu vào tìmhiểu mối quan hệ giữa tín ngưỡng và trong sinh hoạt văn hóa dân gian (NgôĐức Thịnh) vớitrình bày đặc điểm lịch sử và giá trị văn hóa truyền thống chứađựng trong tín ngưỡng dân gian (Nguyễn Thọ Khang), hai tác giả đã cung cấpcái nhìn đa dạng cho người đọc về mối quan hệ giữa tín ngưỡng và văn hóatruyền thống Ngoài ra viết về chủ đề này còn phải kể đến một vài tác giả như
Hồ Bá Thâm với bài viết “Tín ngưỡng dân gian, một lĩnh vực trong đời sốngtâm linh cần sự quan tâm của toàn xã hội” “Các hình thái tín ngưỡng tôngiáo ở Việt Nam” của Nguyễn Đăng Duy
Nghiên cứu về tín ngưỡng ở Bắc Ninh, Nguyễn Quang Khải có bàiviết “Mối quan hệ giữa tín ngưỡng thờ thành hoàng làng với sự tồn tại củaphong tục tập quán và các loại hình văn hóa truyền thống ở nông thôn đồngbằng bắc bộ Việt Nam” in trong kỷ yếu hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ
bàn khác Bên cạnh đó cũng nói về chủ đề thành hoàng làng có bài viết “ Thầnlàng và thành hoàng” của Nguyễn Duy Hinh Nhìn chung, cả hai tác giả đều mô
tả khá cụ thể nguồn gốc ra đời, quá trình phát triển, các nghi lễ và thống kê một
số thành hoàng làng ở một số nơi Ngoài ra, Nguyễn Quang Khải đặt tín ngưỡngthờ thành hoàng làng và sự bề vững của phong tục tập
quán và các loại hình văn hóa dân gian của các làng Việt cổ trong mối quan
hệ qua lại với nhau và chú ý tìm ra khả năng chi phối và sự tác động qua lại
Trang 13giữa các yếu tố Theo tác giả, phong tục tập quán và sinh hoạt truyền thốngcủa làng phát triển xung quanh thành hoàng làng Ngược lại tín ngưỡngthành hoàng làng có tác dụng quy tụ cộng đồng để xây dựng khối đại đoàn kết
và giáo dục truyền thống “uống nước nhớ nguồn” trong cộng đồng làng xã
Nguyễn Đức Dũng với bài viết “Tôn giáo, tín ngưỡng ở làng nghề Đa
Sĩ (Hà Đông, Hà Nội) đã chỉ ra rằng Đa Sĩ là một ngôi làng Việt truyền thốngđiển hình với nhiều loại tín ngưỡng gồm phật giáo, đạo giáo, tổ nghề, tínngưỡng dân gian và thờ cúng tổ tiên thể hiện qua chùa, đình, miếu, quán, tổrèn, thành hoàng làng…Điều này phản ánh tư tưởng đa thần của cư dân lúanước nhưng chủ yếu mô tả đơn thuần mà không nói tới hoạt động, hành vi tínngưỡng tôn giáo cũng như mô tả chân dung người tham gia Còn Đinh KhắcThuân nói về khía cạnh “Sự thâm nhập của Nho giáo vào làng xã Việt Namqua tư liệu Hương ước” Nội dung chính của các hương ước người Việt cổtruyền thường tập trung ở một số điều khoản liên quan đến tế tự, cúng lễtrong làng và xác định rõ tôn ti trật tự; ngoài ra các điều khoản về bảo vệnông nghiệp mà thay vào đó là các điều khoản liên quan đến nghề thủ công vàkhuyến học
Nhìn dưới góc độ du lịch thì có bài viết “Tín ngưỡng dân gian vùngchâu thổ bắc bộ dưới góc nhìn du lịch học” của Nguyễn Anh Hoa Tác giảquan tâm tới các công trình kiến trúc cổ của đình, chùa, đền, miếu…Dưới gócnhìn của du lịch chủ yếu đi mô tả, giải thích sơ lược quá trình hình thành, nơithờ, nghi lễ và ý nghĩa của một số loại hình tín ngưỡng dân gian chủ yếu
3.2 Những nghiên cứu về hành vi tín ngưỡng, tôn giáo dưới góc độ xã hội học
Tác giả Lê Thị Chiêng với bài viết “ Điện thờ tư gia - một hình thứctín ngưỡng dân gian trong xã hội hiện đại (Khảo sát tại Hà Nội) ” và “ Sinhhhoạt tín ngưỡng tôn giáo nhìn từ một số điện thờ tư gia ở Hà Nội” Tác giả
Trang 14mô tả rất chi tiết về quá trình ra đời, các loại hình, tác động của điện tới tín
đồ, mục đích của người tới, mức độ niềm tin và hoạt động của các điện thờngoài hoạt động chung như tế lễ Trời- Đất vào các dịp đầu năm, dâng sao giảihạn…còn có những hoạt động cụ thể mang tính đặc trưng riêng của từng điện
và đề cập tới đội ngũ con nhang đệ tử nhưng chưa mô tả đầy đủ về chân dungcủa đội ngũ con nhang và bó hẹp trong phạm vi nội thành Hà Nội chưa mangtính đại diện cho sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo ở nông thôn
Viết về phật giáo có Luận án tiến sĩ “Nhận thức , thái độ, hành vi đốivới phật giáo của cộng đồng dân cư Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh” đượcTrần Văn Trình công bố năm 2004 và luận án tiến sĩ của Hoàng Thu Hương
“Cơ cấu nhân khẩu xã hội của những người đi lễ chùa ở nội thành Hà Nội” đãtập trung làm rõ đặc điểm nhân khẩu của người đi lễ chùa đồng thời làm rõ vềhành vi thực hành lễ nghi bao gồm đi chùa chiền, ăn chay niệm phật, cúng lễ,mua sắm hiến tặng các lễ vật, đóng góp công đức cho việc xây chùa, tham gia
từ thiện; các mục đích, động cơ đi chùa; địa điểm thể hiện đức tin; hành vi kếthôn và sự tham gia lễ hội giữa các nhóm tôn giáo; sự tham gia vào tổ chứcphật giáo Ngoài ra còn một số hành vi khác như cúng sao giải hạn, xem tử
vi, bói quẻ, gọi hồn…nhưng chỉ nghiên cứu trong phạm vi Phật giáo ở đô thịthể hiện qua ba thành phố điển hình đại diện cho ba miền chứ chưa mang tínhđại diện cho hành vi đối với Phật giáo ở nông thôn
Viết về hoạt động bói toán có “Bước đầu tìm hiểu về nghề bói toán ở
Hà Nội hiện nay” do nhóm tác giả Phạm Thị Hoài Nam và Trần Mạnh Dứcthực hiện năm 1998, Hoàng Thu Hương - Phạm Hương Giang (2011) “ Hoạtđộng bói toán: tương tác xã hội giữa người hành nghề với người đi xem bói.Nghiên cứu trường hợp thành phố Hải Phòng” in trong cuốn “ Những vấn đề
xã hội trong sự biến đổi xã hội” nghiên cứu bằng phương pháp xã hội học.Hai nghiên cứu này bổ sung cho nhau để tạo nên bức tranh hoàn chỉnh về
Trang 15chân dung người hành nghề và người đi xem trên góc độ tìm hiểu về độ tuổi,trình độ học vấn, giới tính Tuy nhiên cũng chỉ giống như những nghiên cứutrên, phạm vi của hai nghiên cứu này ở đô thị chưa mang tính đại diện chohành vi bói toán ở nông thôn.
Nhìn chung, các nghiên cứu xã hội học về tôn giáo, tín ngưỡng trongbối cảnh toàn cầu hóa, công nghiêp hóa - hiện đại hóa chủ yếu tập trung vàokhía cạnh đạo Phật, hoạt động bói toán, sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở các
đô thị, thành phố lớn mà không có những nghiên cứu về sự tham gia tínngưỡng, tôn giáo của người nông thôn nói chung, làng nghề nói riêng để xemhiện nay hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng của họ như thế nào Những nhân tốnào tác động đến sự tham gia các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo của ngườidân làng nghề
3.3 Những nghiên cứu về làng nghề dưới góc độ xã hội họ.
“Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề vùng đồng bằng sông hồnghiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại hai làng nghề ở huyện Thường Tín,thành phố Hà Nội)” - Nguyễn Ngọc Anh công bố năm 2014; Tô Duy Hợp vớinghiên cứu “ Thực trạng và xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội nông thôn đồngbằng Bắc bộ hiện nay” cho thấy trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóathì làng nghề ở nông thôn có sự biến đổi về cấu trúc xã hội , xuất hiện phântầng giàu, khá giả, trung bình, nghèo Trong làng nghề truyền thống có hộ làmnghề truyền thống, có hộ không, có hộ kết hợp giữa làm nông nghiệp vớinghề truyền thống, có mô hình gia đình nghề, công ty nghề Những sự biếnđổi này có thể dẫn đến những biến đổi trong đời sống văn hóa, tôn giáo tínngưỡng Tuy nhiên lại chưa có nghiên cứu xã hội học nào nghiên cứu về tínngưỡng tôn giáo làng nghề
Tóm lại từ tổng quan nghiên cứu vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo vànghiên cứu làng nghề cho thấy rằng các nghiên cứu về tôn giáo làng xã cũng
Trang 16nhiều nhưng mới chỉ là mô tả quá trình ra đời, phát triển và nội dung nghi lễ, sựthờ cúng đơn thuần, các kiểu cấu trúc nơi thờ của các loại hình tín ngưỡng, tôngiáo mà chưa mô tả được sự tham gia các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo củangười dân Dưới góc độ xã hội học cũng đã tiếp cận tới các hành vi bói toán,sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo qua góc nhìn điện thờ tư gia, hành vi đối với phậtgiáo nhưng mới tập trung nghiên cứu tại các đô thị lớn mà chưa quan tâm tớinông thôn nói chung, làng nghề nói riêng và càng chưa có bài viết nào đi sâuvào nghiên cứu hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của người dân ở cộng đồng làng
nghề cụ thể là làng nghề ở Bắc Ninh Vì vậy đề tài “Hành vi tín ngưỡng, tôn
giáo của người dân làng nghề ở Bắc Ninh (Nghiên cứu trường hợp làng Đông Xuất và Đông Bích, xã Đông Thọ, Huyện Yên Phong)” mang tính mới, thể hiện
ở việc nghiên cứu về sự tham gia các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo của ngườidân làng nghề và xem xét các yếu tố tác động đến sự tham gia các hình thức tínngưỡng, tôn giáo của người dân hai làng nghề nói trên
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ hành vi tín ngưỡng, tôn giáo của người dân tại hai làngnghề Đông Xuất và Đông Bích và các yếu tố tác động đến hành vi tínngưỡng, tôn giáo
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Mô tả đặc điểm người dân và hoạt động nghề nghiệp tại hai làng nghềĐông Xuất và Đông Bích, xã Đông Thọ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
Nhận diện các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo ở hai làng nghề ĐôngXuất và Đông Bích
Tìm hiểu các loại hành vi tín ngưỡng, tôn giáo trong gia đình, tronglàng và ngoài làng của người dân làng nghề Đông Xuất và Đông Bích
Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố cá nhân đến các hành vi tínngưỡng, tôn giáo của người dân làng nghề Đông Xuất và Đông Bích
Trang 175 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
6 Câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
Đặc điểm của người dân và hoạt động nghề nghiệp tại hai làng nghề Đông Xuất và Đông Bích như thế nào?
Hành vi tín ngưỡng, tôn giáo của người dân làng nghề Đông Xuất vàĐông Bích như thế nào? Có sự khác biệt về hành vi tín ngưỡng, tôn giáo củangười dân tại hai địa bàn hay không?
Những yếu tố nào tác động đến hành vi tín ngưỡng, tôn giáo của người dân làng nghề đông Xuất và Đông Bích?
Trang 186.2 Giả thuyết nghiên cứu
Người dân hai làng nghề chủ yếu là dân bản địa sống ở đây từ thờicha ông, chủ yếu là gia đình nhiều thành viên, có trình độ học vấn chủ yếu làTHPT trở xuống do hoạt động nghề nghiệp làng nghề không đòi hỏi học cao
Người dân làng nghề Đông Xuất và Đông Bích thực hiện nhiều hành
nghiệp khác nhau Bên cạnh đó, các yếu tố giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp cũng cónhững ảnh hưởng nhất định đến hành vi tín ngưỡng, tôn giáo của người dân
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu khái quát những vấn đềliên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài thông qua các nghiên cứu về tôngiáo, tín ngưỡng gắn với làng, những nghiên cứu về hành vi tôn giáo, tínngưỡng dưới góc độ xã hội học nói chungvà những nghiên cứu về làng nghềdưới góc độ xã hội học nói riêng Qua đó có được sự đối chiếu, so sánh nhằmlàm rõ nội dung nghiên cứu
7.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Trong nghiên cứu này, các phỏng vấn sâu thực hiện nhằm mục đíchtìm hiểu về đặc trưng hoạt động nghề nghiệp của người dân làng nghề, cáckiểu loại hành vi tín ngưỡng, tôn giáo và cũng như động cơ và mục đích củacác hành vi này của người dân hai làng nghề
Tổng số phỏng vấn sâu đã thực hiện: 12 phỏng vấn sâu Trong đóphỏng vấn 6 người dân làng nghề Đông Xuất gồm 3 nữ, 3 nam Phỏng vấnsâu 6 người dân làng nghề Đông Bích gồm 3 nữ, 3 nam Đối tượng đượcphỏng vấn bao gồm người làm nghề truyền thống của địa phương và khônglàm nghề truyền thống của địa phương
15
Trang 197.3 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Mục đích sử dụng phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi nhằm thuthập những thôn tin định lượng về vấn đề nghiên cứu Bảng hỏi được thiết kếgồm những câu hỏi liên quan đến vấn đề nghiên cứu liên quan đến thông tin
cá nhân, hoạt động nghề nghiệp và hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của ngườitrả lời Đối với đối tượng được phỏng vấn là người dân sinh sống trên địabàn làng nghề Đông Xuất và Đông Bích
Loại mẫu: mẫu ngẫu nhiên thuận tiện
Dung lượng mẫu: 220 phiếu Trong đó, làng nghề Đông Xuất là 110phiếu, làng nghề Đông Bích là 110 phiếu
Bảng cơ cấu mẫu:
Trang 20Những số liệu thu thập được từ phiếu hỏi sẽ được xử lý trên chươngtrình SPSS 16.0 for window Xử lý các tần suất, giá trị trung bình, tương quan,tiến hành kiểm định thống kê các tương quan so sánh giữa hai làng nghề.
16
Trang 217.4 Phương pháp quan sát
Trong nghiên cứu tôi sử dụng phương pháp quan sát nơi thờ tự, hành
Thời gian quan sát được chia làm hai giai đoạn chính: 1) Giai đoạnđiều tra thử: Quan sát diễn ra trong thời gian điều tra thực tế trước khi chọn
đề tài; 2) Giai đoạn phỏng vấn sâu cá nhân: Quan sát thái độ, hành vi củangười trả lời
Trang 22CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Khái niệm công cụ
1.1.1 Tôn giáo tín ngưỡng
Tôn giáo
“Tôn giáo thường được định nghĩa là niềm tin vào những gì siêu nhiên,thiêng liêng hay thần thánh, cũng như những đạo lý, lễ nghi, tục lệ và tổ chứcliên quan đến niềm tin đó Trong “Góp phần phê phán triết học pháp quyền củaHegels”, Mác viết: Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái timcủa thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tựkhông có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân, đây là khía cạnh tiêucực của tôn giáo gây cản trở biến đổi xã hội…Đối với xã hội học, Max Weber,đặc biệt quan tâm đến tôn giáo thông qua nghiên cứu của ông về “Đạo đức ĐạoTin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản” Theo ông tôn giáo gắn chặt vớiloại hình kinh tế, xem đây là mối quan hệ hữu cơ Còn đối với Emile Durkheim,ông lại tìm cách hiểu tôn giáo và con người bằng cách tìm hiểu “Những hìnhthức sơ đẳng của đời sống tôn giáo” Qua đó, ông nhận thấy tôn giáo là một hệthống cố kết của những niềm tin và các thực tiễn có liên quan đến các vật thiêng
” [14, tr.21] “Dukheim quan tâm tới vai trò của tôn giáo với tư cách là chứcnăng góp phần vào sự tích hợp xã hội Đây là nền tảng cho sự xuất hiện lý thuyếtchức năng về tôn giáo… Định nghĩa theo lối tiếp cận tôn giáo làm gì Lenski
(1963) định nghĩa “Tôn giáo là một hệ thống tín ngưỡng về các thế lực tự nhiên
sắp đặt số phận của con người và các hoạt động liên quan tới điều đó, được chia sẻ bởi các thành viên trong nhóm (trích theo Alan Aldridge, 2000:26) Theo
Yinger 1970: “Tôn giáo là một hệ thống các niềm tin và thực hành thông qua
các công cụ mà qua đó con người đấu tranh với những vấn đề cơ bản của con người” (trích theo Alan aldridge, 2000:26) Nhìn chung các định nghĩa theo chức
năng đã xem xét tôn giáo có
Trang 23chức năng bộc lộ và tạo nên các giá trị và khế ước xã hôi để duy trì xã hội Dovậy các định nghĩa này bị phê phán vì quá rộng Do vậy các định nghĩa này bịphê phán quá rộng…Định nghĩa theo lối tiếp cận tôn giáo là gì thì Sprio (1966)cho rằng tôn giáo là “Một thể chế gồm các tương tác theo khuôn mẫu văn hóavới bản chất siêu phàm theo mô hình văn hóa” Điểm chung của các định nghãbản thể là thường nhấn mạnh tới các yếu tố như siêu nhiên, siêu kinh nghiệm,siêu phàm Nhóm định nghĩa này bị phê phán vì nhấn mạnh tới yếu tố niềm tin,
ít đè cập tới khía cạnh thực hành và quá tập trung vào yếu tố siêu nhiên, siêuphàm Những quan niệm về cái thiêng, đấng siêu nhiên thích hợp với văn hóaPhương Tây và không phải lúc nào cũng phù hợp với văn hóa ngoài PhươngTây… Định nghĩa của E.Durkheim thể hiện được sự kết hợp của hai định lối
nghĩa này: “Một tôn giáo là một hệ thống có tính chất gắn bó của những niềm
tin và những thực hành liên quan đến những điều linh thiêng, nghĩa là được tách biệt, cấm đoán; những niềm tin và thực hành gắn bó tất cả những ai gia nhập vào một cộng đồng gọi là Giáo hội” (Nguyễn Quý Thanh (cb), 2011: 166).
Trong định nghĩa này E Durkheim đã chỉ ra thành tố cơ bản cấu thành nên tôngiáo đó chính là niềm tin vào nghi lễ gắn liền với cái thiêng, đồng thời chứcnăng của tôn giáo là tạo nên sự cố kết xã hội” [22,tr.1-2]
Tín ngưỡng
Ngô Đức Thịnh đưa ra quan điểm rõ ràng hơn: “Tín ngưỡng đượchiểu là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên,hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái
“trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được Có nhiều loại niềmtin, nhưng ở đây là niềm tin của tín ngưỡng là niềm tin vào “cái thiêng” Dovậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tố
cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng như giống đời sống vậtchất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm ” [37,tr.16]
Trang 24Đặng Nghiêm Vạn cho rằng “Trong tín ngưỡng phải có yếu tố thiêng
liêng liên quan đến một thế giới vô hình, đến những siêu linh, mà chính con người tưởng tượng và sáng tạo ra nó” [40,tr.67]
Tín ngưỡng là một hình thái ý thức xã hội, là một nhu cầu của xã hội
và “một khi những nhu cầu ấy chưa được những hình thái của ý thức xã hộihoàn toàn thỏa mãn thì đối với một số tầng lớp xã hội, tôn giáo - tín ngưỡngvẫn là nguồn gốc của giá trị, niềm an ủi, sự nâng đỡ về tâm lý…” [35, tr.12]
Tín ngưỡng tôn giáo
Trong nghiên cứu này chúng tôi không nghiên cứu tôn giáo là một tôn giáo độc lập mà nghiên cứu với tính chất thực hành tín ngưỡng tôn giáo
và chúng tôi hiểu tín ngưỡng tôn giáo là niềm tin và nghi lễ của con ngườigắn với “cái thiêng”, có chức năng cố kết xã hội; là một nhu cầu của xã hội,một khi những nhu cầu ấy chưa được những hình thái của ý thức xã hội hoàntoàn thỏa mãn thì đối với một số tầng lớp xã hội, tôn giáo - tín ngưỡng vẫn lànguồn gốc của giá trị, niềm an ủi, sự nâng đỡ về tâm lý cùng hướng về cáithiện, sự tốt đẹp
1.1.2 Hành vi tín ngưỡng, tôn giáo
Về khái niệm hành vi thì theo cách hiểu lý thuyết hành vi chính thống
thì hành vi của con người là những phản ứng quan sát được sau tác nhân[10,tr.132]
Về khái niệm hành vi tôn giáo thì theo tác giả Lê Thanh Hà (2013) với
bài viết “Các hành vi tôn giáo (Nghi lễ)” cho rằng hành vi tôn giáo được hiểu
là sự thờ cúng (nghi lễ)
Bất kỳ tôn giáo nào muốn tồn tại phải có những hành vi thờ cúng vàhành vi này liên quan đến niềm tin, giáo lý và được thực hiện bởi các chứcsắc, những người làm nghi lễ tôn giáo chuyên nghiệp hoặc tự thực hiện dưới
sự chỉ dẫn của một nguyên lý và nội dung nhất định
Trang 25Theo tác giả hành vi thờ cúng có thể được thực hiện bằng tự cá nhânhoặc dưới hình thức cộng đồng Những hành vi tôn giáo đó thường được gọi lànghi lễ hay lễ thức Nghi lễ là mối quan hệ của các thực thể ở thế giới bên kiavới cuộc sống trần gian của của cộng đồng và cá nhân, nó làm cho nội dung giáo
lý tôn giáo trở nên sống động, phổ quát qua thực hành hành vi tôn giáo
Cần phân biệt rõ ràng giữa 2 loại nghi lễ: Nghi lễ tôn giáo và nghi lễthế tục cho dù trong thực tế có lúc khó mà phân biệt rạch ròi giữa hai loạinghi lễ này Tuy nhiên những nghi lễ tôn giáo thường đi song song với mộthành vi thế tục như sự ra đời, sự trưởng thành, sự chết chóc hay những tainạn, thiên tai…
Nghi lễ có tầm quan trọng rất lớn đối với các tín đồ Nếu huyền thoạihay giáo lý thu hút con người ta bằng lời thì nghi lễ làm phong phú thêm lờinói bằng những hành vi tạo ra một trường tôn giáo - một ngôn ngữ hành động
nhằm tạo nên một tập quán ăn sâu vào tâm thức tôn giáo của các thành viên trongcộng đồng - một cộng đồng thống nhất và sống động
Có nhiều loại nghi lễ nhưng có thể chia thành 3 loại sau:
được các tôn giáo tổ chức theo tháng, hàng năm, theo chu kỳ 10 năm, 12 năm,
100 năm…
liên quan đến những thời kỳ chuyển tiếp của đời một con người Những nghi lễnày có khi công khai nhưng cũng có những nghi lễ được tiến hành bí mật trongmột nhóm người của một tôn giáo hoặc chỉ riêng với các tín đồ của một tôn giáo
đích giáo dục các tín đồ hay chức sắc am hiểu giáo lý, tuân thủ giáo luật, giữ gìnphẩm chất đạo đức theo mục đích của đạo
21
Trang 26Các biểu hiện của nghi lễ là cầu nguyện/ cầu xin/ khấn lễ, sự kiêng
cữ, lễ hội
Cầu nguyện là hình thức cơ bản nhất diễn ra do sự thúc ép của bảnthân hay theo quy định của từng tôn giáo, là hành vi thông thường, phổ biếncủa bất kỳ một tôn giáo nào với tư cách cá nhân hay cộng đồng Một số tôngiáo, trong khi cầu nguyện còn kèm theo việc dâng lễ vật, thậm chí hiến sinh,
có tôn giáo khi cầu nguyện còn đi đôi với những hành vi khắc kỷ, những hànhđộng hành xác hay kiêng cữ nhằm biểu lộ đức tin
Kiêng cữ là việc con người không được làm điều gì khác với lệ tụcquy định Những kiêng cữ này có thể là sự kiêng cữ đối với các lễ vật, thức ănmang tính nghi lễ, đối với những người được coi là thiêng liêng Một sốkiêng cữ được áp dụng trong thời kỳ lễ hội hay trong các nghi lễ, có khi trong
cả đời thường Những sự kiêng cữ này rất đa dạng và liên quan đến hầu hếtđến các lĩnh vực trong đời sống con người Kiêng cữ là một bộ phận của hành
vi tôn giáo và trong đó có nhiều biểu hiện lạc hậu, gần đây đã dần dần mất đi
“Lễ hội là hoạt động quan trọng trong đời sống tôn giáo Có thể nóirằng nếu không có thờ cúng, không có lễ hội thì không có tôn giáo Lễ hộitrước hết là sự lặp đi lặp lại trong cộng đồng nhằm khơi dậy niềm tin, gợi lêncho từng cá nhân thấy rằng mình thuộc về một cộng đồng tôn giáo hay một xãhội nhất định Lễ hội làm cho con người thấy rằng mình không lẻ loi, thấymình được sự đùm bọc và che chở của cộng đồng Lễ hội có khi còn gắn vớihành hương Không một tôn giáo nào lại không có một vài nơi thiêng mà cáctín đồ muốn được đến đó, chí ít là một lần trong đời Có thể coi đây là mộthình thức tổng hợp hoàn thiện nhất của hành vi tôn giáo” [47,tr.1]
Theo Trần Đăng Sinh thì “thờ là yếu tố thuộc ý thức về tổ tiên, là tìnhcảm biết ơn, tưởng nhớ, hướng về cội nguồn, quá khứ Thờ: đây có lẽ là từthuần Việt cổ nhất Thờ có ý bao hàm một hành động biểu thị sự sùng kính
Trang 27một đấng siêu linh: thần thánh, tổ tiên… đồng thời có ý nghĩa như cách ứng
xử với bề trên cho phải đạo như thờ vua, thờ cha mẹ, thờ thầy hay một ngườinào đó mà mình mang ơn Cúng là yếu tố mang tính nghi lễ, là sự thực hànhmột loạt động tác (khấn, vái, quì, lạy ) của người gia trưởng, tộc trưởng Đó
là hoạt động dưới dạng hành lễ và được qui định bởi quan niệm, phong tục,tập quán của mỗi cộng đồng, dân tộc Thờ và cúng là hai yếu tố có tác độngqua lại và tạo nên chỉnh thể riêng biệt - đó là sự thờ phụng tổ tiên Sự “thờ”,
“tôn thờ” là nội dung, còn hoạt động cúng” là hình thức biểu đạt của nội dungthờ cúng.Ý thức tôn thờ, thành kính, biết ơn, tưởng nhớ, hy vọng sự trợ giúpcủa tổ tiên là nội dung cốt lõi, là cái chủ yếu khiến sự thờ phụng tổ tiên thànhtín ngưỡng thờ cúng tổ tiên” [45,tr.1]
Tóm lại trong nghiên cứu này, như đã đề cập đến trong mục 1.1.1
khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo về cách hiểu về tín ngưỡng, tôn giáo là niềmtin và nghi lễ của con người gắn với “cái thiêng”, có chức năng cố kết xã hội;
là một nhu cầu của xã hội, một khi những nhu cầu ấy chưa được những hìnhthái của ý thức xã hội hoàn toàn thỏa mãn thì đối với một số tầng lớp xã hội,tôn giáo - tín ngưỡng vẫn là nguồn gốc của giá trị, niềm an ủi, sự nâng đỡ vềtâm lý cùng hướng về cái thiện, sự tốt đẹp, chúng tôi hiểu hành vi tínngưỡng, tôn giáo ở đây chính là sự thực hành tín ngưỡng tôn giáo, là sự thờcúng (nghi lễ) thông qua các hoạt động cúng bái, sự thờ, tôn thờ (sự thực hànhmột loạt các động tác khấn, vái, quỳ, lạy) được thực hiện bằng tự cá nhân haydưới hình thức cộng đồng, là hình thức biểu đạt của ý thức tôn thờ, thànhkính, biết ơn, tưởng nhớ, hy vọng sự trợ giúp từ đấng siêu nhiên, là nghi thứckhi hành lễ, hội đủ các yếu tố mang tính văn hóa tâm linh mà biểu hiện của nóbao gồm cầu nguyện, kiêng cữ và lễ hội được các tín ngưỡng, tôn giáo tổchức theo chu kỳ thời gian, chu kỳ đời người hoặc nghi lễ riêng của từng tôngiáo Một cách cụ thể hơn, trong nghiên cứu này hành vi tín ngưỡng, tôn giáo
Trang 28của người dân hai làng nghề được xem xét bao gồm các loại hành vi, tínngưỡng trong gia đình; hành vi tín ngưỡng, tôn giáo trong cộng đồng làng;hành vi tín ngưỡng, tôn giáo ngoài cộng đồng làng Đó là các hành vi thờcúng tổ tiên; thờ tổ nghề; lễ thành hoàng làng; lễ chùa; lễ đền, phủ; hành vixem bói; hành vi hầu đồng.
1.1.3 Làng nghề
“Khái niệm làng nghề là một khái niệm đã có từ lâu đời phân biệt vớiphường hội ở khu vực đô thị mà đặc điểm nổi bật nhất là trình độ và côngnghệ làng nghề ở khu vực nông thôn vẫn mang nặng hoạt động thủ công vàgắn với sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, để có một khái niệm đầy đủ về làngnghề cần thống nhất một số quan điểm sau: Một làng được gọi là làng nghềkhi hội tụ 2 điều kiện sau:
nhập của làng” [34,tr.3]
Dưới góc độ văn hóa “Làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa màcũng có nghĩa là nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, kỷ cương tậpquán riêng theo nghĩa rộng Làng nghề không những là làng sống chuyênnghề mà cũng hàm ý là người cùng nghề sống hợp quần để phát triển công ănviệc làm Cở sở vững chắc của làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể , vừa pháttriển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương”[33,tr.9]
Trong luận văn này chúng tôi sử dụng khái niệm làng nghề là một thiếtchế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được tạo bởi hai yếu tố làng và nghề, cùngtồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ giađình sinh sống từ nguồn thu chủ yếu từ nghề thủ công Họ vừa phát triển kinh
tế vừa giữ gìn văn hóa địa phương
Trang 291.2 Các lý thuyết áp dụng
1.2.1 Lý thuyết trao đổi
Quan điểm nghiên cứu của trường phái này cho rằng con người luônhành động một cách duy lý với sự tính toán về mối quan hệ giữa cái được (lợiích thu về) và cái mất ( chi phí bỏ ra) Các chủ thể hành động luôn cố gắng cóđược lợi ích nhiều nhất với chi phí bỏ ra nhỏ nhất khi hành động Lợi ích ởđây không chỉ là các giá trị vật chất mà còn là giá trị tinh thần như cảm xúc,biểu trưng
Lý thuyết trao đổi hiện đại dựa trên một số giả định chính như sự tínhtoán của chủ thể hành động về mối quan hệ giữa cái được và cái mất khi thựchiện hành động Chủ thể hành động luôn cố gắng có được lợi ích nhiều nhấtvới chi phí nhỏ nhất khi hành động Lợi ích ở đây không chỉ là giá trị vật chất
mà còn là giá trị tinh thần như cảm xúc, biểu trưng…Lý thuyết trao đổi đượccác nhà tôn giáo vận dụng để nghiên cứu các vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo nhưJames George Fraze, Malinowski, Claude Lesvi strauss…
Vào những năm 1980 nhà xã hội học như Rodney Stark (sinh năm1934) và william Sims Bain bridge (sinh năm 1940) đã vận dụng lý thuyếttrao đổi vào nghiên cứu tôn giáo cho rằng tôn giáo nhằm thỏa mãn những ướcmuốn hay chúng đưa ra những phần thưởng bảo đảm Những phần thưởng
có thể là những sự vật cụ thể hoặc không tồn tại, trong trường hợp đó tôngiáo giải thích rằng con người sẽ đạt được nó trong một tương lai xa hoặcmột hoàn cảnh mà không giải thích được Tôn giáo giải thích cho con ngườinhững phần thưởng , lý do và cách thức có được phần thưởng cũng như chiphí phải bỏ ra để có được phần thưởng đó [13,tr.19-20]
Thuyết lựa chọn duy lý dựa vào tiền đề cho rằng con người hoạchđịnh hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng cácnguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu
Trang 30Thuyết này lý giải hành vi của người tham gia tín ngưỡng, tôn giáo.Các cá nhân tham gia hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo là có chủ đích mongmỏi thực hiện hành vi đó để mang lại điều lợi cho bản thân, đồng thời xemxét xem chi phí họ bỏ ra cho những phần thưởng đó là gì?
Hành động xã hội là một bộ phận cấu thành trong hoạt động sống của
cá nhân Hành động xã hội bị quy địnhbởi hàng loạt các yếu tố như: lợi ích,nhu cầu, định hướng giá trị của chủ thể hành động
Hành động xã hội gồm 4 loại:
nhắc tính toán lựa chọn công cụ, phương tiện, mục đích sao cho có
hiệu quả nhất
- Hành động duy lý giá trị: là hành động được thực hiện vì bản thânhành động (mục đích tự thân) Thực chất loại hành động này có thể nằm ở nhữngmục đích phi lý nhưng lại được thực hiện bằng những hành động duy lý
tình cảm bột phát gây ra mà không có sự cân nhắc xem xét phân tích mối quan hệgiữa công cụ và phương tiện và mục đích hành động
thói quen, nghi lễ, phong tục, tập quán truyền từ đời này sang đời khác” [9,tr.199-200]
Trang 31Như vậy, vận dụng lý thuyết vào nghiên cứu sẽ cho thấy hành vi tínngưỡng, tôn giáo có một đặc tính của hành vi ruyền thống và duy lý giá trị,đồng thời thuyết này giúp phân tích nguyên nhân, động cơ tạo thúc đẩy nênhành vi tín ngưỡng, tôn giáo của các cá nhân.
1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo
“Trong mỗi một thời kỳ, Đảng và nhà nước lại có những đường lối,chính sách cụ thể phù hợp với từng giai đoạn Vào năm 1945, trước khi cóbản Hiến pháp đầu tiên, Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa đã rasắc lệnh đầu tiên về tôn giáo Sắc lệnh này thể hiện sự tôn trọng các tôn giáocủa chính phủ Việt Nam Từ sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay,nước ta đã có 4 Hiến pháp (năm 1946, 1959, 1980 và năm 1992), trong đó
Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đã khẳng định “quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của công dân” là một trong 5 quyền cơ bản của công dân Việt Nam.
Điều này được thể hiện rõ hơn trong hai bản hiến pháp năm 1959, 1980 Đến
hiến pháp năm 1992 đã được bổ sung làm rõ “Công dân Việt Nam có quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo tôn giáo nào Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước (Điều 70).
Trong suốt giai đoạn từ 1945 cho đến 1986 chỉ có 4 văn bản chính bàn
về vấn đề tôn giáo (26/3/1955) thông qua 6 nguyên tắc về chính sách bảo đảm
tự do tín ngưỡng; Sắc lệnh 223 (14/6/1955) quy định về đảm bảo quyền tự dotín ngưỡng, về các hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa của tôn giáo, về vấn đềruộng đất của tôn giáo và về mối quan hệ giữa chính quyền nhân dân và cáctôn giáo; Thông tư 593/TTg của Thủ tướng chính phủ (10/12/1957) về chủtrương đối với các trường hợp của các tôn giáo và Thông tư 60/TTg(11/6/1964) bổ sung cho thông tư 593/TTg về việc thi hành chính sách tôn
Trang 32giáo Các văn bản này có vai trò định hướng chung cho các hoạt động tínngưỡng, tôn giáo.
Từ năm 1986 cho đến nay, số lượng các văn bản chính sách liên quanđến tôn giáo tăng lên rất nhiều so với thời kỳ trước đó Trong đó phải kể đếnNghị quyết 24 của Bộ chính trị (năm 1990), Nghị định 59-HĐBT (1991), Nghịđịnh 69/HĐBT (1991), chỉ thị 379 (1993) của Thủ tướng chính phủ và chỉ thị
37/CT/TW (2/7/1998) Trong đó, nghị quyết 24 của Bộ chính trị đã đánh dấu sự
chuyển biến về nhận thức của Đảng về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo Theo đó xác
định “Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu
tinh thần của 1 bộ phận nhân dân Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới” Năm 1998, Bộ chính trị đã ra Chỉ thị số 37/CT/
TW (2/7/1998) về công tác tôn giáo trong tình hình mới khẳng định “Hoạt động
tôn giáo ích nước, lợi dân, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích chính đáng, hợp pháp của tín đồ được bảo đảm, những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo được tôn trọng và phát huy” Đến Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa IX đã nhấn mạnh “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần
của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta…Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật”.
Nhận thức được vai trò của tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống xã hội,quán triệt nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 khóa
IX, năm 2004, Quốc hội chính thức thông qua Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo(18/6/2004) Pháp lệnh đã khẳng định quan điểm nhất quán về tôn giáo của Đảng
và nhà nước ta, đồng thời là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiệnpháp luật về tôn giáo, thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách về tínngưỡng, tôn giáo của Đảng và nhà nước ta Điều đáng chú ý trong Pháp lệnhnày đã dành riêng điều 3 quy định cách hiểu về một số từ ngữ như: hoạt động tínngưỡng, cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, hoạt động tôn giáo,
Trang 33hội đoàn tôn giáo, cơ sở tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc Điều này tạo
sự thống nhất về cách hiểu đối với các cụm từ này, góp phần cho việc thựchiện các quan điểm của Pháp lệnh hiệu quả hơn” [14, tr.27- 29]
Đề tài này góp phần cắt nghĩa những tác động của chính sách cũngnhư làm rõ hơn một số hoạt động là hành vi tôn giáo tín ngưỡng
1.4 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
Xã Đông Thọ là đầu ngõ của huyện Yện Phong, nằm trên đường tỉnh
lộ 295, phía bắc và tây giáp thị trấn Chờ, phía tây và nam giáp thị xã Từ Sơn,phía nam giáp xã Văn Môn - là một xã phát triển về kinh doanh buôn bán vàtiếp giáp với Hà Nội đã mang lại nhiều cơ hội kinh doanh cho dân cư trong
xã, tại địa bàn xã có con sông Ngũ Huyện khê chảy qua mang lại nhiều điềukiện thuận lợi cho phát triển kinh tế của xã Toàn xã có 7 thôn, tổng diện tíchđất tự nhiên 547,77 Ha, diện tích đất canh tác: 259 Ha, 1.897 hộ dân và 7.708nhân khẩu Là địa phương có diện tích thu hồi đất nông nghiệp lớn cho pháttriển công nghiệp, Đảng ủy, chính quyền đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh chănnuôi, trồng trọt với các giống có năng suất chất lượng cao Trồng trọt :Tổngdiện tích canh tác : 259 ha Tổng diện tích gieotrồng: 570 ha, hệ số sử dụngđất 2,2 lần Về chăn nuôi thì tổng đàn trâu bò: 269 con Tổng đàn lợn: 1912con trong đó lợn lái sinh sản = 195 con Phát triển chăn nuôi theo hướng tăngđàn lợn, đàn bò, giảm đàn trâu phấn đấu tổng đàn lợn có tỷ lệ nạc cao chiếmtrên 80% Là xã có diện tích thu hồi đất cao, chính quyền và nhân dân đã chủđộng tiếp thu, tiếp nhận có lựa chọn nghề mới vào địa phương tạo việc làm
ổn định cho hàng 1.000 lao động Công tác xoá đói giảm nghèo qua tổng điềutra xác định: hộ khá, giầu: 1.331 hộ chiếm 72,5 %, hộ trung bình 467 hộ,chiếm 25.6 %,hộ nghèo: 37 hộ chiếm 1,95% Xã đã có hệ thống giao thôngthủy lợi đến cơ sở thôn, 2 trường mầm non, 1 trường tiểu học, 1 trường trunghọc cơ sở, có 100% các hộ được sử dụng điện sinh hoạt, 100% hộ được sửdụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh Tỷ lệ phát triển kinh tế tự nhiên nửa đầu
Trang 34năm 2016 bằng 3,08% Tỷ lệ suy dinh dưỡng dưới 15% Lực lượng lao độngdồi dào, là một địa phương có nghề truyền thống nhưng tay nghề lao độngcòn chưa cao, chưa tạo ra được nhiều sản phẩm đáp ứng được nhu cầu xuấtkhẩu Các công trình phúc lợi xã hội của xã đều được kiên cố hóa, 100%đường làng, xã được bê tông Hiện Với sự đầu tư của nhà nước và nhân dânđịa phương, Đông Thọ đang xây dựng bãi tập kết rác thải và Trạm xử lýnước sạch sinh hoạt, qua đó cùng các thôn trong xã Đông Thọ xây dựng môhình nông thôn mới [42, tr.1] Quá trình nghiên cứu thì kết quả nghiên cứucho thấy dân cư sống trong vùng chủ yếu là dân gốc, có một số ít là thànhphần nhập cư từ nơi khác Hộ gia đình sống tập trung chủ yếu 2,3 thế hệ.
Việc phát triển nhiều nghề thủ công truyền thống, đã thu hút nhiều laođộng ngày nông nhàn, tạo ra nguồn kinh tế thịnh vượng cho thôn xóm Xét vềmặt xã hội, nghề thủ công ngoài việc tạo ra nguồn kinh tế cho thôn xóm, nó còntạo ra nhiều giá trị văn hóa làng xã, biểu hiện trong tập tục, lề lối ăn ở cho ngườidân tại mỗi địa phương Làng xóm nào có nghề thủ công sớm phát triển, thì nơi
đó lại là những vùng quê văn hiến Từ xa xưa, sản phẩm thủ công, không chỉ đạt
ý nghĩa tự cung tự cấp cho người dân địa phương, nó còn là hàng hóa để đemtrao đổi nông lâm sản vùng này vùng kia, thu về tiền bạc đáng kể khi được xuất
đi ngoại tỉnh và nước ngoài Khi bước sang cơ chế thị trường, ngành sản xuấtthủ công không tránh khỏi lúng túng Không ít làng nghề truyền thống khôngtheo kịp sự chuyển đổi khốc liệt này, trong đó có làng nghề cày bừa Đông Xuất.Làng nằm ở vị trí trung tâm của xã, giữa làng Thọ Vuông với làng Trung Bạn.Giờ đây về Đông Xuất không còn thấy cảnh các thợ thủ công đục, gọt tay càytay bừa, mà thay vào đó là những xưởng sản xuất đồ mộc dân dụng thu hút cảchục lao động của địa phương Người dân ở đây chủ yếu là sản xuất hàng thủcông mỹ nghệ và đồ mộc xây dựng như bàn ghế các loại, cầu thang, thớt, xẻ gỗthuê… Bên cạnh đó là một số hộ vẫn sống dựa vào nghề nông và nghề khác Tuynhiên, làng vẫn giữ được hội của
Trang 35phường cày bừa Hội giỗ tổ nghề cày bừa được tổ chức vào 2-2 âm lịch hàngnăm Ngày ấy, cả làng ăn uống và tổ chức vui chơi tế lễ [49,tr.1] Làng nằm ởtrung tâm của xã, có trên 390 hộ, dân số vào khoảng hơn gần 2000 nhân khẩusinh sống, khoảng 70% hộ gia đình làm nghề mộc Sản phẩm mộc ở đây mộtphần bán phục vụ hàng nội địa trong nước còn chủ yếu là bán sang TrungQuốc Từ việc phát triển nghề mộc, đời sống kinh tế của các hộ dân đã dầnđược phát triển, số hộ giàu tăng, số hộ nghèo giảm [42,tr.1].
Xuôi theo dòng phát triển của đời sống kinh tế có những nghề lụi đilại có những nghề mới mọc lên để đáp ứng nhu cầu xã hội, trong đó có nghềlàm tóc Ở xã Đông Thọ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh có làng Đông Bích
là làng nghề làm tóc mới xuất hiện và phát triển mạnh trong những năm gầnđây “Nghề buôn tóc hình thành ở Đông Bích từ năm 1998, sau khi nghề thugom lông gà lông vịt dần biến mất Lúc đầu chỉ một vài hộ đi mua tóc ở cácvùng lân cận về bán cho chủ thu gom tóc ở thành phố Bắc Ninh, Hà Nội Saunày, thấy nghề thu mua tóc có lãi, lại học được ít cách làm hàng tóc củangười Trung Quốc người dân làng Đông Bích chuyển hẳn sang nghề làmtóc Khách hàng mua lại tóc của làng là người các nước Thái Lan, TrungQuốc, Malaysia… nhưng chủ yếu là người Trung Quốc, họ đến tận làng thumua đem về nước để sản xuất tóc giả, tóc nối, râu giả, bàn chải tóc”[46,47,tr.1] Theo tư liệu của xã và kết quả nghiên cứu thì hiện nay làng cókhoảng 300 hộ dân xấp xỉ 1400 nhân khẩu thì gần 100% hộ gia đình có nghềlàm tóc, chỉ trừ 8 hộ có người tật nguyền, mất sức lao động là không làmnghề cũng là 8 hộ nghèo trong làng [42,tr.1] Từ người già đến đến trẻ em,đều bận rộn với việc phân loại tóc, cánh đàn ông thì chia nhau tới các tỉnhthành xa để thu mua Bên cạnh đó làng còn xuất hiện nghề làm mộc do lan tỏa
từ thị xã Từ Sơn bên cạnh
Đây là hai làng nghề với với hai bức tranh rất khác biệt Một làngnghề cũ đang chuyển mình sống dậy bằng nghề mộc tận dụng từ nghề truyền
Trang 36thống của cha ông và một làng nghề mới được người dân nơi đây tìm tòi vàkhai phá học hỏi từ nơi khác do quá trình mưu sinh mang về mà thành nghề
Tóm lại đây là một trong những địa bàn nông thôn điển hình xung
quanh khu vực Hà Nội đang bị ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa hiệnđại hóa Đặc biệt tại địa bàn có thôn Đông Xuất là làng nghề cổ đẽo cày bừa
bị mai một do hiện nay người dân đã có máy cày để làm nông nghiệp chứkhông dùng cày truyền thống nữa Bên cạnh đó trong bối cảnh biến đổi kinh
tế xã hội thì hình thành một làng nghề mới trong xã là nghề làm tóc tại thônĐông Bích Tôi muốn tìm hiểu một bức tranh tổng quan về hành vi tínngưỡng, tôn giáo của người dân làng nghề ở Bắc Ninh bao gồm cả người dân
có cái nhìn nhiều chiều và toàn diện và những nhân tố tác động đến hành vi đótrong bối cảnh toàn cầu hóa, công nghiệp hóa hiện đại hóa Đó là lý do tôi chọnthôn Đông Xuất và Đông Bích xã Đông Thọ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
Từ việc quan tâm đến nghề nghiệp mà tôi chọn địa bàn nghiên cứu nên dưới đâytôi sẽ đi sâu vào tìm hiểu hoạt động nghề nghiệp của người dân nơi đây dưới góc
độ nghề nghiệp gia đình và nghề nghiệp cá nhân
Trang 37CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGƯỜI DÂN LÀNG NGHỀ ĐÔNG XUẤT
VÀ ĐÔNG BÍCH: ĐẶC ĐIỂM VÀ HÀNH VI THỜ CÚNG TRONG GIA
ĐÌNH
Từ khi bắt đầu xuất hiện nghề nghiệp ở làng nghề Đông Xuất đến hiệntại thì nghề truyền thống của địa phương không duy trì liên tục mà đã trải quaquãng thời gian thay đổi, người dân chuyển sang làm các loại nghề nghiệpkhác và lấy nông nghiệp làm nguồn thu chính Cùng với sự biến đổi của xãhội , nghề nghiệp của người dân cũng biến đổi chophù hợp, hiện nay ngườidân làng nghề Đông Xuất đã quay lại với nghề mộc nhưng chuyển sang làmcác mặt hàng đồ gỗ dân dụng để phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng.Cùng với sự biến đổi nghề nghiệp thì hành vi tín ngưỡng tôn giáo cũng biếnđổi theo Còn làng Đông Bích từ chỗ là làng thuần nông trở thành làng nghềmới thì hành vi tin ngưỡng tôn giáo của người dân nơi đây cũng đã có sựthay đổi Điều này nhấn mạnh rằng yếu tố nghề nghiệp có sự ảnh hưởng rấtlớn đối với hành vi tín ngưỡng tôn giáo nên chúng tôi đặt đặc điểm ngườidân và đặc biệt là đặc điểm nghề nghiệp là một chương của đề tài
2.1 Đặc điểm hộ gia đình làng nghề Đông Xuất và Đông Bích
2.1.1 Quy mô gia đình
Trong các nghiên cứu về gia đình thì quy mô gia đình là một trongnhững yếu tố cơ bản thường được xem xét Trong nghiên cứu này, quy môgia đình được đánh giá qua số người chung sống trong một hộ gia đình và sốthế hệ sống chung một hộ Kết quả khảo sát thu được như sau:
Trang 38Bảng 2.1: Đặc điểm quy mô hộ gia đình của hai làng nghề
Đông Xuất và Đông Bích
có 2 thành viên, trung bình một hộ có 4,56 thành viên (SD= 1,272) Vớilượng nhân khẩu này có xu hướng rơi vào gia đình gồm 2 -3 thế hệ Đồngthời lượng nhân khẩu đông đáp ứng phù hợp với đặc trưng nghề nghiệp tạiđịa phương cần nhiều lao động Phần lớn người dân còn có tư tưởng sinhnhiều con cho vui nhà vui cửa, cho có anh có em, đồng thời tăng lực lượnglao động cho gia đình Đặc biệt quan niệm cố sinh con trai khiến cho một số
hộ mặc dù là gia đình hạt nhân 2 thế hệ nhưng lượng nhân khẩu lại khá đông.Gia đình 3 thế hệ (gia đình mở rộng) thường được coi là gia đình truyềnthống liên quan tới dạng gia đình trong quá khứ Ngày nay, dạng gia đình nàythường gồm cặp vợ chồng, con cái của họ và bố mẹ của họ nữa và quyềnhành không ở trong tay của người lớn tuổi nhất Gia đình 2 thế hệ là nhómngười thể hiện mối quan hệ của chồng và vợ với các con, hay cũng là mối
Trang 3934
Trang 40Thật vậy, khảo sát cho thấy hộ gia đình ở hai làng nghề sống tập trungchủ yếu 2 hoặc 3 thế hệ Khi xét tương quan hai làng thì làng nghề ĐôngXuất và Đông Bích đều có tỷ lệ gia đình 2 thế hệ cao tương đương nhau(66,4% với 67,3%) Nhóm gia đình chiếm tỷ lệ cao thứ hai là nhóm gia đình 3thế hệ và làng nghề Đông Xuất có tỷ lệ nhóm này cao hơn gấp 2 lần làng nghềĐông Bích (30,9% với 12,7%) Điều này cho thấy làng nghề Đông Bích hiệntại và tương lai có xu hướng mở rộng gia đình hạt nhân làm loại gia đình phổbiển còn làng nghề Đông Xuất tuy đã có hơi hướng bắt theo thời đại mở rộnggia đình hạt nhân Tuy nhiên một lượng gia đình mở rộng bao gồm ông bà,
bố mẹ và con cái vẫ còn khá lớn
Nói về điều này một người dân cho biết: “ Cái thời bác mới làm dâu
thì cả gia đình lớn mấy thế hệ rồi mấy anh chị em dâu đều ở với nhau, nhưng thời giờ tân tiến rồi bác cho các anh chị ra ở riêng hết khi lập gia đình cho thoải mái, chỉ có vợ chồng anh cả là sống chung với hai bác từ giờ cho đến sau này để còn nương nhờ”( nữ , 52 tuổi, làm dịch vụ, làng Đông Xuất)
“Cô thì sau cho các con ra ở riêng hết cho thoải mái với cả như thế chúng nó mới phải bươn trải biết tự làm ăn Hai cô chú ở với nhau , bao giờ già không kiếm được nữa thì về với con trai lớn” (nữ, 40 tuổi, làm tóc, làng Đông Bích)
Qua đây thấy rằng quy mô gia đình ở làng nghề Đông Xuất và ĐôngBích chủ yếu là gia đình hai thế hệ và có xu hướng ngày càng phổ biến hơn
Số thành viên trong hộ gia đình khá đông Điều này phản ánh quy mô gia đình
nhưng vẫn còn mang tư tưởng của cư dân nông nghiệp lúa nước sinh con đàncháu đống để có nhiều lực lượng lao động và sinh con trai để nối dõi và là tấm vébảo hiểm tuổi già